Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 7 tháng 8, 2017

Lửa trên nước: Trung Quốc, Mỹ và Tương lai của Thái Bình Dương


clip_image002
Tác giả: Đỗ Mạnh Hoàng
Cuốn “Lửa ở trên nước” [Fire on the Water: China, America, and the Future of the Pacific] (10 chương, 272 trang) là một nghiên cứu quan trọng về tác động của quá trình hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc đối với Mỹ và đồng minh ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Tác giả Robert Haddick đã sử dụng 30 năm kinh nghiệm nghiên cứu về xu hướng an ninh ở châu Á để phân tích sự trỗi dậy về quân sự của Trung Quốc và chiến lược ứng phó của Mỹ và chỉ ra rằng chiến lược của Mỹ hiện không hiệu quả và có thể là một trong những nguyên nhân tiềm tàng gây xung đột tại khu vực. Tác giả cho rằng các ứng phó của Mỹ đối với chiến lược hiện đại hóa của Trung Quốc tạo điều kiện cho Trung Quốc ngày càng lấn tới, bắt nạt các nước nhỏ trong các yêu sách chủ quyền. Biện pháp tác chiến của Mỹ (dù được cải tiến) đã lỗi thời và không bắt kịp với tốc độ hiện đại hóa của Trung Quốc. Tác giả khuyến nghị một chiến lược quân sự mới giúp nâng cao năng lực tác chiến của Mỹ để đối phó hiệu quả với năng lực quốc phòng của Trung Quốc và duy trì ổn định khu vực.
Nguồn gốc của những thách thức ở khu vực
Tác giả cho rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc trong hơn ba thập kỷ qua, tương tự sự trỗi dậy của Đức trước năm 1914, nếu không được xử lý phù hợp sẽ dẫn đến sự va chạm với vai trò siêu cường của Mỹ. Trung Quốc vẫn đang hưởng lợi từ trật tự quốc tế hiện nay, nhưng sẽ mạnh mẽ theo đuổi các yêu sách chủ quyền lãnh thổ nhằm đảm bảo an ninh quốc gia và các tuyến hàng hải, giải tỏa sức ép nội bộ từ chủ nghĩa dân tộc, và mong có vị trí cường quốc xứng đáng. Tác giả (như John Mearsheimer – người đề xuất chủ thuyết hiện thực tấn công) cho rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc và sự cương quyết của nước này trên biển Hoa Đông và biển Đông đang đẩy các nước láng giềng vào “miệng hố chiến tranh.”
Mỹ có nhiều lợi ích quan trọng tại khu vực, như: duy trì hệ thống kinh tế quốc tế mở; bảo vệ trật tự quốc tế dựa trên các luật lệ; duy trì hòa bình và an ninh cho Mỹ và các đồng minh. Tác giả phân tích 4 kịch bản đối với châu Á-Thái Bình Dương: (i) Mỹ tiếp tục duy trì hiện diện và cam kết với khu vực; (ii) Mỹ giảm cam kết và các cường quốc khu vực nổi lên tranh giành ảnh hưởng; (iii) Các nước châu Á thành lập một cộng đồng gắn kết như Liên minh châu Âu; và (iv) Trung Quốc thiết lập một trật tự khu vực mới. Trên cơ sở các điểm mạnh và yếu của 4 kịch bản này, tác giả khẳng định Mỹ cần thực hiện kịch bản duy trì hiện diện để bảo vệ sự thịnh vượng và ổn định của khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Đồng thời, Mỹ cần đảm bảo các luật chơi trong trật tự hiện tại có lợi cho Trung Quốc để thuyết phục Trung Quốc chấp nhận trật tự hiện tại. Lựa chọn chiến lược này đối với Mỹ là ít mạo hiểm và tốn kém nhất.
Tuy nhiên, theo tác giả, Mỹ đang đối mặt với những hạn chế nghiêm trọng. Năm 1943, dựa theo học thuyết vành đai an ninh, Mỹ xác định 66 vị trí chiến lược mà hải quân và không quân Mỹ cần bảo vệ để ngăn chặn các cuộc tấn công từ phía châu Á-Thái Bình Dương. Về sau, Mỹ lập các căn cứ quân sự trong khu vực đều dựa trên hệ thống 66 vị trí này. Sau Chiến tranh lạnh, Mỹ điều chỉnh, rút nhiều căn cứ và duy trì chủ yếu ở Đông Bắc Á. Tuy nhiên, các thách thức an ninh hiện không chỉ có ở Đông Bắc Á mà cả ở Đông Nam Á, nơi Mỹ gần như không hiện diện quân sự. Ngoài ra, việc đóng quân quá lâu ở châu Âu và Đông Bắc Á khiến Mỹ tập trung vào các lực lượng (bộ binh, hải quân, không quân) tác chiến tầm ngắn. Các kế hoạch quân sự và các tướng lĩnh có quân công đều bị ảnh hưởng bởi chiến thuật đánh trong khoảng cách gần. Khả năng tấn công tầm xa của Mỹ như máy bay tầm xa, tên lửa đạn đạo (giảm đáng kể do Hiệp ước Phá hủy Tên lửa Tầm trung và Tầm ngắn ký với Liên Xô năm 1987) khá hạn chế. Trong khi đó, Trung Quốc đã nghiên cứu kỹ các điểm yếu trong bố trí quân sự của Mỹ và liên tục hiện đại hóa quân đội, đặc biệt về tên lửa. Dự đoán, sang thập kỷ tới, Trung Quốc sẽ có thể gây tổn thương nghiêm trọng cho lực lượng Mỹ, kể cả những lực lượng cách Trung Quốc 2,000 km.
Tính toán sai lầm của Mỹ 
Trung Quốc đang tiến hành hai chiến lược song song. Về chính trị, Trung Quốc áp dụng chiến lược “cắt lát xúc xích” – salami slicing (có nghĩa đánh lấn từng bước). Trung Quốc từng bước chia rẽ ASEAN trong vấn đề Biển Đông, chia rẽ các nước có yêu sách chủ quyền. Trung Quốc cũng dần lấn từng bước trên thực địa ở biển Đông và biển Hoa Đông, không mạnh quá dẫn đến phản ứng của các nước mà chỉ vừa đủ để dần hợp thức hóa sự hiện diện thực tế tại các vị trí quan trọng nhất. Về quân sự, Trung Quốc đang thực hiện một cuộc cách mạng tên lửa và công nghệ cảm biến nhằm “chống tiếp cận” của Mỹ vào gần lãnh thổ Trung Quốc. Tên lửa của Trung Quốc có thể đặt trên các bệ phóng di động và tấn công tất cả tàu chiến, tàu ngầm, căn cứ không quân cách biên giới Trung Quốc 2,000 km. Trung Quốc cũng đang hiện đại hóa không quân (máy bay tiêm kích, hệ thống radar, máy bay không người lái, hệ thống do thám và vệ tinh) để phát hiện và ngăn chặn tiếp cận của hải quân Mỹ. Chiến lược này giúp Trung Quốc cai trị biển từ đất liền, giành ưu thế nổi trội so với cường quốc viễn chinh Mỹ. Tuy nhiên, Trung Quốc có một số điểm yếu: gần như không có đồng minh (trừ Bắc Triều Tiên và chừng mực nào đó Lào và Campuchia); vẫn bị bao vây trong vành đai đảo thứ nhất (từ Nhật kéo xuống Philippines và Malaysia); ít kinh nghiệm tác chiến thực tế; và chính trị nội bộ bất ổn. Những thách thức này, đặc biệt về việc thiếu đồng minh và bất ổn nội bộ, sẽ tiếp tục gây khó khăn cho Trung Quốc.
Tuy nhiên, các ứng phó hiện tại của Mỹ đối với thách thức quân sự từ Trung Quốc là không toàn diện, không cạnh tranh và thiếu thực tế. Thứ nhất, JOAC (Joint Operational Access Concept), kế hoạch phối hợp tác chiến ở cấp cao của tất cả các lực lượng nhằm tiến công sát Trung Quốc, đã mô tả trung thực những thách thức của quân đội Mỹ, nhưng kiến nghị những giải pháp không phù hợp. Một số đề xuất của JOAC (như: gây bất ngờ tối đa, làm gián đoạn hệ thống do thám và tuần tra, khai thác lợi thế để giảm năng lực chống tiếp cận của địch thủ…) không phải là các chiến thuật quân sự bài bản. Một số đề xuất khác (như kiểm soát không phận từ khoảng cách chiến lược, tấn công năng lực phòng không và an ninh mạng…) vượt ngoài khả năng của Mỹ và đồng minh. Ngoài ra, hầu hết lính Mỹ khó loại bỏ những giả định ăn sâu trong văn hóa chiến đấu cũ nên việc triển khai các đề xuất này không hiệu quả. Thứ hai là Kế hoạch Chiến tranh Không-Biển (Air-Sea Battle), bảo vệ các tàu chiến và căn cứ của Mỹ và đồng minh khỏi tên lửa của đối phương, có một số nội dung hữu ích nhưng không có tính cạnh tranh trước chiến lược chống tiếp cận của Trung Quốc. Mỹ sẽ tiêu tốn nguồn lực không phải để đánh vào các điểm yếu mà để phòng thủ các điểm mạnh của Trung Quốc (khả năng tấn công linh hoạt từ các bệ phóng di động và năng lực sử dụng mạng để hạn chế các lực lượng của Mỹ phối hợp tác chiến). Thứ ba, chiến lược phong tỏa từ xa, mà một số chuyên gia đề xuất, cũng không hiệu quả do chiến lược này sẽ đe dọa đến nền kinh tế của đồng minh Mỹ, gây ra bất ổn chính trị và Mỹ cũng không đủ khả năng phong tỏa hiệu quả các tuyến hàng hải đến Trung Quốc.
Đề xuất chiến lược mới cho nước Mỹ ở khu vực
Theo tác giả, Mỹ cần một chiến lược hiệu quả dựa trên các tính toán chính xác trên cả bốn bước: đánh giá, thiết kế, thi hành và dự báo. Về đánh giá, Mỹ cần nghiên cứu toàn diện sức mạnh của mình, lợi ích hiện tại và lâu dài, điểm mạnh và yếu của đối thủ. Theo tác giả, chiến lược của Mỹ cần dựa trên 8 đánh giá cơ bản: (1) Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng cường năng lực không quân, hải quân, tên lửa và vũ trụ để kiểm soát hoàn toàn các tuyến hàng hải, trước hết ở Đông Á; (2) Cùng với phát triển xã hội, Trung Quốc gặp thêm nhiều thách thức nội bộ; (3) Láng giềng của Trung Quốc cũng sẽ đẩy mạnh cân bằng bên trong và bên ngoài trước chủ nghĩa dân tộc và hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc; (4) Cạnh tranh an ninh ở châu Á – Thái Bình Dương sẽ không có hồi kết; (5) Trung Quốc sẽ tiếp tục có lợi thế từ lục địa, chi phí sản xuất vũ khí thấp; và ngày càng thu hẹp khoảng cách quân sự với Mỹ; (6) Cho dù mâu thuẫn nội bộ, lãnh đạo trung ương của Trung Quốc sẽ nắm toàn quyền kiểm soát các lực lượng quân sự và bán quân sự khi có khủng hoảng; (7) Giới lãnh đạo Trung Quốc sẽ cân nhắc kỹ trước khi hành động; (8) Trung Quốc cũng lo sợ những điểm yếu của mình (sợ bất ổn nội trị, sợ bị phong tỏa, sợ không kiểm soát được vấn đề Đài loan, sợ bị tấn công trên bộ từ láng giềng hoặc có lãnh thổ ly khai, sợ bị ném bom tầm xa, sợ bị tấn công vào các vị trí chiến lược, và sợ tình hình leo thang hoặc mất kiểm soát).
Về thiết kế, Mỹ cần có một cách tiếp cận mới với các đối tác khu vực để thể hiện sự kiên quyết, nhưng cũng tinh tế hơn. Tác giả đề xuất 7 biện pháp cụ thể là:
(i) Các đối tác của Mỹ cần đẩy mạnh đấu tranh pháp lý chống các hành động lấn chiếm lãnh thổ của Trung Quốc. Điều này sẽ làm các hoạt động lấn tới trên thực tế của Trung Quốc trở nên vô giá trị;
(ii) Các đối tác của Mỹ ở biển Đông và Hoa Đông cần có đủ sức mạnh đối kháng với sự hiện diện quân sự của Trung Quốc. Mỹ cần kéo Nhật, Ấn Độ, Úc, cùng hỗ trợ các nước nhỏ có đủ sức mạnh quân sự và dân sự (tàu cá) để đối kháng với Trung Quốc;
(iii) Các đối tác của Mỹ cần tăng cường thông tin tình hình cho cộng đồng toàn cầu vì họ có ưu thế pháp lý hơn Trung Quốc;
(iv) Mỹ cần mở rộng và củng cố mạng lưới đối tác trên khắp châu Á. Mỹ cần mở rộng quan hệ với các nước trước ít liên quan như Myanmar, các nước trên dãy Himalaya; tăng cường quan hệ với một số đối tác quan trọng như Ấn Độ và Việt Nam (những nước có chung lợi ích với Mỹ chống lại sự lấn tới của Trung Quốc); và mở rộng quan hệ phi chính phủ.
(v) Mỹ cần đi đầu trong việc chia sẻ thông tin và nhận thức về hàng hải để một bức tranh kịp thời và chính xác về các hoạt động của Trung Quốc;
(vi) Mỹ cần khuyến khích các đối tác xây dựng các năng lực chống tiếp cận riêng của mình để ngăn ngừa các lực lượng Trung Quốc xâm nhập; và
(vii) Mỹ và các đối tác cần chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc chiến phi thông thường vì Trung Quốc đã phát triển học thuyết “Ba cuộc chiến” (truyền thông, tâm lý, và kỹ thuật pháp lý).
Về thực hiện, Mỹ cần giải quyết một số tồn tại trong quan hệ với đối tác như tình trạng lưỡng nan do áp lực từ Trung Quốc, vấn đề ngồi không hưởng lợi (free-riding) hay các đối tác dè dặt trong hợp tác quân sự với Mỹ. Mỹ cần duy trì một hình ảnh khiêm tốn, thúc đẩy các nước khác chia sẻ vai trò lãnh đạo với Mỹ; mở rộng các cơ chế đa phương thay vì tập trận và trao đổi song phương để xây dựng lòng tin và trao đổi quan điểm; đề ra những mục tiêu quan trọng nhất khi phát triển hoặc triển khai các hoạt động luyện tập quân sự với đối tác; và cần hợp tác với các đối tác củng cố sự phụ thuộc lẫn nhau. Trong đó, Mỹ phải đi đầu mở rộng vai trò với đối tác, chia sẻ chuyên môn về hệ thống liên lạc, cảm biến, thậm chí hệ thống chống tên lửa.
Về dự báo, tác giả cho rằng, trong tương lai, sự thống trị của không lực tầm xa sẽ là nhân tố chủ chốt cho thành công quân sự ở Đông Á. Do đó Mỹ cần tái thiết kế lực lượng quân sự và cần có hệ thống không lực đa tầm ngắm để đối phó với quá trình Trung Quốc hiện đại hóa quân sự. Cụ thể, Mỹ cần (i) nhiều máy bay chiến thuật tầm xa (không chỉ ném bom) có độ bền và trọng tải tốt; (ii) rút ngắn khoảng cách tên lửa với Trung Quốc, đặc biệt qua JASSM-ER – tên lửa hành trình đối hạm tầm xa có khả năng cạnh tranh với tên lửa đối hạm của Trung Quốc, và lôi kéo các nước ép Trung Quốc ký Hiệp ước Phá hủy Tên lửa Tầm ngắn và Tầm trung (INF Treaty); (iii) đẩy mạnh sản xuất tên lửa tự hoạt để giành lại quyền kiểm soát biển (điều này giúp kiềm chế tên lửa và không lực đối hạm được phân tán, di chuyển hoặc giấu trong các cơ sở dưới lòng đất của Trung Quốc) và chương trình LOCAAS, chương trình về hệ thống tấn công tự hoạt có chi phí thấp; (iv) bảo vệ hệ thống do thám, liên lạc và cần bộ quy tắc ứng xử chống lại các cuộc tấn công trên không gian, làm tăng chi phí chính trị đối với các quốc gia vi phạm luật. Tuy nhiên hệ thống này cần kết hợp máy bay ném bom tấn công tàng hình từ xa để thu thập hình ảnh và duy trì liên lạc, (v) tính đến các yếu tố khác như con người, tổ chức, huấn luyện, các học thuyết để đối phó lại các thách thức mới.
Thay lời kết
Tựu chung lại, theo quan điểm của tác giả, sự trỗi dậy của Trung Quốc và chương trình hiện đại hóa sức mạnh quân sự, hải quân, không quân của nước này dường như đang đặt châu Á vào nguy cơ chiến tranh, rơi vào bẫy lịch sử năm 1914 gắn liền với sự nổi lên của nước Đức. Trong khi đó, Mỹ không có chiến lược hiệu quả để đối phó với những nguy cơ trên khiến uy tín của Mỹ suy giảm, các nguyên tắc về tự do hàng hải, quyền đối với thực tiễn toàn cầu gặp nguy hiểm. Trước bối cảnh đó, Mỹ cần một chiến lược mới để ngăn chặn xung đột và duy trì trật tự quốc tế có lợi cho tất cả. Cuốn sách này kiến nghị một chiến lược giúp Mỹ duy trì một cuộc cạnh tranh hòa bình tại châu Á. Chiến lược mới sẽ tốn kém và không dễ dàng nhưng nó sẽ giúp Mỹ và các đối tác châu Á tránh được một thảm họa chiến tranh và định hình một tương lai tốt đẹp hơn cho cả Mỹ và các nước trong khu vực.
Nhìn tổng thể, cuốn “Lửa trên nước” là một nghiên cứu quan trọng nhằm tìm lời giải cho tranh luận lâu nay giữa các học giả rằng Mỹ nên có cách tiếp cận nào để ứng phó thích hợp với sự trỗi dậy về quân sự của Trung Quốc ở châu Á-Thái Bình Dương. Tác giả có những phân tích sắc sảo về cả khía cạnh quân sự và ngoại giao, phản ánh kịp thời các thách thức mang tính chiến lược đang thay đổi trật tự an ninh hiện tại ở khu vực. Tác giả cảnh tỉnh rằng nếu Mỹ không có những thay đổi chiến lược, rất có thể Mỹ và Trung Quốc sẽ có va chạm ở châu Á-Thái Bình Dương. Cuốn sách đưa ra những gợi ý về chiến lược cho Mỹ trong những năm tới, đồng thời đề xuất vai trò của các đồng minh và đối tác ở khu vực cũng như đưa ra các giải pháp làm thế nào để Mỹ có thể đốc thúc và giám sát các đồng minh và đối tác này. Bên cạnh đó, cuốn sách cũng đánh giá chi tiết về tình hình hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc gần đây và xu hướng trong tương lai. Các đánh giá của cuốn sách về chiến lược phòng thủ chung, các chương trình phát triển vũ khí, bố trí lực lượng cũng như sự thay đổi về tương quan lực lượng quân đội giữa các nước đang có ưu thế và các nước trong khu vực rất logic và có chiều sâu.
Tuy nhiên cuốn sách vẫn còn một vài thiếu sót. Cuốn sách sử dụng góc nhìn của thuyết hiện thực nên cho rằng xung đột Mỹ-Trung là không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, lịch sử đã cho thấy không phải lúc nào cũng có xung đột giữa cường quốc mới mạnh lên và cường quốc đang suy yếu. Nguy cơ chiến tranh hạt nhân hủy diệt tất cả khiến các cường quốc có thể rơi vào thế lưỡng nan về an ninh, chạy đua vũ trang nhưng không dẫn đến chiến tranh (như Liên Xô và Mỹ trước đây). Bên cạnh đó, nghiên cứu này sẽ có tính thuyết phục cao hơn nếu sử dụng thông tin từ cả Mỹ và Trung Quốc, đặc biệt các thông tin nội bộ, thay vì thông tin từ báo chí, báo cáo của các viện nghiên cứu hay là phát biểu của các chính trị gia.
Cuốn sách được viết bằng tâm huyết của một cựu sỹ quan quân đội Mỹ, một nhà nghiên cứu quân sự lâu năm nên có những phân tích sâu sắc về các khía cạnh quân sự và chứa đựng nhiều thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách. Mặc dù đây là một cuốn sách quân sự, nhưng không sử dụng thuật ngữ khó hiểu. Trái lại, cuốn sách được trình bày rõ ràng, mạch lạc và dễ hiểu; thích hợp với cả những người làm công tác nghiên cứu và những người quan tâm đến tình hình chính trị-quân sự ở châu Á – Thái Bình Dương.
Đây là bài điểm cuốn Robert Haddick, Fire on the Water: China, America, and the Future of the Pacific, Appapolis (MD): Naval Institute Press.
Tác giả Đỗ Mạnh Hoàng hiện công tác tại Viện Nghiên cứu Chiến lược Ngoại giao, Học viện Ngoại giao.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ý thức sáng tác truyện ngắn


Transrealism, chuyển đổi hiện thực
Ngu Yên

Không phải truyện khoa học giả tưởng, không phải truyện hiện thực, nhưng lơ lửng ở giữa một cõi văn chương rối loạn. Một thể hiện mới, dường như muốn phá vỡ sự toàn vẹn của hiện thực. Một số nhà phê bình cho rằng, phong trào Transrealism sẽ phát triển mạnh trong thế kỷ 21.
Nền tảng của Chuyển Đổi Hiện Thực
Transrealism là gì? Là một đường lối văn học, áp dụng chung kỹ thuật phối hợp các yếu tố kỳ quái, tưởng tượng, được dùng trong khoa học viễn tưởng, với những kỹ thuật của nhận thức trực tiếp về mô tả từ chủ nghĩa Hiện Thực Tự Nhiên.
Transrealism là một trong những phản ứng văn học đối với chủ nghĩa Hiện Thực và những phong trào chủ trương đưa sự kỳ quái, kỳ lạ, hoang đường vào văn chương. Transrealism cũng sử dụng những sự kiện kỳ ảo bởi tưởng tượng nhưng có nguồn gốc và dự phóng từ khoa học, được xem như con đường khả dĩ nhất có thể xảy ra trong tương lai, ví dụ như chương trình truyền hình Star Trek. “Những phương tiện thông dụng của khoa học giả tưởng, như du hành bằng thời gian, chống lại trọng lực, thay đổi thế giới, thần giao cách cảm, v.v. đều là những biểu tượng thực tế điển hình cho sự nhận thức. 'Du hành bằng thời gian' là trí nhớ, 'chuyến bay' là sự giác ngộ, 'thay đổi thế giới' tiêu biểu cho sự đa diện về quan điểm toàn cầu của cá nhân, 'thần giao cách cảm' là khả năng giao tiếp được hoàn tất. Đây là lãnh vực của Trans. Lãnh vực Hiện Thực chủ nghĩa gắn với việc một tác phẩm nghệ thuật có giá trị phải xem xét thế giới như nó thực sự tồn tại. Còn học thuyết Transrealism không chỉ nỗ lực để làm việc với thực tại trực tiếp, mà còn với thực tại cao hơn mà cuộc sống bị nhúng vào trong đó.” (A Transrealist Manifesto. Rudy Rucker) (The familiar tools of SF — time travel, antigravity, alternate worlds, telepathy, etc. — are in fact symbolic of archetypal modes of perception. Time travel is memory, flight is enlightenment, alternate worlds symbolize the great variety of individual world-views, and telepathy stands for the ability to communicate fully. This is the “Trans” aspect. The “realism” aspect has to do with the fact that a valid work of art should deal with the world the way it actually is. Transrealism tries to treat not only immediate reality, but also the higher reality in which life is embedded).
Transrealism, gọi là Chuyển Đổi Hiện Thực. Đối với học thuyết này, “Trans” mang ý nghĩa rộng và sâu hơn “chuyển đổi”. “Trans” là đưa một thực tế hiện thực vào một dự tưởng tương lai, với niềm tin khoa học có thể tiếp cận, và hiệu quả của viễn cảnh/viễn tượng tương lai này dùng để giải thích, giải quyết vấn đề hiện tại.
Ý nghĩa căn bản: Hiện thực không đúng là hiện thực, hiện thực thật sự là một cái gì khác hơn. Bất cứ hiện thực nào cũng cần sự “tưởng tượng mang bản chất khoa học” để thấy được cái không thực, sự phối hợp giữa cái không thực và cái thực tế sẽ là hiện thực thật sự, hiện thực đúng nghĩa.
Bối cảnh đưa đến phong trào Transrealism bắt nguồn từ thi sĩ William Wordsworth trong bài tựa của Lyrical Ballards. Nhưng sau thế chiến thứ hai, trong giai đoạn nghi ngờ và xét lại toàn bộ giá trị, gọi là Hậu Hiện Đại, thi sĩ John Keats, một lần nữa, viết: “Khi con người sinh hoạt trong tình trạng bấp bênh, nhiều bí ẩn, nghi ngờ, không nơi nào tìm đến sự thật và lẽ phải.Khuynh hướng đi tìm giải đáp dựa vào khoa học tương lai đã xuất hiện trên đường chân trời, cùng với những chủ nghĩa và phong trào văn học khác.
Danh từ Transrealism là sản phẩm của nhà văn, nhà toán học, nhà phê bình Rudy Rucker trong tiểu luận văn chương ATransrealist Manifesto, năm 1983. Ba mươi năm sau, Transrealism trở thành phong trào văn chương. Trước đó khoa học giả tưởng và truyện hiện thực là hai con đường chia cách. Trong phong trào này, giả tưởng từ khoa học và hiện thực từ đời sống kết hợp rồi nở hoa.
Transrealism trong truyện
Tiếp cận hiện thực và tiếp cận kỳ ảo khoa học là hai phương pháp được nhập một, áp dụng vào sáng tác của Transrealism. Dùng hai ưu điểm của hai phương pháp tiếp cận một sự kiện, sẽ giúp cho sự lĩnh hội còn mù mờ của hiểu biết, được rõ ràng hơn. “Các nhà văn Transrealism sáng tác về những nhận thức trực tiếp bằng lối kỳ ảo. Bất kỳ văn chương nào không cưu mang thực tế thật sự thì đều là văn chương kém và yếu. Nhưng loại văn chương Hiện Thực thẳng tuột đã bị tắc tị. Có ai cần thêm những truyện thẳng tuột? Những phương tiện về kỳ ảo khác thường và khoa học viễn tưởng cung ứng phương tiện để làm phong phú thêm cho truyện hiện thực. Bằng cách sử dụng những phương tiện kỳ ảo, có thể nhào nặn nên những văn bản ngầm ẩn. (The Transrealist writes about immediate perceptions in a fantastic way. Any literature which is not about actual reality is weak and enervated. But the genre of straight realism is all burnt out. Who needs more straight novels? The tools of fantasy and SF offer a means to thicken and intensify realistic fiction. By using fantastic devices it is actually possible to manipulate subtext.) (A Transrealist Manifesto. Rudy Rucker)
Transrealism chống lại truyện có cấu trúc nhân tạo trong cốt truyện và những nhân vật tạo dựng. Thay vào đó, là những sự kiện có thật và con người thật, chủ yếu từ kinh nghiệm sống của tác giả. Nhưng xuyên qua câu truyện thật này, tác giả kết cấu những ý tưởng kỳ ảo, thông thường đưọc vay mượn từ khoa học viễn tưởng, từ lãnh địa kỳ ảo và kinh dị. Ví dụ như câu truyện nổi tiếng trong phim E.T. Những tác phẩm như Harry PotterThe Hunger Games, không thuộc về Transrealism vì thiếu những yếu tố thực tế. Transrealism tạo ra sự không thoải mái vì cho chúng ta biết thực tại là điều tốt nhất, còn tệ nhất là không tồn tại. Và không cho chúng ta lối thoát nào ra khỏi thực tại đó.
Truyện Transrealism trình bày khuynh hướng thoát ly thực tế và cắt đứt thực tế của khoa học giả tưởng, bằng cách cung cấp những đặc tính nổi bật qua tự truyện và mô phỏng những người quen của tác giả. “Nhân vật cần phải dựa trên người thật. Những điều làm cho thể loại truyện trở nên tẻ nhạt là những nhân vật rõ ràng là con rối theo ý tác giả. Hành vi có thể đoán trước, đối thoại gây khó khăn để phân biệt, nhân vật nào cần nói điều gì. Trong đời thật, những người chúng ta gặp, hầu như không bao giờ nói những gì chúng ta mong đợi. Từ những tiếp xúc va chạm lâu ngày, chúng ta mang theo những hình ảnh của người quen trong trí tưởng. Những mô tả này không giống như những phản ứng của họ trong những diễn tiến tưởng tượng mà chúng ta mong muốn. Cứ để sự mô tả tạo ra nhân vật, chúng ta có thể tránh được những sản phẩm máy móc từ ý đồ riêng tư. Điều cần thiết là những nhân vật có một số cảm giác mất kiểm soát, như người thật bên ngoài, có điều gì mà mọi người có thể học hỏi bằng cách đọc về những nhân vật được tạo dựng nên?
Trong truyện Chuyển Đổi Hiện Thực, tác giả thường xuất hiện như một nhân vật thực tế, hoặc cá tính của họ được chia ra trong nhiều nhân vật. Điều này có vẻ tự cao tự đại. Nhưng sử dụng chính bản thân làm nhân vật, theo tôi, không phải là tự ca ngợi mình. Đơn giản chỉ là điều cần thiết. Thật vậy, nếu viết về những nhận thức trực tiếp, thì có quan điểm nào khác hơn quan điểm riêng tư của bản thân? Chính việc sử dụng một phiên bản lý tưởng hóa bản thân, mới là tự cao tự đại, một bản thân hoang tưởng. [...] Các nhân vật chính trong Chuyển Đổi Hiện Thực không được trình bày như những siêu nhân vật. Một nhân vật chính trong truyện transrealism chỉ là người dễ bị kích thích và bất lực như chúng ta tự biết về bản thân của mình.” (The characters should be based on actual people. What makes standard genre fiction so insipid is that the characters are so obviously puppets of the author’s will. Actions become predictable, and in dialogue it is difficult to tell which character is supposed to be talking. In real life, the people you meet almost never say what you want or expect them to. From long and bruising contact, you carry simulations of your acquaintances around in your head. These simulations are imposed on you from without; they do not react to imagined situations as you might desire. By letting these simulations run your characters, you can avoid turning out mechanical wish-fulfillments. It is essential that the characters be in some sense out of control, as are real people — for what can anyone learn by reading about made-up people?
In a Transrealist novel, the author usually appears as an actual character, or his or her personality is divided among several characters. On the face of it, this sounds egotistical. But I would argue that to use oneself as a character is not really egotistical. It is a simple necessity. If, indeed, you are writing about immediate perceptions, then what point of view other than your own is possible? It is far more egotistical to use an idealized version of yourself, a fantasy-self, and have this para-self wreak its will on a pack of pliant slaves. The Transrealist protagonist is not presented as some super-person. A Transrealist protagonist is just as neurotic and ineffectual as we each know ourselves to be) (A Transrealist Manifesto. Rudy Rucker)
Transrealism xuất hiện giữa sự mệt mỏi và nhàm chán của truyện Hiện Thực, bằng cách tạo ra những ẩn dụ mới mang tính kỳ ảo, cho thích ứng với sự thay đổi của tâm lý và ý thức của độc giả, vô tình hoặc cố ý muốn vượt qua thực tại trong đời sống. Một trong những nguồn cho sự vượt ra thực tại mà tác giả có thể sử dụng là gia tăng những mô hình vũ trụ trong lý thuyết vật lý thiên văn (theoretical astrophysics). Những nhà văn nằm trong phạm vi này là Philip K. Dick, Margaret Atwood, John Barth, Lisa Goldsten, James Morrow, Joanna Russ...
Nhà văn Chuyển Đổi Hiện Thực không dự đoán kết quả của câu truyện. Tác phẩm của họ phát triển tự nhiên, tự động như đời sống thực tế. Tác giả chỉ có thể chọn nhân vật và dàn trải, giới thiệu điều này, việc kia, đặc biệt là những yếu tố kỳ ảo, nhằm mục đích tiến tới những tình cảnh quan trọng. Nghĩa là, truyện Chuyển Đổi Hiện Thực viết như viết trong bóng tối và không có dàn bài sơ thảo.” (The Transrealist artist cannot predict the finished form of his or her work. The Transrealist novel grows organically, like life itself. The author can only choose characters and setting, introduce this or that particular fantastic element, and aim for certain key scenes. Ideally, a Transrealist novel is written in obscurity, and without an outline.) (A Transrealist Manifesto. Rudy Rucker)
Transrealism là một hình thức nghệ thuật cách mạng. Là một phương tiện quan trọng trong sự thỏa mãn những bế tắt của ý tưởng. Transrealism điềm chỉ những bình thường tàng ẩn bí mật của người và đời sống. “Làm gì có con người bình thường, hãy nhìn những người thân quen, những người chúng ta biết họ rất rõ. Tất cả đều kỳ lạ ở một mức độ nào đó, ẩn dưới bề mặt. Tuy nhiên, truyện phổ thông thường kể về những người bình thường trong đời sống bình thường. Miễn là bạn cực lực ẩn giấu cảm giác là người kỳ dị, để cảm thấy mệt mỏi và ân hận. Bạn hăm hở sống với những gì đã thành hình, với sự sợ hãi, một hôm nào, sẽ bị khám phá. Thật ra, ai cũng kỳ lạ, [bí hiểm], không thể đoán trước. Đó là điều rất quan trọng tại sao nên sử dụng họ làm những nhân vật, thay vì theo lế lối tạo dựng người giấy, không thể nào đạt được giá trị.
Ý tưởng phá vỡ sự toàn vẹn của sự kiện thực tế còn quan trọng hơn nữa. Đây là lúc sử dụng những phương tiện từ khoa học viễn tưởng. Mỗi tâm trí là một thực tế riêng rẽ. Miễn là con người có thể bị lừa để tin tưởng những sự kiện thực tế, xảy ra trong giờ tin tức buổi chiều, lúc 6 giờ 30, họ bị lùa đi như đàn cừu: Các nhà lãnh đạo đe dọa chúng ta bằng chiến tranh nguyên tử; bị hướng dẫn điên cuồng bởi sợ hãi sự chết; vội vã chạy đua để mua hàng tiêu dùng. Trong khi chuyện thực tế có thể xảy ra là bạn tắt truyền hình, ăn uống thoải mái, đi dạo lanh quanh, với vô số ý nghĩ và nhận thức đang được đưa vào tâm trí một cách vô hạn.” (There are no normal people — just look at your relatives, the people that you are in a position to know best. They’re all weird at some level below the surface. Yet conventional fiction very commonly shows us normal people in a normal world. As long as you labor under the feeling that you are the only weirdo, then you feel weak and apologetic. You’re eager to go along with the establishment, and a bit frightened to make waves — lest you be found out. Actual people are weird and unpredictable, this is why it is so important to use them as characters instead of the impossibly good and bad paperdolls of mass-culture.
The idea of breaking down consensus reality is even more important. This is where the tools of SF are particularly useful. Each mind is a reality unto itself. As long as people can be tricked into believing the reality of the 6:30 news, they can be herded about like sheep. The “president” threatens us with “nuclear war,” and driven frantic by the fear of “death” we rush out to “buy consumer goods.” When in fact, what really happens is that you turn off the TV, eat something, and go for a walk, with infinitely many thoughts and perceptions mingling with infinitely many inputs. ) (A Transrealist Manifesto. Rudy Rucker)
Transrealism chống lại với sự toàn vẹn của hiện thực, xác định nó thuộc về văn chương Hậu Hiện Đại, giống như Siêu Thực, có bản chất thuộc về văn chương dội ngược (slipstream literrature.) [ý nói sự phản kháng đối với văn chương truyền thống.] Transrealism có thể xem như một nhánh rẽ của dòng văn chương dội ngược.
Transrealism và Magic Realism có nhiều vùng tương tựa. Sự khác biệt xảy ra ở những chuyện kỳ dị được sử dụng để làm cho hiện thực nổi bật và tỏ lộ ý nghĩa thật sự. Magic Realism dùng những chuyện, những hình ảnh tưởng tượng mang tính hoang đường, hoặc có nguồn gốc tôn giáo, hoặc thần thoại. Đó cũng là ý nghĩa của từ Magic. Trong khi Transrealism dùng những hình ảnh, những câu chuyện có nguồn gốc hoặc bản chất khoa học, dù là khoa học giả tưởng hay viễn tưởng, có thể sẽ là thực tế trong tương lai. Khoa học chưa biết, chưa chứng minh được, luôn luôn là niềm tin của tò mò, luôn luôn là nghi ngờ của khám phá, luôn luôn thú vị và hối thúc trí tuệ.
Ngày nay, Transrealism làm nền cho một số văn học đương đại. Phê bình cho rằng, Transrealism có 30 năm quá khứ nhưng điều đáng quan tâm chính là 30 năm trong tương lai.
Sẽ luôn luôn có một nơi để thể loại văn chương khoa học viễn tưởng thoát ra. Nhưng không có lý do nào để hạn chế và những phương thức phản lại lập nên quy định cho tất cả sáng tác. Chuyển Đổi Hiện Thực là con đường đi đến khoa học viễn tưởng chân chính và nghệ thuật.” (There will always be a place for the escape-literature of genre SF. But there is no reason to let this severely limited and reactionary mode condition all our writing. Transrealism is the path to a truly artistic SF.) (A Transrealist Manifesto. Rudy Rucker)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bộ đội trong dinh Độc lập


[​IMG]
[​IMG]
[​IMG]

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khi nhà văn đi… xin


TỊNH SƠN 
TP - Raxun Gamzatop - tác giả cuốn sách “Đaghextan của tôi” nổi tiếng một thời của văn học Xô-viết, kể: Hồi ông mới được bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành Hội nhà văn Đaghextan, do tuổi trẻ hăng hái, nên việc đầu tiên là mời “tứ trụ” của Hội, gồm 4 nhà văn đại diện 4 dân tộc trong vùng lên gặp đại diện Chính phủ đề đạt nguyện vọng với cấp trên làm sao để có “tác phẩm lớn”!

Tiếp các nhà văn hôm ấy là Bí thư Khu ủy Đaghextan có cái tên rất dài. Cuộc trò chuyện diễn ra rất tự nhiên, đầy vẻ tâm tình. Cuối cùng, đồng chí Bí thư Khu ủy đề nghị mỗi nhà văn phát biểu yêu cầu, nguyện vọng của mình. Nhà thơ thứ nhất xin Chính phủ cứu đàn cừu của nông trang đang bị chết hàng loạt do mùa đông lạnh giá. Đồng thời xin Chính phủ cho nông trang làng Khruc của mình một chiếc xe ô tô.

Nhà thơ thứ hai đề nghị đài truyền hình đừng phát chương trình có các ca sỹ trẻ gào rống, và nên ca ngợi “những người lao động tiên tiến trên mặt trận sản xuất nông nghiệp”, thay vì chỉ hát về “các nàng tiên trong truyện hoang đường”.

Nhà thơ thứ ba đến lượt mình đứng dậy há mồm cho mọi người xem hàm răng già nua, lung lay của mình. Rồi đề nghị đồng chí Bí thư… trồng cho mình một hàm răng mới chắc chắn hơn! Bởi theo ông, “người móm ngâm thơ cũng khó hay lắm. Khi ngâm thơ giọng nó cứ thều thào”. 

Đến lượt nhà thơ Abutalip - tác giả của câu nói nổi tiếng “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác”. Ông giãi bày việc mình nay đã ngoài 70 tuổi, và dù là nhà thơ nhân dân, đại biểu Xô-viết tối cao, nhưng lâu nay nghèo túng, sống ở trong một cái hầm nên các bà vợ lần lượt bỏ ông mà đi! Ông xin cấp một cái nhà, để bà vợ cuối cùng không ôm con bỏ đi nốt…

Công nhận Gamzatop từ thời những năm nảo năm nào của chế độ Xô-viết, đã thật hóm hỉnh khi viết về nghề văn, nhà văn.

Và đặc biệt là còn nguyên tính thời sự, cho đến tận hôm nay, nếu soi vào cơ chế hoạt động văn nghệ ở ta hiện thời. Khi người quản lý văn nghệ xin xe để đi lại cho “xứng” với chức danh, trong khi lãnh đạo các Bộ, ngành đang tiến tới bỏ chế độ xe công! Và nhiều nhà văn, nghệ sỹ vẫn đứng ngoài quy luật xã hội, để xin giữ cơ chế bao cấp trong sáng tạo. Trong khi Thủ tướng đã lưu ý rất rõ với những người làm văn nghệ: “Chúng ta không chạy theo thị trường, thương mại hóa, nhưng chúng ta cần nghiên cứu xu hướng, nhu cầu của thị trường để đáp ứng”. 

Trở lại với chuyện cái nhà của Abutalip. Đương nhiên nhà thơ lớn của vùng núi Kapkazơ này được cấp ngay một căn nhà như ý. Nhưng trong ngôi nhà mới, nhà thơ đã thừa nhận không viết được bài thơ nào “cho ra hồn cả”. Kể cả khi mọi người xúm lại trang bị cho ông toàn bộ đồ gỗ trong nhà, từ giường tủ, bàn ăn, bàn viết, với hy vọng ông sẽ tiếp tục viết ra “những bài thơ xuất sắc”… 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vương Nghị hủy cuộc gặp đã lên lịch với Phạm Bình Minh



VOA - Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã hoãn vào phút chót một cuộc gặp đã được lên lịch trước với người đồng cấp Việt Nam Phạm Bình Minh hôm thứ Hai ngày 7/8 do tranh cãi về Biển Đông, hãng tin Bloomberg dẫn nguồn tin thân cận với vấn đề cho biết.

Thông tin này cũng được tờ South China Morning Post xác nhận. Tuy nhiên tờ báo này cho biết hiện chưa rõ cuộc gặp bị hủy vì lý do gì nhưng nhấn mạnh là nó diễn ra sau khi Asean ra thông cáo chung.

Theo Bloomberg, Trung Quốc được cho là bất bình với ngôn từ trong thông cáo chung của ngoại trưởng các nước Asean được đưa ra hôm tối Chủ nhật ngày 6/8 mà trong đó bày tỏ quan ngại trước việc Trung Quốc bồi đắp các đảo tranh chấp và quân sự hóa Biển Đông. Trung Quốc đã đổ lỗi cho phía Việt Nam đã vận động để thông cáo chung của Asean đề cập đến việc này.

Thông cáo nói rằng “một số ngoại trưởng của 10 nước Asean đã bày tỏ quan ngại “về việc bồi đắp đảo và các hoạt động trong khu vực vốn làm xói mòn lòng tin, gia tăng căng thẳng và có thể làm tổn hại hòa bình, ổn định và an ninh khu vực.”

Tuy nhiên Hà Nội đã gặp khó khăn khi vận động các quốc gia Asean khác đồng ý với nội dung này trong thông cáo chung do các nước này có quan hệ thương mại và đầu tư chặt chẽ với Trung Quốc.

Ngoại trưởng Vương được South China Morning Post dẫn lời nói rằng “chỉ có một hay hai ngoại trưởng trong khối Asean bày tỏ quan ngại về việc bồi đắp đảo”.

“Tôi muốn nói rằng Trung Quốc đã dừng hoặc đã hoàn tất việc bồi đắp hai năm trước. Nếu có ai đó còn nói về bồi đắp đảo thì đó không phải là Trung Quốc. Có lẽ nước nào đưa ra vấn đề này mới là nước đang bồi đắp đảo,” ông Vương nói.

Người phát ngôn của phái đoàn Trung Quốc được Bloomberg dẫn lời nói rằng việc gặp nhau giữa ngoại trưởng hai nước không phải là cơ hội duy nhất để cho các bộ trưởng thảo luận. Trước đó, quan chức hai nước đã tham gia vào các cuộc gặp đa phương khác ở Manila, trong số đó có cuộc gặp giữa Trung Quốc và 10 nước Asean.

“Hai bên đã gặp nhau rồi,” người phát ngôn này nói nhưng không cho biết gì thêm. Hội nghị ngoại trưởng Asean thường niên và các hội nghị liên quan khác hiện đang diễn ra ở thủ đô Manila của Philippines nhân kỷ niệm 60 năm ngày khối này ra đời.

Bản cuối cùng của thông cáo chung được lựa chọn từ ngữ cẩn thận để không làm mất lòng Trung Quốc. Thông cáo kêu gọi phi quân sự hóa Biển Đông và tái cam kết sự sẵn sàng của Asean để bắt đầu các cuộc đàm phán thực chất về bộ quy tắc ứng xử với Bắc Kinh. Tuy nhiên văn bản này không đề cập rằng bộ quy tắc ứng xử phải có tính ràng buộc về pháp lý.

Ông Hứa Lợi Bình, một nhà nghiên cứu cao cấp tại Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc nói với South China Morning Post rằng Bắc Kinh “bất bình với lập trường của Việt Nam đối với các vấn đề trên biển” và rằng việc hủy gặp này có thể được xem như là “lời cảnh báo đối với Việt Nam”.

Trong một bài xã luận, hãng tin Tân Hoa Xã cho rằng nỗ lực của Việt Nam muốn có ngôn từ mạnh mẽ trong thông cáo chung đã “đầu độc” tình hình trên Biển Đông và “gieo rắc bất đồng giữa Trung Quốc và Asean”.

Theo bản tin được đưa ra vào khoảng nửa đêm ngày 7/8 giờ Việt Nam trên báo Tuổi Trẻ thì ông Phạm Bình Minh cuối cùng cũng có cuộc gặp với ông Nghị theo hình thức 'pull aside', tức là hai vị bộ trưởng kéo nhau ra một bên bên lề một phiên họp và 'trao đổi nội dung', tờ báo này dẫn nguồn tin riêng của họ từ Bộ Ngoại giao cho biết. Tuy nhiên tờ báo này không cho biết hai vị ngoại trưởng gặp nhau trong thời gian bao lâu và thảo luận những nội dung gì.

Hồi tháng Sáu năm 2017 đã có tin Việt Nam đã dừng khoan tìm khí đốt ở bãi Vanguard mà Việt Nam gọi là bãi Tư Chính do có lời đe dọa dùng sức mạnh quân sự từ Trung Quốc.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Việt Nam không hoàn toàn cô độc ở biển Đông



Tổng thư ký ASEAN Lê Lương Minh (trái) và Ngoại trưởng Philippines Cayetano, tại hội nghị ngoại trưởng ASEAN lần thứ 50.



Kính Hòa
RFA (07-08-2017)


Hội nghị ngoại trưởng lần thứ 50 của các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã đưa ra được một thông cáo chung, trong đó có lời lẽ khá mạnh mẽ của Việt Nam kêu gọi không quân sự hóa biển Đông

ASEAN và Trung Quốc cũng đạt được một thỏa thuận khung về soạn thảo qui tắc ứng xử (COC) trên biển Đông, tuy nhiên không có nói đến tính ràng buộc pháp lý của COC trong tương lai, như Việt Nam mong muốn.



Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp, chuyên gia quan hệ quốc tế, hiện đang làm việc tại Viện nghiên cứu Đông Nam Á tại Singapore có những nhận định về kết quả của Hội nghị ngoại trưởng ASEAN 50 lần này. Đầu tiên ông đưa ra lý do tại sau một năm trước đây tại Lào, trong cuộc họp ngoại trưởng ASEAN 49 lại không có những lời lẽ khá mạnh mẽ như trong ASEAN 50 lần này.

Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp: Sau phán quyết của tòa trọng tài vào năm 2016, Trung Quốc có những hành động ngoại giao có thể gọi là lôi kéo các nước ASEAN về phía họ. Trong bối cảnh đấy thì không khí chung của ASEAN cũng không muốn tạo ra căng thẳng đối đầu với Trung Quốc. Những yếu tố ấy tạo ra cái môi trường bất lợi cho Việt Nam, và có lợi cho Trung Quốc.
Trung Quốc muốn có một COC không bị ràng buộc pháp lý để có nhiều tự do hành động.
-Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp.
Trong Hội nghị lần này thì theo tôi có những yếu tố thay đổi, ví dụ như là chính sách của chính quyền Trump của Hoa Kỳ dường như rõ ràng hơn, thể hiện nhiều sự tiếp nối hơn là thay đổi so với chính quyền tiền nhiệm của ông Obama, việc Trung Quốc đe doạ Việt Nam ở lô 136-3,… cho thấy nếu Việt nam cứ tiếp tục mềm mỏng thì khó có thể lật ngược được tình thế trong thời gian tới. Và Việt Nam cần có tiếng nói cương quyết hơn. Nếu Việt Nam muốn đạt một hay hai điểm thì Việt Nam phải cương quyết trên 3, 4 điểm, để từ đó có thể có thế mặc cả với các nước ASEAN khác để đạt được một cái ngưỡng thỏa hiệp.

Việt Nam là một thành viên ASEAN và có quyền phủ quyết. Trong khi các nước như Cam Pu Chia hay Lào muốn có một ngôn ngữ mềm mỏng hơn với Trung Quốc, thì Việt Nam cũng có quyền yêu cầu có một ngôn ngữ mạnh mẽ hơn đối với Trung Quốc về vấn đề biển Đông, nếu không thì Việt Nam có quyền phủ quyết, sẽ dẫn đến đổ vỡ về mặt ngoại giao, những bế tắc trong các cuộc họp ASEAN, một điều mà không ai mong muốn. Nếu Việt Nam cứng rắn, mạnh mẽ hơn, thì nếu không đạt được toàn bộ ý nguyện của mình, thì ít nhất cũng bảo vệ được một phần. Còn nếu như Việt Nam không lên tiếng, không đưa ra các lập trường cứng rắn thì chắc chắn Việt Nam sẽ bị thiệt thòi.

Kính Hòa RFA: Theo một số nhà quan sát thì Việt Nam và một số quốc gia ASEAN mong muốn COC mang tính ràng buộc pháp lý, nhưng Trung Quốc sẽ không để chuyện đó xảy ra. Theo ông tại sao Trung Quốc không muốn điều này?

Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp: Rất dễ hiểu vì Trung Quốc là quốc gia chiếm ưu thế trên biển Đông, và họ muốn mở rộng sức mạnh hải quân, sức mạnh trên biển Đông, chính vì vậy họ không muốn ràng buộc hành động, bởi các văn kiện pháp lý. Họ muốn có quyền tự do hành động lớn hơn. Chính vì vậy Trung Quốc sẽ tìm mọi cách để làm cho COC, nếu như được thông qua, sẽ ít có giá trị, ràng buộc pháp lý, để họ có thể có quyền tự do hành động một cách tự do trên biển Đông.

Kính Hòa RFA: Gần đây có một số nhà quan sát cho rằng việc đấu tranh của Việt Nam, cũng như một số quốc gia phương Tây có quyền lợi ở biển Đông, là làm sao ở biển Đông có những ràng buộc về pháp lý, chứ không phải là yêu cầu giữ nguyên trạng như trước đây. Nhận xét đó có đúng không, và có vẻ như là Trung Quốc thích sự thỏa thuận nguyên trạng?

Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp: Có lẽ là do Trung Quốc, trong thời gian vừa rồi đã có những hành động thay đổi nguyên trạng trên biển Đông như việc họ xây các đảo nhân tạo ở Trường Sa. Điều đấy có nghĩa là các nước đấu tranh để duy trì nguyên trạng làm điều vô ích vì không ai có thể ngăn cản được Trung Quốc tiến hành thay đổi nguyên trạng trên biển Đông, nếu như họ không sẳn sàng đối đầu quân sự, vũ trang với Trung Quốc trên biển Đông.

Chính điều đó chỉ ra một lổ hổng là mặt dù các nước này muốn duy trì nguyên trạng nhưng họ lại không có các cơ chế, các công cụ để duy trì nguyên trạng đấy. Đố là lổ hổng về mặt pháp lý, không có các ràng buộc, không có các hiệp định để mà ngăn cản hành động thay đổi nguyên trạng của Trung Quốc, từ đó có các cơ sở để lên án hay đưa ra các biện pháp trừng phạt Trung Quốc chẳng hạn.

Xuất phát từ thực tiễn đấy, không có các công cụ để ngăn cản Trung Quốc thay đổi nguyên trạng, thì bước đầu tiên để thay đổi tình trạng đó là tạo ra các công cụ pháp lý, mang tính chất ràng buộc cao để có thể ngăn cản Trung Quốc thay đổi nguyên trạng.

Có lẽ đây là lý do tại sao Việt Nam nhấn mạnh tính chất pháp lý ràng buộc, trong bản COC mà hai bên sẽ tiến hành đàm phán trong tương lai.
Những quan điểm lập trường như chúng ta vừa nêu vẫn có thể thay đổi trong tương lai, tùy thuộc vào tính toán lợi ích của các bên, nhưng tôi tin rằng Việt Nam không hoàn toàn đơn độc trong cuộc chiến về COC.
-Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp.
Kính Hòa RFA: Trong bản tin mới của Reuters, có nói một vài quốc gia ASEAN, không nêu tên, ủng hộ Việt Nam đưa COC trở thành một ràng buộc pháp lý. Theo ông quốc gia nào có khả năng ủng hộ Việt Nam trong chuyện đó?

Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp: Theo tôi thì hiện tại có một số quốc gia ASEAN, trong bảng tuyên bố chung, họ không muốn đưa vào ngay cái cụm từ là phấn đấu đưa COC thành ràng buộc pháp lý, tại vì nó có mang tính ràng buộc pháp lý hay không thì nó vẫn còn là một câu hỏi mở để thảo luận, đàm phán giữa các nước ASEAN và Trung Quốc, sau khi mà hai bên tiến hành đàm phán về thực chất của nội dung COC này. Cho nên bây giờ nếu nói phấn đấu đưa COC có tính ràng buộc pháp lý hay không thì nó vẫn chưa có ý nghĩa thực sự bằng việc tiến hành đàm phán trên thực tế.

Vì vậy có những bất ngờ, chẳng hạn có thông tin nói Singapore chẳng hạn, không ủng hộ việc đưa vào tuyên bố chung rằng COC mang tính ràng buộc pháp lý, tuy nhiên điều đó không có nghĩa là Singapore và những nước liên quan không ủng hộ một bản COC mang tính ràng buộc pháp lý.

Còn trả lời câu hỏi của ông, dựa trên suy luận và quan sát của tôi thì có thể có các nước như Singapore, Indonesia, ủng hộ quan điểm của Việt Nam là có một COC mang tính ràng buộc pháp lý. Một số nước khác thì không có quan điểm rõ ràng, còn Cam Pu Chia thì chúng ta biết rằng họ nghiêng về quan điểm của Trung Quốc là COC không mang tính ràng buộc pháp lý.


Những quan điểm lập trường như chúng ta vừa nêu vẫn có thể thay đổi trong tương lai, tùy thuộc vào tính toán lợi ích của các bên, nhưng tôi tin rằng Việt Nam không hoàn toàn đơn độc trong cuộc chiến về COC, vì có những quốc gia trong khu vực chia sẻ lợi ích của Việt Nam, trong việc bảo vệ hòa bình và ổn định trong khu vực biển Đông


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Quyền lực mềm trong thế giới mạng


>> Hà Nội từ chối Trung Quốc làm tàu điện ngầm
>> Bắt quả tang nữ phóng viên tống tiền doanh nghiệp
>> Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ: Chấm dứt ngay việc dạy chữ cho trẻ trước khi vào lớp 1

Hoàng Hường

VNN - Chưa khi nào quyền lực mềm được thể hiện và cảm nhận rõ nhất như thời điểm này – khi mạng xã hội nở rộ.

Khái niệm Quyền lực mềm (Soft Power) giáo sư người Mỹ Joseph Samuel Nye, Jr. ở đại học Harvard đưa ra lần đầu tiên trong một quyển sách phát hành năm 1990, Bound to Lead: The Changing Nature of American Power.

Hiểu đơn giản quyền lực mềm là dùng sức ảnh hưởng, sự cuốn hút của một chủ thể (một người, một nhóm,  một cộng đồng…) tác động tới tư duy, hành động, hệ giá trị nào của đối tượng khác, khiến họ bị lôi cuốn theo một cách tự nguyện.

Như ngành công nghiệp giải trí Hàn Quốc đã phát huy cực tốt quyền lực mềm của họ, khiến hầu hết giới trẻ Châu Á say mê các ngôi sao giải trí Hàn, ăn mặc hay nói năng cũng giống thần tượng. Nước Mỹ cũng có quyền lực mềm đặc biệt trên phạm vi toàn cầu thông qua ngành công nghiệp giải trí, nhạc Pop Rock, đặc biệt là điện ảnh, chưa có nước nào vượt qua được.

Hơn hết, người ta hay nhắc đến nước Mỹ với sự tự do. Tự do về suy nghĩ, biểu đạt, sáng tạo… sự độc lập và đa dạng được tôn trọng tối đa. Chính điều này khiến thế giới ngưỡng mộ nước Mỹ và cũng là lý do họ tìm đến với nước Mỹ hơn cả. Đó chính là quyền lực mềm nước Mỹ tạo ra, tác động tới tư tưởng và hệ giá trị của người khác, đúng như khái niệm mà giáo sư Joseph Samuel Nye đưa ra.

Đặt vào xã hội Việt Nam, chưa có khi nào quyền lực mềm được thể hiện và cảm nhận rõ nhất như thời điểm này – khi mạng xã hội nở rộ - bất cứ ai cũng nắm trong tay ít nhất một công cụ để thể hiện tư duy, hành động của chính họ và truyền đạt trực tiếp đến cả triệu người; một cách miễn phí.

Những câu chuyện gần như cậu bé đánh đàn ở Bờ Hồ, câu chuyện thủ tục hành chính phường Văn Miếu… đã cho thấy sức mạnh của mạng xã hội lớn thế nào, và những người có lợi thế lôi cuốn; có ảnh hưởng lại càng phát huy được sức mạnh này.

Theo lẽ tự nhiên, những người có lợi thế về ngôn ngữ, kỹ năng hành xử khôn ngoan, sáng tạo độc đáo, duyên dáng hấp dẫn luôn có tác động tích cực đến người khác. Nếu như trước đây, trong phạm vi một lớp học, những bạn trông sáng sủa linh lợi, nói năng duyên dáng luôn được những bạn khác ngưỡng mộ cuốn theo, tự nguyện coi là thủ lĩnh.

Ngày nay, sức ảnh hưởng của những người hấp dẫn đó tăng theo cấp số nhân, một lời nói hay hành động của họ có thể được truyền đạt đi với tốc độ ánh sáng thông qua mạng. Không có cách tiếp thị nào hiệu quả hơn thế.

Nói một cách khác, xã hội hiện đại cần quyền lực mềm nhiều hơn. Thế giới hẳn cũng tốt đẹp hơn nếu với các cuộc đổ bộ văn hóa, tri thức, thành tựu khoa học… hơn là những cuộc đổ bộ quân sự.

Thế nhưng, trong giai đoạn đang hội nhập còn nhiều bỡ ngỡ, mặt bằng tri thức của đại đa số người dân chưa thật cao. Các vấn đề văn minh văn hóa cộng đồng còn nhiều vấn đề, thì sự nở rộ của mạng xã hội vừa thúc đẩy sự phát triển, kết nối; đồng thời cũng tạo ra nhiều hệ lụy.

Nhiều người có “lợi thế cuốn hút” nhanh chóng trở thành những nhóm quyền lực thật trên mạng ảo. Họ được nhiều người theo dõi cổ vũ, và ngẫu nhiên tư duy hành động của họ được đám đông làm theo. Bằng sự độc quyền của mình, họ có thể hủy kết bạn hoặc chặn những người không cùng tư tưởng, hoặc phản bác quan điểm của họ.

Dần dần, những người phản bác phải chọn sự im lặng, nếu vẫn muốn được kết bạn hoặc tiếp tục đọc những bài viết tương lai của người mà họ ngưỡng mộ. Những người mang tư duy ngược lại, hoặc dè dặt phản biện ngay trên trang của người viết, hoặc phải lập ra một trang mới của riêng họ để phản biện.

Điều này đôi khi bị bất công, bất cân bằng khi những người có nhiều người theo dõi hơn đương nhiên chiếm lợi thế. Nó dẫn đến cuộc chạy đua giữa người viết chạy theo xu hướng, khẩu vị của số đông; và số đông bị lèo lái dẫn dắt theo nghệ thuật câu chữ của người viết.

Hệ quả là thi thoảng chúng ta có những đợt sóng dư luận ầm ĩ, và công chúng luôn ngả theo cách người viết dẫn dắt. Vụ án Cao Toàn Mỹ - Trương Hồ Phương Nga là một ví dụ điển hình. Dư luận bị điều phối cảm xúc theo hướng phỉ báng nguyên đơn Cao Toàn Mỹ, và sẵn sàng tha thứ những sai phạm, cả pháp luật và đạo đức, của bị cáo Trương Hồ Phương Nga.

Đợt sóng dư luận không chỉ khiến ít người dám lên tiếng nói ngược lại, mà còn có tác động trực tiếp đến phiên tòa; cũng như cách nó tác động trực tiếp đến việc xử lý sai sót ở phường Văn Miếu, hay câu chuyện cậu bé đánh đàn ở Bờ Hồ.

Cá nhân tôi cũng là người viết nhiều trên mạng xã hội, và cũng có nhiều người theo dõi (26,300 người). Tôi cũng hiểu làm cách nào đó để lôi kéo công chúng về phía mình. Nhiều lúc tôi nhận những bình luận kiểu “chị là người phụ nữ hiếm có” “em mong gặp được người vợ như chị”… là bạn bè, đồng nghiệp và gia đình tôi cười rinh rích; vì họ thừa biết con người tôi có đầy khiếm khuyết nhược điểm; không phải chỉ có những điều tôi muốn cho công chúng thấy trên mạng. Tuy nhiên, cũng có mặt tốt là những điều đó cũng bắt buộc tôi phải sống tốt hơn, và tạo ra những ảnh hưởng tốt hơn tới cộng đồng.

Tương tự, trang Facebook của thầy giáo Văn Như Cương có hơn 131.000 người theo dõi. Mỗi bài viết về giáo dục của ông có hàng nghìn lượt chia sẻ, và hơn 100 người đọc, chắc chắn có tác động nhanh và mạnh và trực tiếp tới hàng vạn phụ huynh, học sinh.

Phần nhận xét hiển thị trên trang