Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 22 tháng 2, 2018

Một bài thơ thương khóc Liban mà như được viết riêng cho Việt Nam





Vương Trí Nhàn 

Dưới đây là một bài thơ tôi chép lại từ trên mạng. Vốn có tên làKhốn khổ nước tôi  - nguyên tác Pity the Nation, tác giả là nhà thơ Kahlil Gibran, Từ Linh phỏng dịch.

Không rõ bài thơ  đúng với nước Liban đến đâu nhưng tôi thấy nó gần đúng với tình cảnh nước Việt ta hôm nay:\

Khốn khổ nước tôi
Mê tín thì vô hạn
Tôn giáo thì nông cạn

Khốn khổ nước tôi
Mặc áo mình không dệt
Ăn gạo mình không trồng
Uống rượu mình không làm

Khốn khổ nước tôi
Ca ngợi côn đồ là anh hùng
Gọi kẻ xâm lăng là bạn vàng

Khốn khổ nước tôi
Trong mơ thì ghét cay ghét đắng
Tỉnh dậy lại đầu hàng

Khốn khổ nước tôi
Chỉ dám nói năng khi đưa tang
Chỉ dám khoe khoang di sản hoang tàn
Chỉ dám phản kháng khi đầu sắp lìa khỏi cổ

Khốn khổ nước tôi
Chính khách xảo quyệt như chó sói
Triết gia tung hứng chữ làm xiếc
Nghệ thuật bắt chước chắp và vá

Khốn khổ nước tôi
Kèn loa tưng bừng rước kẻ cai trị mới
Rồi tống cổ chúng bằng la hét phản đối
Rồi lại tưng bừng kèn loa đón kẻ cai trị khác

Khốn khổ nước tôi
Vĩ nhân càng nhiều tuổi càng lú
Thánh nhân chờ mãi chưa ra đời

Khốn khổ nước tôi
Cứ chia năm xẻ bảy chơi
Phe nào cũng xưng mình là nước 

Thử cắt nghĩa  sự tương đồng nói ở trên 

1/ Ở thời điểm nửa cuối của năm 2014, điều gợi ra sự chú ý của nhiều người Việt với bài thơ hẳn là mấy đoạn nói về  mối quan hệ của một xứ sở thuộc loại nhược tiểu với các quốc gia khác. Số phận cái nước tôi của K.Gibran  với số phận nước Việt như do cùng một bàn tay nhào nặn.

Giá có thể đứng ngoài mà nhìn, ta sẽ thấy ta đang sống như mơ ngủ.

Ta không có hiểu biết đúng đắn về  các nước lân bang và nói chung là không hiểu mọi đối tác khác mà chúng ta có quan hệ.

Sai lầm bắt đầu từ nhận thức. Từ chỗ lẫn lộn các tiêu chuẩn Ca ngợi côn đồ là anh hùng Gọi kẻ xâm lăng là bạn vàng, nay là lúc quốc gia này không tìm ra được một cách ứng xử hợp lý với các quốc gia khác.

Không phải nhiều lúc ta không biết ghê sợ cho tâm địa giảo quyệt của bọn người tự xưng là các bạn vàng. Trước kẻ xâm lăng, lại cũng nhiều lần ta đã biết vùng dậy. Nhưng trái đắng bắt đầu cảm thấy rõ nhất là khi xét hiệu quả của sự hy sinh ấy. Phải chăng chúng ta hăng hái quyết liệt hy sinh cho danh nghĩa hão bao nhiêu thì lại dễ dãi phù phiếm trong việc xem xét nền độc lập giành đượcbấy nhiêu?

Lý do, xét thật đơn giản, là ở tình trạng miệng khôn trôn dại, như các cụ xưa nói. Mà lý do sâu xa hơn, chúng ta thiếu một tầm vóc trí tuệ để hiểu về phương thức tồn tại của một quốc gia, cũng như thực chất các mối quan hệ quốc tế trong lịch sử hiện đại.  

2/Sau hai câu nói về đời sống tinh thần của cộng đồng, mê tín thì vô hạn / tôn giáo thì nông cạn –  sẽ còn trở lại về sau – tôi đặc biệt thích thú mấy câu  tiếp khắc họa mấy nét sinh hoạt vật chất. 

Khốn khổ nước tôi
Mặc áo mình không dệt
Ăn gạo mình không trồng
Uống rượu mình không làm 

Trong một ngôn ngữ thơ mà người sành thơ thế kỷ XX hẳn nhớ tới những dòng thơ chính trị của B. Brecht, --  tác giả vẽ ra cho ta thấy hình ảnh một cộng đồng hết sức thiếu tự trọng. Bước ra thế giới, miệng hò hét rõ to, ra cái điều mình chẳng kém ai, nhưng trong bụng thì không biết vị trí mình là ở chỗ nào. Sống ở đất này nhưng ta luôn luôn mơ tới con người  và sản vật ở các nước khác.

Xưa nay ai cũng bảo dân ta có thói quen bằng lòng với cuộc sống của mình. Ở Liban thế nào không rõ chứ ở Việt Nam, nét tâm lý cái gì đang có cũng chán, cái gì không có cũng thèm nói trên thật ra chỉ mới nảy sinh vài chục năm nay. Một quá trình lạ lùng đã xảy ra, tạm phác họa như sau:

- Trong những năm tháng chiến tranh, người dân sống trong sự tách rời với thế giới bên ngoài.

- Thuở ấy, được bộ máy tuyên truyền phù phép, ai cũng nghĩ dân ta là thông minh sáng láng nhất trần đời, đánh Mỹ được thì làm gì cũng được.

Cái niềm tin kỳ lạ mang tính ảo tưởng có giải phóng ở chúng ta một sức mạnh thật —trước tiên là năng lực thích ứng chịu đựng.

- Thế rồi sau chiến tranh ngẩng lên nhìn ra thiên hạ, trong mỗi một con người không ai bảo ai  âm thầm bùng lên một sự hoảng loạn.

Nhìn ra thấy các dân tộc khác làm được bao nhiêu việc, quay lại thấy mình thân tàn ma dại, lùi mãi sau người và nếu cứ kéo mãi thế này thì chắc chắn là không bao giờ bằng người.

Tâm lý đầu hàng bất lực buông trôi… ngày một nẩy nở.

Nay là lúc dân ta nhiều người chỉ thèm  thuồng mong được ăn ngon mặc đẹp, đi những cái xe rất sang, tận hưởng những tiện nghi cuộc sống hiện đại mà người dân các nước được hưởng. Tinh thần yêu nước, niềm tự hào vì quốc gia xứ sở xét cho kỹ chỉ còn là những lời nói suông. Những ám ảnh về sự sung sướng hạnh phúc của các dân tộc khác thường trực trong đầu mọi người. Tinh thần vọng ngoại hèn hạ đã thế chỗ cho tinh thần bài ngoại man rợ.

3/Ở nhiều quốc gia, trong những giai đoạn lịch sử khó khăn, thường thấy xuất hiện những bài thơ ái quốc, trong đó nhân vật trung tâm là nhân dân.

Công cụ chủ yếu được dùng để tuyên truyền là cái lối mị dân, ca ngợi nhân dân là tốt đẹp và kêu gọi họ đứng lên đánh đổ giai cấp thống trị đương thời, trong thực tế là mở đường cho một giai cấp thống trị mới.

Bài thơ của Gibran có hai nét khác:

- một là miêu tả sự tầm thường hèn mọn ẩn kín trong đời sống tinh thần của đa số  dân chúng. Nó là cái ý được đề cập ngay từ đầuMê tín thì vô hạn / tôn giáo thì nông cạn.Vâng, bề sâu là vậy, bản sắc văn hóa là vậy, cái đã kéo dài trong lịch sử là vậy. Mọi sự thiếu ý chí, thiếu nghị lực của con người cũng bắt đầu từ đây.

-  Hai, cũng quan trọng không kém, là sự hư hỏng của tầng lớp tinh hoa 

Triết gia tung hứng chữ làm xiếc  Nghệ thuật bắt chước chắp và vá. 

Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì khái niệm tinh hoa của một xã hộikhông chỉ là gồm các  triết gia, các nghệ sĩ mà trước tiên còn bao hàm cả các chính khách, tức là các nhà hoạt động chính trị. 

Sau khi xác định bọn này xảo quyệt như chó sói, tác giả nói rõ hơn về cái đám tinh hoa cao cấp 

Vĩ nhân càng nhiều tuổi càng lú
Thánh nhân chờ mãi chưa ra đời.

Nhưng quan trọng hơn là phản ứng của nhân dân trước bọn chính khách nghiệp dư: 

Khốn khổ nước tôi
Kèn loa tưng bừng rước kẻ cai trị mới
Rồi tống cổ chúng bằng la hét phản đối
Rồi lại tưng bừng kèn loa đón kẻ cai trị khác 

Rõ ra một nhân dân nông nổi nhẹ dạ, dễ bị lừa bịp.

Nhân dân như thế nào thì sẽ có một giai cấp thống trị tương xứng”. Tôi nhớ đã đọc được đâu đó một nhận xét như vậy, nay lại thấy toát ra ở bài Khốn khổ nước tôi.

Điều khiến chúng ta khâm phục là cái ý cuối của Gibran.

Quốc gia này còn là khốn khổ vì không tìm được những người quản lý xứng đáng.. Trong khi đánh lộn lẫn nhau, phe chính trị nào cũng tự xưng mình là đại diện chân chính của quốc gia. 

Khốn khổ nước tôi  
Cứ chia năm xẻ bảy chơi  
Phe nào cũng xưng mình là vì dân vì nước 

Nhân dân Tổ quốc  luôn luôn được nêu lên như một thứ bung xung.

Bài thơ kết thúc ở đây. Xét kết cấu bề ngoài, nó ở dạng không hoàn thành. Để một chỗ khá rộng cho ta suy nghĩ tiếp.

Nhưng một đất nước mà các phe phái bên trên tiếp tục chia năm xẻ bẩy thì làm sao có thể nghĩ đến ngày khá hơn? Cả nước tiếp tục mê muội. Bạn vàng ngoại quốc tiếp tục lộng hành. Người dân thường tiếp tục lừa lọc nhau ăn cướp ăn cắp của nhau để thỏa mãn giấc mơ được sống như bên Tây bên Tầu. Ý tưởng mà nhà thơ theo đuổi từ đầu đã được thực hiện trọn vẹn. Trong sự dang dở của nó, bài thơ đã được hoàn thành. 

Phụ lục 

* Tôi biết tới bài thơ này lần đầu qua bài Li-băng - Trận chiến của những mảng màu Mosaic  của Nguyễn Thị Phương Mai, in Tia sáng 13/12/2013. Đoạn thơ được trích ở dạng nguyên văn trước rồi mới kèm theo bản dịch 

“Nhiều lúc cứ phải quên đi mà sống thôi!”
  
Pity the nation that is full of beliefs and empty of religion.
Pity the nation that welcomes its new ruler with trumpetings, and farewells him with hootings,only to welcome another with trumpetings again.Pity the nation whose sages are dumb with years and whose strong men are yet in the cradle.
Pity the nation divided into fragments, each fragment deeming itself a nation.

 
[Tôi thương đất nước tôi, đầy tín ngưỡng mà chẳng có niềm tin,

Chào đón cả kẻ thù, chán chê mải mê, chỉ để rồi lại tung hô một bầy xâm lấn khác.
Vị cứu tinh vẫn còn trong nôi, mà những kẻ cầm đầu thì rặt một bầy phụ bạc,
Đất nước tả tơi, mỗi mảnh vụn hả hê tự xưng vương ở một góc trời.] 

Nguyễn Thị  Phương Mai  cũng đưa vào bài của mình cái ghi chú - Khalil [Kahlil] Gibran là nhà thơ tài năng của Li-băng (1883-1931), người có số lượng tác phẩm thơ xuất bản đứng thứ ba trên thế giới, sau Shakespeare và Lão Tử. 

*Đoạn thơ trên sau còn được một số mạng đưa lại và bình luận.

Trên mạng Tễu thấy có kèm bản dịch của Nam Long 

Buồn cho đất nước, tràn đầy mê muội trống rỗng niềm tin
Buồn cho đất nước, kẻ cầm quyền được hân hoan chào đón rồi lại bị la ó đuổi đi; kẻ khác đến quy trình lặp lại
Buồn cho đất nước, sự thông thái bị chôn vùi và anh hùng mãi ở trong nôi
Buồn cho đất nước  chia rẽ rã rời, mỗi mảnh ghép tưởng mình là tất cả

* Tiếp theo là nguyên bản tiếng Anh, tôi nghĩ có thể một  số bạn cần, nên sao chép lại và dán vào đây.



“Pity the nation that is full of beliefs and empty of religion.

Pity the nation that wears a cloth it does not weave,
eats a bread it does not harvest,
and drinks a wine that flows not from its own wine-press.

Pity the nation that acclaims the bully as hero,
and that deems the glittering conqueror bountiful.

Pity a nation that despises a passion in its dream,
yet submits in its awakening.

Pity the nation that raises not its voice
save when it walks in a funeral,
boasts not except among its ruins,
and will rebel not save when its neck is laid
between the sword and the block.

Pity the nation whose statesman is a fox,
whose philosopher is a juggler,
and whose art is the art of patching and mimicking.

Pity the nation that welcomes its new ruler with trumpeting,
and farewells him with hooting,
only to welcome another with trumpeting again.

Pity the nation whose sages are dumb with years
and whose strong men are yet in the cradle.

Pity the nation divided into fragments,
each fragment deeming itself a nation.”





Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mường Thanh và giáo sư Nhạ nhờ bóng bác Tổng?


Vu Hai Tran 

- Mường Thanh và giáo sư Nhạ nhờ bóng bác Tổng? Báo hiệu điều gì? Có giống Đinh La Thăng? Đầu Tết, một báo điện tử đưa tin về bác Tổng nói về khách sạn Mường Thanh. Thậm chí báo này đăng bút tích thơ của bác Tổng động viên Mường Thanh vào cuối tháng 10/2017, thời điểm Hà nội doạ khởi tố tập đoàn Mường Thanh.




Mùng 4 Tết, 19/2/2018, giáo sư Phùng Xuân Nhạ tháp tùng bác Tổng về Hưng yên, quê ông Nhạ. Trong khi theo lệnh của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, đến 20/2/2018 ông Nhạ phải báo cáo Thủ tướng về rà soát việc công nhận hàng nghìn giáo sư, phó giáo sư, số lượng lớn nhất từ trước đến nay. Chưa rõ ông Nhạ đã hoàn tất báo cáo rà soát chưa, nhưng tối 18/2/2018, giáo sư toán Nguyễn Tiến Dũng đã có "báo cáo" kết luận ông Phùng Xuân Nhạ là một hiện tượng nguỵ khoa học tiêu biểu ở Việt nam, gây "bão" trên mạng xã hội.

Có vẻ trong "bão tố", Mường Thanh và giáo sư Nhạ đều chung niềm tin vào bóng bác Tổng!

Hiện tượng này không biết có giống cựu tư lệnh kiêm cựu bí thư Đinh La Thăng không? Cũng từng là người sát bóng bác Tổng? Thậm chí, khi tự bào chữa trước Toà, ông Thăng còn trích lời bác Tổng, trọn một niềm tin!

http://danviet.vn/…/tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-noi-ve-kha…
https://nld.com.vn/…/tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-chuc-tet-…


Phần nhận xét hiển thị trên trang

NĂM NAY, VUA KHÔNG VỀ ĐỌI SƠN ĐI CÀY NỮA !


Tái hiện vua đi cày trong lễ hội Tịch điền 

VNE
Thứ năm, 22/2/2018 | 11:54 GMT+7 

Đeo mặt nạ, khoác long bào, "vua" xuống đồng xã Đội Sơn (Duy Tiên, Hà Nam) điều khiển trâu cày đường dài thẳng tắp.



Sáng mùng 7/1 âm lịch, lễ hội Tịch điền diễn ra tại xã Đọi Sơn (Duy Tiên, Hà Nam). Được khôi phục 10 năm nay, lễ hội nhằm cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Mở đầu là màn múa lân sư rồng.


Màn trống hội của đội trống làng Đọi Tam chào mừng lễ hội Tịch điền.


Con trâu của ông Nguyễn Trung Đắc được chọn cho "vua" đi cày. Toàn thân trâu quét sáp trắng, mình vẽ mục đồng, cành đào mùa xuân.


Tham gia dắt trâu đi cày là những người có kinh nghiệm cày cấy.


Nông dân thôn Đội Nhì và Đội Tít tham gia rước kiệu trong lễ hội,
mong cho một năm mới mùa màng bội thu.


Người đóng giả vua Lê Đại Hành cày ruộng khai xuân là cụ Đinh Công Tế (89 tuổi)
ở thôn Đọi Nhất, xã Đọi Sơn.


Nhiều năm đóng giả vua Lê Đại Hành cày ruộng, cụ Định Trọng Tế 
dày dặn kinh nghiệm điều khiển trâu cày.


Đường cày thẳng tắp của "vua".

Các cô gái gieo hạt ngay sau những đường cày đầu tiên, cầu mong mùa màng bội thu.


Hội thi trang trí trâu là hoạt động trong lễ hội. Thay vì khoác vải đỏ thời xưa, nay những chú trâu được vẽ bằng sáp màu rực rỡ.

Nhiều du khách đến tham quan lễ hội Tịch điền. Đây cũng là dịp để nhân dân trong vùng, du khách thập phương tưởng nhớ về cội nguồn, giáo dục các thế hệ trẻ truyền thống yêu lao động của cha ông.
Giang Huy

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sinh viên Việt Nam tụt hậu vì những môn học vô bổ





Ngọc Quang (Thực hiện)
Báo Giáo dục 
07:39 20/02/16 


(GDVN) - PGS.TS Nguyễn Văn Nhã cho biết, ở nhiều nước đào tạo đại học 4 năm, nhưng sinh viên được học rất sâu về ngành, chứ không học nhiều môn vô bổ như ở Việt Nam. 

Vào tháng 1/2016, Bộ Giáo dục đã có tờ trình đề nghị rút ngắn thời gian đào tạo đại học từ 3 – 4 năm. Trao đổi với Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Văn Nhã – nguyên Trưởng Ban Đào tạo Đại học Quốc gia Hà Nội nhận định, rút ngắn thời gian đào tạo mà cắt thời gian học ngành thì chẳng khác nào trong bữa ăn để lại toàn món phụ, cắt đi món chính.

Thưa Phó Giáo sư, ông có ủng hộ việc rút ngắn thời gian đào tạo đại học không? Và theo ông, khi rút ngắn thời gian đào tạo thì phải cấu trúc lại thế nào? 

PGS.TS Nguyễn Văn Nhã: Tôi ủng hộ quan điểm rút ngắn thời gian đào tạo đại học. Chúng ta biết rằng có 4 khối kiến thức, bao gồm: Kiến thức chung (Chính trị, tư tưởng, ngoại ngữ, toán đại cương…) có tổng cộng vào khoảng 30 tín chỉ. Gần như tất cả các trường đều học khối kiến thức chung này. 30 tín chỉ ấy chiếm mất khoảng 1 năm học. Như vậy thực chất hiện nay đào tạo đại học 4 năm thì học vào chuyên ngành và chuẩn bị cho tốt nghiệp chỉ có 3 năm.

Ở châu Âu, nhiều trường áp dụng chương trình đào tạo 3 năm, nghĩa là họ không có khối kiến thức chung như Việt Nam. Khối kiến thức chung với một số môn học bắt buộc đều được đẩy ra khỏi chương trình đào tạo chính thức, trở thành điều kiện cần cho các sinh viên tốt nghiệp. Thí dụ như ngoại ngữ chẳng hạn, sinh viên có thể học ở đâu cũng được, miễn là cuối cùng phải có được chứng chỉ đúng theo yêu cầu là đảm bảo yêu cầu.

Trong chương trình chính khóa thì bao giờ cũng học từ kiến thức cơ sở, sau đó vào kiến thức ngành, rồi đi sâu vào chuyên ngành. Ở bậc đại học vẫn là kiến thức ngành chứ chưa thể gọi là chuyên ngành, còn đến sau đại học thì mới đi vào chuyên ngành.

Thí dụ như Vật lý rất rộng, phải học cơ, điện, nhiệt, quang… gọi là đại cương; rồi sau đó mới đi theo phương pháp giảng dạy, hay theo Vật lý lý thuyết hoặc một lĩnh vực khác chuyên sâu.

Bây giờ chúng ta đào tạo 3 năm thì có nghĩa là thời gian đào tạo ngành không thể rút đi được, lý thuyết có thể điều chỉnh ngắn đi, nhưng phải tăng thời gian thực hành, đây cũng điểm còn yếu với đa phần sinh viên Việt Nam hiện nay.

Vậy khối kiến thức chung kia phải làm thế nào? Rõ ràng chúng ta cũng chỉ còn cách là đẩy nó ra khỏi chương trình chính khóa, trở thành các lớp học ngoại khóa, và cách dạy cũng phải đổi mới, không thể tiếp diễn tình trạng nhồi sọ những môn học tư tưởng như hiện nay. Thầy cứ đọc, trò cứ chép, rồi thi xong thì chữ thầy trả lại cho thầy. 

Cũng có người nói rằng, nếu đào tạo rút gọn, lược bớt đi những phần nội dung chính trị, tư tưởng thì sinh viên được đào tạo ra liệu có còn là người Việt Nam yêu nước không?  

PGS.TS Nguyễn Văn Nhã: Đấy là suy nghĩ sai lầm, bởi vì bản thân mỗi chúng ta khi sinh ra là người Việt Nam thì đã có dòng máu yêu nước rồi.

Trong cả cuộc hành trình nhiều năm tháng học từ Tiểu học cho tới Trung học cơ sở, rồi vào phổ thông, các em cũng liên tục được gia đình và nhà trường dạy dỗ truyền thống của dân tộc. Cho nên sẽ là một sai lầm nếu cứ duy trì cách dạy cũ, tức là nhồi cho các em những môn học mang tính tư tưởng một cách khô cứng ngay từ khi bước chân vào giảng đường đại học.

Tôi lấy thí dụ các em học những ngành về nghệ thuật thì ngay từ ban đầu đã phải dạy cho các em những môn học cảm nhận được cái hay, cái thú vị của ngành ấy. Hay những em nào học về Toán thì rõ ràng đam mê của các em sẽ là Toán, vậy phải học những môn có tính gợi mở của Toán, chứ không thể nào vào học là dạy Triết, nào là quan niệm phương Đông, quan niệm phương Tây… những kiến thức đó đều hay cả. Nhưng thiết kế kiểu ấy không phù hợp và nó dễ gây ra tâm lý chán nản cho sinh viên.

Nếu rút ngắn thời gian đào tạo mà lại giữ khối kiến thức chung, cắt vào kiến thức ngành thì có khác nào trong một bữa ăn cắt đi món chính và để lại toàn món phụ. Thế thì nguy hiểm quá. 

Vì sao trình độ cử nhân của Việt Nam quá yếu? 

Cũng là thời lượng đào tạo 4 năm, nhưng vì sao trình độ của cử nhân Việt Nam với nhiều nước có sự chênh lệch rất lớn? 

PGS.TS Nguyễn Văn Nhã: Tôi lấy một thí dụ điển hình là ở nước Mỹ, cũng đào tạo đại học 4 năm, nhưng 4 năm của họ là làm việc thật, làm việc cật lực, chứ không chia thời gian cho những môn học như ở ta, để rồi không dùng được vào ngành học.

Tiêu chí đào tạo của Mỹ rất khoa học, nó được thể hiện rất rõ ràng qua việc sinh viên phải hoàn thành được một bài tập cụ thể, và phải tham gia được vào một nghiên cứu ngay từ năm thứ nhất.

Tới năm thứ hai, sinh viên phải xuống thực tế tại các nhà máy, các cơ sở lao động và phải có được một bài tham luận.

Tới năm thứ ba, sinh viên phải tham gia được vào các công trình nghiên cứu khoa học của thầy cô, để được trực tiếp làm một số việc đơn giản, qua đó hiểu về quy trình, cách thức làm một đề tài khoa học.

Tới năm thứ tư, sinh viên phải có một khóa luận thức sự, phải có được công trình nghiên cứu của riêng mình.

Qua cả một quá trình học tập, làm việc thực tế như vậy cho nên sinh viên của Mỹ nắm rất chắc cả lý thuyết với kỹ năng.

Như vậy, vấn đề đặt ra cho nền giáo dục Việt Nam là khi rút ngắn thời lượng đào tạo thì cấu trúc phải thay đổi, nhưng thay đổi như thế nào thì cho tới nay cũng chưa rõ. Tôi mong rằng, Bộ Giáo dục sẽ có tính toán cẩn trọng, lắng nghe ý kiến của các nhà khoa học, ý kiến của các nhà chuyên môn tâm huyết với giáo dục để đưa ra được cấu trúc khoa học, phù hợp với mong muốn đổi mới của giáo dục Việt Nam. 

Cùng với việc tính toán lại thời gian đào tạo đại học, ở bậc phổ thông cũng đồng thời phải cấu trúc lại để phù hợp với sự đổi mới? 

PGS.TS Nguyễn Văn Nhã: Đúng như vậy! Tính hệ thống phải được đảm bảo, và cách tốt nhất là làm đồng bộ thì sẽ nhìn thấy cả một chặng đường định hướng nghề nghiệp từ phổ thông.

Theo như đề xuất của Bộ Giáo dục thì bậc Trung học phổ thông có 3 luồng, gồm: Định hướng chung (có tính hàn lâm/khoa học như hiện nay); Định hướng kỹ thuật/công nghệ; Định hướng năng khiếu (nghệ thuật, thể thao). Với sự phân chia 3 luồng rõ rệt như vậy, đào tạo sẽ đi vào chuyên sâu rõ rệt hơn.

Điều tôi muốn nhấn mạnh là với khoảng thời gian 3 năm hoàn toàn có thể xây dựng cho các em một nền kiến thức cơ bản, đảm bảo cho quá trình vào ngành ở đại học. Thí dụ, ngoại ngữ sau khi tốt nghiệp phổ thông, các em đạt được trình độ gì? Đừng để phí 6 năm trời từ trung học cho tới hết phổ thông rồi không đạt được gì.

Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau cho nên có thể triển khai ở bậc đại học trước, vì đây là nơi đưa sản phẩm trực tiếp ra thị trường. Việc cơ cấu lại thời gian đào tạo hay giảm bớt số lượng đào tạo với từng ngành, từng trường cũng mới chỉ là một biện pháp cơ bản có tính mở đầu. Cái mà xã hội quan tâm là chất lượng đào tạo, đây là vấn đề tự các trường phải vận động nếu không muốn bị tụt hậu, bị mất sinh viên.

Trân trọng cảm ơn ông! 

Ngọc Quang (Thực hiện)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mỹ-Nhật-Ấn-Úc đang lên phương án đối phó với Trung Quốc



Tạp chí Tài chính Úc hôm Chủ Nhật (18/2) đã đăng bài viết cho biết Úc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hoa Kỳ đang xem xét thành lập liên minh để đối phó với việc Trung Quốc ngày càng gia tăng ảnh hưởng ở khu vực và thế giới, đặc biệt thông qua siêu dự án “Vành đai và Con đường”.
Mỹ, Nhật, Ấn, Úc đang tích cực đẩy mạnh đàm phán để sớm thành lập nhóm bộ tứ tại Ấn Độ – Thái Bình Dương.
Được biết, với siêu dự án đầu tư thương mại và cơ sở hạ tầng “Vành đai và Con đường” hay còn được gọi là “Con đường Tơ lụa mới”, Trung Quốc muốn tái lập lại con đường thương mại huyền thoại dọc theo vùng Cận và Viễn Đông đã tồn tại cho đến thế kỷ 15. Dự án khổng lồ này là một nguồn lực gây ảnh hưởng to lớn của Trung Quốc vì nó liên quan đến việc phân bổ một khoản tiền khổng lồ vào cơ sở hạ tầng, cấp vốn vay cho các quốc gia nhỏ hơn dọc theo tuyến đường “Tơ lụa mới”, và hứa hẹn đạt được những lợi ích kinh tế to lớn.
Hãng tin CNBC (Mỹ) mới đây đã đưa ra nhận định rằng quy mô của dự án “Vành đai và Con đường” là rất lớn, bao phủ tới 65 quốc gia, chiếm 1/3 GDP toàn thế giới và ảnh hưởng tới khoảng 60% dân số toàn cầu
Trước khả năng ảnh hưởng mạnh mẽ của siêu dự án của Trung Quốc, Mỹ và phương Tây đã có những phản ứng đầu tiên với việc Mỹ đang thiết lập mối quan hệ về an ninh và kinh tế gần gũi hơn với Ấn Độ và Washington cũng đưa ra các đề xuất để tăng cường hợp tác chặt chẽ hơn với Nhật Bản và Úc. Bốn nước Mỹ – Nhật – Ấn – Úc đã có các cuộc tọa đàm cùng nhau tại các hội nghị ASEAN và Đông Á ở Philippines vào tháng 11 năm ngoái.
Theo các nguồn tin từ Tạp chí Tài chính Úc, các cuộc đàm phán giữa bốn nước nêu trên đã được tiến hành trong nhiều tháng qua, tuy nhiên Mỹ vẫn chưa sẵn sàng để công bố chính thức về liên minh này khi Thủ tướng Úc Malcolm Turnbull tới thăm Washington trong tuần này.
Thời báo Nhật Bản lưu ý rằng Ngoại trưởng Úc Julie Bishop trong một cuộc trả lời phóng vấn hôm thứ Hai (19/2) đã xác nhận rằng bốn nước đang thảo luận một kế hoạch cơ sở hạ tầng chung và nhấn mạnh “khu vực [Ấn Độ – Thái Bình Dương] đang có nhu cầu rất lớn về cải thiện cơ sở hạ tầng”.
Các quan chức cấp cao của Úc, Mỹ và Nhật tỏ ra khá thận trọng khi đề cập tới dự án cơ sở hạ tầng hợp tác giữa bốn nước. Cả Ngoại trưởng Bishop và một quan chức Mỹ giấu tên nhấn mạnh trên Tạp chí Tài chính Úc rằng kế hoạch cơ sở hạ tầng của bốn nước Mỹ-Nhật-Ấn-Úc là “sự lựa chọn thay thế” cho dự án “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc, chứ không phải là “đối thủ” với sáng kiến của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.
Chánh văn phòng Nội các Nhật Bản Yoshihide Suga, trong cuộc họp báo tại Tokyo hôm thứ Hai (19/2), cũng đã có phát ngôn tương tự, khẳng định rằng: “Dự án này không nhằm mục đích chống lại kế hoạch ‘Vành đai và Con đường’ của Trung Quốc”. Ông Suga nói thêm rằng Nhật Bản đã có bản dự thảo về các kế hoạch cho “Chiến lược Ấn Độ – Thái Bình Dương Tự do và Cởi mở” và hoàn toàn có thể lấy đó làm chiến lược cho nhóm bộ tứ.
Trong nhóm bộ tứ đang dần hình thành, Ấn Độ có lẽ là quốc gia có tiếng nói phản đối dự án “Vành đai và Con đường” công khai nhất. New Delhi mới đây đã hoan nghênh việc Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis trong tháng 10/2017 đã nói rằng Trung Quốc không có quyền áp đặt vành đai và con đường vào bất kỳ nước nào.
Tuy nhiên, trên bình diện chung của nhóm bộ tứ, các phát ngôn về dự án hợp tác tương lai đều nhấn mạnh về “lựa chọn thay thế” hơn là “đối thủ” của Trung Quốc. Một vị quan chức Mỹ giải thích rằng dự án của Mỹ-Úc-Nhật-Ấn không nhằm mục đích loại bỏ dự án của Trung Quốc và đối đầu với “Vành đai và Con đường”. Vị quan chức này mô tả dự án mới là cơ hội hợp tác tiềm năng với đề xướng của Trung Quốc và đưa ra ví dụ rằng các cảng biển do Trung Quốc xây dựng có thể không đem lại lợi nhuận cho tới khi có sự hợp tác của Mỹ.
Trong khi đó, trang tin Bloomberg (Mỹ) nhìn nhận kế hoạch của nhóm bộ tứ là cách để Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump hài hòa với mong muốn đối phó với Trung Quốc và Nga được nêu ra trong Chiến lược An ninh Quốc gia mới, và cân bằng với việc Mỹ rút khỏi các hiệp định đa phương như Hiệp định Thương mại Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Giáo sư về nghiên cứu an ninh của Đại học Macquarie ở Sydney Bates Gill đã suy đoán rằng chương trình mà ông Trump và ông Turnbull sẽ thảo luận tại Washington tuần này là cố gắng để tái định hình liên minh an ninh bốn bên liên quan đến “các điều khoản về kinh tế và cơ sở hạ tầng” để nó nghe có vẻ “ít đối đầu với Trung Quốc“.
Các chuyên gia quốc tế đánh giá rằng dự án hợp tác của nhóm bộ tứ, cũng như “Vành đại và Con đường” của Trung Quốc, sẽ cần ít nhất 5 năm mới có thể định hình trên thực tế. Chủ tịch Tập Cận Bình lần đầu nói về dự án “Vành đai và Con đường” vào năm 2013, nhưng thực tế nó đã được thai nghén nhiều năm trước đó. Và phải tới năm 2016, Trung Quốc mới thành lập được Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng Châu Á để cấp vốn cho siêu dự án nêu trên. Cho tới nay, ngân hàng này đã cấp vốn cho 24 dự án cơ sở hạ tầng tại các nước trong “Vành đại và Con đường”.
Mặc dù dự án của Mỹ và các đồng minh có thể sẽ còn mất nhiều thời gian để triển khai, nhưng nó đã bắt đầu thu hút sự chú ý của các học giả chính trị Trung Quốc.
Trên tờ Hoa Nam Buổi Sáng (Hồng Kông), giáo sư Pang Zhongying của Đại học Đại Dương Trung Quốc mới đây đã đưa ra cảnh báo rằng không thể đánh giá thấp sự hợp tác của Mỹ với các nước Úc – Ấn – Nhật.
Năm năm đã trôi qua, đã đến lúc Trung Quốc kiểm tra và suy nghĩ lại những lợi ích và tổn thất của các dự án [Vành đai và Con đường]. Nên thay cách làm để thúc đẩy sáng kiến này, cần tuân thủ các quy tắc toàn cầu và lực lượng thị trường”, ông Zhongying đưa ra lời khuyên.
Giáo sư về quan hệ quốc tế của Đại học Bắc Kinh Jia Qingguo nói thêm rằng: “Trung Quốc cần suy nghĩ lại về cách tiếp cận của ‘Sáng kiến Vành đai và Con đường’. [Sáng kiến] đó tập trung quá nhiều vào các cân nhắc chính trị hơn là các cân nhắc về kinh tế và nó không bền vững… Bắc Kinh cần làm nhiều hơn để quản lý mối quan hệ với các nước trong khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương”.
Điều đáng chú ý là cả hai vị giáo sư Trung Quốc đều đề cập tới các mối quan hệ quốc tế, các quy tắc toàn cầu và lực lượng thị trường trong bình luận liên quan đến dự án “Vành đai và Con đường”. Đó là điểm yếu cố hữu của Trung Quốc trong hành xử quốc tế. Cựu Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Daniel Russel cũng nói về việc cần phải đảm bảo Trung Quốc tuân thủ các quy tắc quốc tế. Ông Russel cho rằng các nhà hoạch định chính sách cả ở trong và ngoài Trung Quốc đều nhìn thấy những lỗ hổng trong siêu dự án của Bắc Kinh và đó có thể là điểm mà Mỹ và đồng minh có thể khai thác nhằm chiếm lợi thế.
Tân  Bình (T/h)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 21 tháng 2, 2018

Bài học về lòng dân của nhà Hồ



Dân là gốc của nước. Giữ nước trước hết là giữ dân, được lòng dân. Bài học xương máu ấy không bao giờ cũ trong bất cứ thời nào, chế độ nào.Hiểm họa từ phương Bắc Từ lâu, nhà Minh đã nuôi âm mưu xâm lược nước ta

Kết quả hình ảnh cho hình ảnh về thành nhà hồ

Trong lịch sử hàng nghìn năm hiếm có triều đại nào xây thành quách kiên cố vững chãi như thành Tây Đô của nhà Hồ.



Từ lâu, nhà Minh đã nuôi âm mưu xâm lược nước ta, tuy nhiên khi nhà Hồ thành lập thì tình hình nhà Minh cũng rối loạn nên âm mưu đó không thực hiện được. Mãi đến năm 1403, khi Minh Thái Tông diệt xong Huệ đế và lên ngôi thì âm mưu xâm lược nước ta mới được đẩy mạnh.
Vua Minh đã cử nhiều đoàn sứ thần sang Đại Ngu (quốc hiệu nước ta thời nhà Hồ) để thăm dò và liên lạc với một số quan lại cũ của nhà Trần có tư tưởng chống nhà Hồ để chuẩn bị làm nội ứng.
Thâm hiểm hơn, nhà Minh còn cho người vượt biển sang Chăm-pa, xúi giục Vua Chăm-pa đem quân đánh vào nam Đại Ngu để quấy rối, tạo thuận lợi cho việc nhà Minh đem quân từ phương Bắc đánh xuống.

Năm 1405, lấy cớ nước ta chiếm Lộc Châu là đất của chúng, vua Minh sai người sang đòi. Để yên chuyện và kéo dài thời gian chuẩn bị kháng chiến, Hồ Quý Ly phải cử Hoàng Hối Khanh làm cát địa sứ cắt 59 thôn ở Cổ Lâu để trả cho chúng.
Hè năm 1406, nhà Minh sai hai tướng Hàn Quan và Hoàng Trung đem hơn 5.000 quân kéo sang nước ta, lấy cớ là ủng hộ Trần Thiêm Bình về nước làm vua. Trần Thiêm Bình vốn là một gia nô nhà Trần, trốn sang Minh, đổi tên và tự xưng là con của vua Trần Nghệ Tông. Nhưng quân Minh vừa kéo đến Lạng Sơn thì bị quân nhà Hồ đánh tan, chúng phải xin nộp Thiêm Bình để được rút về.
Thấy rõ âm mưu xâm lược của nhà Minh, ngay từ khi lên ngôi, Hồ Quý Ly đã khẩn trương chuẩn bị phòng vệ. Nhiều cuộc hành quân và di dân khai hoang được tiến hành liên tục trong các năm 1403 - 1404 nhằm củng cố, bảo vệ biên giới phía Nam.
Năm 1405, nhà Hồ còn lập ra 4 kho quân khí (xưởng chế tạo vũ khí), tăng cường thăm dò, nghiên cứu các vùng biển hiểm yếu, củng cố lực lượng quân sự.
Cũng trong thời gian này xuất hiện những súng “thần cơ sang pháo”, những thuyền lớn đi biển có lầu với tên gọi là “Tải lương cổ lâu” (thực ra là các thuyền chiến). Người sáng chế và chỉ đạo chế tác theo các tài liệu sử sách ghi lại chính là Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng, con trai cả của Hồ Quý Ly.
Kháng chiến trong đơn độc
Tháng 10 năm 1406, nhà Minh cử 2 đạo quân lớn gồm hàng chục vạn lính chiến và dân phu tấn công xâm lược nước ta theo hai hướng Lạng Sơn và Tây Bắc. Những tên tướng cầm đầu là Chu Năng, Trương Phụ, Mộc Thạnh còn phát hịch rêu rao là “tìm con cháu họ Trần để lạp làm vua” để đánh lừa nhân dân ta.
Cuối năm 1406, giặc Minh vượt qua Lạng Sơn đánh về Thăng Long. Đầu năm 1407, chúng vượt sông Hồng đánh vào phòng tuyến Đa Bang (Ba Vì, Hà Nội). Dù chiến đấu rất anh dũng nhưng do đơn độc, không được nhân dân ủng hộ nên phòng tuyến Đa Bang thất thủ. Tuyến phòng ngự bị phá vỡ, giặc Minh tràn về Thăng Long, mặc sức phá hoại, cướp bóc, tàn sát nhân dân ta.
Hồ Quý Ly cùng quân đội buộc phải rút về thành Tây Đô (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Tháng 5-1407, giặc Minh do Trương Phụ, Mộc Thạnh chỉ huy kéo vào tấn công và vây hãm thành Tây Đô.
Tây Đô thất thủ, cha con Hồ Quý Ly cùng một số tướng lĩnh trung thành chạy vào Nghệ An. Nhiều tướng lĩnh của nhà Hồ bị giặc bắt. Cuối cùng, đến lượt cha con Hồ Quý Ly cũng bị giặc bắt ở vùng biển Kỳ La (Kỳ Anh, Hà Tĩnh).
Bài học về “được” và “mất” lòng dân
Cho đến nay, khi nghiên cứu về triều đại nhà Hồ, nhiều sử gia đều có chung nhận xét rằng nguyên nhân chính khiến cho cuộc kháng chiến chống giặc Minh của nhà Hồ thất bại chính là phải kháng chiến trong đơn độc, không nhận được sự ủng hộ của nhân dân.
Điều này cũng đã được nhà Hồ nhận ra. Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng từng phát biểu trước triều đình rằng: “Tôi không sợ đánh (giặc), mà chỉ sợ lòng dân không theo” và chính Hồ Quý Ly đã thừa nhận điều này khi ban thưởng cho Hồ Nguyên Trừng chiếc hộp trầu bằng vàng.
Cuộc kháng chiến chống giặc Minh cũng đã chứng tỏ được rằng quân tướng nhà Hồ và một bộ phận nhân dân đã chiến đấu rất quyết liệt. Tuy nhiên cuối cùng cuộc kháng chiến vẫn thất bại vì nhà Hồ không nhận được sự ủng hộ của đa số nhân dân.
Đây là hậu quả của cuộc khủng hoảng cuối thời nhà Trần đã làm suy yếu lực lượng tự vệ của cả triều đình lẫn nhân dân cùng những cải cách sai lầm của Hồ Quý Ly đã làm tăng thêm mâu thuẫn giữa nhân dân với giai cấp thống trị.
Mong muốn sớm giải quyết cuộc khủng hoảng trước nguy cơ ngoại xâm đang đến gần, Hồ Quý Ly đã mạnh tay cải cách về mọi mặt, thậm chí giành lấy ngôi vua, lập triều đại mới để cải cách.
Trên thực tế thì nhà Hồ cũng đã làm được một số việc phù hợp với yêu cầu chung của xã hội lúc bầy giờ, nhưng lại không thể xoa dịu được những mâu thuẫn sâu sắc vốn có của nó.
Thêm vào đó, một số hành động đàn áp, tàn sát con cháu nhà Trần do Hồ Quý Ly tiến hành sau khi chuyển đổi triều đại đã tạo thêm những khó khăn cho việc giải quyết những mâu thuẫn nói trên.
Về vấn đề này, Tiến sĩ khảo cổ học Vũ Thế Long nhận xét: “Thành cao, hào sâu như thế nhưng rồi cuộc kháng chiến chống giặc Minh của nhà Hồ vẫn thất bại. Thất bại vì để mất lòng dân. Dân là gốc của nước. Giữ nước trước hết là giữ dân, phải an dân và được lòng dân. Bài học xương máu ấy không bao giờ cũ trong bất cứ thời nào, chế độ nào.”


Hoàng Sơn

Phần nhận xét hiển thị trên trang

cây mới trồng của TBT Trọng

Trồng cây thời hiện đại, vừa sạch chân tay vừa mau lớn, phục bác ấy quá!


Phần nhận xét hiển thị trên trang