Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2018

Đọc Rousseau: Con người sinh ra tự do, nhưng đâu đâu họ cũng sống trong xiềng xích "

Jean-Jacques Rousseau (1712 – 1778), bị coi như một kẻ vị kỷ viết sách thuyết giảng về giáo dục trong lúc ruồng bỏ cả năm đứa con của mình vào trại mồ côi khi chúng vừa cai sữa.
Ông kiếm sống bằng nghề soạn nhạc nhưng lại coi nghệ thuật là thứ sản phẩm phù phiếm làm con người trở nên suy đồi.
Ông hiếu chiến gây gổ với hết thảy những học giả lừng danh đương thời, từ những người có ơn cưu mang như Diderot hay Hume, cho tới giới tinh hoa quý tộc như Voltaire rồi Rameau, sau lại gây thù chuốc oán khắp các quan tòa và giáo sỹ.
Ông ngây thơ tin tưởng vào cái sự “nhân chi sơ, tính bổn thiện” của con người mà không biết rằng chính cái niềm tin đó đã làm đổ không biết bao nhiêu máu trong cuộc cách mạng Pháp để rồi lập ra một chế độ độc tài khác, mà hẳn là trong cuộc chiến ấy tư tưởng của Rousseau đã dự phần đáng kể.
Bìa sách “Emile, Julie, và các tác phẩm khác”. Ảnh: Goodreads.
Vậy mà ngày nay, tên tuổi của Rousseau – vị triết gia người Pháp chứa đầy rẫy xung đột với tư tưởng một đằng lối sống một nẻo – vẫn lưu danh nhờ những trước tác của mình trên khắp các lĩnh vực.
Julie hay Nàng Heloise Mới của Rousseau với mối tình tay ba đau khổ được coi là một trong những tiểu thuyết ảnh hưởng nhất tới dòng văn chương lãng mạn phương Tây.
Những lời bộc bạch mở ra một lối viết tiểu thuyết mới cho dòng văn học tự thuật.
Émile truyền cảm hứng cho nhiều nhà giáo dục hậu thế như Montessori, Jean Piaget, Humboldt, Froebel, qua đó tác động tới biết bao thế hệ.
Vở opera Le Devin du Village (Thầy bói làng) lập tức thành công ngay sau khi ra mắt, được diễn đi diễn lại khắp các nhà hát ở Pháp trong suốt một thế kỷ, cũng là nguồn cảm hứng cho cậu bé Mozart khi ghé thăm Paris năm 9 tuổi để rồi từ đó soạn vở Basitien und Bastienne.
Và, ta không thể không nhắc tới Khế ước xã hội, một tác phẩm chính trị gối đầu giường cho những ai yêu mến nền cộng hòa thuần nhất.
Nếu trong Luận về nghệ thuật và khoa học, Rousseau cho rằng “nghệ thuật và khoa học thực chất chỉ là thứ vòng hoa điểm xuyết trên mớ xiềng xích đè nặng loài người”, thì Khế ước xã hội mở đầu bằng một câu đầy tính kích động:
“Con người sinh ra tự do, nhưng đâu đâu họ cũng sống trong xiềng xích.”
Phát súng đầu tiên bắn vào kỷ nguyên Khai Sáng
Thomas Hobbes, kẻ bị công kích dữ đội nhất trong tác phẩm của Rousseau, cho rằng con người ban sơ vốn dĩ là những sinh vật “cô độc, dơ dáy, nghèo nàn, và tàn bạo”.
Đó là lý do mà Hobbes đã hết mình tán dương chế độ quân chủ, nơi có một ông vua toàn quyền cai trị các thần dân, qua tác phẩm Leviathan.
Bởi lẽ cái loài người bẩm sinh xấu xa và luôn xâu xé nhau kia cần phải tìm cách để thoát khỏi tình trạng chiến tranh hỗn mang nguyên thủy. Để làm được điều đó, họ ký kết một khế ước xã hội trao cho đức vua quyền cai trị tuyệt đối nhằm đảm bảo trật tự và an ninh cho các thần dân.
Song John Locke, vị triết gia đương thời nổi tiếng với cuốn Khảo luận thứ hai về chính quyền, hoàn toàn không đồng tình với Hobbes.
Locke cho rằng con người trong tự nhiên cũng có luật lệ riêng của họ, ấy gọi là luật tự nhiên. Nhưng không vì thế mà họ được sống yên ổn, chẳng hạn như con người không phải là những sinh vật khách quan: họ sẵn sàng vì lợi ích của bản thân mà bất chấp luật lệ.
Thế là khế ước xã hội ra đời, con người rời bỏ trạng thái tự nhiên để đi vào một cộng đồng do chính quyền đại diện. Locke cho rằng mối đe dọa đối với cá nhân không chỉ đến từ các cá nhân khác, mà còn đến từ chính quyền nữa. Vì vậy, thay vì trao cho ông vua cái quyền lực tối cao như cách của Hobbes, thì Locke đi tìm cách giới hạn quyền lực của chính quyền nhằm bảo vệ tự do cá nhân.
Chính quyền của Hobbes tốt đẹp theo cách nhìn của Hobbes. Chính quyền của Locke ổn thỏa trong mắt Locke. Những nhà khai minh thông tuệ của chúng ta đã tìm ra giải pháp. Bởi cuối cùng, may mắn làm sao, loài người đã thoát ra khỏi cái trạng thái tự nhiên lắm rối ren!
Thế nhưng Rousseau lại gọi cái tiến trình “thoát ra khỏi trạng thái tự nhiên” ấy là một “tai nạn không thể vãn hồi”.
Tranh vẽ Rousseau. Tranh: The New Yorker.
Với Rousseau, con người “hoang dã cao quý” (noble-savage) trong tự nhiên vốn là những sinh thể độc lập, giàu lòng trắc ẩn, được tự do ý chí, và có một cuộc sống hạnh phúc.
Ấy vậy mà, khi đi vào đời sống xã hội, họ trở nên bất hạnh khi không thỏa mãn ước muốn. Họ xấu xa trong những trò thủ đoạn cạnh tranh, họ lấy nỗi đau và sự thống khổ của kẻ khác làm niềm vui hoan hỉ. Họ theo đuổi giá trị sống của những kẻ giàu có hơn họ, thành đạt hơn họ. Họ tha hóa, xa lạ với bản chất, mất cảm quan về những giá trị đúng đắn.
Rousseau gọi đó là những con người nô lệ.
Quan điểm ấy được bày tỏ hùng hồn trong bài dự thi Luận về nghệ thuật và khoa học của Rousseau gửi cho cuộc thi viết của viện Dijon, và đã giành giải nhất nhờ bắn một phát súng chí mạng vào cả nền văn minh.
Mặc dù triết gia Nietzsche – tác giả của câu nói nổi tiếng “what does not kill me makes me stronger” (thứ gì không giết chết ta sẽ làm ta mạnh mẽ hơn) – cũng phê phán nền văn minh phương Tây rằng “Thượng Đế đã chết”, song ông coi lối đả phá của Rousseau là một lời nguyền đối với xã hội. Thậm chí Nietzsche còn gọi Rousseau là một “tên tiện dân” và “kẻ mắc bệnh tâm thần” khi đòi lật đổ tất cả các trật tự xã hội nhân danh sự tốt lành bẩm sinh của con người.
Rousseau rõ ràng đã chịu ảnh hưởng từ tư tưởng của triết gia Bernard Mandeville trong cuốn Cổ tích về loài ong, vốn cho rằng sự thương xót và đồng cảm là đức tính mạnh mẽ nơi con người hoang dã, song bị suy yếu nơi con người văn minh.
Chỉ trong nền văn minh, nơi con người trở nên hám lợi, thì họ mới cố gắng để có nhiều hơn hàng xóm của mình. Trong trạng thái nguyên thủy, người ta không có hàng xóm, họ cũng chẳng có nhu cầu cạnh tranh. Với Rousseau, nền văn minh mang lại cho con người nhiều tri thức và vật chất hơn song không làm họ tốt hơn hay hạnh phúc hơn.
Lối công kích sâu sắc và trực diện ấy khiến cho Rousseau được coi là đã thực hiện một cuộc “khai minh về khai minh”.
Cội nguồn của những bất hạnh khổ đau
Tranh “Rousseau đưa bản thảo luận văn tới Notre-Dame de Paris”. Tranh: Jean Jacques François The Barber, Brusselles, 1783.
Giờ đây, theo Rousseau, con người đã đánh mất sự “tự do tự nhiên” và không thể nào quay trở lại – thời kỳ vàng son của nhân loại đã qua đi. Chúng ta không thể phục hồi nó. Đó là một tiến trình không thể đảo ngược.
Và con người đã bị lừa khi rời bỏ trạng thái tự nhiên để bước vào xã hội hiện đại đầy nỗi bất hạnh.
Trong bài dự thi thứ hai của mình, Luận về bất bình đẳng, Rousseau cho rằng nhà nước đầu tiên đã ra đời thông qua một thứ khế ước xã hội dối lừa, khi những kẻ mạnh đã đánh lừa dân chúng rằng chính quyền được sinh ra nhằm bảo vệ các quyền, trong đó có quyền tư hữu.
“Đây [quyền tư hữu] là nguồn gốc của xã hội và luật pháp, thứ siết gông cùm lên kẻ yếu và ban sức mạnh cho kẻ giàu; nó đã phá hủy sự tự do tự nhiên đến nỗi không thể khôi phục; nó cố định vĩnh viễn các luật về sở hữu và bất bình đẳng; nó biến thói chiếm đoạt tinh vi thành một quyền không thể thay đổi; và từ nay về sau vì lợi ích của một số ít người tham vọng mà toàn bộ nhân loại phải lao động, phục vụ, và khốn khổ.”
Theo Rousseau, có hai kiểu yêu bản thân: amour de soi – yêu bản thân và muốn bảo vệ bản thân, và amour proper – yêu bản thân bằng cái nhìn trong mắt người khác. Trong thời đại mới, tình yêu amour proper nổi lên khi con người ham muốn sở hữu thật nhiều vì muốn hơn kẻ khác, chứ không phải vì nhu cầu vật chất của chính họ.
Mà con người càng theo đuổi sở hữu tư nhân, thì xã hội càng bất bình đẳng. Trong cái vòng xoáy mưu cầu ấy, con người càng trở nên bất hạnh vì đánh mất chính mình.
Chính vì lý lẽ phản động ấy, mà nhà triết học ủng hộ quân chủ khai phóng Voltaire đã gọi Rousseau là “một kẻ khố rách áo ôm muốn trông thấy người giàu bị cướp bóc bởi người nghèo, coi đó là cách hay ho để thiết lập tình đại đồng huynh đệ cho nhân loại”.
Hứng chịu những lời công kích mạt hạng ấy cũng không có gì đáng ca thán, nhất là khi ta biết rằng Rousseau là một trong những nhà lý thuyết đầu tiên nghiêm túc tấn công vào sở hữu tư nhân. Chính vì vậy mà Rousseau được coi là người gây ảnh hưởng tới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Marx, và chủ nghĩa vô chính phủ.
Khế ước xã hội phải đến từ ý chí chung
Bìa sách “Khế ước xã hội”, bản dịch tiếng Việt của dịch giả Dương Văn Hóa.
Vậy thì, làm thế nào để con người có thể tái tạo một xã hội vừa bảo đảm tự do như buổi ban sơ, vừa bảo vệ được nhu cầu thụ hưởng?
Tác phẩm Khế ước xã hội của Rousseau ra đời để giải đáp cho câu hỏi ấy, nhằm “…tìm kiếm một hình thức kết hợp để bảo vệ và che chở cho bản thân và tài sản của mỗi thành viên bằng tất cả sức mạnh cộng đồng, đồng thời, mỗi cá nhân trong khi kết hợp bản thân mình với mọi người vẫn chỉ nghe lời chính mình và vẫn tự do như trước.”
Sự đã rồi, con người đằng nào cũng không thể sống trong trạng thái tự nhiên hoan lạc được nữa.
Giải pháp của Rousseau là, chi bằng, con người cùng ký kết một bản khế ước xã hộitrong đó họ từ bỏ tự do tự nhiên của mình để đổi lấy tự do dân sự.
Khế ước xã hội ấy được thiết lập bằng cách, toàn thể dân chúng phải họp lại với nhau tạo thành một hội đồng tối cao. Hội đồng tối cao sẽ thực thi ý chí của toàn dân – gọi là ý chí chung – nhằm đảm bảo phục vụ quyền lợi chung của toàn thể cộng đồng.
Logic ở đây là: Tuân theo ý chí chung tức là tuân theo ý chí của chính mình. Theo đó, con người vẫn được tự do bởi họ tự làm chủ chính mình, tuân theo những luật do chính họ tạo ra.
Thậm chí, Rousseau còn cho rằng sự chuyển dịch sang xã hội dân sự đã đem lại cho con người cái ý niệm về công bằng. Nếu như xưa kia con người chỉ hành động theo bản năng thể xác, thì ngày nay cá nhân còn cảm thấy có nghĩa vụ đối với đồng loại. Điều ấy làm tâm hồn con người trở nên cao đẹp hơn.
Phê phán nền dân chủ gián tiếp
Được sinh ra tại Geneva vào thế kỷ 18, Rousseau đã trải qua một tuổi thơ thiếu thốn. Mẹ ông mất vì sinh ra ông (vì vậy mà trong cuốn tự truyện Những lời bộc bạch, Rousseau cảm thán rằng “sự ra đời là bất hạnh đầu tiên trong những bất hạnh của tôi”), còn cha bỏ nhà đi biệt tích vì một cuộc đụng độ.
Mười sáu tuổi, Rousseau đã bỏ nhà lưu lạc lên Paris. Bị giới trung lưu khinh rẻ, sống nương nhờ những người đàn bà giàu có, đi tới đâu gây gổ và tranh cãi tới đó, bị cả giáo hội lẫn chính quyền quấy phá, có lẽ tất cả đều là những trải nghiệm khiến Rousseau nhìn xã hội bằng con mắt sâu cay hơn và mang nặng tính phê phán hơn các triết gia Khai Sáng đương thời.
Có thể cũng nhờ vậy mà Khế ước xã hội đem tới cho người đọc một cái nhìn táo bạo hơn, xung đột hơn, và khuấy động trong lòng họ cái tình cảm của một con người dưới đáy xã hội hơn là một công dân thiện hảo, một kẻ khao khát tự do hơn là một giống loài duy lý.
Không chỉ đả kích nền văn minh, hệ thống giáo dục, xã hội phân cấp và nạn bất bình đẳng, Rousseau còn tấn công trực diện vào mô hình cai trị ở châu Âu buổi bấy giờ.
Biếm họa về Voltaire và Rousseau. Tranh: Worgue.
Thay vì ủng hộ nền quân chủ khai phóng như Voltaire, hoặc cơ chế kiểm soát cân bằng như Montesquieu, Rousseau lại bị hấp dẫn bởi xã hội của các công dân tự do, như thành bang Sparta cổ đại hay Geneva đương thời.
Rousseau bác bỏ hoàn toàn cái gọi là nền dân chủ gián tiếp. Ông viết:
“Cái ý tưởng về chính quyền đại diện đã đến với chúng ta từ thời phong kiến, từ một hệ thống bất công và vô lý đã làm mất giá trị của con người và làm cho cái từ con người bị ô danh.”
Bởi vì, nếu người dân bầu chọn người đại điện để làm luật cho họ, thì họ thật ra vẫn là những kẻ nô lệ.
Theo Rousseau, luật pháp phải dựa trên ý chí chung, được hình thành trong nền dân chủ trực tiếp, nơi tất cả các công dân cùng bỏ phiếu cho các bộ luật. Đó mới là một nền cộng hòa thuần nhất: người dân phải cùng nhau tạo ra luật lệ cho chính họ.
Khế ước xã hội phê phán mô hình nghị viện của Anh rằng “Người dân Anh Quốc nghĩ rằng họ được tự do, nhưng thật ra họ chỉ được tự do mỗi năm năm một lần, sau đó họ trở lại chế độ nô lệ của họ”. Đó là một thứ tự do không có thật, bởi sau khi bầu cử xong thì quyền lực thống trị là ý chí của một nhóm người chứ không phải ý chí chung của toàn dân.
Rousseau cho rằng khi một nhóm trở nên đủ lớn để chi phối các nhóm khác, thì không còn có ý chí chung, và chỉ có ý chí riêng được bày tỏ. Do vậy, để cho ý chí chung được thúc đẩy, xã hội không nên có phe phái hoặc có các phe phái nhưng họ phải có quyền lực tương đương với nhau.
Viễn cảnh dân chủ độc tài
Nhưng một vấn đề khó nhằn đặt ra cho Rousseau là: Lỡ như có một cá nhân nào đó không đồng thuận với ý chí chung thì sao?
Rousseau ngược ngạo đáp rằng: cá nhân này đang hiểu sai về lợi ích chung:
“Bất cứ ai từ chối tuân theo ý chí chung, thì toàn bộ tập thể sẽ buộc anh ta phải tuân theo. Điều này không có ý nghĩa nào khác hơn là anh ta bị buộc phải tự do…”
Tức là kẻ nào chống lại ý chí chung thì kẻ ấy hoặc đang lầm lạc hoặc đang vị kỷ, vì vậy thế lực đại diện cho ý chí chung cần bắt kẻ đó “phải tự do”!
Tuyên bố này của Rousseau được coi là hạt giống của chủ nghĩa độc tài toàn trị.
Nhân danh khái niệm ý chí chung, khế ước xã hội có thể được sử dụng để biện minh cho bất cứ điều gì, và thường được sử dụng bởi các chính trị gia để ủng hộ cái gọi là “nền dân chủ tiên tiến”, chủ nghĩa tập thể, và kiểm soát tập trung.
Đây là lập luận yếu ớt nhất và tréo ngoe nhất, khiến Rousseau phải hứng những đòn chí mạng từ khắp các học giả đang lăm le chỉ trích.
Chẳng hạn, nhà triết học chính trị Benjamin Constant đã tấn công vào niềm tin của Rousseau rằng “tất cả mọi thứ phải nhường chỗ cho ý chí tập thể”, còn nhà khoa học chính trị J. S. Maloy tỏ ra cân nhắc hơn khi nói rằng “từ chỗ chịu trách nhiệm cho những thứ khủng khiếp như là chủ nghĩa Jacobin, giờ đây ở thế kỷ 20, Rousseau còn bị đổ lỗi vì chủ nghĩa Quốc xã và chủ nghĩa Stalin.”
Rõ ràng, không ai có thể phủ nhận ảnh hưởng của Rousseau lên cuộc cách mạng Pháp năm 1789 như một nguồn cảm hứng về mặt tư tưởng, khi Robespierre tuyên bố nhân danh “mục tiêu chung” của các công dân Pháp để tiến hành một cuộc cách mạng đẫm máu.
Di sản
Nhưng xét cho cùng, bên cạnh việc “thổi lửa” cho cuộc Cách mạng Pháp thiết lập một nền độc tài mới, thì Rousseau cũng có những ảnh hưởng tích cực.
Tư tưởng của Rousseau được coi là đã đóng góp ít nhiều cho bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp năm 1791, cũng như bản Hiến pháp của Pháp năm 1793. Có thể thấy điều ấy qua khoản I Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp: “Con người sinh ra tự do, và họ luôn có quyền tự do và bình đẳng”, hoặc ở khoản VI có ghi: “Luật pháp là sự biểu đạt ý chí chung”.
Minh họa cuộc cách mạng Pháp 1789. Tranh: Chưa rõ nguồn.
Về sau, trong cuộc tranh luận lập pháp giữa các vị quốc tổ Mỹ, trong khi Madison và Halmiton muốn thiết lập một nhà nước dân chủ đại diện, thì Thomas Jefferson lại chịu ảnh hưởng lớn từ tư tưởng dân chủ trực tiếp của Rousseau.
Jefferson chú trọng tới sự tham gia của người dân và việc phân chia đất đai theo phương cách bình đẳng của Rousseau sao cho “…đối với của cải, không công dân nào quá giàu có thể mua được người khác, và không công dân nào quá nghèo để bị buộc phải bán chính anh ta.”
Trong số những người dẫn đạo của truyền thống cộng hòa, Rousseau là nhà dân chủ ủng hộ tự do thuần nhất và mạnh mẽ nhất. Một người kêu gọi sự tự trị dân chủ hoàn toàn trực tiếp. Một người không đòi hỏi bất cứ cản trở hay giới hạn nào đối với quyền lực của đa số khi làm luật. Bởi vậy mà nhà triết học người Anh của thế kỷ 20 Partrick Gardiner, khi nhìn lại những di sản này, đã thốt lên: “thật không ngoa khi nói rằng chưa có một nhà lý thuyết chính trị nào đưa ra những yêu sách về tự do cao hơn Rousseau, và nhấn mạnh chúng một cách hùng hồn bằng Rousseau.”

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ai điên ở Trung Nguyên ?





Anh Vũ bị vĩ cuồng, giống vài doanh nhân, có tí xèng thì tưởng mình là bậc thông tuệ, tưởng thiên sứ nhà giời. Hệt ông Trương Gia Bình làm lễ tế trời đất.

Cái điên của anh Vũ, được sự tiếp tay của báo chí lúc xưa. Tôn anh như một nhà tư tưởng. Anh lên núi nhịn ăn để khai minh dân tộc, vẽ ra cái "trục Việt Nam" tào lao bát xế. Còn Trung Nguyên đi xuống, hạnh phúc thì anh đánh mất. 

Giờ thì báo chí khai quật chị Thảo, hay chị Thảo sử dụng báo chí không biết nữa. Tôi cố đọc bài phỏng vấn chị trên tờ báo. Thật là mùi mẫn, thật là đa đoan và bao dung quá đỗi. Như thể chị còn yêu anh Vũ lắm, tiếc nuối nhiều lắm. 

Gạt qua những ngôn tình sướt mướt. Bài báo ẩn chữa những thông điệp rằng anh Vũ lấy chị tay trắng, gia đình chị cấp vốn. Anh Vũ sạt nghiệp, chị vớt anh lên. Anh Vũ giá áo túi cơm, trăm việc ở Trung Nguyên chị đứng sau làm cả. Và nhất, chị nhiều lần muốn đưa anh Vũ đi chữa bệnh. Nghĩa là anh Vũ bị điên. Khác nào nói anh không có năng lực dân sự! 

Bài báo "tình cờ" này xuất hiện khi phán quyết của tòa bất lợi cho chị ở vụ án tranh chấp Trung Nguyên kéo dài nhiều năm nay rồi. Còn vụ ly hôn, là việc riêng của họ.

Có điều, chị Thảo thực là ảo tung chảo. Bài báo tôi đọc tới đâu thấy dụng đích tới đó. Tôi luôn nhìn về phía phụ nữ sau tan vỡ, vì họ sẽ chênh vênh nhiều hơn. Có điều, hạnh phúc tan vỡ đôi khi đâu phải là do đàn ông phụ bạc, là duyên số định thôi. 

Chẳng có người phụ nữ từ tâm nhu mì nào đi phơi trải mất mát của mình giữa chợ đời cả, dù nó có là thật đi nữa. Lại xúng xính là lượt lên hoài niệm về nỗi đau xưa cũ. Thì khác mấy cải lương. 

Đáng tiếc cho một cặp nhân duyên tiền định. Mãi mê đuổi bắt sự vị kỷ của mình, để một thương hiệu Việt lao dốc không phanh. 

Nhưng thôi, đó là sự đi xuống tất yếu khi nó không được vun vén, cũng hệt nhân duyên thôi. Thương hiệu này chết thì thương hiệu khác béo, người chết thì kền kền no. Trong tự nhiên có chuỗi thức ăn thì trong cuộc đời có chuỗi lợi ích. 

Chẳng ai điên trong cuộc đời này cả. Toàn giả điên mà khiêng đồ cổ cả thôi !


Phần nhận xét hiển thị trên trang

MƯỜI PHƯƠNG THỨC ĐỂ THAO TÚNG DƯ LUẬN

(NCTG) Tẩy não, nhồi sọ và ngu dân là những thủ đoạn mà nhiều chính quyền thường dùng trong quá trình thao túng đám đông, nhằm tạo dựng một xã hội chỉ biết nhắm mắt tuân thủ những gì có lợi cho chính quyền. Mục tiêu ấy được thực hiện như thế nào?

Minh họa: Internet
Minh họa: Internet
Nhiều người gán 10 khuyến cáo dưới đây cho giáo sư Noam Chomsky, “người trí tuệ nhất thế giới”, mặc dù tác giả của nó khả năng là Sylvain Timsit, tuy một số ý có thể bắt nguồn từ những tư tưởng trong các tác phẩm của Chomsky.

Đây là một phân tích hết sức chính xác và sâu sắc về những phương pháp và công cụ mà mọi chính quyền hay sử dụng ,thông qua bộ máy truyền thông. Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Tuấn Anh. Trân trọng giới thiệu (NCTG).


Bịt miệng người dân kiểu hiện đại - Minh họa: Internet
Bịt miệng người dân kiểu hiện đại - Minh họa: Internet

1. Cần phải thu hút sự chú ý của dư luận vào những vấn đề thứ yếu, không để họ để tâm vào các vấn đề xã hội thực chất, bằng việc đăng tải những tin tức ít ý nghĩa xã hội nhưng lại đi vào lòng người. Hãy tận dụng các phương tiện truyền thông lá cải, họ sẽ rất trung thành với ta.

2. Nhân dân cần nhìn nhận lãnh đạo như những người cứu rỗi của dân tộc. Để làm như vậy thì, với sự giúp đỡ của truyền thông, hãy chụp lên người dân những báo động giả và những đe dọa không có thật để họ lo lắng, run sợ.

Khi sự lo sợ đã đạt tới đỉnh cao, hay ra tay giải quyết những vấn đề không tồn tại đó! Người dân sẽ biết ơn lãnh đạo và sẵn sàng hy sinh một phần quyền tự do của mình.

3. Người dân luôn phải sẵn sàng cho những tình huống xấu. Muốn vậy, hãy sử dụng các phương tiện tuyên truyền “trắng” (hoàn toàn dưới kiểm soát của chính phủ), “xám” (chỉ một phần được chính phủ kiểm soát) và “đen” (ko ai nghĩ rằng các kênh này lại ủng hộ chính phủ), nhằm tạo nên hình ảnh một chính phủ đang vận dụng mọi sức lực để xua tan những bóng mây đen trên bầu trời Tổ quốc.

Những chính sách thắt lưng buộc bụng cần được áp dụng từ từ để người dân quen dần, rồi đi đến có cảm giác: vẫn còn sống là may lắm rồi!

4. Cần thuyết phục cho người dân tin rằng, những điều tồi tệ hiện nay chỉ mang tính quá độ, tương lai của dân tộc sẽ sáng lạn hơn nhiều. Không cho đời bạn thì cho đời con, đời cháu bạn. Con người ta thường dễ tin mà, hàng trăm năm nay họ sống trong tâm thế “hy sinh đời bố củng cố đời con!”.

5. Cần làm cho người dân bớt suy nghĩ, bớt đi tính phản biện, bớt thói quen phân tích để tìm mối quan hệ nhân quả. Để đạt được điều đó, lãnh đạo cần có những thông điệp ngắn gọn, dễ hiểu kiểu bát cơm quả trứng.

Như thế, người nghe sẽ làm quen với sự hời hợt, trở nên ngây thơ, cả tin hơn, và sẵn sàng tin tất cả những gì truyền thông mang đến cho họ.

6. Tận dụng mọi cơ hội để tác động tới tình cảm của người dân, tránh để họ suy nghĩ logic. Hãy để người dân bày tỏ tình cảm, bởi lẽ tình cảm dễ bị thao túng hơn nhiều so với lập luận.

7. Cần ngu dân tới mức tối đa, vì làm được như vậy sẽ khiến họ không có động lực đạt tới những điều phức tạp, cao siêu (như xây dựng một xã hội dân sự). Hãy đơn giản hóa, tham nhũng hóa hệ thống giáo dục. Một hệ thống trường sở như vậy là công cụ lý tưởng cho thao túng dư luận!

8. Cần ngăn chặn ko cho người dân tiếp cận với các nguồn tin đầy đủ, khách quan. Để như vậy, cần đầu tư, ủng hộ cho các kênh truyền thông một chiều và tiêu diệt các kênh đối lập.

9. Ưu tiên tạo dựng và khuyếch chương tính bầy đàn! Cần tạo ra cảm giác bất lực, kém cỏi trong từng cá nhân, để họ tự nguyện (hoặc bắt buộc phải) phục tùng “tập thể”. Lãnh đạo, kiểm soát và chi phối một bầy đàn thiếu tính chất cá nhân sẽ đơn giản hơn rất nhiều.

10. Làm tất cả để nắm bắt được người dân. Để như vậy hãy dùng các biện pháp, công khai và bí mật, để biết được sở thích, quan điểm chính trị, tôn giáo, hành xử, v.v. tóm lại là toàn bộ tâm lý của họ.

Cố làm sao để hiểu họ hơn chính bản thân họ hiểu họ. Hãy tận dụng những thành quả mới nhất của các môn khoa học xã hội (xã hội học, tâm lý học, v.v...) để đạt được mục đích này, nhưng cần tiến hành một cách bí mật nhất có thể.
Nguyễn Tuấn Anh chuyển ngữ từ bản tiếng Hungary


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2018

California cảnh báo nguy cơ chất độc gây chết người có trong cafe


Chất Acrylamide
Chất Acrylamide, có trong cafe được chế biến ở nhiệt độ quá cao, có nguy cơ gây ra ung thư. (Ảnh: Shutterstock)
Một thẩm phán bang California cho biết, các cửa hàng cafe tại California, bao gồm Starbucks và các điểm bán cafe tự động, cần phải dán nhãn cảnh báo nguy cơ gây ung thư, bởi vì chất hóa học Acrylamide có thể có trong cafe, theo AP.
Thẩm phán Tòa thượng thẩm Elihu Berle cho biết, quyết định được đưa ra sau khi các nhà bán lẻ cafe đã thất bại trong việc chứng minh mối đe dọa từ chất Acrylamide là không đáng kể, theo AP.
Hội đồng Giáo dục và Nghiên cứu Độc dược (The Council for Education and Research on Toxics), một tổ chức phi lợi nhuận, đã kiện Starbucks và khoảng 90 công ty khác, bao gồm các cửa hàng tạp hóa và các cửa hàng bán lẻ – theo một đạo luật của tiểu bang – và tổ chức này yêu cầu cảnh báo trên diện rộng về những chất hóa học có thể là nguyên nhân gây ra ung thư. Một trong những chất đó là Acrylamide, một chất trong cafe, có khả năng gây ung thư.
Acrylamide là một chất hóa học mà California đã liệt kê vào hạng mục “là nguyên nhân gây ung thư”. Tuy nhiên, theo tổ chức này, các hãng và cửa hàng bán lẻ đã không dán các cảnh báo nguy cơ về Acrylamide, theo Business Insider.
Các công ty có thể phải trả tiền phạt, nếu như họ không cảnh báo khách hàng về nguy cơ chết người có trong cafe mà họ bán ra.
Chất Acrylamide
Cafe là thức uống yêu thích của nhiều người. (Ảnh: Andrew Burton / Getty Images)
Chất Acrylamide và nguy cơ ung thư
Chất Acrylamide được các nhà khoa học Thụy Điển phát hiện vào năm 2002, theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ.
Acrylamide tự nhiên hình thành khi thực vật và ngũ cốc được nấu ở nhiệt độ cao. Chất này được tạo ra trong quá trình được gọi là phản ứng Maillard (là phản ứng khá phổ biến và có vai trò quan trọng trong sản xuất thực phẩm), trong nhiệt độ cao, gây biến đổi đường và axit amin, trong phương pháp thay đổi hương vị thực phẩm và có xu hướng biến thực phẩm thành màu nâu, như khoai tây, bánh mì, bánh quy hoặc cafe. Nếu các loại thực phẩm này được làm nóng quá mức, thì sẽ tạo nên Acrylamide. Mặc dù vậy, hầu hết các bằng chứng khoa học cũng không đưa ra được lý do thuyết phục để tin rằng Acrylamide trong cafe hoặc các thực phẩm khác có thể gây nguy hiểm cho con người.
Dữ liệu nghiên cứu cho thấy với một lượng lớn, Acrylamide là chất gây ung thư cho một vài loài động vật. Thí nghiệm trên động vật bằng việc đưa chất Acrylamide vào nước uống của chuột, chúng đã bị ung thư sau khi uống nước nhiễm Acrylamide, mặc dù liều lượng mà sử dụng cho những nghiên cứu đó chỉ là rất rất nhỏ, so với chế độ ăn uống thông thường của con người, theo Business Insider.
Chất Acrylamide
Quá trình rang cafe tạo ra Acrylamide. (Ảnh: Christopher Jue / Getty Images)
Theo Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu, “có thể chất Acrylamide đã có trong thực phẩm kể từ lúc bắt đầu nấu”, bởi vì quá trình chiên, nướng, rang đều có khả năng tạo ra Acrylamide (đối với trường hợp thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật, kể cả ngũ cốc, tuy nhiên không nhất định là với thịt hoặc cá).
Nếu hít phải một lượng lớn Acrylamide phát sinh, cũng có thể gây nguy hiểm cho con người.
Acrylamide là một trong nhiều chất hóa học được sản xuất trong công nghiệp thuốc lá. Tuy nhiên, chất này phát sinh ở mức độ lớn hơn rất nhiều lần, so với khi pha chế cafe hoặc nướng bánh mì. Trong các loại thực phẩm được nấu chín, Acrylamide là không thể tránh khỏi. Chất này hiện diện trong khoảng 1/3 lượng Calories mà người Mỹ hoặc người châu Âu tiêu thụ.
Con người chuyển hóa chất nhiều hơn động vật, và trước đó, các nghiên cứu cũng không tìm thấy bất cứ nguy cơ nào liên kết giữa việc tiêu thụ thực phẩm chứa Acrylamide và các loại ung thư, và liều lượng của một chất hóa học cũng là yếu tố quan trọng để xác định chất đó có lợi hay có hại, cũng giống như chất Cafein được tìm thấy trong cafe có thể gây tử vong nếu liều lượng cao.
Tuy nhiên, với những dữ liệu mà Hội đồng Giáo dục và Nghiên cứu Độc dược cho thấy thì những người tiêu thụ cafe nhiều có nguy cơ mắc các bệnh như gan, tim, tiểu đường, đái tháo đường tuýp 2, và trầm cảm, và đặc biệt quan trọng là nguy cơ ung thư.
An Hòa / Daikynguyen


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đại gia kín tiếng Xuân Trường: Ăn chay trường, làm siêu dự án


Có 2 điều làm tôi không có cảm tình với đại gia này. Một là thành công của ông gắn liền với triều đại Nguyễn Tấn Dũng nổi tiếng tham nhũng; không hiểu khi ông Dũng bị xử lý thì các siêu dự án Xuân Trường có bị điều tra không ? Hai là chỉ tập trung kinh doanh chùa chiền, làm giầu từ xây chùa. Có một câu rất nổi tiếng:Ở đâu có nhiều chùa thì ở đó dân trí thấp, kinh tế không phát triển.Đến Bái Đính - Tràng An, có một điều làm tôi phẫn nộ làm hàng nghìn héc ta rừng, đất tự nhiên tuyệt đẹp của quốc gia bị khoanh lại làm sở hữu riêng của Xuân Trường, cấm bất cứ ai đi vào; trái ngược hoàn toàn với nguyên tắc phổ biến trên thế giới coi núi rừng là của chung, bất cứ người dân nào cũng có quyền lên đó thể dục thể thao thư giãn.

26/03/2018  - Số phận dự án xây dựng hạ tầng khu du lịch Hồ Núi Cốc, tỉnh Thái Nguyên trong những ngày gần đây nhận được sự quan tâm đặc biệt của dư luận. Nhiều người rất tò mò về danh tính ông chủ của siêu dự án này - đại gia Xuân Trường.


Đại gia Xuân Trường, người nổi tiếng với những dự án nghìn tỷ.
Vị đại gia kín tiếng
Đại gia Xuân Trường tên thật là Nguyễn Văn Trường, sinh năm 1963, tại Hoa Lư, Ninh Bình. Ông Trường là một doanh nhân nổi tiếng, nằm trong nhóm doanh nhân đạt danh hiệu "Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu" và Cúp Vàng hội nhập kinh tế quốc tế.


Ông Trường là Tổng Giám đốc Công ty Xây dựng Xuân Trường. Ngoài ra, ông là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Du lịch Hoa Lư, giám đốc khách sạn Hoa Lư. Ông Trường còn tham gia vào nhiều hoạt động của giới doanh nhân khác như: ủy viên Ban Chấp hành Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) khóa V.

Tên tuổi của ông còn gắn liền với những dự án nổi tiếng như khu du lịch Hồ Núi Cốc, khu Du lịch Tràng An - chùa Bái Đính, khu du lịch Tam Chúc - Ba Sao, khu du lịch Cái Tráp, những ngôi chùa trên quần đảo Trường Sa,...

Dù là doanh nhân lừng lẫy, nhưng tỷ phú Xuân Trường vốn là người kín tiếng, giản dị và “ăn chay trường” từ nhiều năm nay. Ông hiếm khi xuất hiện trên các phương tiện truyền thông. Chính vì thế, thông tin về ông trên báo chí cũng vô cùng ít ỏi.

Một thông tin hiếm hoi về vị tỷ phú này từng được chia sẻ trên báo giới là ông rất quyết liệt trong công việc, kể cả bạn bè anh cũng không thỏa hiệp.

Ông Trường từng tâm sự: “Có người đã đúc kết rất đúng rằng, đại gia thì cũng chỉ ăn được 3 bữa cơm một ngày thôi, cái khác biệt biệt là họ sẽ để lại cái gì cho đời. Và cái để lại đó, nếu nó thực sự đáng quý, thì cũng chẳng cần khoa trương, nó vẫn quý”. Có lẽ vì suy nghĩ đó nên doanh nhân này đã mạnh tay chi rất nhiều tiền để xây dựng các công trình nổi tiếng, để đời như là một cách để “ghi danh” cho mình.

Ông chủ hàng loạt dự án du lịch tâm linh nổi tiếng

Đại gia Xuân Trường là người thành công với nhiều dự án du lịch tâm linh trên địa bàn cả nước, điển hình như: Quần thể khu du lịch Tràng An - Chùa Bái Đính, khu du lịch Tam Chúc và đình đám gần đây nhất là dự án xây dựng khu du lịch Hồ Núi Cốc.


Chùa Bái Đính được Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt quan trọng và UNESCO công nhận là di sản thế giới kép từ năm 2014.

Tên tuổi của tỷ phú Xuân Trường được biết nhiều khi ông mạnh tay đầu tư cả nghìn tỷ đồng vào khu du lịch Tràng An - chùa Bái Đính ở cố đô Hoa Lư (Ninh Bình) vào năm 2006. Nhiều thông tin cho hay, ông Trường đã bỏ ra 100.000 USD để đích thân đưa ngọc xá lợi từ Ấn Độ về ngôi chùa này.

Khu du lịch Tràng An - chùa Bái Đính nổi tiếng với rất nhiều kỷ lục Việt Nam, Đông Nam Á và thậm chí là châu Á. Đây là ngôi chùa có tượng Phật bằng đồng dát vàng lớn nhất châu Á, tượng Phật Di Lặc bằng đồng lớn nhất Đông Nam Á, có chuông đồng 36 tấn lớn nhất Việt Nam, có 500 tượng La Hán, có giếng ngọc lớn nhất, có số cây bồ đề nhiều nhất Việt Nam,...

Ngoài khu Du lịch Tràng An chùa Bái Đính, vị đại gia này cũng đã mạnh tay chi rất nhiều tiền để xây dựng các công trình "để đời" khác. 



Tượng phật ở khu du lịch Tam Chúc

Năm 2006, tỉnh Hà Nam phê duyệt quy hoạch Khu du lịch Tam Chúc - Ba Sao với tổng vốn đầu tư gần 11.000 tỷ đồng. Chủ đầu tư dự án chính là Công ty Xây dựng Xuân Trường.

Với diện tích lên đến 5.1000ha, khu du lịch bao gồm các khu chức năng như khu lòng hồ Tam Chúc, khu văn hóa tâm linh chùa Ba Sao, khu trung tâm đón tiếp nghỉ dưỡng, khu sân golf 36 lỗ; khu cây xanh và dịch vụ ven hồ; khu bảo tồn di tích và cảnh quan thiên nhiên. Khu du lịch này được kỳ vọng sẽ là gạch nối giữa khu du lịch Chùa Hương với quần thể du lịch Vân Long - Tam Cốc - Bích Động - Tràng An - Bái Đính tạo thành một quần thể các khu du lịch sinh thái vùng ngập nước. Đây cũng chính là ba điểm trong trục du lịch tâm linh của khu vực phía Bắc.

Cuối năm 2015, Công ty Xây dựng Xuân Trường có tờ trình đề nghị thành phố Hải Phòng chấp thuận chủ trương, cho doanh nghiệp đầu tư dự án Khu du lịch văn hóa tâm linh tổng hợp đảo Cái Tráp, với số vốn đầu tư dự kiến 9,8 nghìn tỷ đồng.

Tuy nhiên, dự án đình đám gần đây nhất của tỷ phú Xuân Trường phải kể đến là dự án xây dựng khu du lịch tâm linh Hồ Núi Cốc, Thái Nguyên với số vốn dự kiến kỷ lục là 15.000 tỷ đồng. Điểm đặc biệt của siêu dự án này là kế hoạch xây Tháp Phật giáo lớn nhất thế giới với chiều cao 150m, nền móng tháp có chiều rộng 10.000m2, có thể chứa được từ 5.000-10.000 người trong cùng một thời điểm tại.


Mô hình chùa Tháp được xây dựng tại tỉnh Thái Nguyên sẽ là một Tháp phật giáo lớn nhất thế giới.

Trong lĩnh vực khách sạn - du lịch, đại gia Xuân Trường đã đầu tư các khu du lịch và dự án như: hồ Đồng Chương, tượng đài Đinh Tiên Hoàng Đế, công viên văn hóa Tràng An. Ông cũng chi 200 tỷ đồng để hoàn thiện nhà khách 5 sao trên diện tích 20.000m2, theo phong cách Á Đông cổ điển, với nguyên vật liệu chính là các loại gỗ quý hiếm như trắc, cẩm lai, gỗ đỏ.

Hạnh Nguyên (Tổng hợp)
http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/doanh-nhan/dai-gia-kin-tieng-xuan-truong-an-chay-truong-lam-sieu-du-an-437172.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sách: Một Vành Đai, Một Con Đường (OBOR) – Chiến Lược của Trung Quốc và Hàm Ý Chính Sách đối với Việt Nam


OBOR
Tên sách: Một vành đai, một con đường (OBOR) – Chiến lược của Trung Quốc và Hàm ý chính sách đối với Việt Nam.
Tác giả: Phạm Sĩ Thành.
Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Thế Giới.
Ngôn ngữ: Tiếng Việt.
Lời giới thiệu:
Là ý tưởng do Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đề xuất vào mùa Thu năm 2013, sáng kiến về Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI và Hành lang kinh tế con đường tơ lụa (gọi tắt là Một vành đai, Một con đường – One Belt, One Road – OBOR) đã nhanh chóng trở thành một quyết sách kinh tế chính trị và đối ngoại quan trọng của Trung Quốc trong nhiệm kỳ lãnh đạo của thế hệ lãnh đạo thứ năm. Sáng kiến này sau đó được nâng tầm trở thành một chiến lược và nhận được sự chú ý của nhiều quốc gia trên thế giới. OBOR không chỉ là chiến lược có tác động trực tiếp đến sự phát triển của Trung Quốc mà còn có thể tạo ra những thay đổi quan trọng về tình hình phát triển kinh tế của các châu lục và tái định dạng cấu trúc địa – kinh tế, địa – chính trị, địa – chiến lược hiện thời.
Trong lộ trình triển khai OBOR từ sáng kiến thành chiến lược quốc gia, Trung Quốc xác định năm 2013 là năm đề xuất ý tưởng, năm 2014 là năm phổ biến đến các cấp trong nước, năm 2015 là năm lên kế hoạch hành động và năm 2016 là năm thực thi chính sách. Đến tháng 3/2016, Trung Quốc đã cùng 35 quốc gia và vùng lãnh thổ ký biên bản ghi nhớ hợp tác hoặc thoả thuận hợp tác về OBOR với hơn 20 quốc gia đưa ra bản tuyên bố chung có nhắc đến hợp tác chiến lược OBOR.
e0ea7
Để có sự chuẩn bị cho những đề xuất hợp tác OBOR từ phía Trung Quốc, cuốn sách tập trung nghiên cứu các vấn đề cốt lõi của chiến lược này nhằm cung cấp những thông tin cơ bản về OBOR. Những nội dung chính bao gồm tổng quan về OBOR từ khi là một sáng kiến đến khi trở thành chiến lược; các cơ chế triển khai OBOR; tác động đối với các quốc gia, những thuận lợi và thách thức đi kèm khi triển khai các sự án trong khung khổ hợp tác này; cuối cùng, cuốn sách đưa ra các khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam nhằm hợp tác và tận dụng được các lợi ích từ OBOR cũng như lưu ý đến các rủi ro tiềm tàng đối với kinh tế và môi trường trong nước.
Mục lục cuốn sách:
Lời giới thiệu
Giới thiệu về tổ chức nghiên cứu
Lời cảm ơn
Tóm tắt nội dung
CHƯƠNG 1. Một vành đai, Một con đường: Từ sáng kiến đến chiến lược.
CHƯƠNG 2. Cơ chế triển khai chiến lược Một vành đai, Một con đường (OBOR).
CHƯƠNG 3. Thực tiễn triển khai chiến lược OBOR và phản ứng của các quốc gia.
CHƯƠNG 4. Tác động của chiến lược OBOR đối với các quốc gia bên ngoài.
CHƯƠNG 5. Hàm ý chính sách đối với Việt Nam.
Nơi lưu trữ: Sách được bán trực tiếp bởi tác giả Phạm Sỹ Thành.
Bùi Ngọc Hà giới thiệu.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trump đánh Trung Cộng chưa đúng chỗ

Từ thời Adam Smith (1776), các nhà kinh tế đã chứng minh thương mại làm lợi cho những người tham gia; tự cung tự cấp gây thiệt hại cho cả thế giới. Trải qua 3,5 thế kỷ, người ta càng ngày càng thấy đúng. Các nhà kinh tế Mỹ đã chiêm nghiệm thực tế từ một thế kỷ trước và đã viết thành sách giáo khoa đem ra dạy cả thế giới! Nhưng trên thực tế duy nhất người Mỹ không muốn thế giới hợp tác, vì nguyên nhân cơ bản là cần chia cắt các nước để dễ thống trị. Hoàng đế Trung Hoa trước đây thường nói: Quan võ giỏi đến mấy, quan văn mưu sâu đến mấy, ta đều không sợ; ta chỉ sợ quan võ, quan văn thân thiết, đoàn kết với nhau. Mỹ cũng vậy, cho các nước hợp tác kinh tế, thương mại, văn hóa sẽ làm cho chúng đoàn kết hơn khi cần chống Mỹ. Chính vì sự phản đối của Mỹ mà trước năm 1995, thương mại thế giới không phát triển được. Trong lịch sử, Mỹ chỉ để một khối kinh tế duy nhất phát triển; đó là khối EU, vì Mỹ cần EU đoàn kết thống nhất một lòng một dạ theo Mỹ để chống Liên Xô (hiện nay là chống Nga). Tuy nhiên, để khối này không vượt mặt Mỹ, Mỹ vừa ngăn cản không cho tự trang bị vũ khí hạt nhân và lực lượng quân đội đủ mạnh để bảo vệ mình, do đó luôn luôn cần cái ô che của Mỹ; mặt khác vừa thổi phồng mối đe dọa từ Liên Xô - Nga, làm các nước này khiếp đảm, luôn luôn vâng lời Mỹ.
Trump đánh Trung Cộng chưa đúng chỗ
Ngô Nhân Dụng - Trong khi đó, Trung Cộng có thể chọn những mục tiêu tấn công khi muốn đánh trả đũa chính phủ Mỹ. Đánh thuế nhập trên thịt bò, trên đậu nành, bắp, hạt hạnh nhân, vân vân, sẽ ảnh hưởng tới khối cử tri ủng hộ Tổng Thống Trump ở vùng Trung Tây. Bỏ không mua máy bay Boeing, mua của AirBus, sẽ làm chấn động Wall Street... Sự thật là chiến tranh mậu dịch có hại, cho cả hai bên lâm chiến và những nước chung quanh; và đánh rất khó thắng, có thể nói bên nào cũng thiệt hại nhiều hơn lợi. Đó là bài học mà nước Mỹ đã chiêm nghiệm một thế kỷ trước đây, và đã đem ra dạy cả thế giới! 
Image result for tổng thống Mỹ chiến tranh mậu dịch với chính phủ Cộng Sản Trung Quốc
Tổng Thống Trump nói một câu để đời: “Chiến tranh mậu dịch tốt, và đánh rất dễ thắng.” (Trade wars are good, and they are easy to win). Câu này sẽ được ghi vào lịch sử môn kinh tế học, khi người ta bàn về mậu dịch tự do. Bởi vì hầu hết những người nghiên cứu kinh tế nghĩ ngược lại.



Ông tổng thống Mỹ đã cho thổi kèn bắt đầu cuộc chiến tranh mậu dịch với chính phủ Cộng Sản Trung Quốc, và Bắc Kinh đã đáp lễ bằng những những tiếng kèn thúc quân của họ. Chính phủ Mỹ sẽ đánh thuế trên $60 tỷ đô la hàng nhập cảng từ nước Tàu. Trung Cộng dọa trả đũa trên hàng mua từ nước Mỹ, khoảng $6 tỷ đô la. Ai biết đọc con số cũng biết $6 tỷ chỉ lớn bằng một phần mười của $60 tỷ!

Ngay trong tiếng kèn thúc quân mở đầu trận đánh, Trung Cộng đã có vẻ “nhân nhượng!”

Trong thực tế, Trung Cộng chỉ “có vẻ nhân nhượng” mà thôi. Vì đánh $6 tỷ mà đúng tử huyệt thì cũng đau không thua gì $60 tỷ không đúng chỗ hiểm.
Để thấy những phát súng của chính phủ Mỹ đánh trên hàng nhập từ nước Tàu có thể “trật tiêu điểm” như thế nào, chúng ta thử coi một món hàng Tàu có thể bị Mỹ đánh thuế, là những dụng cụ thông tin điện tử. Chẳng hạn cái máy điện thoại di động gọi là “tinh khôn – smart” của hãng Apple: Cái iPhone.

Viện nghiên cứu ADB Institute đã phân tích giá thành của một cái iPhone; những cái máy được “xuất cảng” từ Trung Quốc qua Mỹ loại rẻ, giá bán lẻ khoảng 500 đô la. Những máy iPhone này lắp ráp ở thị trấn Ðồng Quan (Dongguan) tỉnh Quảng Đông, trong một nhà máy do công ty Foxconn làm chủ. Công ty này là của Đài Loan. Khi chiếc iPhone được đưa từ nhà máy qua hải cảng Quảng Châu để chở qua Mỹ, trị giá của nó ghi trên sổ sách hải quan là 179 đô la Mỹ – chứ không phải 500.

Nhưng trong giá trị 179 đô la này, lục địa Trung Hoa không được hưởng hết. Phần lớn những thứ “trị giá” trong chiếc điện thoại là các bộ phận điện tử mua từ nước khác, đem vô Trung Quốc. Những bộ phận này sản xuất từ Nhật Bản, Nam Hàn, Malaysia, và từ nước Mỹ. Trong trị giá 179 đô la Mỹ này, chỉ có 7 đô la được trả cho người Tàu lục địa, đó là công lắp ráp, cộng với các thứ thuế mà công ty Foxconn phải trả cho chính phủ Trung Cộng. Tất nhiên công ty Foxconn ở Đài Loan không qua lục địa làm việc phước thiện. Họ cũng phải ăn lời trong số 7 đô la đó. Nếu họ chỉ ăn 1 đô la mỗi cái phôn thì dân lục địa chỉ còn hưởng 6 trong số 7 đô la kể trên.

Còn 172 đô la đã được trả cho những nước khác. Nhưng ngay trong các thứ có trị giá 172 đô la mà Nhật Bản, Nam Hàn, Malaysia, vân vân, được chia phần, các nước đó cũng không hưởng hết. Bởi vì họ được công ty Apple đặt làm các bộ phận này; họ cũng vẫn phải trả tiền bản quyền, còn gọi là “quyền sở hữu trí tuệ” cho công ty Apple ở nước Mỹ!

Tóm lại, khi nước Mỹ “nhập” một cái iPhone từ Quảng Đông về Los Angeles chẳng hạn, trong sổ sách ghi rằng “Mỹ nhập cảng 179 đô la hàng từ nước Tàu;” nhưng trong thực tế nước Tàu hưởng chỉ có 6 đến 7 đô la mà thôi. Có lúc những cái điện thoại iPhone chiếm 8 phần trăm số hàng Mỹ “nhập cảng” từ Trung Quốc. Thay vì tính giá trị đúng là 6 đô la người ta coi nó có giá trị 179 đô la, khiến cho trị giá hàng Tàu nhập vào Mỹ lên rất cao – trong khi công ty Apple hưởng gần hết! Tất nhiên trong số 500 đô la giá bán, Apple phải chia phần cho các cửa hàng bán lẻ, chứ không thể một mình ăn hết! Nếu bây giờ chính phủ Mỹ đánh thuế nhập từ cuộc Tàu cao hơn, Apple chỉ việc chuyển công việc lắp ráp qua xứ khác, nhiều nơi đồng lương công nhân hiện còn rẻ hơn bên Tàu.

Cho nên chính phủ Mỹ có thể “đánh lầm mục tiêu” khi tăng thuế quan trên nhiều món nhập cảng từ nước Tàu. Quả đạn “tăng thuế” này không làm Trung Cộng đau bao nhiêu, nhưng các nước chung quanh đang lo bị lãnh đạn. Thứ Bảy tuần trước, tôi tới Thái Lan, mở tờ báo ra đọc bản tin ông bộ trưởng thương mại nước Thái họp báo tuyên bố hàng xuất cảng của Thái Lan trong năm nay sẽ giảm, vì chính phủ Mỹ đánh thuế trên hàng Trung Quốc! Nếu nước Tàu phải giảm số bán hàng điện tử và thông tin qua Mỹ vì thuế tăng, thì họ cũng sẽ bớt không mua các bộ phận do các nhà máy ở Thái Lan cung cấp! Ông bộ trưởng Thái Lan phải họp báo để trấn an dân chúng trước mối nguy hiểm “Mỹ đánh Trung Quốc” trong trận chiến mậu dịch! Các chính phủ Nhật, Nam Hàn, Mã Lai, Đài Loan cũng đang chuẩn bị đối phó với cuộc chiến mậu dịch Mỹ-Trung! Không biết các ông bà đang cai trị Việt Nam có tính toán gì không, hay còn quá bận rộn lo rút các giàn khoan dầu ra khỏi những chỗ mà Trung Cộng xua đuổi!

Có thể nói rằng khi mở màn cuộc chiến tranh mậu dịch với Trung Cộng chính phủ Mỹ đã chọn lầm vũ khí, là tăng thuế nhập cảng trên hàng Tàu. Và với thứ vũ khí đó, lúc đầu họ đã chọn lầm mục tiêu để phát pháo, là thép và nhôm.

Phát súng mở đầu là lời đe dọa đánh thuế nhập cảng trên thép và nhôm. Như đã trình bày trong mục này các kỳ trước, đánh thuế đó sẽ gây thiệt hại cho các nước đồng minh của Mỹ, chứ không đánh trúng nước Tàu. Vì thế, chính phủ Mỹ đã cho “rút quân,” cho Canada và Mexico được miễn, sau đó lại cho các nước Châu Âu được thoát không bị đánh. Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, chắc sẽ được miễn nữa. Trong thực tế, số thép Mỹ nhập cảng của Trung Quốc còn ít hơn số mua từ Đài Loan hay Việt Nam!

Khi nêu ý định tấn công vào thép và nhôm của Trung Cộng, chính phủ Mỹ đã tấn công vào mấy thành trì mà đối phương đang muốn bỏ! Nếu vì bị đánh thuế mà Trung Cộng ngưng không bán gần một triệu tấn thép qua Mỹ nữa, thì con số giảm đó không đáng bao nhiêu so với số sản xuất mà chính phủ Trung Cộng đang muốn tự cắt bớt, hàng trăm triệu tấn thép năm năm sắp tới!

Tấn công vào thép và nhôm là đáng vào những cái thành sắp bị bỏ trống. Vì Cộng Sản Trung Quốc đã muốn chuyển hướng nền kinh tế, ít nhất cũng từ năm, bảy năm qua, trước khi Tập Cận Bình lên nắm quyền. Họ đã học được bài học về những chiếc iPhone!

Khi bắt đầu học làm kinh tế theo lối tư bản, Trung Cộng đã tập trung sức vào những hàng rẻ tiền để xuất cảng như quần áo, đồ chơi; và các ngành công nghiệp nặng như thép, nhôm. Tiến lên một bước, họ “sản xuất” những hàng “cao cấp” hơn, như đồ điện tử. Nhưng ngay cả khi bán iPhone, nước Tàu cũng chỉ được hưởng có 6 trong số 179 đô la “xuất cảng” và 500 đô la giá bán lẻ. Thấy bài học đó, Cộng Sản Trung Quốc đã chuyển hướng. Họ phát triển sản xuất trong những ngành mang lại giá trị cao hơn công việc lắp ráp những thứ như iPhone.

Trung Cộng đã chuyển hướng từ hàng chục năm nay. Nhiều ngành sản xuất nhắm vào hàng tiêu thụ, từ máy móc dùng trong nhà cho đến đồ điện tử tự sáng chế. Nhiều ngành dịch vụ mới ra đời, từ bán lẻ trên mạng cho tới gửi tiền, chuyển tiền qua điện thoại. Đó là những ngành “công nghiệp mới” trong kinh tế Trung Quốc, dù đã là “cũ” đối với Mỹ hay Châu Âu. Nhưng Trung Cộng đã dứt khoát chuyển hướng kinh tế: Đổi các món xuất cảng, giảm bớt phần xuất cảng, nhắm gia tăng tiêu thụ trong nội địa.

Trung Cộng đang xuất cảng nhiều món hàng có giá trị hơn việc lắp ráp iPhone. Họ đang bán đường xe lửa cao tốc (CRRC), bán các hệ thống truyền thông (Huawei), máy bay không người lái (DJI) và “pin điện” tối tân (BYD). Những món đó thường không bán qua Mỹ, cho nên khó tăng thuế nhập cảng!

Cho nên tấn công vào ngành Trung Cộng xuất cảng qua Mỹ bây giờ là đánh vào những chỗ mà quân địch cũng đang muốn rút. Năm 2005, hàng xuất cảng còn chiếm 35% Tổng Sản Lượng Nội Địa (GDP) Trung Quốc. Lúc đó, đánh vào hàng xuất cảng sẽ làm kinh tế nước Tàu lao đao. Ngày nay, xuất cảng chỉ còn chiếm 18% GDP nước Tàu.

Trong khi đó, Trung Cộng có thể chọn những mục tiêu tấn công khi muốn đánh trả đũa chính phủ Mỹ. Đánh thuế nhập trên thịt bò, trên đậu nành, bắp, hạt hạnh nhân, vân vân, sẽ ảnh hưởng tới khối cử tri ủng hộ Tổng Thống Trump ở vùng Trung Tây. Bỏ không mua máy bay Boeing, mua của AirBus, sẽ làm chấn động Wall Street. Trung Cộng được lợi thế vì chọn mục tiêu dễ dàng, mà đánh vào đâu cũng biết trước gây ảnh hưởng rõ rệt. Hiện nay Bắc Kinh chưa nói chi tới đậu nành cũng như máy bay Boeing. Họ còn để đó chờ lúc nào cần leo thang sẽ leo. Không biết chính phủ Mỹ đang có kế hoạch nào để đối phó.

Sự thật là chiến tranh mậu dịch có hại, cho cả hai bên lâm chiến và những nước chung quanh; và đánh rất khó thắng, có thể nói bên nào cũng thiệt hại nhiều hơn lợi. Đó là bài học mà nước Mỹ đã chiêm nghiệm một thế kỷ trước đây, và đã đem ra dạy cả thế giới! 

Ngô Nhân Dụng
https://www.nguoi-viet.com/binh-luan/trump-danh-trung-cong-chua-dung-cho/

Phần nhận xét hiển thị trên trang