Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 19 tháng 2, 2019

Chính quyền 'thiếu tự tin' về việc cho dân tưởng niệm 17/2?


18 tháng 2 2019 - Một nhà quan sát bình luận với BBC rằng việc người dân bị ngăn cản tưởng niệm ngày 17/2 và chiếc lư hương trước tượng Trần Hưng Đạo bị cẩu đi cho thấy chính quyền "thiếu tự tin và đánh mất niềm tin của nhân dân". Dù trong bối cảnh báo chí được đồng loạt đăng các bài viết đánh dấu 40 năm cuộc chiến biên giới, gọi tên Trung Quốc "là quân xâm lược, quân bành trướng", người dân tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội vẫn bị ngăn cản khi đi thắp hương, đặt hoa tại tượng đài và nghĩa trang liệt sĩ. Nhiều blogger bày tỏ sự bức xúc trên mạng xã hội về việc chiếc lư hương dưới chân tượng Trần Hưng Đạo bị cẩu đi ngay trong ngày 17/2.

Tượng Trần Hưng Đạo là nơi người dân Sài Gòn 
thường đến thắp hương tượng niệm ngày 17/2
Sau đó, các báo Việt Nam cho hay chiếc lư được đưa về đền thờ Đức thánh Trần ở đường Võ Thị Sáu, phường Tân Định, quận 1. Bí thư Quận ủy quận 1 Trần Kim Yến được báo Tuổi Trẻ dẫn lời giải thích về chuyện này: "Việc thờ phụng nên được đặt ở đình, đền, chùa sẽ đúng hơn. Đó là việc hết sức bình thường, mình đưa việc thờ phụng về đúng vị trí."

'Hành động vô đạo'


Hôm 18/2, từ TP Hồ Chí Minh, nhà văn, nhà quan sát Nguyễn Viện nói với BBC:

"Cuộc chiến mang tính Chauvinism của Trung Quốc với Việt Nam bắt đầu từ ngày 17/2/1979 và kéo dài cả chục năm sau đó, gây tang thương mất mát rất lớn cho quân dân Việt Nam cũng như lính Trung Quốc."

"Tuy nhiên, dường như cuộc chiến thảm khốc đó đã bị che giấu và bóp méo. Mặc dù, những thỏa thuận im lặng ấy chỉ được thi hành ở một phía: Việt Nam."

"Trong rất nhiều năm, những chiến sĩ Việt Nam đã hy sinh vì tổ quốc hầu như bị quên lãng. Đảng Cộng sản luôn luôn tuyên truyền, không chừa một cơ hội nào, để vinh danh hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhưng cuộc chiến vệ quốc với Trung Quốc, họ tỏ ra khiếp nhược một cách khó hiểu."

"Thậm chí những bia tưởng niệm ở biên giới phía Bắc còn bị đục bỏ, chưa kể còn biết bao hài cốt chiến sĩ vẫn nằm lại đâu đó không được tìm kiếm quy tập. "

"Tuy thế, những công dân Việt Nam yêu nước, mỗi năm đến ngày 17/2 đều tìm cách dâng hương tưởng niệm, nhưng năm nào cũng bị chính quyền ngăn cản, câu lưu."

"Sau 40 năm trốn tránh sự thật lịch sử, năm nay nhà nước bật đèn xanh cho phép báo chí lên tiếng, cựu Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đi thắp hương ở nghĩa trang liệt sĩ. Nhưng các quan chức đương quyền vẫn giấu mặt."

"Việc dời lư hương dưới chân tượng Trần Hưng Đạo là hành động vô đạo ngoài sức tưởng tượng, có thể gọi là thất đức."

"Người dân muốn tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ theo cách của riêng mình, một lần nữa, bị cấm cản. Tôi cũng nằm trong số đó, công an yêu cầu tôi không được đi đâu ngày 17/2."

"Tại sao lại có hiện tượng có vẻ trái ngược đó? Tôi cho rằng, trước hết có sự biến chuyển trong quan hệ quốc tế, tương quan giữa Việt Nam, Mỹ và Trung Quốc. Thứ hai, trước áp lực của dân chúng, chính quyền buộc phải cho báo chí nhắc đến sự kiện bi thảm này để bảo đảm tính chính danh của họ."

"Điều thấy rõ nhất là chính quyền không chấp nhận lòng yêu nước không nằm trong sự kiểm soát của họ. Nếu họ cho phép những cuộc tưởng niệm xảy ra, điều đó có nghĩa là họ đồng ý với những gì mà những người đấu tranh làm từ trước tới giờ và buộc phải công nhận sự tồn tại đúng đắn của những người bất đồng chính kiến và đấu tranh cho dân chủ."

"Chính quyền sợ những cuộc "tụ tập" ấy dẫn đến những cuộc biểu tình lớn hơn, ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao, thậm chí chống chính quyền."

"Những lo sợ ấy trong điều kiện hiện nay là không thể. Nó chỉ chứng tỏ rằng Nhà nước vừa coi dân như trẻ con, vừa sợ hãi nhân dân của mình, vừa e ngại có thể làm "đồng chí" láng giềng mất lòng."

"Vụ việc cho thấy vẫn chỉ là một chính quyền thiếu tự tin và đánh mất niềm tin của nhân dân."

Một góc nghĩa trang Vị Xuyên, Hà Giang, nơi giới hoạt động xã hội dân sự thường đến tưởng niệm ngày 17/2

'Chuyển biển mới'


Cũng trong hôm 18/2, nhà báo Ngọc Vinh, thư ký tòa soạn báo Tuổi Trẻ, cựu quân nhân chiến trường Campuchia, nói với BBC:

"Rõ ràng năm nay, có chuyển biển mới trong công tác chỉ đạo truyền thông của nhà cầm quyền về việc đưa tin kỷ niệm ngày 17/2."

"Nếu các năm trước, kể từ sau 1990, báo chí rất hạn chế nói hoặc không đả động gì đến ngày này thì năm nay ta thấy báo chí rùm ben lên về những hậu quả đau thương của cuộc chiến tranh mà Trung Quốc mang lại cho đất nước và người dân Việt Nam trong năm 1979 và 10 năm tiếp sau đó."

"Tuy còn sự e dè trong cách đưa tin của đài truyền hình quốc gia (VTV) hay cách gọi tên cuộc hội thảo khoa học của các nhà viết sử, nhưng nhìn chung, báo chí phản ánh về cuộc chiến này thật khí thế. Nhiều báo đã gọi thẳng Trung Quốc là kẻ xâm lược, quân bành trướng, những kẻ thảm sát dân thường…"

Tượng đài Trần Hưng Đạo ở bến Bạch Đằng vốn là một điểm tưởng niệm truyền thống của người dân Sài Gòn nhiều năm qua về lòng yêu nước. Việc trùng hợp, không biết là ngẫu nhiên hay cố ý, đã tạo ra cách nghĩ xấu về chính quyền của người dân. Họ kết nối việc dời lư hương với việc Nhà nước muốn cấm đoán người dân tiến hành một cuộc tưởng niệm bày tỏ lòng yêu nước.nhà báo Ngọc Vinh

"Theo tôi, việc thay đổi này cho thấy, có tín hiệu mới về mặt chính trị được phát ra từ các nhà lãnh đạo. Nó cũng cho thấy sức ép của Trung Quốc lên truyền thông Việt Nam có phần giảm bớt. Thế nhưng sức ép về mặt khác vẫn còn, chẳng hạn như việc tụ tập biểu tình phản đối Trung Quốc qua các hình thức tưởng niệm cuộc chiến."

Đề cập về vụ chiếc lư hương bị cẩu đi đang gây xôn xao, ông Ngọc Vinh nói: "Một bản tin trên báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 15/1 nói về chủ trương sửa chữa hai tượng đài tại quận 1 là tượng Phù Đổng Thiên Vương ở ngã 6 Lê Thị Riêng và tượng Trần Hưng Đạo ở bến Bạch Đằng để ngăn xuống cấp."

"Rất tiếc là bản tin này không nói gì về việc di dời lư hương. Theo tôi, nếu việc cẩu lư hương xảy ra trước Tết hay sau đây vài tháng thì chẳng có việc gì xảy ra về mặt dư luận, thế nhưng dư luận dậy sóng vì ngày cẩu lư hương xảy ra đúng thời điểm tưởng niệm 17/2."

Văn bản được cho là của chính quyền phát đi về việc ngăn người dân đến "gây rối" tại tượng đài Trần Hưng Đạo

"Tượng đài Trần Hưng Đạo ở bến Bạch Đằng vốn là một điểm tưởng niệm truyền thống của người dân Sài Gòn nhiều năm qua về lòng yêu nước. Việc trùng hợp, không biết là ngẫu nhiên hay cố ý, đã tạo ra cách nghĩ xấu của người dân về chính quyền. Họ kết nối việc dời lư hương với việc Nhà nước muốn cấm đoán người dân tiến hành một cuộc tưởng niệm bày tỏ lòng yêu nước."

"Nếu chính quyền TP Hồ Chí Minh xử lý tinh tế hơn thì đã không có gì xảy ra."

"Trong việc này, tôi cho rằng, nếu chính quyền biết điều phối tế nhị mọi chuyện như một trọng tài bóng đá có đẳng cấp để có thể tổ chức sắp xếp cuộc tưởng niệm diễn ra nhẹ nhàng và kiểm soát được những bộc phát mất bình tĩnh (nếu có) của người dân thì không xảy ra những điều đáng tiếc, vừa không làm sứt mẻ về mặt ngoại giao."

"Nếu làm được vậy, chính quyền có được cái lợi khi chứng minh bản lĩnh đối phó của mình giữa hai tình huống: sức ép của người dân và sức ép của Trung Quốc."

Đề cập về việc các trang mạng xã hội đang phổ biến một văn bản được cho là của chính quyền phát đi về việc ngăn người dân đến "gây rối" tại tượng đài Trần Hưng Đạo và có khẩu hiệu "xấu về chính trị" trước hôm 17/2, nhà báo Ngọc Vinh cho hay: "Đó là các chỉ đạo nội bộ mà chúng ta thường thấy trong bộ máy chính quyền lâu nay."

"Điều đó càng cho thấy sức ép từ trên xuống dưới, có liên quan đến Trung Quốc, trong việc chống tụ tập có thể dẫn đến biểu tình và sự mất kiểm soát của đám đông. Tôi nghĩ, nhà nước nào cũng e ngại các cuộc biểu tình chính trị vì nó có thể dẫn đến hậu quả khôn lường cho họ, ngay cả những xứ sở có truyền thống dân chủ như nước Pháp…"

https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-47269271

Phần nhận xét hiển thị trên trang

PHÉP THỬ CỦA BỌN TÀU


Trong hình ảnh có thể có: mọi người đang đứng và ngoài trời

Đức Thánh Trần sinh thời là nỗi khiếp sợ của giặc Nguyên. Đến nỗi chúng cũng phải kính trọng, không dám gọi tên thật của Ngài. Trước khi mất, Ngài dặn con cháu đem hỏa thiêu, lấy vật tròn đựng tro xương, chôn ở trong vườn rồi trồng cây lên trên. Ngài đi vào lòng đất bằng một cách tuyệt tích như thế đấy. Sở dĩ Ngài cẩn thận phòng xa, vì biết rằng bọn giặc phương Bắc kia chưa từ bỏ dã tâm cướp Đại Việt. Đời sau sẽ có lúc chúng lại được dịp dày xéo phương Nam, khi ấy chúng tất sẽ hèn hạ trả thù mà làm nhục hài cốt của Ngài.
Dự liệu của bậc Thánh như Ngài quả không sai. Hơn một trăm năm sau, giặc Minh lại làm chủ kinh thành Đại Việt trong vòng hai chục năm trời. Ba trăm năm sau nữa, đến lượt Tôn Sĩ Nghị... Hẳn hai lũ giặc hậu sinh ấy cũng muốn xâm phạm anh linh của Ngài lắm, nhưng chúng đã không có cơ hội.
Và ngày nay, âm mưu cướp nước của bọn giặc Trung Hoa vẫn còn nguyên đó, chưa ra khỏi dự liệu của Ngài. Sở dĩ chúng phải lấn từ từ, bằng nhiều ngả, nhiều cách... Không dám ồ ạt như trước kia, là vì chúng vẫn e sợ anh linh của Ngài, của những Lê Lợi, Quang Trung... Anh linh của các Ngài mãi mãi là nỗi khiếp sợ của lớp lớp truyền thừa Đại Hán. Mao cũng vậy, Đặng cũng vậy, mà họ Tập ngày nay cũng vậy.
Nhưng Ngài đã không ngờ rằng, bọn dám xúc phạm tới anh linh của Ngài lại chính là con cháu của Ngài. Nó phải coi Ngài là Viễn Tổ, Ngài đã hộ trì cho cả non sông đất nước này, trong đó có ông bà cụ kị nhà nó, cả tấm thân nhơ nhớp của nó... nhờ đâu mà được leo cao, ngồi trên đầu, trên cổ nhân dân. Lại chính là đứa hỗn láo, mất dạy và phản bội lại bậc Viễn Tổ, cũng là phản bội đất nước, phản bội dân tộc.
Kinh tởm hơn nữa, nó còn leo lẻo mồm dối trá, hòng đánh lừa ngót trăm triệu hậu duệ của Ngài, đang cùng nó nhục nhã ngắm nhìn non sông, biển đảo... mất dần vào tay giặc, đang cùng hít thở không khí với nó... Nó lừa cả tổ tiên, lừa trời đất, quỷ thần... Ai sai nó làm như thế? Sự mất dạy, vô đạo cộng với tham lam quyền lực, chức tước đã làm nó mờ mắt. Sự hèn hạ, vô đạo đã làm nó tối tăm, biến thành tay sai cho giặc. Bọn Đại Hán kia muốn thử xem Ngài có còn anh linh? Chúng vẫn hằng e sợ điều đó. Và chính nó, đứa hậu duệ mất dạy của Ngài đã giúp bọn giặc Đại Hán làm cái phép thử đó. Dám xúc phạm anh linh Ngài, làm kinh động quỷ thần, làm mờ cả nhật nguyệt... song chớ vội mừng thầm hỡi lũ người hèn hạ kia. Điều này cũng không ra ngoài tiên liệu nghìn năm của một bậc Thánh như Ngài. Anh linh còn thì nước Việt còn, dân tộc Việt Nam còn. Hãy ghi nhớ điều đó.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 18 tháng 2, 2019

Trung Quốc vướng vụ kiện đầu tiên liên quan đến ‘Vành đai và Con đường’


Một cảng biển tại Djibouti, quốc gia nhỏ bé nằm ở khu vực Đông Phi - Ảnh: Internet 



Một Thế giới
18/02/2019 20:43

Công ty xây dựng cảng China Merchants Port Holdings (CM Port) thuộc sở hữu nhà nước Trung Quốc đang bị tập đoàn DP World của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) kiện ra tòa án vì cáo buộc vi phạm thỏa thuận độc quyền phát triển cảng biển.

Tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng hôm 17.2 cho biết, Tòa án tối cao Hồng Kông dự kiến sẽ mở phiên tranh tụng vào ngày 15.10.2019 về mâu thuẫn liên quan tới quyền phát triển cảng biển tại quốc gia Djibouti ở Sừng châu Phi, trong vụ kiện giữa nhà khai thác cảng toàn cầu DP World (UAE) với tập đoàn CM Port (Trung Quốc).

Trong đơn kiện được đệ trình tới tòa án vào tháng 8 năm ngoái, CM Port bị cáo buộc khiến chính phủ Djibouti thu hồi đặc quyền của tập đoàn DP World trong việc điều hành các cảng ở nước này. DP World cũng tố CM Port cố tìm cách tác động nhằm trì hoãn việc ra phán quyết tại Hồng Kông trong hơn 1 năm qua vì cho rằng vụ việc nên được tòa án ở Djibouti thụ lý.

Nếu vụ kiện được đưa ra xét xử, đây sẽ là trường hợp đầu tiên liên quan đến sáng kiến "Vành đai và Con đường" của Trung Quốc bị đưa ra tòa án.

Kể từ khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đề xuất sáng kiến “Vành đai và Con đường" ​​trị giá hàng tỉ USD vào năm 2013, với hy vọng nhận được sự hỗ trợ của chính phủ cho các hoạt động kinh doanh ở nước ngoài, các công ty Trung Quốc đã vội đặt các khoản đầu tư của họ dưới sự quảng bá của sáng kiến này. Đến nay, hơn 70 quốc gia - chủ yếu ở khu vực Á - Âu - đã đồng ý tham gia sáng kiến ​​trên.

Trung Quốc từ lâu đã có mối quan tâm đặc biệt đến Djibouti, một quốc gia nhỏ bé nằm giữa biển Ả Rập và Địa Trung Hải, gần một số tuyến giao thương tấp nập nhất thế giới. Mỗi năm, ít nhất 40% lưu lượng giao dịch dầu trên toàn cầu đi dọc theo tuyến đường hàng hải qua cảng của Djibouti, nối với Trung Đông, Vịnh Ba Tư và châu Âu.

Nhằm bảo đảm an toàn của một trong những tuyến đường dầu mỏ lớn nhất thế giới, Trung Quốc đã khai trương căn cứ quân sự đầu tiên của mình tại quốc gia ở Đông Phi này vào tháng 7.2017.

Djibouti hiện cũng được coi là một phần quan trọng của sáng kiến “Vành đai và Con đường” trong việc quảng bá hình ảnh tích cực của Trung Quốc tại châu Phi.

Bắc Kinh đã luôn tuyên truyền, mô tả các dự án của CM Port tại Djibouti như minh chứng điển hình của việc áp dụng thành công sáng kiến trên đã giúp một quốc gia nghèo đói xây dựng cảng biển lớn mạnh và hiện đại bậc nhất ở khu vực châu Phi.

Hoàng Vũ (theo SCMP)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhà báo nói láo ăn tiền!



baomai.blogspot.com  

“Nhà báo nói láo ăn tiền!” Không biết từ thời nào mà câu phê bình có tính chất mạ lị này với tất cả các người viết báo đã được phát sinh, cá nhân người viết bài chỉ nhớ loáng thoáng là từ hồi di cư 1954, đã nghe mấy vị huynh trưởng nói câu này rồi. Thật sự, câu này cũng đúng với vài tờ báo “lá cải,” không nhiều trang, và không có bài nghiên cứu, nhận định nào sâu sắc, chỉ có một số hình ảnh diễu cợt và những tin “xe cán chó, chó cán xe.”

Tuy nhiên, có nhận xét cực đoan như vậy là hoàn toàn hàm hồ, thô lỗ và có thể nói là “vô ơn” với những tờ báo thời tiền chiến, là phương tiện duy nhất đem lại văn minh, văn hóa cho dân tộc Việt Nam. Nhìn lại lịch sử văn học, chính báo chí thời đơn sơ những năm 1930-1954 là phương tiện duy nhất giúp cho người Việt mở rộng tầm mắt nhìn ra bên ngoài, để thấy văn minh của nhân loại đã phát triển thật xa với dân tộc Việt, mà từ đó tinh thần muốn cho nước Việt cùng tiến theo đà tiến của thế giới mà phát triển thêm.

baomai.blogspot.com
  
Điển hình là tờ Nam Phong Tạp Chí, một nguyệt san xuất bản từ 1917 đến 1934, do nhà báo Phạm Quỳnh làm Chủ Nhiệm và Chủ Bút. Nam Phong Tạp Chí là một tờ báo có chủ trương truyền bá chữ Quốc Ngữ cho phần đông dân trí còn đang mê muội, do đó, với những bài văn, thơ, truyện ngắn, phê bình, và tài liệu lịch sử, Nam Phong Tạp Chí là ngọn đuốc soi đường cho trí thức của dân Việt được ngang tầm quốc tế.

Điều đặc biệt hơn cả, là từ Nam Phong Tạp Chí, nhiều nhà báo, nhà văn, nhà thơ đã làm giầu cho văn học Việt Nam như Đông Hồ, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Bá Trác, Phạm duy Tốn, Trần Trọng Kim, Tương Phố,Tản Đà, Dương Bá Trạc và Dương Quảng Hàm. Những vị này có thể nói là những cây viết làm giầu nhất cho kho tàng văn học Việt Nam.

baomai.blogspot.com

Bên cạnh đó, nhiều nhà văn đã nhờ báo chí mà nổi tiếng, như Vũ Trọng Phụng, (1912-1939), đã cho đăng những truyện ngắn, những bài phóng sự, phê bình văn học, chính trị, xã hội và văn hóa trên “Ngọ Báo,” “Hải Phòng Tuần Báo” làm chấn động cả xã hội đang mê ngủ với cường hào, ác bá, theo chân thực dân Tây mà tàn hại lớp “dân ngu, khu đen.” Những tác phẩm độc đáo của Vũ Trọng Phụng, với giọng văn châm biếm nhẹ nhàng mà lại đi sát với xã hội, cho đến thế kỷ hiện nay, vẫn là ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ tiếp nối. Ngoài những tác phẩm như “Chống Nạng Lên đường,” “Kỹ Nghệ Lấy Tây,” “Cạm Bẫy Người,” “Cơm Thầy Cơm Cô,” các tác phẩm “Số đỏ,” “Giông Tố,” “Vỡ Đê” và “Làm Đĩ” được giới văn học đánh giá ngang ngửa với những tác phẩm quốc tế.

Cũng từ báo chí, văn học Việt Nam đã hãnh diện có nhà văn Ngô Tất Tố, bậc Thầy của tiểu thuyết và truyện dài. Ông đã viết trên An Nam Tạp Chí, Thần chung, Phổ Thông, Đông Dương, Hải Phòng Tuần báo, Thực Nghiệp, Con Ông, Đông Dương Thời Báo, Tân Văn... Với sức viết của một người khổng lồ, ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm vĩ đại, chỉ trích giới quan lại, phong kiến. Trong số các tác phẩm nổi tiếng của ông như “Tắt Đèn,” “Việc Làng,” “Tập Án Cái Đình,” thì “Lều Chõng” là một tác phẩm lớn, soi sáng cả một thời văn học Việt Nam dưới ảnh hưởng của Tây Thực Dân.
baomai.blogspot.com

Bên cạnh đó, có thể nói không người Việt Nam nào biết đọc sách mà không biết đến nhóm Tự Lực Văn Đoàn gồm các nhà báo, nhà văn có tư tưởng văn minh độc đáo. Những truyện ngắn, truyện dài đăng trên các báo Phong Hóa của Nhất Linh, Thạch Lam, Hoàng Đạo, Tú Mỡ, sau này thêm Vy Huyền Đắc, Thanh Tịnh... cũng là những ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ văn chương tiếp nối.

baomai.blogspot.com

Như thế, có thể nói Báo Chí là Linh Hồn của Văn Hóa Việt Nam, vậy tại sao lại phũ phàng nói là “Nhà báo nói láo ăn tiền!” Trong thời hiện đại, trên xứ người, những tờ Nhật Báo ra hàng ngày cũng là những nguồn tin đáng tin cậy, tuy có thiên kiến chính trị cũng như những tờ báo Mỹ, nhưng vẫn cố gắng đi theo đường lối của những người dẫn đường cho trí thức của cộng đồng. Dĩ nhiên, trước đây khoảng trên một thập niên, có vài tờ lá cải phát hành loạn xạ, viết tầm bậy tầm bạ, chuyên chỉ trích phê bình thiên hạ với văn phong bình dân, chợ búa, nhưng dần dần, với sự nhận xét thích đáng của độc giả, những tờ lá cải đó lần lượt đi vào âm phủ.


Hiện nay, cũng lai rai có vài cơ quan truyền thông (chưa thấy báo giấy ) như truyền hình, TV trên Internet, chuyên “đâm bị thóc, chọc bị gạo” cộng đồng, mạ lị và chụp mũ tất cả những nhân vật  Hầu làm cho những người đó khó giải thích và từ đó mất uy tín với cộng đồng, không thể đoàn kết cộng đồng trong mục đích duy nhất nữa. Nhưng không thể dựa vào sự kiện ấy mà vơ đũa cả nắm, phê bình toàn thể giới nhà báo Việt Nam.

Đặc biệt là từ khi vị Tổng Thống của Hoa Kỳ phê bình toàn bộ báo chí là “Fake News,” thì có một số người Việt cũng theo đó mà chê trách toàn bộ báo chí Việt là “Nhà báo nói láo ăn tiền,” rồi bỏ không đọc báo Việt nữa. Đó là nhận định quá thô thiển. Trong hai thập niên trở lại đây, với sự sử dụng email tràn ngập của người Việt, nhiều nhân vật có thiên kiến chính trị cực đoan về đảng phái, về tôn giáo, hay vì những lý do cá nhân, đã lợi dụng sự tự do phát biểu của Hoa Kỳ, để thẳng tay phóng lên Net những câu phê bình tàn tệ những nhà báo khác chính kiến với mình. Những vị này không hề biết đến lý luận mà chỉ dùng những ngôn từ chứng tỏ tác giả thiếu văn hóa, văn học, và văn chương, hoàn toàn không thích hợp với các cuộc tranh luận thẳng thắn.

Theo nguyên tắc tranh luận quốc tế, người tranh luận chỉ chú trọng vào lý luận của đối phương mà tấn công, chứ không bao giờ tấn công cá nhân của người đó (gia cảnh, học lực, vị trí xã hội). Việc phát ngôn phóng túng này, thực tế, không thích hợp với một xã hội Dân Chủ, Tự Do nhưng văn minh nhất thế giới.

baomai.blogspot.com
  
 Việt Nam có trên dưới 700 tờ báo, nhưng không có tờ nào là của tư nhân, mà toàn là Báo Đảng, chuyên phát tin  của Nhà Nước đưa ra. Nhiều chuyện láo cực kỳ mà báo cũng tỉnh bơ đưa lên giấy, thí dụ như kể chuyện một anh bộ đội, đang núp dưới hầm, thấy một chiếc trực thăng của miền Nam bay qua, anh ta nhảy lên, nắm lấy phần đuôi của trực thăng và quật xuống. Thế là chiếc máy bay tan tành. Một bộ đội khác dùng súng trường bắn ba phát vào một chiếc phản lực “Thần Sấm” của Mỹ, làm rớt chiếc phản lực này, giết chết cả chục tên địch!

baomai.blogspot.com

Chuyện hài hước nhất là một chiến sĩ phi công lái máy bay núp trong mây, tắt máy, chờ máy bay địch bay qua, thì nổ máy lại, và nhào ra bắn hạ máy bay địch trong chớp mắt. Gay cấn hơn là chỉ một mình anh chiến sĩ đã hạ nguyên một Tiểu Đoàn lính miền Nam gồm hơn 500 người! Anh này còn có tài ném lựu đạn xa vài trăm thước, một kỷ lục mà trên toàn thế giới không ai phá nổi. Một chiến sĩ khác đi lạc trong rừng gặp cọp, mà chỉ với một con dao nhỏ, đã đâm chết một con cọp khổng lồ.


Với những thành tích xạo như thế, những tờ báo  mới đích thực là những kẻ “nói láo, ăn tiền.” Người Việt hải ngoại, những ai còn tinh thần chân chính vẫn mong cho có ngày báo chí ở Việt Nam hết nói láo.....




Chu Tất Tiến

baomai.blogspot.com
Phần nhận xét hiển thị trên trang

LÊ DUẨN


Kết quả hình ảnh cho ảnh Lê Duẩn

Ông Lê Duẩn là người khí phách bậc nhất đối với Trung cộng trong số những thế hệ LĐ cộng sản của VN cho tới thời điểm này. Mọi thông tin hạ thấp vai trò và bôi nhọ ông vào lúc này (về mặt vệ quốc) đều nhằm mục đích hèn hạ, nô lệ và bán nước.
Ông đã đóng vai trò quyết định trong việc làm phá sản âm mưu phá hoại VN từ phía CPC, làm thất bại cuộc xâm lược VN từ biên giới phía Bắc, bất chấp nhiều kẻ gián điệp, bán nước chóp bu xung quanh ông và ngay bên cạnh ông... Trung cộng căm ông, ghét ông, đến nỗi chúng "dạy" cho dân TQ và người CPC thời ấy gọi người Việt là bọn "Duôn". Duôn nghĩa là "Duẩn", cách phát âm từ "Duẩn" của bọn Trung cộng. Xem thế đủ biết, bè lũ Đặng Tiểu Bình ngày ấy căm thù và khiếp sợ Lê Duẩn như thế nào.
Có người bảo Lê Duẩn ngang Gia Cát Lượng. Tôi bảo Lê Duẩn bằng cả Gia Cát Lượng và Tào Tháo cộng lại. Chuyện khác không bàn.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tại sao Tập Cận Bình muốn phục hồi Khổng Tử? – Phần cuối


Nguyễn Hải Hoành
….
Phản ứng của dư luận
Người Trung Quốc có truyền thống “sùng thánh”, bởi vậy khi CT Tập muốn phục hồi Khổng Tử thì truyền thông chính thống cả nước liền nhiệt liệt hưởng ứng. Cơn sốt Khổng Tử nóng trở lại. Cán bộ Đảng và chính quyền thi nhau phát biểu ý kiến giải thích và chứng minh quan điểm của CT Tập là hợp lý nhất. Các đài truyền hình làm chương trình Giảng đường trăm nhà để các học giả giảng giải đạo Khổng. Bà Vu Đan (tháng 11/2012 bị sinh viên ĐH Bắc Kinh la hét phải rời diễn đàn) ngày 8/12/2015 lại ra mắt công chúng để quảng bá Khổng Tử. Chính phủ bỏ tiền tỷ đẩy mạnh xây dựng các Học viện Khổng Tử trên toàn cầu…
Giới học giả hăng hái nói về các ưu điểm của Nho giáo. Dương Triều Minh, Giám đốc Viện Nghiên cứu Khổng Tử, nói: 2000 năm qua trên thế giới chưa ai được quan tâm và bị đánh giá mâu thuẫn nhiều như Khổng Tử. Thời cận đại, người Trung Quốc cho rằng muốn thoát khổ thì phải vứt bỏ văn hóa truyền thống với hạt nhân là Nho giáo. Mới đây, sau 30 năm nghiên cứu, giới học giả Trung Quốc phát hiện Nho giáo ban đầu (thời Tiên Tần) có “sắc thái tính đạo đức” rõ rệt, còn Nho giáo sau đời Hán thì có “sắc thái quyền uy” rõ rệt. Nho giáo ban đầu với đại diện là Khổng Tử nhấn mạnh “chính danh”, chủ trương “Tu dĩ an nhân” và “nhân chính”, “đức trị” – là các giá trị quan cốt lõi của Khổng Tử thật. Nho giáo sau đời Hán thì thích ứng nhu cầu chế độ chuyên chế phong kiến, phiến diện nhấn mạnh quân quyền, phụ quyền, phu quyền. Nho giáo suy thoái dần, có đặc điểm “thiếu ý thức bình đẳng và ý tưởng tự do”, không thích hợp với xã hội hiện đại. Đó là giá trị quan của Khổng Tử giả. Nay mọi người nên nhận thức được tinh thần chân chính của Nho giáo nguyên thủy, nên phục hồi các giá trị quan của Khổng Tử thật.
GS Vương Kiệt ở Trường Đảng Trung ương nhấn mạnh: kể từ phong trào Dương Vụ đời Thanh, cách mạng tư sản của Tôn Trung Sơn cho tới việc ĐCSTQ thời kỳ đầu đi theo chủ nghĩa Mác, Trung Quốc đã du nhập không ít học thuyết của phương Tây nhưng thực tế chứng minh đều không thành công. ĐCSTQ dần dần nhận ra giá trị to lớn của văn hóa truyền thống Trung Quốc, hiểu rằng chỉ có kiên trì chủ nghĩa Mác, kế thừa có phê phán nền văn hóa truyền thống Trung Quốc, kiên trì nguyên tắc “cổ vi kim dụng”, “dương vi trung dụng” thì mới có thể vứt bỏ cái vỏ bọc cũ rích của truyền thống Trung Quốc, kế thừa nội hàm tinh thần và linh hồn sống động của văn hóa truyền thống ưu tú, qua đó thực hiện sự phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa. CT Tập đã tổng kết sơ bộ tác dụng của việc kế thừa Văn hóa truyền thống ưu tú của Trung Quốc đối với sự phục hưng đó, thống nhất được hai mặt phát triển cá nhân và quốc gia giàu mạnh. Sức mạnh cứng rất quan trọng, nhưng sức mạnh mềm, như văn hóa, đạo đức, tín ngưỡng, tinh thần, giá trị quan… cũng rất quan trọng.
GS Diêu Trung Thu nói: Việc kỷ niệm Khổng Tử với sự có mặt của lãnh đạo tối cao cho thấy Trung Quốc phải dựa vào tư tưởng Khổng Tử để đạt được sự đồng thuận. Tư tưởng này không giải quyết được mọi vấn đề nhưng có lợi cho việc giải quyết vấn đề cơ bản nhất là lòng người, là giá trị quan của quốc dân, là cơ sở tinh thần của đất nước. Ở tầng nấc đời sống cá nhân, Khổng Tử đề xuất phải “tu thân”, ở tầng nấc quản trị nhà nước, Khổng Tử đề xuất phải “Chính giả chính dã政者正也” (người làm chính trị phải chính trực công bằng), rất coi trọng xã hội tự trị. Ý tưởng Giấc mơ Trung Quốc thể hiện hình ảnh của tư tưởng Nho giáo. Hội nghị TƯ 3 khóa 18 ĐCSTQ nêu ra “đẩy mạnh hiện đại hóa hệ thống trị lý nhà nước và năng lực trị lý”, trong đó trị lý (cai trị, quản lý) là một khái niệm kiểu Nho giáo. Nho giáo coi trọng việc đào tạo người lãnh đạo xã hội, tức đào tạo sĩ quân tử 士君子.
Sử gia Chương Lập Phàm cho rằng phục hưng Nho giáo bắt nguồn từ một vấn đề vô cùng quan trọng là xã hội Trung Quốc hiện nay chịu ảnh hưởng nặng của tư tưởng chủ nghĩa vật chất, cần phải lấp đầy khoảng trống về ý thức hệ.
Triết gia Lê Minh nói toàn bộ văn nhân Khổng-Nho đều là lũ ngốc; sau hơn 2000 năm ngụp đầu trong cái hũ tương văn hóa Khổng-Nho người Trung Quốc đã đánh mất toàn bộ cái “tôi”, vì thế không thể xây dựng được triết học của Trung Quốc; tội ác hơn 2000 năm qua đều tập trung ở một chữ Lễ, tức chế độ mọi người mãi mãi không bình đẳng (Lễ chế).
Nhà Trung Quốc học người Đức Michael Schuman nói ĐCSTQ cần tới sự ủng hộ của Nho giáo, nhưng đề cao Nho giáo cũng có rủi ro, vì Khổng Tử bảo vệ chế độ đẳng cấp xã hội, chủ trương xã hội hài hòa và phản đối nổi loạn nhưng cũng yêu cầu chính quyền phải công bằng chính trực, minh bạch, suốt đời Khổng Tử phê phán quyền lực.
Báo Le Figaro (Pháp) phân tích: với việc khôi phục Khổng Tử, Nho giáo sẽ trở thành một công cụ hữu ích để Tập Cận Bình kiểm soát chặt xã hội và bóp nghẹt nguyện vọng dân chủ. Nhưng có thể lợi bất cập hại: chưa chắc sẽ làm nhụt được nguyện vọng dân chủ của dân mà ngược lại CT Tập có thể sẽ lấy làm tiếc là đã khôi phục đức Khổng, nếu người dân đòi hỏi ĐCSTQ phải trung thực và làm gương như Khổng Tử đã dạy.
Roderick MacFarquhar, GS ĐH Harvard và là nhà Trung Quốc học nổi tiếng nhận xét: Từ thời Mao đến nay, chưa một lãnh đạo Trung Quốc nào đẩy mạnh một chương trình trọn vẹn phục hồi các giá trị cũ và sức mạnh thô bạo của ĐCSTQ như Tập Cận Bình đang làm.
Rõ ràng việc CT Tập cố phục hồi Nho giáo dưới chiêu bài phục hồi Văn hóa truyền thống cho thấy ông đang muốn sử dụng Nho giáo để siết chặt quyền lực của mình, trấn áp mọi sự phản kháng từ những người đòi dân chủ, các phái đối lập, làn sóng phản kháng này đang dâng lên.
Đầu năm 2016, Trung Quốc ra luật mới về xuất bản. Sau đó blog của Nhiệm Chí Cường, một tiếng nói đòi dân chủ được gọi là Nhiệm đại pháo, bị cấm. Mới đây La Vũ, con của cố Đại tướng La Thụy Khanh viết thư cho bạn cũ là Tập Cận Bình, yêu cầu chấm dứt chế độ độc tài, chuyển Trung Quốc thành quốc gia dân chủ. Trước đó La Vũ còn công khai đòi giải tán ĐCSTQ.
Vài nhận xét bước đầu
Có thể thấy chiến dịch phục hồi Khổng Tử của CT Tập chưa đạt hiệu quả mong muốn. Tuy bộ máy Đảng và chính quyền ra sức hưởng ứng nhưng dân vẫn thờ ơ. Nguyên nhân sâu xa là do họ đã quá chán ngán với học thuyết của Khổng Tử và văn hóa truyền thống Trung Quốc. Dù có được tô son điểm phấn thế nào, Nho giáo vẫn bị coi là hệ tư tưởng của chế độ phong kiến độc tài chuyên chế và việc CT Tập viện đến Nho giáo để củng cố sự lãnh đạo của ĐCSTQ chỉ có thể gây phản cảm. Dư luận nước ngoài cho rằng việc lợi dụng chiến dịch chống tham nhũng để thanh trừng một loạt cán bộ tay chân của lãnh đạo tiền nhiệm đã làm tê liệt bộ máy ĐCSTQ, chiến dịch đàn áp làn sóng đòi dân chủ đã làm tăng sự bất đồng trong Đảng.
Trung Quốc hiện đã lớn mạnh nhiều về kinh tế, khoa học kỹ thuật, quân sự, sức mạnh cứng rất lớn, nhưng sức mạnh mềm thì vẫn còn quá yếu. Hơn 100 năm nay Khổng Tử bị chính người Trung Quốc vùi dập tới mức khó có thể sống lại. Văn hóa truyền thống Trung Quốc chẳng có gì để quá tự hào. Mao Trạch Đông nhận định văn hóa truyền thống Trung Quốc có tính chất phong kiến và phản động, cần loại bỏ. Suốt mấy chục năm qua, giới học giả Trung Quốc vẫn chưa phản bác được nhận định của bà Thatcher “100 năm nữa người Trung Quốc cũng không có tư tưởng mới nào”. Một nhà văn Trung Quốc nhận xét câu này điểm trúng huyệt của Trung Quốc, một triết gia Trung Quốc cảm ơn bà Thatcher đã nói như vậy. Lưu Á Châu nói Trung Quốc chưa hề có nhà tư tưởng. Cũng thế, giới nhà văn Trung Quốc chưa phản bác được ý kiến “Văn học đương đại Trung Quốc là rác rưởi” do một nhà Hán học người Đức nêu ra năm 2006.
Năm 2013, nhà văn nổi tiếng Trương Hiền Lượng nói hiện nay người Trung Quốc thiếu nơi quy y (ý nói thiếu niềm tin): chủ nghĩa cộng sản chỉ là lý tưởng chứ không phải là niềm tin; Trung Quốc  cần xây dựng tín ngưỡng và giá trị quan của mình, nếu không thì chẳng thể trở thành nước lớn, điều mà CT Tập mong ước hơn ai hết.
Xã hội Trung Quốc đang khủng hoảng đức tin, đời sống tinh thần và tâm linh trống rỗng, cần chấn chỉnh. Nhưng dựng dậy cái thây ma Khổng Tử sẽ chẳng giúp gì cho việc ấy, ngược lại có lẽ Tập Cận Bình sẽ chỉ càng ngày càng lúng túng hơn./.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những nhà văn cầm súng lên chốt năm 1979



Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc tháng 2/1979 chỉ diễn ra trong một tháng từ ngày 17/2/1979 đến ngày 16/3/1979 thì Trung Quốc tuyên bố rút quân sau khi đã “Dạy cho Việt Nam một bài học” như lời Đặng Tiểu Bình đã nói khi phát động cuộc chiến tranh. Nhưng xung đột vũ trang thì kéo dài suốt 10 năm, mãi tới năm 1990 mới thật sự chấm dứt. Tôi nhiều năm công tác với những nhà văn trên mặt trận Hoàng Liên Sơn, đó là các tác giả Bùi Nguyên Khiết, Ngọc Bái, Lò Ngân Sủn, Mã A Lềnh, Dương Soái, Pờ Sảo Mìn, Phạm Tuất, Xuân Nguyên…Trong số họ một vài người đã mất, người còn sống đều đã trên dưới 70 tuổi, nói về cuộc chiến tranh thì ai cũng rưng rưng không thể nào quên cuộc chiến tranh ác liệt và tàn khốc sau năm 1975. 
 
Những nhà văn cầm súng lên chốt năm 1979

THÁI SINH

Bùi Nguyên Khiết - Nhà văn, chiến sĩ
Năm 1978, tôi đang là giáo viên “tập tọe” viết văn, sau khi đọc tập truyện ngắn "Dáng núi" của nhà văn Bùi Nguyên Khiết, biết anh xuất thân từ giáo viên chuyển sang làm báo, nhân một chuyến ra Lào Cai, tôi đến tòa soạn báo Hoàng Liên Sơn đóng gần cầu Cốc Lếu, lúc đó anh đang sửa soạn đi công tác nên chỉ đứng nói chuyện với tôi dăm mười phút, anh thành thật: Tiếc quá! Bây giờ mình phải đi công tác, hẹn gặp bạn dịp khác nhé…
Tình hình biên giới trở nên căng thẳng, cuộc chiến bùng nổ vào rạng sáng 17/2/1979, Trung Quốc xua 60 vạn quân đồng loạt đánh phá 6 tỉnh miền núi phía Bắc. Ít ngày sau tôi bàng hoàng nghe tin Bùi Nguyên Khiết đã anh dũng hy sinh trên chốt xã Tả Ngải Chồ, huyện Mường Khương. Tôi tìm đọc tất cả những tác phẩm của anh, nhất là khi tôi trở thành phóng viên báo Lào Cai tháng 4/1994, qua những người bạn từng làm báo với anh, tôi vô cùng cảm phục con người anh, một người bình dị, sống chân thành với bạn bè và đồng nghiệp nhưng dám đương đầu với cái chết. Ngày 5/2/1979 anh cùng Phạm Văn Mạc lên huyện Mường Khương công tác, anh đi qua nhiều chốt dọc tuyến biên giới viết bài gửi về tòa soạn rồi lên đồn biên phòng Pha Long.
Thời gian làm phóng viên báo Lào Cai, tôi đã vài lần lên đồn Pha Long, sống với những chiến sĩ tại đây. Mặc dù cuộc chiến đấu đã qua hơn 10 năm, những cán bộ và chiến sĩ đồn Pha Long vẫn nhớ và kể về anh với sự cảm phục. Ngày 15/2, quan sát thấy phía bên kia biên giới có việc di chuyển quân bất thường và linh cảm cuộc chiến sẽ bùng nổ bất cứ lúc nào, mọi người khuyên anh trở lại phía sau, nhưng anh đã từ chối, cùng các chiến sĩ biên phòng khoác súng cùng chiếc máy ảnh, cuốn sổ phóng viên lên chốt.
Rạng sáng 17/2 với chiến thuật biển người sau khi bắn hàng loạt pháo dọn đường lính Trung Quốc hò nhau xông lên các điểm chốt của ta, chúng bắn như vãi đạn vào các chiến hào. Bùi Nguyên Khiết xách súng lao ra khỏi công sự xả từng băng đạn vào đám giặc đang hò nhau xông lên. Quân giặc ngã rạp nhưng đám phía sau vẫn đạp qua các xác chết lao lên. Bắn hết đạn, Bùi Nguyên Khiết dùng lựu đạn rồi vớ lấy khẩu súng cối của chiến sĩ đã hy sinh tiếp tục bắn vào lũ giặc. Do quá chênh lệch về tương quan lực lượng, Bùi Nguyên Khiết anh dũng hy sinh ngay trên chốt như một chiến sĩ trưa ngày 17/2/1979.  
Dương Soái - Gửi em ở cuối sông Hồng
Tôi biết Dương Soái sau khi anh dàn dựng phát sóng câu chuyện truyền thanh chuyển thể từ truyện ngắn “Đồng đội của anh” tôi viết và đăng trên tuần báo Văn nghệ năm 1981. Tháng 12/1984 tôi được nhận về Hội Văn nghệ Hoàng Liên Sơn thì tôi trở thành bạn văn của anh. Khi đó, anh đang là trưởng phòng Văn nghệ đài phát thanh Hoàng Liên Sơn, sau này lên Phó giám đốc đài phát thanh truyền hình Yên Bái, rồi làm Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật, năm 2010 anh nghỉ hưu. Sáng 16/2/2019 tôi tới thăm anh, nhắc lại cuộc chiến tranh biên giới tháng 2/1979, anh lặng đi một lúc, gương mặt đầy xúc động khi nhớ lại cuộc chiến cách nay 40 năm.
Anh kể: Sáng 17/2/1979 sau khi nghe tin cuộc chiến tranh biên giới nổ ra, tôi được cử lên thị xã Cam Đường tháo dỡ các thiết bị trạm phát sóng của đài phát thanh Hoàng Liên Sơn và đưa tin về cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc của quân và dân ta. Chiều 18/2 chúng tôi lên tới Cam Đường, buổi phát sóng cuối cùng vào thời gian 17 - 18 giờ, trên đỉnh đài phát sóng nhấp nháy đèn tín hiệu chúng nã pháo cấp tập vào đó, chúng tôi phải nấp vào các hầm trú ẩn thời chống Mỹ.
Sáng hôm sau tôi được lệnh lên tận mặt trận để đưa tin trực tiếp về cuộc chiến. Từng đoàn người dân lũ lượt chạy giặc từ thị xã Lào Cai xuống, còn tôi khoác máy ghi âm và cuốn sổ tay phóng viên ngược lên. Pháo giặc bắn xối xả vào thị xã Lào Cai và dọc con đường lên thị xã, chúng tôi phải nhảy xuống rãnh đường ẩn nấp, ngớt tiếng pháo lại vùng dậy đi tiếp, nhiều người dân bị pháo bắn chết và bị thương dọc con đường chạy loạn.
Khi lên tới Vĩ Kim thì tôi bị các chiến sĩ bộ đội chặn lại, vì cuộc chiến đang diễn ra ác liệt phía bên kia cầu Cốc Lếu. Khi xem giấy tờ, biết tôi là phóng viên nhưng họ vẫn yêu cầu quay trở lại Bộ Tư lệnh tiền phương đóng ở phía sau. Cuộc chiến diễn ra quá bất ngờ, mặc dù ta đã dự liệu từ trước, nhưng với chiến thuật biển người, nhiều chốt bắn hết đạn bộ đội ta phải lui về phía sau. Gặp những người lính quần áo bê bết bùn đất và máu sung sướng ôm lấy nhau khi biết đồng đội còn sống.
Biết tôi là phóng viên, nhiều người xé vội sổ tay viết thư về gia đình nhờ tôi chuyển giúp. Nhìn những dòng địa chỉ mà các chiến sĩ gửi về, lòng tôi trào lên một cảm xúc khó tả, tứ thơ "Gửi em ở cuối sông Hồng" ùa đến không thể kìm nén nổi, bài thơ ấy tôi viết ngay ở mặt trận dưới những làn đạn pháo rền vang của quân xâm lược…
Ngọc Bái - Đá mồ côi
Tôi biết nhà thơ Ngọc Bái ở hội nghị báo Chiến sĩ Tây Bắc, bởi tôi có nhiều bài thơ in ở đó, lúc bấy giờ anh đang là trợ lý tuyên huấn Quân khu II, sau làm Chủ nhiệm Nhà văn hóa quân khu. Năm 1988 anh trúng cử chức Chủ tịch Hội Văn nghệ Hoàng Liên Sơn, khi đó anh mới cởi áo lính về cơ quan dân sự. Tôi trở thành bạn tri âm, tri kỷ với anh từ đó đến nay. Chuyện về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc anh đã viết trong ngót 10 tập sách đủ thể loại: Thơ, ký sự, truyện ngắn. Hôm nay kể lại cuộc chiến sau 40 năm, anh vẫn còn nhớ như in lần lên cao điểm 812 xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
Chuyện anh kể dài lắm, tôi chỉ lược ghi ra đây một đoạn mà lính Trung Quốc đã quá chán ngán cuộc chiến hao người tốn của và phi nghĩa của họ: Ngày 1/8/1986 tôi lên cao điểm, sư trưởng 356 Nguyễn Văn Được chỉ thị cho trung đoàn 876 cử trinh sát dẫn tôi lên vị trí H3, H5 còn H1 địch chiếm giữa, khoảng cách vị trí H1 với H3 chừng 3 - 5m. Cách đó 6 tháng một chiến sĩ của ta nhô lên sửa hầm chiến đấu thì bắt gặp một lính Trung Quốc cũng vừa nhô lên khỏi hầm phía bên kia, mặt mũi nhem nhuốc đất cát, anh ta vội vã xua tay ra hiệu đừng bắn. Từ đó hai bên không bắn nhau nữa, bộ đội bên ta quăng sang họ cá hộp Ô-đét-xa, lính bên họ quăng sang bên ta bia Vạn Lực và thuốc lá... Tất cả sự trao đổi đều bằng các ám hiệu, khi lính họ muốn ăn cá hộp thì gõ vào vỏ lon cá…Tôi bảo Thanh người phiên dịch tiếng Trung Quốc đi cùng viết mấy chữ vào một mẩu giấy ném sang phía họ “Chào các bạn! Hôm nay là ngày Bát Nhất, các bạn có biết mình đang đóng quân trên đất Việt Nam không?” Khoảng một tiếng sau, họ vứt sang một mẩu giấy trả lời “Chừng nào quân của Việt Nam rút khỏi Campuchia thì chúng tôi rút khỏi Việt Nam”. Sáng hôm sau tôi lại bảo Thanh viết mấy dòng đề nghị họ gỡ quả mìn định hướng chĩa sang phía Việt Nam, họ viết đáp lại: Chúng tôi không thể gỡ được, vì sợ chỉ huy, nên chỉ hướng quả mìn chếch lên trời thôi…
Từ những điều nhìn thấy trên chiến trường, Ngọc Bái báo cáo với thiếu tướng Lê Duy Mật, Phó tư lệnh Quân khu II, Tư lệnh mặt trận Hà Giang và thiếu tướng Văn Duy, Cục trưởng Cục tuyên truyền đặc biệt, các tướng đều hoan nghênh ý kiến của anh. Trầm tư một lát anh bảo: Không có chuyện thỏa hiệp gì ở đây, những người lính hai bên đã nhận ra, nếu tiếp tục bắn nhau thì cả hai bên đều chết… Năm sau thì có chỉ thị của cấp trên, xung đột giảm dần và biên giới lắng dịu. Tập truyện ngắn "Đá mồ côi" bắt nguồn sau lần lên cao điểm …
Tôi đọc câu thơ “Lào Cai không bỏ quên dù cỏ” của anh, lặng đi hồi lâu anh gật đầu: Chúng ta không được phép quên cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới tháng 2/1979 mặc dù đã 40 năm trôi qua, sẽ vô cùng bất nhẫn với những người đã ngã xuống vì mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc…


Nguồn: báo Nông Nghiệp VN


Phần nhận xét hiển thị trên trang