Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2018

Nhớ lại cuộc gặp “cha đẻ” máy vi tính cá nhân đầu tiên


Cuối tháng 2- 1992, có cuộc họp báo của Hội Tin học Việt Nam về Tuần lễ tin học lần thứ ba, sẽ diễn ra vào tháng 8 năm đó tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội. Lần này có đoàn khoa học Việt kiều Pháp về dự, kỹ sư Trương Trọng Thi thành viên trong đoàn vừa được thế giới vinh danh là “cha đẻ” chiếc máy vi tính cá nhân đầu tiên. Cuộc họp báo xôn xao: hóa ra tác giả của một trong những phát minh quan trọng nhất kỷ nguyên tin học lại là người Việt Nam! Giữa năm 2005 ông bị trọng bệnh qua đời ở tuổi 69. Nhân kỷ niệm tròn 10 năm ngày mất của nhà phát minh lớn, gốc Việt, xin giới thiệu bài viết của nhà báo Phạm Quang Đẩu, người từng trực tiếp phỏng vấn ông ngày đầu về nước tại khách sạn Hòa Bình, Hà Nội.
Kỹ sư Trương Trọng Thi (1936-2005).
Ông Thi kể với tôi là, hồi nhỏ học ở Chợ Lớn (Sài Gòn), được thầy giáo khen có năng khiếu toán, sang Pháp, ông lại thích nghề điện tử và thi vào trường vô tuyến điện (EFR). Có bằng kỹ sư điện tử, buổi đầu ông làm cho công ty Schlumberger, chuyên về thăm dò dầu khí. Ông được giới công nghệ chú ý vì đã thành công trong nghiên cứu, thiết kế máy Carbotrimètre, đo hàm lượng phóng xạ đồng vị carbon 14, để xác định niên đại địa chất. Năm 1965 ông được tài trợ qua Hoa Kỳ thực tập, đúng lúc ở thung lũng Silicon đạt được nhiều thành tựu nổi bật về lĩnh vực vi điện tử. Trở về Pháp, ông lập công ty riêng, là R2E. Năm 1970, hãng điện tử Mỹ Intel lần đầu chế được bộ vi xử lý (microprocesseur) 8008. Từ đây ông nẩy sinh ý tưởng thu nhỏ kích cỡ các thiết bị điện tử, vẫn giữ cùng hiệu năng mà giá thành lại hạ. Ngày đó, hãng máy tính IBM, Mỹ đã chế tạo nhiều dòng máy tính mạnh, song kích cỡ đều cồng kềnh, còn máy tính Minscơ của Liên Xô(cũ) thì lớn như một tòa nhà. Hai năm sau, Viện Khảo cứu nông nghiệp INRA đặt hàng một hệ thống tin học nhỏ gọn, dễ vận chuyển và không quá đắt tiền. Đã đến lúc ông có điều kiện thực hiện mơ ước bấy lâu của mình. Ông hợp tác cùng kỹ sư Francois Gernelle làm việc trong tầng hầm của công ty trong 5 tháng liền, mỗi ngày tới 18 tiếng, cuối cùng đầu năm 1973 họ đã cho ra đời chiếc máy có bộ nhớ 256 bytes(có thể mở rộng đến 1000 bytes), đặt tên là Micral. Máy còn khá giản dị, giống một cái hộp, không có bàn phím và màn hình, thanh RAM chỉ 2Kb, lập trình theo phương pháp nhị phân. Năm đó, công ty R2E xuất xưởng 500 máy Micral dùng cho các trạm thu nhập lệ phí ở xa lộ. Đến 1975, hãng MITS Electronics trình làng máy Altair và người Mỹ gọi đó là máy vi tính cá nhân (PC) đầu tiên. Nhưng thời gian này đã có một cuộc bầu chọn với sự tham dự của những chuyên gia tin học gạo cội trên thế giới, chiếc Micral R2E đã chinh phục được cả những ông “trọng tài” khó tính nhất và được thừa nhận là máy vi tính đầu tiên trên thế giới. Chiếc Micral này hiện được trưng bày tại bảo tàng máy tính nổi tiếng ở Boston, Mỹ. Song ít lâu sau cuộc bình chọn trên, lại diễn ra tranh chấp bản quyền ngay trong lòng nước Pháp. Kỹ sư Francois Gernelle kiện ra tòa rằng chính ông mới là tác giả đích thực của máy Micral. Gernelle và ông Thi gặp nhau năm 1968 tại Intertechnique, một công ty chuyên về ứng dụng y học và hạt nhân. Và từ ngày đó kỹ sư Gernelle đã đề xuất một mô hình máy vi tính sơ khai, nhưng nó không hoạt động được. Và năm 1972 ông ấy đã gia nhập công ty của Trương Trọng Thi. Không phủ nhận vai trò quan trọng của người kỹ sư giàu ý tưởng sáng tạo này, song đó thực sự là công trình tập thể dưới sự chỉ đạo về mọi mặt của ông Trương trên cương vị giám đốc. Cuối cùng sau 4 năm hầu tòa, người kỹ sư ấy cũng được công nhận là đồng tác giả của máy vi tính đầu tiên. Sau Huy chương Vàng của Bộ Quốc gia giáo dục năm 1988, nhờ thành công đưa máy vi tính vào học đường, tiếp đến kỹ sư Trương Trọng Thi đã được chính phủ Pháp tặng huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh do có những thành tựu rực rỡ về máy vi tính.
Chiếc máy Micral đầu tiên được trưng bày tại Bảo tàng máy tính Boston, Mỹ.
Trong cuộc chuyện trò, ông Trương Trọng Thi còn thổ lộ, mình đã bị lỡ một cơ hội kinh doanh, có thể trở thành ông chủ giàu có như Bill Gates của hãng phần mềm khổng lồ Microsoft sau này. Đó là vào năm 1975 công ty Honeywell, Mỹ định mua lại phát minh về máy Micral, song do ông đã quá “cương”, nên cuộc thương thảo không thành.
Dù rời quê hương từ khi còn rất trẻ, kỹ sư Trương Trọng Thi vẫn luôn hướng về nguồn cội. Lúc nước nhà chưa thống nhất, ông đã gửi tặng Ủy ban Khoa học kỹ thuật Việt Nam một bộ máy Micral, hy vọng có sự cộng tác giữa giới khoa học trong nước và Việt kiều Pháp. Năm 1978, đang là giám đốc hãng R2E, ông về nước đề nghị khai thác một chương trình sản xuất máy Micral ngay tại Hà Nội, cùng với việc đào tạo nhân lực mà kinh phí chủ yếu do công ty ông đóng góp. Nếu dự án thành công thì Việt Nam sẽ có thể là nước đi tiên phong ở châu Á về sản xuất máy vi tính. Tiếc thay, những thiện ý của ông do nhiều nguyên nhân mà không thành hiện thực. Và trong Tuần lễ tin học năm 1992, ông trình bày những phương pháp đào tạo, phát triển dịch vụ, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế và thị trường, nhằm giúp đất nước bắt kịp bước tiến mạnh mẽ trong lĩnh vực mũi nhọn này của thế giới…
Năm 1978, công ty R2E của ông sáp nhập với hãng Bull thành công ty điện tử Bull-Micral. Nhưng ông không còn vai trò lãnh đạo cao nhất ở công ty lớn ấy nữa, vì vậy nhiều ý tưởng phát triển máy vi tính tiêu dùng do ông đề xuất đã không thành và khi hãng IBM cho ra đời thế hệ máy vi tính mới, thì sản phẩm của Bull-Micral bị đối thủ bỏ xa. Thất vọng, ông rời bỏ công ty này sang làm cố vấn cho một hãng điện tử, chuyển sự nghiên cứu từ phần cứng sang phần mềm, cuối cùng thì vào năm 1999 ông cộng tác với Gilles Michel thành lập hãng công nghệ APCT, chuyên môn trong các chương trình bảo hiểm. Nhiều năm sau cuộc gặp tại Hà Nội, nhất là khi Internet đã phát triển mạnh mẽ ở nước ta, tôi vẫn có được những thông tin qua email với ông.
Rồi một ngày tháng 9-2002 ông phát bệnh, phải nhập viện. Thật cay đắng khi chính ở nơi có nền y học hoàn hảo như Paris lại mắc một sai sót sơ đẳng trong lúc phẫu thuật, làm ông bị liệt toàn thân. Tiếp đến là hai năm rưỡi vật lộn với tử thần. Và một ngày giữa năm 2005, trái tim nhà phát minh lớn đã ngừng đập.
Năm 2006, nhân kỷ niệm 70 năm thành lập trường EFR(sau đổi là EFREI) nơi nhà phát minh từng học, “Vua phần mềm” Bill Gates có lời ca ngợi: “Ông Trương Trọng Thi là một trong những người đã nhận thức được khả năng của máy vi tính, đã đi trước cả tôi và Paul Allen thời điểm khởi xướng hãng Microsoft. Tôi từng làm việc với ông trong nhiều năm, ông luôn nuôi giữ óc sáng tạo và sẵn lòng đem công nghệ phục vụ đại chúng.”
Hiện tại EFREI có gắn tấm biển kỷ niệm người cựu sinh viên ưu tú, đã làm rạng danh trường với phát minh máy vi tính cá nhân đầu tiên trên thế giới. Và một mẫu máy Micral nữa đã được đặt tại viện bảo tàng CNAM tại Paris.
Ông Trương Trọng Thi còn thổ lộ, mình đã bị lỡ một cơ hội kinh doanh, có thể trở thành ông chủ giàu có như Bill Gates của hãng phần mềm khổng lồ Microsoft sau này. Đó là vào năm 1975 công ty Honeywell, Mỹ định mua lại phát minh về máy Micral, song do ông đã quá “cương”, nên cuộc thương thảo không thành.
Phạm Quang Đẩu


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Một tài năng bị bỏ qua..Một cơ hội của đất nước đã không thành hiện thực:

Kỹ Sư Trương Trọng Thi trong sự tích chiếc máy vi tính đầu tiên

Cách đây khoảng ba mươi năm, khi con gái tôi còn ở trường trung học muốn học sử dụng máy vi tính (micro-ordinateur, microcomputer), chúng tôi không có máy ở nhà, phải chạy kiếm khắp nơi để cho nó học. Ngày nay, con nó chưa vào tiểu học đã biết vận dụng con chuột để chơi trên máy. Ngành tin học tiến triển mau chóng đến nỗi vào đầu thế kỷ nầy, ít ai mà không có hay không biết sử dụng máy tính.Thế mà mấy ai biết nó đã được người nào sáng chế và ở đâu, nhất là có một người Việt dính líu đến sự nghiệp nầy, có người tin chính ông ta đã chế biến chiếc máy đầu tiên ! 
Sự tích bắt đầu từ bên Mỹ khi hãng Intel sản xuất năm 1970 một bộ vi xử lý microprocesseur, máy 8008. Hai năm sau, công ty Thực hiện Khảo cứu Điện tử R2E (Réalisations et Etudes Electroniques) ra đời ở vùng Paris (*), dựa lên đơn vị tí hon ấy để chế tạo máy vi tính. Người sáng lập và làm giám đốc công ty nầy là ông người Pháp gốc Việt Trương Trọng Thi tức André Truong nhờ sự giúp đỡ tài chánh của Yvon Plisson. Ông làm việc ngày đêm trong một hầm nhà với một nhóm các nhà điện tử học dưới sự điều khiển của François Gernelle. Chiếc máy đầu tiên mang tên Micral được đem bán năm 1973, giá 8500 francs, tương đương với 6500 euros. Người Mỹ chỉ biết đến máy vi tính năm 1975 và phải đợi qua năm 1981 mới thấy hãng IBM cho ra đời chiếc máy PC (Personnal Computer – Máy vi tính Cá nhân), một tên rất thông dụng ngày nay trong loại những máy này.
Kỹ Sư Trương Trọng Thi trong sự tích chiếc máy vi tính đầu tiên  
Trương Trọng Thi
Ông Trương Trọng Thi sinh năm 1936 ở Chợ Lớn trong một gia đình giàu có và trí thức. Ông thân Trương Trọng Thuần là người sinh viên Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp trường Cao đẳng Thương mãi HEC.
Năm 1950, có quốc tịch Pháp, chàng trai theo gia đình qua định cư bên Pháp. Sau bậc trung học ở các trường Hoche (Versailles) và Michelet (Vanves), ông ghi tên học ở Trường Vô tuyến điện EFRE ở Paris, nay đổi tên thành Trường Vô tuyến điện và Tin học EFREI và dời về Villejuif, miền nam Paris. Hiện nay trên tường đại sảnh ở trường có treo một tấm bảng vinh danh người sinh viên cũ và phòng tiếp tân mang tên ông. Giỏi toán, ông lại là người thích môn điện tử. Tốt nghiệp kỹ sư, ông được nhận vào làm ở công ty Schlumberger, một hãng thăm dò địa vật lý dầu khí. Ở đây, thành tích lỗi lạc của ông là sử dụng máy thu bán dẫn transistor chế tạo chiếc máy carbotrimètre đầu tiên để xác định niên đại vật thể bằng cách đo hàm luợng phóng xạ đồng vị carbon 14. Rời công ty nầy, ông qua làm ở Intertechnique. Năm 1965, được gởi qua Hoa Kỳ, ông phát giác những mạch sáp nhập circuit intégré mà ông thấy ngay những ứng dụng vô cùng quan trọng. Ông bảo đã choáng váng trước một xúc động văn hóa. Thật người Mỹ đã chế tạo ra micropocesseur rồi thiết kế circuit intégré mà có mấy ai bên ấy nhìn xa ngay đến việc khai triển chúng ! Nhớ lại lúc trước biết bao người đã thấy quả táo rơi mà chỉ có Newton nghĩ đến sức vạn vật hấp dẫn. Nhân tài khác nhau ở chỗ đó. Suy ra, từ trước Newton đã từng nghiền ngẫm về sức hấp dẫn cũng như ông Thi từng nuôi trong đầu óc cách thức thu nhỏ công cụ. Những sáng tạo tìm thấy bên Mỹ khuyến khích ông trong ý tưởng thu gọn mọi máy móc điện tử theo khẩu hiệu Small is beautiful trước những chiếc máy kềng càng loại IBM hồi ấy.
Chính ông đã là cha đẻ khái niệm thu gọn downsizing nghĩa là thu nhỏ thể tích, kích thước, trọng lượng đồng thời giảm bớt giá cả nhưng vẫn luôn giữ cùng hiệu năng. Về lại Pháp, ông cộng tác với Paul Magneron và nhà tài chính Yvon Plisson để xây dựng xí nghiệp R2E. Không đồng ý về chiến lược, Paul Magneron sớm bỏ cuộc…
Đúng vào lúc đó, năm 1972, Viện Quốc gia Khảo cứu Nông nghiệp Pháp INRA đặt hàng một hệ thống tin học nhỏ dễ dàng vận chuyển và không quá đắt tiền. Công ty thực hiện thành công một máy nhỏ đúng theo ý muốn của viện mà chỉ giá có một nửa hệ thống cổ điển, khởi đầu một sự nghiệp đặc sắc nhất của thế kỷ : khai sinh kỷ nguyên vi tin học micro-informatique. Với một microprocesseur mạnh gấp đôi mà hãng Intel vừa mới sáng tạo, họ chỉ cần năm tháng là chế tạo ra được chiếc máy vi tính mang tên Micral N (Micral có nghĩa là nhỏ trong tiếng lóng Pháp), giá năm lần ít hơn chiếc cổ điển PDP 8 4K của hãng DEC, nghiệm thu và bàn giao cho INRA đầu năm 1973 (thay vì cuối năm 1972).
Có nên chăng hãnh diện khi biết Microsoft chỉ ra đời năm 1975 và Apple thành lập năm 1976 !
Lẽ tất nhiên chiếc máy đầu tiên khá giản dị, dần dần hoàn hảo thêm bàn chữ, màn ảnh,… theo nhịp độ sáng chế những thành phần mới. Ngay trong năm 1973, trên đà sản xuất, công ty cho xuất xưởng 500 máy Micral dùng trong các trạm thu nhập lệ phí ở xa lộ. Năm 1976 hãng bán 1000 máy, 5000 máy năm 1980 và năm 1981 một vạn máy sản xuất đều được bán hết, trở thành thông dụng trong mọi cơ quan hành chánh. Người ta kể chuyện hồi đó có những ngày khách hàng đứng chực sẵn trước cửa hãng để lấy máy lúc vừa mới lắp xong. Đằng khác, chương trình thu gọn đã được thực hiện ở Công ty Bảo hiểm Pháp SGGA và ở Quỹ Hưu trí thành phố Orléans IGIRS năm 1980. Thư viện Quốc gia Bắc Kinh cũng muốn áp dụng chương trình ấy. Trước đó, năm 1978, trong kế hoạch phát triển của tướng de Gaulle, hy vọng khai triển được rộng lớn phát minh của mình, hãng R2E chịu sáp nhập với hãng Bull thành một công ty lớn Bull-Micral. Nhưng từ nay, ông Thi cũng hết còn tự mình lèo lái tương lai.
Sau khi máy IBM-PC ra đời năm 1981 bên Mỹ, có tầm nhìn xa về chiến lược, không nên để đối thủ vượt trước quá xa, ông đã lập tức yêu cầu chi nhánh R2E bên ấy thực hiện một máy tương đương với máy IBM-PC, nhưng ban lãnh đạo Bull-Micral thiển cận lại thiếu mức quản lý, không chịu nghe theo, cản trở mọi tiến hành. Thất vọng, ông rời bỏ Bull-Micral, qua làm cố vấn cho hãng Normerel do Jean-René Tissot, một nhân viên cũ của R2E thành lập, sản xuất và bán máy những máy tương đương IBM-PC đầu tiên ở Pháp năm 1982 dưới tên OPLite. Rời phần cứng qua phần mềm, ông thiết lập song song cơ quan Ladernet, cho đăng ký văn bằng sáng chế CD-ROM tích trữ điện tử những văn kiện. Năm 1999, ông cộng tác với Gilles Michel xây dựng hãng Công nghệ PC Tiên tiến APCT, chuyên môn trong các chương trình bảo hiểm.
Trong rất lâu, ông được xem là cha đẻ của máy vi tính, nhất là trong báo chí Việt Nam. Công bằng mà nói, ông Thi không đạt đến thành tích về máy vi tính một mình. Trong công ty R2E, người cộng tác chính của ông là kỹ sư François Gernelle. 
.......................
Theo Võ Hoàng Yến
(Nguồn: http://www.ugvf.org/)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TÙY BÚT THÁNG TƯ




Lúc này là 0h40 ngày 30/4/2018. Giờ này 43 năm trước các cánh quân đang tiến vào đô thành SG kết thúc 21 năm của cuộc chiến tranh ý thức hệ. Kể từ đó đến nay chúng ta đã có ngày 2 ngày nghỉ lễ 30/4 & 1/5 thay cho 2 ngày nghỉ vốn đã thành tập quán chung của nhân loại bị phế bỏ là ngày lễ Phật đản & Noel. Mình cứ lẩn thẩn nghĩ về sự hoán đổi 2 ngày nghỉ lễ trái khoáy này. Thế rồi hoài ức về bài viết "Tùy bút tháng tư" viết năm 2010 bỗng ùa về the thắt lòng. Mình mở lưu trữ trong ổ cứng đọc lại thấy nó còn nguyên nỗi trăn trở như hôm nay vây. Post lên cho bạn bè cùng đọc, chia sẻ nỗi niềm...

TÙY BÚT THÁNG TƯ

Vũ Ngọc Tiến

Giờ đã là giữa tháng 4/2010, sắp đến ngày tròn 35 năm đất nước thống nhất từ đỉnh cổng trời Hà Giang đến đất mũi Cà Mâu. Cái giá phải trả cho sự kiện này không nhỏ: 1,1 triệu liệt sĩ, trong đó 500 ngàn người có mộ được quy tập đủ danh tính, 300 ngàn người phải chịu nằm dưới mộ vô danh và 300 ngàn người vẫn chưa tìm thấy hài cốt. Ở phía bên kia cuộc chiến, các con số tương đồng cũng đâu có thua kém và họ cũng là con dân nước Việt cả thôi! Là người viết văn, nhưng có thói quen điều tra xã hội học, ghi chép lại làm lưng vốn cho ngòi bút của mình nên trong đầu tôi miên man ám ảnh bởi những con số, trôi ra thành câu chữ trăn trở trên mặt giấy giữa tháng tư lịch sử này…

35 năm sau cuộc chiến, nếu tôi chen số ”0” vào giữa sẽ là 305 ngàn ha rừng đầu nguồn ở 10 tỉnh biên giới đã được mấy ông quan đầu tỉnh tùy tiện cho nước ngoài thuê 50 năm mà giá thuê 1m2/năm chỉ đủ mua vài cọng rau muống thôi ư? Điều đáng để tôi trăn trở âu lo là trong đó có 240 ngàn ha rừng được cho các chủ doanh nghiệp nói tiếng Hoa, quốc tịch Trung Quốc, Đài loan, Malaysia “thuê đất trồng rừng” ở những vùng biên giới nhạy cảm! Tôi đã thử điều tra một dự án của họ ở mấy xã thuộc huyện Tràng Định- Lạng Sơn, chợt giật mình vì hình như nếu tôi không nhớ lầm thì gần 40 năm trước mình đã từng thăm dò quặng bauxite bằng phương pháp địa vật lý. Hay như một dự án trồng rừng khác ở Hà Giang, tôi ngờ rằng trong phạm vi mấy xã đó có những điểm triển vọng vàng sa khoáng. Nói đến rừng đầu nguồn, tôi lại liên tưởng đến vấn nạn xuất hiện tràn lan, vô tổ chức các công trình thủy điện vừa và nhỏ, không chỉ dẫn đến nguy cơ tàn phá rừng, hủy hoại môi sinh, xả lũ vô tội vạ ở Quảng Nam, Quảng Ngãi năm ngoái mà còn chiếm mất diện tích canh tác tốt nhất của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc. Điều tra quanh thị trấn du lịch, nghỉ dưỡng Sa Pa, trong bán kính 30 km có tới 17 dự án thủy điện nhỏ? Ai cũng biết, địa điểm thiết kế lòng hồ thủy điện nhỏ lý tưởng là thung lũng giữa núi, đó cũng là nơi có ruộng trồng lúa vốn rất hiếm hoi của người Dao, Mông, Thái, Tày, Nùng…ở Tây bắc, Việt Bắc. Họ mất rừng, mất ruộng nên lũ lượt tha hương làm dân di cư tự do vào các tỉnh Tây Nguyên, bỗng chốc họ từ nạn nhân trở thành thủ phạm phá rừng vì buộc phải đốt rẫy làm nương ở nơi đất mới. Cái vòng luẩn quẩn phá rừng kia bao giờ chấm dứt? Câu hỏi này tôi đã từng đặt ra trong lọat 5 bài viết về Tam Nông trên báo Văn Nghệ Trẻ, nhân hội nghị Trung ương 7, khóa X họp vào giữa năm 2007, vẫn rơi vào im lặng.

Tháng tư năm nay cũng vừa tròn 45 năm chiến thắng Hàm Rồng (3/4/1965- 3/4/2010). Không ai có thể phủ nhận đây là chiến thắng vĩ đại, oanh liệt nhất trong năm đầu tiên của cuộc chiến tranh đất đối không vô cùng ác liệt. Chỉ trong 2 ngày, trung đoàn pháo binh 228 đã cùng dân quân các làng Yên Vực, Nam Ngạn, Đông Sơn đã kiên cường bám trụ, bắn hạ 47 máy bay phản lực Mỹ, giữ được cây cầu Hàm Rồng nguyên vẹn. Tôi đã 2 lần đi làm phim về trận đánh này (2005 và 2010) nên hiểu rõ mất mát hy sinh ở đây suốt những năm chiến tranh cũng rất lớn. Trên diện tích khoảng 1 cây số vuông quanh khu vực Hàm Rồng, người Mỹ đã trút xuống 20 vạn tấn bom, 8.000 người đã chết, 13.000 người bị thương vong. Những con số ám ảnh tâm thức, xui khiến tôi năm 2005 đã cất công đi tìm nhân chứng lịch sử- ông Nguyễn Văn Bê, một trong số 13.000 người bị thương bên cây cầu Hàm Rồng. Ông Bê quê ở xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, nhưng vào lúc tôi đi tìm, ông đang cuốc đất thuê cho chủ trang trại trồng dứa ở ngoại vi thị xã Bỉm Sơn. Ông bị thương trong trận đánh ngày 3/4/1965. Một mảnh bom đã găm qua mũ sắt, chui vào đỉnh đầu, đến nay chỗ bị thương vẫn còn phập phồng mảng da đầu. Sau khi ra viện, xuất ngũ vài năm thì vết thương trên đầu mới tái phát, biến ông Bê thành người ngu ngơ, biết gì về các thủ tục vốn đã khá phiền phức để hưởng tiêu chuẩn thương binh. Tính đến thời điểm 2005 là vừa tròn 40 năm ông không hề được hưởng tiền trợ cấp. Trớ trêu ở chỗ chiếc mũ sắt có vết thủng trên đỉnh đầu của ông lại cũng được người ta đem trưng bày ở nhà Bảo tàng cách mạng tỉnh Thanh suốt 40 năm ấy, còn người thủng đầu, nghe thiên hạ đồn: “Ông muốn có sổ trợ cấp phải làm thủ tục “đầu tiên”, không có thì nghỉ cho khỏe!” Chẳng biết 5 năm qua, sau lần gặp tôi, ông sống ra sao, đã được cấp sổ hay chết rồi vẫn còn ôm mối hận? Ngẫu nhiên tháng tư dương lịch hàng năm thường trùng hợp với dịp tết “Hàn thực” vào mồng 3 tháng 3 âm lịch. Người ta ăn đồ nguội như bánh trôi, bánh chay làm từ đêm trước để ngày tết không phải dùng đến ngọn lửa oan nghiệt từng thiêu đốt mẹ con Giới Tử Thôi thời chiến quốc. Trùng Nhĩ sau khi lên ngôi vua đã vô ơn, bạc đãi và hắt hủi các công thần khiến ông phải cõng mẹ trốn vào rừng ở ẩn. Vua sai người gọi không được bèn nghe lời nịnh thần, cho đốt rừng tất ông phải ra, nhưng ông cùng mẹ thà chết cháy chứ không chịu quay về nhìn mặt lũ bất nhân. Bởi thế, tết “Hàn thực” năm nay, ăn đĩa bánh trôi tôi lại nhớ tích xưa, ngậm ngùi thương ông Nguyễn Văn Bê, miên man suy ngẫm sự đời những năm hậu chiến.

Có những con số người vô tâm thọat nghe thấy dửng dưng, nhưng tôi thì không thể. Tài liệu thống kê gần đây cho tôi biết, 35 năm sau cuộc chiến, Việt Nam ta có: 3,2 triệu người định cư ở gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ; 500.000 người đi làm thuê ở 40 quốc gia; 250.000 người đi lấy chồng nước ngoài, chủ yếu ở Trung quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia; 30.000 du học sinh ở châu Âu, châu Úc và Bắc Mỹ… Trong số 3,2 triệu người Việt định cư ở hải ngoại hiện nay, số ra đi trước ngày 30/4/1975, kể cả số di cư từ thời thuộc Pháp chỉ khoảng 1 triệu, số còn lại hơn 2 triệu người chủ yếu rời bỏ đất nước từ nửa cuối thập niên 70 và cả thập niên 80 của thế kỷ trước. Thế hệ chúng tôi “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, sao những người được chúng tôi giải phóng lại ào ào bỏ nước mà đi đông đến vậy? Đất nước qua 24 năm đổi mới, ta vẫn tự hào về tốc độ tăng trưởng ngọan mục trong 12 năm liền (1996- 2007). Thế nhưng chất lượng tăng trưởng thì sao? Cánh kéo phân hóa giàu nghèo giãn ra tới mức chỉ một nhúm người đi xe triệu đô, cưỡi máy bay riêng, ngủ biệt thự sang trọng, trong khi có nửa triệu người đi làm thuê kiếm sống ở xứ người và 250 ngàn cô gái hơ hớ tuổi xuân phải lấy chồng chồng ngoại để có tiền cứu đói hay trả nợ cho gia đình. Trong cộng đồng 3,2 triệu người Việt hải ngoại, tôi biết có khoảng 300 ngàn chuyên gia cấp đại học và trên đại học, phần lớn đều tha thiết mong có cơ hội phụng sự Tổ quốc. Đó là nguồn nhân lực tuyệt vời cho công cuộc phát triển, sao các nhà quản lý trong nước lại ghẻ lạnh, hờ hững với họ? Tôi có thời gian làm Thư ký tòa sọan cho tạp chí Thế giới vi tính (PC World VN), một tạp chí hàng đầu về CNTT nên hiểu khá rõ nội tình vụ việc ông Trương Trọng Thi- người Pháp gốc Việt, nhà phát minh thuộc tốp tiên phong của thế giới về máy tính cá nhân và công nghệ vi xử lý, ngay từ năm 1973 đã có nguyện vọng hợp tác đầu tư với Nhà nước ta về lĩnh vực này và bị ghẻ lạnh ra sao. Cố GS Trần Lưu Chương sinh thời có lần tâm sự với tôi: “Hãy tưởng tượng ở thời điểm năm 1973, lúc châu Á và cả thế giới còn đang ở buổi bình minh của cuộc cách mạng tin học, nếu ta ủng hộ Trương Trọng Thi lập xưởng chế tạo PC và tổ chức nghiên cứu công nghệ vi xử lý thì Ấn Độ và Trung Quốc chỉ có nước chạy theo bái ta làm sư phụ, chứ đâu như bây giờ ta thua họ 10 năm phát triển công nghiệp phần cứng và gia công phần mềm xuất khẩu.” Lại nữa, con số 30.000 du học sinh, nghiên cứu sinh VN đang ở Tây Âu và Bắc Mỹ là nguồn chất xám trẻ vô cùng quý giá, sao 70- 80% trong số họ không muốn về nước, đâu chỉ vì đãi ngộ thấp mà còn vì điều kiện làm việc, cơ hội thăng tiến bị cơ chế dị mọ trong nước kìm hãm?...

Có tiếng gà gáy sáng cất lên thao thiết,chơi vơi, lạ hoắc giữa không gian khu đô thị mới, chất ngất các tòa nhà chung cư cao tầng. Ông lão hàng xóm cùng tầng 11 của tôi bảo, ông nuôi chú gà tre Nam Bộ làm cảnh, cho nguôi nỗi nhớ làng quê Đông Anh bị giải tỏa làm sân “gôn”, bứng ông cùng bà lão răng đen, vấn khăn mỏ quạ ra nhập hàng ngũ cư dân đô thị mới. Tiếng gà làm tôi liên tưởng đến buổi tọa đàm “Kê minh thập sách- minh triết trị quốc an dân” tại Hội trường tầng 4, nhà số 53 Nguyễn Du- Hà Nội vừa diễn ra hôm 16/4/2010. Hơn 600 năm trước, bà Chế thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu đã dâng lên vua Trần Duệ Tông bản “Kê minh thập sách” gồm 10 điều phản biện và kiến nghị, hòng cứu đất nước ra khỏi khủng hoảng toàn diện về chính trị, quân sự, kinh tế. Mỗi lời của bà tới nay vẫn còn tươi rói màu xanh của cuộc sống, thiết thực với hiện tình đất nước, ngỡ như ta đang đọc một bản góp ý cho văn kiện Đại hội đảng CSVN lần thứ XI, ví dụ: 

“…Ba, ngăn chặn lũ lộng quyền để phòng chính sự sâu mọt.
Bốn, thải loại bọn tham nhũng để trừ tệ đục khóet của dân.
Năm, xin chấn hưng văn hóa giáo dục khiến ánh đuốc rực cùng mặt trời chiếu khắp.
Sáu, xin cầu lời nói thẳng để cho cổng thành cùng đường ngôn luận rộng mở…” 


Tôi nhớ, trong buổi tọa đàm đó, khi anh GS Chu Hảo mời tôi lên phát biểu, tôi đã nêu ra hai ý hỏi lại các cử tọa cũng là hỏi chính lòng mình:

Một là bản “Kê minh thập sách” có 6 điều thuộc về minh triết trị quốc an dân ngắn gọn, khúc triết và 4 điều thuộc về binh pháp, đọc lên ngỡ như binh pháp Tôn Tử hay Binh thư yếu lược của Hưng Đạo đại vương vậy. Bà Nguyễn Thị Bích Châu chỉ là cung phi, mồ côi từ nhỏ, vào cung tự học mà tỏa sáng nên chăng coi đây là sự cô đúc trí tuệ của nhiều bậc thức giả dân gian vào trong văn bản lưu truyền cho hậu thế, thông qua sự phát ngôn của nhân vật lịch sử đã hóa thánh trong lòng dân ở các đền thờ miền quê Nghệ Tĩnh?

Hai là, phải chăng “Kê minh thập sách” tập hợp ý nguyện của dân chúng mà ra đời từ hệ quả tất yếu sau mấy chục năm chính sự suy đồi, vua tôi sa đọa? Thực tế lịch sử cho thấy nhà Trần sau hơn nửa thế kỷ lừng lẫy và 3 lần đánh thắng giặc Nguyên Mông, đến năm 1314 bắt đầu trượt dài trong sa đọa với sự lên ngôi của vua Trần Minh Tông. Ông vua này là con thứ, được vua cha cưng chiều đưa lên ngôi lúc mới 14 tuổi (SN 1300), chỉ ham ăn chơi, trác táng trong sự dung túng của thượng hoàng và sự o bế của lũ nịnh thần. Đến năm 1329, đang còn sung sức ở tuổi 29 Minh Tông đã vội lẩn tránh quốc sự, nhường ngôi cho vua Trần Hiến Tông mới lên 10 tuổi (SN 1319) để mình làm Thượng hoàng. Năm 1341, Hiến Tông chết lúc 22 tuổi, chưa kịp có con nên con thứ 10 của Minh Tông mới lên 5 tuổi (SN 1336) lên làm vua, hiệu là Trần Dụ Tông. Như vậy, từ năm 1314 đến 1369 là 55 năm triều đình mục nát, chính sự nhố nhăng như phường chèo nên năm 1369 một gã lưu manh Dương Nhật Lễ, con anh hề chèo gốc Hoa trong cung là Dương Khương cũng có thể cướp ngôi làm vua được 2 năm (1369- 1370). “Kê minh thập sách” dâng lên vua Trần Duệ Tông (1372- 1377), không được vua tiếp nhận nên năm 1400 nhà Trần mới mất về tay nhà Hồ, rồi cuối cùng nước cũng mất về tay giặc Minh ở phương Bắc. 

Phải chăng khi một chính thể kéo dài sự mục nát suốt mấy chục năm, quyền bính lọt vào tay lũ lưu manh hạ đẳng, chính sự nhố nhăng như phường chèo, lại khước từ minh triết Việt trong “Kê minh thập sách” thì họa diệt vong là tất yếu?

Bài học lịch sử “Kê minh thập sách” cuối thời nhà Trần, nay nhân ngày giỗ thứ 633 bà Chế thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu, tôi bồi hồi ngẫm lại vẫn thấy còn nguyên giá trị giữa bầu trời thủ đô tháng tư năm 2010…

Hà Nội 18/4/2010

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trần Khánh Dư có thực sự là người tham lam bỉ lậu?


Trần Khánh Dư có thực sự là người tham lam bỉ lậu? Tôi vẫn nghĩ rằng, đó là điều mà người đời sau thêu dệt. Thời nhà Trần, sử gia Lê Văn Hưu viết “Đại Việt sử ký”, chỉ ghi lại các sự kiện đến Lý Chiêu Hoàng (1226). Trong "An Nam chí lược", Lê Tắc - một phản thần nhà Trần sống lưu vong trên đất Nguyên - không có dòng nào viết về Trần Khánh Dư. Mãi đến năm 1455, Phan Phu Tiên (1370-1482) mới vâng lệnh vua Lê Nhân Tông, nối tiếp sự nghiệp của Lê Văn Hưu, bắt tay vào biên soạn bộ “Đại Việt sử ký tục biên”, chép việc từ đời Trần Thái Tông (1226) cho đến khi quân Minh rút về nước (1427). Sau này, Ngô Sỹ Liên dựa vào các bộ sử của Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên để viết "Đại Việt sử ký toàn thư". Như vậy, trên thực tế, "Kỷ nhà Trần" (1126-1400) trong "Đại Việt sử ký toàn thư" đều do các sử gia đời sau viết, và không phải chi tiết nào cũng khả tín. Để có thể hiểu và viết (tương đối - hy vọng thế) chân xác về thời nhà Trần, sau này các nhà viết sử (như Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm, Trần Quốc Vượng) đã phải tham khảo/so sánh/đối chiếu "Đại Việt sử ký toàn thư" với Nguyên Sử và Minh Sử của Trung Quốc.
Nói như thế để thấy rằng, đương thời, không có bất kỳ sử gia nào biết và ghi chép cụ thể/chính xác về hành trạng của Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư. Những gì ngày nay chúng ta biết về ổng, đều bán tín bán nghi - kể cả chuyện ông thông dâm với công chúa Thiên Thụy, vợ của Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn. Nhưng xin đừng quên rằng, khi đã về trí sĩ tại vùng đất nay thuộc Lý Nhân (Hà Nam), Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư đã có công mở mang thêm nhiều làng mới. Ông chính là người đứng ra chiêu dân khai phá những vùng đất bồi ven biển, lập nên nhiều làng nay thuộc huyện Ý Yên (Nam Định). Ông ở lại những nơi mới khai phá này 10 năm, sau đó mới giao lại cho hai gia tướng họ Bùi và họ Nguyễn coi sóc. Sau khi ông mất (1340), nhân dân trong vùng lập đền thờ ông ở trại An Trung, trên nền nhà xưa ông đã ở, để ghi tạc công đức của ông. Trong đền có bức đại tự: "Ẩm hà tư nguyên" (Uống nước nhớ nguồn) và đôi câu đối: "Nhân Huệ Vương tân sáng giang biên, thố địa ốc nhiều kim thượng tại/Bùi, Nguyễn tộc cựu mô kế chí, gia cư trù mật cổ do lưu". Tạm dịch: "Nhân Huệ Vương mở mới bến sông, đồng ruộng tốt tươi nay vẫn đó/Họ Bùi Nguyễn theo nền nối chí, cửa nhà đông đúc trước còn đây."
Cũng chính trong "Đại Việt sử ký toàn thư", các sử gia triều Lê còn ghi lại rằng: "Trong buổi đầu khai hoang lập ấp, ông đã bỏ tiền nhà ra giúp vốn cho dân, ông còn hướng dẫn dân trại Tịch Nhi trồng cây cói và làm nghề dệt cói." Một người thực sự tham lam bỉ lậu, liệu có thể có được nghĩa cử này không? Tôi nghĩ là KHÔNG. Các nhà nho xưa vốn coi thường nghề buôn, xếp thương nhân vào hạng cuối trong thứ dân (Sỹ-Nông-Công-Thương). Trần Khánh Dư không chỉ là một người có tài thao lược, đào hoa sát gái, ông còn là người giỏi làm ăn buôn bán, giàu có và không thèm sống dựa vào bổng lộc từ thái ấp vua ban. Tôi đồ rằng, vì những lẽ đó mà ông trở thành cái gai trong mắt giới quý tộc đồng triều và bọn hủ nho hóng hớt ăn theo. Chính vì vậy, không loại trừ rằng, câu nói “Tướng là chim ưng, quân dân là vịt. Đem vịt để nuôi chim ưng, có gì là lạ?” là do đám nhà nho dài lưng tốn vải vì ghen ghét mà dán vào mồm ổng.
P/S: Đền thờ Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư mới được xây lại trên đảo Quan Lạn (Vân Đồn, Quảng Ninh), nơi mà đạo thủy quân của ông đã cùng dân binh đánh tan đoàn thuyền vận lương của quân Nguyên mùa Xuân năm 1288.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĐỢI



Một mình
ngồi trốn cơn mưa
Bên sông nhớ bạn
đò chưa kịp về
Ngược dòng
thấp thoáng người đi
Câu ca văng vẳng
gió nghe chợt buồn..

Sông vẫn chảy
đá vẫn mòn
Bài thơ tình vẫn bồn chồn
chưa hay
núi sông vẫn núi sông này
mà như đã khác
sớm nay..
lẹ làng
mưa đừng cơn
gió gọn gàng
đôi bờ sông chút nắng vàng
tâm tư..
ta đâu phải kẻ hững hờ
một mình bó gối ngồi chờ nắng lên?
ta đợi lạ
ta đợi quen
đợi quên
đợi nhớ
đợi em
cùng về..



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hải Yến Toàn dân tộc vn hãy cảnh giác với thực phẩm bẩn của tàu cộng

Phần nhận xét hiển thị trên trang

THƯ CHO BẠN





Những ngày buồn
ta đang sống cuối mùa mê sảng
ai đó có thể hoang mang
nhưng anh tự tin
một ngày trời nắng
những cơn mưa dấm dứt cuối cùng
không thể tranh chỗ của mùa hè chói chang bừng sáng
buồn làm chi bạn mình ơi
giây phút này
chớ nản
bởi không có bão dông
cuộc sống bạn có ý nghĩa gì để sống?
khi bạn buông tay
khi bạn nản lòng
bạn không đủ kiên nhẫn
sống cho niềm hy vọng
khi cuộc đời luôn đặt ra
trước mắt bạn
sự chọn lựa cuối cùng
nhiều trò nhố nhăng
cợt đùa
nhiều khi không hiểu nổi
Trời đất này
thế giới này chưa mất đức hiếu sinh
bạn làm sao mà thất vọng?
Hãy nắm chặt tay
tỉnh đôi con mắt
ta nhận đường khi trời còn mù sương
câu hát ân tinh nghe còn xa vợi
Chưa thể kết thúc đâu!
ngày tận thế chỉ dành cho kẻ hèn
u mê và chán nản
Tôi cũng rất buồn
nhiều lo toan như bạn
nhưng mà tôi tin
tình yêu và cái đẹp của thế giới này là vô cùng vô tận..
như màu xanh của rừng
như vị mặn biển khơi
còn mãi thế gian

Đằm thắm đến muôn đời..!


Phần nhận xét hiển thị trên trang