Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 28 tháng 1, 2018

Tư liệu cụ HCM:

Hàn Vĩnh Diệp
28-1-2018
Thông thường, cứ đến hạn quy định (5 năm, 10 năm …) cấp trên lại kêu gọi học tập, kiểm điểm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm ngoái, đúng dịp kỷ niệm 45 năm, cấp trên lại phát động một phong trào rộng rãi toàn Dân, toàn Đảng học tập kiểm điểm, làm theo Di chúc!
Chúng tôi cứ nghĩ lẩn thẩn không biết học tập, kiểm điểm làm theo cái Di chúc nào? Tài liệu chính thức được phát hành khắp nơi là quyển “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại” gồm Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, lời kêu gọi và điếu văn của Ban chấp hành TWĐ do BCH TWĐ xuất bản. Năm 1988, BCH TWĐ lại cho xuất bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong bản này có: Thông báo của Bộ chính trị BCH TW về một số vấn đề liên quan đến Di chúc và ngày qua đời của chủ tịch Hồ Chí Minh; bản Di chúc của cụ Hồ viết năm 1965 và các bản bổ sung 1966,1967,1968,1969; bản Di chúc công bố năm 1969 (bản được xem như chính thức) của BCH Trung ương Đảng. Chưa nói đến các luồng thông tin khác vì chưa được kiểm chứng một cách khách quan, khoa học, chỉ căn cứ vào hai bản do BCH TW Đảng ban hành, đã thấy có nhiều khác biệt, xin dẫn một số điểm cụ thể như sau:
1. Trước hết cần thống nhất về nhận thức là Di chúc của cụ Hồ là toàn bộ các bản thảo của Cụ đã viết từ năm 1965 đến năm 1969. Lẽ ra, khi công bố Di chúc của Cụ, BCH TW phải tập hợp nguyên văn các bản thảo (trừ các câu, chữ trùng lắp). Nhưng không được làm như vậy, cho nên giữa hai bản có độ vênh lớn.
2. Bản Di chúc năm 1965 – Trang 2 cụ viết: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài mấy năm nữa (Trong bản thảo viết tay, Cụ viết “cuộc kháng chiến chống Mỹ đến năm 1975 sẽ thắng lợi”. Bản thảo đánh máy cụ viết lại như trên (*)
3. Bản Di chúc của BCH TW đã bỏ hẳn 7 trang bản thảo viết tay của cụ Hồ đã viết về những việc cần thiết phải làm ngay sau ngày thắng lợi, cụ thể là: Chỉnh đốn lại Đảng; công việc đối với con người (cán bộ, binh sĩ, dân quân – du kích, TNXP, gia đình thương binh – liệt sĩ, phụ nữ, thanh niên, nông dân, nạn nhân chế độ xã hội cũ); việc xây dựng lại thành phố, làng mạc; phát triển kinh tế, giáo dục; củng cố quốc phòng; chuẩn bị thống nhất Tổ quốc …
(*) Khoảng năm 1983, chúng tôi được nghe một đ/c lãnh đạo Tỉnh ủy nói: “Ở bảo tàng thành phố HCM – Hà Nội trưng bày bản thảo Di chúc viết tay, cụ viết: “năm 1975 …. sẽ thắng lợi”. Năm sau, ra Hà Nội, chúng tôi vào bảo tàng xem, đúng như lời đ/c lãnh đạo tỉnh nói. Chữ năm 1975 cụ viết bằng mực đỏ. Mấy năm sau, chúng tôi đến bảo tàng cùng một người cháu thì bản thảo trưng bày trước đây đã đổi bằng bản đánh máy, hỏi cô thuyết minh, cô xác nhận lúc đầu trưng bày là bản viết tay ấy. Sau lãnh đạo viện đã đổi thành bản này.
4. Trong các bản thảo, cụ viết: “… chỉ nói vắn tắt vài việc thôi (…) không đi sâu vào chi tiết”. Nhưng về phần việc riêng, cụ lại viết khá chi tiết. Bản năm 1965, cụ viết: “Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức đám đình, lãng phí ngày giờ và tiền bạc của nhân dân, tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách hỏa táng sẽ dần được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất. Bao giờ ta có nhiều điện thì sẽ “điện táng” càng tốt hơn.
Tro xương thì tìm một quả đồi để chôn. Gần Tam đảo và Ba vì hình như có nhiều quả đồi tốt. Trên mộ nên xây một cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.
Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp.
Nếu tôi qua đời trước ngày nước ta thống nhất thì nên giữ một ít tro xương cho đồng bào miền Nam. (*)
Bản năm 1968 cụ viết lại: “… Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện thì “điện táng” càng tốt hơn.
Tro thì chia thành ba phần bỏ vào ba cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam. Đồng bào mỗi miền nên chọn một quả đồi để chôn tro đó. Trên mỗi mả không nên có bia đá tượng đồng mà nên xây một ngôi nhà đơn giản, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.
Nên có kế hoạch trồng cây trên và xung quanh đồi. Ai đến thăm thì trồng một vài cây làm kỷ niệm. Lâu ngày cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp. Việc săn sóc nên giao cho các cụ phụ lão”.
(*) Theo hồi ký của ông Hoàng Đạo Thúy – Thủ lĩnh hướng đạo sinh Đông Dương – nguyên Cục trưởng cục thông tin – Bộ Tổng tham mưu QĐ NDVN, khoảng năm 1957, cụ Hồ gặp ông Thúy hỏi: “Ông là hướng đạo sinh, đi nhiều nơi, ông có biết quanh vùng Hà Nội có nơi nào đất tốt, phong cảnh đẹp, kín đáo … mách cho tôi một chỗ! Tôi có biết hình như vùng Tam đảo, Ba vì có nơi khá tốt!” Ông Thúy đáp: “tôi có biết khắp vùng đồng bằng – trung du quanh Hà Nội có nhiều nơi tốt, nhưng Tam Đảo – Ba Vì là nơi đắc địa, Ba Vì trội hơn.” Sau đó, cụ nhờ ông đưa lên vùng Đá Chông – Ba Vì thăm. Năm 1958 Cụ quyết định xây dựng cơ sở II của TWĐ và chính phủ ở đây. Có lẽ trong khu vực này cụ Hồ đã chọn một nơi để an táng cho mình sau khi qua đời.
5. Di chúc là thiêng liêng, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, trên thế giới và nước ta không hề có chuyện viết lại, cắt xén, sửa chữa … Di chúc của người đã quá cố, chỉ có những kẻ bất trung, bất hiếu, bất nghĩa mới làm chuyện đó. Trong trang sử nước ta chẳng đã ghi lại chuyện Di chiếu (Di chúc của nhà vua) của vua Lý Nhân Tông, một ông vua anh hùng. Nhà vua căn dặn “… việc tang lễ chỉ ba ngày là bỏ áo trở, thôi thương khóc, không xây lăng mộ riêng, nên kiệm ước …” Khi vua băng hà, Di chiếu được công bố, nhiều trọng thần trong triều đình cho rằng: Di chiếu của nhà vua không hợp với quy chế tang lễ, phải theo quy chế mà thực hiện để giữ gìn kỷ cương phép nước (!). Nhưng sau khi trao đi đổi lại trong triều, mọi người đã tuân theo Di chiếu của vua Lý Nhân Tông. Hưng Đạo Đại Vương – Linh hồn của cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông, bảo vệ toàn vẹn nền độc lập của đất nước ta thế kỷ thứ 13 đã ghi trong Di chúc của mình: “Khi mất, an táng trong rừng Kiếp Bạc, không đắp mộ, xây lăng …” Vua Trần Anh Tông và triều thần nhà Trần đã làm đúng như Di chúc của Người.
Bởi do ý thức và cách làm không đúng đắn mà bản Di chúc công bố năm 1969 được gọi là chính thức và buộc toàn Dân, toàn Đảng thực hiện mãi đến hôm nay chỉ còn là những câu chữ chung chung, công thức, sáo rỗng làm mất đi những ý nghĩa anh linh, thâm thúy thể hiện trong các bản thảo của cụ Hồ. Ví như:
– Trong bản thảo cụ viết: “cuộc kháng chiến chống Mỹ đến năm 1975 sẽ thắng lợi” hoặc “có thể kéo dài vài năm nữa,” sửa lại thành “có thể còn kéo dài”. Ý sửa lại quá bình thường, ai cũng nói được. Cho nên việc sửa chữa đã làm mất hết ý nghĩa lời tiên tri thần tình mà không một ai có thể đoán định được ngoài cụ Hồ. Chắc chắn người sửa chữa cũng biết được sự đoán định thiên tài này của cụ Hồ, cho nên đã cố ý xóa đi, với lý do là sợ nhân dân ta chủ quan, khinh địch, gây nhiều hậu quả cho cuộc kháng chiến …! Quả là sự đánh giá quá thấp, nếu không nói coi thường, trí tuệ, ý chí của nhân dân ta. Lời tiên tri của cụ Hồ không chỉ có một lần này mà đã được công bố hơn 6 lần: Năm 1941 về thời điểm VN độc lập hoàn toàn; năm 1947 về cuộc kháng chiến chống Pháp và giải phóng thủ đô; Năm 1953 về thắng lợi Điện Biên Phủ; Năm 1954 về cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà; năm 1960 và 1965 về ngày thống nhất đất nước; năm 1967 về trận Điện Biên Phủ trên không và Mỹ phải ký hiệp định hòa bình, đơn phương rút quân. Những lời tiên đoán ấy đâu có làm cho dân ta chủ quan, khinh địch “há miệng chờ sung?”
– Những điều cụ Hồ “thấy cần phải viết thêm” cho chúng ta thấy đó là những định hướng cơ bản và cần thiết để Đảng, Nhà nước xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách xây dựng đất nước sau ngày thống nhất. Họ đã bỏ qua lời khuyên đúng đắn, thiết thực của cụ Hồ, xây dựng đường lối, chủ trương ảo tưởng, tả khuynh … (Đại hội 4) khiến đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng triền miên … cụ Hồ viết: “… chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi …” chẳng phải là khuyên Đảng, Nhà nước đổi mới về lãnh đạo và quản lý đất nước? Nhưng tư tưởng bảo thủ, tự cao tự đại đã trấn ngự trong họ, đến khi quá nguy cấp mới vội vàng đổi mới hầu như không theo một chủ thuyết gì mới mà chỉ giáo điều, bảo thủ “kiên định …” cho nên nhiều chính sách “có đổi mà không mới”, “mở ra rồi bóp lại …”
– Về việc riêng có lẽ cụ Hồ đã đoán trước được: hậu sinh sẽ xử lý như thế nào với thi hài của Cụ để có lợi cho họ, cho nên đã căn dặn mấy lần (không phải là viết lặp, trùng) hết sức cặn kẽ, dứt khoát. Theo yêu cầu của Cụ, chúng tôi nghĩ, việc xử lý như Di chúc, không chỉ là chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân (bản thảo năm 1967) một cách đơn giản, hình thức mà còn rất phù hợp với truyền thống, tín ngưỡng thiêng liêng của dân tộc và có lẽ cũng của nhiều dân tộc khác.
Thi hài dù chôn cất dưới hình thức nào (địa táng, hỏa táng, điểu táng, không táng, thủy táng …) phải được toàn vẹn (trừ những trường hợp đặc biệt, bất khả thi) và cuối cùng trở về đất mẹ. Có như vậy, người mất mới được siêu thoát. Đằng này, Di chúc của BCH TW lại bỏ hẳn cách xử lý thi hài theo yêu cầu có tính chỉ thị của Cụ, mà thực hiện hoàn toàn trái ngược: xây lăng tẩm nguy nga đồ sộ hơn cả lăng mộ của các vị vua chúa nổi tiếng thời cổ – trung đại, lăng mộ Lê Nin, Đi Mi Tờrốp, Mao Trạch Đông v.v…, ướp xác nhưng không chôn như người xưa – thân xác đặt lơ lửng trong làng Ba Đình còn nội tạng giữ trên Ba Vì; việc xây lăng tẩm, bảo quản thi hài, cơ sở thờ tự … hết sức tốn kém tiền của nhân dân.
Người ta giải thích lý do của việc làm trái Di chúc của cụ Hồ là: “Thể theo nguyện vọng của nhân dân cho nên phải ướp xác xây lăng để đồng bào cả nước nhất là miền Nam và bạn bè quốc tế có điều kiện đến viếng Bác, thể hiện tình cảm sâu đậm đối với Bác…” (?) Các bậc đại anh hùng dân tộc như Trưng Trắc – Trưng Nhị, Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Trần Thái Tông, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Hoàng Diệu, Nguyễn Thái Học v.v… thi hài của các bậc ấy có lưu giữ đâu; lăng mộ bình dị, khiêm nhường, thậm chí có người không có mộ như Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Hoàng Diệu v.v… mà vẫn được dân tộc ta trăm ngàn đời ngưỡng mộ, kính trọng, tình cảm vẫn hết sức sâu đậm!
Theo hồi ký của Trần Quỳnh – thư ký riêng của Lê Duẩn, cựu ủy viên BCH TWĐ – Phó thủ tướng Chính phủ, thì công lao quyết định việc giữ thi thể cụ Hồ là của ông Lê Duẩn. Bởi, lúc bấy giờ, các chuyên gia Liên Xô không chịu làm vì không đủ điều kiện về y học, phương tiện … Ông Lê Duẩn đã yêu cầu ông Cô – Xư – Gin Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, buộc các chuyên gia Liên Xô phải thực hiện. Về điều này cũng có một điểm tương đồng đáng chú ý: trước khi mất, Lê Nin có Di chúc an táng cạnh mộ cha mẹ ở Pê – Trô – Grát. Nhưng Stalin không tuân thủ mà quyết định ướp xác – xây lăng … Bà Crup – Cai – A, vợ Lê Nin và các em Lê Nin phản đối quyết định sai trái này. Stalin là người kế tục sự nghiệp của Lê Nin, khi qua đời, thi hài cũng được ướp và đặt cạnh Lê Nin trong lăng. Người tự nhận và tay chân tán tụng là linh hồn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, hoàn thành sự nghiệp vĩ đại giải phóng miền Nam thống nhất đất nước; người đặt nền tảng về lý luận và thực tiễn cho sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam và các nước thế giới thứ III; Người kế tục và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê Nin trong thời đại mới v.v… lẽ đương nhiên khi mất phải được đặt ngang hàng với Cụ trong lăng!!?
6. Nhà văn Sơn Tùng đã kể lời ông Vũ Kỳ – người thư ký gần gũi, tin cậy của cụ Hồ: Tối ngày 01 tháng 9 năm 1969, các ông Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Lê Văn Lương có mặt bên giường bịnh của Cụ. Ông Lê Duẩn gọi ông Vũ Kỳ ra vườn, hỏi: “Bác có viết gì để lại không?” Ông Vũ Kỳ đáp: “Có ạ! Ngoài các bản thảo Di chúc còn có một số tài liệu khác. Tất cả đều để trong một chiếc tráp, niêm phong cẩn thận.” Ông Vũ Kỳ thành thật đáp nhưng lại thầm nghĩ: “Bác Hồ dặn: chỉ sau khi Bác mất mới giao cho Bộ chính trị – BCH TW. Nếu lúc này ông Lê Duẩn đòi xem, thì giải quyết thế nào?” Rất may, ông Lê Duẩn chỉ im lặng nặng nề, một lúc rồi nói “Hãy biết vậy”.
Ngày 2 tháng 9 trong giờ phút lâm chung của Người, có mặt các ông Phạm văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Văn Lương. Khi Người tắt thở, các bác sỹ yêu cầu mọi người ra phòng ngoài. Ông Vũ Kỳ báo cáo lại với ông Phạm Văn Đồng và các ông có mặt: “Bác có để lại chiếc tráp đựng bản Di chúc và nhiều tài liệu, thư, Bác viết, trên các bản ấy Bác đều ghi “Tuyệt đối bí mật”. Bác dặn chỉ sau khi Bác mất mới giao cho BCH TW. Bây giờ có các anh ở đây, anh Tô (Phạm Văn Đồng) có chức vụ cao nhất. Tôi xin giao lại cho anh, có các anh ở đây chứng kiến. Ông Phạm Văn Đồng đáp: Không được! Sáng mai, BCH TW họp, tôi với anh đưa tráp tư liệu của Bác đến giao cho TW”.
Sáng 3 tháng 9, ông Vũ Kỳ ôm chiếc tráp đi sau ông Phạm Văn đồng cùng đội bảo vệ đến phòng họp. Ông Lê Duẩn đón nhận chiếc tráp, đặt lên bàn chủ tọa. Một thủ tục đầu tiên hết sức cơ bản, cực kỳ quan trọng và đúng pháp lý bị bỏ qua là BCH TW không tiến hành lập biên bản tiếp nhận các tài liệu của cụ Hồ được bảo quản trong tráp ấy trước mặt người có trách nhiệm lưu giữ – bàn giao và sự chứng kiến của mọi người và bước thứ hai cũng rất thông thường, hợp thủ tục pháp lý là BCH TW – Bộ Chính trị không yêu cầu mở niêm phong – công bố công khai các tài liệu, thư của Cụ có trong tráp.
Về phần ông Vũ Kỳ, vì quá tin vào sự trong sáng, trung thực của những người học trò, chiến hữu thân thiết nhất của Người, cho nên không yêu cầu BCH TW thực hiện các thủ tục trên. Khi tiếp nhận bản Di chúc công bố trong lễ truy điệu, ông Vũ Kỳ rất băn khoăn, thắc mắc về độ chân thực so với các bản Di chúc của Cụ. Ông đã dò hỏi một số ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên BCH TW thân thiết và đáng tin cậy với ông về các tài liệu của cụ Hồ để lại. Họ đều bảo không biết gì, chỉ được thông qua bản Di chúc, lời kêu gọi và điếu văn của BCH TW do ông Lê Duẩn trình bày. Ông đã trực tiếp hỏi ông Lê Duẩn về bản Di chúc và các tài liệu (theo ông, đó cũng là những Di chúc của Cụ đối với nội bộ lãnh đạo Đảng); Ông Lê Duẩn bảo: Hỏi ông Trần Quốc Hoàn – ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an. Ông Vũ Kỳ gặp ông Hoàn. Ông Hoàn đưa chiếc tráp ra, trong đó chỉ có bản Di chúc đánh máy và các bản viết tay. Ông Hoàn bảo: “Tôi nhận chỉ có vậy!”
Như vậy, ngoài các bản Di chúc sau này được công bố, còn tất cả những ý kiến, dặn dò của cụ Hồ đã đi vào tuyệt đối bí mật (!?) Ông Vũ Kỳ trao đổi với các bạn tâm giao và được họ giúp đỡ đăng các suy nghĩ, hiểu biết của ông về các việc trên ở báo Nhân Dân. Trước sức ép của công luận, ngày 19/8/1989, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã ký thông báo số 151-TB/TW của Bộ Chính trị BCH TW Đảng CSVN về một số vấn đề liên quan đến Di chúc và ngày qua đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bản thông báo giải thích lý do của việc sửa chữa, cắt bỏ, thêm bớt … các bản Di chúc của cụ Hồ thành bản Di chúc của BCH TW. Những lời giải thích của thông báo lẩn quẩn, không thấu tình đạt lý. Nhưng vẫn khẳng định bản Di chúc của BCH TW là bản chính thức và chỉ thị toàn Dân, toàn Đảng, toàn Quân: “… Kiểm tra lại những việc chúng ta đang làm (…) làm tốt những điều Bác Hồ đã căn dặn để thỏa lòng mong ước của Bác và xứng đáng với Bác” và vẫn khăng khăng không chịu thực hiện mong ước về việc riêng của Cụ – đồng thời cũng rất phù hợp với tín ngưỡng dân gian, tâm linh thiêng liêng của các dân tộc Việt Nam (*)
Nhân đây cũng xin được nói thêm suy nghĩ: những điều cụ Hồ dặn dò trong các bản Di chúc là cho toàn Dân, toàn đảng; nhưng trước hết và chủ yếu cho các thành viên Bộ Chính trị – BCH TW các khóa, cán bộ chủ chốt của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang các cấp. Thời gian qua, chúng tôi thấy hình như cấp trên chỉ kêu gọi, chỉ thị cho người dân, cán bộ, đảng viên thường học tập, kiểm điểm, còn phần đông các yếu nhân trong Bộ chính trị, BCH TW, Nhà nước, Cấp ủy và chính quyền lực lượng vũ trang các cấp không hoặc làm qua loa, cho nên nhiều năm qua, kêu gọi tha thiết, nghiêm khắc thì quá nhiều nhưng tình trạng tham nhũng lãng phí, mất đoàn kết, chia bè kết cánh, tha hóa sa đọa về phẩm chất đạo đức … càng ngày càng nảy nở sinh sôi, từ vài ba con sâu thành cả bầy sâu!
Nói đến di chúc thì xưa nay, đông tây không thể có di chúc chính thức hay di chúc tham khảo. Di chúc của cụ Hồ, dứt khoát phải là bản do tự tay Cụ viết ra (dù có cơ quan pháp lý chúng kiến, xác nhận hay không).

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tự do hà xứ hữu


Nguyễn Hoa Lư
28-1-2018
1. Tự do – công án thiền?
Ông Đinh La Thăng bị còng tay, dẫn giải ra tòa. Ảnh: báo TN
Một năm trước, nếu bạn hỏi anh Thăng tự do là gì, chắc anh sẽ cười rung chuyển cả đô thành Sài Gòn. Anh sẽ khoát tay hào hứng trước sự ngây thơ trong trắng của bạn mà rằng, tự do tràn ngập như khí trời, mênh mang như gió ngoài đồng nội, rạng rỡ như vầng dương mỗi sáng, dào dạt như nước triều dâng. Bây giờ thì anh đang cháy bỏng ước mơ “được làm con ma tự do”, nước mắt chan hòa, anh khẩn thiết xin lỗi bác Cả và bộc bạch với quan tòa nỗi lòng “Xuân này con không về”. Trong những đêm không ngủ trên nền xà lim lạnh, anh Thăng chắc sẽ bắt đầu chứng ngộ ý nghĩa sâu xa của hai chữ tự do.
Kìa kìa, như ở xứ kia, mỗi ngày có cả vạn đơn kêu oan gửi đến công đường. Nạn nhân, máu hòa nước mắt, cắm mặt vào tờ giấy trình bày nỗi oan dậy đất. Hết thảy họ, không sót một ai đều ghi phía trên bên phải tờ đơn một dòng mật ngữ. Kìa kìa ở xứ nọ, mỗi sáng mỗi khuya lại phát ra trăm ngàn lệnh truy nã, giấy triệu tập, bản khám xét. Đại diện pháp luật, mặt sắt đen sì, dõng dạc cất giọng đọc và câu mở đầu luôn là một công án thiền. Mật ngữ ấy, công án thiền kia, các nhà ngôn ngữ học xứ mình không hẹn mà gặp, đều nhất tề phiên thành “độc lập, tự do, hạnh phúc”.
Vậy, tự do không thể là câu hỏi cắc cớ của những kẻ rỗi hơi lắm điều được.
2. Hơn 150 năm trước, nước Anh sương mù sinh ra hai nhà triết học vĩ đại, đều hướng xã hội loài người đi đến tự do.
Người thứ nhất là đồng chí Marx có bộ râu rậm và lý thuyết đấu tranh giai cấp bất hủ. Dẫn ra mấy câu trong di sản ấy để người đọc thưởng lãm. “Lịch sử của mọi xã hội tồn tại cho tới nay là lịch sử của những cuộc đấu tranh giai cấp”. Hay Tôn giáo là tiếng thở dài của loài người bị đàn áp, trái tim của một thế giới không trái tim, và linh hồn của những điều kiện vô hồn. Nó là thuốc phiện của nhân dân”. Hay “hạnh phúc là đấu tranh”…
Người kia, tên là John Mill, không có sợi râu nào cả, dân mình ít biết. Ông Mill viết cuốn sách “Bàn về tự do”, nói những câu nghe rất nghịch nhĩ. “Nếu tất cả nhân loại trừ một người, có chung một quan điểm, và chỉ riêng người đó có quan điểm trái ngược, thì việc nhân loại bắt anh ta phải im lặng cũng không chính đáng hơn việc anh ta – nếu anh ta nắm quyền lực – bắt cả nhân loại phải im lặng.”
Tư tưởng của hai đồng chí này được hậu thế áp dụng để xây dựng nên những thể chế khác nhau như nước và lửa. Đồng chí Marx trở thành ông tổ của các nước theo phe XHCN, được thờ phụng, đời đời nhang khói. Các nước tư bản, dù mang ơn Mill, trước sau chỉ coi ông là một nhà triết học,  thầy trò ở đại học Harvard vẫn chế giễu những chỗ quá đà trong học thuyết của ông là “dị giáo”.
3. Tá vấn tự do hà xứ hữu
Marx vĩ đại có một môn đệ trung thành, sinh ở xứ An nam, cả cuộc đời đau đáu về hai chữ tự do. Thời bị giam ở Quảng Tây, trong ngục tối, viết “Nhật kí trong tù”. Hậu thế coi là “quốc bảo”, tất thảy học trò đều tụng những bài thơ về khát vọng tự do.
Đau khổ chi bằng mất tự do/ Đến buồn đi ỉa cũng không cho/ Cửa tù khi mở không đau bụng/ Đau bụng thì không mở cửa tù”.
“Khiêng lợn người đi cùng một lối/ Ta thì người dắt lợn người khiêng/ Con người coi rẻ hơn con lợn/ Chỉ tại người không có chủ quyền/ Trên đời ngàn vạn điều cay đắng/ Cay đắng chi bằng mất tự do/ Mỗi việc mỗi lời không tự chủ/ Để cho người dắt tựa trâu bò”.
Trừ vài người như cụ dế mèn Tô Hoài cho rằng đó chỉ là những “bài thơ kêu oan” còn hết thảy các nhà nghiên cứu đều thánh hóa “Nhật kí trong tù”, coi là mẫu mực tuyệt tác của văn chương và tư tưởng. Sự “thánh hóa”, tưởng là thuốc tiên cho trong việc giáo dục trí tuệ và nhân cách con trẻ, đã vô tình gây phản ứng phụ. Ấy là sự tích tụ dần dần trong sâu thẳm tiềm thức của các thế hệ học trò những kiến thức thô sơ về tự do. Các quan trị nước và bá tánh dân đen hành xử theo cách nhân danh những chuẩn mực thô sơ của tự do thì xếp hạng văn minh của đất nước bao giờ mới “sánh vai với các cường quốc năm châu” được.
4. Bài học về tự do
Giáo sư Michael Sandel có khóa học “Công lý” cho sinh viên đại học Harvard. Những bài giảng của ông nổi tiếng khắp thế giới, được ghi hình và phổ biến rộng rãi trên youtube. Nhìn cảnh thầy trò Harvard tranh luận nhau về tự do, đưa ra những kiến giải đa chiều về “tự do mưu cầu hạnh phúc”, tự do biểu đạt tư tưởng của cá nhân… tự nhiên thấy phục cụ Hồ sái cổ.
Người học trò yêu của Lê Nin, một lòng “học học nữa, học mãi”, học suốt đời. Chết vẫn còn học. Suốt 50 năm nay, từ khi nhắm mắt xuôi tay, không còn vướng bận chuyện nước nhà, cụ vẫn học, không phải là thứ học thi thư phù phiếm và lạc hậu. Cụ nghiền ngẫm những câu hỏi đang làm đau đầu thầy trò Harvard. Nét độc đáo, vĩ đại, nhân văn tuyệt cú mèo này của cụ, nhân gian ít người “thấu cảm” được.
Bằng chứng ư? Ấy là việc cụ sai người khắc bằng vàng hai chữ tự do, cho treo trên đầu quan tài để lặng yên nhìn ngắm và suy ngẫm.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Xét về Chủ Quyền Quần Đảo Tây Sa do Chính Phủ Trung Hoa Dân Quốc Nêu trong Sách Nam Hải Chư Đảo Địa Lý Chí Lược


Tác giả: Hồ Bạch Thảo
Dự án Đại Sự Ký Biển Đông, ngày 28 tháng 1 năm 2018
01
Ảnh bìa cuốn Nam Hải chư đảo địa lý chí lược. Nguồn: Chử Đình Phúc/Thư viện điện tử Dự án Đại Sự Ký Biển Đông.
Tháng 11 năm Trung Hoa Dân Quốc thứ 36 [1947] bộ nội chính Trung Hoa Dân Quốc cho xuất bản quyển sách nhan đề Nam Hải chư đảo địa lý chí lược, do Trịnh Tư Ước biên soạn[1]. Đây là sách đầu tiên nhắm đành chủ quyền trên Biển Đông và Hoa đông; cụ thể các quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc gọi là Tây Sa; Trường Sa, Trung Quốc gọi là Nam Sa; và Đông Sa. Sách này tại chương 7 với mục Sử chi hồi cố [史之回顧]; tác giả nêu lên chủ quyền quần đảo Tây Sa [từ trang 73-đến trang 76], xin dịch ra như sau:
“ Quần đảo Tây Sa từ xưa đến nay thuộc nước ta, càng có những căn cứ xác thực:
1. Sách Tống sử ký sự bản mạt [宋史記事本末] quyển 108, tiêu đề “Lập hai Vương” chép “ Tướng Nguyên, Lưu Thâm đánh quân nhà vua tại vũng biển cạn, Trương Thế Kiệt chống bất lợi lui quân từ Tú Sơn đến Tĩnh Áo[2]. Trần Nghi Trung trốn sang Chiêm Thành không trở về. Ngày Bính Tý tháng 12 [16/1/1278] vua đến Tĩnh Áo, bão lớn nỗi lên, thuyền hư gần chìm; vua kinh sợ thành bệnh. Hơn 10 ngày sau, quân lính tụ tập được ít, chết hơn một nữa. Lưu Thâm lại đánh Tĩnh Áo, vua chạy đến hẽm núi Tạ An[3] rồi ra biển, đến Thất Châu Dương; muốn sang Chiêm Thành nhưng không thực hiện được.”
2.Vào thời Minh Thành Tổ Vĩnh Lạc [1403-1424], Tuyên Đức [1426-1435] Tam Bảo Thái giám [Trịnh Hoà] 7 lần xuống các nước Tây Dương[4] vào khoảng thời gian 1404-1433; từng đi qua các đảo, dùng vũ lực lấy quần đảo Tây Sa. Lúc bấy giờ đồng hành có 2 người là Phí Tín và Mã Hoan; lúc trở về họ Mã soạn sách Doanh nhai thắng lãm, Phí soạn Tinh tra thắng lãm để ghi sự việc. Hoàng Tĩnh Tăng[5] bèn căn cứ vào 2 sách nầy, soạn cuốn Tây Dương triều cống điển lục [西洋朝貢典錄]. Trong sách này viết về Chiêm Thành như sau:
“Từ Nam Áo thuyền đi 40 canh (nguyên chú 1 canh tương đương 60 lý) đến Độc Trư Sơn, lại 10 canh thấy đảo Thông Thảo, nơi này nhắm đến núi Ngoại La, lại đi qua 7 canh đến đảo Mục Dương. Đông bắc nước này 100 lý có cửa biển lớn đó là cảng Tân Châu, cảng có tháp đá bên bờ làm mục tiêu; trại gọi là Thiết Tỷ [Thị?] Nại, do 2 di trông coi, có hơn 5,6 chục căn hộ. Cảng tây nam đi bộ khoảng 100 lý, là kinh đô của Vương Chiêm Thành, luỹ xây bằng đá, bốn phía có cửa, cửa được phòng vệ.”
Xét vị trí Nam Áo là giao giới bờ biển Phúc Kiến, Quảng Đông hiện nay; từ đảo Nam Áo theo hướng tây nam 2.400 lý đến núi Độc Trư, ước tính hơn 600 hải lý [1 hải lý= 1.852 mét], chính đúng vào đảo Vĩnh Hưng thuộc quần đảo Tây Sa. Rồi đi xuống phương nam 600 lý gặp đảo Thông Thảo, ước tính khoảng 160 hải lý, đáng là đảo nhỏ phía bắc núi Ngoại La; cái gọi là Ngoại La tức đảo Cù Lao Ray [Ré]. Lại phía nam 420 lý đến đảo Mục Dương, ước tính 110 lý, cứ khảo xét đáng là đảo Pous Canbier. Còn địa danh gọi là cảng Tân Châu tức Qui Nhơn ngày nay; vào thế kỷ thứ 15 là quốc đô Chiêm Thành, đáng tại Bình Định, Việt Nam.
3. Ông Mã Đình Anh vào năm1937 từng có bài viết rằng “ Khảo cứu về niên đại cần cho san hô phát triển” bảo rằng tại đảo Tây Sa dưới lớp san hô cao 5 xích [5 feet], phát hiện đồng tiền thời Vĩnh Lạc. Điều này chứng tỏ thời Minh đã có người đến quần đảo Tây Sa; những người này hoặc là dân đánh cá người Trung Quốc, hoặc tuỳ viên của Trịnh Hoà; chứng minh rằng quần đảo này sớm do Trung Quốc chiếm lãnh, thì không còn nghi ngờ gì nữa.
4. Đời Thanh, chíthư ghi chép càng nhiều; một số sách cho Tây Sa quần đảo là Thiên Lý Thạch Đường. Sách Hải quốc văn kiến lục ghi: “ Phàm thuyền Nam Dương đều do núi Lão Vạn[6] ra khơi, theo hướng tây nam qua biển Thất Châu, có 7 châu [bãi] nỗi trên biển nên có tên như vậy. Lại qua Lăng Thuỷ, thuận theo gió đông bắc 4,5 ngày đến Thuận Hoá nước Việt Nam, Thuận Hoá là nơi Vương Việt Nam đóng đô.” Lại kể: “Thất Châu Dương tại đông nam huyện Vạn, đảo Hải Nam, tỉnh Quảng Đông, phàm đi xuống Nam Dương phải đi qua. Đông bắc đảo này có đảo đá ngầm Trường Sa Thạch Đường, thuyền đi phải cẩn thận. Tương truyền trên biển có tiễn điểu, thấy thuyền trên đại dương, bèn bay lại dẫn đường.” Lại kể rằng: “Cửu Tinh Dương, có thuyết bảo Cửu Châu Dương, lại bảo là Thất Châu Dương; ở phía đông nam huyện Hương Sơn, tỉnh Quảng Đông. Độc sử phương dư kỷ yếu[讀史方輿記要] chép rằng huyện Văn xương, phủ Quỳnh Châu, tỉnh Quảng Đông có Thất Lý Sơn; còn bảo rằng: “Thất Lý Sơn có 7 đỉnh liên tiếp nhau, có tên khác là Thất Châu Dương Sơn, cây cối rậm rạp, dưới núi có suối nước ngọt; dân hàng hải lấy nước ở đó.” Độc Sử Phương Dư Kỷ Yếu lại chép về Nhai Châu như sau: “Vào năm Tống Thiên Hy thứ 2 [1019] sứ Chiêm thành tâu người nước này trên đường đến Quảng Châu, thuyền gặp gió bão phiêu dạt tới Thạch Đường, nên mấy năm không đến, Thạch Đường cách biển Nhai Châu đến 700 lý.” Trên đề cập các sách xưa gọi “Thất Châu Dương”, “Thất Lý Dương”, “Thất Lý Sơn”, Thất Châu Dương Sơn”, “Cửu Châu Dương”, “Cửu Tinh Dương”, cùng “Trường Sa Thạch Đường”, “Thạch Đường”,…phàm các danh xưng như vậy, đều chỉ quần đảo quần đảo Tây Sa. Đảo Thất Châu thì chỉ 7 đảo phía đông tại Tây Sa; tức các đảo Triệu Thuật, Tây Sa, Trung Đảo, Nam Đảo, Bắc Đảo vậy.
Vào năm Quang Tự thứ 33 [1907], người Nhật tên là Đông Trạch chiếm quần đảo Đông Sa[7]; sự việc xãy ra Tổng đốc Quảng Đông Trương Nhân Tuấn can thiệp với Lãnh sự [Nhật]; đồng thời nghe tin vùng biển Hải Nam lại có quần đảo Tây Sa, nếu như không chú ý đến nơi, lại sợ lại xãy ra tình trạng giống như Đông Sa, nên đặc phái Phó tướng Ngô Kinh Vinh đến tra khám. Vào tháng 4 năm Tuyên Thống thứ nhất [1909] Ngô điều một đội quân hơn 170 người hàng hải bởi 3 chiếc tàu Phục Ba, Sâm Hàng, Quảng Kim, dùng Thủy sư đề đốc Lý Chuẩn chỉ huy đến tra khám các đảo; lúc trở về bắt đầu đề ra kế hoạch gồm 8 hạng mục; nhưng không lâu sau đó Tổng đốc Trương từ chức, người kế nhiệm quản lý không tốt, nên cuối cùng đi đến chỗ đình đốn.
Lời bàn:
Những lời khẳng định chủ quyền Trung Quốc về quần đảo Tây Sa [ Paracel, Hoàng Sa] do nhà nghiên cứu Trịnh Tư Ước nêu lên trong Nam Hải chư đảo địa lý chí lược được trích dẫn ở phần trên, hoàn toàn sai trái; xin lần lượt nêu lên từng điểm sau đây:
– Mục 1, tác giả nêu sách Tống sử ký sự bản mạt chép việc vua Tống bị quân Nguyên đánh đuổi đến Thất Châu dương, rồi cho rằng Thất Châu dương tức quần đảo Tây Sa [Hoàng Sa, Paracel]. Đây là điều sai lầm cố ý; sách Đông tây dương khảo [東西洋考] của Trương Tiếp đời Minh, tại quyển 9 mục Châu sư khảo khẳng định vị trí biển Thất Châu tại phía đông huyện Văn Xương, đảo Hải Nam 100 lý [1 lý = 0.58km]:
“Núi Thất Châu, biển Thất ChâuQuỳnh Châu Chí [瓊州志] chép biển Thất Châu tại phía đông huyện Văn Xương 100 lý; trên biển có 7 ngọn núi nhô lên liên tiếp, trong có nước suối ngọt có thể uống được. Thời nhà Nguyên, Lưu Thâm truy kích Tống Đoan Tông, bắt thân thuộc là Du Ðình Khuê tại nơi này.”
Theo bản đồ Google quần đảo Thất Châu tại phía đông bắc Văn Xương thị, tỉnh Quảng Đông hiện nay, tại tọa độ 19.957873, 111.254373, nhìn lên bản đồ thấy hàng chữ Qizhou Liedao tức Thất Châu Liệt Đảo, cách quần đảo Paracel [Hoàng Sa, Tây Sa] trên 200 km.
– Mục 2, tác giả căn cứ vào cuốn Tây Dương triều cống điển lục của Hoàng Tĩnh Tăng chép về chuyến đi của phái đoàn Trịnh Hòa đến Chiêm Thành. Đoàn tàu thuyền khởi hành từ Nam Áo tức giao giới vùng biển 2 tỉnh Phúc Kiến và Quảng Đông, qua Độc Trư Sơn, đến núi Ngoại La tức đảo Lý Sơn; rồi đến Tân Châu hay Thị Nại, Qui Nhơn. Tác giả bảo rằng Độc Trư Sơn tức đảo Tây Sa; điều này trái với sử sách cổ. Sách Đông Tây Dương khảo của Trương Tiếp dựa vàoQuỳnh Châu Chí khẳng định Độc Trư Sơn tức Độc Châu Sơn, vị trí tại phía đông nam châu Vạn, đảo Hải Nam:
ĐộcChâu sơn: tên tục là Ðộc Trư sơn; Quỳnh Châu Chí chép Ðộc Châu sơn [獨州山] còn có tên là Ðộc Châu sơn [獨珠山], tại phía đông nam châu Vạn. Ðỉnh núi cao trên biển, chu vi 5,6 chục lý; các nước phương Nam đến cống, thủy trình lấy núi này làm chuẩn, biển này gọi là Ðộc Châu dương; người đi thuyền nói trên núi có miếu Linh Bá, khách vãng lai thường tế hiến.”[8]
– Mục 3, tác giả căn cứ lời tuyên bố của một cá nhân tên Mã Đình Anh bảo rằng dưới rặng san hô tại đảo Tây Sa [Paracel] tìm thấy đồng tiền thời Vĩnh Lạc triều Minh. Hiển nhiên đây là lời nói của một kẻ không có thẩm quyền; nhưng giả dụ đây là lời nói đúng thì cũng không phải là yếu tố hợp pháp được công pháp quốc tế chấp nhận, để có thể giúp Trung Quốc dành chủ quyền.
– Mục 4 tác giả Trịnh Tư Ước viết như sau: “Trên đề cập các sách xưa gọi “Thất Châu Dương”, “Thất Lý Dương”, “Thất Lý Sơn”, Thất Châu Dương Sơn”, “Cửu Châu Dương”, “Cửu Tinh Dương”, cùng “Trường Sa Thạch Đường”, “Thạch Đường”,…phàm các danh xưng như vậy, đều chỉ quần đảo quần đảo Tây Sa”.
Cũng căn cứ vào mục 4, tác giả xác nhận sách Hải quốc văn kiến lục [海國聞見錄] ghi “Cửu Tinh Dương, có thuyết bảo Cửu Châu Dương, lại bảo là Thất Châu Dương; ở phía đông nam huyện Hương Sơn, tỉnh Quảng Đông. Độc sử phương dư kỷ yếu [讀史方輿記要] chép rằng huyện Văn xương, phủ Quỳnh Châu, tỉnh Quảng Đông có Thất Lý Sơn; còn bảo rằng: “Thất Lý Sơn có 7 đỉnh liên tiếp nhau, có tên khác là Thất Châu Dương Sơn…”. Như vậy 2 sách vừa nêu đã dùng các tên đất Thất Lý Dương, Thất Lý Sơn, Thất Châu Dương Sơn, Cửu Châu Dương, Cửu Tinh Sơn để chỉ Thất Châu Dương. Vị trí Thất Châu dương gần đảo Hải Nam, vốn cách xa đảo Paracel [nay Trung Quốc gọi là Tây Sa]; trên bản đồ Google hiện nay ghi như sau: Qizhou Liedao tức Thất Châu Liệt Đảo, tọa độ 19.957873, 111.254373.
Riêng các đảo xưa có tên Trường Sa Thạch Đường, Thạch Đường, tuy vị trí tại quần đảo Paracel hiện nay; nhưng các sử chí quan phương Trung Quốc nhưMinh Sử, Đại Thanh Nhất Thống Chí, Thanh sử cảo đều không xác định các đảo này thuộc lãnh thổ Trung Quốc.
Đặc biệt sách Hải Ngữ [海語] do Hoàng Trung [黃衷] đời Minh soạn, đã dành riêng quyển cuối với nhan đề Uý Đồ [畏途] tức Con Đường Đáng Sợ, trong đó chép Trường Sa Thạch Đường, là nơi nguy hiểm không ai dám đến, với lời cảnh cáo nặng nề như sau:
Vạn Lý Thạch Ðường tại phía đông biển Ô Trư và Thạch Trư. Tại đó tuy trời nắng nhưng vẫn âm u, không giống như trong cõi trần; thổ sản nhiều xà cừ. Chim có nhiều loại quỉ xa, có thứ 9 đầu, có thứ 3,4 đầu, rải rác khắp biển; tiếng kêu gào ầm ĩ đến mấy dặm; tuy kẻ ngu và loại hung hãn không ai là không thất sắc, mồ hôi toát ra. Châu sư[9] hàng hải trên thuyền lỡ tay lái thất thế, đâm vào đá tảng, thì hàng trăm mạng biến thành quỉ!
[萬里 石塘在鳥瀦二洋之東陰風晦景不類人世其產多𤥭璖其鳥多鬼車九首者四三首者漫散海際悲號之音聒聒聞數里雖愚夫悍卒靡不慘顏沾襟者舵師脫小失勢誤落石𣿭數 百軀皆鬼録矣]
Nguyên Giới, một vị quan từng trấn nhậm tại đảo Hải Nam dưới thời Minh, soạn sách Hải Tra Dư Lục [海槎餘錄] nghiên cứu về địa lý phong tục vùng này. Trong sách này ông xác nhận Thiên Lý Thạch Đường ngoài biển châu Nhai 700 lý, là nơi đầy nguy hiểm, chỉ có thuyền dân Phiên tức người tại các nước như Việt Nam, Chiêm Thành, từng quen tại đó mới biết cách tránh:
Thiên Lý Thạch Ðường tại ngoài biển Nhai Châu 700 lý. Truyền rằng đá tại biển này dưới mức nước biển 8, 9 thước [1thước=1/3 mét]; thuyền đi qua tránh xa mà đi, một lần đâm vào thì không thể ra được. Vạn Lý Trường Ðê ở phía nam, sóng nước chảy gấp, thuyền vào trong đó không thể thoát được. Thuyền dân Phiên đã quen nơi này, biết cách tránh, tuy gặp gió bão cũng không lo.
  [千里石塘在崖州海面之七百里外,相传此石比海水特下八九尺,海舶必远避而行,一堕既不能出矣。万里长堤出其南,波流甚急,舟入回溜中,未有能脱者。番舶久惯,自能避,虽风汛亦无虞]
Thực vậy, Việt Nam và Chiêm Thành vốn từ lâu từng lui tới Trường Sa Thạch Đường; dưới thời Lê trong sách Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn, triều Nguyễn tại Đại Nam Thực Lục vv…[10] các quần đảo này được sáp nhập vào lãnh thổ, đặt tên là Hoàng Sa, Trường Sa; sự kiện được ghi trong chính sử.
Riêng tại Trung Quốc vào buổi tàn cuộc của triều Thanh, nhờ ngọn gió Tây phương thổi đến, giúp họ hiểu rõ vị trí đặc thù và tài nguyên phong phú của biển, bèn tự tiện đặt tên cho Trường Sa Thạch Đường là Tây Sa. Một người tỏ ra bén nhạy với thời cuộc là viên Thuỷ sư đề đốc Lý Chuẩn, dưới sự chỉ đạo của Tổng đốc Quảng Đông Trương Nhân Tuấn; lợi dụng tình trạng Việt Nam trong vòng đô hộ Pháp lúc bấy giờ không có quân đóng tại Hoàng Sa, bèn vào năm Quang Tự thứ 33 [1907] mang các tàu như Phục Ba, Sâm Hàng đến đảo Hoàng Sa để dành chủ quyền. Điều kẹt cho Lý Chuẩn, quần đảo này chưa hề nằm trong lãnh thổ Trung Quốc nên các đảo không có tên; bởi vậy Lý Chuẩn bèn tuỳ tiện lấy tên hai tàu “Phục Ba”, “Sâm Hàng” đặt tên cho 2 đảo, lấy tên nguyên quán tại huyện “Lãnh Thuỷ” tỉnh Tứ Xuyên đặt tên cho một đảo khác, rồi nhân có giếng nước ngọt trên một đảo, bèn đặt tên đảo này là “Cam Tuyền”. Nhắm khua chiêng gióng trống cho mọi người biết, Lý Chuẩn cho bắn đại bác, treo cờ; khắc bia trên hòn đảo được đặt tên là Phục Ba, với hàng chữ như sau:
Đại Thanh Quang Tự năm thứ 33, Thuỷ sư Quảng Đông Đề đốc Lý Chuẩn tuần thị đến nơi này.”[11]
[大清光绪三十三年广东水师提督李准巡视至此]
Bấy giờ thời gian gần kề cách mệnh Tân Hợi, các tỉnh tại Trung Quốc tự tiện điều hành như những sứ quân, việc làm của Lý Chuẩn chỉ thừa lệnh viên Tổng đốc Quảng Đông, riêng triều đình Thanh không hay biết. Bởi vậy phần Bản Kỷvề năm Quang Tự thứ 33, hoặc phần Chí trong Thanh Sử Cảo không đề cập đến đảo Tây Sa [Paracel].
Chú thích
[1] Chử Đình Phúc, “Khảo Sát Tư Liệu của Đài Loan liên quan đến Chủ Quyền trên Biển Đông,” Dự án Đại Sự Ký Biển Đông ngày 14 tháng 12 năm 2017. Truy cập online tại https://daisukybiendong.wordpress.com/2017/12/14/khao-sat-tu-lieu-cua-dai-loan-lien-quan-den-chu-quyen-tren-bien-dong/
[2] Tĩnh Áo: thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Quảng Đông.
[3] Hẽm núi Tạ An: tại đảo Hoành Cầm, Châu Hải thị, tỉnh Quảng Đông.
[4] Tây Dương: Nói chung các nước tại Đông Nam Á
[5] Hoàng Tĩnh Tăng người huyện Ngô, đậu Cử nhân năm Tân Mão. Soạn sách Tây Dương triều cống điển lục, 3 quyển; được Tuần phủ Giang Tô chọn dâng lên triều đình.
[6] Núi Lão Vạn: đảo núi gần Hương Cảng.
[7] Đảo Đông Sa: Tức Paratas Island, tại phía đông nam Hồng Kông 340 Km
[8] Đông Tây Dương Khảo, quyển 9, mục Châu sư khảo.
[9] Châu sư: Thuyền trưởng
[10] Đọc thêm: Hồ Bạch Thảo (2016) “Tư liệu xưa liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa” đăng trên trang Diendan.org (xem phụ lục đính kèm) – Chú thích của BTV.
[11] Nguyên văn trong bài 大清光绪李准1909年巡视至 [Đại Thanh Quang Tự Lý Chuẩn 1909 niên tuần thị chí thử].
———
Nhà nghiên cứu Hồ Bạch Thảo là một nhà nghiên cứu độc lập chuyên nghiên cứu về lịch sử. Ông là tác giả và dịch giả của một số cuốn sách như “Những nét đặc trưng về lịch sử Việt Nam” xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2002, “Việt Sử: Tư liệu và lời bàn” xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2009, “Bản dịch Thực Lục” xuất bản tại Hà Nội năm 2007 và tái bản năm 2010, “Bản dịch Minh Thực Lục” xuất bản năm 2010 tại Hà Nội. Một số khảo cứu của ông về chủ quyền Biển Đông đăng trên Dự án Đại Sự Ký Biển Đông tại:https://daisukybiendong.wordpress.com/tag/ho-bach-thao/.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Một nỗ lực kết thúc chiến tranh Việt Nam đầu năm 1967 thất bại


Ngày 2-2-1967, tổng thống Johnson tuyên bố không ‘có dấu hiệu nghiêm túc nào cho thấy đối phương chịu chấm dứt chiến tranh’ (serious indications that the other side is ready to stop the war).

Ngày 8-2-1967, Johnson gửi cho Hồ Chí Minh một lá thư, nguyên văn:

Ngày 8 tháng Hai 1967
Kính gửi chủ tịch Hồ Chí Minh – Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
Thưa Ngài,
Tôi viết cho Ngài với niềm hi vọng là cuộc chiến Việt Nam có thể chấm đứt. Cuộc chiến này đã gây tổn thất nặng nề – về sinh mạng, về thương tích, về tài sản và tình trạng khốn khổ của con người. Nếu chúng ta không tìm được một giải pháp hòa bình và công chánh, lịch sử sẽ nghiêm khắc phán xét chúng ta.
Vì vậy, tôi tin rằng cả hai chúng ta đều có một nghĩa vụ nặng nề là sốt sắng tìm kiếm con đường đưa đến hòa bình. Chính vì cần đáp ứng nghĩa vụ đó mà tôi trực tiếp viết cho Ngài.
Từ mây năm qua, chúng tôi đã cố gắng bằng nhiều cách và qua một số đường liên lạc chuyển đến Ngài và các cộng sự viên của Ngài điều mong muốn của chúng tôi đạt được một giải pháp hòa bình. Vì những lý do nào đó, những nỗ lực đó đã không đem lại kết quả nào.
Có thể là những ý nghĩ của phía chúng tôi và của phía Ngài, thái độ của chúng tôi và của phía Ngài, đã bị bóp méo hay ngộ nhận khi chúng đi ngang những đường liên lạc khác nhau ấy. Quả thật việc thông tin liên lạc gián tiếp luôn luôn nguy hiểm.
Có một cách vượt qua được khó khăn này để tiến tới việc tìm kiếm một giải pháp hòa bình. Đó là việc chúng ta thu xếp những cuộc hội đàm trực tiếp giữa những đại diện được tin cậy trong một khung cảnh yên ổn và xa cách mọi nguồn quảng bá. Những cuộc hội đàm này sẽ không được dùng như một hoạt động tuyên truyền mà phải là một nỗ lực nghiêm túc để tìm kiếm một giải pháp khả thi và có thể được cả hai bên chấp thuận.
Trong hai tuần qua, tôi có ghi nhận những điều công bố bởi các đại diện chánh phủ của Ngài, gợi ý rằng phía Ngài sẵn sàng thương thuyết song phương trực tiếp với các đại diện của Chánh phủ Mỹ, với điều kiện là chúng tôi ngưng các cuộc oanh tạc ‘vô điều kiện’ và vô thời hạn trên xứ sở của Ngài và cũng ngưng mọi hoạt động quân sự. Vào ngày chót, có những giới đứng đắn và có trách nhiệm đã đoan chắc với chúng tôi một cách gián tiếp rằng đây quả thật là đề nghị của Ngài.
Tôi xin thành thật nói rằng tôi thấy có hai khó khăn lớn trong đề nghị của Ngài. Vì lập trường công khai của Ngài, một hành động như thế từ phía chúng tôi sẽ không tránh khỏi gây nên sự suy đoán khắp nơi trên thế giới rằng các cuộc thảo luận đang diễn ra, và sẽ làm phương hại đến tánh cách riêng tư và kín đáo của những cuộc thảo luận ấy. Thứ hai là se không tránh khỏi mỗì quan ngại sâu sắc về phía chúng tôi là liệu Chánh phủ của Ngài có lợi dụng hành động ấy của chúng tôi để tăng cường vị thế quân sự của phía Ngài hay không.
Mặc dù những khó khăn đó, tôi vẫn chuẩn bị tiến đến việc chấm dứt xung đột, xa hơn cả điều Chánh phủ Ngài đã đề nghị trong những lời tuyên bố công khai hay qua những đường dây ngoại giao riêng. Tôi chuẩn bị ra lệnh ngưng oanh tạc trên xứ sở của Ngài và ngưng gia tăng các lực lượng quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam ngay khi tôi được cam kết là sự thâm nhập miền Nam bằng đường bộ hay đường biển đã ngưng. Tôi tin rằng những hành động kiềm chế này của cả hai bên sẽ khiến chúng ta có thể có những cuộc thảo luận riêng tư và nghiêm chỉnh sớm dẫn đến hòa bình.
Tôi đưa đề nghị này cho Ngài bây giờ với một cảm nghĩ khẩn cấp rõ rệt vì những ngày nghỉ Tết sắp tới ở Việt Nam. Nếu Ngài có thể chấp nhận đề nghị này thì tôi không thấy có lý do gì mà nó không có hiệu lực vào cuối những ngày nghỉ Năm Mới hay Tết. Đề nghị của tôi sẽ được thêm nhiều sức mạnh nếu các nhà lãnh đạo quân sự của Ngài và các nhà đối tác bên Chánh phủ miền Nam Việt Nam có thể mau chóng thương thảo về một cuộc gia hạn đình chiến ngày Tết.
Về địa điểm cho những cuộc thảo luận song phương, tôi đề nghị có nhiều nơi. Chẳng hạn, chúng ta có thể cho các đại diện của chúng ta gặp nhau ở Moscow là nơi đã có những cuộc tiếp xúc. Họ có thể gặp nhau ở một nước khác như Miến Điện. Có thể Ngài đã nghĩ đến những cách thu xếp hay địa điểm khác, tôi sẽ cố thỏa thuận với đề nghị của Ngài.
Điều quan trọng là chấm dứt một cuộc xung đột đã chồng chất gánh nặng lên hai dân tộc chúng ta, và trên hết là đân chúng miền Nam Việt Nam. Nếu Ngài có những ý kiến gì về những điều mà tôi đề nghị, tôi rất cần nhận được những ý kiến đó sớm chừng nào hay chừng nấy.
Trân trọng kính chào,
Lyndon B. Johnson.

Từ ngày 8 đến 10-2, một nhóm các nhà tôn giáo Mỹ bắt đầu một chiến dịch cầu nguyện khắp thế giới với chủ đề ‘Fast for Peace’ (nhanh tiến đến hòa bình).

Từ ngày 8 đến 12-2, các nhà chức trách Việt Nam Cộng Hòa và đại diện Mặt trận Giải phóng của Việt Cộng cùng tuyên bố hưu chiến trong dịp Tết Nguyên đán Đinh Mùi.

Ngày 15-2, Hồ Chí Minh trả lời bằng một lá thư, nguyên văn:

Kính gửi tổng thống Lyndon B. Johnson – Hợp Chủng Quôc Hoa Kỳ
Thưa Ngài,
Tôi nhận được thư của Ngài ngày 10 tháng Hai 1967. Đây là phúc đáp của tôi:
Việt Nam ở cách xa nước Mỹ hàng chục ngàn dặm. Dân Việt Nam chưa bao giờ làm điều gì hại cho nước Mỹ. Nhưng trái với những lời hứa của đại diện nước Mỹ tại Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954, Chính phủ Mỹ đã không ngừng can thiệp vào Việt Nam; chính phủ đó đã mở một cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam và gia tăng cường độ nhằm kéo dài sự chia cắt Việt Nam và biến Nam Việt Nam thành một tân thuộc địa và một căn cứ quân sự của nước Mỹ. Đã hơn hai năm nay, Chính phủ Mỹ đã dùng các lực lượng không quân và hải quân để gây chiến với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, một nước độc lập có chủ quyền.
Chính phủ Mỹ đã phạm tội ác chiến tranh, tội ác chống lại hòa bình và chõng lại loài người. Ở Nam Việt Nam, một nửa triệu binh sĩ Mỹ và chư hầu đã sử dụng những vũ khí vô nhân đạo nhất và những phương pháp chiến tranh dã man nhất, như bom lửa, chất độc hóa học và hơi ngạt, để tàn sát đồng bào chúng tôi, phá hủy mùa màng và san bằng các làng mạc.
Ớ miền Bắc Việt Nam, hàng ngàn máy bay Mỹ đã trút hàng trăm ngàn tấn bom, phá hủy các thành phố, làng mạc, nhà máy, đường xá, cầu cống, đê điều, đập nước, và ngay cả nhà thờ, chùa chiền, nhà thương, trường học. Trong thông điệp của Ngài, Ngài tỏ vẻ buồn phiền về những nỗi đau khổ và tàn phá ở Việt Nam. Tôi xin hỏi Ngài: Ai đã gây ra những tội ác ghê tởm này? Đó là binh sĩ Mỹ và chư hầu. Chính phủ Mỹ hoàn toàn chịu trách nhiệm về tình trạng cực kỳ nghiêm trọng ở Việt Nam.
Chiến tranh xâm lược Mỹ chống nhân dân Việt Nam là một thách thức đối với các nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa, một đe dọa đối với phong trào dân tộc độc lập vã một mối nguy cho hòa bình ở Á châu và thế giới.
Nhân dân Việt Nam yêu chuộng độc lập, tự do và hòa bình. Nhưng trước cuộc xâm lược của Mỹ, họ đã đứng lên, đoàn kết muôn người như một. Không sợ hi sinh và gian khổ, họ quyết tâm kháng chiến cho đến khi giành được độc lập, tự do và hòa bình thật sự. Chính nghĩa của chúng tôi được nhân dân toàn thế giới bày tỏ thiện cảm và ủng hộ mạnh mẽ, kể cả những thành phần rộng lớn của nhân dân Mỹ.
Chính phủ Mỹ đã mở cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Chính phủ ấy phải chấm dứt xâm lược. Đó là cách duy nhất để khôi phục hòa bình. Chính phủ Mỹ phải ngưng vĩnh viễn và vô điều kiện những cuộc oanh tạc và tất cả mọi hành động gây chiến chống Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, rút hết quân sĩ Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, và để cho nhân dân Việt Nam giải quyết lấy các vấn đề của họ. Đó là nội dung căn bản của lập trường bốn điểm của Chính phủ VNDCCH, thể hiện những nguyên tắc- căn bản và những điều khoản dự liệu của Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 về Việt Nam. Đó là cơ sở của một giải pháp chính trị đúng đắn cho vấn đề Việt Nam.
Trong thông điệp của Ngài, Ngài đề nghị những cuộc hội đàm trực tiếp giữa VNDCCH và Hoa Kỳ. Nếu Chính phủ Mỹ thật sự muốn có những cuộc hội đàm này, trước hết chính phủ ấy phải ngưng vô điều kiện các vụ oanh tạc và mọi hành động gây chiến khác chống VNDCCH. Chỉ sau khi có sự chấm dứt vô điều kiện các vụ oanh tạc và các hành động gây chiến khác của Mỹ chống VNDCCH thì VNDCCH và nước Mỹ mới ngồi vào bàn thương thuyết và thảo luận các vấn đề liên quan tới hai bên.
Nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ chịu khuất phục trước sức mạnh, họ sẽ không bao giờ chấp thuận thương thuyết dưới sự đe dọa của bom đạn.
Chính nghĩa của chúng tôi tuyệt đối đúng. Hi vọng rằng Chính phủ Mỹ sẽ hành động theo lý trí.
Hồ Chí Minh.

Ngày 15-2, sau sự thất bại của những nỗ lực ngoại giao kêu gọi đàm phán tìm hòa bình, tổng thống Johnson thông báo Mỹ sẽ sẽ tiếp tục đầy đủ quy mô của chiến dịch ném bom miền Bắc Việt Nam.




Phần nhận xét hiển thị trên trang