Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 11 tháng 4, 2018

Chính phủ Trump cáo buộc Việt Nam tiếp vận thép Trung Cộng vào thị trường Mỹ

Chính phủ Trump cáo buộc Việt Nam tiếp vận thép Trung Cộng vào thị trường Mỹ

Ảnh: vietnambiz.vn
Chính phủ Hoa Kỳ cáo buộc Việt Nam và một số nước Châu Á đang đóng vai cầu nối tiếp vận thép Trung Cộng vào thị trường Hoa Kỳ với giá rẻ, phương hại kỹ nghệ thép nội địa.
Nhật báo Wall Street Journal cho hay như vậy hôm Thứ Ba 10 tháng 4. Trong chưa đầy hai thập niên qua, nhiều công ty Việt Nam đã hoạt động theo mô hình nhập thép từ Trung Cộng, mạ hoặc cán kéo thêm, rồi xuất cảng sang Hoa Kỳ với giá thấp hơn giá của các công ty nội địa. Mô hình này giúp đưa Việt Nam trở thành một trong những nhà cung cấp thép cho Hoa Kỳ với mức tăng trưởng nhanh nhất.

Năm 2015, thép Trung Cộng xuất cảng sang Hoa Kỳ giảm mạnh vì thuế chống bán phá giá. Nhưng theo Bộ Thương Mại Hoa Kỳ, trong cùng năm đó, thép việt nam xuất cảng sang Hoa Kỳ tăng hơn gấp 3 lần, và thép chống ăn mòn tăng gấp 11 lần. Xu hướng này tiếp tục trong năm 2016, khi thép Việt Nam xuất cảng tăng gấp 4 lần so với năm 2015. Thép Việt Nam hiện chiếm khoảng 2% tổng sản lượng thép nhập cảng vào Hoa Kỳ.
Ngoài Việt Nam, chính phủ Hoa Kỳ cũng nhắm tới dấu hiệu của hoạt động tiếp vận thép Trung Cộng tại một số quốc gia Châu Á khác. Việt Nam, Malaysia và Thái Lan xuất cảng 1.2 triệu tấn thép sang Hoa Kỳ trong năm ngoái. Nam Hàn và Ấn Độ xuất cảng lần lượt 3.4 triệu tấn và 743,000 tấn. Năm quốc gia vừa kể chiếm khoảng 15% tổng sản lượng thép nhập cảng của Hoa Kỳ, một con số quả thực đang đe dọa kỹ nghệ thép nội địa.
Huy Lam / SBTN

Phần nhận xét hiển thị trên trang

vở kịch "Chén thuốc độc" (1921), và ông chủ nhà sách Tân Dân trên phố Hàng Bông



Đó là cụ Vũ Đình Long. Một kịch tác gia lớp đầu ở Việt Nam, từ 1920s và 1930s đã nổi tiếng với vở kịch nói Chén thuốc độc. Mà đáng nhớ nhất trong gia tài của ông chính là nhà xuất bản Tân Dân. Người duy nhất ở Hà Thành lúc đó đủ sức chọi lại với ông Nhất Linh và các anh em.

Vừa rồi, du lãng khu Hàng Gà với khu Hàng Cót ở Hà Nội, gặp câu chuyện về Chén thuốc độc. Khá nhiều thú vị về những thứ tư liệu gốc gác như vậy. Một bà chủ nhà bảo: lâu lắm rồi, tới cả mấy chục năm, mới lại gặp người tới hỏi như vậy đấy. 

Sau khoảng 100 năm, người Hà Nội bây giờ hình như lại đang nhấp từng chút một Chén thuốc độc. Cứ từ từ, từng chén một, từng chén một, đều là thuốc độc.





Dưới là một vài mẩu nho nhỏ.

----


.

Kịch tác gia và ông chủ xuất bản Vũ Đình Long


08:44 | 06/10/2014

Nói đến Vũ Đình Long (1896 - 1960), tôi muốn nhấn mạnh 2 đóng góp lớn của ông cho tiến trình hiện đại hóa. Đó là tác gia kịch nói đầu tiên trong lịch sử sân khấu Việt Nam, và người góp công lớn tổ chức nên thị trường văn chương, trong tư cách ông chủ báo, chủ xuất bản.


Ở tuổi 25, Vũ Đình Long đã xuất hiện như một gương mặt tác gia sáng giá với hai vở kịch nói: Chén thuốc độc (in trên Hữu thanh, 8.1921, diễn lần đầu tại Nhà hát Lớn Hà Nội, 22.10.1921) và Tòa án lương tâm (Nghiêm Hàm xuất bản, 1923). Hai vở kịch đã làm nên cuộc cách tân quan trọng, đưa sân khấu dân tộc chuyển vào con đường kịch nói, với diện mạo mới, theo mô hình phương Tây, để từ nay, bên tuồng cổ lại có thêm kịch kim.
Đây là hai vở kịch nói Việt Nam đầu tiên được công diễn; trước đó, ở Nhà hát Lớn Hà Nội chỉ diễn một số vở kịch Tây như Bệnh tưởng, Trưởng giả học làm sang của Molière, với dàn diễn viên là các trí thức ở đẳng cấp cao như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Huy Lục... Cũng cần nói thêm, việc diễn kịch là nhằm làm việc thiện, như quyên góp giúp dân bị lụt, giúp trẻ mồ côi, chứ không phải là hoạt động có tính chuyên nghiệp.
Cố nhiên, do là kịch bản của tác giả Việt Nam, lấy đề tài trong sinh hoạt thành thị Việt Nam, viết bằng lời văn Việt Nam, nên xét trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật, hai vở kịch của Vũ Đình Long vẫn chưa thoát ra khỏi các dấu ấn giao thời. Về nội dung, vẫn là sự phê phán lối sống tư sản hóa trên lập trường đạo đức cũ. Về nghệ thuật, vẫn phải mượn các sự cố ngẫu nhiên để giải quyết các tình huống kịch; và nhân vật còn thiếu sự sống tâm lý và thiếu các nét dáng chân thực trong tính cách và số phận.
Thế nhưng tên tuổi Vũ Đình Long không chỉ gắn với hai vở kịch chắc chắn đã có ngôi vị trong văn học sử. Từ giữa những năm 1920, khi còn là công chức của Nha học chính Đông Dương, Vũ Đình Long đã quan tâm đến hoạt động in ấn và xuất bản. Năm 1925, Vũ Đình Long mở hiệu sách và lập nhà in Tân Dân ở 93 Hàng Bông, Hà Nội. Đến 1930 nhà in Tân Dân chính thức khánh thành với số vốn ban đầu chỉ 800 đồng Đông Dương và trên dưới 30 công nhân. Đến 1936, Vũ Đình Long thôi hẳn công việc ở Nha học chính Đông Dương để trở thành ông chủ Tân Dân. Lần lượt và xen kẽ, ông cho ra đời nhiều tờ báo lớn có khả năng lấn át và bóp chết nhiều loại báo đàn em. Đó là Tiểu thuyết thứ bảy (1934 - 1942) ra hàng tuần, 60 trang, giá 5 xu - Nguyễn Công Hoan sợ không bán được nhưng hóa ra rất chạy; Ích hữu (1937 - 1938) cũng ra hàng tuần, là tờ chuyên văn học, gồm nhiều mục hấp dẫn và nhiều minh họa; tạp chí Tao đàn (1939), ra hàng tháng, giá 25 xu; Tủ sách Truyền bá cho thiếu nhi (1941 - 1943) 30 trang, 30 xu... Không kể ông còn cho ra không đều kỳ các loại: Sách học, Quốc âm dẫn giải, Những tác phẩm hay... Ấn phẩm gồm sách, báo của Vũ Đình Long có đại lý ở khắp Đông Dương, với tỷ lệ hoa hồng từ 8 - 10%, quan hệ giữa chủ và các đại lý hòa thuận, sức tiêu thụ các sản phẩm khá nhanh.
Nguồn: hanoimoi.com.vn
Là ông chủ, Vũ Đình Long rất khôn ngoan chiêu mộ và tập hợp lực lượng viết văn tự do đã trở nên đông vào những năm ba mươi của thế kỷ XX. Lực lượng viết và dịch chữ Hán gồm: Mai Đăng Đệ, Doãn Kế Thiện, Nguyễn Can Mộng, Nhượng Tống, Phan Khôi, Tản Đà, Trúc Khê, Nguyễn Đỗ Mục, Phùng Tất Đắc... Lực lượng làm báo, viết văn Quốc ngữ thuộc nhiều xu hướng: Nguyễn Công Hoan, Lan Khai, Vũ Bằng, Lê Văn Trương, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Triệu Luật, Phan Trần Chúc, Leiba, Tchya, Thanh Châu, Ngọc Giao, Nguyễn Tuân, Lưu Trọng Lư, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân... Với lực lượng hùng hậu và đa tài đó, Vũ Đình Long đủ sức nuôi sống cùng lúc nhiều tờ báo lớn do ông chủ trương, cạnh tranh ngang ngửa với Tự lực văn đoàn - nhóm văn học được tiếng hùng mạnh và tỏ ra có nhiều ưu thế và uy thế lúc đó. Tự lực văn đoàn với ông chủ Nhất Linh, người quản lý tài chính là Hoàng Đạo, hoạt động chung quanh hai tờ Phong hóa, Ngày nay, và Nhà xuất bản Đời nay, quả là lực lượng đáng sợ. Thế nhưng những biếm họa trên Ngày nay của Tô Tử (tức Tô Ngọc Vân) về Vũ Đình Long Tiên ông, lỗ mũi phun kiếm và tiền tuôn chảy vào hai ống tay áo thụng của Tiên ông; còn các Tiên bà, Tiên nữ, Tiên đồng ở động Tân Dân thỏa sức đưa rổ rá ra mà hốt bạc, lại chẳng gây phản ứng tức tối gì cho ông chủ họ Vũ; mặt khác, lại nói được sự thật về khả năng kinh doanh sinh lợi của Vũ Đình Long.
Có thể nói, ngoài “thất tinh”, hoặc “bát tú” của Tự lực văn đoàn, cùng một số tên tuổi chịu ảnh hưởng của họ khoảng trên chục cây bút, thì gần như số lớn nhà văn tự do hồi 1930 - 1945 đều tự nguyện tập hợp hoặc tìm đến ông chủ Tân Dân. Kể cả những người không thuộc nhóm nào như Trương Tửu, Nguyễn Vỹ... cũng không ác cảm với Tân Dân. Tân Dân không phải là một “văn phái”, vì các xu hướng viết ở đây rất khác nhau; một số cây bút cao giá không chỉ viết cho Tân Dân mà còn viết cho các báo khác, mặc dầu đó là điều Vũ Đình Long không muốn và vẫn tìm cách ngăn cản. Có sức tập hợp đó vì ông chủ họ Vũ đã biết phát huy những mặt mạnh trong khả năng tổ chức và trong quan hệ ứng xử. Khá nhạy bén trong việc phát hiện các nhu cầu của thời cuộc và khả năng đáp ứng thời cuộc, ông đưa ra được các giải pháp kịp thời, mẫu mã thích hợp. Trong mặt thuận, mặt tích cực của nó, những người viết văn như một lực lượng lao động tự do đã có chỗ làm, có nhiều việc làm trên các tờ báo và các đầu sách do ông chủ nhà Tân Dân chủ trương. Bao giờ mà chẳng thế, người viết cần viết và được kích thích viết khi có chỗ in, để kiếm sống hoặc để kiếm danh! Và cố nhiên, mặt trái, mặt tiêu cực của nó, đó là khả năng khai thác, kén chọn của thị trường lao động chất xám để có thể kiếm lãi và làm giàu. Có điều trong các tài liệu được đọc, tôi chưa thấy nhà văn nào nói về lòng tham và sự bóc lột quá đáng của Vũ Đình Long. Chỉ thấy nói đến cách ông trả nhuận bút khá sòng phẳng; cách ông xử sự khá lịch thiệp, rộng rãi với người viết mà ông tin cậy; cách ông không thất tín với người viết, với các đại lý và với các công nhân.
Dẫu vậy, câu chuyện về cuộc “biểu tình” hòa bình của một nhóm nhà văn gồm Trương Tửu, Lan Khai, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Ngọc Giao và Vũ Trọng Phụng - lúc này đã rất yếu và vào thời kỳ cuối của bệnh lao - xuất phát từ nhà Trương Tửu ở phố Tiên Sinh (nay là phố Hàng Gà) kéo lên phố Hàng Bông để đòi tăng nhuận bút từ tám hào lên một đồng hai, cho một trang bản thảo gồm 32 dòng, mỗi dòng 14 chữ... lại cho thấy cái hiện tượng khó có thể nói khác hơn là sự bóc lột, vì có bóc lột thì có đấu tranh. Thế nhưng không khí đấu tranh xem ra không quá căng, ông chủ đã dễ dàng nhượng bộ, và người “biểu tình” ra về vui vẻ.
Cố nhiên, những người viết văn ở xứ ta, số lớn đều nghèo, nên ai cũng không khó khăn nhận ra và chấp nhận cách thức đối phó của một người có giác quan khá nhạy bén trong trường cạnh tranh làm giàu. Chẳng hạn ai đã đến với Vũ Đình Long thì không được viết cho các báo khác; nhưng sự thật thì nhiều người vẫn viết cho nhiều tờ. Sự trả công của ông là tùy mặt; ai có tiếng và được khách thì ông trả cao; có người ông trả ít, có người ông không cần phải trả bởi được ông in cho đã là vui rồi. Nguyên tắc ai giao thiệp với ông thì chỉ người ấy biết, còn họ không phải biết gì về nhau. Là ông chủ có cái nhìn xa, ông biết cách chiêu mộ và trọng đãi người tài, ngay cả khi họ chưa nổi danh; biết cách tích trữ bản thảo để luôn luôn có vốn bản thảo tung ra thị trường khi khan hiếm, khi cần đến hoặc khi có dịp; biết cách sử dụng lao động trong nhiều dạng loại (làm công ăn lương trong “biên chế” tòa soạn như Ngọc Giao, nhận thầu như Vũ Bằng, hoặc định kỳ mua bản thảo cho số đông người viết có tên tuổi) và biết cách trả công theo giá trị của sản phẩm để sao cho việc chi ít có thể đem lại thu nhiều. Trong quan hệ với các nhà văn, ông có những cách chơi riêng. Chẳng hạn với Nguyễn Công Hoan, thuộc số cộng sự ông tin cậy và nể trọng, người mà số lớn đầu sách quan trọng như Tắt lửa lòng, Lá ngọc cành vàng, Kép Tư Bền, Cô giáo Minh...đều được đăng liên tiếp trên Tiểu thuyết thứ bảy hoặc Phổ thông bán nguyệt san, đã có lần bị ông dụ vào việc ký hợp đồng, để suốt đời ràng buộc với ông. Cố nhiên, Nguyễn Công Hoan đã không khó khăn tránh được cái bẫy ấy. Thế nhưng việc nhà văn hỏi vay tiền thì ông không bao giờ từ chối; thậm chí ông còn hào phóng nhận trả góp cho nhà văn món nợ 1000 đồng; món tiền lớn này cho mãi đến sau 1945, Nguyễn Công Hoan vẫn mới chỉ trả được hơn một nửa; và đã được Vũ Đình Long bằng lòng xóa nợ sau 1954.
Qua giới thiệu của Nguyễn Công Hoan, ông biết “chọn mặt gửi vàng” nơi Tô Hoài, để có Con Dế Mèn và tiếp đó là Dế Mèn phiêu lưu ký; và sau khi Tô Hoài đã quen biết và biết cách “viết như chạy thi”, đã có sự tin cậy để hàng tháng đến Tân Dân nhận tiền và giao bản thảo, ông biết đón cả Nam Cao - thường đi kèm Tô Hoài, lúc này đang là cây bút mới, còn rất rụt rè...
Không chỉ làm báo, in tiểu thuyết, Vũ Đình Long còn mạnh dạn mở rộng sự kinh doanh sang địa hạt phê bình. Bộ sách Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan gồm 4 quyển, 5 tập, trên 1.500 trang cũng được in ở nhà Tân Dân ròng rã ngót 4 năm theo sự tính toán rất thực tế của Vũ Đình Long, và tất nhiên với sự thỏa thuận của tác giả.
Trong công việc kinh doanh, Vũ Đình Long cũng không quên mở rộng quy mô nhà in và trang bị mới kỹ thuật in ấn. Từ 1937 ông phá nhà in cũ, xây nhà in mới, mua chữ mới, máy mới ở Pháp để phát triển sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh và lấn át nhiều nhà in đương thời như T.B Cay (Hoa kiều) ở Sinh Từ, Minh Sang ở Bờ Hồ, Ngô Tử Hạ ở Nhà Thờ, Văn Hồng Thịnh và Lê Văn Tân ở Hàng Bông... Số công nhân làm việc ở Tân Dân từ ba chục có lúc lên đến vài trăm người. Mô hình Vũ Đình Long theo đuổi là Editions Flammarion và Librairie Hachette ở Pháp. Từ số vốn ban đầu 800 đồng cho đến khi phát triển thành ông chủ, Vũ Đình Long đã có tài sản lớn, chỉ riêng máy móc đã có giá 1 triệu 20 vạn đồng.
Nếu biết rằng, trước 1930, việc in sách thường do tác giả tự lo, trong tư cách nhà xuất bản tư nhân, thì mới thấy trên 10 năm hoạt động, ở tư cách chủ bút, chủ xuất bản, Vũ Đình Long đã làm nên sự nghiệp lớn - góp công tổ chức nên thị trường văn chương sôi động vào những năm ba mươi của thế kỷ XX; đã cho ra đời khối lượng khổng lồ tác phẩm gồm nhiều loại, với nhiều khuynh hướng sáng tác và với nhiều thang bậc giá trị. Tất nhiên, đây là thời của xã hội thuộc địa, trong khuôn khổ của một nền báo chí và xuất bản rất có giới hạn, những hoạt động ở tư cách ông chủ của Vũ Đình Long gồm cả hai mặt, nhưng mặt tích cực vẫn là căn bản.
Gs Phong Lê
http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=78&NewsId=329154

.

Bàn “Chén thuốc độc”, nghĩ về Vũ Đình Long
VĂN HÓA | 06:57 Chủ Nhật ngày 28/08/2011

(HNM) - Một cuộc hội thảo về tác gia sân khấu, nghiệp chủ báo chí Vũ Đình Long mang tên "Vũ Đình Long - Cuộc đời và sự nghiệp" vừa diễn ra tại Cao Dương, Thanh Oai, do Hội Nhà văn Hà Nội và quê hương Cao Dương tổ chức. Nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà quản lý đã tham gia. 


Hànộimới xin ghi lại những ý kiến tham luận góp phần làm nổi bật thân thế và sự nghiệp Vũ Đình Long, trong đó có những điều mà nhiều người trong chúng ta chưa biết tới.
Vũ Đình Long - “Người kéo màn” cho sân khấu Việt Nam hiện đại. Ảnh: Nguyễn Mạnh Hùng

Giai đoạn đầu thế kỷ XX chứng kiến sự giao hòa nhộn nhịp giữa các dòng chảy văn hóa, trong đó có sân khấu. Các ông Nguyễn Quang Oánh, Nguyễn Văn Ngọc (hai anh em), Đỗ Thận chung tiền, mời cổ đông lập ra rạp hát Sán Nhiên Đài ở phố Đào Duy Từ, lần đầu tiên đem chèo từ chiếu sân đình vào "sân khấu hộp". Đến ngày 22-10-1921, tại Nhà hát Lớn, "Chén thuốc độc", vở kịch nói đầu tiên của Việt Nam công diễn. Mới đây, nhân 90 năm sự kiện này, ông Phạm Quang Long, Giám đốc Sở VH,TT&DL cho biết sẽ tạo điều kiện để vở diễn trên được tái xuất.


Tác giả "Chén thuốc độc" là ông Vũ Đình Long (1896-1960), quê Cao Dương, Thanh Oai. Sau thời kỳ dạy học, làm thuốc và hoạt động sân khấu, ông trở thành nghiệp chủ báo chí lớn, với nhà in Tân Dân, các tờ "Tiểu thuyết thứ bảy", "Phổ thông bán nguyệt san", "Tao đàn"… "Tập đoàn truyền thông" của Vũ Đình Long góp phần làm nên nhiều tên tuổi văn chương, cạnh tranh với báo "Phong hóa" của anh em Nhất Linh, làm nên một cuộc huyên náo trong đời sống văn hóa đô thị.

Cuộc hội thảo mới đây của Hội Nhà văn Hà Nội và xã Cao Dương quê hương ông cho thấy nhiều điều mới mẻ. GS Phong Lê cho rằng trước khi công diễn "Chén thuốc độc" của Vũ Đình Long ở Nhà hát Lớn, Hà Nội mới chỉ thấy diễn một số vở kịch Tây như "Bệnh tưởng", "Trưởng giả học làm sang" của Moliere, với dàn diễn viên là trí thức ở đẳng cấp cao như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Huy Lục… Cũng cần nói thêm, việc diễn kịch là nhằm làm việc thiện, như quyên góp giúp dân bị lụt, giúp trẻ mồ côi, chứ không phải là hoạt động có tính chuyên nghiệp… Sau "Chén thuốc độc" của Vũ Đình Long, kéo dài suốt những năm ba mươi của thế kỷ XX, cuộc hành trình của nền sân khấu mới cũng chỉ lác đác dăm ba người hành nghề theo lối nghiệp dư… Một số vở của Vi Huyền Đắc, kể từ "Uyên ương" (1927), "Hoàng Mộng Điệp" (1928), qua "Kinh Kha" (1935) cho đến "Kim Tiền", "Ông Ký Cóp" (1938), rồi của Đoàn Phú Tứ như "Những bức thư tình" (1937), "Mơ hoa", "Ghen", "Ngã ba" (1941-1943) tuy có tiếng vang nhất định trong một số ít công chúng, nhưng xem ra hoạt động của họ vẫn chưa ra khỏi một cuộc chơi tài tử, gắn với các ban kịch tài tử…. Trong cuộc cạnh tranh, chen vai với toàn bộ các loại hình sân khấu truyền thống, sân khấu kịch nói đã giành được đất sống không phải bằng một cuộc chiến để thủ tiêu nhau mà là một cuộc tranh đua để cùng nhau tồn tại. Và sự chung sống bên nhau đó đã kéo dài suốt thế kỷ, cho đến nay, trong khi số lớn thể thơ cũ và lối văn cũ đều đã yên vị trong các bảo tàng.

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đặt vấn đề kịch nghệ mới này khác với kịch nghệ cũ ở chỗ nào? Ông Dương Nhữ Tiếp, Hội trưởng Hội đồng diễn kịch, trong lời phát biểu trước buổi công diễn "Chén thuốc độc" đã nói rõ: "Chúng tôi vốn cảm nhiễm cái văn hóa mới nước Pháp thường nhiệt tâm về việc cải lương hý kịch ở nước ta ngày nay, trông thấy các hý trường từng diễn theo một lối hát cổ của tiền nhân ta để lại, cái cách diễn chẳng qua là đem những điển cố xưa mà phác họa ra trên sân khấu, không có một chút gì là tả chân được các cảnh tượng thiên nhiên thích hợp với thời đại phong tục. Cái lối diễn kịch cổ ấy, không phải là không hay, song nó hay một cách mập mờ, không đúng với sự thực". Cho nên "Chén thuốc độc" là bước thí nghiệm thứ nhất, "một bản tuồng tả phong tục An Nam diễn theo đúng thể cách An Nam". Như vậy, kịch nghệ mới xét về nội dung là nói người và việc của hiện tại, của đời sống thực. Đứng ở tính chất bộ môn nghệ thuật thì kịch nghệ mới là kịch nói.

Với góc nhìn khác, dịch giả Cao Việt Dũng nêu: Cũng trong thời gian tản cư xa Hà thành (1943), Vũ Đình Long đặc biệt tập trung "Việt Nam hóa" các vở kịch của Pháp. Ông nói về chủ trương của mình: "Nguyên tắc Việt Nam hóa của chúng tôi là dịch sát nguyên văn hay dịch tự do tùy tiện, cố gắng giữ lấy thật nhiều cái đẹp, cái hay của nguyên tác, thêm bớt, thay đổi, cắt xén… biến vở kịch nước ngoài thành vở kịch Việt Nam. Một vở kịch Việt Nam hóa như thế có khuyết điểm, nhưng theo chủ quan của chúng tôi, thì cũng có một số ưu điểm đáng kể, là gần ta hơn, dễ thông cảm hơn, truyền cảm hơn, sâu sắc hơn và dễ diễn xuất hơn là kịch dịch thẳng theo nguyên bản… Nếu thể hiện không đúng, nếu màu mè điệu bộ cử chỉ dáng dấp… của nghệ sĩ diễn viên còn có chỗ lai căng, thì sẽ làm trò cười cho khán giả ngoại quốc".

Và theo TS. Phan Trọng Thưởng thì vào năm 1958, trước khi mất 2 năm, theo di bút của tác giả, ngày Đại hội liên hoan Anh hùng chiến sĩ thi đua Công - Nông - Binh toàn quốc cũng là ngày Vũ Đình Long khởi thảo vở kịch 4 hồi "Ép duyên" hay là "Trên đường cải tạo". Có lẽ đây là nỗ lực sáng tạo cuối cùng xác nhận thái độ của ông đối với công cuộc cải tạo XHCN được tiến hành vào thời điểm này. Mâu thuẫn kịch tuy không gay gắt quyết liệt, nhưng nó lại phản ánh được phần nào hoàn cảnh, những tâm trạng khá thực trong đời sống đất nước, đặc biệt là của tầng lớp tiểu tư sản thành thị vốn là đối tượng chủ yếu của công cuộc cải tạo thời kỳ này.
Hoàng Định (lược thuật)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khoan dung cho người bất đồng chính kiến

- Ls Nguyễn Văn Đài.

Ngày ấy Nguyễn Văn Đài mới ra tù được ba hôm, Đài gọi điện cho tôi nói.

- Tôi là Nguyễn Văn Đài, tôi xin số điện của anh từ mấy anh em, tôi muốn gặp anh nói chuyện được không.?

Tôi gật đầu tắp lự, cũng như Lê Thị Công Nhân , cô mới ra tù vài hôm đã ngỏ ý muốn gặp tôi để nói chuyện.

Không phải tôi là người tài giỏi gì, chẳng qua thời gian ấy tôi la cà nhiều, tham gia nhiều vụ. Đài và Nhân muốn gặp tôi để nghe khái quát tình hình các vụ đấu tranh đang diễn ra.

Theo địa chỉ Đài ghi, tôi đến căn hộ của Đài ở khu Bách Khoa, Hà Nội. Nhà Đài chả có đồ đạc gì, tuềnh toàng , sơ sài, chỉ có ảnh Chúa trên tường là màu sắc nhất.  Đài hỏi tôi về tình hình xã hội, tôi biết gì nói nấy. Lúc ra cửa vợ Đài nói với tôi.

- Anh ấy đi lâu, giờ mới về, em lo lắm.

Tôi hiểu vợ Đài muốn nói gì, thực sự tôi không là gì với Đài cả. Anh có quá trình đấu tranh lớn và có tầm cỡ hơn tôi rất nhiều. Mãi đến một lần khác, tôi gặp Đài ở bệnh viên Nhi, anh và vợ anh đi khám bệnh chưa có còn. Chỉ chào hỏi nhau, vợ anh đã tranh thủ nhắc lại nỗi lo của mình.

 Tôi giữ ý, không gặp Đài và cũng không trao đổi gì.

 Bẵng đi đến giữa năm 2012, Đài gọi tôi và Lân Thắng đến nhờ một việc. Tôi và Lân Thắng lo vụ ấy chu toàn, gọn ghẽ và hiệu quả.  Làm xong tôi cũng không gặp lại Đài, đấy là lần thứ ba tôi gặp Đài.

Đối với tôi, Đài là người có tâm và chí khí. Phải người như thế mới gặp hai lần ngắn ngủi, không đâu mà khi anh ta nói cần làm việc nọ, tôi và Lân Thắng chẳng đắn đo lên đường ngay hôm sau. Nói  là việc chung, nhưng nếu người khác bảo, chắc tôi còn phải nghĩ, chung thì chung chứ chẳng ai đủ ra lệnh cho tôi làm cả. Tôi làm vì việc chung và cả vì sự cảm kích của tôi với những gì anh đã cống hiến cho công cuộc đấu tranh dân chủ ở Việt Nam,  và hơn hết là sự tôn trong anh, bởi nếu không tôn trọng anh, chúng tôi không dễ gật đầu nhận cái việc nguy hiểm vào lúc đó.

 Đài sống đạm bạc, giản dị như một vị chân tu. Anh sống bằng lý tưởng anh theo đuổi chứ không phải thứ vật chất tầm thường. Vì thế anh được nhiều tổ chức đấu tranh bên ngoài kính trọng về nhân cách của anh.

Hôm vừa rồi ở phiên toà, Đài có nhắc toà nên khoan dung với người đấu tranh đòi tự do dân chủ, tôi nghĩ không phải Đài sợ gì mà nói vậy. Tôi nghĩ anh muốn nói với những người xét xử anh rằng, nếu họ làm ác chắc tương lai con cháu họ phải chịu nhân quả. Câu nói của anh đầy hàm ý, nghe có vẻ như lời mềm yếu cầu khẩn, nhưng thực ra nó là lời cảnh báo.

- Khoan dung cho người bất đồng chính kiến, là khoan dung cho mình ngày mai.

Chúng ta đọc cả câu, để thấy được sự so sánh ngầm mà Đài muốn nói.

- Ác độc với người bất đồng chính kiến, là ác độc cho mình ngày mai.

Tôi nghĩ đó là lời đanh thép ngầm bên trong câu nói cuối cùng của luật sư Nguyễn Văn Đài. Phải hiểu cả nghĩa bóng, nghĩa ngược lại và hoàn cảnh câu nói, chúng ta mới thấy được rõ ý nào mà Đài muốn nói. Trước cảnh bao anh em cùng đứng đó trước toà, nói câu như vậy để không ảnh hưởng đến anh em bị kết án nặng nề, nhưng vẫn ngầm tỏ khí phách. Con người từng chịu nhiều tù tội như Đài, có nhân trí như anh mới nói được.

 Không nên đánh giá tuỳ tiện câu nói của một con người can trường, từng trải và sẵn sàng chấp nhận gian khó , hy sinh như luật sư Nguyễn Văn Đài là mềm, là xin xỏ. Nếu như nhìn vào quá trình tranh đấu bao nhiêu năm qua của anh, chúng ta thấy rõ lời nói của anh là hàm ý ngược lại rất rõ ràng.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mất chức mà ôm được một đống tài sản thì nhiều người dám làm.

Không thể tịch thu tài sản theo hướng “suy đoán có tội”

>> Cơ hội để sửa sai cho Sơn Trà
>> Cần nhìn nhận mại dâm dưới khía cạnh nhân văn
>> Bộ Công an triệt phá thêm một đường dây đánh bạc trực tuyến trăm tỷ


LÊ THANH PHONG





















LĐO - “Về mặt pháp lý, không thể mặc nhiên coi tài sản không giải trình được hợp lý về nguồn gốc là tài sản tham nhũng để tịch thu bằng biện pháp hình sự theo hướng “suy đoán có tội”, đó là quan điểm của Chủ nhiệm UB Tư pháp của Quốc hội Lê Thị Nga. 

Một trong những cách chống tham nhũng là bắt buộc cán bộ kê khai tài sản. Có nhiều người kê khai tài sản rất ít so với tài sản thực có, cho nên phải xử lý nếu phát hiện thêm tài sản không chứng minh được nguồn gốc. 

Nhưng, cho dù với mục đích chống tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng cho quốc gia, thì cũng phải đúng luật. Muốn tịch thu bằng biện pháp hình sự thì phải chứng minh được đó là tài sản tham nhũng, nếu không chứng minh được thì phải thực hiện theo nguyên tắc suy đoán vô tội. Hiện nay, pháp luật không quy định buộc người dân phải chứng minh nguồn gốc hình thành số tiền để mua tài sản.

Quyền sở hữu tài sản của công dân được Hiến định, quyền đó phải được pháp luật bảo vệ. Lẽ dĩ nhiên đối với những trường hợp sở hữu tài sản quá lớn lên đến hàng trăm tỉ đồng, nghìn tỉ đồng, thì không thể xem đó là do tích lũy, mà dứt khoát đó là tài sản bất minh. Các vụ án vừa qua chứng minh rõ, các bị cáo đã nộp lại số tiền vài chục tỉ, vài trăm tỉ đồng. Bởi vì, cơ quan điều tra đã kết luận về nguồn gốc của số tiền đó từ đâu mà có. Do đó, quan điểm của đại biểu Lê Thị Nga là đặt pháp luật lên trên hết.

Đối với ý kiến đề xuất đóng thuế 45% tài sản tăng thêm, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của QH Nguyễn Khắc Định không đồng tình, cũng dựa trên quy định của pháp luật. Theo ông Nguyễn Khắc Định, khi cơ quan nhà nước cũng không chứng minh được tài sản đó là bất hợp pháp, thì phải suy luận vô tội, coi đó là tài sản hợp pháp. Và, tài sản hợp pháp tăng thêm thì phải nộp thuế theo khung của Luật Thuế thu nhập cá nhân chứ không thể ấn định là 45%.

Hai quan điểm trên đều rất thuyết phục về mặt pháp luật, nhưng từ đó cũng cho thấy, để phát hiện tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng không phải dễ dàng. Để chống tham nhũng hiệu quả, cần xây dựng thêm các quy định mới để điều chỉnh phù hợp, ví dụ như đề nghị hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp.

Bởi vì, khi chưa có căn cứ tịch thu tài sản bằng biện pháp hình sự đối với tài sản tăng thêm không chứng minh được, thì có thể áp dụng các hình thức xử lý kỷ luật vì đối tượng kê khai không trung thực, nhưng liệu như vậy thì có đủ sức răn đe?

Mất chức mà ôm được một đống tài sản thì nhiều người dám làm.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

THOẢNG NHỚ THÁNG BA



Chỉ là mưa nhẹ tháng ba
nhớ thoang thoảng nhớ
mùa hoa xứ Đoài
mùa lễ hội
mùa bánh chay
em ngang qua gió
tôi bày câu thơ
ngựa hồng voi trắng nhấp nhô
ngàn năm câu chuyện can qua đất này
Ba Vì xanh chạm vào mây
chạm vào câu hát "Đất này Ba vua"
"Đấu" đong quân
đầy đến giờ
Chưa phai thề thốt cõi bờ quê hương
Tháng ba trai tráng lên đường
dẫu không voi ngựa
chí hùng ngất cao
người đi biển rộng, sông sâu
Việt Hùng - Hùng Việt nhớ câu ghi lòng:
Muôn đời là đất cha ông
Những lời điêu dối theo dòng cuốn trôi
Phiên của đất
cuộc của trời
Tháng ba lại nhớ tới người muôn xưa
Người là lính
người là vua
Hiến thân có thể
câu thơ mãi còn
Tháng ba đang đơi sấm dồn
Nôn nao lại nhớ
bồn chồn đất quê!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

9 sai lầm trong văn hóa đọc của người Việt



Chúng ta chỉ đọc những gì mình thích. Điều đó không xấu, nhưng sẽ tốt hơn nếu chúng ta có thể đọc cả những điều mình không thích, nhưng cần.
Hồ sơ văn hoá đọc của con người đồ sộ và dày dặn hơn tất cả các bảo tàng trên thế giới này cộng lại. Không thể nói văn học cổ điển và kinh điển, tiểu thuyết best-sellet, cổ tích hay chuyện tranh, cái nào hơn cái nào. Cũng không thể bó gọn văn hóa đọc trên giấy và những con chữ. (Thực tế là con người còn đọc nhau qua ánh mắt, bờ môi, những cử chỉ của cơ thể, và cả những sắc thái vô hình khác nữa). Thế nên, trong quan niệm của tôi, không có chuyện khủng hoảng văn hóa đọc mà chỉ có sự khủng hoảng cái nhìn về văn hóa đọc. Nói một cách nôm na hơn, vấn đề không phải là đọc gì, mà đọc như thế nào?
Và dưới đây lả chín sai lầm trong văn hóa đọc của người Việt.
1) Chúng ta tích lũy tri thức qua việc đọc báo thay vì đọc sách
Và kết quả là tri thức của chúng ta bao gồm những thứ được nhắc đến trong chuyên mục phóng sự xã hội, quốc tế hay tâm lý của báo chí (Showgame và phim dã sử truyền hình cũng là một kênh, nhưng có lẽ xin bản ở bài khác). Với một số người hiện đại hơn, tri thức nằm trong những trang báo điện tử và các diễn đàn. Thông thái hơn nữa thì Wikipedia và goodle hay yahoo là những ông thánh sống.
2) Chúng ta đọc sách theo kiểu đọc báo
Và chúng ta chỉ mang máng nhớ là trong chiến tranh và hòa bình có một anh chàng tên là Andre đi đánh giặc, trong Hamlet có một câu “Tồn tại hay không tồn tại”, trong trăm năm cô đơn hình như có một đuôi lợn.
3) Chúng ta rất lười ghi chép
Và nếu có ghi chép thì chúng ta cũng luời cả việc đọc lại nó.
4) Chúng ta đọc theo phong trào
Cứ sau mỗi mùa trao giải hoặc mỗi scandal nào đó, là một cuốn sách được nhắc đến lại bán chạy như tôm tươi, dù trước đó cả tháng trời chịu phận “cá thối”. Đơn giản boiử rất ít người trong số chúng ta có được định hướng đọc và kế hoạch đọc, cho mình.
5) Chúng ta giả vờ đọc
Nghĩa là chúng ta chỉ mua sách, gáy càng đẹp, bìa càng cứng càng tốt, để bày cho sang phòng chứ ít khi giở ra. Nếu có giở thì cũng là để khoe chữ ký của nhà văn nổi tiếng để tặng chủ nhân trong đó. Ngày xưa Nguyễn Tuân từng sốt sắng tả cái cảm giác mua sách về rồi nắn nót cầu kỳ đọc từng trang, sờ cái lề giấy… Bây giờ, điều đó là xa xỉ khi vô số cuốn sách xén lỗi chẳng bao giờ bị lo phát hiện vì nhieùe người đâu có giở chúng ra lần nào.
6) Nếu đọc, chúng ta sẽ đạo
Rất nhiều khi chúng ta đương nhiên coi những gì chúng ta đọc được là của mình. Và chúng ta nhại lại như thế chúng ta viết ra nó.
7) Chúng ta thiếu sự hoài nghi
Thường thì sách báo nói thế nào, chúng ta tin như vậy. Rất ít khi chúng ta thử dừng lại, nhìn lại vấn đề theo quan điểm riêng. Trong khi nghi ngờ sách là một thái độ đáng tôn trọng không kém gì tôn sùng sách.
8) Chúng ta dễ dãi với những sai sót
Ngày trước, kèm theo mỗi cuốn sách xuất bản thường có một tờ đính chính. Nhưng đính chính đó đôi khi chỉ là lỗi chính tả tên riêng… Mẩu giấy nhỏ nhưng hàm chứa một ý thức lớn của người làm sách. Bây giờ, công nghệ hiện đại hơn, in ấn rẻ hơn, nhưng những mẩu giấy đính chính lại gần như thất truyền mặc dù lỗi in rõ ràng là nhiều hơn. Cả ý thức của người làm sách lẫn người đọc sách đều kém hơn trước.
9) Chúng ta chỉ đọc những gì mình thích
Điều đó không xấu, nhưng sẽ tốt hơn nếu chúng ta có thể đọc cả những điều mình không thích, nhưng cần. Bởi đọc không chỉ là để giải trí. Đọc cần phải có mục đích, và rất nhiều sự kiên nhẫn.
Theo HOCMAI.VN

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tư liệu LS:

Bác Hai lại nói về đảng Cộng sản và đảng Dân chủ

Ngày chủ nhật, tôi thường từ Cầu Diễn đi bộ ra Cầu Giấy rồi lên tàu điện ra Hà Nội đi mua sách báo. Do không có nhiều tiền, tôi vào hiệu sách báo xem vài tờ báo rồi mua một quyển sách, sau đó tới cửa hàng sách báo khác, cũng lặp lại như thế. Tôi đã đọc theo cách đó tất cả các số báo Trăm Hoa và Nhân văn Giai phẩm mà không phải bỏ tiền mua. Một hôm, vừa rời nhà sách bước ra đường thì tôi gặp bác Hai Trần Trung Trực, nguyên Phó Ty Giáo dục Bến Tre thời chống Pháp. Thấy tôi mặc quân phục bác rất vui: “Tao không ngờ ốm yếu như mày mà vẫn còn ở bộ đội. Mấy thằng con tao chuyển ngành hết rồi!”. Bác đâu ngờ tôi chỉ là chú lính gánh gạch, trộn vữa, học xây nhà! Bác đưa tôi đến Sở Giáo dục Hà Nội cơ quan của bác hiện nay, để bác cháu tâm tình. Bác nói bác đang làm bí thư chi bộ, tôi hỏi: “Là bí thư chi bộ đảng Dân Chủ hả bác Hai?”
Tống Văn Công
Tống Văn Công
Bác xua tay: “Bậy mày! Bí thư chi bộ đảng Lao Động chứ, tức là Cộng Sản chứ.” Tôi nhắc lại chuyện bác giải thích với tôi về đảng Dân chủ hay hơn đảng Cộng sản ở chỗ ôn hòa, đi chậm mà chắc. Bác cười lớn: “Hồi đó tao có biết gì đâu. Sau này thằng Hiếu còn tao làm rể bác Năm Hưỡn trưởng ty, ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre! Là thông gia với nhau, bác Năm không ngại nói thẳng cho tao biết: Đảng Dân chủ là do bác Hồ thành lập để thu nạp những anh trí thức lơ tơ mơ, tạch tạch xè (những từ nói lóng để chỉ thành phần tiểu tư sản mà đảng Cộng sản cho là có quan điểm, lập trường bấp bênh cần phải kèm cặp, giáo dục không ngừng) mới tham gia cách mạng, còn e ngại cộng sản. Người tri thức vô đảng Dân Chủ thì coi như đã chịu đi theo con đường của đảng Cộng sản rồi. Bác Năm đứng ra giới thiệu tao vào đảng Cộng sản.” Tôi hỏi thăm hai người con “mác xít” của bác. Bác cho là mình rất bất hạnh khi có đứa con thứ hai là Trần Trung Tín hư đốn. Tín rời bộ đội làm diễn viên điện ảnh, nhưng thích làm thơ. Bất ngờ có người cùng cơ quan phát hiện anh có những câu thơ: “Trái tim tôi không phải quả táo tàu. Không thể dùng dao cắt chia ba phần to nhỏ” và “Chân lý không thể bị hành hình. Cái đẹp không thể vùi chôn.” Tín bị đưa ra chi bộ kiểm điểm. Người ta cho rằng anh công kích Tố Hữu, cũng tức là chống lại quan điểm văn nghệ của Đảng. Trần Trung Tín khẳng định mình hoàn toàn đúng. Trước sự o ép liên tục của chi bộ, Tín xé thẻ Đảng vứt vào sọt rác, rồi định tìm đến cái chết. Trong giây phút tuyệt vọng, may thay anh bắt gặp niềm yêu say hội họa. Hội họa đã cứu sống anh. Anh ngồi vẽ suốt ngày bằng mực Cửu Long tên giấy báo Nhân Dân. Lúc ấy bác hai Trực và cả tôi nữa chỉ biết tin vào Đảng. Ông không thể ngờ con trai mình được họa sĩ Bùi Xuân Phái coi là một thiên tài bẩm sinh. (Bùi Xuân Phái cũng là người không được Đảng coi trọng). Sau khi bác Hai Trực qua đời, tranh của Trần Trung Tín được triển lãm ở nhiều quốc gia có nền mỹ thuật cao như Pháp, Mỹ, Anh, Nhật, Thái, Singapore… Tờ báo có uy tín The Independent đánh giá: “Trần Trung Tín là họa sĩ vĩ đại nhất của Việt Nam” và báo Time nhận xét tranh của Trần Trung Tín “bi thiết với màu sắc rực rỡ”.
Sau lần gặp bác hai Trực, trong một dịp họp đồng hương tôi được gặp anh Lê Nguyên, ủy viên ban chấp hành đảng Dân Chủ tỉnh Bến Tre thời chống Pháp. Năm 1945 anh thi tú tài xong thì Cách Mạng Tháng Tám, rồi kháng chiến bùng nổ. Anh rời Sài Gòn về Bến Tre, lập tức được mời vào đảng Dân Chủ, ít lâu trở thành cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh của Đảng này. Tập kết ra Bắc anh bắt đầu làm báo. Tôi hỏi, có phải anh làm báo Độc Lập do ông Nguyễn Việt Nam nguyên ủy viên Ban thường vụ Kỳ ủy đảng Dân Chủ ở Nam Bộ đang là tổng biên tập. Anh cười, rỉ tay tôi: “Cậu không biết đảng Dân Chủ chỉ là cái đảng dỏm à? Cụ Hồ bày ra đảng Dân Chủ với đảng Xã Hội để dụ khị mấy thằng trí sức đang lớ ngớ, gom vào hai cái đảng này để tiện việc quản lý, giáo dục đó thôi! Sau khi biết rõ như vậy, mình đã làm đơn xin ra đảng Dân Chủ, rồi cố gắng ‘phấn đấu’ và đã được kết nạp vô đảng lao động hơn ba năm rồi.”
Chuyện của bác Hai Trực và anh Lê Nguyên làm tôi bùi ngùi nhớ cô giáo Thiệp đảng viên Dân Chủ ở trường trung học Huỳnh Phan Hộ tôi học thời chống Pháp. Thời ấy, các đảng viên Dân Chủ như bác Hai Trực rất tự hào về sự khác nhau – không muốn nói là ưu việt – của đảng mình so với đảng Cộng sản. Do đó những đảng viên Cộng sản trẻ, đặc biệt là những đoàn viên thanh niên “cảm tình” đảng Cộng sản luôn muốn tỏ “lập trường cách mạng vô sản” đã coi đảng dân chủ như là một bọn thù địch! Những buổi cô giáo Thiệp giảng bài, bọn học sinh chúng tôi bỏ học gần một phần ba, còn hai phần ba có mặt thì trò chuyện râm ran. Năm 1965, tôi được tin cô giáo Thiệp bị bắt đã từ chối ly khai Cộng sản, chấp nhận vào chuồng cọp ở Côn Đảo. Trong khi đó, thày Triết bí thư chi bộ đảng Cộng sản trường Nguyễn Công Mỹ lên đài Sài Gòn tuyên bố ly khai cộng sản!
Năm 1981, tôi được bầu vào Hội đồng Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh khóa 2. Trước khi biểu quyết những nghị quyết có thể phiếu bị phân tán, các đảng viên Cộng sản được đảng đoàn ở Hội đồng Nhân dân mời họp riêng để “quán triệt sự chỉ đạo của Thành ủy”. Ông Nguyễn Việt Nam chủ tịch Hội đồng Nhân dân là bí thư đảng đoàn đảng Cộng sản, người mà thời chống Pháp đã được công khai là ủy viên Thường vụ đảng Dân Chủ của Nam bộ, sau khi tập kết ra Bắc làm tổng biên tập báo Độc Lập của đảng Dân chủ Việt Nam. Dù đã biết nhiều sự thật, nhưng tôi không khỏi ngạc nhiên khi ông Nguyễn Việt Nam công khai nhân danh bí thư đảng đoàn của đảng Cộng sản trong hội đồng nhân dân, chỉ đạo các đại biểu là đảng viên việc bỏ phiếu theo nghị quyết của đảng!
Đảng Dân Chủ “hữu danh vô thực” ngay khi thành lập. Đảng Xã Hội cũng thế. Trong tình trạng bối rối, sợ hãi đến mất khôn (Liên Xô, Đông Âu sụp đổ) ông Nguyễn Văn Linh mới quyết định buộc họ phải “hoàn thành nhiệm vụ”.

Phần nhận xét hiển thị trên trang