Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 24 tháng 2, 2018

Các mâu thuẫn hay thế tiến thoái lưỡng nan trong kinh tế và phát triển ở Việt Nam


Hình minh họa
Tác giả tiếp cận các vấn đề của Việt Nam bằng cách phân tích các mâu thuẫn hay những thế lưỡng nan mà chính quyền Việt Nam phải đối phó trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế đất nước. Cách thức chính quyền đối phó với các thế lưỡng nan đến lượt chúng lại dẫn chính quyền vào những thế lưỡng nan mới – lưỡng nan trong giải quyết các thế lưỡng nan hay mâu thuẫn trong giải quyết các mâu thuẫn. Điều đó cho thấy hoặc chính quyền chưa nhận ra các mâu thuẫn để có giải pháp phù hợp, hoặc nhận ra nhưng chưa thành công trong việc giải quyết các mâu thuẫn. Phần cuối bài là một vài gợi ý giải quyết vấn đề.
Lưỡng nan tổng quát giữa tăng trưởng kinh tế và tham nhũng:
Tăng trưởng kinh tế để tăng uy tín, củng cố chính danh nhưng tham nhũng phát sinh lại làm sụt giảm uy tín và hủy hoại tính chính danh của chính quyền.

Để duy trì quyền lực lãnh đạo khả dĩ được chấp nhận một cách chắc chắn, chính quyền cộng sản Việt Nam đã nhận thấy từ sau Đổi mới - 1986, tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quyết định. “Tăng trưởng” luôn là mục tiêu của hết đời tổng bí thư, thủ tướng này đến đời tổng bí thư, thủ tướng khác. Điều đó cũng hợp lý vì theo kinh nghiệm của các nền kinh tế đi trước, đặc biệt là các nước như Hàn Quốc, Đài loan và gần đây hơn là Trung Quốc. Tăng trưởng cao và liên tục luôn là mục tiêu kinh tế được cho là sẽ đưa đất nước vượt lên từ thu nhập thấp sang công nghiệp và hiện đại phát triển. Từ đó, các giải pháp duy trì tăng trưởng kinh tế, có thể nói là bằng mọi giá luôn được áp dụng. Tuy nhiên, chính sách tăng trưởng cao và liên tục dẫn đến sự trả giá ít nhất về hai mặt. Đó là tài nguyên cạn kiệt - môi trường bị hủy hoại, và tham nhũng không thể kiểm soát được. Xem xét các giải pháp để đạt mục tiêu tăng trưởng nêu trên, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến hệ lụy tham nhũng trong hoàn cảnh thể chế Việt Nam. Chính tham nhũng nảy sinh từ tăng trưởng làm sụt giảm tính chính danh và uy tín của chính quyền.

Chúng tôi cho rằng đó chính là mâu thuẫn hay thế lưỡng nan tổng quát giữa tăng trưởng kinh tế và tham nhũng từ trong kinh tế và phát triển ở Việt Nam. Cụ thể là, không thể không tăng trưởng để tăng uy tín, duy trì tính chính danh của đảng lãnh đạo, nhưng tăng trưởng thì phát sinh tham nhũng làm mất uy tín và xoáy mòn tính chính danh của đảng lãnh đạo.

Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày một số các chính sách tăng trưởng kinh tế của nhà nước, nhằm gia tăng uy tín, củng cố tính chính danh nhưng lại gây ra tham nhũng, mà chúng tôi cho rằng nó làm xoáy mòn tính chính danh của nhà nước và đảng cầm quyền. Cụ thể, trong tăng trưởng kinh tế, chúng tôi đề cập lần lượt các chính sách cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước (CPHDNNN), thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI, khai thác tài nguyên khoáng sản quốc gia, và đầu tư công bằng nguồn ngân sách nhà nước đồng thời trình bày “đứa con” tham nhũng bất trị của các chính sách này.

Thứ nhất, chính sách cổ phần hóa DNNN: lưỡng nan tăng trưởng - tham nhũng:

Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhà nước phải liên tục tạo nguồn thu cho đầu tư, nhằm tạo công ăn việc làm, gia tăng tổng sản lượng. Các chính sách như Cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước vừa tăng nguồn thu cho ngân sách để tái đầu tư, vừa thúc đẩy hiệu quả của chính các DNNN để các doanh nghiệp này tác động tích cực vào tăng trưởng và phát triển kinh tế. Vì thế, CPH luôn được xác định là giải pháp nâng cao hiệu quả của DNNN và tạo nguồn cho tăng trưởng. Giải pháp một công đôi việc này tăng cường tính chính danh, vãn hồi uy tín của chính quyền vì sự yếu kém triền miên của DNNN đã làm xoáy mòn lòng tin của dân đối với chính quyền trong quản lý kinh tế, trong khi sự thiếu ngân sách đầu tư làm nhà nước bị động trong việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng.

Tuy nhiên, chính quá trình CPH-DNNN bản thân nó lại là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng. Việc định giá thấp DNNN để bán cổ phần ra công chúng, nhưng thường tạo điều kiện cho “tay trong” mua lại trong điều kiện không minh bạch kéo dài nhiều năm đã biến nhiều tài sản công thành tài sản của các quan chức tham gia cổ phần hóa. Các công ty sân sau được thành lập nhằm hợp thức hóa việc bán rẻ tài sản nhà nước từ các DNNN chuẩn bị CPH và mua đắt tài sản từ các doanh nghiệp sân sau là phổ biến. Việc chuyển đổi quyền sử dụng đất đai của nhà nước trong các DNNN chuyển sang cổ phần là mồi ngon cho tư nhân- thân hữu các quan chức… Vì vậy, một mặt CPH làm cho một số các DNNN hay từng là DNNN năng động và hiệu quả hơn, tạo vốn cho ngân sách đầu tư của nhà nước góp phần vào tăng trưởng kinh tế và vì thế làm tăng uy tín, củng cố tính chính danh. Mặt khác, tham nhũng và sự giàu lên bất chính của các quan chức nhà nước và thân hữu lại khoét sâu sự oán thán của người dân, làm nhà nước mất uy tín và đảng cầm quyền suy yếu tính chính danh. Đây là mâu thuẫn hay thế lưỡng nan thứ nhất của tăng trưởng và tham nhũng.

Thứ hai, chính sách khai thác tài nguyên thiên nhiên: lưỡng nan tăng trưởng kinh tế - tham nhũng và tàn phá môi trường

Tăng trưởng dựa trên khai thác tài nguyên thiên nhiên có sẵn có thể nói là biện pháp ít phức tạp, dễ hình dung nhất, nhưng đó là nơi giao thoa rõ nhất của tham nhũng và tàn phá môi trường. Việc khai thác không hiệu quả dẫn đến thua lỗ triền miên của các dự án khai thác tài nguyên, làm thất thoát thu ngân sách nhà nước nặng nề, dù đã được cảnh báo nhưng vẫn tiếp tục diễn ra. Từ các mỏ khai thác than đá, đến các nhà máy lọc dầu, từ các dự án boxit ở Tây nguyên, đến dự án khai thác khoáng sản lớn nhất nước như dự án Núi Pháo, các sai phạm được thấy ở tất cả các khía cạnh, từ khai thác bán không khai báo, kỹ thuật khai thác lạc hậu làm thất thoát tài nguyên đến việc xử lý các vấn đề về môi trường, đền bù di dời dân cư. Cấp phép khai thác tràn lan nhưng thiếu quy hoạch và minh bạch trong quản lý là hai vấn đề song hành ngày càng nghiêm trọng. Mặt khác, sự độc quyền khai thác tài nguyên khoáng sản của các DNNN tuy với danh nghĩa là bảo vệ tài nguyên nhưng thực chất lại vượt ngoài kiểm soát của luật pháp, khai thác cạn kiệt tài nguyên, thiếu hiệu quả và tham nhũng tràn lan. Tham nhũng được nói dưới dạng thất thoát trong công nghiệp khai thác tài nguyên khoáng sản luôn thể hiện với đơn vị ngàn tỷ đồng. Đó là chưa tính đến hậu quả của sự cạn kiệt tài nguyên, kể cả tài nguyên rừng và ô nhiễm môi trường nặng nề từ các dự án, vốn rõ ràng nhưng không cho thấy được kiểm soát.

Chính sách tăng trưởng nhằm tạo nguồn thu từ việc bán tài nguyên đã thể hiện sự thiệt hại đối với chính quyền (xoáy mòn uy tín) lớn hơn rất nhiều so với cái được (lòng tin của dân vào chính quyền qua tăng trưởng, tạo việc làm)! Điều đó cho thấy chính quyền ở vào thế lưỡng nan giữa một bên là tăng trưởng bằng việc khai thác tài nguyên và bên kia là hậu quả môi trường bị hủy hoại và tham nhũng từ các đại dự án khai thác. Vấn đề chiến lược đặt ra là hậu quả của các dự án này về dài hạn, sự cạn kiệt tài nguyên và không thể hồi phục về môi trường có thể được xem như những khoản “ghi nợ” vào tương lại đối với uy tín và tính chính danh của chính quyền. Việc xử lý dứt khoát, minh bạch sớm có thể giúp chính quyền cứu vớt ít nhiều uy tín của mình với chi phí thấp hơn nhiều so với các biện pháp thiếu dứt khoát và không minh bạch.

Thứ ba, chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI: lưỡng nan tăng trưởng kinh tế - tàn phá môi trường.

Đây là thế lưỡng nan giữa mặt tích cực là tăng trưởng kinh tế và mặt trái là việc lệ thuộc vào đầu tư nước ngoài trong phát triển kinh tế và môi trường bị tàn phá. FDI trong 30 năm qua đã chứng tỏ là một trụ cột cung cấp vốn để đầu tư và tăng trưởng. Đầu tư từ nước ngoài liên tục tăng trong hơn 10 năm gần đây, đóng góp quan trọng trong việc tăng thu ngân sách nhà nước qua nghĩa vụ thuế, tạo việc làm, cải thiện cân cân xuất nhập khẩu, tăng chất lượng công nghệ và quản lý doanh nghiệp. Từ đó, FDI được cho là động lực lớn đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, do nhiều nước chưa tôn trọng các tiêu chuẩn về môi trường cùng với sự dễ dãi của chính quyền các cấp trong việc gọi vốn đầu tư bằng mọi giá, ngoài vấn đề hiệu quả đầu tư từ FDI thấp hơn so với các nước, khả năng lan tỏa về công nghệ và quản lý doanh nghiệp từ doanh nghiệp FDI là rất thấp, không như kỳ vọng thì việc tàn phá môi trường của các dự án đầu tư FDI khoét sâu mặt tiêu cực của nó. Điều này đặt chính quyền vào thế lưỡng nan của tăng trưởng- do FDI mang lại - và vấn đề môi trường. Câu hỏi “chọn thép hay chọn cá?” của đại diện một nhà đầu tư nước ngoài lớn thể hiện cụ thể lưỡng nan này.

Thứ tư, đầu tư công và thế lưỡng nan tăng trưởng kinh tế - tham nhũng:

Các chính sách kinh tế nêu trên đều được thi hành nhằm hướng tới tăng trưởng kinh tế mà về cơ bản là tạo nguồn thu cho ngân sách để từ đó đầu tư tăng trưởng. Đầu tư công lại là giải pháp trực tiếp chi ngân sách để tạo tăng trưởng. Tuy nhiên, tham nhũng trong đầu tư công là vấn đề đau đầu của chính quyền Việt Nam vì có thể nói nó như người anh em sinh đôi của chính đầu tư công tại Việt Nam. Tham nhũng xảy ra trong mọi khâu của một dự án đầu tư công, từ khâu lập hồ sơ dự án, quy hoạch, đến phê duyệt thẩm định. Thất thoát diễn ra ngay từ cả nhiều chủ trương đầu tư, thiết kế, đền bù giải phóng mặt bằng, triển khai điều hành quy hoạch hàng năm, đến lựa chọn nhà đầu tư và thực hiện thi công.


Vì thế, tuy đầu tư công Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn trong GDP nhưng hiệu quả được đánh giá là rất thấp so với các nước, nghĩa là Việt Nam phải đầu tư nhiều USD hơn các nước để có 1 USD đóng góp và GDP. Tham nhũng được cho kéo tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thì tham nhũng trong đầu tư công có thể nói là minh chứng rõ ràng nhất. Rõ ràng, đối với đầu tư công, nhà nước không thể không thực hiện cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, nhưng tham nhũng trầm trọng trong đầu tư công rõ ràng đặt nhà nước vào thế lưỡng nan của việc củng cố uy tín và tính chính danh của mình.

Sơ kết: Việc thực thi các chính sách nêu trên nhằm tăng trưởng kinh tế để duy trì uy tín chính trị và tính chính danh cho chính quyền lại đồng thời làm phát sinh tham nhũng và vấn đề môi trường. Hai hệ lụy này lại triệt tiêu nỗ lực duy trì uy tín và tính chính danh. Vì vậy, chống tham nhũng và hạn chế ảnh hưởng của hệ lụy môi trường đến chất lượng tăng trưởng là điều chính quyền phải đương đầu. Trong khi vấn đề môi trường dường như chưa được quan tâm đúng mức thì đối với tham nhũng, chính quyền Việt Nam đang tỏ ra rất dứt khoát và mạnh mẽ.

Chúng tôi không cho rằng vấn đề môi trường ảnh hưởng đến uy tín và tính chính danh của chính quyền cộng sản ít hơn tham nhũng. Những hậu quả của bùn bô xit, cá chết hàng loạt do các nhà máy thép, sự kiện Formosa, nạn phá rừng, buôn lậu gỗ tràn lan góp phần gây lũ lụt đã cho thấy sự phẫn nộ của công chúng; đảng cộng sản cũng nhận ra điều đó, cũng như nhận ra rằng đó chính là hệ quả của chính sách tăng trưởng kinh tế thiếu kiểm soát, không minh bạch. Tuy nhiên, do khuôn khổ của bài báo, tác giả tạm thời dành sự quan tâm đối với một số mâu thuẫn hay thế lưỡng nan mà chính quyền phải đối phó khi chống tham nhũng. Vấn đề môi trường sẽ được đề cập trong bài khác.

Chống tham nhũng và những mâu thuẫn hay lưỡng nan phát sinh trong việc chống tham nhũng

Để tiếp tục tăng trưởng kinh tế đồng thời cứu vãn uy tín và tính chính danh do hệ lụy tham nhũng gây ra, chính quyền Việt Nam xác định tham nhũng là giặc nội xâm và thậm chí đe dọa sự tồn vong của đảng lãnh đạo. Vì vậy, chính quyền đã tỏ ra quyết tâm chống tham nhũng. Tuy nhiên, tác giả cho rằng chính quyền vừa chống tham nhũng vừa phải đối phó với các thế lưỡng nan trong chính quá trình chống tham nhũng của mình, và mức độ thành công của việc chống tham nhũng tùy thuộc vào cách chính quyền xử lý các lưỡng nan hay mâu thuẫn nội tại này.

Thế lưỡng nan về thông tin (minh bạch và chống tham nhũng)

Để chống tham nhũng, thất thoát nảy sinh trong việc thực hiện các giải pháp tăng trưởng kinh tế như cổ phần hóa DNNN, đầu tư công hay khai thác tài nguyên, việc tôn trọng các nguyên tắc minh bạch, đòi hỏi giải trình và quy trách nhiệm đối với các quan chức quản lý nhà nước, quản lý kinh tế liên quan có ý nghĩa quyết định. Bên cạnh đó việc nới lõng kiểm soát truyền thông báo chí và khuyến khích người dân tham gia chống tham nhũng sẽ hỗ trợ hữu hiệu chính quyền trong công cuộc chống tham nhũng, đồng thời gia tăng uy tín và sự chính danh của chính quyền vì sự gắn kết với người dân cho mục tiêu chung. Tuy nhiên, khi các thông tin về thất thoát, về tham nhũng, về sự giàu lên bất thường của qua nhiều quan chức được phơi bày, sự ta thán, phẫn nộ của dân chúng một mặt thúc đẩy chính quyền quyết tâm chống tham nhũng nhằm làm hài lòng dân chúng, mặt khác làm chính quyền lo ngại sự phẫn nộ đi quá xa với quy mô có thể vượt tầm kiểm soát của họ.

Mặt khác, về mặt kinh tế - như tác giả đã phân tích trong bài “Privatizing State-Owned Enterprises in Vietnam: Government Dilemmas” trên the Diplomat (bản tiếng Việt “Thế lưỡng nan của Việt Nam trong quá trình tư nhân hóa” trên trang Nghiên cứu Quốc tế 24/7/2017) – khi kinh tế phát triển, lợi ích kinh tế mang lại cho cả khu vực nhà nước và tư nhân, đặc biệt qua việc CPH-DNNN và việc tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển. Khi đó có sự gia tăng đòi hỏi các quyền lợi dân sự từ khu vực tư nhân do quyền lực nhà nước giảm tương đối trong mối quan hệ với người dân. Quyền của người dân gia tăng trong bối cảnh thông tin được cởi mở - phơi bày những thất thoát và tham nhũng - sẽ càng làm trầm trọng hơn sự lo ngại nêu trên của chính quyền đối với sự phẫn nộ của công chúng. Chính quyền từ chỗ chấp nhận minh bạch, tự do thông tin và khuyến khích báo chí và dân chúng tham gia chống tham nhũng mau chóng chuyển sang hạn chế thông tin, kiểm duyệt báo chí chặt chẽ hơn. Các nguyên tắc minh bạch, giải trình bị hạn chế, tòa án thiếu độc lập và báo chí bị kiểm soát sẽ làm hiệu quả chống tham nhũng bị giảm sút, triệt tiêu.

Vậy trong việc chống tham nhũng, nếu mở rộng thông tin, tăng cường minh bạch, sự phẫn nộ của dân chúng về tham nhũng có thể vượt ngoài kiểm soát của chính quyền. Từ đó, dẫn đến kiểm soát thông tin, báo chí, hạn chế minh bạch mà kết quả là hy sinh ít nhiều hiệu quả của việc chống tham nhũng.

Thế lưỡng nan về thực thi công lực: gia tăng sức mạnh trấn áp và chống tham nhũng

Vì lo sợ - hay nhằm ngăn ngừa khả năng xảy ra bạo động chống lại chính quyền khi sự phẫn nộ của công chúng và thông tin về tham nhũng, môi trường trong dân tăng cao, trong hoàn cảnh quyền lực của nhà nước bị yếu đi tương đối khi so với người dân như đã phân tích thì ngoài việc hạn chế truyền thông, kiểm soát chặt chẽ báo chí, hạn chế việc thực thi các nguyên tắc pháp quyền minh bạch, giải trình và chịu trách nhiệm cũng như hạn chế sự độc lập của tư pháp, chính quyền còn tăng quy mô sử dụng các công cụ trấn áp, tăng sức mạnh của bộ máy công an, an ninh để ngăn chặn và triệt tiêu nguy cơ bạo động. Tuy nhiên, mâu thuẫn hay thế lưỡng nan mới xảy ra. Sự gia tăng các biện pháp trấn áp đồng nghĩa với việc vừa tăng chi ngân sách và quyền lực cho an ninh và công an và điều này lại gây ra tham nhũng. Tham nhũng trong khu vực này càng khó kiểm soát khi nó còn gắn liền với tham nhũng quyền lực. Như vậy, một mặt chính quyền chống tham nhũng, nhưng mặt khác chính quyền sử dụng chính sách hai gọng kiềm là kiểm soát thông tin và tăng cường trấn áp, mà gọng kiềm thứ nhất thì hạn chế khả năng chống tham nhũng của chính quyền, trong khi gọng kiềm thứ hai gây ra tham nhũng mới. Đây chính là thế lưỡng nan mà chính quyền cần giải quyết để việc chống tham nhũng có thể có những kết quả nhất định nhằm phát huy hiệu quả của các chính sách tăng trưởng kinh tế.

Kết luận:

Để duy trì tính chính danh, củng cố uy tín cho đảng lãnh đạo, chính quyền phải thực hiện nhiều giải pháp tăng trưởng kinh tế, các giải pháp lại làm phát sinh tham nhũng và làm tồi tệ hơn vấn đề môi trường. Các hệ lụy này lại làm mất uy tín và suy giảm tính chính danh của chính quyền.

Chính quyền vì thế phải chống tham nhũng. Để chống tham nhũng, chính quyền phải tăng cường minh bạch, công khai, tăng yêu cầu chịu trách nhiệm của các quan chức, nới lõng kiểm soát báo chí và tôn trọng hơn tiếng nói của người dân cũng như sự độc lập của tòa án. Các giải pháp về thông tin này tạo điều kiện nhiều hơn cho công chúng thể hiện tiếng nói của họ về sự trầm trọng của tham nhũng cũng như về cách thức chống tham nhũng của chính quyền. Thay vì phải tiếp tục theo cách thức tích cực này để gia tăng việc thực hiện các nguyên tắc pháp quyền, chính quyền lựa chọn giải pháp vừa chống tham nhũng vừa kiểm soát và hạn chế truyền thông báo chí nhằm hạn chế thông tin. Đồng thời với việc này là sự trao quyền nhiều hơn cho các công cụ trấn áp nhằm dập tắt những bất mãn, phản kháng của người dân. Cả việc kiểm soát thông tin, hạn chế thông tin tiêu cực, hạn chế phê phán và việc đầu tư gia tăng cho các công cụ trấn áp lại khiến tham nhũng gia tăng. Đó chính là vòng luẩn quẩn trong công cuộc chống tham nhũng ở Việt Nam. Nếu chính quyền không tìm cách thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn này, việc chống tham nhũng sẽ không thể thành công và chất lượng tăng trưởng kinh tế sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng nghiệm trọng, thậm chí sự tăng trưởng sẽ bị chính tham nhũng tàn phá. Điều xấu hơn có thể xảy ra là việc chính quyền ngày càng lệ thuộc vào chính công cụ trấn áp của chính mình mà tham nhũng phát sinh ngay trong chính công cụ đó!

(Xuân Mậu Tuất 2018 -Kính tặng các bạn quan tâm đến thực trạng Việt Nam)

Lê Vĩnh Triển 

-----------------------------
Tài liệu tham khảo:

Về chính sách CPH-DNNN:

Về đầu tư công:

Về chính sách thu hút FDI:

Về chính sách khai thác tài nguyên:
[*] Tác giả làm việc tại Khoa Quản Lý Nhà Nước, trường Đại học Kinh Tế Hồ Chí Minh.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

‘Nhà gỗ tiền tỷ’ của cán bộ kiểm lâm Lai Châu: 'Tất cả là nhờ vợ hết đấy'


LƯU THỦY 
(VTC News) - Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Lai Châu cho biết, căn nhà gỗ của một cán bộ kiểm lâm đang xôn xao dân mạng là do vợ người này buôn bán tháo vát nên mới có.

Mấy ngày qua, mạng xã hội xôn xao thông tin "căn nhà gỗ tiền tỷ” của một cán bộ kiểm lâm đang công tác tại Hạt Kiểm lâm Phong Thổ, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lai Châu.

Theo bức ảnh được chia sẻ thì căn nhà được làm bằng gỗ trông rất sang trọng. Nhiều ý kiến cho rằng giá trị của căn nhà làm bằng gỗ này phải lên đến hàng tỷ đồng. Ngoài ra, nhiều ý kiến thắc mắc “không rõ nguồn gốc gỗ lấy từ đâu”.

Sáng 23/2, trả lời VTC News, ông Hà Văn Um, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Lai Châu xác nhận, những bức ảnh “nhà gỗ tiền tỷ” lan truyền trên mạng xã hội là của gia đình của ông Trần Văn Hùng, một nhân viên kiểm lâm còn khá trẻ tuổi ở huyện Phong Thổ (Lai Châu).

“Sau khi nhận được thông tin phản ánh, tôi đã trực tiếp chỉ đạo anh em xác minh, làm rõ ngay. Anh em chúng tôi xem lại thông tin trên mạng xã hội rồi, thực tế thì mạng xã hội cũng cứ đưa tin thế thôi, chứ cũng chưa đúng sự thực lắm đâu”, ông Um nói. 

Ông Hà Văn Um cho biết: “Ông này (tức ông Trần Văn Hùng - PV) còn rất trẻ và ông này cũng chẳng có chức sắc gì đâu, chỉ là nhân viên kiểm lâm địa bàn thôi.

Cái nhà gỗ của ông này đăng tải trên mạng thực ra ốp lát toàn gỗ xoan với các loại gỗ tạp tạp thôi, nó không đáng mấy đồng đâu.

Loại gỗ này rẻ tiền lắm, nhưng mà có điều khi chụp ảnh rồi đăng lên thì nhìn lung linh thế thôi. Chúng tôi đã xác minh, làm rõ và xem kỹ loại gỗ dùng để làm nhà rồi.

Kể cả bộ bàn ghế mà ông ấy khoe lên mạng cũng là loại rẻ tiền, loại này ở trên đây bán đầy ngoài chợ, nó không phải là gỗ quý đắt tiền gì đâu”.

Về nguồn gốc căn nhà nói trên, ông Um cho hay đó là nhà do vợ ông Trần Văn Hùng bỏ tiền ra làm.

Còn về việc tại sao vợ ông Hùng có thể làm được căn nhà hoành tráng như vậy thì ông Um cho hay đó là “do vợ đảm đang, tháo vát buôn bán nên nhiều tiền”.

"Vợ ông này buôn bán ở cái chợ gần nhà, vợ có rất nhiều tiền. Nhà cửa xây được là do vợ đảm đang, tháo vát nên nhiều tiền rồi mới bỏ ra làm, chứ ông này thì làm gì có xu nào, chụp ảnh khoe vớ vẩn lên mạng thế thôi. Tất cả là nhờ vợ hết đấy”, ông Um khẳng định.

Theo ông Um, ông Hùng chỉ là cán bộ kiểm lâm bình thường, phụ trách tiểu khu. Ông Hùng không phải dòng dõi con ông con ông cháu cha. Ông Hùng quê ở Tuyên Quang, lên Lai Châu công tác và lấy vợ là người địa phương rồi ở lại.

“Chúng tôi đã kiểm tra, xác minh và khẳng định như thế. Còn báo chí và dư luận không tin thì có thể đến tận nơi để kiểm tra lại”, ông Um khẳng định.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hủ tục thì phải loại bỏ


LÊ THANH PHONG 

LĐO - “Xin hỏi giới trí thức Việt Nam hiện tại tìm thấy Phật giáo và Nho giáo dạy về thuyết đốt vàng mã ở kinh sách nào?”, đây là câu hỏi của Hòa thượng Tố Liên đặt ra liên quan đến tục đốt vàng mã.

Không kinh sách nào dạy, không tôn giáo nào có quy định việc đốt vàng mã, nhưng nó được nhiều người thực hiện và ngày càng nặng nề hơn. Đã có thống kê sơ bộ vào năm 2017, mỗi năm Việt Nam tiêu thụ 50.000 tấn vàng mã, riêng tại Hà Nội, TPHCM tiêu tốn khoảng vài trăm tỉ đồng cho việc đốt vàng mã. Thật khó để có số liệu chính xác về chuyện tiền nong chi cho tập tục này, nhưng chắc chắn vài trăm tỉ đến ngàn tỉ đồng là hoàn toàn có thể.

Các cơ sở sản xuất vàng mã nhạy bén với thị trường, thị hiếu của người tiêu dùng. Thiên hạ ai cũng thích giàu sang phú quý, cho nên vàng mã thời nay toàn xe hơi nhà lầu, càng to càng oách, chưa kể điện thoại đời mới các loại.

Nhà sản xuất tinh ranh còn rỉ tai về những chuyện tâm linh bí hiểm, kích thích sự mê tín. Càng cho người âm tiêu xài nhiều thì càng được họ phù hộ cho giàu sang. Vậy là người làm vàng mã ngày càng phát đạt.

Ngược lại với sự phát đạt của một số nhà sản xuất và kinh doanh vàng mã, đó là nhiều gia đình, cộng đồng tốn kém tiền bạc, hàng chục nghìn tấn giấy tiêu hao tất nhiên đi liền với hàng nghìn tấn gỗ các loại bị khai thác, môi trường sống bị ô nhiễm, nguy cơ cháy nổ cao.

Vấn đề đặt ra là đốt vàng mã có cần thiết hay không? và làm sao thay đổi được nhận thức của đa số người dân về tập tục này. Muốn thay đổi thì phải có sự bắt đầu, và Trung ương Giáo hội Phật giáo VN vừa có công văn đề nghị Phật tử loại bỏ tục đốt vàng mã tại các cơ sở thờ tự Phật giáo.

Nếu như tất cả các nơi thờ tự, đền chùa, tịnh viện đều thực hiện nghiêm túc lời kêu gọi của Trung ương Giáo hội Phật giáo VN thì sẽ hạn chế được rất nhiều hoạt động đốt vàng mã. Lời kêu gọi này thành công hay không tùy thuộc vào vai trò của các thầy, các tăng. Với uy tín của mình, các thầy nói với Phật tử những điều thật thuyết phục để mọi người thay đổi nhận thức.

Có những tập tục, truyền thống có giá trị, có ý nghĩa thì nên giữ, nhưng có những hủ tục phải dẹp. Hội nhập với thế giới văn minh đòi hỏi phải xây dựng nếp sống văn minh, những hủ tục thể hiện sự mê tín là không văn minh.

Cùng với tổ chức tôn giáo, chính quyền các địa phương cũng nên vào cuộc, đưa ra những quy định cấm đốt vàng mã trên đường, những nơi dễ gây cháy nổ để hạn chế tối đa, dần đi đến xóa bỏ hủ tục này.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Làm quan, làm dân và ‘lằn ranh’ mỏng manh


>> Vì sao người thực sự thông minh không bao giờ xã giao?
>> Loạt bài đánh sập đế chế Vũ “nhôm” của nữ nhà báo quả cảm


Nguyễn Anh Thi 
VNN - Mới thấy, dù làm quan hay làm dân, bản chất vẫn là phải làm mỗi việc cho đúng đắn. Những sai lầm đôi khi đến với con người chỉ là một sợi chỉ mong manh, đứng bên này thì là đúng nhưng chỉ bước chân sang bên kia lại là sai mất rồi.

Đọc trong sử sách Việt Nam, có một vị quan khiến tôi vô cùng ấn tượng. Đó là Nguyễn Công Trứ.

Ông có lẽ là một trong những vị quan có lý tưởng nhất quán, độc đáo và thú vị bậc nhất thời xưa. Vốn tính ngang tàng, lều chõng đi thi ông đều bị đánh trượt, phải chăng là vì dám lộ liễu ý tứ “đầu đội trời, chân đạp đất” trong bài thi? Mãi đến năm 1819, Nguyễn Công Trứ mới đậu Giải nguyên, và 41 tuổi mới có chức quan đầu tiên.

Khi làm quan, lý tưởng của ông được thể gói trong một bài thơ đơn giản:

Giữ trong lòng trung ái

Chăm đạo dâu con

Phát triển nông trang

Trừ bỏ dị đoan

Sửa đổi phong tục

Thanh thải tham tàn

Tiến cử tài đức

Giữ nghiêm luật lệ.

Ông hăng hái làm những việc Vua giao, không từ nan bất cứ việc gì và luôn để lại dấu ấn với tài năng đa dạng của mình. Cũng vì cá tính nên đường thăng quan tiến chức của ông thăng trầm, khi làm quan to, khi bị giáng xuống quan nhỏ. Ông bị luân chuyển đi đủ tỉnh từ Hải Dương, Ninh Bình, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa rồi vào Thừa Thiên, Quảng Ngãi... Ông làm từ quan võ (Tham tán quân vụ), quan văn (Tư nghiệp Quốc tử giám) đến việc lập vùng kinh tế mới (Dinh điền sứ); làm quan to ở cả Bộ hình lẫn Bộ binh.

Khi làm quan ông đặt ra nhà học cho con dân học hành, đặt xã thương ở các làng để quản lý thóc gạo theo giá quy định, ông trị tội cường hào rất nặng để tránh dân oan.

Ông cũng là quan rất thanh liêm. Sử cũ chép Phạm Nguyên Trung, Ngô Huy Phái hối lộ ông. Ông bắt giải cả hai cùng tang vật về phủ Nam Định để xét xử. Thời gian làm Dinh điền sứ, ông nhận tiền gạo của nhà nước cấp phát cho dân nghèo làm vốn khẩn hoang. Sau khi sử dụng, số dư thừa Nguyễn Công Trứ đều mang về nộp lại cho công khố.

Năm 70 tuổi, ông xin từ quan về hưu nhưng Vua Thiệu Trị không chấp thuận. Khi vua Tự Đức lên ngôi, ông được toại nguyện. Trước khi làm quan, khi làm quan rồi thành hưu quan ông vẫn luôn nghèo, nhưng cái khí chất đại trượng phu, cái chất ngạo nghễ nơi ông chưa bao giờ bị bào mòn.

Suốt quãng thời gian nhân thế của mình, Nguyễn Công Trứ dường như đã luôn “ngất ngưởng”, ung dung tự tại trước những lựa chọn của bản thân trong cái bối cảnh chật hẹp của thời đại mình. Cả trong đạo làm quan, trong con đường thăng tiến, cũng như lẽ xuất xử.

Đọc về cổ nhân rồi ngẫm thì xét cho cùng cuộc đời mỗi con người - dù là quan chức hay thứ dân, dù giữ chức phận gì trong xã hội – cũng là một chuỗi những lựa chọn. Có cái gọi là sự chi phối của hoàn cảnh khách quan, của số phận, nhưng ai cũng phải đối mặt và chịu trách nhiệm cho những lựa chọn của mình, nhất là những lựa chọn được đưa ra vào thời khắc quyết định.

Tôi có một người bạn làm trong ngành dầu khí. Anh là một tiến sĩ khoa học rất giỏi, vì vậy được giao đảm trách trưởng phòng công nghệ thông tin của một công ty lớn của ngành này. Tuy nhiên anh chỉ nhận việc chuyên môn, những việc dính líu tới tiền nong, tài chính nhập nhằng anh đều tránh. Anh lý giải đó là những việc anh không rành, hơn nữa có nhiều việc phức tạp anh không hiểu rõ, nên tốt nhất là chỉ tập trung chuyên môn.

Cấp trên đánh giá cao năng lực của anh và muốn thăng chức cho anh, song anh một mực từ chối, chỉ xin làm cấp trưởng phòng vì nhận thấy không đủ sức cho “cái ghế” kia. Dù không giàu nhưng anh đủ sống sung túc và đầu óc nhàn nhã, không lo lắng, cũng chưa bao giờ hối tiếc về lựa chọn của mình.

Anh khiến tôi liên tưởng đến một vị quan chức ngành dầu khí phải ra tòa năm qua. Ông là một kỹ sư giỏi có tiếng, tiến sĩ ngành dầu khí và có nhiều công trình khoa học có ích cho ngành, từng được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh. Nhưng khi bỏ chuyên môn, chuyển hẳn làm lãnh đạo, một lĩnh vực chắc chắn không phải sở trường, có lẽ ông bị cuốn theo một số quyết định sai lầm của cấp trên, của cái guồng quay mà ông tham dự vào. Lao tù, ngã ngựa đau đớn, thân bại danh liệt - một kết cục mà đời ông hẳn không bao giờ mường tượng nổi khi ở đỉnh cao sự nghiệp.

Nhiều người không khỏi xót xa và tiếc nuối cho ông. Giá như ông chỉ lựa chọn việc nào đúng khả năng thì làm, việc gì không thạo thì để người khác, miễn là vẫn làm được điều có ích cho dân, cho nước, quyết không nhận “cái áo quá rộng”, giá như ông biết từ chối lúc cần thiết,… thì kết cục của một nhân tài như ông đã đi theo hướng khác.

Mới thấy, dù làm quan hay làm dân, bản chất vẫn là phải làm mỗi việc cho đúng đắn. Những sai lầm đôi khi đến với con người chỉ là một sợi chỉ mong manh, đứng bên này thì là đúng nhưng chỉ bước chân sang bên kia lại là sai mất rồi. Nên quan trọng nhất vẫn là biết mình biết ta, và biết đủ, để thấu rõ lẽ đời, để không thả cho lòng tham chế ngự khi đứng trước những lựa chọn dù là nhỏ nhất.

Bước qua năm cũ đón chào năm mới - khoảng thời gian người ta thường dành để nhìn nhận bản thân và đưa ra những lựa chọn, kế hoạch - ngẫm ngợi thế sự, mới càng thấy Nguyễn Công Trứ thật sáng suốt khi tổng kết rằng:

Tri túc tiện túc, đãi túc, hà thời túc?

Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn?

(Biết đủ là đủ, đợi cho đủ thì bao giờ mới đủ? Biết nhàn là nhàn, đợi cho nhàn thành thì bao giờ mới nhàn?)



Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĐÀ NẴNG ĐÃ THÀNH MỘT PHẦN LÃNH THỔ CỦA TRUNG QUỐC?


Kiểm tra nhà hàng bị tố chặt chém, dùng hóa đơn tiếng Trung Quốc

Đà Nẵng nhà hàng tính bữa ăn 8 triệu, 
dùng hóa đơn tiếng Trung Quốc

Thanh Niên Online
13:47 - 24/02/2018

Lãnh đạo Q.Sơn Trà (TP.Đà Nẵng) đã chỉ đạo ngành chức năng làm rõ sự việc một nhà hàng in hóa đơn có nội dung hoàn toàn bằng tiếng Trung Quốc.

Ngày 24.2, lãnh đạo UBND Q.Sơn Trà (TP.Đà Nẵng) cho biết đã cử lực lượng chức năng tiến hành làm rõ thông tin việc nhà hàng S.H. (trên đường Võ Nguyên Giáp) sử dụng hóa đơn in nội dung hoàn toàn bằng tiếng Trung Quốc cho khách hàng.

Trước đó, theo phản ảnh của bà L.T.L. (trú An Giang), ngày 16.2 (tức mùng 1 tết), bà và người thân đến Đà Nẵng. Và trưa cùng ngày, gia đình bà (gồm 4 người lớn, 4 trẻ em) vào quán S.H dùng bữa trưa.

“Chúng tôi vào quán gọi 2 kg tôm luộc, 8 con ghẹ, 2 đĩa tôm rim mặn theo thực đơn là tính tiền theo phần, 1 đĩa thịt heo kho, 2 đĩa cơm chiên hải sản, 2 đĩa rau muống xào tỏi, 1 đĩa đậu bắp luộc và mấy ly nước”, bà L. kể lại.

Sau khi dùng, bà L. yêu cầu tính tiền thì tá hỏa vì hóa đơn hoàn toàn bằng tiếng Trung Quốc.

“Hóa đơn họ đưa ra toàn bằng tiếng Trung Quốc với số tiền lên đến hơn 10 triệu đồng. Chúng tôi không đồng ý và yêu cầu tính lại thì một hồi họ đưa ra hóa đơn 8 triệu đồng, cũng toàn bằng tiếng Trung Quốc với lý do giá này là giá tết nhưng chưa kịp niêm yết”, bà L. bày tỏ bức xúc.

Bà L. cũng bức xúc khi đến Đà Nẵng lại gặp chuyện đã nêu. Cùng với đó, nhà hàng kinh doanh lại in hóa đơn bằng chữ Trung Quốc.

“Cả 3 lần mang hóa đơn ra yêu cầu khách thanh toán thì tờ giấy đều được in bằng chữ Trung Quốc. Chúng tôi thắc mắc và không hiểu trên đó ghi những gì và yêu cầu họ in lại hóa đơn bằng tiếng Việt thì nhân viên nói máy tính bị hư, không nhập dữ liệu được”, bà L. cho hay.

Trao đổi với PV Thanh Niên, ông Huỳnh Văn Hùng, Chánh văn phòng UBND Q.Sơn Trà cho hay, ngay sau khi tiếp nhận thông tin vụ việc, quận đã cử lực lượng chức năng gồm công an, quản lý thị trường xuống kiểm tra.

“Hiện đơn vị chức năng đang làm rõ nên khi có thông tin cụ thể, chúng tôi sẽ thông báo sau”, ông Hùng nói.
Hoàng Sơn


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 23 tháng 2, 2018

Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra công văn đề nghị bỏ tục đốt vàng mã


22/02/2018 (VTC News) - Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam vừa có công văn đề nghị các Phật tử loại bỏ tục đốt vàng mã tại các cơ sở thờ tự Phật giáo. Công văn số 31 của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam do Hoà thượng Thích Thanh Nhiễu, phó chủ tịch thường trực Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam ký.
Công văn đề nghị Ban thường trực Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn chư tôn tăng ni trụ trị các tự viện (bao gồm: chùa, tổ đình, tịnh xá, thiền viện, tu viện, tịnh viện, tịnh thất, niệm phật đường) nhất là các tự viện là di tích lịch sử - văn hoá tổ chức lễ hội mang tính văn minh, tiết kiệm, không phô trương hình thức, phát huy truyền thống văn hoá dân tộc, văn hoá Phật giáo.

"Đề nghị chư tôn đức tăng ni nêu cao tinh thần Bồ tát đạo, hướng dẫn đồng bào Phật tử và bà con loại bỏ mê tín dị đoan, đốt vàng mã tại các cơ sở thờ tự Phật giáo và các hình thức khác trái với thuần phong mỹ tục, văn hóa dân tộc và văn hóa Phật giáo Việt Nam", công văn của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam nêu rõ.

Công văn cũng nhấn mạnh, trong các bài giảng tại các tự viện cần chú trọng việc gìn giữ nét đẹp văn hoá truyền thống, thuần phong mỹ tục trong các lễ hội, lan toả giá trị từ bi, lòng bao dung, tôn trọng sự khác biệt của các cộng đồng tín ngưỡng, tôn giáo bạn. 

https://vtc.vn/giao-hoi-phat-giao-viet-nam-ra-cong-van-de-nghi-bo-tuc-dot-vang-ma-d382553.html

Đề nghị bỏ tục đốt vàng mã: TS. Vũ Thế Khanh lên tiếng

Thứ sáu , 23/02/2018 (VTC News) - Nhà khoa học Vũ Thế Khanh, Tổng GĐ Liên hiệp KHCN Tin học ứng dụng, nhà khoa học từng được biết đến với khả năng nói chuyện được với thế giới bên kia nói gì về đề xuất bỏ tục đốt vàng mã.

Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam vừa có công văn gửi Ban trị sự Giáo hội phật giáo các tỉnh, thành đề nghị các Phật tử loại bỏ tục đốt vàng mã tại các cơ sở thờ tự.

Trước việc này, Tiến sĩ Vũ Thế Khanh bày tỏ "hoàn toàn ủng hộ, ủng hộ triệt để, đáng ra văn bản này phải ra từ nhiều năm trước nữa, quyết liệt hơn nữa mới phải".

https://vtc.vn/de-nghi-bo-tuc-dot-vang-ma-ts-vu-the-khanh-len-tieng-d382779.html


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Số phận không thể tránh khỏi của Trái Đất - Những mối hiểm nguy từ vũ tr...

Phần nhận xét hiển thị trên trang