Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 21 tháng 8, 2018

Tái bản Di cảo LƯU QUANG VŨ


Là người có thói quen viết nhật ký, Lưu Quang Vũ đã ghi chép khá đầy đủ từ cuộc sống đời thường, trường học và cả những suy nghĩ của một cậu bé 15 tuổi về cuộc sống, văn chương nghệ thuật. Trong nhật ký có đoạn Lưu Quang Vũ về thăm lại khu ở cũ, nếu không biết trước, người đọc khó hình dung được những dòng hoài niệm, nhận xét đầy sâu sắc về những người quen cũ đó lại là của một cậu bé 15 tuổi. Cũng ở giai đoạn này, Lưu Quang Vũ bắt đầu làm thơ và như nhiều nhà thơ trẻ khác, chủ đề thường là những khái niệm khá cao xa như cuộc sống và cái chết, cái vô hạn của thời gian và hữu hạn của đời người… 



DI CẢO LƯU QUANG VŨ

Nhân kỷ niệm 70 năm ngày sinh (1948) và 30 năm ngày mất (1988) của nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. NXB Trẻ  tái bản, giới thiệu đến bạn đọc cuốn sách Di cảo Lưu Quang Vũ, do PGS-TS Lưu Khánh Thơ, em gái nhà thơ Lưu Quang Vũ tuyển soạn.
 Nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ mất ở tuổi 40, khi sức sáng tạo đang ở độ dồi dào, tài năng đang ở độ chín. Lưu Quang Vũ nổi tiếng trên văn đàn từ khá sớm với tập thơ Hương cây - Bếp lửa (in cùng Bằng Việt). Khi đó anh mới 20 tuổi và đang phục vụ trong quân đội. 
Ngay từ khi mới xuất hiện và cho đến giai đoạn sau này, Lưu Quang Vũ được đánh giá là một trong những cây bút tiêu biểu của thời kỳ chống đế quốc Mỹ và là tác giả thơ có phong cách rõ nét. Vào thập niên 1980 của thế kỷ 20, Lưu Quang Vũ đến với sân khấu và trong khoảng thời gian gần 10 năm, anh đã sáng tác hơn 50 vở kịch, được các nhà phê bình đánh giá là “nhà viết kịch xuất sắc của thời kỳ hiện đại”. Những vở kịch của Lưu Quang Vũ ghi đậm dấu ấn trong lòng khán giả như: Tôi và chúng ta, Lời thề thứ 9, Hồn Trương Ba da hàng thịt, Bệnh sĩ, Khoảnh khắc và vô tận, Ông không phải bố tôi, Tin ở hoa hồng, Nàng Sita….
Trong lời giới thiệu của mình, PGS-TS Lưu Khánh Thơ cho biết, ngoài những tập thơ đã xuất bản và hơn 50 vở kịch đã được công diễn, Lưu Quang Vũ còn để lại một khối lượng di cảo khá lớn gồm: nhật ký, thư từ, sổ tay ghi chép, bản thảo đã hoàn thành hoặc còn dang dở… một số đã được công bố vào khoảng năm 2008 và đến năm 2018, gia đình tiếp tục công bố phần còn lại. Hy vọng qua đó, bạn đọc có thể hình dung và có một cái nhìn đầy đủ hơn về con người, tính cách và những yếu tố góp phần làm nên tài năng Lưu Quang Vũ.
Cuốn sách được chia làm 3 phần, phần đầu có tên gọi “Mùa hoa phượng và nhật ký lên đường” gồm những trang nhật ký được Lưu Quang Vũ viết trong thời gian học cấp III cho đến những ngày tháng đầu tiên bước vào quân ngũ. Là người có thói quen viết nhật ký, Lưu Quang Vũ đã ghi chép khá đầy đủ từ cuộc sống đời thường, trường học và cả những suy nghĩ của một cậu bé 15 tuổi về cuộc sống, văn chương nghệ thuật. Trong nhật ký có đoạn Lưu Quang Vũ về thăm lại khu ở cũ, nếu không biết trước, người đọc khó hình dung được những dòng hoài niệm, nhận xét đầy sâu sắc về những người quen cũ đó lại là của một cậu bé 15 tuổi. Cũng ở giai đoạn này, Lưu Quang Vũ bắt đầu làm thơ và như nhiều nhà thơ trẻ khác, chủ đề thường là những khái niệm khá cao xa như cuộc sống và cái chết, cái vô hạn của thời gian và hữu hạn của đời người… 
Phần 2 của sách được đặt tên “Những bông hoa không chết”, bao gồm các bài thơ được Lưu Quang Vũ sáng tác trong giai đoạn 1971-1975. Đây là giai đoạn sau này được nhìn nhận là khó khăn nhất với người nghệ sĩ khi chất chứa sự thất vọng, cô đơn, thậm chí có khi là bế tắc (ly hôn, thất nghiệp, đi vẽ thuê…). Khi đó, làm thơ trở thành một cứu cánh để Lưu Quang Vũ bỏ nỗi mệt mỏi, hoài nghi, dù rằng thơ của anh khi đó không được báo nào đăng. Các bài thơ được sắp xếp theo tuyến thời gian mà nếu đi theo đó, bạn đọc sẽ thấy sự thay đổi về tâm trạng của tác giả, từ bế tắc khủng hoảng đến dần dần tìm ra được lẽ sống.

Phần 3 của sách mang tên “Người trong cõi nhớ”, tuyển chọn một số bài viết về Lưu Quang Vũ của bạn bè, đồng nghiệp và các nhà nghiên cứu.


                   XUÂN THÂN – Sài Gòn Giải Phóng

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 20 tháng 8, 2018

‘Hậu quả tai hại của Hội nghị Thành Đô’


Dương Danh Dy
Nhà nghiên cứu Trung Quốc
25-10-2015
H1
…Hơn 20 năm sau Hội nghị Thành Đô, nay có dịp nhìn lại vấn đề, người ta sẽ thấy “ngộ” ra được một số điều mà ngay từ khi được phổ biến kết quả của Hội nghị, những người quan tâm đến tình hình đất nước lúc đó đã ít nhiều biểu thị sự không đồng tình.
Bước đầu, xin mạnh dạn công khai một số yếu kém của phía chúng ta, cũng như xin thẳng thắn đề cập tới một vài tác hại của những “quyết đoán” sai lầm khi đó đối với đất nước.
Nêu ra một số việc, không phải là muốn truy cứu trách nhiệm chính trị, hoặc nhằm bôi xấu, hạ thấp uy tín của một ai mà chỉ nhằm một mục đích: nếu không thấy hết những dại khờ, non yếu của chúng ta, không vạch trần những mưu ma chước quỷ của kẻ mà cho đến tận giờ phút này trong chúng ta vẫn còn có không ít ngưòi lầm tưởng họ là những đồng chí cộng sản, những người đang cùng chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội thì sẽ là một nguy hại to lớn, lâu dài, tiềm ẩn đối với dân tộc.
Ngoài những nhân nhượng vô nguyên tắc về Campuchia như đã trình bày ở bài trước, phía Việt Nam đã không hề (hay không dám) đề cập tới nguyên nhân tạo ra bất đồng trong quan hệ Việt Trung trong hơn 10 năm qua nhất là cuộc Chiến tranh Biên giới tháng 2 năm 1979 do Ban lãnh đạo Bắc Kinh cố tình, chủ động gây ra.
Phía Việt Nam đã hoàn toàn cho qua vấn đề sau khi nghe Giang Trạch Dân nói trong diễn văn: quan hệ hai nước từ nay “hãy gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”.
Đó là những điều ngưòi viết bài này thu nhận được sau khi đã hỏi kỹ đồng chí phiên dịch và nói chuyện nghiêm túc nhiều lần với đồng chí Hồng Hà khi đồng chí còn sống tại một số cuộc họp và tại phòng làm việc của đồng chí tại số 2 Nguyễn Cảnh Trân và tại nhà riêng của tôi do đồng chí chủ động tới gặp.
Không dám hé một lời
Chúng ta không đòi Trung Quốc phải bồi thường chiến tranh trong khi đã nêu vấn đế Mỹ bồi thường chiến tranh là điều kiện tiên quyết để bình thường hoá quan hệ hai nước nhưng tại sao trong đàm phán bí mật lại không dám nói dù chỉ là một lời với Trung Quốc về cuộc chiến tranh tàn ác đó và buộc họ chí ít phải nói ra câu ‘lấy làm tiếc’ về hành động phi nghĩa của mình?
Nhượng bộ vô nguyên tắc này của Việt Nam đã làm cho Trung Quốc dường như giành được ‘vị thế chính nghĩa’ trước dư luận quốc tế và nhất là trong đông đảo nhân dân Trung Quốc dù họ mang hơn 60 vạn quân chính quy xâm lược, giết hại nhiều đồng bào ta, tàn phá nhiều cơ sở vật chất của ta tại vùng sáu tỉnh biên giới Việt Nam.
Làm cho một bộ phận người trên thế giới cho rằng những vu cáo bịa đặt của Trung Quốc: ‘Việt Nam xua đuổi người Hoa’, ‘Việt Nam xâm lược Campuchia’… là đúng, việc thế giới ‘lên án, bao vây cấm vận Việt Nam’ là cần thiết, việc Trung Quốc ‘cho Việt Nam một bài học’ là phải đạo…trong khi chính chúng ta mới là ngườì có công lớn trong việc đánh tan bọn Khơme Đỏ, cứu nhân dân Campuchia khỏi nạn diệt chủng. Tóm lại là đã làm cho khá nhiều người trong thời gian khá dài hiểu lầm, ác cảm với Việt Nam.
Cho tới khi đặt bút viết những dòng này mặc dù đã mất nhiều công sức tìm hiểu, người viết vẫn chưa biết ai là người đề xuất chủ trương cấm không được nói lại chuyện cũ với Trung Quốc, khiến cho trong hơn 20 năm qua, trên các phương tiện truyền thông của Việt Nam không hề có một tin tức nào động chạm tới Trung Quốc. Ngay cả tên tuổi, nghĩa trang của các liệt sĩ hy sinh trong cuộc đấu tranh yêu nước thần thánh trên cũng bị cố tình lảng tránh không dám công khai nói tới, thậm chí bị lãng quên.
Cuộc Chiến tranh Biên giới năm 1979 bị quên đi
Cần phải nói ra đây một sự thực là trong khi đó, báo, mạng chính thống của Trung Quốc vẫn ra sức tung hoành, không hề bị một sự cấm đoán, hạn chế nào, ngày ngày tìm hết cách để bôi xấu, xuyên tạc Việt Nam về mọi mặt, đến nỗi phần lớn người dân Trung Quốc bình thường khi được hỏi về Việt nam cũng thốt lên, Việt Nam là ‘vô ơn bội nghĩa, là kẻ ăn cháo đá bát’…
Theo tài liệu chính thức của Trung Quốc trong một cuộc điều tra công khai, đã có tới “80% dân mạng Trung Quốc – tức khoảng 300 triệu ngưòi-chủ yếu là thanh niên và người có học – tán thành dùng biện pháp vũ lực với Việt Nam tại Biển Đông.
Cảm tình, ấn tượng tốt đẹp của đa số nhân dân Trung Quốc về một nước Việt Nam anh dũng trong chiến đấu, cần cù trong lao động, hữu nghị với Trung Quốc trước đây dường như không còn nữa. Hậu quả tai hại này chưa biết bao giờ mới xoá bỏ được.
Chấp nhận yêu sách trắng trợn của phía Trung Quốc gạt bỏ mọi chức vụ trong và ngoài đảng đồng chí Nguyễn Cơ Thạch, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam, rồi lợi dụng mọi cơ hội đế đến Đại hội 8 Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức làm được việc đó khi đồng chí là một trong số rất ít người lãnh đạo có tư duy sáng tạo, am hiểu tình hình quốc tế, có sức khoẻ dồi dào, có uy tín quốc tế, nhất là đối với các nước Phương Tây là một việc làm thể hiện sự yếu kém về bản lĩnh và sự tha hoá về tình nghĩa cộng sản, là một việc làm dại dột “vác đá tự ghè chân mình”…
Có thể nói mà không sợ quá mức rằng, nếu Nguyễn Cơ Thạch còn trong ban lãnh đạo cấp cao Đảng ta một nhiệm kỳ nữa thì việc bình thường hoá quan hệ Việt Mỹ và việc Việt Nam gia nhập Asean chắc chắn không phải mãi đến năm 1995 mới thực hiện, chậm hơn việc bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc tới gần 5 năm.
Ban lãnh đạo Bắc Kinh các thế hệ, lo sợ ảnh hưởng của Nguyễn Cơ Thạch tới mức, mặc dù ông buộc phải nghỉ hưu và mất đã khá lâu mà hơn hai mươi năm sau ngày bình thưòng hoá quan hệ Việt Trung, tại Đại hội lần thứ XI ĐCSVN tháng 1 năm 2011 họ còn không muốn để con trai ông làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam (lời nguời lãnh đạo đảng ta lúc đó nói, tôi được nguyên đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Trọng Vĩnh trực tiếp cho biết)
Cần nói thêm, việc ngoan ngoãn chấp hành yêu sách gạt bỏ đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đã tạo điều kiện để từ sau đó, Bắc Kinh can thiệp ngày càng sâu hơn vào công tác cán bộ, nhân sự chủ chốt của đảng và nhà nước ta qua mấy kỳ đại hội Đảng (IX, X, và XI) nhằm có người thân Trung Quốc trong cơ cấu lãnh đạo cấp cao.
Quan hệ Việt - Trung đ̣ã trải qua nhiều bước thăng trầm. Ảnh: internet
Việc tỏ ý không muốn thấy con trai đồng chí Nguyễn Cơ Thạch nêu trên chỉ là một ví dụ gần đây nhất.
Đây là việc chưa từng có trong Đảng ta. Chúng ta đều biết thời Bác Hồ, trong Đảng ta tuy có người này kẻ kia thân Liên Xô, thân Trung Quốc nhưng ngưòi nào cũng phải nghiêm chỉnh chấp hành đường lối của Đảng, thời đồng chí Lê Duấn là người lãnh đạo chủ yếu đã không duy trì được nếp chung sống đó, nhưng bất kể là ai hễ thân Liên Xô, thân Trung Quốc trong đảng đều bị loại trừ.
Có thể nhận định thế này thế nọ về hiện tượng trên nhưng có một điều có thể khẳng định, thời đó nước ngoài và nhất là Trung Quốc, không thể trực tiếp thò tay can thiệp vào nội bộ Đảng ta nhất là vê công tác nhân sự tổ chức.
Nhưng từ năm 1991 đến nay, việc Trung Quốc can thiệp vào nội bộ ta đã hầu như đã diễn ra thường xuyên và chưa hề bị lên án. Phải chăng đã xuất hiện ‘Nhóm lợi ích thân Trung Quốc’ trong Đảng ta? Không giải quyết được tình trạng này thì hậu hoạn khôn lường.
Bài học bị dắt mũi nhớ đời
Không thể dùng các từ ngữ thông thưòng để đánh giá các hậu quả trên mà phải dùng từ “cái giá phải trả bằng xương máu” mới phản ánh đúng bản chất của vấn đề.
Hội nghị Thành Đô đã, đang và sẽ còn mang lại cho đất nước chúng những hậu quả to lớn, cay đắng, nhục nhã…
Vì vậy một vấn đề cũng quan trọng không kém mà người viết xin mạnh dạn khởi đầu trước: từ những cái giá phải trả đó chúng ta cần rút ra những bài học gì? Cần ghi nhớ những bài học nào?
1. Những ngưòi lãnh đạo chủ chốt của Đảng ta lúc đó hầu như không nắm được những thay đổi, những diễn biến lớn trên trường quốc tế, nhất là về các nước XHCN Đông Âu, tình hình Liên Xô, tình hình Mỹ cũng như tình hình đối thủ trực tiếp của mình lúc đó là Trung Quốc. Từ đó đã có những nhận định rất sai lầm để rồi đưa ra những quyết định rất sai lầm.
Lãnh đạo Việt Nam đã nhận định sai về vị thế quan hệ Trung - Xô. Ảnh: Reuters
Thắng lợi của Công đoàn Đoàn kết tại Ba Lan, sự kiện Bức tường Berlin bị nhân dân Đức xoá bỏ, việc Yeltsin giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tại Liên bang Nga, Gorbachev từ bỏ chủ nghĩa xã hội và đảng cộng sản… đã không làm cho một số ngưòi trong ban lãnh đạo chúng ta thấy rằng chủ nghĩa xã hội đã không còn được nhân dân ở chính ngay những nước đó ưa thích, theo đuổi, sự sụp đổ của họ là lẽ tất nhiên.
Trong tình hình như thế mà lại chủ trương ‘bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội, chống đế quốc’, ‘Mỹ và Phương Tây muốn cơ hội này để xoá cộng sản’.
“Nó đang xoá ở Đông Âu. Nó tuyên bố là xoá cộng sản trên toàn thế giới. Rõ ràng là nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải tìm đồng minh. Đồng minh này là Trung Quốc.” (trích Hồi ký Trần Quang Cơ)
Cần thấy rằng, trước đó Liên Xô là chỗ dựa về nhiều mặt của Việt Nam, tuy vậy phải nói thẳng ra rằng, so với Cuba thì Việt Nam tương đối ít lệ thuộc hơn. Thế nhưng trong khi Cuba phụ thuộc nặng nề vào Liên Xô, lại ở ngay sát nách Mỹ đã không tỏ ra hoảng hốt khi Liên Xô tan rã, và các bạn ấy vẫn hiên ngang đứng vững từ đó đến nay, Mỹ không dám can thiệp… thì Việt Nam đã phải vội vã quay sang tìm đồng minh ngay với kẻ đang là đối thủ nguy hiểm trực tiếp của mình chỉ vì cái đại cục chung chung, chỉ vì sợ mất chỗ dựa, sợ có thể mất chủ nghĩa xã hội, mất Đảng.
Không thấy hết những khó khăn trong ngoài nước của Trung Quốc lúc đó. Trong nước họ vừa xảy ra sự kiện Thiên An Môn, Triệu Tử Dương bị cách chức Tổng Bí thư, nội bộ lãnh đạo cấp cao bất đồng sâu sắc, một bộ phận nhân dân bất mãn với Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Do đàn áp đẫm máu học sinh sinh viên, Trung Quốc bị các nước Phương Tây chủ yếu cấm vận về chính trị, kinh tế, quân sự, có hạng mục như xuất khẩu kỹ thuật cao trong quân sự đến nay vẫn chưa huỷ bỏ.
Họ ở vào thế không có lợi nhiều mặt khi bình thường hoá quan hệ với ta, nhưng do mấy nhà lãnh đạo chúng ta lúc đó đánh giá không đúng tình hình nên không những không sử dụng được lợi thế của mình, mà còn bị Trung Quốc ‘dắt mũi’ kéo theo, thiệt đơn thiệt kép trong xử lý quan hệ cũ và trong giai đoạn bình thường quan hệ mới, cho tới tận bây giờ và cả trong tương lai nữa.
Lãnh đạo Đảng năm 1990 đã đánh mất bản lĩnh và trở nên sợ địch
Không thể không đề cập tới một vấn đề nữa là trong hơn 10 năm đối kháng, nhà nước Xã hội chủ nghĩa Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã không từ thủ đoạn nào trong đối xử với nước ta, không những thế thái độ của họ trong đối xử với Liên Xô, trong đối xử với nước Ấn Độ láng giềng đồng tác giả với họ trong đề xướng 5 nguyên tăc chung sống hoà bình những năm trước đó.
Chẳng lẽ Ban lãnh đạo Việt Nam lúc đó lại không thấy chút nào?
2. Bằng những thoả thuận tại Hội nghị Thành Đô, mấy nhà lãnh đạo chủ yếu của Đảng ta lúc đó đã tự đánh mất bản lĩnh kiên cường, bất khuất, không sợ địch mà nhiều thế hệ lãnh đạo đã nêu cao, để sẵn sàng nhận sai về phần mình trước kẻ thù, tuỳ tiện đổ lỗi cho người tiền nhiệm.
Người viết bài này không hiểu vì sao, người đại diện cho Đảng ta, một nhân vật có tinh thần sáng tạo lớn với ý chí kiên cường đã tích cực phát triển đường lối cải cách và Đổi mới và chỉ đạo toàn Đảng toàn dân thu được những thành tích to lớn rất quan trọng bước đầu, thế nhưng trước đối thủ Trung Quốc hình như chỉ còn là chiếc bóng, mất hết cảnh giác cách mạng gật đầu tin tưởng và làm theo mọi đề xuất mang đầy chất lừa bịp ‘vì chủ nghĩa xã hội’, ‘vì đại cục’ của Trung Quốc, thậm chí chấp nhận để họ can thiệp vào công việc nhân sự cấp cao của đảng ta.
Bài học này, cần được phân tích sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân, một mặt để thấy rõ sai lầm quá khứ, một mặt để ngăn chặn, phá tan những âm mưu, mánh khoé mới của ngưòi ‘láng giềng bốn tốt’, của ‘những đồng chí’ luôn rêu rao ’16 chữ vàng’ đang không ngừng vận dụng những thành quả cũ vào trong quan hệ với Việt Nam chúng ta hiện nay và trong tương lai.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của nhà ngoại giao kỳ cựu Dương Danh Dy, hiện sống tại Hà Nội. Mời quý vị đọc bài trướcHọp Thành Đô ‘nguyên nhân và diễn biến’.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện Đặc khu Kinh tế


Tác giả: Vũ Ngọc Hoàng
VN đất hẹp người đông, mặt khác, lại nằm ở vị trí địa lý rất nhạy cảm mà đối phương luôn dòm ngó, mưu tính lâu dài. Vì vậy, vấn đề các cư dân sẽ sinh sống lâu dài ở đây cần được xem xét cẩn trọng. Cư dân hiện tại và lâu dài chủ yếu vẫn phải là người VN. Dân cư đang sinh sống trong đặc khu nên được sắp xếp lại và giúp đỡ đào tạo nghề nghiệp để họ có thể sinh sống lâu dài tại chỗ, chứ không nên chuyển dời tất cả đi nơi khác. 

Đặc khu- thành công và thất bại
Chuyện đặc khu kinh tế đã bàn từ lâu, hàng chục và hàng trăm năm trước, tại nhiều nước trên thế giới và kể cả ở nước ta. Thế giới đã có hàng nghìn đặc khu kinh tế ở hơn một trăm nước. Một số đặc khu thành công, số lớn hơn thì không thành công hoặc thất bại. Họ tổ chức bao gồm 2 loại hình: Loại thứ nhất, có đơn vị hành chính riêng (của một khu). Loại thứ hai, không có đơn vị hành chánh riêng mà chỉ là cho áp dụng cơ chế đặc biệt trên một vùng lãnh thổ nhất định (khác với cả nước ở bên ngoài đặc khu) tại địa điểm cụ thể nào đó. 


Loại thứ nhất số lượng rất ít nhưng thường mạnh mẽ hơn về cơ chế chính sách và quyền tự chủ, nhiều nơi gần giống như “khu tự trị” về kinh tế; loại thứ hai nhiều hơn, phổ biến hơn.

Ở nước ta hàng trăm năm trước đã từng có các đặc khu kinh tế. Phố Hiến ngày trước cũng là một kiểu đặc khu. Tại Hội An, cách đây khoảng 4 thế kỷ, chúa Nguyễn đã từng tổ chức một đặc khu kinh tế, và đã rất thành công tại đó vào lúc ấy. Với đặc khu kinh tế Hội An, gắn với một thương cảng quốc tế Cửa Đại sầm uất-một trung tâm giao lưu buôn bán của khu vực, nơi đây đã trở thành trung tâm kinh tế của Xứ Đàng Trong. Trung tâm kinh tế này đã đóng góp rất quan trọng về nguồn tài chính và hậu cần cho công cuộc khai khẩn hòa bình khi cư dân Đại Việt tiến dần về phương Nam để mở mang bờ cỏi và nhân đôi nước Việt.

Cách đây hơn 25 năm, giai đoạn đầu của đổi mới, lãnh đạo nước ta đã có chủ trương cho nghiên cứu để xây dựng một vài đặc khu kinh tế. Sau đó, khi triển khai, thì Bộ Chính trị và Chính phủ lúc đó chỉ đạo cho làm trước một khu Kinh tế mở Chu Lai (không gọi đặc khu nữa). Lúc đó được hiểu là chỉ cho cơ chế thoáng mở để thu hút đầu tư phát triển, chứ không lập đơn vị hành chánh riêng theo kiểu gần như “khu tự trị” vì xét thấy không cần thiết phải như thế, do vậy không gọi là đặc khu kinh tế, mà chỉ là khu kinh tế mở. Như vậy, theo cách hiểu phổ biến của thế giới, thì Khu Kinh tế mở Chu Lai cũng là một kiểu đặc khu theo mô hình thứ hai-không có đơn vị hành chánh riêng.

Sau 15 năm thành lập, Khu kinh tế mở này mặc dù đã có một số thành công đáng kể, bắt đầu tạo ra một số ngành công nghiệp và tham gia phát triển du lịch, tạo việc làm trực tiếp cho mấy vạn lao động, trong đó có một bộ phận lao động kỹ thuật có tay nghề cao, góp phần quan trọng nhất để tăng thu ngân sách của tỉnh Quảng Nam lên gấp 150 lần so với 20 năm trước, từ một trong hai tỉnh nghèo nhất cả nước về thu ngân sách, hằng năm trung ương phải thường xuyên trợ cấp hầu hết ngân sách, đã trở thành một trong số các tỉnh tự cân đối được ngân sách và có đóng góp một phần về ngân sách trung ương. Tuy nhiên so với ý định và mục tiêu ban đầu nêu ra thì có thể khẳng định rằng Khu kinh tế mở Chu Lai chưa thành công. Đáng lẽ trước khi bàn về đặc khu kinh tế thì cần tổng kết lại câu chuyện về Khu Kinh tế mở Chu Lai, xem thử thành công và thất bại ở điểm nào, vì sao ngày ấy không làm đặc khu mặc dù trước đó đã có nghị quyết.

Nhà nước của dân phải biết lắng nghe dân

Trong kỳ họp Quốc hội gần đây có bàn dự luật về 3 đặc khu kinh tế theo loại hình thứ nhất-có đơn vị hành chánh riêng (tại Vân Đồn, Phú Quốc và Bắc Vân Phong). Khi biết nội dung của dự luật thì dư luận trong cả nước đã có nhiều ý kiến phản đối. Và khi nghe thông tin về ý kiến của Chính phủ và Quốc hội cho tạm dừng, chưa thông qua trong kỳ họp vừa rồi, để thảo luận kỹ thêm về dự thảo luật đặc khu, cán bộ, nhân dân đã có nhiều ý kiến đánh giá cao thái độ và tinh thần cầu thị đó của lãnh đạo.

Nhà nước của dân phải luôn biết lắng nghe ý kiến của dân, kể cả trước và sau khi thông qua quyết định. Phản biện khoa học và thảo luận bình đẳng là con đường tiếp cận chân lý mà không có gì có thể thay thế trong khoa học xã hội. Trường hợp vừa rồi là cách tốt cần được phát huy đối với nhiều việc khác. Từ xưa đến nay, kể cả lịch sử tất cả các triều đại, khi nào lãnh đạo đất nước thật sự cầu thị lắng nghe dân thì lòng dân tin tưởng và hướng về triều đình, lúc ấy dân tộc có sức mạnh gấp bội để giữ nước và kiến thiết quốc gia. Còn khi nào triều đình quan liêu, xa dân, không biết lắng nghe mà còn đối phó với nhân dân, thì lòng dân ly tán, sức mạnh quốc gia suy yếu, đến lúc nghiêm trọng thì kẻ thù từ bên ngoài lợi dụng cơ hội ấy để tấn công, đất nước không đứng vững trước hiểm nguy và triều đình suy vong, sụp đổ. Việc lãnh đạo thật sự cầu thị, lắng nghe dân là tín hiệu tốt đẹp.

Có người cho rằng nếu cứ đưa ra dự luật mà Quốc hội không thông qua thì mất uy Bộ Chính trị và Chính phủ. Tư duy kiểu ấy chắc chắn là sai. Quan điểm của Đảng là xây dựng nhà nước của dân, (chứ không phải của Đảng); Đảng lãnh đạo bằng thuyết phục, nói rõ cơ sở khoa học và thực tiễn của vấn đề, bằng phát huy dân chủ, chứ không phải áp đặt mất dân chủ. Dùng quyền lực để áp đặt không phải là lãnh đạo theo đúng nghĩa khoa học và chân chính của nó. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, một nhà nước của dân, phải đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, thực chất chứ không phải hình thức, không phải là khẩu hiệu mị dân.

Đảng mong muốn Quốc hội là một tập thể có trách nhiệm với nhân dân, trung thành với nhân dân, và có năng lực tư duy độc lập, chứ không phải là cơ quan thụ động, hình thức. Một bộ luật được thông qua hay không thông qua là do sự cần thiết, chất lượng chuẩn bị hoặc còn nhiều ý kiến khác nhau, và đó là việc rất bình thường, như lẽ tự nhiên, thể hiện chính kiến của Quốc hội. Uy tín của Chính phủ và Quốc hội trong việc đề ra chủ trương và xây dựng luật chỉ có thể được tăng lên khi nâng cao được chất lượng và hiệu quả của các quyết định và nhất là biết lắng nghe dân, thấy sai thì tiếp thu và sửa chữa một cách nghiêm túc và cầu thị. Xử sự như trường hợp vừa rồi là đúng.

Vừa qua, cán bộ đảng viên và nhân dân, nhất là trí thức Việt Nam trong và ngoài nước, đã có rất nhiều ý kiến đóng góp tích cực và xây dựng, rất đáng hoan nghênh và khuyến khích. Cần phải như thế trong trách nhiệm và tâm huyết đối với quốc gia. Bên cạnh đó cũng có một số ý kiến phê phán nặng nề, suy diễn và quy chụp về động cơ làm đặc khu, cứ như thể chỉ có mình mới biết yêu nước. Trước sự trì trệ trong công việc, những suy nghĩ về đổi mới để phát triển đều cần được khuyến khích và lắng nghe. Những đề xuất đưa ra chắc sẽ có cái đúng và chưa đúng hoặc sai. Nếu cứ suy diễn và quy chụp thì ai còn dám đổi mới. Nào là có động cơ đen tối, bán nước, chệch hướng, chống đối, phản động… Cái bệnh hay quy chụp lẫn nhau là một tội đồ kìm hảm tư duy của dân tộc. Cần phải biết lắng nghe nhau một cách cầu thị và biết tôn trọng những ý kiến khác mình.

Hiện nay chuyện đặc khu không còn nóng hổi và thời sự như thời kỳ 30-40 năm trước, vì tình hình đã khác, đã không như lúc đó. Nhưng nói vậy cũng không có nghĩa là nhất thiết không được xây dựng đặc khu kinh tế. Vẫn có thể xây dựng đặc khu, nhưng nếu cần làm thì phải có cách tiếp cận khác, cách tiếp cận mới, chứ không phải như vừa rồi. Phải bảo đảm chắc chắn về hiệu quả kinh tế-xã hội và quốc phòng-an ninh cho đất nước. Nếu thấy không chắc chắn thì không làm, bởi vì không để làm gì. Bản thân việc xây dựng đặc khu kinh tế là một cách làm, nhằm bảo đảm hiệu quả, chứ không phải là một mục đích tự thân hay một nguyên tắc nhất thiết phải làm cho bằng được hoặc tuyệt đối không được làm.

Đặc khu- nên làm hay không nên làm?
Đặc khu là một khu vực đặc biệt. Xuất phát từ nhiệm vụ đặc biệt và được áp dụng cơ chế đặc biệt. Dự định xây dựng đặc khu để làm gì, nói cách khác, nhiệm vụ đặc biệt ở đây là gì? Phải chăng có 2 mục tiêu chính: Thứ 1, là để thử nghiệm cơ chế, thể chế, chính sách cho việc quản trị một nền kinh tế hiện đại; thứ 2, là để tạo ra đột phá trên thực tế nhằm hình thành một khu phát triển động lực với một số ngành nghề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế nước nhà, có hiệu quả cao về tài chính, và từ đó mà lan tỏa, thúc đẩy cả vùng phát triển theo. Đối với mục tiêu thứ 1 thì chưa thấy rõ trong dự thảo định thử nghiệm cơ chế, thể chế gì? Và để đạt mục tiêu đó thì cách làm là cần đưa ra thảo luận rộng rãi, nhiều lần, để huy động chất xám, nâng cao hàm lượng trí tuệ và từ đó mà tạo ra nhận thức chung về cách quản trị đối với nền kinh tế hiện đại. Bản thân việc thảo luận ấy nếu biết tổ chức tốt thì nó đã tạo ra sản phẩm về nhận thức.

Đối với mục tiêu thứ 2, để tạo ra một khu phát triển thì rất cần làm rõ xem thử khu ấy là khu gì, ưu tiên cho cái gì (ngành nghề gì, sản phẩm gì) ở đó, và chắc chắn không thể ưu tiên tràn lan cho mọi thứ. Trong một đặc khu chỉ nên ưu tiên cho vài thứ ngành nghề quan trọng nhất theo chủ định của ta, có trọng tâm rõ ràng, còn các thứ khác thì phát triển bình thường như bên ngoài đặc khu, theo cơ chế chung như cả nước. Ví dụ du lịch, khách sạn, thương mại, casino, kinh doanh bất động sản, nhà hàng ăn uống, các nhà máy với công nghệ trung bình…thì có thể phát triển bình thường, không cần thiết phải tạo đặc khu. Người ta tạo đặc khu cũng là để rút kinh nghiệm rồi sau này hòa chung với cả nước mà nhân lên sự phát triển, chứ đâu phải để tạo ra một sự tách biệt nào trên lãnh thổ thống nhất. 

Còn những thứ xét thấy rất quan trọng, ví dụ như một hệ thống công nghiệp công nghệ cao nằm trong chuổi giá trị toàn cầu, hay một trung tâm tài chính quốc tế, một cảng trung chuyển hàng hải hay trung chuyển hàng không quốc tế… hay cái gì đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế VN thì mới cần khuyến khích nhiều, tức là mới thuộc đối tượng ưu tiên theo kiểu đặc khu. Các ưu đãi cần thực hiện theo hướng ưu tiên cái gì (ngành gì) chứ không phải ưu tiên tràn lan cho tất cả những thứ gì có trong địa bàn, không gian của đặc khu đó. Bản thân hình thức đặc khu đã là xuất phát từ tư duy không tràn lan.

Cũng có ý kiến rằng, vì nước ta còn thiếu vốn, làm đặc khu để thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài. Việc đó cũng cần, nhưng chỉ là yêu cầu kết hợp chứ không phải là chính, vì nếu chỉ để thu hút đầu tư thì thực hiện trên cả nước chứ không nhất thiết phải đặc khu, mặt khác, độ mở của nền kinh tế VN đối với đầu tư nước ngoài đã khá lớn, thậm chí có một số mặt cần phải chấn chỉnh lại. Cái quan trọng hơn là phải mở cho nội lực phát triển. Mục tiêu cuối cùng là sự phát triển của chủ nhân đất nước (tức là nhân dân) chứ không phải cho ai khác.

Sau khi lựa chọn hướng phát triển, tức là xác định cụ thể cho rõ nhiệm vụ đặc biệt là gì, căn cứ vào đó để mà chọn địa điểm xây dựng đặc khu, cụ thể hiện nay là căn cứ vào đó mà xem xét lại địa điểm có phù hợp không? Nếu địa điểm không phù hợp với nội dung phát triển thì phải chọn lại địa điểm cho phù hợp.

Đây là công việc phải rất khách quan, khoa học, chứ không phải “đẽo chân” cho vừa giày. Không phải địa điểm quyết định nội dung phát triển đặc khu, mà nội dung cần phát triển sẽ quy định việc chọn địa điểm, vì nó xuất phát từ yêu cầu cốt lõi của nội tại nền kinh tế nước nhà. Theo đó, có thể dễ nhìn thấy là khu vực Vân Phong nhằm để phát triển một cảng trung chuyển hàng hải quốc tế. Nếu có Cảng trung chuyển quốc tế tại Vân Phong thì sẽ rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế của VN, chi phí vận chuyển hàng hải đi quốc tế sẽ giảm, gắn nền sản xuất hàng hóa của nước ta với thị trường thế giới, tạo thêm thế và lực để Việt Nam đồng hành cùng các quốc gia lân cận khác theo tinh thần “cần thiết” cho nhau, “tùy thuộc” lẫn nhau; đồng thời cũng là một kiểu “quốc tế hóa” Biển Đông, huy động sức mạnh tổng hợp của quốc tế để bảo đảm tự do hàng hải ở biển đông gắn với bảo vệ chủ quyền của VN ở khu vực này.

Đối tác chiến lược để làm cảng trung chuyển hàng hải quốc tế có thể tìm chọn của một nước phát triển ở phương tây đã có nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực này, nhất là hàng hải vượt đại dương xa. Cũng có ý kiến cho rằng, để phát triển cảng trung chuyển thì cũng không cần đặc khu? Việc này phải luận chứng, nếu không cần đặc khu theo kiểu có đơn vị hành chánh riêng mà chỉ cần cho cơ chế vẫn làm được cảng trung chuyển thì không cần phải làm đặc khu. Mục đích chính ở đây là một cảng trung chuyển quốc tế chứ không phải là một đặc khu. Cũng có ý kiến rằng, lấy đâu ra hàng hóa mà làm cảng trung chuyển quốc tế, trong khi ở gần ta đã có Hồng-Kông, Singapor…?

Tôi thì nghĩ khác, việc sản xuất hàng hóa ở nước ta và khu vực gần ta sẽ còn phát triển nhiều chứ không thể chỉ dừng lại như hiện nay mãi; mặt khác, có con đường vận tải nào thuận lợi hơn thì người ta sẽ chọn để đi và nó sẽ tác động kích thích sản xuất hàng hóa nhiều hơn cho khu vực lân cận. Việc nghiên cứu thị trường, tổ chức thị trường thì nhà đầu tư đương nhiên sẽ tính kỹ và cụ thể hơn. Chính phủ chọn hướng đi là trên cơ sở của nhu cầu và lợi thế so sánh về phát triển cảng biển nước sâu ở Vân Phong.

Còn Vân Đồn và Phú Quốc, nếu đúng lợi thế lớn nhất là du lịch và không có lợi thế khác để phát triển nội dung nào quan trọng hơn đối với nền kinh tế nước nhà thì cũng nên xem xét lại vấn đề địa điểm ở đây thử có cần làm đặc khu tại đó hay không? Du lịch thì cứ phát triển mạnh trên cả nước và không cần đặc khu. Còn nơi nào định làm cảng trung chuyển quốc tế hoặc các thứ công nghiệp công nghệ cao thì du lịch không thể đứng chung trong một không gian với các nội dung đó. Đối với công nghệ cao và trung tâm tài chính quốc tế như đã nêu ví dụ ở phần trên, thì nó thường thích hợp hơn với các địa điểm không cách xa các đô thị trung tâm.

Mà công nghệ cao thì đã có một số khu ở cả bắc trung nam, thậm chí đã 20 năm rồi nhưng chưa thành công, trước mắt cần phải xem xét lại cho kỹ về nguyên nhân, cách làm, xem vì sao mà chưa thành công, điều chỉnh và bổ sung giải pháp để bảo đảm cho các khu ấy thành công, đồng thời có thể phát triển thêm các khu công nghiệp công nghệ cao khác mà không cần đặc khu. Riêng đối với trung tâm tài chính quốc tế thì quan trọng nhất là các cơ chế liên quan đến vận hành, đến sự duy chuyển của các dòng tài chính, tiền tệ quốc tế, các loại tiền và công cụ tài chính, hệ thống tài khoản, sự minh bạch về tài chính….(trong dự thảo ít nói chuyện này). Đúng ra phải làm rõ nội dung cần phát triển trước khi chính thức quyết định địa điểm.

Cần chú ý mục tiêu quốc phòng và chủ quyền quản lý lãnh thổ

Người viết bài này chưa được rõ các căn cứ khi lựa chọn địa điểm như các phương án đã nêu ra! Mà nếu cần làm đặc khu thì cũng không nên đưa việc lựa chọn địa điểm cụ thể vào trong luật. Dự luật chỉ cần làm rõ các nguyên tắc, tiêu chí về mục tiêu, yêu cầu, nội dung phát triển và cơ chế chính sách lớn, chế tài xử lý đối với việc làm sai, vi phạm. Còn lựa chọn địa điểm ở đâu thì luận chứng rõ ràng trong từng dự án, và đó là loại dự án cần đưa ra cho quốc hội phê chuẩn sau khi đã lựa chọn kỹ lưỡng đối tác chiến lược. Với vị trí địa chính trị và trong tình hình cụ thể ở khu vực như ta đã biết, việc lựa chọn địa điểm cần đặc biệt chú ý mục tiêu quốc phòng về lâu dài, đề phòng cảnh giác đối với âm mưu thâm hiểm của thế lực muốn tìm cách xâm lăng nước ta.

Bản thân đặc khu, sau một thời gian, phải đem lại hiệu quả cao về tài chính cho đất nước, chứ không phải là nơi tiêu hao ngân sách. Các chính sách ưu đãi về thuế nói chung không kém hấp dẫn so với các đặc khu đã có trong khu vực, nhưng không nhất thiết phải vượt trội so với thiên hạ. Cần quan tâm hơn về cải cách hành chánh, cơ chế quản lý thoáng mở, thủ tục không rườm rà, giảm tối đa thời gian làm thủ tục, bảo đảm sự minh bạch, không có phí tiêu cực. Lấy đó làm hướng chính thay cho việc miễn giảm thuế. Sự miễn giảm thuế không nằm ngoài việc hướng đến tạo nguồn thu lớn hơn cho ngân sách. Nói chung, không phải tập trung ngân sách để đầu tư vào đặc khu để xây hạ tầng vượt trội trong điều kiện tài chính mất cân đối như hiện nay.

Khu Thẩm Quyến của Trung Quốc chỉ được đầu tư rất ít từ ngân sách để xây hàng rào, còn hạ tầng thì đặc khu tự cân đối và kêu gọi các nhà đầu tư. Nhưng sau đó một thời gian không lâu thì đặc khu đã có nguồn thu lớn nộp cho ngân sách. Nước ta phải nghĩ theo cách đó chứ không phải tính chuyện dùng nhiều tiền từ ngân sách để đầu tư vào mấy đặc khu gây hụt nguồn cho các nhu cầu khác hoặc lâm nợ. Đặc khu phải hạch toán có hiệu quả, vừa bảo đảm tự cân đối cho công việc phát triển đặc khu, vừa có nguồn để nộp cho ngân sách nhà nước, chứ không thể chi nhiều hơn thu. Đây là yêu cầu khó khăn khi thực hiện, nhưng không thể không làm thế. Nếu đặc khu là chỗ tiêu hao ngân sách quốc gia và không đem lại hiệu quả tài chính thì không cần phải xây dựng đặc khu trong tình hình hiện tại. Nên sử dụng cơ chế là chủ yếu để tạo ra đặc khu, chứ không phải chọn địa điểm để tập trung đầu tư ngân sách.

Thời gian cho thuê đất cần bảo đảm thu hồi vốn cho nhà đầu tư và sẽ gia hạn khi nhà đầu tư có yêu cầu chính đáng trước lúc giấy phép hết hạn. Thời gian cho thuê đất như quy định trong luật pháp hiện hành là được rồi, không cần phải kéo dài thêm. Luật đặc khu của nước Nga chỉ cho thuê đất không quá 20 năm và không cho lập đơn vị hành chánh riêng.

Giữ vững chủ quyền quản lý lãnh thổ (cả chính trị, kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng) là một nguyên tắc không lúc nào được lãng quên. Chính điều này làm cho hình thức đặc khu khác với hình thức tô nhượng mà trước kia một số nước đã từng thực hiện. Theo đó, quyền phán quyết bằng tòa án kinh tế phải do VN đảm nhận thực hiện và theo luật pháp VN. Còn việc các doanh nghiệp VN và doanh nghiệp nước ngoài tự nguyện hợp đồng với nhau chọn cơ quan trọng tài kinh tế nào (kể cả của quốc tế) để xử lý khi có tranh chấp thì có thể được tôn trọng đối với dự án cụ thể ấy. Qua thực tiễn nếu xét thấy luật pháp VN về xử lý tranh chấp kinh tế có điểm nào thiếu hoặc không không tiên tiến, không phù hợp với luật pháp quốc tế thì công việc lập pháp sẽ bổ sung hoặc điều chỉnh.

Để triển khai xây dựng đặc khu, cần lựa chọn kỹ lưỡng chủ đầu tư là những tập đoàn, doanh nghiệp lớn, có kinh nghiệm phát triển lĩnh vực ngành nghề mà ta dự định. Đó là hướng chủ yếu chứ không phải dùng cơ quan nhà nước làm chủ đầu tư để sử dụng ngân sách. Trong tình hình hiện tại, nước ta không đủ ngân sách để xử lý đồng thời nhiều nhiệm vụ quan trọng. Mặt khác, việc đầu tư cho hạ tầng bằng ngân sách nhà nước thường bị lảng phí một tỷ lệ đáng kể, chất lượng công trình cũng dễ có vấn đề và đưa vào sử dụng hiệu quả thường không cao. Như vậy, có thể rút ra cách suy nghĩ là, nhà nước không trực tiếp tạo ra đặc khu kinh tế, mà chính các tập đoàn kinh tế mới là người tạo ra các khu ấy, còn nhà nước thì chỉ tạo điều kiện, nhất là khung pháp lý. Vì vậy, để bảo đảm cho sự thành công của đặc khu, cần thiết phải tìm chọn chủ đầu tư chiến lược song song với quá trình chuẩn bị đề án, chứ không phải lập ra đặc khu và chờ nhà nước cân đối vốn đến đâu thì làm đến đấy.

VN đất hẹp người đông, mặt khác, lại nằm ở vị trí địa lý rất nhạy cảm mà đối phương luôn dòm ngó, mưu tính lâu dài. Vì vậy, vấn đề các cư dân sẽ sinh sống lâu dài ở đây cần được xem xét cẩn trọng. Cư dân hiện tại và lâu dài chủ yếu vẫn phải là người VN. Dân cư đang sinh sống trong đặc khu nên được sắp xếp lại và giúp đỡ đào tạo nghề nghiệp để họ có thể sinh sống lâu dài tại chỗ, chứ không nên chuyển dời tất cả đi nơi khác. Đồng thời cũng có thể mở về cơ chế để các cư dân nước ngoài là những nhà khoa học-công nghệ, nhà văn hóa, nhà tài chính được định cư ở đây nếu họ đến làm việc trong đặc khu và có nguyện vọng ổn định chỗ ở để làm việc. Ngoài ra, đều phải quản lý việc nhập cư một cách chặt chẻ, không thể mất cảnh giác.

Quảng Nam tháng 7.2018

----------------------

Bình luận trên Blog Kim Dung:

Nhà nước của dân phải luôn biết lắng nghe ý kiến của dân, kể cả trước và sau khi thông qua quyết định. Phản biện khoa học và thảo luận bình đẳng là con đường tiếp cận chân lý mà không có gì có thể thay thế trong khoa học xã hội. Trường hợp vừa rồi là cách tốt cần được phát huy đối với nhiều việc khác. Từ xưa đến nay, kể cả lịch sử tất cả các triều đại, khi nào lãnh đạo đất nước thật sự cầu thị lắng nghe dân thì lòng dân tin tưởng và hướng về triều đình, lúc ấy dân tộc có sức mạnh gấp bội để giữ nước và kiến thiết quốc gia. Còn khi nào triều đình quan liêu, xa dân, không biết lắng nghe mà còn đối phó với nhân dân, thì lòng dân ly tán, sức mạnh quốc gia suy yếu, đến lúc nghiêm trọng thì kẻ thù từ bên ngoài lợi dụng cơ hội ấy để tấn công, đất nước không đứng vững trước hiểm nguy và triều đình suy vong, sụp đổ (Vũ Ngọc Hoàng)

KD: Ts Vũ Ngọc Hoàng, nguyên Phó Ban Tuyên giáo TƯ vừa gửi cho Blog bài viết này. Một bài viết chủ đề nhạy cảm- Đặc khu kinh tế- với những phân tích thấu đáo về những được mất, thành bại, nên và không nên làm xung quanh chủ đề đặc khu kinh tế.

Xin trân trọng đăng lên Blog để bạn đọc chia sẻ

Các tiêu đề nhỏ, chủ Blog xin đặt để bạn đọc dễ theo dõi

https://kimdunghn.wordpress.com/2018/08/20/chuyen-dac-khu-kinh-te/#more-41870


Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĐẠI TƯỚNG MỸ THĂM ĐỀN HAI BÀ TRƯNG



Ảnh: Tướng Mỹ thăm đền thờ Hai Bà Trưng

Trần Đình Thu



Khác với người thường như chúng ta, đi thăm đâu là ngẫu hứng theo sở thích, những người nắm giữ các vị trí quan trọng trong một nhà nước khi đi thăm các địa điểm nhạy cảm là sự gửi gắm thông điệp quan trọng.
...
Chính vì vậy chuyến viếng thăm Đền Hai Bà Trưng của Đại tướng Robert Brown, Tư lệnh Lục quân Mỹ tại khu vực Thái Bình Dương có 1 ý nghĩa vô cùng đặc biệt.
...
Ai cũng biết Hai Bà Trưng biểu thị cho tinh thần chống ngoại xâm Trung quốc của dân tộc Việt Nam. Vì vậy việc đi thăm Đền Hai Bà Trưng của Tư lệnh Lục quân Mỹ tại khu vực Thái Bình Dương trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ Trung căng thẳng, Mỹ áp dụng chiến lược quốc phòng đối đầu mạnh mẽ với Trung quốc gửi đến lãnh đạo Việt Nam thông điệp đầy ẩn ý.
....
Vấn đề là giới lãnh đạo Việt Nam tiếp nhận thông điệp ấy như thế nào. Họ có nghĩ đến vấn đề thoát Trung hay không, một khi quốc gia đối đầu với Trung quốc đã ngỏ lời.
...
Mấy lòng hạ cố đến nhau,
Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng.
... 

Đây không phải lần đầu tiên giới lãnh đạo Mỹ nhắc nhớ về Hai Bà Trưng. Vào hồi tháng 11 năm ngoái, ông Donald Trump khi đến Đà Nẵng đã phát biểu: “Đó là khoảng năm 40 sau công nguyên, khi Hai Bà Trưng khơi dậy tinh thần của những người dân đất nước này. Đó là lần đầu tiên dân tộc Việt Nam đứng lên vì nền độc lập và niềm tự hào dân tộc của các bạn”.
...
Có lẽ hãy còn quá sớm để nhận biết lập trường của lãnh đạo Việt Nam đối với Trung quốc như thế nào. Nhưng cũng sẽ không quá lâu khi Luật đặc khu đến lúc phải nói yes hay no. Nếu họ "say no" với luật ấy, thì chúng ta đã hiểu.
....
Còn ngược lại thì: 

Đoạn trường là số thế nao,
Bài ra thế ấy, vịnh vào thế kia.

... 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ủy ban Văn hóa: Đường sắt đô thị sẽ xâm phạm di tích hồ Hoàn Kiếm


Phối cảnh cửa lên xuống số 1, ga ngầm C9. Ảnh: MRB.

 
VNEThứ hai, 20/8/2018, 23:55 (GMT+7) 
 
Tuyến hầm nhà ga ngầm C9 thuộc đường sắt đô thị số 2 Hà Nội chỉ cách gò đá chân Tháp Bút một mét.  

Ủy ban Văn hóa Giáo dục, Thanh thiếu niên và Nhi đồng vừa có văn bản gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cho rằng việc xây dựng đường sắt đô thị số 2 (Hà Nội) đã vi phạm hành lang bảo vệ di tích đặc biệt hồ Hoàn Kiếm.

Nhà ga nằm trong di tích hồ Hoàn Kiếm

Trong quá trình chuẩn bị dự án đường sắt đô thị số 2, thành phố Hà Nội cho hay có hai phương án được lựa chọn. Phương án thứ nhất, dự án cắt qua khu phố cổ, Hàng Giầy, Đồng Xuân, Hàng Đường, Hàng Ngang, Hàng Đào, Đinh Tiên Hoàng, Hàng Bài, Đại Cồ Việt.

Với phương án này, hầm nhà ga ngầm C9 cách chân Tháp Bút 8,2 m, cách gò đá chân Tháp một mét. Thân ga (dài 150 m, rộng 21,4 m, sâu 17,45 m, 3 tầng) nằm chính dưới đường Đinh Tiên Hoàng và vườn hoa hồ Hoàn Kiếm. Khoảng cách ngắn nhất từ thân ga tới hồ Hoàn Kiếm 10 m, tới tượng đài cảm tử 81 m, tới đền Bà Kiệu 83 m, tới vườn hoa tượng đài Lý Thái Tổ 120 m, tới Tháp Bút 36 m. Nhà ga có phần nằm trong khu vực bảo vệ 2 (khu vực bao quanh vùng lõi) của di tích quốc gia đặc biệt Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn.

Phương án 2, tuyến đường sắt chạy dọc phố Trần Nhật Duật, Nguyễn Hữu Huân, Lý Thái Tổ, Ngô Quyền, Lê Văn Hưu sau đó kéo dài về phía nam theo hướng đến phố Huế, Đại Cồ việt.
  
Hà Nội đề xuất chọn phương án 1 và được sự chấp thuận của các bộ, ngành liên quan bởi có nhiều ưu điểm: tính khả thi cao, đủ không gian bố trí công trình phụ trợ, không phải giải phóng mặt bằng dân cư, không ảnh hưởng công trình lân cận, đảm bảo khoảng cách hợp lý đến các ga khác, phù hợp với quy hoạch chung, quy hoạch giao thông thành phố.

Phương án 2 không được chọn vì vi phạm hành lang bảo vệ theo Luật Đê điều, đường hầm phải xuyên qua các khu có nhiều nhà cao tầng với móng cọc sâu, kết nối phức tạp, chi phí xây dựng, vận hành cao...

UBND Hà Nội cho biết, sau 22 ngày lấy ý kiến, có 90% ý kiến đồng thuận với quy hoạch tổng thể mặt bằng ga C9.

Vi phạm Luật di sản văn hoá

Tuy nhiên, báo cáo của Ủy ban Văn hóa dẫn ý kiến các nhà khoa học tại tọa đàm trước đó lại phản đối phương án này.

Các nhà khoa học cho rằng hướng tuyến đường sắt đô thị số 2 theo phương án 1 là vi phạm Luật Di sản văn hoá, tiềm ẩn nguy cơ gây tác động xấu đối với di tích và không gian văn hoá trung tâm thủ đô nhưng chưa có báo cáo đánh giá tác động.

Một phần thân ga và toàn bộ cửa lên xuống số 3 nằm trong khu vực bảo vệ 2 của di tích quốc gia đặc biệt hồ Hoàn Kiếm. Tuyến đường ngầm xâm phạm vùng lõi di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật quốc gia đền Bà Kiệu khi xuyên qua đền. Các nhà khoa học cảnh báo, các di tích ở khu vực này đều được xây dựng hàng trăm năm trước, kết cấu trụ, móng không vững chắc, nên quá trình thi công và vận hành tuyến ngầm tạo độ rung gây nguy cơ huỷ hoại di tích.

Quy mô thân nhà ga quá lớn so với diện tích khu vực nên cửa lên xuống bố trí quanh hồ Hoàn Kiếm không hợp lý. Khu vực này vốn đã có mật độ giao thông lớn. Với lưu lượng tăng thêm gần 7.000 người mỗi ngày do ga ngầm tạo ra, tiềm ẩn nguy cơ gây tắc nghẽn giao thông và phát sinh các vấn đề an ninh, xã hội khác.

Nguy cơ xảy ra sự cố khó lường

Đại diện Viện Địa chất (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho biết các công trình đường ngầm và ga ngầm luôn đối mặt với sự cố nguy hiểm là sụt lún, thay đổi cấu trúc địa chất, thủy hệ... Khu vực hồ Hoàn Kiếm được đánh giá có nền móng địa chất yếu, nhưng Hà Nội chưa tham vấn cơ quan chuyên ngành về địa chất để có đánh giác tác động. Do vậy nguy cơ xảy ra sự cố rất khó lường. Việt Nam lại chưa có kinh nghiệm và chuyên gia xử lý sự cố đường sắt đô thị, nếu xảy ra sự cố sẽ bị động.

Theo các nhà khoa học, hồ Hoàn Kiếm, đền Ngọc Sơn, đền Bà Kiệu là di sản văn hoá quốc gia nằm trong khu vực trọng yếu, cần được bảo vệ tuyệt đối. "Vì thế, việc Hà Nội lựa chọn phương án 1 với lý do nêu trên không chi vi phạm pháp luật về di sản văn hoá mà xâm phạm không gian văn hoá đặc biệt của thủ đô; chưa đảm bảo hài hoà giữa phát triển đô thị với bảo tồn, phát huy di sản văn hoá”, báo cáo nhấn mạnh.

Ủy ban Văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng Quốc hội cảnh báo phương án được Hà Nội chọn không chỉ vi phạm Luật Di sản văn hoá mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, ảnh hưởng không thể khắc phục đối với di sản, không gian văn hoá của trung tâm thủ đô.

Ủy ban đề nghị Hà Nội hoàn thiện dự án, báo cáo Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông vận tải, trình Thủ tướng cho ý kiến trước khi triển khai.

Viết Tuân

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc đã thất bại với cả 3 “quân bài” trong chiến tranh thương mại với Mỹ



Trung Quốc đã thất bại với cả 3 “quân bài† trong chiến tranh thương mại với Mỹ
Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Ảnh: The Japan Times.
Về bề ngoài, Mỹ tiến hành chiến tranh thương mại nhằm vào tất cả các đối tác, nhưng thực chất Mỹ chỉ chống lại Trung Quốc, những “đòn đau” về thương mại chưa kết thúc, nhưng các con bài đối phó của Trung Quốc đều không hiệu quả.
Theo tờ Đại kỷ nguyên ngày 14/8, chiến tranh thương mại Trung – Mỹ liên tục nóng lên, Mỹ gần đây tuyên bố tiếp tục tăng thuế quan 25% đối với hàng hóa Trung Quốc trị giá 16 tỷ USD. Có dự đoán cho rằng Bắc Kinh có thể đánh “con bài tẩy chay” để ngăn chặn hàng hóa Mỹ. Nhưng có phân tích cho rằng cho dù Trung Quốc đánh con bài này thì kết quả cũng chắc chắn thất bại.
Trước đó, “con bài quốc tế” mà Trung Quốc sử dụng, đó là lôi kéo Liên minh châu Âu (EU) đã thất bại. “Con bài tiền tệ” do Trung Quốc đang sử dụng (để mặc cho đồng Nhân dân tệ sụt giá) cũng được cho là không thể đánh nổi.
Con bài tẩy chay
Chiến tranh thương mại Trung – Mỹ chính thức bắt đầu từ ngày 6/7/2018, đến nay quy mô tiếp tục mở rộng. Ngày 8/8, Mỹ tuyên bố đến ngày 23/8 sẽ tiến hành tăng thuế quan 25% đối với 279 mặt hàng của Trung Quốc trị giá 16 tỷ USD, gồm những hàng hóa có liên quan đến chiến lược “Chế tạo Trung Quốc 2025” như chất bán dẫn, điện tử.
Cũng ngay trong ngày 8/8, Bộ Thương mại Trung Quốc tuyên bố đáp trả Mỹ bằng cách tăng thuế quan 25% đối với hàng hóa nhập khẩu Mỹ có trị giá tương đương, quyết định này cũng sẽ có hiệu lực vào ngày 23/8.
Ngay từ ngày 6/7, Mỹ đã tăng thuế quan 25% lên hàng hóa Trung Quốc trị giá 34 tỷ USD. Vài tháng qua, Mỹ liên tiếp “xuất chiêu”, còn Trung Quốc bị động ứng phó với chiến tranh thương mại. Đối mặt với sức ép to lớn từ Mỹ, Trung Quốc tiếp theo sẽ ứng phó như thế nào là điều gây chú ý cho dư luận.
Tờ Nhật báo Phố Wall Mỹ ngày 15/6 đã tiết lộ một chi tiết trong cuộc gặp giữa một nhóm CEO Mỹ với quan chức cấp cao Trung Quốc vào cuối tháng 3/2018, đó là phía Trung Quốc phát đi tín hiệu rằng họ sẽ “thắt dây an toàn” khi căng thẳng leo thang.
Phát biểu này được truyền thông phương Tây cho là lời cảnh báo ngầm của cấp cao Trung Quốc đối với doanh nghiệp Mỹ tại Trung Quốc.
Trung Quốc đã thất bại với cả 3 “quân bài” trong chiến tranh thương mại với Mỹ - Ảnh 2.
Điện thoại iPhone của hãng Apple Mỹ. Ảnh: CNBC.
Tờ Nhật báo Bình Quả Hồng Kông ngày 9/8 cho rằng tổng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ của Trung Quốc năm 2017 chỉ 130,4 tỷ USD, “con bài thuế quan” được Bắc Kinh sử dụng là có hạn, Trung Quốc sớm đã mạnh mẽ tuyên bố áp dụng biện pháp đáp trả cả về chất lượng và số lượng, đã lần lượt sử dụng “con bài quốc tế” và “con bài tiền tệ” để đáp trả Mỹ, nhưng hiệu quả không rõ rệt.
Bên ngoài dự đoán, Bắc Kinh có thể đánh “con bài tẩy chay”, ngăn chặn hàng hóa Mỹ, tấn công vào điện thoại di động Apple hoặc ô tô General Motors.
Trong khi đó, vào ngày 7/8, tờ Nhân Dân nhật báo phiên bản hải ngoại Trung Quốc có bài bình luận cho rằng Công ty Apple Mỹ có thể trở thành con bài của Trung Quốc trong chiến tranh thương mại, bất cứ lúc nào cũng có thể trở thành đối tượng nhắm tới khi tinh thần “dân tộc chủ nghĩa” lên cao ở Trung Quốc.
Apple một khi trở thành đối tượng tẩy chay của người Trung Quốc thì chắc chắn sẽ chịu thiệt hại lớn tại thị trường này; cảnh báo Apple muốn tiếp tục kiếm nhiều lợi nhuận ở Trung Quốc thì phải chia sẻ lợi nhuận với người dân Trung Quốc.
Điều gây lo ngại nhất cho Trung Quốc chính là các doanh nghiệp nước ngoài rút vốn mạnh ra khỏi Trung Quốc. Nếu Trung Quốc tẩy chay hàng hóa Mỹ, kích động “tinh thần dân tộc”, các doanh nghiệp nước ngoài như Mỹ sẽ buộc phải rút khỏi Trung Quốc, mang theo ngoại hối đã đầu tư vào Trung Quốc trước đây.
Điều này sẽ làm cho dự trữ ngoại hối của Trung Quốc giảm mạnh. Vì vậy, Trung Quốc chắc chắn sẽ thất bại khi sử dụng “con bài tẩy chay”.
Theo tờ Thương báo quốc tế Trung Quốc, 5 tháng đầu năm 2018, Trung Quốc có thu nhập hạn chế về ngoại hối trong lĩnh vực đầu tư và thương mại, dự trữ ngoại hối ròng tính đến tháng 5 khoảng 1.900 tỷ USD, 80% trở lên dự trữ ngoại hối do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sở hữu.
Trong hơn 3.000 tỷ USD dự trữ ngoại hối hiện nay, mức nợ nước ngoài khoảng 1.800 tỷ USD, dự trữ ngoại hối có thể sử dụng không đến 50%.
Theo số liệu của Cục thống kê quốc gia Trung Quốc, mức đầu tư của vốn nước ngoài vào tài sản cố định của Trung Quốc năm 2016 chỉ đạt 121,197 tỷ Nhân dân tệ, so với con số 326,981 tỷ Nhân dân tệ năm 2011 thì đã sụt giảm 62,94% trong thời gian chỉ 5 năm.
Hiện nay, xung đột thương mại Trung – Mỹ không ngừng leo thang, sự thiếu hụt thanh khoản khiến cho vấn đề nợ của Trung Quốc ngày càng nghiêm trọng, xuất hiện khả năng vốn đầu tư nước ngoài rút mạnh khỏi Trung Quốc, vấn đề sẽ rất nghiêm trọng.
Con bài tiền tệ
Đến nay, để ứng phó với chiến tranh thương mại, Trung Quốc còn đánh “con bài tiền tệ”. Gần đây, đồng Nhân dân tệ đổi sang USD liên tục sụt giá trong 8 tuần, mức sụt giá tổng cộng đạt 6,7%, lập kỷ lục sụt giá liên tục lâu nhất của đồng Nhân dân tệ kể từ năm 1995.
Từ đầu tháng 4 đến đầu tháng 8, đồng Nhân dân tệ đổi đồng USD từ 6,27 liên tục tụt xuống đến 6,88, mức sụt giá trên 9,7%.
Trung Quốc đã thất bại với cả 3 “quân bài” trong chiến tranh thương mại với Mỹ - Ảnh 4.
Đồng USD và đồng Nhân dân tệ. Ảnh: Forbes.
Đến ngày 15/8, tỷ giá hối đoái đồng Nhân dân tệ ở nước ngoài đã vượt mốc 6,9 USD. Sự sụt giá của đồng Nhân dân tệ được cho là có lợi cho Trung Quốc xuất khẩu hàng hóa.
Tuy nhiên, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã nhiều lần lên tiếng chỉ trích Trung Quốc thao túng tỷ giá hối đoái.
Ngày 19/7, trả lời phỏng vấn hãng tin CNBC Mỹ, ông Donald Trump cho biết tỷ giá đồng Nhân dân tệ gần đây “rơi thẳng xuống như một hòn đá”, Trung Quốc đang dùng phương thức thao túng tỷ giá đồng Nhân dân tệ để né tránh sự trừng phạt của Mỹ, trái ngược, đồng USD đang mạnh lên, không có lợi cho Mỹ.
Sau đó, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin nói với hãng tin Reuters Anh rằng Trung Quốc phá giá tiền tệ chắc chắn đã tạo ra ưu thế không công bằng. “Chúng ta (Mỹ) sẽ đánh giá nghiêm túc Trung Quốc có phải đang thao túng tỷ giá hay không”.
Ngày 20/7, ông Donald Trump tiếp tục đăng Twitter phê phán Trung Quốc trực tiếp thao túng tiền tệ và sự đi xuống của lãi suất.
Ngày 3/8, Ngân hàng nhân dân Trung Quốc đã có hành động ngăn chặn sụt giá và ngay lập tức có hiệu quả. Cố vấn ngân hàng này, ông Thịnh Tùng Thành bày tỏ lo ngại về sự sụt giá này đã tạo ra áp lực lớn về khả năng vốn đầu tư nước ngoài rút khỏi Trung Quốc, càng dễ làm cho xung đột thương mại leo thang.
Việc Trung Quốc nhanh chóng can thiệp để đồng Nhân dân tệ không tiếp tục sụt giá đã cho thấy Trung Quốc đã lưu ý tới những cảnh báo từ Tổng thống Mỹ Donald Trump.
Như vậy, đối với Trung Quốc, “con bài tiền tệ” cũng không phải dễ dàng sử dụng. Nếu sụt giá quá nhiều thì sẽ dẫn đến những vấn đề khác như tài chính, làm cho các nguồn vốn nhanh chóng tháo chạy khỏi thị trường Trung Quốc.
Lôi kéo EU bất thành
Việc EU và Mỹ tiến hành “hòa giải”, quay lại cùng “tương thân tương ái” đã khiến cho “con bài quốc tế” lôi kéo EU chống lại Mỹ của Trung Quốc không có hiệu quả.
Nhìn vào thực tế, trong nửa đầu năm 2018, Trung Quốc đã luôn tìm cách lôi kéo châu Âu, số tiền đầu tư vào châu Âu gấp 9 lần đầu tư vào Bắc Mỹ. Tại Hội nghị cấp cao Trung Quốc và các nước Trung Đông Âu (16+1), Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường còn đề nghị hợp tác với EU để chống lại Mỹ, nhưng đã bị từ chối.
Trung Quốc đã thất bại với cả 3 “quân bài” trong chiến tranh thương mại với Mỹ - Ảnh 6.
Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean-Claude Juncker và Tổng thống Mỹ Donald Trump. Ảnh: Sputnik.
Sự hòa giải giữa châu Âu và Mỹ trong vấn đề thương mại là tương đối đột ngột. Tháng 7/2018, khi thăm châu Âu, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết EU là “kẻ thù” về thương mại. Khi Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố tăng thuế nhôm, thép vào tháng 3/2018, Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean-Claude Juncker cũng đã phê phán ông Donald Trump.
Đến ngày 25/7, sau cuộc gặp, Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean-Claude Juncker ra tuyên bố chung cho biết sẽ thực hiện thương mại tự do “không thuế quan, không rào cản, không trợ cấp” giữa Mỹ – Âu, cùng thúc đẩy cải cách WTO.
Cố vấn kinh tế hàng đầu của ông Donald Trump là Larry Kudlow còn cho biết ông Jean-Claude Juncker đã bày tỏ với Mỹ là sẽ ủng hộ chính quyền Donald Trump đối phó với các hành vi thương mại của Trung Quốc.
Phó Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jyrki Katainen cũng cho biết do Trung Quốc từ lâu sử dụng các thủ đoạn không công bằng để đối xử thương mại với Mỹ. EU sẽ không đứng về phía Trung Quốc trong tranh chấp Trung – Mỹ.
Tờ Nhật báo Bình Quả Hồng Kông cho rằng chiến tranh thương mại toàn cầu do Mỹ phát động về bề ngoài là “xuất chiêu” với hầu hết các nước đối tác thương mại, nhưng trên thực tế đối tượng tấn công chỉ có Trung Quốc.
Sự trừng phạt và những “đòn đau” thương mại của Mỹ sẽ không sớm kết thúc, cũng không được hủy bỏ bởi những sự nhượng bộ ít ỏi từ Bắc Kinh.
Ngày 17/7, EU và Nhật Bản đã đạt được thỏa thuận phi thuế quan. Ngày 9/8, Mỹ và Nhật Bản tổ chức đàm phán thương mại ở Washington. Trong vài tháng tới, Mỹ và Mexico cũng sẽ ký kết lại thỏa thuận thương mại tự do.
Ngày 25/7, khu thương mại tự do lớn nhất thế giới Mỹ – Âu đã có bước đi đầu tiên giống như “sử thi”. Hệ thống thương mại quốc tế do Mỹ – Âu – Nhật chủ đạo bắt đầu hướng lên phía trước, nhưng Trung Quốc, một nền kinh tế lớn đang đơn độc trong xu hướng này.
Cục diện tứ giác thương mại quốc tế đạt được cân bằng tinh tế giữa Trung – Mỹ – Âu – Nhật trước đây đã bắt đầu sụp đổ. “Chuông báo tử” của WTO đã rung lên, một trang mới của trật tự kinh tế quốc tế đã mở ra. Trật tự này nhằm vào nước nào thì không cần nói cũng đã rõ – bài viết trên tờ Đại kỷ nguyên kết luận.
theo VietTimes
Phần nhận xét hiển thị trên trang