Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 11 tháng 4, 2017

Không có chứng cứ sao bắt được tham nhũng?


>> Thủ tướng yêu cầu kỷ luật việc bổ nhiệm người nhà
>> Người giàu cũng “sợ”
>> Bắt Trưởng đại diện Báo Kinh doanh và Pháp luật tại Hải Phòng


LÊ THANH PHONG
LĐO - “Chỉ cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội được sử dụng thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi hình, định vị phục vụ cho hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng”, đó là quy định tại khoản 3, Điều 4 dự thảo Nghị định về điều kiện kinh doanh thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi hình, định vị do Bộ Công an soạn thảo và lấy ý kiến.

Trước hết, đối với nghề báo, quy định này là một sự hạn chế hoạt động nghề nghiệp. Phóng viên tác nghiệp trong bất cứ trường hợp nào cũng cần đến các thiết bị ghi âm, ghi hình. Đối với các trường hợp cần bí mật điều tra, thì thiết bị, phần mềm ngụy trang đương nhiên phải sử dụng. Nhà báo khi viết bài, đưa tin, đặc biệt công bố các vụ việc tiêu cực bắt buộc đi kèm với chứng cứ, nếu không đủ chứng cứ thì chính nhà báo sẽ gặp nguy hiểm.

Không cho nhà báo sử dụng các thiết bị, phần mềm để ghi âm, ghi hình chẳng khác gì tước đi một phần quyền hành nghề của nhà báo.

Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp nhà báo bí mật nhập vai, ngụy trang các thiết bị để ghi âm, ghi hình, điều tra được những vụ việc trong bóng tối. Từ những công bố của báo chí, các cơ quan chức năng vào cuộc, xử lý. Nếu không được sử dụng thiết bị ngụy trang ghi âm, ghi hình, thì sẽ không thực hiện được hoạt động điều tra báo chí.

Luật sư cũng bị hạn chế hoạt động nghề nghiệp vì quy định trên. Vai trò của luật sư không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ thân chủ, mà cùng tìm ra sự thật khách quan của một vụ án, bảo vệ công lý. Cho nên, việc truy tìm chứng cứ là cần thiết, mà truy tìm chứng cứ thì phải sử dụng các thiết bị ghi lại được chứng cứ. Cho nên, không thể hạn chế hoạt động mang tính nghề nghiệp này của luật sư.

Người dân, doanh nghiệp luôn phải tự bảo vệ mình và bảo vệ sự thật bằng chứng cứ. Xin đưa ra một ví dụ, tất cả mọi người đều có thể tham gia chống tham nhũng, tiêu cực, nếu không bí mật ghi âm, ghi hình, chụp tài liệu thì lấy gì để chứng minh hành vi tham nhũng của người khác. Doanh nghiệp gặp những cán bộ nhũng nhiễu, vòi vĩnh, đòi hối lộ, nếu không ghi lại chứng cứ thì đấu tranh với ai?

Không cho báo chí, luật sư, người dân sử dụng các thiết bị ghi lại chứng cứ tham nhũng, hối lộ thì những kẻ tham nhũng hối lộ mặc sức mà tung hoành.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguyễn Thành Long và "một cuộc sống khác"

Cái khái niệm "một cuộc sống khác" là do tôi mượn ở A.Moravia, hình như đấy là tên một tác phẩm của  nhà văn Ý rất thạo đời này. Tôi tìm thấy ở đây một tâm trạng ở nhiều người ở cuối cuộc đời. Lẽ ra mình phải sống khác, họ tự nhủ. Thậm chí có những người ngay từ trẻ đã biết rằng mình không phải là mình, nhưng vùng vẫy mãi không thoát. Và trong trường hợp này, cái ví dụ rõ nhất nẩy sinh trong trí nhớ tôi là trường hợp Nguyễn Thành Long. Tôi ao ước có ngày được viết thêm những ngày hay lui tới để học hỏi qua trò chuyện với anh ở Hà Nội trước 1975, đúng hơn là với một nhóm các anh,  Nguyễn Thành Long , Huy Phương, Trần Đĩnh, Chính Yên ...


                                                       

 I


Những năm 1966-1967 – mà đôi khi người ta hay gọi tắt là khoảng đầu chống Mỹ – khi Đỗ Chu, Phạm Tiến Duật và nhiều người khác bắt đầu viết đều và cũng hay đến chơi đều đều những người viết văn lớp trước, thì một trong những nơi các anh hay đến và rủ tôi cùng đến, là nhà Nguyễn Thành Long. Giờ đây, căn phòng gần ba chục mét của anh Long ở phố Dã Tượng có vẻ đã quá hẹp, người lạ đến chơi thật dễ ái ngại khi nghĩ trên diện tích ấy, cả gia đình (hai vợ chồng và hai cháu gái) cùng cư ngụ. Song trong con mắt chúng tôi những năm cuối 60 đầu 70, căn phòng ấy đã quá rộng: đối với một người viết văn, một chỗ ở như thế thật đã gọi là lý tưởng(!). Anh Long ngày ấy mới trên bốn mươi, song dáng vẻ thì cũng như lúc về già, nghĩa là mảnh mai gầy gò bước đi lẫn cách nói chuyện đều chậm rãi, chắc chắn. Trông anh lúc nào cũng như chìm trong suy nghĩ. Cái đầu khá to khiến cho nét mặt đăm chiêu thêm trĩu nặng hơn. Anh hay hỏi han chúng tôi về đời sống riêng tư. Vào cái thuở mà giới viết văn còn sống thân mật như trong một gia đình, với chúng tôi, đấy là một người anh gần gũi. Trong đám anh em ít tuổi anh nào yêu cô nào hay dẫn cô nào đến chơi anh đều ủng hộ và sẵn sàng làm một thứ trung gian móc nối thêm. Khoảng đầu 1968, khi đám cưới Đỗ Chu tổ chức trên thị xã Bắc Ninh, anh lấy xe đạp đèo chị Nguyệt vợ anh vượt 29 cây số về dự. Cố nhiên sự quan tâm chính của anh dành cho chúng tôi vẫn là sáng tác. Dễ không ai lại chăm đọc anh em viết trẻ như Nguyễn Thành Long. Và trước vô số những câu hỏi về nghề nghiệp, cả những câu hỏi thông minh lẫn những câu ngớ ngẩn do bọn tôi đặt ra, thường anh ngẫm nghĩ tìm câu trả lời thật gọn, nhưng cũng thật thấu tình đạt lý. Đại khái, anh thường đi tới những kết luận giản dị:
- Nghề của mình khó lắm.
- Phải biết trân trọng nhau, được người nào quý người ấy.
- Trước khi tính chuyện viết lách, phải lo bảo ban nhau về cách sống. “Sống sai là viết sai ngay” - Nguyễn Thành Long nói dứt khoát như hai với hai là bốn.
Trong ý nghĩ của một số người chúng tôi hồi ấy, Nguyễn Thành Long là nhà văn vừa có vốn liếng thực tế vừa có học, lại có tấm lòng đôn hậu. Tài năng của anh là do công phu mà nên, có vẻ nó như một thứ tài có thể cố mà được, nên chúng tôi càng thấy gần.
Về sau này, sự lại chơi của một số anh em trẻ với Nguyễn Thành Long có thưa thớt hơn. Song ân tình cũ thì mãi mãi vẫn còn - trên bước đường đời của mỗi người, thật nhiều kỷ niệm là những bước chập chững đầu tiên và những người giơ tay đón ta lúc ấy, bao giờ ta quên nổi! Huống chi, một người như Nguyễn Thành Long, trong cuộc sống hơn 40 năm cầm bút, thật đã đi đến cùng trên con đường đã lựa chọn, và một cuộc đời như vậy nếu không phải để ta theo thì cũng luôn luôn để cho người ta phải so sánh, đối chiếu, rút kinh nghiệm. Ai đó đã nói chí lý “Cuộc sống bao giờ cũng cao hơn cái chết, ít nhất là một cuộc đời. Nếu không có cái để mà sống thì cũng làm gì có cái để mà chết”.

 II

Khi nhớ lại quá trình sáng tác Lặng lẽ Sa Pa, Nguyễn Thành Long có lần kể rằng nếu chỉ viết riêng về các nhân vật ở trạm khí tượng thì hơi khó. Nên sau khi đã có tài liệu đầy đủ, để lên được truyện ngắn, anh phải thêm vào nhân vật người hoạ sĩ già. Người hoạ sĩ này, cũng tương tự như vai nhà báo trong Buổi sáng Điện Biên, hoặc một nhà báo khác trong Sớm mai nào xế chiều nào không chỉ là loại nhân vật dẫn truyện, mà còn là hình ảnh tốt đẹp của một loại người khác, những người làm nghề sáng tạo. Nét đặc biệt của các nhân vật này: họ đều hay đi, say đi, thích xem xét công việc mọi người đang làm. Tâm hồn ở họ rộng mở và họ biết chan hoà vào chung quanh, chia sẻ vui buồn cùng mọi người. Và đặc biệt dưới cái bề ngoài lặng lẽ, họ thích đơn độc trong những suy nghĩ về mình và về chung quanh. Không còn ở lứa tuổi thanh niên nữa, nhưng tâm hồn mỗi người thường trẻ trung tươi tắn.
Khỏi phải nói, hình ảnh những nhà báo nhà văn hoạ sĩ nói ở đây chính là hình ảnh của Nguyễn Thành Long.
Một lần cùng đi công tác với Nguyễn Thành Long lên Tuyên Quang, tôi bất ngờ nhận ra rằng sao nhà văn này đi nhiều và bạn với nhiều người đến thế. Đến nông trường này, anh có người quen, đến bệnh viện kia, hỏi thăm một lúc, anh lại nhận ra người quen khác, mà toàn là những bạn bè biết nhau sau các chuyến đi thực tế. Họ là giám đốc nông trường, giám đốc mỏ, các đội trưởng lao động, các công nhân... Nơi làm việc của họ đôi khi là những nhà máy xí nghiệp cũ kỹ, sống lay lắt tại một miền quê xa xôi hay một miền rừng heo hút nào đó. Vậy mà một lần Nguyễn Thành Long đã đến, đã ngồi hàng giờ nghe họ tâm sự, đã đưa cuộc đời họ vào các sáng tác của mình. Thậm chí, sau khi đã viết xong, Nguyễn Thành Long vẫn cứ còn nhớ mãi về họ, xem họ như bạn bè, có dịp là nhắc tới họ với những lời thương mến.
Hồi mới vào nghề - cũng là dịp hay đến với Nguyễn Thành Long - tôi tưởng cách quan hệ, cách làm việc như thế đã là tất cả công việc phải làm đối với một người viết văn. Mãi về sau, tôi mới hiểu rằng mặc dù đó là cách làm việc chăm chỉ, lương thiện nhưng vẫn chưa đủ. Nhà văn cần một cái gì hơn thế nữa: Cần sự nhập thân vào hẳn một mảng một khu vực của đời sống (Khu vực theo nghĩa rộng, khu vực của những vui buồn sung sướng hay thất vọng, chứ không phải khu vực địa lý). Cần sống chết với các nhân vật riêng mình có, sống chết với những vấn đề thiết thân mà mình tự đặt ra và giải quyết. Nói chung là cần viết bằng những ao ước băn khoăn vui buồn hàng ngày của mình, chứ không phải chỉ lo quan sát, ghi chép về người khác. Tôi không đảm bảo là Nguyễn Thành Long không có những điều kiện làm nên chất văn như thế. Nhưng có vẻ như anh không thường xuyên huy động đến nó, cả đời cầm bút ít khi anh viết cho mình, nên thường anh chỉ có những truyện ngắn kỹ về câu cú chữ nghĩa, giỏi về dẫn truyện hoặc tạo không khí, trong đó có phác hoạ ra vài con người làm cảnh, chứ không có cái mà người ta gọi là thế giới riêng. Kết quả là những chuyến đi, và những cái viết ra của anh sau các chuyến đi cứ na ná giống nhau, cái sau sa vào vết mòn của cái trước... Nhưng thôi phán xét về những điều một nhà văn không làm, là điều nói không bao giờ đến cùng! Trước mắt, hãy biết Nguyễn Thành Long có cái cách đi cách viết, cách hình thành tác phẩm riêng và công việc đó đã được anh làm nghiêm chỉnh, tận tuỵ. Đối với những người mới viết, đó là những điều cấp thiết bậc nhất.

 III 

Một khía cạnh khác làm nên sự lương thiện trong quá trình hành nghề của Nguyễn Thành Long là khả năng sống một cách hết lòng với các việc cụ thể trước trang giấy trắng.
Chỉ cần đọc một đoạn văn ngắn của Nguyễn Thành Long, người ta có thể nhận ra ngay rằng đấy là một người viết kỹ lưỡng. Từng câu một được anh cân nhắc, câu sau không phải cứ nảy sinh tuồn tuột từ câu trước, mà mỗi câu đều đòi hỏi công sức riêng, năng lượng riêng cho nó. Chữ Nguyễn Thành Long sít, chặt, nhỏ nhưng dễ đọc. Cả các truyện của anh cũng thế. Đi đâu về, anh cũng muốn viết, và không phải chỉ viết ký thôi, phải viết truyện mới hả! Viết như một món nợ! Và người viết này rất sòng phẳng, rất muốn trả nợ cho đâu vào đấy! Thế là có thể anh ngồi hàng tuần hàng nửa tháng để hý hoáy xếp đặt, dàn truyện. Và có khi để hàng vài tháng, để viết một truyện ngắn. Còn nhớ có lần Nguyễn Khải, thấy Nguyễn Thành Long sáng tác theo lối câu dầm vậy, đã nửa đùa nửa thật hạ một câu vui vẻ:
- Viết thế thì đói là phải!
Bản thân Nguyễn Thành Long cũng nói về mình đại ý: “Nhưng có lẽ là giời đầy tôi, tôi cứ phải lo nhận xét, ghi chép, và đắn đo ở từng chữ như vậy”. Có cảm tưởng là Nguyễn Thành Long rất nghiệt với mình, với nghề của mình, và trong niềm đau khổ đang phải chịu đựng anh lại ngấm ngầm cảm thấy có niềm sung sướng. Nếu có một thứ tôn giáo phụng thờ ý nghĩa thiêng liêng của nghiệp cầm bút thì Nguyễn Thành Long là một tín đồ nồng nhiệt của tôn giáo đó. Tôi nhớ những lần nói chuyện với anh về đời sống văn học nói chung. Giữa những người viết với nhau, sự đọc nhau vừa là tình cảm, vừa là công việc, nếu có khắt khe một chút, thì cũng là chuyện thường tình. Nguyễn Thành Long chăm đọc người khác, và quả thực, thuyết phục được anh, không dễ dàng chút nào. Nhưng cái sự yêu cầu cao như vậy, là một cách để Nguyễn Thành Long biểu hiện niềm tin của mình với một ngòi bút nào đó. Ngược lại điều mà tôi nhớ nhất, là những lúc Nguyễn Thành Long phát hiện ra kẻ làm ăn cẩu thả. Anh dễ dàng đỏ mặt lên vì ngượng thay cho người đó. Không nói chi nhiều, anh chỉ nhắc đi nhắc lại: “Viết thế là tầm bậy! tầm bậy”, nhưng chỉ một câu đó thôi, đủ nói lên thái độ của anh là thế nào!

 IV

Chẳng những thành kính kỹ lưỡng trong lao động cụ thể - phải nói là ở Nguyễn Thành Long, nghề viết văn còn được hiểu như một sứ mệnh thiêng liêng, một công việc của cả đời người, không một chút nào người ta được phép dễ dãi.
Đây có lẽ là một quan niệm về văn học thấy có ở nhiều người, nhất là những người lớn lên và làm văn nghệ từ sau 1945 trở đi. Cùng với khói lửa của cuộc chiến tranh, những trang sách trang báo của chúng ta đã ra đời và trở thành vũ khí, được trang nào quý trang ấy. Lâu dần, cái ý nghĩa cao quý mà chúng ta mang lại cho nghề văn càng trở thành một sự tự ràng buộc. Nguyễn Thành Long là một trong những người chấp nhận sự ràng buộc đó vừa tự nguyện vừa thích thú.
 chỗ này, tôi nhớ một chi tiết có ý nghĩa đối chiếu:
Để phác hoạ lại sinh hoạt văn chương nước mình hồi đầu thế kỷ, nhà văn Nguyễn Công Hoan từng viết Đời viết văn của tôi. Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Công Hoan rất đồ sộ, trong các truyện ngắn truyện dài của ông, các nhà phê bình đã tìm được nhiều điều có ý nghĩa. Vậy mà ngay từ khi đang viết khoẻ cũng như về cuối đời khi nhìn lại quá trình viết của mình, Nguyễn Công Hoan vẫn không khỏi ngả sang một cách nói bông đùa. Ông viết: “Làng văn, từ xưa đến giờ, quả là cái chợ”. Khi đọc đến chỗ này, Nguyễn Thành Long không bằng lòng. Trong cuốn Đời viết văn của tôi (bản của Thư viện Hội Nhà văn Việt Nam) bên cạnh câu văn trên của Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Thành Long ghi bằng mực đỏ hai chữ “nói bậy”.
Xét trong quan hệ hàng ngày, giữa hai người không có chuyện gì. Trong khi kể lại những kỷ niệm về đời văn của mình với Hà Nội, Nguyễn Thành Long thường vẫn nhắc nhở đến sự giúp đỡ của Nguyễn Công Hoan. Trước 1975, gia đình cụ Hoan ở Hàng Bông Nhuộm, nhà Nguyễn Thành Long ở Dã Tượng, hai nhà rất gần nhau. Thường khi, nếu tối hôm trước, đài phát thanh có đọc bài nào của Nguyễn Thành Long, thì hôm sau, Nguyễn Công Hoan đi đâu vẫn rẽ vào nhà Nguyễn Thành Long chơi, để nêu một vài nhận xét thân tình.
Thế nhưng, đứng về quan niệm nghề văn, những ý nghĩ bông đùa của Nguyễn Công Hoan là điều mà Nguyễn Thành Long hoàn toàn không thể chia sẻ.
Sự nghiêm trang của Nguyễn Thành Long cũng như sự bông đùa ở Nguyễn Công Hoan có lẽ là hai phía có thật, cùng có ở nghề văn, cùng có ở cuộc đời này nói chung. Những nhà văn lớn trên thế giới, thường cùng lúc, cảm thấy cả hai phương diện ấy của cùng một đối tượng. Nhà văn Pháp Simone de Beauvoir có lần bảo: “Thật là buồn khi nghĩ rằng nghề văn có lắm ý nghĩa đến thế, trong khi nó chỉ có thế”. Một nhà văn khác: “Kiếp nhân sinh nghiêm chỉnh một cách rầu rĩ”. Một nhà văn khác nữa: “Cuộc đời là một tấn hài kịch, nhưng đó là cái trò hài khiến người ta cười ra nước mắt”. Nguyễn Công Hoan và Nguyễn Thành Long thì khác, mỗi người sống với một phía của cái chân lý hai mặt nói trên, và đẩy nó đến cùng. Về trường hợp Nguyễn Công Hoan, đấy là câu chuyện chúng ta sẽ bàn trong một dịp khác. Còn về Nguyễn Thành Long, thì có thể nói ngay rằng không phải là anh lên gân lên cốt gì cả, mà tự anh đã nghĩ thế. Một trong những nhà văn chơi thân với Nguyễn Thành Long là Huy Phương có lần nói đùa với tôi: “Ông Long là cái loại nhà văn khi viết toàn ngước nhìn lên các ngọn cây” - theo tôi hiểu, ở đây Huy Phương muốn nói đến một thứ tâm thế học trò ở ngòi bút nhiều người đương thời, trong đó có Nguyễn Thành Long và ở một dạng nào đó, ở chính Huy Phương nữa. Cái chất thư sinh sẵn có ban đầu trong ta không mất đi với thời gian, mà thật kỳ lạ (hay thật khốn khổ?), nó cứ theo ta trong suốt cuộc đời cầm bút. Và rút cục cái yếu tố dẫn người ta đến với nghề đôi khi lại là yếu tố giữ người ta lại, không sao bay lên được!
  

 V

Theo như chính Nguyễn Thành Long từng kể, thì trước 1945 tức hồi còn học tú tài ở Hà Nội, anh đã có bài viết, in trên Thanh nghị là một tờ báo tập hợp được nhiều trí thức có uy tín thời ấy. Con đường đi của người trí thức trong lòng xã hội thuộc địa, từng là vấn đề day dứt lòng anh, và trở thành chủ đề của một vài cuốn sách - chắc chắn là còn non nớt và còn chưa kịp xuất bản - của anh bấy giờ. Vấn đề trí thức cũng sẽ ám ảnh Nguyễn Thành Long trong suốt cuộc kháng chiến: một mặt lăn lộn với công nông không bỏ qua một chuyến đi thực tế nào đó Chi hội văn nghệ Khu Năm bấy giờ tổ chức; mặt khác, luôn luôn anh sục sạo săn tìm sách vở để xem người khác đã làm văn nghệ như thế nào, và bản thân mình nên làm theo cách nào. Trong hoàn cảnh của Khu Năm xa xôi, các anh vẫn tìm đọc từ Người mẹ, Suối thép, Người Xô viết chúng tôi cho tới cả Sự hồi sinh của nền văn hoá Pháp của Garaudy. Đúng theo cách làm của kháng chiến, sau khi đọc xong một số tác phẩm anh đã tóm tắt lại để người khác cùng đọc. Bởi vậy, trong danh mục sách của Nguyễn Thành Long đã in ở Khu Năm, mới có cuốn Kể lại một số tiểu thuyết Xô viết. Và về sau, khi làm báo Văn học, Nguyễn Thành Long còn viết nhiều bài về văn học nước ngoài, ký tên Phan Minh Thảo, cũng như nhặt ra kinh nghiệm viết văn của nhiều người in rải rác, rồi sau tập hợp thành cuốn sách nhỏ, mang tên Sổ tay viết văn ký tên Lưu Quỳnh.
Có lẽ những chi tiết này càng cắt nghĩa rõ thêm về sự hấp dẫn của Nguyễn Thành Long đối với một số anh em viết trẻ những năm đầu chống Mỹ mà trên kia tôi vừa nhắc tới. Trong căn phòng chật hẹp của Nguyễn Thành Long lúc ấy, thỉnh thoảng đến chơi, tôi thường gặp Chính Yên, Huy Phương, Trần Đĩnh, về sau là Ngô Quân Miện và một vài người khác. Ngoài những mảnh vụn thời sự trong nước quốc tế, cùng những “chuyện làng chuyện xóm” lặt vặt vơ vẩn xảy ra hàng ngày trong giới cầm bút, tôi thấy đặc biệt ở nhóm bạn của Nguyễn Thành Long có một loại chuyện khác. Những cuốn sách tiếng Pháp (thường là loại sách bỏ túi) mà Hội Nhà văn được biếu, các số Lettre Francaise, Europe, Lettres Sovietique, Revue Roumanie... về đều đều được các anh truyền tay, kèm theo những nhận xét như của người trong cuộc:
- Thế mới biết đảng Pháp họ quý một nhà văn ngoài đảng như thế nào. Elsa Triolet chết mà Lhumanité viền đen cả mấy số liền.
- Bản dịch Con người năm tháng cuộc đời của Ehrenburg vừa được nhà Gallimard cho in. Khối chuyện được xới ra, bây giờ mọi người mới thấy có lý. Về già mà Ehrenburg còn bợm thật. Người ta bảo đọc xong cuốn hồi ký này, tự nhiên không ai muốn giở lại tiểu thuyết của ông ta nữa.
- Cái tay Kataev cũng lạ. Hồi ký gì mà như đánh đố, vừa thật vừa giả. Nhưng mà một cuộc đời như thế thì phong phú thật. Hình như Elsa Triolet có nói ở đâu đó rằng vì Kataev mà Maiakovski tự tử đấy.
- Chỉ là giọt nước cuối cùng thôi.
- Nói xuôi nói ngược gì cũng cần sự thật. Chính tôi thích hơn cả, lại là cách viết trần trụi của Malaparte. La Peau mới thật là khinh bạc cay đắng mà lại quý phái chứ.
... Giờ đây, hơn hai chục năm đã qua đi, tôi cũng nhớ không thật rõ tất cả những chuyện lặt vặt nói trên, tôi nghe từ miệng ai nói ra và nội dung có đúng là thế không. Nhưng cái này, thì xin bảo đảm chắc chắn: không khí bạn bè ở chỗ Nguyễn Thành Long, là một không khí trí thức. Các anh vừa sống, vừa viết, vừa quan tâm tới một đời sống văn hoá khác, mà các anh yêu mến và sống hết lòng. Lúc đang say chuyện thỉnh thoảng các anh chêm vào một vài câu tiếng Pháp. Tôi không hiểu được những câu nói ấy, nhưng nhìn nét mặt của các anh, biết rằng phải làm thế, người nói mới diễn tả được hết ý nghĩ của mình, và nỗi sung sướng đang đến trong lòng mình. Từ câu chuyện nghe lỏm được qua miệng những Chính Yên, Trần Đĩnh, Huy Phương, Nguyễn Thành Long, tôi bỗng cảm thấy cái đời sống văn học mình đang có phần can dự, như được kéo dài ra, nối mãi vào cả cái khu vực bao la huyền diệu, là toàn bộ đời sống văn học thế giới hiện đại. Đôi lúc, có cảm tưởng rằng những quyển sách mà tôi chỉ ngắm nhìn, những tác giả mà tôi chỉ nghe tên cũng như đang sống đâu đây, họ cùng gợi nên những vui buồn yêu ghét trong lòng tôi, như những Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Khải, Tô Hoài... mà tôi hằng gặp.
Cũng phải nói thêm rằng, bên cạnh Nguyễn Thành Long viết truyện ngắn, Nguyễn Thành Long làm báo và làm xuất bản, trong tôi còn một Nguyễn Thành Long dịch giả, đúng hơn là một Nguyễn Thành Long tiếp cận những tìm tòi mới trong văn xuôi hiện đại. ý tôi muốn nói tới cuốn Roméo Juliet và bóng tối của nhà văn Tiệp Khắc Jan Otchenasek do anh dịch ra tiếng Việt. Đấy là một thể nghiệm nhằm sử dụng những tìm tòi của các bậc thầy văn xuôi hiện đại như M. Proust, James Joyce vào việc biểu hiện những nội dung hiện thực và cách mạng. Không nghi ngờ gì nữa, đó cũng là điều băn khoăn thường xuyên của Nguyễn Thành Long. Nhiều anh em trong nghề biết rằng một vài thủ pháp kỹ thuật mới của văn xuôi đã được áp dụng dè dặt trong các truyện ngắn loại như Con trai con gái cụ Hồ (in lại ở Giữa trong xanh). Trong đời sống văn học ở Hà Nội từ 1975 về trước, những tìm tòi loại đó âm thầm bé nhỏ, không đáng kể gì hết. Song, với típ người cầm bút như Nguyễn Thành Long thì nó là cả một nhu cầu nội tại, kể cả nhiều khi biết rằng đeo đẳng chỉ thêm phiền, người ta vẫn không từ bỏ nổi!
  

 VI 

 Tai hoạ như trẻ con trên mặt đất
Người ta rồi ai cũng có thôi
Anh nói điều ấy thật thản nhiên
Mắt đăm đắm nhìn chiều xuống
Mấy câu thơ ấy là do Bằng Việt dịch của Eluard. Không hiểu sao chúng cứ trở đi trở lại trong đầu óc tôi, mỗi khi nghĩ đến những người căn bản là lành, căn bản là tốt, mà thỉnh thoảng lại cứ gặp phải những tai nạn nghề nghiệp nho nhỏ, như Nguyễn Thành Long. Hình như nghề này quá khó và những người vụng về thì quá nhiều, cho nên đành tự an ủi là “rồi ai cũng có thôi”, vật vã thắc mắc phân tích rạch ròi làm chi cho mệt!
Khoảng 1956, 57, sau khi cho in những bút ký có được tiếng vang nào đó hồi ấy, như Hướng Điền, như Gió bấc gió nồm, tự nhiên Nguyễn Thành Long lại mắc vào vụ Một trò chơi nguy hiểm. Những năm đầu chống Mỹ, bên cạnh Tờ hoa, Tình rừng của Nguyễn Tuân, Cái gốc của anh cũng trở thành một đối tượng để phê phán. Khi những vụ việc này xảy ra, tôi còn quá nhỏ (vụ trước) hoặc quá non nớt trong nghề (vụ sau), nên không thật rõ mọi chuyện ra sao. Tuy nhiên những năm có dịp gần Nguyễn Thành Long về sau tôi cứ có cảm tưởng những chuyện tưởng như đã qua ấy vẫn còn vướng vất trong anh. Anh trở nên thận trọng giữ gìn hơn trong suy nghĩ, khép nép hơn trong quan hệ với mọi người. Lại có lúc anh sinh ra hay ngờ vực và dễ hùa theo chung quanh trong cách đánh giá, dù là một cách hùa theo kín đáo. Thậm chí tôi cảm thấy ở Nguyễn Thành Long còn nảy sinh nỗi nghi ngờ chính mình. Đã có một con người khác xuất hiện để theo dõi và kiểm tra con người hàng ngày của anh, khiến anh trở nên có chút gì như là nghiệt ngã nữa. Có điều, dù phức tạp đến đâu, thì tất cả những chuyện ấy chỉ là chuyện nổi lên trên bề mặt. Ở phần sâu sắc của tâm hồn, có thể nhận ra một Nguyễn Thành Long giản dị hơn. Anh hơi ngơ ngác, không hiểu sao mọi việc lại diễn ra như thế! Nhất là anh cảm thấy đơn độc vô hạn. Mang tâm thế “kinh cung chi điểu”, có những vụ việc do người khác gây ra tội vạ đổ lên đầu ai ai kia, song chính anh cứ vận vào mình, cứ ngấm ngầm đau đớn xót xa hộ. Và cứ mang máng cảm thấy rồi lại “cháy thành vạ lây” không biết chừng! Mặc cảm chăng? Nhạy cảm quá chăng? Nói thế nào cũng được, chỉ biết là những lúc ấy, không nên hỏi Nguyễn Thành Long mà nên để anh một mình với mình. Từ nhà riêng bên phố Dã Tượng, sang cơ quan của Hội bên đường Nguyễn Du, Nguyễn Thành Long thường đi bộ qua một quãng vắng đường Trần Bình Trọng, phía cạnh cung Văn hoá Việt-Xô. Mùa hè một áo sơ mi cộc tay, mùa đông một cái áo bông tầu cũ kỹ - sau là một cái áo vỏ ngoài bằng ni lông màu tím than - Nguyễn Thành Long gần như một mình trên đường, đầu cúi xuống, bước thật chậm như chìm đắm vào những suy tưởng riêng tư. Thường nhìn thấy anh trên đoạn đường ấy, đang đi xe đạp, tôi vội phóng qua thật nhanh, không phải chỉ vì không muốn phá đi dòng suy tưởng của anh, mà là một tình cảm lẫn lộn, vừa sợ hãi vừa kính phục chợt đến với tôi – sợ vì thấy cái nghề của mình nặng nề quá, và kính phục vì trong nghề đã có những ngòi bút như Nguyễn Thành Long những người đang căng đôi vai ra để chịu đựng, và vẫn hăm hở đi tiếp. Hoá ra, trước mắt tôi, vẫn là một nhà văn do tâm huyết mà thành đau khổ. Lại nhớ một câu của Ehrenburg khi nói về mình (đại ý): “Bề ngoài, tôi trông u ám, nhưng bên trong, thật ra là một người nông nổi, nhẹ dạ”. Trong số những người rất khớp với mẫu hình kiểu ấy, ắt hẳn có Nguyễn Thành Long!
  

 VII

Thông thường, tôi không thuộc diện được Nguyễn Thành Long tặng sách khi có sách mới in. Nhưng đến cuối 1985, cùng lúc anh cho tôi hai cuốn Giữa trong xanh  Sớm mai nào xế chiều nào. Cuốn thứ hai tôi không để ý lắm vì là sách mới viết. Nhưng cuốn thứ nhất thì khác: đây là một tập hợp những thành quả tự Nguyễn Thành Long coi là đắc ý nhất trong đời viết của mình, một thứ tuyển tập “bốn mươi năm”, như anh lưu ý trong lời đề tặng tôi. Qua trao đổi chuyện trò, tuy tác giả không nói ra trực tiếp, nhưng dễ dàng đọc được cái ý anh muốn tôi viết về nó. Tôi chấp nhận sự thách thức này, mặc dù biết đó là một việc khó.
Ít lâu sau, tôi mang tới Nguyễn Thành Long một bài viết, ở đó bên cạnh những lời ca ngợi tài năng nghị lực của anh trong việc thực hiện những yêu cầu cách mạng đặt ra đối với văn học, không quên lưu ý nhiều khi ngòi bút Nguyễn Thành Long gò gẫm thiếu tự nhiên. Thậm chí ở một đoạn tôi còn viết: “Mặc dù mở rộng lòng đón lấy mọi diễn biến của đời sống, song rút cuộc tác giả vẫn không tránh khỏi trở đi trở lại với những ý tưởng đã thành khuôn khổ, và sự chăm chú đều đều tới công việc lại dẫn tới một tình trạng đơn điệu”. Tháng 8-1986, khi bài báo được in ra trên một số báo Văn nghệ, đọc lại cả bài, tôi không khỏi băn khoăn tự hỏi không biết với một cuốn sách mang tính cách tuyển tập, mình viết vậy, có làm anh Long buồn không. Nhưng tôi vẫn nhớ là lúc cầm bản viết tay của tôi, tác giả Giữa trong xanh có một thái độ khá bình thản. Anh chỉ bảo sau cái ý “trở đi trở lại với những ý tưởng đã thành khuôn khổnên thêm vào một ý nhỏ, “dù là khuôn khổ của anh”. Chỉ có thế! Chúng tôi chia tay nhau lặng lẽ, mỗi người không khỏi có chút tiếc xót rằng đáng lẽ có thể làm cho người kia vui hơn, mà không làm được.
Vốn đã âm thầm buồn bã, cuộc đời riêng của Nguyễn Thành Long từ sau 1986, nghĩa là từ sau khi anh về hưu, lại càng quạnh hiu, trống trải. Về sau cháu Hồng, con gái thứ hai của anh có kể lại, mấy năm ấy anh buồn lắm vì Sớm mai nào xế chiều nào là quyển anh viết kỹ và rất hy vọng là có dư luận, song, vẫn rơi vào im lặng, nên anh không muốn viết truyện nữa. Nghe nói Nguyễn Thành Long loay hoay làm ít trang hồi ký hoặc xoay vào việc gì nữa, nhưng đều dang dở. Một cuộc đời vất vả như thế, hậm hụi như thế, nhận thức lại được, viết lại được cho thanh thoát đâu có phải dễ! Nhà văn ý Moravia từng đặt cho một tập truyện ngắn của mình cái tựa Một cuộc đời khác, ý muốn nói là thường mỗi chúng ta đều luôn luôn bị ám ảnh bởi cái ý nghĩ lẽ ra, chúng ta phải sống khác mà sao không thể sống nổi. Tôi nhớ là khi nghe tôi nói điều ấy, Nguyễn Thành Long có một thoáng như hơi sững ra! Đang cầm chén nước, cánh tay gày guộc với lớp da rất nhiều vết mồi của anh chợt run run thêm, cặp mắt sáng lên phút chốc, nhưng rồi lại cụp xuống tăm tối. Một niềm thất vọng nào đó đang dâng lên trong anh? Hay một sự nuối tiếc? Hay một nỗi xót xa, xót cho mình là không làm được hết những điều muốn làm, nói chung là bây giờ đã muộn rồi, không thể có một cuộc đời khác? Tôi không rõ cảm giác nào là chính. Nhưng tôi nghĩ rằng trong những ngày cuối đời Nguyễn Thành Long đã sống với tất cả những cảm giác đó.
Bởi vậy, ít lâu sau trên báo Lao động tôi mạnh dạn nói rõ thêm:
“Trong cuộc đời này thiếu chi người mong thành nhà văn mà không thành. May mắn hơn họ – hay là rủi ro hơn họ, nói thế cho công bằng – có một số người suốt đời ăn chịu với nghề, sống là nhà văn và chết với tư cách nhà văn. Nhưng có bao giờ một ngòi bút chân chính thực sự yên lòng với mình? Ngoài những trang đã viết ra, cái di chúc lớn khác mà một nhà văn chân chính để lại thường là nỗi khắc khoải vì biết rằng còn bao công việc đáng lẽ phải làm, nhất là đáng lẽ mình phải viết khác kia mà tự khác đi làm sao nổi. Nguyễn Thành Long là một nhà văn chân chính với nghĩa ấy”.
y là những dòng tôi viết, để vĩnh biệt anh.
Không biết có chủ quan không, nhưng tôi nghĩ lần này, tôi đã nói hộ được một phần ý nghĩ của chính Nguyễn Thành Long.

Bài đã in trong Cây bút đời người 2002

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cách làm tạp chí trong nước 'hạn chế công bố quốc tế '


Cách thức và quy trình làm việc ở các tạp chí lâu nay của Việt Nam là một trong những nguyên nhân hạn chế việc xuất hiện các nghiên cứu trong nước trên các tạp chí học thuật quốc tế.
Các thảo luận trước nêu các vấn đề lớn như môi trường làm việc chưa phù hợp, kinh phí cho nghiên cứu hạn hẹp và ít khả năng tiếp cận các nghiên cứu ngoài nước, khiến các nhà nghiên cứu trong nước có ít bài đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế.
Tuy thế, theo anh Hoàng Văn Chung, nghiên cứu sinh ngành Nhân học, Trường Đại học La Trobe, Melbourne, Australia, một nguyên nhân đáng chú ý nữa hạn chế việc xuất hiện của các nhà nghiên cứu trong nước trên các tạp chí khoa học thế giới là do cách thức và quy trình làm việc tại các tạp chí phổ biến lâu nay trong nước.
Những thông tin dưới đây dựa vào kinh nghiệm của anh từng làm việc cho một tạp chí khoa học trong nước nhiều năm và bản thân vừa có bài đăng tạp chí khoa học quốc tế.
Chuyện ở ta
Đối với các tạp chí khoa học trong nước, đặc biệt lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, cho đến giờ quy trình phổ biến để một bài báo - đồng nghĩa với một công trình nghiên cứu khoa học - được đăng, vẫn là như sau: Trước tiên tác giả gửi bài đến tạp chí, chủ yếu dưới dạng file hoặc bản in từ máy tính thông qua bưu điện hoặc trực tiếp tác giả tới tòa soạn. Sau đó Ban biên tập sẽ xử lý các phần việc như đọc tổng duyệt để quyết định đăng được hay không, giao cho biên tập viên xử lý nội dung, hiệu đính thông tin và tài liệu trích dẫn, cuối cùng đọc duyệt lần cuối trước khi giao cán bộ kỹ thuật chỉnh sửa hình thức và tiến hành in.
Mặc dù các tạp chí đều có Hội đồng biên tập hoặc Hội đồng tư vấn khoa học, nhưng họ thường một năm chỉ gặp mặt một lần vào dịp họp cộng tác viên. Về phía tác giả, ngoài việc gửi bài đến tạp chí thì hầu như không tham gia và cũng không quan tâm hay can thiệp gì vào các khâu còn lại. Sau khi bài đăng, tác giả được trả nhuận bút và một cuốn tạp chí biếu. Cả thời gian gửi và đăng nhanh có thể là một tháng, lâu là một năm. Như thế, tính từ khi gửi bài đi, trách nhiệm của người viết gần như chấm dứt, phần việc còn lại là của ban biên tập.
Hơn nữa, đôi khi tạp chí còn đặt tác giả viết bài chuyên biệt về nội dung cụ thể liên quan đến số báo đó. Trong trường hợp đó, việc quan trọng cần tác giả viết bài để có đủ bài đăng. Cách làm phổ biến này có lẽ chỉ còn độc nhất ở Việt Nam, về cơ bản giống với cách làm của các tạp chí giải trí (magazine) chứ không giống cách làm của các tạp chí học thuật quốc tế uy tín (journal) áp dụng.
Nhiều tạp chí khoa học trong nước, đặc biệt lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn vài năm qua nâng từ 3 tháng/1 số lên 1 tháng/1 số. Về mặt số lượng bài báo được đăng tải rất ấn tượng, đáng để các tạp chí học thuật quốc tế "ghen tị". Nhưng chất lượng còn nhiều điều phải bàn.
Kinh nghiệm của tôi là biên tập viên tạp chí cho thấy rất nhiều trường hợp khi gửi bài tác giả không quan tâm đến việc có tuân theo văn phong, kiểu phông chữ, cách trích dẫn theo quy định đặc thù của tạp chí mình hướng đến hay không. Bên cạnh đó, quá nhiều bài báo trích dẫn rất ít các nguồn tài liệu, nếu trích dẫn cũng chưa phải là các nguồn tài liệu uy tín và chất lượng nhất.
Tư duy của các bài báo như thế vẫn chủ yếu bám vào mô hình quen thuộc của thực trạng và giải pháp, hoặc là minh họa cho tính đúng đắn của chủ trương, chính sách mà ít mang tính phê phán, phản biện (ở đây tôi muốn nói đến phê phán với nghĩa là động lực cho phát triển). Khá nhiều bài yếu về logic khoa học, kém về khả năng khái quát thực tế, đặc biệt ít có tham khảo tới các nguồn tài liệu nước ngoài, ít bài viết nổi bật lên với cách tiếp cận mới, cách lí luận mới, và những khái quát sâu sắc. Nhưng chúng vẫn được chỉnh sửa và đăng vì nhiều lý do khác nhau. Tất cả dẫn đến kết quả không tốt như một học giả nước ngoài từng nhận xét là đọc công trình của tác giả Việt Nam rất khó trích dẫn.
Chuyện ở xứ người
Đối với tạp chí học thuật quốc tế, việc gửi đăng một công trình khoa học có quy trình thường thấy như sau: Trước tiên tác giả tìm hiểu kỹ thứ hạng và uy tín học thuật của tạp chí, văn phong và các yêu cầu cụ thể về trích dẫn hay số lượng chữ. Sau khi công trình gửi tới thông qua hệ thống website của tạp chí, ban biên tập sẽ đọc duyệt nhanh để trả lời là công trình được đăng tải hay không. Một công trình gây sự chú ý phải là các ý tưởng hay phát hiện mới kèm theo nền tảng lý thuyết vững chắc.
Nếu có khả năng đăng tải, công trình sẽ được gửi tới ít nhất là 3 peer reviewers (là những người đọc phản biện vốn có kiến thức vừa sâu vừa rộng, gần với chủ đề của công trình). Nếu 2 trong 3 người phản biện đồng ý bài đăng, ban biên tập sẽ liên hệ với tác giả đề nghị chỉnh sửa, bổ sung hay làm rõ những điều người đọc phản biện chuyên sâu trong báo cáo gửi ban biên tập. Nếu tác giả đồng ý phần lớn các đề nghị đó, bài viết sẽ được đọc và biên tập bởi biên tập viên của tạp chí rất kỹ lưỡng. Phản hồi của biên tập viên cũng sẽ được gửi cho tác giả. Trong trường hợp tác giả chỉnh sửa quá nhiều sau lần góp ý đầu tiên, ban biên tập sẽ gửi đi phản biện thêm một vòng nữa.
Cho tới nay, mô hình phổ biến nhất là các tạp chí sử dụng người đọc phản biện là các tình nguyện viên, tức là không trả một đồng lương nào cho họ. Do đó, thời gian 6 tháng hoặc 1 năm, tạp chí mới nhận phản hồi từ họ. Điều này khiến một công trình khoa học từ lúc gửi tạp chí đến lúc đăng mất khoảng 2 hoặc 3 năm là chuyện không hề hiếm, bài vừa gửi mà đăng ngay là chuyện khó.
Trong quá trình bài báo chỉnh sửa theo ý của ban biên tập và các người đọc phản biện, tác giả phải làm việc rất nhiều. Việc giao tiếp giữa tác giả và ban biên tập cũng diễn ra khá thường xuyên. Bản thân tác giả sẽ được lợi vì công trình nhận được góp ý và giám sát bởi nhiều bộ não khác nhau và từ các góc độ chuyên môn khác nhau. Từ góc độ này, tác giả là người cần tạp chí hơn là tạp chí cần tác giả. Khi tạp chí đăng bài không hề có nhuận bút cho tác giả. Uy tín của tạp chí học thuật thường dựa vào thứ hạng nó có được và việc đo thứ hạng đó dựa nhiều vào tần suất các công trình đăng tải được trích dẫn trên phạm vi quốc tế.
Tôi cho rằng cơ chế và quy trình làm việc khác nhau cũng hạn chế việc các tác giả công trình khoa học trong nước có bài đăng trên các tạp chí học thuật quốc tế. Để tạo điều kiện cho tác giả trong nước góp thêm nhiều tiếng nói ở môi trường học thuật quốc tế, theo tôi cần nhanh chóng thay đổi thói quen và cách thức làm việc lâu nay của các tạp chí khoa học trong nước, cũng như nỗ lực áp dụng các tiêu chuẩn làm tạp chí học thuật phổ biến ở mức độ quốc tế. Nguyên tắc làm khoa học ở đâu cũng thế, chỉ khi nào đứng cùng một nền tảng kiến thức và ngôn ngữ, cùng một cách thức làm việc, thì mới có thể cùng tham gia vào thảo luận.
Hoàng Văn Chung
Mời các nhà khoa học chia sẻ kinh nghiệm đăng trên tạp chí quốc tế trong diễn đàn "Tại sao nhà khoa học làm việc trong nước lại ít có công trình nghiên cứu đăng trên tạp chí nước ngoài", bằng cách dùng box "Ý kiến của bạn" hoặc gửi thư tới Khoahoc@vnexpress.net

http://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/cach-lam-tap-chi-trong-nuoc-han-che-cong-bo-quoc-te-2410074.html


CỤC NTBD KHÔNG CẤP PHÉP HÁT BÀI "NỐI VÒNG TAY LỚN"


Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1939 - 2001).

Cục Nghệ thuật Biểu diễn: 
'Bài Nối vòng tay lớn chưa được cấp phép'

VNE
Thứ ba, 11/4/2017 | 14:14 GMT+7 

Cục cho biết nhiều ca khúc Trịnh Công Sơn không nằm trong danh mục phổ biến bởi chưa có cá nhân, tổ chức nào xin phép. 

Năm ca khúc trước 1975 bị dừng lưu hành 
Dị bản của năm ca khúc trước 1975 bị cấm lưu hành vĩnh viễn 

Chương trình "Nối vòng tay lớn" vào ngày 21/4 do Đại học Y dược Huế kết hợp gia đình nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tổ chức gặp khó khăn do có bốn ca khúc không nằm trong danh mục bài hát trước 1975 được Cục Nghệ thuật Biểu diễn cấp phép phổ biến. Các ca khúc này gồm Nối vòng tay lớn, Huế - Sài Gòn - Hà Nội, Ca dao mẹ và Đêm thấy ta là thác đổ.

Ông Nguyễn Đăng Chương - Cục trưởng Cục Nghệ thuật Biểu diễn (viết tắt Cục NTBD) - giải thích: "Theo Nghị định của Chính phủ về phổ biến các sáng tác trước năm 1975, các đơn vị tổ chức, cá nhân muốn biểu diễn những tác phẩm này phải tự hoàn thiện hồ sơ gửi lên Cục. Hồ sơ bao gồm nhiều giấy tờ như đơn đề nghị cấp phép, bản ghi âm nội dung tác phẩm và chứng nhận của tác giả chủ sở hữu tác phẩm hoặc tổ chức đại diện quyền tác giả".

* Nghệ sĩ hát "Nối vòng tay lớn" trong đêm nhạc nhớ Trịnh Công Sơn

Theo ông Chương: "Dù bài hát Nối vòng tay lớn phổ biến và được sử dụng trong nhiều buổi hội họp, chương trình văn nghệ, thực chất mọi người hát đều chưa xin phép".

Hiện đại diện Cục cho biết đã nhận được hồ sơ xin cấp phép ca khúc Nối vòng tay lớn của Đại học Y dược Huế. Đây là đơn vị đầu thực hiện thủ tục trên với ca khúc này. Tuy nhiên, hồ sơ thiếu chứng nhận của tác giả chủ sở hữu tác phẩm hoặc tổ chức đại diện quyền tác giả. Phía ban tổ chức đang hoàn thiện giấy tờ. 

Ông Chương đánh giá Nối vòng tay lớn là tác phẩm "có nội dung tốt". Phía Cục sẽ nhanh chóng cấp phép khi đơn vị tổ chức hoàn thiện đầy đủ thủ tục pháp lý. Đại học Y dược Huế chỉ kịp làm hồ sơ xin cấp phép ca khúc Nối vòng tay lớn. Ba bài hát còn lại buộc phải loại khỏi chương trình.
cuc-nghe-thuat-bieu-dien-bai-noi-vong-tay-lon-chua-duoc-cap-phep
"Nối vòng tay lớn" là ca khúc quen thuộc với nhiều thế hệ. Năm 2013, Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã xác lập kỷ lục "Đêm nhạc Trịnh có nhiều người đồng thanh hát bài "Nối vòng tay lớn" trong chương trình tổ chức ở TP HCM.

Ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh, em gái cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho biết gia đình rất ngạc nhiên trước việc ban tổ chức đêm nhạc ở Huế phải xin giấy phép. Theo bà, những ca khúc như Nối vòng tay lớn, Huế - Sài Gòn - Hà Nội, Ca dao mẹ, Đêm thấy ta là thác đổ.... đã quá quen thuộc với khán giả. Hàng chục năm qua, các ca khúc này liên tục được vang lên trong các đêm nhạc cộng đồng, các chương trình âm nhạc lớn nhỏ cũng như trong các sản phẩm âm nhạc chuyên nghiệp.

* Mỹ Tâm hát "Đêm thấy ta là thác đổ"

Gia đình Trịnh Công Sơn cho biết họ không có ý định tự đứng ra xin phép cho các nhạc phẩm của ông bởi đây là những nhạc phẩm đã quá phổ biến. "Chúng tôi không hiểu vì sao những ca khúc này còn bị đặt vấn đề giấy phép biểu diễn. Chúng đã được biểu diễn hàng trăm lần rồi. Mỗi lần tổ chức chương trình, chúng tôi đều xin phép từ cơ quan chức năng của địa phương", bà Trinh cho biết.

Mới đây, trong đêm nhạc Nhớ Trịnh Công Sơn diễn ra ở Đường sách Nguyễn Văn Bình, TP HCM, các ca khúc trên cũng đã được biểu diễn với sự cho phép của Sở Văn hóa và Thể thao thành phố. "Gia đình chúng tôi đều nghĩ rằng những ca khúc này đã được cấp phép từ Cục rồi, trên cơ sở đó mới có giấy phép của địa phương", bà Trinh chia sẻ. 
Nhiều bài hát khác của Trịnh Công Sơn vẫn chưa có trong danh mục được phổ biến. Ông Nguyễn Đăng Chương cho biết Cục rất muốn sớm cấp phép cho các tác phẩm còn lại trong gia tài âm nhạc của Trịnh Công Sơn. Tuy nhiên, điều này phụ thuộc vào các cá nhân, đơn vị tổ chức biểu diễn. Họ phải tự chủ động làm hồ sơ gửi lên Cục, từ đó, phía Cục mới có cơ sở thẩm định, phê duyệt. Theo ông Chương, Cục Nghệ thuật Biểu diễn là đơn vị quản lý cấp nhà nước, không thể đại diện cho các cá nhân. "Nếu tự ý cấp phép bài hát, Cục sẽ vi phạm quyền tác giả", ông nói.

Trước tình trạng nhiều ca khúc nhạc Trịnh buộc phải xin phép mới được biểu diễn, nhà sử học Dương Trung Quốc nhận xét cơ chế xin - cho bài hát phản ánh thói quen xấu và tư duy cũ kỹ của các cơ quan quản lý nhà nước. "Đất nước ta có đội ngũ hùng hậu gồm nhiều nhà nghiên cứu, phê bình âm nhạc, giảng viên các trường nghệ thuật. Chúng ta dư sức thẩm định di sản âm nhạc trước 1975. Người dân có quyền hát tất cả ca khúc không bị cấm thay vì xin xỏ từng bài một", ông Dương Trung Quốc khẳng định. 

Vĩ Thanh - Tam Kỳ
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ai "đỡ đầu" để dự án KĐT quốc tế Đa Phước "nghênh ngang" sai phạm?



>> Vụ trộm cát “khủng” ở Cửa Đại (Hội An): Vì sao không khởi tố?
>> Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới: Sơn Trà có hệ sinh thái độc nhất vô nhị
>> Lãnh đạo Thanh tra Chính phủ nói về việc “rò” bản kê tài sản của Chủ tịch Đà Nẵng


DƯƠNG HẰNG NGA





















Tạp chí GTVT - Thời gian qua, dư luận Đà Nẵng đang "nhức nhối" sự việc phát hiện dự án Khu đô thị Đa Phước thi công hút cát dưới biển Cửa Đại (Hội An) vận chuyển về để xây dựng. Điều này có nghĩa công trình này đã và đang sử dụng tài nguyên khoáng sản trái phép.

"Ăn cướp" công khai giữa ban ngày

Dự án Khu đô thị quốc tế Đa Phước (còn có tên khác Khu đô thị The Sunrise Bay Đà Nẵng) do ông Phan Văn Anh Vũ là người đại điện theo pháp luật với chức danh Chủ tịch Hội đồng thành viên. Dự án được thổi phồng loè thiên hạ rằng xây dựng lấn biển lớn nhất đẹp nhất, chưa từng có ở  Việt Nam đang được đầu tư xây dựng tại phường Thuận Phước, phường Thanh Bình, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng; có tổng mức đầu tư giai đoạn 1 là 4.465.808.000.000 (bốn nghìn bốn trăm sáu mươi lăm tỷ tám trăm lẻ tám triệu đồng).

Sau khi bị nhân dân và dư luận 2 tỉnh thành Quảng Nam- Đà Nẵng chỉ trích gay gắt; ngày 4/4, tại cuộc họp báo do Văn phòng UBND tỉnh Quảng Nam và lãnh đạo Phòng PC49 Công an Quảng Nam chủ trì, đã khẳng định có 5 tàu trộm 4.394 m3 cát từ Cửa Đại đưa ra Đà Nẵng đổ vào công trình lấn biển Khu đô thị quốc tế Đa Phước (do Công ty CP Trung Nam thi công).  Các tàu đó là NĐ 3168, NĐ 3169, NĐ 2926, HP 4288, HP 2872, đều thuộc Công ty TNHH Thành Đô (tại Đà Nẵng) - đơn vị ký hợp đồng hút và bơm cát chống sạt lở Cửa Đại với dự án của BQL Đầu tư xây dựng Hội An. Tại thời điểm đó, các tàu này do ông Nguyễn Hữu Thạch (SN 1986, trú 273 Tôn Đức Thắng, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, Đà Nẵng) - là người của Công ty Thành Đô chịu trách nhiệm điều hành việc hút cát.

Hình thức xử lý được Phòng PC49 Công an tỉnh Quảng Nam đưa ra là sẽ truy thu bằng tiền theo giá trị thị trường đối với khối lượng cát múc trộm trên. Tuy nhiên, khẳng định của lãnh đạo Phòng Cảnh sát môi trường Quảng Nam cho rằng vi phạm trong vụ trộm cát “khủng” ở Cửa Đại chỉ là hành vi “vận chuyển trái phép” là không thuyết phục. Nghị định 142 áp dụng xử lý hành vi khai thác trái phép cùng một số hành vi khác, chứ không hề đề cập đến hành vi “vận chuyển trái phép”!?. Nên việc PC49 Công an Quảng Nam áp dụng Nghị định này và cho rằng chỉ là “vận chuyển trái phép” để xử lý hành chính là khiên cưỡng.

Mặt khác, dấu hiệu có tổ chức, có đường dây trong vụ việc này là không khó để nhận ra. Như hợp đồng của Công ty CP Trung Nam thuê Công ty TNHH Tuấn Sinh hút cả triệu mét khối cát từ Cửa Đại trị giá 60 tỷ đồng mà Trung Nam không hề được cấp phép mỏ cát nào tại đây. Chưa kể 2 hợp đồng khác Trung Nam ký với Công ty CP Hoàng Dương Doanh và Công ty TNHH Phạm Tải, số lượng cũng lên tới hàng triệu mét khối.

Đặc biệt, cho dù phía Công ty Trung Nam khẳng định đã dừng việc thực hiện hợp đồng với 3 công ty trên từ ngày 25/2/2017 với lý do “chưa xin được mỏ cát tại Cửa Đại”, nhưng liên tiếp những ngày sau đó công trình này vẫn thản nhiên tiếp nhận cát từ Cửa Đại đổ về. Nguồn tin riêng của Tạp chí GTVT, Công ty CP Trung Nam còn phân bổ lịch đều đặn cho các tàu lấy cát từ Cửa Đại đổ về công trình xây dựng Khu đô thị quốc tế Đa Phước, luân phiên nhau vào mỗi sáng sớm tinh mơ từ 5 giờ sáng đến 5 giờ sáng hôm sau để khỏi bị "nhầm lẫn". Trong đó, có nhiều tàu được Công an Quảng Nam khẳng định là đã thực hiện hành vi sai phạm này.  

Sau khi phóng viên đi tìm hiểu, con số 4.394 m3 cát bị hút trộm mà cơ quan điều tra khẳng định, là thấp hơn hàng chục lần so với số liệu cát Cửa Đại thực tế bị “cướp”; căn cứ vào sổ sách, báo cáo và nhật ký công trình kiểm đếm khối lượng cát hút và bơm vào bờ từng ngày.

Rõ ràng, dự án xây dựng Khu đô thị quốc tế Đa Phước Đà Nẵng đã vi phạm nghiêm trọng khai thác khoáng sản trái phép. Khi bãi biển Cửa Đại trong nhiều năm qua đã bị xói lở trầm trọng, uy hiếp an toàn của thành phố Hội An. Dự án Khu đô thị Đa Phước của ông Phan Văn Anh Vũ ngang nhiên "cướp" cát tại biển Cửa Đại là chống lệnh của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc. Vì trước đó, cuối năm 2015, khi đó đang là Phó Thủ tướng, ông Nguyễn Xuân Phúc đã trực tiếp về Hội An để thị sát, chỉ đạo chi ngân sách thực hiện việc cứu Cửa Đại. Thế nhưng một khối lượng cát "khủng" tại đây lại bị câu kết “cướp trắng” để phục vụ cho lợi ích của doanh nghiệp. Nhân gian có câu: sai trái mà không biết là vô tình, tội còn nhẹ nhưng biết trái với pháp luật mà vẫn ngang nhiên làm là cố tình, tội nặng. Ở đây, Dự án Khu đô thị quốc tế Đa Phước biết việc lấy cát của biển Cửa Đại là gây nguy cơ nặng nề cho cả phố cổ Hội An nhưng vẫn thản nhiên làm ngơ "cướp", mà "cướp" kiểu "coi trời bằng vung" như thế này thì tội còn lớn trăm bề.

Dự án của doanh nghiệp khiến chính quyền và nhân dân bị mang tiếng

Đà Nẵng là đô thị ven biển có vị trí vô cùng đặc biệt, đầy đủ các địa hình : đồng bằng, núi, sông, biển. Đô thị Đà Nẵng còn là trung tâm kết nối hai đầu đất nước. Chính vì thế, chính quyền Đà Nẵng đã có nhiều nỗ lực trong việc gầy dựng thành phố phát triển, trở thành địa chỉ du lịch nổi tiếng tại Việt Nam; nhân dân Đà Nẵng hàng chục năm nay luôn "ngẩng cao đầu" tự hào về sự phát triển thịnh vượng đồng sức đồng lòng của TP.

Thế nhưng sự phát triển cho đến ngày hôm nay đã bị "dính chàm" bởi bàn tay thao túng từ 1 doanh nghiệp, ít nhất là tại dự án Khu đô thị quốc tế Đa Phước (The Sunrise Bay Đà Nẵng) ngày càng lộ rõ nhiều khuyết điểm lợi bất cập hại đối với cảnh quan thiên nhiên và hệ sinh thái của thành phố. Những ảnh hưởng đó ngày càng bộc lộ theo năm tháng mà Đảng bộ TP Đà Nẵng không phải không nhận thấy, không nhìn ra, có điều là đang loay hoay chưa tìm được "lối thoát"?! Một câu hỏi đang làm đau đầu giới chức trách của TP này là nếu cứ để cho doanh nghiệp lấy mác "đầu tư vì sự phát triển cho TP" để bất chấp xây dựng bằng mọi giá cũng chỉ vì lợi ích nhóm nào đó thì liệu Đà Nẵng có "trụ" nổi không ở tương lai phía trước cho sự phát triển bền vững về những cảnh quan thiên nhiên mà Đà Nẵng đang sở hữu? mà Đà Nẵng đã "ghi danh bảng vàng" trong nhiều năm qua?. Đây là một câu hỏi thiết nghĩ cả TP phải chung tay vào cuộc để ngăn chặn kịp thời.

Sau sự phát triển hấp dẫn của thương hiệu du lịch tại vùng duyên hải ven biển miền Trung, mà nổi bật hơn cả là sự "vượng khí" của Đà Nẵng trong việc khai thác biển "toả sáng" cho ngành du lịch, việc quy hoạch xây dựng tại dự án ven biển như Khu đô thị quốc tế Đa Phước đã bắt đầu lộ ra nhiều bất cập. Theo nhận định của các chuyên gia đầu ngành, việc xây dựng lấn biển như Khu đô thị Đa Phước, được xây dựng trên nền móng từ sự "ăn cướp" cát sạn của địa phương khác là làm mất đi hình ảnh vốn dĩ rất đẹp của thương hiệu Đà Nẵng đã cất công tạo tiếng vang trong nhiều năm qua. Đầu tư cho TP mà đi "cướp" của tỉnh bạn thì liệu đầu tư đó có chính đáng? có được ghi nhận? hay là sự tiếp tay phá hoại môi trường biển vô cùng quan trọng trước biển Đông? Đó là chưa kể đến cảnh báo về sự phá vỡ cảnh quan công cộng ven biển, làm mất đi giá trị về vẻ đẹp của biển cả.

Với dự án xây dựng như Khu đô thị quốc tế Đa Phước (The Sunrise Bay Đà Nẵng) sử dụng tài nguyên khoáng sản trái phép nghiêm trọng đến mức thế thì đang dần làm mất đi vẻ đẹp đầu cửa biển củaTP trù phú bậc nhất miền Trung. Việc mất đi không chỉ là không gian công cộng ven biển bị lấn chiếm làm của riêng cho khu đô thị này, mà còn là thực trạng bờ biển của Đà Nẵng đang bị xâm thực. Nếu TP Đà Nẵng không có chỉ đạo sát sao về giải pháp thực thi lâu dài để ít ra cũng "chữa cháy" trước sự sai trái của dự án Đa Phước thì nhân dân Đà Nẵng bị "mang tiếng chịu lời" với người anh em Quảng Nam lắm.


Tại các hội thảo về quy hoạch đô thị Đà Nẵng diễn ra hàng năm, còn nhớ, Hội Quy hoạch Đà Nẵng cũng đã từng bày tỏ quan ngại về vấn đề ô nhiễm môi trường tại khu vực cửa biển của Khu đô thị Đa Phước nói riêng và dọc toàn bộ bãi biển Đà Nẵng nói chung. Với nhận định chí lý rằng, khi đã xây dựng hình thành lên khu đô thị lấn biển như thế, tất yếu nước thải từ các khu vệ sinh dùng bể tự hoại tại đây sẽ bắt đầu ngấm dần vào cát, có nơi tận dụng để tưới cây cỏ. Như kiểu "mưa lâu thấm đất", rồi vòng tuần hoàn đó sẽ gây ô nhiễm, tích lũy dần dần vào bãi biển, nguồn nước, bãi cát,….Cơ hội để phục hồi lại như tình trạng nguyên sơ ban đầu không dễ. Việc tưới cây, dung dịch hóa học, thuốc trừ sâu ở các vườn hoa, bể bơi trong Khu đô thị như Đa Phước rồi sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến ô nhiễm môi trường. Đó là chưa kể đến những bờ phi lao, bờ dương vừa tạo cảnh quan vừa làm phòng hộ bị xóa sạch để nhường lại phần đất cho xây dựng dự án. Như vậy, vô hình chung sẽ không còn là khu vực dự phòng khi nước biển dâng, khi lũ lụt và cả sóng thần khi xảy ra.

Mảng tối khai thác cát lậu, dựa lưng những dự án nạo vét, khơi thông luồng lạch, xử lý bờ kè khẩn cấp ở Hội An đã hiển hiện nhức nhối khi lượng cát lậu khổng lồ theo đường biển từ Cửa Đại đổ về Đà Nẵng phục vụ việc thi công trái phép tại dự án The sunrise Bay. Lấy việc phát triển du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, đó là một bước đi của Đà Nẵng để khai thác thế mạnh của mình nhưng cũng xin đừng để một doanh nghiệp- chỉ 1 doanh nghiệp mà thôi lại  "sừng sững hiên ngang" lạm dụng đến thế, thao túng đến thế; làm khuấy đảo, phá vỡ đi thế mạnh "lòng biển" vốn có của Đà thành. Ai đó đã nói rất đúng rằng “Quy hoạch phát triển nhưng cần bảo tồn cảnh quan thiên nhiên, thắng cảnh chung quanh thì quy hoạch đó mới phát triển bền vững". Khi tận dụng thế mạnh để phát triển du lịch thì nhà đầu tư như ông Phan Văn Anh Vũ lại cố ý bỏ qua tất cả. Tận dụng triệt để cảnh quan thiên nhiên để phục vụ cho việc thu lợi về mặt kinh tế cho hiện tại mà quên mất sự ảnh hưởng này về lâu dài cũng như sự bền vững cho TP Đà Nẵng thì sớm muộn gì chính họ cũng sẽ bị quy luật tự nhiên đào thải.

Một kiến trúc sư tâm huyết của Đà Nẵng từng nói rằng: Người ta nói nhìn thấy được những tồn tại, thiếu sót, khiếm khuyết… là thấy được những biện pháp khắc phục. Vấn đề là ở lãnh đạo Đà Nẵng- mà quyết định quan trọng cuối cùng là người có vị trí cao nhất của TP này hiện nay. Nhân dân cũng chỉ mong 1 điều giản đơn rằng, nơi đầu biển cuối sông của Đà Nẵng, hãy nhường lại không gian công cộng cho người dân địa phương và tất cả du khách có thể tận hưởng chung cảnh quan tự nhiên của biển, nên chăng để xây dựng những công trình văn hóa phục vụ sinh hoạt du lịch biển thích hợp hơn.

Trên tờ Tiền Phong ngày 19/3/2017, trước sự việc biển Cửa Đại Hội An bị "cát tặc" cướp vô tội vạ đã phản ánh rất chí tình, đọc mà cay xè khoé mắt việc lãnh đạo tỉnh Quảng Nam, nguyên lãnh đạo TP Hội An xót xa trước thực trạng cát quê hương cứ bị "cướp" trắng trợn giữa ban ngày, mà đau đớn thay những khối lượng cát "khổng lồ" ấy lại chỉ để phục vụ thi công cho 1 doanh nghiệp đầu tư lấn biển, mượn danh "vì sự phát triển mạnh mẽ cho TP Đà Nẵng" . Họ đã đứng trước biển Cửa Đại để "lạy cát", vì sự bình yên cho quê nhà, mong cát Cửa Đại đừng có "trôi" nữa, đừng từng ngày rời bỏ người dân nữa.

Và một câu hỏi lại được nhân dân "xoáy sâu" đặt ra là, liệu có ai đứng sau "đỡ đầu" cho The Sunrise Bay Đà Nẵng mà người đứng đầu của nhà đầu tư này là "ông chủ" mang tên Phan Văn Anh Vũ lại có thể "nghênh ngang" sai phạm đến như vậy?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mỹ mật báo Úc: "Sẵn sàng bắn hạ" tên lửa Triều Tiên

>> Tôi bị điên rồi chăng?

>> Bảo Đại trao kiếm giả cho 'cách mạng'?
>> Người Thượng Việt 'vô tổ quốc ở Thái Lan'
>> Đừng mơ biến đôi bờ sông Hồng như sông Seine hay Tiền Đường


Bảo Hạnh (Theo Daily Telegraph, ABC News)
(NLĐO) - Mỹ đã thông báo với Úc rằng nước này sẵn sàng bắn hạ tên lửa được Triều Tiên phóng thử, theo nguồn tin tình báo.

Tờ Daily Telegraph hôm 10-4 dẫn các nguồn tin tình báo cho biết Triều Tiên có thể phóng tên lửa đạn đạo vào ngày 15-4 tới (ngày sinh của cố Chủ tịch Kim Nhật Thành) hoặc sớm hơn.

Mỹ được cho là đã thông báo với Úc rằng nước này đã chuẩn bị sẵn sàng để bắn hạ bất kỳ tên lửa nào được Triều Tiên phóng thử sắp tới, nếu có.

Trạm vệ tinh chung Pine Gap của Úc và Mỹ - có nhiệm vụ giám sát các vụ phóng tên lửa của Triều Tiên - hiện trong tư thế sẵn sàng.

Vào cuối tuần rồi, Mỹ thông báo đã cử một nhóm tác chiến tàu sân bay đến gần đảo Triều Tiên.

Đây là động thái quân sự tiếp theo của Washington sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump ra lệnh nã 59 tên lửa Tomahawk vào một căn cứ không quân của Syria hồi tuần trước.

Gần đây, Mỹ bắt đầu triển khai hệ thống phòng thủ tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) tới Hàn Quốc để đối phó với các vụ phóng tên lửa của Triều Tiên.

Tướng Lori Robinson, một tư lệnh của Không lực Mỹ, vừa tiết lộ mức độ đe dọa của Triều Tiên, Nga và Iran trong một văn bản tóm lược trình lên ủy ban các lực lượng vũ trang của thượng viện. Theo bà Robinson, hoạt động thử hạt nhân và phát triển tên lửa đạn đạo của Triều Tiên đang ở "mức cao chưa từng thấy" còn Nga đã chế tạo thành công tên lửa hành trình có thể bay tới Mỹ.

"Trong 5 năm làm chủ tịch Triều Tiên, ông Kim Jong-un đã cho tiến hành thử nghiệm tên lửa nhiều gần gấp 3 lần những vụ thử do bố và ông nội cho tiến hành trong 63 năm cầm quyền trước đó của họ" - bà Robinson đánh giá.

Tuy nhiên, bà tuyên bố mình cảm thấy "tự tin" về khả năng của Mỹ trong việc sử dụng các hệ thống phòng thủ tên lửa để đối phó với mối đe dọa từ một vụ tấn công bằng tên lửa đạn đạo tầm xa của Triều Tiên.

Trong khi đó, Bình Nhưỡng hôm 11-4 tiếp tục lên án động thái triển khai nhóm tác chiến tàu sân bay nói trên của Mỹ đến gần bán đảo Triều Tiên, cũng như cảnh báo sẵn sàng cho bất kỳ cuộc chiến nào mà Washington phát động.


Phần nhận xét hiển thị trên trang