Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2019

Apple đã trở thành con tin trong tay Trung Quốc như thế nào



Bất chấp rủi ro từ cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung cũng như sự trỗi dậy của các đối thủ Trung Quốc, iPhone của Apple đã lệ thuộc quá sâu vào chuỗi cung ứng tại đây đến mức không thể thoát ra.
Không lâu sau khi được tuyển dụng vào Apple năm 1998, ông Tim Cook đã ra một quyết định quan trọng đối với chuỗi cung cấp của công ty tại Mỹ. Trong vòng 2 năm, Apple bắt đầu đóng cửa các nhà máy tại Mỹ của mình và chuyển việc sản xuất sang Trung Quốc.
Quyết định của ông vào thời điểm đó đã giúp cắt giảm chi phí và trao cho Apple nguồn lực họ cần để phát triển các sản phẩm bom tấn tiếp theo, bao gồm iPod và iPhone. Nó cũng tạo ra một cơ sở sản xuất đầy tính cạnh tranh, có khả năng chuyển dịch hàng trăm nghìn công nhân chỉ bằng một cuộc gọi điện thoại.
Nhưng 8 năm sau khi đảm nhiệm chức CEO từ Steve Jobs, chiến lược của ông Cook lại đang bị đặt dấu hỏi.
Không chỉ vì chiến lược này làm Apple rơi vào tình thế hiểm nghèo khi cuộc chiến thương mại Mỹ Trung đang leo thang khốc liệt, mà còn vì chuỗi cung ứng vô cùng phức tạp được Apple xây dựng ở Trung Quốc trong hơn 20 năm qua chính là nguyên nhân cho sự trỗi dậy của một trong những đối thủ đáng sợ nhất của họ: Huawei. Bất chấp đà suy giảm của cả ngành smartphone, Huawei vẫn tăng trưởng mạnh và suýt vượt qua Apple để trở thành nhà sản xuất smartphone lớn thứ hai thế giới trong năm 2018.
Apple không phải người duy nhất muốn rời khỏi Trung Quốc. Các công ty khác, ví dụ như Samsung Electronics đã nhận ra vấn đề từ sớm và đã bắt đầu xây dựng một cơ sở sản xuất khổng lồ tại Việt Nam từ năm 2008, sau gần 20 năm mở rộng sản xuất ở Trung Quốc. Tuy nhiên, Apple lại không thể và cũng không muốn làm như vậy.
Ông Jeff Pu, nhà phân tích kỳ cựu tại công ty chứng khoán GF Securities, cho biết: "Hệ sinh thái chuỗi cung cấp khổng lồ và hoàn thiện ở Trung Quốc là chìa khóa cho thành công của nhà sản xuất iPhone, nhưng nó cũng tạo ra một hố sâu khổng lồ để giữ chân bất kỳ ai muốn rời đi." Ông Pu tin rằng, ông Cook "chọn cách tăng cường hiệu quả của chuỗi cung ứng hơn là hướng về phía trước với các rủi ro tiềm tàng."
Apple đã trở thành con tin trong tay Trung Quốc như thế nào - Ảnh 1.
Kể từ khi ông Cook bắt đầu đảm nhiệm chức vụ CEO năm 2011, Apple đã chứng kiến sự dịch chuyển khổng lồ chuỗi sản xuất của mình từ Mỹ sang nước ngoài. Apple cho biết, 200 nhà cung cấp hàng đầu của họ chiếm đến 98% tổng chi phí thu mua linh kiện. Trong năm 2017, khoảng 75% các nhà cung cấp này có ít nhất một nhà máy làm việc cho Apple tại Trung Quốc, khoảng 22% trong số đó có 2 hoặc 3 nhà máy.
Nghiên cứu của Nikkei chỉ ra rằng, tổng cộng, các nhà cung ứng cho Apple có đến 356 nhà máy ở Trung Quốc, sản xuất các linh kiện hoặc các lắp ráp các sản phẩm. Con số này cao hơn 7% so với năm 2012.
Trong khi đó, số các nhà máy tại Mỹ do các nhà cung ứng lớn nhất của Apple điều hành lại giảm 31% trong thời gian từ 2012 đến 2017, xuống còn 57 nhà máy. Chỉ có 6 nhà cung ứng có hơn 3 nhà máy tại Mỹ. Apple nhấn mạnh mình vẫn là người đóng góp lớn cho nền kinh tế Mỹ, khi chi tiêu đến 60 tỷ USD vào năm ngoái cho 9.000 nhà cung cấp linh kiện tại Mỹ.
Apple đã trở thành con tin trong tay Trung Quốc như thế nào - Ảnh 2.
Apple đã trở thành con tin trong tay Trung Quốc như thế nào - Ảnh 3.
Tuy nhiên, đang có một số bằng chứng cho thấy, lần đầu tiên trong nhiều thập kỷ nay, Apple và các nhà cung cấp của mình bắt đầu suy nghĩ một cách nghiêm túc về việc đa dạng hóa nơi sản xuất. Các nghiên cứu của Nikkei cho thấy có sự nổi lên của các cơ sở cung cấp cho Apple ở Ấn Độ và Việt Nam, nhưng chúng mới chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ.
Các chuyên gia trong ngành cho rằng, việc chuyển chuỗi cung ứng phức tạp của Apple khỏi Trung Quốc kịp lúc để giảm nhẹ các ảnh hưởng xấu từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung sẽ là một nhiệm vụ bất khả thi. Doanh số của Apple tại Trung Quốc đã suy giảm mạnh khi người dùng phản đối các hành động của Mỹ nhắm vào Huawei, người hùng quốc gia của họ.
Apple đã trở thành con tin trong tay Trung Quốc như thế nào - Ảnh 4.
Khó khăn của điều này không chỉ nằm ở sự phức tạp trong việc sản xuất iPhone, với nhiều công đoạn vẫn phải làm bằng tay, mà còn nằm ở hệ sinh thái các linh kiện, hệ thống logistic và các tài năng đã được xây dựng quanh những cơ sở sản xuất cho Apple.
Ngoài ra còn phải kể đến hệ thống ưu đãi rộng rãi của chính phủ Trung Quốc đối với các công ty làm việc cho Apple, nhằm giữ chi phí của các nhà cung cấp ở mức thấp và có lợi nhuận cao.
Trong năm 2016, một cuộc điều tra của New York Times cho thấy các ưu đãi được thành phố Trịnh Châu trao cho Foxconn năm 2010 để họ mở một trung tâm lắp ráp iPhone khổng lồ tại đây, và hiện tại nơi này sản xuất đến một nửa lượng iPhone trên thế giới. Các ưu đãi đó bao gồm việc đào tạo và xây nhà cho công nhân, giá điện rẻ hơn và chiết khấu trên mức lương cho lao động, cũng như giảm thuế.
Charles Lin, CFO của Pegatron, một đối tác lắp ráp iPhone khác của Apple, cho biết, công ty của ông không thể tìm thấy bất kỳ quốc gia nào khác thay thế hoàn toàn Trung Quốc, ngay cả khi họ đã nỗ lực hết sức để đa dạng hóa địa điểm sản xuất.
Apple đã trở thành con tin trong tay Trung Quốc như thế nào - Ảnh 5.
Apple đã trở thành con tin trong tay Trung Quốc như thế nào - Ảnh 6.
Tình thế tiến thoái lưỡng nan của Apple nằm ở chỗ, chính tiêu chuẩn sản phẩm rất cao của họ đã tạo nên một chuỗi cung cấp có tính cạnh tranh cũng đặc biệt cao, và sẽ mất đến nhiều năm trời để gây dựng lại.
Willy Shih, giáo sư quản trị tại Trường Kinh doanh Harvard cho biết: "Apple là một khách hàng có yêu cầu khắt khe … Nhiều nhà cung cấp đã phải chật vật với việc nhận được sự chấp thuận của họ mà vẫn có lợi nhuận kinh tế khả thi, và nhiều công ty còn mất nhiều tiền trong quá trình đó … Điều này buộc các nhà cung cấp phải phát triển các khả năng mà trong nhiều trường hợp, với tốc độ thực sự phi thường."
Nhưng những điều phi thường mà họ tạo ra không chỉ dành riêng cho việc lắp ráp iPhone của công ty Mỹ, mà nó còn giúp tăng tốc phát triển cho các công ty công nghệ tại quê nhà Trung Quốc của họ, và đặc biệt là đối thủ đáng gờm nhất của Apple, Huawei.
Apple đã trở thành con tin trong tay Trung Quốc như thế nào - Ảnh 7.
Trong năm 2012, công ty Trung Quốc này mới chỉ chiếm 4% thị phần smartphone toàn cầu. Vào cuối năm ngoái, con số này đã tăng lên 14,7%, trong khi trong cùng thời kỳ đó, thị phần iPhone của Apple giảm từ mức 25,1% xuống chỉ còn 14,9%.
Các chuyên gia trong ngành cho rằng, nếu không được tiếp cận với hệ sinh thái các nhà sản xuất linh kiện, các công ty logistic cũng như các thuận lợi về mặt hải quan được xây dựng nên xung quanh các công ty Trung Quốc làm việc cho Apple, Huawei sẽ không thể đạt được tốc độ tăng trưởng thần kỳ như vậy.
Trong số các đối tác Trung Quốc cung cấp sản phẩm cho cả Apple và đối thủ có Luxshare-ICT, nhà cung cấp cổng kết nối và lắp ráp AirPods tại Thâm Quyến, công ty Shenzhen Yuto Packaging Technology, nhà cung cấp dịch vụ in ấn và đóng gói quan trọng, nhà sản xuất màn hình BOE Technology Group, và nhà cung cấp module camera và tấm nền cảm ứng O-film Technology.
Tất cả đều tăng trưởng thần kỳ kể từ khi gia nhập chuỗi cung cấp cho Apple, nhờ vào một thập kỷ tăng trưởng của công ty Mỹ. Nhưng họ cũng tận dụng uy tín từ Apple để cung cấp sản phẩm cho Huawei và Xiaomi, cùng nhiều công ty khác, và giờ đây, họ lại đang cạnh tranh với những người dẫn đầu thị trường như LG Electronics, Japan Display và TPK Holdings.
Ông Shih cho rằng, Apple không chỉ gián tiếp giúp phát triển nên một loạt các công ty đối thủ đến từ Trung Quốc, như Huawei, Oppo, Vivo hay Xiaomi, mà thành công của họ còn giúp Trung Quốc nâng cấp các ngành công nghiệp công nghệ của mình.
Apple đã trở thành con tin trong tay Trung Quốc như thế nào - Ảnh 8.
Các nghiên cứu của Nikkei cho thấy, dù Mỹ vẫn kiểm soát các sản phẩm bán dẫn tiên tiến và các vật liệu quan trọng sử dụng trong các thiết bị của Apple, nhưng các nhà máy tại Trung Quốc đang cung cấp gần như mọi thứ khác, ví dụ như màn hình, khung kim loại, các linh kiện âm thanh và pin. Trong các lĩnh vực đó, những công ty Trung Quốc đang bỏ xa các đối thủ cạnh tranh trên toàn cầu.
Apple đã trở thành con tin trong tay Trung Quốc như thế nào - Ảnh 9.
Cho đến nay, ông Cook đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, Apple không ở lại Trung Quốc vì lao động giá rẻ nữa. Họ ở lại vì được tiếp cận với một môi trường nhiều tài năng sản xuất và lao động dồi dào. "Ở Mỹ, bạn có thể có một cuộc họp với các kỹ sư công cụ và tôi không chắc chúng tôi có thể lấp đầy một phòng họp." Ông Cook cho biết. "Ở Trung Quốc, bạn có thể lấp đầy vài sân bóng đá."
Ở Trung Quốc, không chỉ các đối tác với những nhà máy khổng lồ đã xây dựng nên cỗ máy kiếm tiền vô song cho Apple trong hơn 10 năm qua, mà bản thân nơi này cũng là một thị trường mà Apple thèm muốn. Trong năm tài chính 2018, Apple kiếm được 265,59 tỷ USD doanh thu, 20% trong số đó đến từ Trung Quốc.
Nhưng khi ngành công nghiệp smartphone đã trưởng thành, sức ép từ chi phí và giá thành sẽ ngày càng đè nặng hơn. Thay đổi đó sẽ làm Apple và các nhà cung cấp châu Á khó có thể duy trì được mức lợi nhuận như trước. Cho dù Apple không cho biết chiến lược tìm nguồn cung sắp tới của họ là gì, nhưng rõ ràng họ cần một cách tiếp cận mới. Công ty Mỹ sẽ phải giảm sự phụ thuộc vào một thị trường đầy rủi ro và có chi phí đang gia tăng như Trung Quốc.
Theo một nguồn tin thân cận của Nikkei, phần lớn các nhà cung cấp hàng đầu của Apple đang yêu cầu công ty giảm rủi ro của việc ở lại Trung Quốc. Nhưng không ai có thể đưa ra giải pháp hiệu quả nào để chuyển dịch chuỗi cung cấp phức tạp của Apple ra khỏi đây.
"Chuỗi cung cấp cho smartphone là một trong những mô hình phức tạp nhất thế giới … và đó là điều khó khăn nhất để chuyển đến bất kỳ đâu khi đã bám rễ chặt chẽ ở Trung Quốc." Vấn đề càng phức tạp hơn khi Trung Quốc vẫn là sự kết hợp tốt nhất cho các yếu tố hạ tầng cơ sở, mạng lưới nhà cung cấp và độ linh hoạt về lao động.
Ông Shih của trường Kinh doanh Harvard cho biết: "Khi bạn đang kiếm được rất nhiều tiền và công thức đó vẫn hiệu quả cho Apple từ nhiều năm nay, nó sẽ rất khó thay đổi."
Tham khảo Nikkei Asian Review
Theo Nguyễn Hải / Trí Thức Trẻ
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Du Tử Lê: Họa sĩ Khánh Trường nói về bộ ‘44 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại’


Bộ sách gồm bảy cuốn, mỗi cuốn trên dưới 700 trang, thâu tóm gần như toàn cảnh nền văn học hải ngoại xuyên suốt 44 năm kể từ Tháng Tư, 1975. Mỗi cuốn giá $46, mua trọn bộ giá $261 (đã tính cước UPS). Mua sách xin liên lạc Lê Hân, email: han.le3359@gmail.com, điện thoại (408) 722-5626. (Hình:)tưởng niệm Tháng Tư Đen lần thứ 44, là sự xuất hiện của bộ sách “44 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (1975-2019)” do ba tác giả Khánh Trường, Nguyễn Vy Khanh và Luân Hoán thực hiện.
Bộ sách gồm bảy cuốn khổ lớn, bìa cứng, mỗi cuốn dày trên dưới 700 trang, tổng cộng 4,900 trang, được dư luận ghi nhận là công phu, đồ sộ nhất của sinh hoạt văn học hải ngoại trên 40 năm qua. Chúng tôi mở cuộc phỏng vấn trực tiếp ba tác giả này, hầu gửi đến bạn đọc cái nhìn sát thực với ít nhiều trân trọng dành cho công trình đó. 
Nhà thơ Du Tử Lê (Ảnh: Uyên Nguyên)
*Du Tử Lê: Dường như ông và hai người bạn đồng tâm huyết là Nguyễn Vy Khanh và Luân Hoán,  muốn đánh dấu 44 năm tị nạn của người Việt ở hải ngoại bằng bộ sách đồ sộ bảy cuốn khổ lớn, bìa cứng?
-KhánhTrường: Vâng. Đúng vậy.
*Du Tử Lê: Ông hay ai là người đầu tiên đưa ra ý kiến phải gọi là rất “hoành tráng” này?
-KhánhTrường: Tôi. Một lần tái khám địch kỳ, bác sĩ khuyên tôi tìm việc gì đó làm, một hình thức vật lý trị liệu, nếu không muốn rơi sâu vào trầm cảm, và đáng sợ hơn, sẽ vướng phải bệnh mất trí nhớ mà đa số người già thường mắc.
Làm gì nhỉ? Nghề chính của tôi là vẽ. Nhưng do tai biến đột quỵ, phải ngồi xe lăn, tay vụng về, chỉ sử dụng được khoảng 30%. Cũng có nghĩa tôi không còn vẽ được chi tiết. Nói rõ hơn, tôi không vẽ được nữa loại tranh có hình thể. Vì thế tôi chuyển qua trừu tượng. Tranh trừu tượng nghiêng về biểu cảm, qua màu sắc, bố cục, không đòi hỏi sự chính xác, những đường cọ sai trật có khi lại hay. Sau ngày bị bệnh cho đến hôm nay tôi đã có bốn cuộc triển lãm với trường phái này.
Nhưng càng ngày tay tôi càng vụng về, cầm nắm rất chật vật, điển hình, ăn cơm, tôi không cầm đũa được, phải dùng muỗng. Trước đây khoảng năm năm, tuy vụng về nhưng tôi vẫn sử dụng được cọ sơn, nay gần như vô phương. Một họa sĩ không thể vẽ, có lẽ không có nỗi buồn và tuyệt vọng nào lớn hơn. Triệu chứng trầm cảm có nguy cơ ló dạng.
Theo lời khuyên của bác sĩ, tôi mở Facebook để có cớ bận rộn. Và rồi không biết từ bao giờ tôi lại bị cuốn vào vòng xoáy chữ nghĩa. Trên Facebook, tôi “gặp” nhà thơ Hoàng Hưng, trong nhóm chủ trương Văn Việt Online. Anh muốn đăng lại trên trang này những tác giả hải ngoại, tài liệu lấy từ bộ “20 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (1975-1995)” do tôi đồng thực hiện với Cao Xuân Huy, Trương Đình Luận 20 năm trước.
Hoàng Hưng nhờ tôi tìm người scan lại bộ sách. Từ đó tôi nảy sinh ý định sẽ thực hiện bộ mới “44 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (1975-2019),” dựa trên bộ cũ. Cập nhật những tác giả đã có, đồng thời bổ sung những tác giả mới.
Nhưng do bệnh tật (từ ngày bị đột quỵ, ngót 20 năm gần như tôi xa lìa hẳn thế giới văn nghệ, cắt đứt mọi quan hệ và mù mịt những diễn biến đã xảy ra trong một thời gian dài, hai thập niên), một phần nữa, do khả năng hữu hạn về nội lực, chắc chắn một mình tôi không làm nổi. Phải mời thêm vài người cùng thực hiện.
Mời ai? Tôi nghĩ ngay đến Nguyễn Vy Khanh, một nhà phê bình văn học, và cũng là cựu quản thủ thư viện. Do nghề nghiệp (tay phải và trái), anh Nguyễn Vy Khanh hẳn không xa lạ gì với văn học Việt Nam hải ngoại. Người thứ hai, nhà thơ Luân Hoán, chủ nhân website Vuông Chiếu. Dễ chừng trên 15 năm nay, hầu hết mọi tác giả hải ngoại đều có mặt trong Vuông Chiếu. Với nguồn tư liệu phong phú từ Vuông Chiếu.
Với óc làm việc khoa học, quy củ và nguồn tư liệu dồi dào của một cựu quản thủ thư viện. Hai vị khách mời này quá lý tưởng. Cả hai vui vẻ nhận lời, chúng tôi bắt tay thực hiện bộ sách. Đầu tiên, tôi nhờ nhà thơ Thành Tôn, anh Nguyễn Vũ (một người rất giỏi về computer) scan nốt bộ “20 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (1975-1995)” đã scan một phần theo yêu cầu của Hoàng Hưng,
Sau đó tôi lại nhờ Kỹ Sư Tạ Quốc Quang (em ruột nhà văn Song Thao) chuyển bản scan từ pdf sang word. Công việc khá cực nhọc. Tạ Quốc Quang đã suốt ba tháng ròng rã đọc, sửa, đánh máy lại những sai trật, thiếu sót (rất nhiều), do phải scan từ bộ sách in đã lâu, chữ nhỏ, nhòe, giấy mỏng. Cuối cùng cũng xong.
Tôi chuyển đến Nguyễn Vy Khanh, Luân Hoán mỗi vị một bản, làm nền. Chúng tôi email, gọi điện thoại cho các văn thi hữu đã góp mặt trong bộ 20 năm… yêu cầu họ cập nhật. Những vị đã chết hoặc không tìm ra địa chỉ (emal hay nơi cư trú), nếu có được tư liệu mới, chúng tôi tự động cập nhật, bằng không đành giữ nguyên như trong bộ cũ.
Song song, chúng tôi mời thêm những khuôn mặt mới hoặc lấy từ website Vuông Chiếu, Thư Ấn Quán của nhà văn Trần Hoài Thư. Hai nơi này luôn có nguồn tư liệu vô cùng phong phú, từ tiểu sử, hình ảnh đến những sáng tác tiêu biểu.
Họa sĩ Khánh Trường (Ảnh: Uyên Nguyên)
*Du Tử Lê: Tôi nhớ cách đây hơn 20 năm, chính ông cũng là người vận động, thực hiện bộ sách “20 Năm Văn Học Nghệ Thuật Việt Hại Ngoại” cùng một số bằng hữu khác. Và hôm nay là tuyển tập “44 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (1975-2019).” Câu hỏi được đặt ra là: Phải chăng ông luôn thích làm những việc tạm gọi là “cực kỳ khó khăn,” khi mà tình trạng sức khỏe của ông thực sự không cho phép?
-Khánh Trường: Không phải tôi muốn làm những việc “cực kỳ khó khăn” như anh nói đâu. Tất cả hình như bắt nguồn từ những cơ duyên.
Hai mươi năm trước tôi làm tờ Hợp Lưu, nhờ vậy tôi có dịp tiếp xúc khá nhiều anh chị em cầm bút hải ngoại. Ông Trương Đình Nho, giám đốc nhà xuất bản Đại Nam, gợi ý: “Khánh Trường quen biết nhiều giới văn nghệ, nên chăng thực hiện một bộ sách đánh dấu 20 năm văn học Việt Nam hải ngoại? Tôi in cho.”
Hai mươi năm trước việc in ấn còn khó khăn và tốn kém. Giám đốc một nhà xuất bản lớn nhất hải ngoại đã nói thế, còn gì bằng. Tôi bàn với nhà văn Cao Xuân Huy. Phân công: tôi chịu trách nhiệm soạn thảo nội dung, mời các văn thi hữu tham gia. Cao Xuân Huy đánh máy. Trương Đình Luận (em ruột Trương Đình Nho) đọc, sửa lỗi chính tả.
Ngoài phần văn học, bộ sách có thêm mảng tranh tượng của gần 100 họa sĩ, điêu khắc gia hải ngoại, in màu tiêu chuẩn cao. Bộ sách gồm hai cuốn, tổng cộng gần 2,000 trang, khổ lớn, bìa cứng. Ông Trương Đình Nho khá hào phóng, bộ sách được in ở Hồng Kông tốn $20,000, chưa kể $10,000 tiền nhuận bút cho tôi và Cao Xuân Huy.
Nay, bộ “44 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (1975-2019)” hình thành và hoàn tất vẫn từ một cơ duyên không định trước.
Nguyên nhân thứ 1: Do yêu cầu của nhà thơ Hoàng Hưng muốn giới thiệu mảng văn học Việt Nam hải ngoại trên Văn Việt Online, do anh và vài văn hữu chủ trương, lấy bộ 20 năm làm chủ đạo. Sẵn trớn tôi nhờ scan lại toàn phần bộ sách và đổi từ dạng pdf sang word để có thể thêm bớt, cập nhật nếu tái bản.
Nguyên nhân thứ 2: Bác sĩ khuyên tôi chống trầm cảm và bệnh mất trí nhớ bằng phương pháp vật lý trị liệu, cho cả thể xác lẫn tinh thần: Tìm một công việc nào đó thật bận rộn để trí óc không chạy rông, suy nghĩ tiêu cực. Tôi nghĩ, thay vì tái bản bộ 20 năm sao không thực hiện bộ mới, đánh dấu 44 năm, kể từ 1975? Đã có bộ 20 năm làm nền, việc thực hiện bộ 44 năm ắt không khó.
Và mọi việc cứ thế, tuần tự nhi tiến.

‘Những tên bồi bàn’ làm bộ ‘44 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại’

Cùng lúc tập thể tị nạn của người Việt khắp thế giới nói chung, Hoa Kỳ nói riêng, tưởng niệm Tháng Tư Đen lần thứ 44, là sự xuất hiện của bộ sách “44 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (1975-2019)” do ba tác giả Khánh Trường, Nguyễn Vy Khanh và Luân Hoán thực hiện.
Bộ sách gồm bảy cuốn khổ lớn, bìa cứng, mỗi cuốn dày trên dưới 700 trang, tổng cộng 4,900 trang, được dư luận ghi nhận là công phu, đồ sộ nhất của sinh hoạt văn học hải ngoại trên 40 năm qua. Chúng tôi mở cuộc phỏng vấn trực tiếp ba tác giả này, hầu gửi đến bạn đọc cái nhìn sát thực với ít nhiều trân trọng dành cho công trình đó.
*Du Tử Lê: Theo đánh giá chủ quan của ông thì ông và các bạn thu thập được khoảng bao nhiêu phần trăm tác phẩm và tác giả Việt hải ngoại kể từ Tháng Tư, 1975?
-Khánh Trường: Không đánh giá được đâu. Kể từ sau Tháng Tư, 1975, hầu hết giới cầm bút của miền Nam cũ đã di tản ra nước ngoài. Sau này, qua nhiều đợt, từ vượt biên đến đoàn tụ và nhiều hình thức khác, lực lượng cầm bút ở hải ngoại không ngừng được bổ sung, giàu có từng tháng, từng năm.
Do hoàn cảnh lịch sử, nhu cầu viết của người Việt hải ngoại rất cao. Dù chỉ là nghề tay trái, nhưng hầu như ai cũng muốn viết, có hàng trăm ngàn câu chuyện, từ vượt biên đến hội nhập, từ thảm kịch cá nhân đến gia đình…
Ngót nửa thế kỷ, làm sao thu thập, đánh giá nổi lực lượng cầm bút ở hải ngoại? Trong tổng tập này chúng tôi đã cố gắng thu gom càng nhiều càng tốt, nhưng do giới hạn đến từ nhiều mặt, nhất là phân cách địa dư, người Việt sinh sống mọi nơi trên hành tinh bao la này, chúng tôi khó lòng mời đủ mọi văn thi hữu, dù đã nổ lực tối đa có thể.
*Du Tử Lê: Nhóm thực hiện có đặt ra một số tiêu chí nào đó, về việc chọn lọc tác phẩm để giới thiệu?
-Khánh Trường: Như bất cứ một công trình tập thể nào, chúng tôi cũng có một vài tiêu chí. Những tiêu chí này nặng phần hành chánh hơn nội dung văn bản. Chẳng hạn người tham gia phải sinh sống ở nước ngoài, phải có tác phẩm đã xuất bản hoặc cộng tác thường xuyên với báo chí (báo “dưới đất” (in) lẫn “trên trời” (online)), đừng quá cực đoan trong quan niệm chính trị, bênh hoặc chống phải thấu tình đạt lý. Phải bình tĩnh, chừng mực, phải mang tính phê phán khách quan hơn chửi rủa cho sướng miệng, hả dạ.
*Du Tử Lê: Như ông biết thì khoảng có bao nhiêu sáng tác đã bị loại vì phẩm chất hay nội dung không thích hợp?
-Khánh Trường: Ít thôi, do nội dung không phù hợp với những tiêu chí vừa nêu.
*Du Tử Lê: Một thân hữu của chúng ta, như tôi biết, đã từ chối đóng góp sáng tác của ông ta vào bộ sách này, vì theo ông ấy, tên tuổi của nhân vật chủ trương bộ sách chưa đủ uy tín “phủ sóng” mọi lãnh vực của sinh hoạt nền văn học Việt hải ngoại. Nhân vật này cũng cho thấy nhóm chủ trương không quan tâm tới việc mời những nhân vật có thẩm quyền ở từng lãnh vực để họ có bài viết giống như tổng kết hay tham luận về các bộ môn đó?-Khánh Trường: Thứ nhất, “thân hữu” nào đó “của chúng ta” cái tôi hơi vĩ đại (!), tên tuổi của người chủ trương lớn hay nhỏ chả liên quan gì đến sự tham gia của vị “thân hữu” ấy. Cái cốt lõi là thành tựu văn học của ông ta, có mặt trong bộ sách là ông ta có cơ hội để giới thiệu thành tựu của mình đến độc giả và những nhà nghiên cứu sau này. Tôi, người chủ trương, có thể ví như anh bồi bàn. Mọi món ngon vật lạ đã có người “cook,” nhiệm vụ duy nhất của tôi là bưng đến, bày biện, sắp xếp sao cho hợp lý, ngon mắt, để thực khách ngon miệng. Giản dị và khiêm tốn thế thôi.
Thứ hai, hãy hiểu rõ, bộ sách là tổng tập, không phải tuyển tập. Mục đích của chúng tôi là cố gắng giới thiệu càng nhiều càng tốt mọi ngòi bút ở hải ngoại. Bên cạnh những tên tuổi lớn, có không ít những vóc dáng nhỏ, rất nhỏ, đóng góp của họ mỏng lắm, nhưng không thể phủ nhận đóng góp ấy dù thế nào vẫn là nhân tố góp phần hình thành diện mạo văn học hải ngoại. Chúng tôi không chủ trương mời những những “nhân vật có thẩm quyền ở từng lãnh vực để họ có bài viết giống như tổng kết hay tham luận về các bộ môn đó.” Không phải mục đích và bổn phận của chúng tôi. Xin nhắc lại và nhấn mạnh, chúng tôi chỉ là những tên bồi bàn. Nói cách khác, bộ sách chỉ làm vai trò thu gom tư liệu, bên cạnh những trân châu bảo ngọc hẳn không thiếu những viên sỏi thô nhám. Sau này các nhà phê bình, nghiên cứu chuyên nghiệp sẽ phân loại, đãi cát tìm vàng.
*Du Tử Lê: Tôi cũng nghe nói, có một tác giả đã viết thư (hay điện thoại) cho nhóm chủ biên, yêu cầu bỏ tên tác giả đó ra khỏi bộ sách? Diễn tiến của sự việc nào ra sao thưa ông?
-Khánh Trường: Vâng. Chuyện nặng tính khôi hài, không đáng quan tâm, nhưng ông đã hỏi, tôi kể lại, cho vui. Một hôm chúng tôi nhận được emai của một người mần thơ, nguyên văn: “Cái tên (…) tôi đã khai tử từ lâu, sao các anh còn dùng? Làm ăn tắc trách như thế hỏi quyển sách có xứng đáng nằm trong tủ sách hay không? Yêu cầu bỏ tên tôi ra.”
Người này có mặt trong bộ cũ, “20 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (1975-1995).” Trên trang nhà của tôi, Nguyễn Vy Khanh, Luân Hoán đã nhiều lần thông báo những tác giả đã tham gia trong bộ sách cũ hãy cập nhật thông tin cá nhân, nếu không, buộc lòng chúng tôi sẽ phải sử dụng “information” đã có.
Anh mần thơ này hẳn đã đọc thông báo (chúng tôi tin thế, vì anh ta mấy mươi năm nay chả làm gì cả, sống nhờ trợ cấp bệnh… tâm thần – chả hiểu thật hay giả – ăn ở miễn phí trong khu vực dành riêng cho người điên, thường trực lang thang suốt ngày sáng đêm trên mạng), nhưng không thèm cập nhật, dù anh ta đã thay đổi bút hiệu. Dĩ nhiên chúng tôi phải sử dụng tư liệu cũ. Thế là anh ta giũa chúng tôi và yêu cầu rút tên!
*Du Tử Lê: Mục đích sâu xa của bộ sách của ông và hai bạn là gì?
-Khánh Trường: Chả có “mục đích sâu xa” nào cả. Luân Hoán: Một cách tiêu khiển của tuổi già. Nguyễn Vy Khanh: Cũng vậy. Tôi: Chống trầm cảm và bệnh mất trí nhớ.
Tôi không thích lên gân, biểu diễn bắp thịt. Thực chất công việc của chúng tôi chả có chi gọi là to tát. Nhắc lại một lần nữa: những tên bồi bàn ấy mà. Nổ vung vít, xấu hổ lắm. Có điều chúng tôi đã hết lòng trong công việc, bằng tất cả lương thiện và khách quan.
*Du Tử Lê: Dư luận chung (phía độc giả) cho tới giờ này, đã đón nhận bộ sách thế nào?
-Khánh Trường: Ông hẳn không lạ, chả có việc làm tập thể nào mà không bị chê bai, dè bỉu, dèm pha, tẩy chay. Bản chất con người vốn thế. Nhưng rất may, dư luận tiêu cực này không nhiều, lại bắt nguồn từ quan điểm chính trị cực đoan và buồn cười đến ngô nghê. Chẳng hạn có một độc giả đã email cho anh Nguyễn Vy Khanh nguyên văn thế này: “Chú Nguyễn Vy Khanh kính, cháu chia sẻ bài của chú về bộ sách 44 năm trong một số diễn đàn. Cháu đã bị một số chú bác, anh chị la quá chừng vì họ nói trong bài viết dùng chữ của Cộng Sản. Thập niên thay vì thập kỷ; liên lạc thay vì liên hệ. Họ không ủng hộ để mua sách, mặc dầu cháu đã cố gắng giải thích.”
*Du Tử Lê: Câu hỏi chót dành cho ông, nếu phải đi lại từ đầu, ông có nghĩ ông vẫn có “lửa” như đã?
-Khánh Trường: Củi với lửa! Tôi đã lên kế hoạch, đã mời một số họa sĩ uy tín cùng thực hiện tiếp bộ “45 Năm Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hải Ngoại – 1975-2020,” nhưng rất tiếc các họa sĩ hình như không mặn mòi gì lắm chuyện cùng đứng chung trong một tổng tập. Cũng có thể tôi chưa đủ tầm vóc để “phủ sóng,” nên sự đáp ứng của các họa sĩ rất rời rạc.
Chả lẽ tôi cứ ca mãi bài bản cũ rích, tôi chỉ là một tên bồi bàn! Nhiều họa sĩ còn thẳng thừng, tôi mà lại đứng chung với thằng A, con B à? Cho nên, cuối cùng tôi đành chọn giải pháp, in riêng cho mỗi “ông, bà trời” một tuyển tập, chừng vài mươi đến trên 100 trang tranh màu do các vị tự chọn.
Tôi làm, vẫn vì mục đích: chống trầm cảm và bệnh mất trí nhớ của tuổi già, không liên hệ gì đến củi lửa cả (cười), và, tôi có nhà xuất bản Mở Nguồn mà, chủ trương của nhà xuất bản: “Cơm nhà ngà voi.” Phải chu toàn chủ trương ấy chứ (cười).


Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Thế hệ im lặng” – Charles Wright


Charles Wright.jpg
Charles Wright (1935–) là nhà thơ người Mỹ. Ông được trao giải Sách Quốc gia Mỹ cho thơ năm 1983 (cùng Galway Kinnell), giải thơ Ruth Lilly năm 1993, giải thơ của Hiệp hội Phê bình Sách Quốc gia năm 1997, giải Pulitzer cho thơ năm 1998, giải thơ Griffin Quốc tế năm 2007, và giải Bollingen năm 2013, và được bổ nhiệm làm Poet Laureate của Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2014–2015.

Thế hệ im lặng

Những chiều trong sân sau, đời chúng ta như những bức ảnh
Ố vàng đi ở đâu đó,
                                     trong album của một người khác,
Trong âm thầm, gió phương Nam tháng Giêng
Dễ dàng tách nhau ra qua những cành cây đen của những cây ăn quả.
Cái gì nhỉ chúng ta chưa bao giờ phải nói?
                                                                             Ai còn nhớ bây giờ—
Điều gì đó về những sai lầm của thế giới,
Điều gì đó về cái cách chúng ta rũ bỏ chúng như mưa
Trên một cánh đồng trống,
                                                   tin rằng sét sẽ không đánh xuống.
Chúng ta tay trong tay với sự hối tiếc, nào chân trái, nào chân phải.
Chúng ta trả công quả cho quỷ dữ.
Chúng ta đi thăng trầm trên trái đất,
                                                                    chúng ta đặt da thịt mình lên răng.
Khi chết, chúng ta chết. Gió thổi dấu chân chúng ta đi.
Charles Wright, “The Silent Generation,” Chickamauga: Poems (Farrar, Straus and Giroux, 1995). 


nhận xét hiển thị trên trang

KIÊN NHẪN, 100 NĂM VẪN ÍT?

Tôi cực kỳ kiên nhẫn, miễn là cuối cùng tôi được như ý của mình.
I am extraordinarily patient, provided I get my own way in the end.
                                                                                               Margaret Thatcher    
Câu chuyện thứ nhất
‘Nghênh ngang’ nhưng… có lý!
Ngày Rằm tháng Giêng Tết Kỷ Hợi, đã 9 giờ tối, điện thoại của tôi reo. Anh Hóa, một cựu binh và cũng là đồng nghiệp cũ cùng cơ quan, gọi điện nói với tôi bằng một giọng điệu mệnh lệnh:
“Ông đang ở đâu? Có ở nhà không?”.
Tôi khẳng định:
“Dạ, chào anh! Đang ở nhà, vừa ăn cơm xong!”.
Anh Hóa nói tiếp:
“Tôi đến bây giờ nhé, có một thằng cha… thôi, thôi, hắn đến rồi ông sẽ biết là ai, cần gặp ông ngay!”.
Tôi chỉ có quyền đồng ý, vì anh Hóa đã quá một lần đến nhà thăm mà tôi đều đi vắng. Hơn nữa lại là đầu năm….
Tôi đón hai người khách từ dưới sân của chung cư. Vào nhà, hai người ngồi vào bàn khách, hướng thẳng về phía ban thờ và đôi ghế tràng kỷ lịch sử. Vì là lần gặp đầu tiên, lại đầu năm, tôi đề nghị rót mỗi người một ly rượu Cônhắc. Ba người chúng tôi chạm cốc cầu chúc cho sức khỏe một năm được an lành.
Không có những đối thoại xã giao dạo đầu, anh Hóa hỏi tôi và hất hàm về phía người cùng đi, rằng ông có nhớ ông Thăng này không? Cũng lâu lắm rồi đấy. Tôi ấp úng, gật đầu, vì loáng thoáng nhớ… cũng đã từng gặp nhau, nhưng trong bối cảnh nào? Ở đâu và vì lý do gì thì tôi chưa xác định được.
Ông Thăng cao giọng bảo tôi:
“Hơn hai mươi năm trước, tôi với ông là hai thái cực. Ông có nhớ lần tôi đến gặp ông ở cơ quan, trong lúc trò chuyện, tôi được biết ông là cháu nội của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, tôi đã cười khẩy vì lúc đó tôi nghĩ rằng: loại cháu như ông… vô tích sự, loại như ông, hiểu gì về lịch sử, về văn hóa… về ông nội mình! Tôi rất nghi ngờ ông, loại người vô học thì hiểu gì về tiên tổ, về sự vĩ đại của ông cha”.
Tôi thận trọng, hơi cay mũi, ngờ ngợ rằng, có phải trước khi đến tôi, hai ông này đã uống gì rồi?! Nhưng tôi vẫn nín thở, lắng nghe sự ‘mạt sát’ của người khách lần đầu tiên đến nhà mình. Hơn nữa, cũng không phải lần đầu tiên tôi bị ‘gạch đít’ như vậy, nhưng không đến mức sỗ sàng như lần này. Ông Thăng hướng về phía tôi nói tiếp:
“Tôi đảm bảo với ông nhá, rằng hàng triệu người Việt Nam mới có vài ba người biết Nguyễn Văn Vĩnh là ai?! Nếu có biết, họ chỉ biết đó là một tên bồi bút, theo Tây, vì họ được dạy như thế mà. Họ làm sao biết, đó là ông tổ của nền văn hóa dùng chữ Quốc ngữ….”. Rồi ông Thăng hạ bớt, với chất giọng tâm sự:
“Lúc tôi là trẻ ranh, bố tôi, tay cầm quyển sách, bảo tôi thế này: con ạ, con phải đọc ‘Những Người Khốn Khổ’ của V.Hugo do Nguyễn Văn Vĩnh dịch. Cách dịch của cụ Vĩnh không như kiểu dịch sau này của ông…ấy… đâu. Cụ dịch giản dị, dễ hiểu lắm, nhất là cuốn ‘Miếng Da Lừa’, ở đoạn cuối, cụ Vĩnh dịch nhân vật chính trong truyện, chết trên bầu vú của cô Pauline, chứ không phải như sau này, ông ấy…. dịch là chết trong lòng Pauline. Hai cái cảnh đó nó khác nhau rất nhiều!
Mà này ông Bình, tôi hỏi thực ông: Ông có biết Nguyễn Văn Vĩnh khác tất cả những danh nhân cùng thời ở chỗ nào không? Như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi…. Ông có biết không đã?”.
Những cuốn sách dịch của Nguyễn Văn Vĩnh từ đầu thế kỷ 20, thường được trưng bày trong các cuộc triển lãm sách cũ ở Hà Nội và Sài Gòn
Tôi cố tình im lặng, không muốn trả lời ngay vào điều ông Thăng hỏi, kiểu bề trên như vậy được. Thực ra, tôi cũng giật mình, vì không biết đâu, ở một góc khuất nào đó, có thể có những cái nhìn khác, hoặc có tư liệu chưa ai biết tới, vì sự nghiệp của cụ Vĩnh rộng quá. Hơn nữa, những cái khác đặc biệt ở Nguyễn Văn Vĩnh so với những nhân sĩ cùng thời thì vô vàn, cụ Vĩnh không khác, thì sao lại tự nhận mình là Man di hiện đại?!
Ông Thăng thấy tôi im lặng, hình như ông tin rằng tôi không đủ nhận thức để biết, và trả lời câu hỏi của ông, rồi ông lại tiếp tục:
“Ông mà không hiểu được sự khác biệt đặc trưng này của cụ Vĩnh, thì ông đừng mong gì nghiên cứu sâu và thành công việc phục dựng chân dung thực của cụ, ông không biết đâu…”.
Tôi thấy thái độ ông Thăng thật chủ quan, cách đặt vấn đề vừa áp đặt, vừa coi thường người đối thoại với mình. Hình như, ông cũng chẳng cần quan tâm đến tính tương tác trong trò chuyện, ông tỏ ra ung dung trên con đường một chiều mình đang phóng. Song, tôi lại thấy hơi tò mò về thái độ đó của ông Thăng.
Tôi tự hỏi, thằng cha này muốn nói điều gì đây nhỉ? Không loại trừ, ông ta có góc hiểu riêng, mà tôi không thể đùa, vì mình không bao giờ là tất cả, để coi thường đối phương dù trong bối cảnh nào đi nữa.
Tôi được một anh bạn thân từ hồi cùng là lính, đã nhắc rằng, Khổng Tử có dạy: Khi đi với ba người, nhất định có một trong ba người là thầy ta! Nghĩ vậy nên tôi kiên nhẫn nghe ông Thăng nói tiếp:
“Mà thôi, ông làm sao hiểu được. Loại như ông chỉ mải mê phấn đấu, còn mơ là ông nọ bà kia, theo đuổi lý tưởng ba lăng nhăng…. Biết gì về văn hóa, về lịch sử cho dù có là con là cháu cụ Vĩnh…!”.
Hình như, ông ấy thiếu một nước chửi thẳng mặt tôi nữa thôi. Tôi vẫn cắn răng, cười mỉm, và vẫn hi vọng sẽ học được điều gì đó từ con người ít gặp này. Có thể, ông Thăng nghĩ, cái đầu của tôi tối mù, chắc sẽ không đủ khả năng nhận thức để biết được cái khác biệt đặc trưng ít thấy ở cụ Vĩnh. Ông có ý sốt ruột vì đợi mãi không thấy tôi phản ứng.
Ông cũng không để tâm đến việc, thay vì trả lời, tôi lại rót thêm Cônhắc như đang ‘bận’… chống chế. Ông Thăng bỗng hạ giọng, nhưng giằn từng từ một như một ông giáo nghiêm khắc, đứng trước một cậu học trò chậm hiểu, ông bảo:
“Cái khác biệt vĩ đại nhất của cụ Vĩnh so với hầu hết các danh nhân, các nhân vật nhiều chữ có vai vế cùng thời với cụ, là cụ Vĩnh là con nhà nghèo, con nhà ăn bốc đi đất, chân đất mắt toét, học thì học mót, sinh ra trong gia đình chẳng có ai đỗ đạt, khoa bảng hay thần thế gì… mà cuối cùng, thành vĩ nhân! Cụ ấy là vĩ nhân đấy, vì là người đầu tiên ở cái xứ Bắc kỳ này nghĩ đến chuyện lấy chữ quốc ngữ làm văn, làm báo, mà làm được, làm hay.
Ông Bình, ông phải biết điều này, nhớ không?! Bao lâu nay, kể từ hơn hai chục năm trước tôi gặp ông, đến nay tôi không biết ông đã làm được những gì? Nhưng gần đây, mọi người nói với tôi, rằng ông làm được cuốn sách này, dựng được bộ phim kia về cụ Vĩnh… Này, tôi bảo để ông biết: chưa là gì đâu so với những gì cụ Vĩnh để lại, ông nhớ đấy!”.
Bức ảnh Ô Cầu Dền (nay là ngã tư phố Huế, Bạch Mai, Đại Cồ Việt và Trần Khát Chân), một trong 5 cửa ô chính của Hà Nội ở thế kỷ 19, như: Ô Yên Phụ, Ô Quan Trưởng, Ô Cầu Giấy, Ô Chợ Dừa…. Bức ảnh giúp người xem thấy rõ một góc cuộc sống của người dân ven Hà Nội và được chỉ dẫn trên internet chụp năm 1900.
Tôi vẫn nín thở nghe những lời ‘dạy bảo’ như quát mắng về nhiều chi tiết nữa, liên quan đến nhãn quan văn hóa xã hội của người khách lạ này. Nhưng rõ ràng ông ta có lý để nghêng ngang, ít ra là với tôi. Rõ ràng ông ta đã ‘biết’ đọc sớm hơn tôi, và nhiều hơn tôi. Ông ta nhớ, hiểu không ít về nền văn hóa xuất bản trong quá khứ của đất nước này.
Ông Thăng ‘to mồm’ như vậy, kể cũng đúng. Mà ông nói một cách tự tin, hãnh diện và…. nói đúng! Vậy tôi ấm ức nỗi gì?
Liếc nhìn ông Hóa, tôi thấy sự căng thẳng trên nét mặt. Có lẽ do ông phải chứng kiến cái không khi căn vặn nhiều hơn là trao đổi, trò chuyện như mắng mỏ này, điều có thể gây bất hòa do thái độ hơi sống sượng của người bạn thân của mình. Ông Hóa như muốn định nói điều gì đó, để bớt đi cái không khí căng thẳng…
Tôi chủ động ‘dọn’ giọng, ôn tồn hỏi ông Thăng:
“Xin lỗi, anh năm nay bao nhiêu rồi ạ?”
Vẫn bằng chất giọng đàn anh, ông trả lời:
“Tôi sinh năm 1949, ở Hà Nội”.
Tôi hỏi thêm:
“Thế cụ thân sinh ngày xưa làm gì ạ?”.
“Ông cụ nhà tôi bình thường, dân thường thôi”, ông Thăng trả lời và nói với chất giọng như tôi đã nghe trước đó:
“Mà ông bận tâm làm gì về chuyện ấy, thế ông nghĩ người thường, người nghèo thì không biết gì à? Bố tôi hay đọc sách, đọc xong lại kể cho các con nghe. Tôi bị ‘lây’ bố là vì thế. Lúc tôi 12…13 tuổi, tôi lê la đến tất cả những quán bán sách ở Hà Nội. Mặc dù nhóc con, nhưng tôi vẫn trà trộn vào được các thư viện, mò mẫm đọc tất, cứ quyển gì thấy thích thích là đọc, mê lắm ông ạ, mà mượn đọc thôi, chứ làm sao có tiền mà mua.
Càng nghĩ, càng thấy cụ Vĩnh tài thật, mà sao cụ lại giỏi quá thế cơ chứ?!”.
Tôi thấy không khí trò chuyện đã có phần ăn nhập. Tôi đã hiểu ra được chút chút tâm tính của ông Thăng, hiểu ra được cái lý do khiến ông ‘nghêng ngang’, và ông Thăng đã tỏ vẻ lắng nghe đôi ba câu tâm sự của tôi.
Tôi phát hiện thấy ông Thăng không phải mẫu người hiện đại, thường xuyên cập nhật thông tin. Tôi quyết định bổ xung thêm vào sự quan tâm của ông ấy về đề tài cụ Vĩnh, mục đích để ông ta yên tâm rằng, tôi không phải loại người ngớ ngẩn, hãnh tiến, và sẽ không làm ông thất vọng đâu. Tôi nói:
“Anh ạ, khi được nói chuyện với các bậc cao niên chữ nghĩa, tôi thấy mọi người ai cũng thích cái lối dịch của cụ Vĩnh. Mà cũng lạ, vì thời đó, tiếng Việt đã hoàn chỉnh như bây giờ đâu, mà dịch ra mọi người đọc đều thấy hấp dẫn, đều hiểu.
Mãi gần đây nhờ có tư liệu mới, mới biết cụ Vĩnh dịch Jiăng Jắc Rút Xô từ năm 1900, tức là lúc mới 18 tuổi! Cụ dịch vì các vị nhà Nho đồng bang với cụ ngày đó, tò mò muốn hiểu lịch sử nước Pháp, vậy là cụ dịch thẳng từ tiếng Pháp cuốn Lịch sử nước Pháp ra quốc ngữ. Khi các vị Nho sĩ đọc, thấy hay quá, bèn đòi cụ Vĩnh dịch luôn mấy tác phẩm của Rút Xô và Mông Téc Skiơ, vì ngày đó, một số nhà nho tiến bộ, đọc được các tác phẩm của mấy triết gia người Pháp này qua bản dịch tiếng Hán, của hai ông Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi người Tàu. Nhưng họ tỏ ra thiếu tin tưởng, vì lối nghĩ: tam sao thất bản. Chưa nói đến chuyện, có phải vị nào cũng giỏi chữ Hán đâu để hiểu cho thấu đáo”.
Nghe đến đây, ông Thăng nghiêm mặt hỏi tôi:
“Cái gì? Ông bảo là ông có tài liệu xác định cụ Vĩnh dịch cả J.J. Rút Xô á? Thế cụ Vĩnh dịch cuốn gì?”.
Tôi nhận thấy ông Thăng như bị choáng, sửng sốt vì thông tin của tôi, và tôi đáp:
“Anh ơi, nói đến Rút Xô thì nổi tiếng nhất là cuốn ‘KHẾ ƯỚC XÃ HỘI’, chứ còn cuốn gì?”.
Ông Thăng thảng thốt:
“Thôi chết tôi rồi, vậy thì kinh khủng quá, vì tôi vẫn hiểu là hình như… mãi đến những năm 30 của thế kỷ 20, ở Việt Nam mới có cuốn đó bằng tiếng Việt do Phan Khôi dịch, à không…. Phan Khôi dịch Kinh Thánh, ông gì dịch nhỉ….?”.
 Cuốn sách Khế Ước Xã Hội của J.J.Rut Xô in lân thứ nhất năm 1762.
Cuốn sách mở đường cho cuộc Cách mạng và Tuyên ngôn Nhân quyền Pháp năm 1789
Nói đến đây, ông Hóa bật lên tham gia:
“KHẾ ƯỚC XÃ HỘI” là cuốn gì? Sao tôi chưa bao giờ được nghe nói đến?!
Ông Hóa cũng sinh ra ở Hà Nội, dân gốc phố Hàng Bè, kém ông Thăng một tuổi, từng nhiều năm là lính chiến vùng Đông Nam bộ, và có khá nhiều danh hiệu dũng sĩ…. (Tôi đã tận mắt nhìn cả vốc các huân huy chương, kèm cả những tờ giấy chứng nhận đã vàng ố từ bao giờ của ông Hóa). Điều thật buồn, vì ông Hóa không thích nhắc đến những kỷ niệm này.
Ông Thăng và ông Hóa, tuy hai người là bạn thân nhau đến hơn bốn chục năm nay (như tôi nghe nói), nhưng trong lĩnh vực khoa học xã hội, rõ ràng hai ông cách nhau một khoảng không nhỏ, tất nhiên điều đó là bình thường.
Trước việc ông Hóa hỏi về Rút Xô, ông Thăng như tóm trúng điểm yếu của bạn, bỗng ông cao giọng hẳn lên (mà tôi thấy không cần thiết), lại với giọng điệu chẳng khiêm nhường chút nào (tôi đoán, hình như ông Thăng đang tìm cơ hội muốn ‘đè mặt’ bạn mình) vì trước khi đến nhà tôi, hai người đã ngồi đàm đạo cả tiếng đồng hồ, và hai ông quyết định lôi nhau đến tôi để xác nhận một chuyện gì đấy. Vô tình, đúng lúc ông Hóa thật lòng ‘hở sườn’ và ông Thăng được thể… quát to:
“Mày biết thế đ.nào được về Rút Xô, về “KHẾ ƯỚC XÃ HỘI”, ở đất nước này, đến cụ Vĩnh cũng chỉ có vài ba người biết, còn nói gì đến Rút Xô…”.
Đến lúc này, ông Hóa thật hay, vì bất chấp việc bị bạn mình ‘dằn mặt’, ông lại giữ một thái độ kìm nén, khác hẳn với bản tính nóng nảy của ông mà tôi vẫn biết. Hình như ông Hóa cũng tỏ ra thành thật nhận rằng, mình biết ít mà, và ông nói:
“Không biết là đúng thôi, loại viên chức quèn, thường dân loại sáu như tôi, suốt đời chỉ chăm chăm vào mấy cái việc rác rưởi, lúc nào cũng tơ tưởng đến màu với mè, mánh mung lăng nhăng… Khổ quá, mà cũng có ai dạy đâu? Tôi biết được chừng ấy để nói chuyện được với ông đã là siêu lắm rồi đấy. Cuộc sống này lấy đâu được mấy người như ông?!”.
Cảm nhận được sự quá đà vô cớ của mình, ông Thăng hạ giọng như muốn buông cái thái độ hơi khiếm nhã với bạn, vừa là để nói với ông Hóa, vừa là cả với tôi:
“Ghê thật, cụ Vĩnh ghê thật, tôi vẫn nghĩ cụ chỉ dịch sách văn học, ai biết đâu lại dịch cả triết học. Dịch được cuốn “KHẾ ƯỚC XÃ HỘI” từ thời ấy thì kinh thật…!
Mà ông Bình ơi, ông có kiếm được cuốn đó của cụ không?”.
Tôi nói ngay:
“Làm sao tôi có được… Tôi vừa nói với anh, là mãi gần đây tôi mới có được tư liệu xác nhận việc cụ Vĩnh từng dịch các loại sách đó từ lúc 17, 18 tuổi, tức là năm 1900, cái lúc mà đất nước này còn chưa được gọi là quốc gia. Tôi mà có nó trong tay, tôi đã làm được nhiều chuyện”.
Ông Hóa nhìn đồng hồ gần 11 giờ đêm, nhận thấy đã khá muộn, ông hướng về phía tôi nói ôn tồn như để chuẩn bị chia tay:
“Tôi đã có ý định xắp xếp gặp anh vào một ngày thong thả, hai thằng không vướng víu gì để hàn huyên, trò chuyện, nhưng hôm nay, ông Thăng đến tôi chơi, loanh quanh lại nhắc đến cụ Vĩnh khi nói chuyện về văn hóa.
‘Cha’ Thăng này còn than thở: “Cụ Vĩnh để lại một kỷ vật vô giá về văn hóa là đôi ghế tràng kỷ, mà rồi con cháu có giữ được đâu. Bây giờ, cái đôi ghế ấy nó trôi dạt nơi nào…? Tôi thấy nói gia đình bán cho một cha nào giàu lắm. Khốn nạn, cái đôi ghế ấy làm gì có giá…!”.
Tôi nghe ông Thăng than vãn, tôi bực quá, tôi khẳng định: đôi ghế còn nguyên, đang nằm ở nhà thằng Bình ấy, thằng Lân Bình mà ông đã gặp ngày xưa rồi đấy. Ông là cái thằng bảo thủ, cứ ôm khư khư những hiểu biết của mình từ 50 năm trước, tự đắc vì tự cho mình biết tất tật, mà không nghĩ rằng còn bao nhiêu điều hay nó đang sinh sôi, diễn ra theo thời gian, năm tháng.
Đã thế, dù muộn, tôi sẽ gọi điện cho thằng Bình, tôi với ông đi luôn, đến nó luôn để xem tôi nói có đúng không nhé?!
Ông Bình có biết không, tôi nói đến thế mà thằng cha Thăng này vẫn không tin, lại cho rằng tôi muốn né việc tranh cãi với ông ấy bằng lý do tìm đến ông, để quên cái đề tài hai thằng đang to tiếng với nhau! Đấy (ông Hóa hất hàm về phía ông Thăng), ông Bình thấy không, tôi bực lắm vì thằng cha này bảo thủ lắm, luôn tự cho những hiểu biết của mình là đúng, là tất cả, không coi ý kiến của người khác nó cũng có giá trị như thế nào chứ…?!”.
Nghe ông Hóa kết luận, ông Thăng như giật mình nhớ ra cái lý do chính, đã khiến ông tìm đến nhà tôi vào cái giờ muộn của ngày lễ Rằm tháng Giêng này. Ông Thăng kêu lên bằng cái giọng rất phục thiện:
“Ừ nhỉ, ôi thôi chết, kia à, đôi ghế của cụ Vĩnh kia à?”.
Ông Thăng đi đến gần đôi ghế, tôi bật thêm ánh sáng để ông Thăng đọc được rõ hơn những dòng chữ khảm trên chỗ tựa của đôi ghế. Hai tay ông Thăng sờ từng chi tiết của chiếc ghế, giống như những người thân lâu ngày gặp lại nhau. Ông Thăng vừa vuốt ve chiếc ghế, vừa lẩm bẩm:
“Hay thế nhỉ, sao cụ Vĩnh giỏi thế nhỉ? Mình đọc chuyện tiếng Tây, rồi lại dịch ra tiếng ta, mà dịch làm sao để ai đọc cũng thích, cũng hiểu…Sao cụ lại giỏi thế nhỉ? Mà cụ lại là con nhà nghèo chứ, có phải như bọn con nhà gia thế, trâm anh thế phiệt, dòng họ vua quan này kia lúc nào cũng vỗ ngực tự nhận mình thế này, mình thế khác…!
Mà này, ở đây ghi rõ Dec. 1919, thế là vừa tròn 100 năm đấy. À, mà lúc nãy, ông Bình nói, ông mới đăng cái bài về 100 năm bãi bỏ thi Hương, thi Hội và thi Đình lên trang mạng, là liên quan đến cái đôi ghế này đấy hả?”.

Lời văn chuyện Chó rừng và chó nhà của La Phông Ten do Nguyễn Văn Vĩnh dịch, và được khảm trên những chỗ tựa của hai chiếc ghế tràng kỷ
Ông Hóa kêu:
“Thôi nhá, ‘bố’ hết nghi ngờ chưa? Hôm nay được sờ tận tay rồi nhá. Lần sau, bỏ cái thói không tin bạn đi. Cảm ơn ông Bình đi, rồi về, muộn lắm rồi, con nó mong…!”.
Đúng lúc đó, điện thoại của ông Thăng đổ chuông, người con trai út lo vì đã muộn mà chưa thấy bố về nhà. Ông Thăng trả lời con:
“Đây bố bắt đầu về đây, bố đi với chú Hóa mà, yên tâm nhé! Hôm nay hay quá, nhiều chuyện hay quá, tí về bố kể cho mà nghe….”.
Ghi chú:
Tên hai nhân vật chính đã được đổi. Hai người cùng chiến đấu trong một Sư đoàn tại Đồng bằng Cửu Long cuối những năm 60 và đầu 70 ở thế kỷ trước.

Hà Nội, 22.2.2019.
NGUYỄN LÂN BÌNH.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Tiến sĩ giấy”, “thạc sĩ tiền” và nỗi buồn của chuyện sính bằng cấp


(GDVN) – Một số giảng viên học vị tiến sĩ, thậm chí có người học hàm cao hơn nữa thường xuyên khoe khoang, đề cao bằng cấp của mình nhưng việc giảng dạy thì lãng xẹt.
Những câu chuyện về việc sính bằng cấp dẫn đến tình trạng bằng thật, bằng giả trong thời gian qua đã bị báo chí cùng mọi người lên án một cách gay gắt.
Trong bài viết này, tác giả Nguyễn Cao đã có đôi điều bàn thêm về câu chuyện này.
Văn phong và nội dung bài viết thể hiện quan điểm, góc nhìn riêng của tác giả. Tòa soạn trân trọng gửi đến độc giả bài viết.
Thời gian gần đây, chúng ta đã được nghe nhiều đến một số cụm từ “lò ấp”; “công nghệ” sản xuất tiến sĩ và cả những bất cập trong việc hướng dẫn nghiên cứu sinh làm luận án tiến sĩ hay việc có những trường không tuyển sinh được sinh viên đại học nhưng mỗi năm lại tuyển sinh đến vài trăm người để đào tạo thạc sĩ.
Những “tiến sĩ giấy”, “thạc sĩ tiền” ấy đang làm mất đi vị thế cao cả của những người có học vị cao, làm ảnh hưởng đến những người có cùng học vị mà học hành đàng hoàng và đang ngày đêm cống hiến cho sự phát triển của nước nhà.
Hình ảnh minh họa về bằng cấp rởm (Ảnh nguồn: Tạp chí Khám phá điện tử)
Thi đại học mãi không đỗ nên phải học đại học tại chức, từ xa…rồi học xong đại học thì học cao học rồi lại tiếp tục làm nghiên cứu sinh để có bằng tiến sĩ!Nghĩ cũng thật lạ, ở xứ mình có nhiều người có học vị tiến sĩ một cách rất… phi thường.
Và, dĩ nhiên là khi có bằng tiến sĩ thì họ được đảm bảo cho vị trí công tác, được cơ cấu và đảm nhiệm ở các vị trí cao trong một số cơ quan nhà nước.
Có nhiều người còn nghiễm nhiên xin được công việc giảng dạy ở các trường đại học và cao đẳng chuyên nghiệp rồi họ lại đào tạo ra biết bao nhiêu thế hệ học.
Mấy ngày nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng và các trang mạng xã hội đang bàn luận xôn xao về một đề tài luận án tiến sĩ nghệ thuật có cái tên ngồ ngộ và rất lạ: “Nghệ thuật chữ trong thiết kế bìa sách giai đoạn 2005-2015” của nghiên cứu sinh Bùi Quang Tiến, người hướng dẫn đề tài là Phó Giáo sư Lê Anh Vân.
Thế nhưng, ngẫm đi, ngẫm lại thì cũng chẳng có gì phải…buồn cười. Bởi, thời gian qua, chúng ta đã thấy có rất nhiều những đề tài nghiên cứu sinh có những cái tên còn “hay” hơn rất nhiều như:
“Đặc điểm giao tiếp với dân của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã; Hành vi nịnh trong Tiếng Việt; Đặc điểm dịch tễ tăng huyết áp ở người Nùng trưởng thành tại tỉnh Thái Nguyên và hiệu quả một số giải pháp can thiệp; Thực trạng an toàn vệ sinh lao động, bệnh liên quan bệnh nghề nghiệp trong sản xuất gạch Tuynel tại Bắc Ninh và hiệu quả một số giải pháp can thiệp; Thực trạng bệnh tai mũi họng ở người Mông và hiệu quả giải pháp can thiệp cộng đồng tại huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang…”.
Cách đây chưa lâu, trên chương trình thời sự VTV1 của Đài Truyền hình Việt Nam có đưa một bản tin về một trường đại học dân lập ở một tỉnh phía Bắc là mấy năm qua trường không tuyển sinh được một lớp đại học nào nhưng mỗi năm trường lại tuyển đầu vào 260 chỉ tiêu để đào tạo cao học.
Vậy mà ông hiệu trưởng cứ thao thao nói rằng trường đào tạo uy tín nên mới có nhiều người tìm đến để học. Nghĩ mà buồn thay…
Những ngày gần đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin về trường hợp một vị Bí thư thành ủy kê khai bằng tiến sĩ không được Bộ Giáo dục công nhận, một Bí thư tỉnh ủy dùng bằng thạc sĩ không đúng…khiến dư luận ngao ngán về tệ sính bằng cấp của xứ mình.
Những vị trí lãnh đạo như vậy, họ thừa hiểu việc sử dụng bằng cấp không đúng quy định sẽ như thế nào rồi.
Vậy mà nhiều người vẫn kê vào lí lịch của mình để làm gì. Hơn nữa, với vị trí của họ thì đâu nhất thiết phải có bằng thạc sĩ hay tiến sĩ để làm gì?
Chợt nhớ, thời còn học ở giảng đường đại học, chúng tôi đã được học với rất nhiều giảng viên có học hàm, học vị cao. Thế nhưng, trình độ của nhiều thầy cô có học hàm, học vị cao ấy lại không có trình độ tương xứng.
Nhiều giảng viên dạy chúng tôi có học vị cao chót vót nhưng trình độ sư phạm và phương pháp giảng dạy lại chán ngán đến vô cùng.
Ngược lại, có nhiều giảng viên chỉ có trình độ cử nhân nhưng đã làm cho chúng tôi say mê qua những lời giảng.
Thời đó, công nghệ thông tin mới bắt đầu có nên phần lớn là thầy cô chưa đưa giáo án điện tử vào giảng dạy. Nhưng, có lẽ vì thế mà những tiết giảng Văn của nhiều thầy cô bay bổng đến tuyệt vời.
Vì vấn đề tế nhị nên chúng tôi không tiện nêu tên khoa, tên trường mà mình đã theo học. Thế nhưng, đến tận bây giờ trong thâm tâm chúng tôi vẫn ấn tượng với 2 giảng viên chỉ có học vị là cử nhân.
Những người có bằng cử nhân mà đứng lớp dạy sinh viên đại học thì người ta hay gọi nôm na là “cơm chấm cơm” nhưng 2 thầy cử nhân “cơm chấm cơm” ấy đã thực sự làm cho đám sinh viên chúng tôi yêu quý và kính trọng nhất.
Mỗi lần vào lớp, các thầy chỉ cầm mấy viên phấn rồi đi vào nội dung của bài học. Các thầy không có học vị cao nhưng kiến thức uyên thâm, giảng dạy thấu đáo và rất khoa học với nhiều phương pháp khác nhau mà sinh viên rất dễ dàng tiếp cận và đắm say qua từng từ, từng chữ của thầy.
Vì thế, những tiết học của các thầy luôn có mặt đầy đủ các sinh viên và lớp học rất có nền nếp học tập bởi các thầy giảng hay quá, thuyết phục quá.
Một số giảng viên có học vị tiến sĩ, thậm chí có những người có học hàm cao hơn nữa thường xuyên khoe khoang, đề cao bằng cấp của mình nhưng giảng dạy thì toàn những chuyện lãng xẹt.
Nhiều thầy dạy sinh viên đại học mà vừa dạy, vừa nhìn giáo án. Viết lên bảng một dòng lại vào nhìn giáo án để…viết tiếp.
Những bài giảng khô khan, thiếu hệ thống và không bao giờ có liên hệ, mở rộng vấn đề làm học sinh vô cùng…buồn ngủ.
Bạn bè của chúng tôi thời học phổ thông giờ công tác ở khắp các nơi trên mọi miền tổ quốc, có nhiều người học cao học, làm nghiên cứu sinh…rồi trở thành thạc sĩ, tiến sĩ.
Có một điều tuyệt nhiên là ngày họp lớp bạn bè gặp lại nhau sau hàng chục năm xa cách chỉ nghe mấy người có học vị cao này khoe là hoàn thành khóa học hết hàng mấy chục, thậm chí là mấy trăm triệu đồng để có bằng nọ bằng kia nhằm đảm bảo cho vị trí công tác hoặc lên chức.
Có người còn khoe rằng muốn được cơ quan cho đi học cũng phải chạy thì mới được cho đi, khi đi học thì chủ yếu là phải nuôi thầy chứ có tuổi rồi học làm sao vào được.
Tuyệt nhiên, không thấy ai nói đến chuyện học cao như vậy để nâng cao kiến thức chuyên ngành cho mình.
Viết đến đây, người viết lại sực nhớ đến nhà thơ trào phúng Tú Xương khi xưa đã lên án về việc học và công nhận bằng cấp của xứ mình thuở ấy:
“Tiến sĩ khoa nay đỗ mấy người/ Nghe chừng hay chữ có ông thôi/ Nghe văn mà gớm cho văn nhỉ/Cờ biển vua ban cũng lạ đời”. Đến giờ, sao mà ngẫm vẫn thấy đúng!
Nguyễn Cao



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cận cảnh biệt thự của cựu TGĐ Gang thép Thái Nguyên vừa bị bắt giam


20/04/2019 TPO - Thời điểm Dự án mở rộng sản xuất giai đoạn 2 - Gang thép Thái Nguyên (TISCO) nợ nần chồng chất, hàng nghìn tấn vật liệu bỏ hoang thì ông Trần Văn Khâm - Chủ tịch HĐQT, kiêm tổng giám đốc xây căn biệt thự được cho là to đẹp nhất vùng ở TP Thái Nguyên.
Trong khi Nhà máy Gang thép Thái Nguyên đang nợ nần chồng chất, ông Trần Văn Khâm, lãnh đạo chủ chốt của Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên (từ năm 2009) lại xây biệt thự hoàng tráng to nhất vùng. Căn biệt thự đồ sộ, cao 5 tầng, được người dân xem là "to nhất vùng" ở thành phố Thái Nguyên của ông Trần Văn Khâm - Bí thư Đảng ủy Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên xây từ năm 2013, bị yêu cầu dỡ bỏ phần sai phép nhưng đến nay vẫn sừng sững tồn tại. 


Ngày 20/4, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) – Bộ Công an thông tin, đơn vị này đang điều tra 4 vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật xảy ra tại Dự án mở rộng sản xuất giai đoạn 2 - Công ty Gang thép Thái Nguyên (Công ty TISCO). Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” và tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí”, xảy ra tại Dự án mở rộng sản xuất giai đoạn 2 - Công ty TISCO.

Đồng thời, cơ quan CSĐT khởi tố bị can, bắt tạm giam và khám xét người, nơi ở, nơi làm việc đối với 5 đối tượng. Trong đó, hai bị can gồm: Mai Văn Tinh - nguyên Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty Thép Việt Nam; Đậu Văn Hùng - nguyên Tổng Gíam đốc Tổng Cty Thép Việt Nam về tội “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng”, quy định tại Điều 224 Bộ luật Hình sự năm 2015. 

Ba bị can: Trần Trọng Mừng - nguyên Tổng Giám đốc Cty TISCO; Trần Văn Khâm - nguyên Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Công ty TISCO và Ngô Sỹ Hán - nguyên Phó Tổng Giám đốc, Trưởng ban Quản lý Dự án mở rộng sản xuất giai đoạn 2 - Công ty TISCO cùng về tội “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng”, quy định tại Điều 224 Bộ luật Hình sự năm 2015 và tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí”, quy định tại Điều 219 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Trước đó, Thanh tra Chính phủ (TTCP) chỉ ra hàng loạt vi phạm trong việc triển khai Dự án Gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2 (TISCO), có nguy cơ gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng. Dự án mở rộng sản xuất giai đoạn 2 - Công ty gang thép Thái Nguyên ban đầu có tổng mức đầu tư 3.843 tỷ đồng, sau đó điều chỉnh lên hơn 8.100 tỷ đồng, nhưng đã “đắp chiếu” nhiều năm qua. Hàng nghìn tấn trang thiết bị gỉ sét, hạ tầng đầu tư đã xuống cấp nghiêm trọng…



Theo ghi nhận của phóng viên, Dự án Gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2 trên diện tích hàng trăm héc ta tại phường Cam Giá, TP Thái Nguyên (tỉnh Thải Nguyên) không hoạt động. 

Một góc khuôn viên các phân xưởng là nơi để vật liệu, thiết bị đã hư hỏng hoàn toàn. Thậm chí, có khu vực tập kết thiết bị do cỏ dại mọc um tùm được nhân viên bảo vệ... chăn thả dê.

Hàng nghìn tấn vật liệu, thiết bị đã lắp đặt và được vận chuyển về trước đó vẫn đắp chiếu. Nhiều thiết bị hoen gỉ, hư hỏng, nằm giữa khuôn viên cỏ mọc um tùm. 


Theo ông Hoàng Ngọc Diệp - Tổng Giám đốc TISCO cho biết, báo cáo tình hình triển khai dự án (giai đoạn 2013-2018) cho thấy, tỷ trọng nợ phải trả trên nguồn vốn chủ sở hữu cao (3,5 lần), khả năng thanh toán thấp. 

Với cơ cấu vốn tài sản trên thì việc sử dụng nguồn vốn của TISCO chưa hiệu quả, nguồn vốn dài hạn không đủ bù đắp cho dòng tài sản dài hạn đã thực hiện khiến TISCO bị mất cân đối nguồn tiền. Năm 2013, thiếu hụt 1.006 tỷ đồng, đến năm 2014 thiếu hụt 957 tỷ đồng. Dù giai đoạn 2015-2016 đã khắc phục được tình trạng mất cân đối nguồn vốn và sản xuất có lãi nhưng đến qúy II/2017 TISCO lại rơi tình trạng mất cân đối nguồn vốn 744 tỷ đồng.

Trong khi Nhà máy Gang thép Thái Nguyên đang nợ nần chồng chất, ông Trần Văn Khâm, lãnh đạo chủ chốt của Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên (từ năm 2009) lại xây biệt thự hoàng tráng to nhất vùng. Căn biệt thự đồ sộ, cao 5 tầng, được người dân xem là "to nhất vùng" ở thành phố Thái Nguyên của ông Trần Văn Khâm - Bí thư Đảng ủy Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên xây từ năm 2013, bị yêu cầu dỡ bỏ phần sai phép nhưng đến nay vẫn sừng sững tồn tại.

MINH ĐỨC - NGUYỄN HOÀN

https://www.tienphong.vn/phap-luat/can-canh-biet-thu-cua-cuu-tgd-gang-thep-thai-nguyen-vua-bi-bat-giam-1404897.tpo

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2019

Lãnh tụ Triều Tiên kính yêu ‘chúc sức khỏe’ ông Nguyễn Phú Trọng


19/04/2019


Ông Nguyễn Phú Trọng và ông kim jong un tại Hà Nội, 1/3/2019.
Nhà lãnh đạo tối cao của Triều Tiên, ông Kim Jong Un, vừa “gửi lời cảm ơn” và “chúc sức khỏe” đến Tổng Bí thư–Chủ tịch Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, truyền thông trong nước dẫn nguồn tin từ Hãng Thông tấn Trung ương Triều Tiên (KCNA) cho biết hôm 19/4.
Lãnh tụ Triều Tiên gửi lời chức sức khỏe đến ông Trọng giữa lúc có những đồn đoán về tình trạng sức khỏe của ông mà cho đến nay vẫn chưa có bất cứ phát ngôn chính thức nào từ Đảng Cộng sản hoặc nhà nước Việt Nam xác nhận hay bác bỏ các tin đồn này.
KCNA loan tin ông Kim Jong Un đã đáp lại điện mừng của ông Trọng hôm 13/4 nhân dịp ông Kim được bầu lại làm Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ nước CHDCND Triều Tiên.
“Chủ tịch Triều Tiên chúc Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng sức khỏe và thành công lớn trong phát triển Đảng và sự thịnh vượng của đất nước”, báo VietnamNet cho biết.
Trong mấy ngày qua, chính quyền Việt Nam vẫn chưa đưa ra bất cứ phản ứng nào trước những thông tin trong mạng xã hội cho rằng ông Nguyễn Phú Trọng đã phải nhập viện khi đang đi công tác ở tỉnh Kiên Giang hôm 14/4.
Truyền thông Việt Nam cho biết hôm 18/4, ông Nguyễn Phú Trọng đã gửi điện mừng tới Chủ tịch Ủy ban thường vụ Hội nghị Nhân dân tối cao Triều Tiên Choe Ryong Hae.
Tin ông Trọng gửi điện mừng hôm 18/4 là diễn biến mới nhất mà truyền thông Việt Nam lên tiếng về hoạt động của ông sau chuyến công du đến Kiên Giang.
Vào hôm 10/4, trong buổi gặp gỡ Đoàn Chủ tịch Mặt trận Tổ Quốc, ông Nguyễn Phú Trọng cho biết, sắp tới ông sẽ thăm chính thức Triều Tiên theo lời mời của Chủ tịch Kim Jong Un, nhưng không cho biết khi nào ông sẽ đi.
Ngoài ra, theo báo chí trong nước, ông Trọng cũng đã nhận lời mời thăm Hoa Kỳ của Tổng thống Donald Trump, và theo Bộ Ngoại giao Việt Nam thông báo hôm 14/03/2019 thì “thời gian chuyến thăm sẽ được thu xếp vào thời điểm thích hợp”.