Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2017

Đi tìm Triết lý tối ưu để hài hòa lợi ích Quốc gia - Dân tộc



Trong mấy dòng email viết kèm vào bài dưới đây, tác giả Đinh Hoàng Thắng đã nhấn mạnh vào ý (mà đầu đề bài viết đó đã nêu): "Năm Đinh Dậu 2017 nhiều khả năng sẽ là năm tái xác định rõ hơn những đường nét lớn của thế kỷ 21, tuy nhiên cuộc tranh luận về các học thuyết mới và thực tiễn đa chiều của các học thuyết ấy chưa dễ đi đến thống nhất...". Và theo ý tác giả thì giới nghiên cứu chính trị nên chăng cần điểm qua một số điều chỉnh của các đối tác quan trọng hàng đầu đối với Việt Nam, nhất là Hoa Kỳ và Trung Quốc, để tìm ra câu trả lời". 

Đọc kỹ toàn bài Chủ blog tôi nhận thấy một ý mà hình như tác giả rất muốn tìm ra câu trả lời thích đáng, đó là hãy truy tìm cho được một Triết lý tối ưu để đem lại sự hài hòa cho những lợi ích cốt lõi cho Quốc gia - Dân tộc vào lúc này.   

Nhận thấy bài viết có nêu nhiều ý kiến và bình luận rất đáng suy nghĩ về mối quan hệ Triết lý - Quốc gia - Dân tộc trong tình hình các mố quan hệ quốc tế rất nhiều biến động như ngày nay, chủ Blog tôi xin đăng tải toàn văn bài viết như một nguồn tham khảo.

Vệ Nhi g-th

-------

Đinh Dậu 2017: Triết lý—Quốc gia—Dân tộc
Triết lý—Quốc gia—Dân tộc có thể xem như ba đỉnh của tam giác, đồng cấu với tam giác Nhận thức—Tổ chức—Quan hệ. Một đất nước tầm trung như Việt Nam, cần vượt thoát ảnh hưởng của lợi ích nhóm nhiều khi khoác áo ý thức hệ, hãy lấy cảm hứng chủ đạo từ triết lý của thời đại, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, tổ chức ươm mầm, vun đắp có chọn lọc các giá trị để cố kết toàn xã hội. Hãy tự trọng khi xây dựng quan hệ với thế giới bên ngoài, hãy tự cường trong việc hàn gắn mọi rạn nứt trong lòng quốc nội. Bởi vì nếu bên trong, “bầu bí” còn chưa thương nhau thì mọi cố gắng hội nhập sẽ gặp nhiều trở lực, thậm chí bị vô hiệu hóa. Nội trị và ngoại giao từ nay—xin được nhắc lại—là chiến lược tích hợp rất cần có sự đồng thuận của toàn dân tộc lẫn sự đồng điệu với thời đại.
ĐINH HOÀNG THẮNG
Triết lý—Quốc gia—Dân tộc là các phạm trù nền tảng trong cả quan hệ quốc tế ở hầu hết mọi thời đại. Xu thế chống toàn cầu hóa và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan cùng với sự lên ngôi của làn sóng dân túy đã và đang làm sôi sục cả Á lẫn Âu trong năm cũ. Sang năm mới, các nhà quan sát từ khắp nơi trên hành tinh đang tập trung đánh giá, liệu Đinh Dậu này sẽ là năm mở đường để dẫn đến những chuyển hóa mang tính bước ngoặt trên thế giới hay chưa[1]? Vào lúc bàn cờ quốc tế, bàn cờ khu vực dường như đang được sắp xếp lại, vẫn bởi một số cường quốc chủ chốt thì các nước vừa và nhỏ có thể làm gì? Có ý kiến luận bàn, giờ đây, nhẫn để chờ thời là cái dũng của người quân tử, nhưng nếu nhẫn để mà cầu an hay thỏa hiệp vô nguyên tắc thì sớm hay muộn, chắc chắn sẽ chuốc lấy tai vạ khôn lường[2]
Triết lý nào thay đổi?
Đinh Dậu nhiều khả năng sẽ là năm tái xác định rõ hơn những đường nét lớn của thế kỷ 21, tuy nhiên cuộc tranh luận về các học thuyết mới và thực tiễn đa chiều của các học thuyết ấy chưa dễ đi đến thống nhất. Hãy điểm qua một số điều chỉnh của các đối tác quan trọng hàng đầu đối với Việt Nam, nhất là Hoa Kỳ và Trung Quốc, để tìm câu trả lời. Trước hết, “chủ nghĩa hay học thuyết Trump” (Trumpism) là một triết lý lạ lẫm, xuất hiện từ sau mùa bầu cử ở Mỹ và chưa hề tồn tại trong bất cứ cuốn Từ điển nào xuất bản trước đấy. Bản thân tiền tố “Trump” như một danh từ riêng cũng mang các nội hàm đối nghịch: i) Đó là một từ cổ, với nghĩa ban đầu là âm thanh phát ra từ tiếng kèn trompet (the last trump hay the trump of doom là tiếng kèn báo ngày tận thế); ii) Nhưng trong các trò sát phạt đỏ đen, Trump là quân “át chủ bài” của cuộc chơi, còn ngoài đời thì đấy là người thành công vượt sự đón đợi[3]. Khi nâng hệ thống quan điểm của tân Tổng thống thành chủ thuyết hay triết lý (chủ nghĩa Trump), giới tinh hoa nào đó ở Mỹ đã mặc định thừa nhận hệ thống quan điểm ấy vượt qua được hai công đoạn đầu trong khoa học tư duy (giai đoạn khảo cứu và giai đoạn tiếp cận logic), với tham vọng không che dấu là nó sẽ xuất hiện như một trường phái tư tưởng cho kỷ nguyên tới đây của nền chính trị Hoa Kỳ và thế giới.
Nhưng sau tháng đầu tiên tại nhiệm của tân Tổng thống, dân Mỹ có vẻ như không mấy hào hứng trước học thuyết Trump. Tân Tổng thống muốn đảo ngược một số quyết sách lớn của chính quyền Obama trước đây, từ rút khỏi Hiệp định TTP đến bãi bỏ chế độ bảo hiểm “phù hợp với túi tiền”. Ông không ngần ngại thực thi những cách tiếp cận “phi truyền thống” trong nhiều khía cạnh đối nội và đối ngoại. Ông triệu tập họp báo bất thường và chỉ trích gay gắt truyền thông… Ngày 19/2, người dẫn chương trình trên Đài MSNBC (kênh tin tức cáp của Hoa Kỳ cung cấp tin tức chính trị phát rộng khắp tại Mỹ và thế giới) đã phải đáp trả lại kịch liệt: “Chỉ có một tổng thống “giả” mới tuyên bố Tu chính án thứ Nhất của nước Mỹ (Tu chính án bảo vệ quyền tự do ngôn luận của báo chí) là kẻ thù của nhân dân Mỹ”. Tình huống “nóng” do sắc lệnh nhập cư, cũng như kết quả thăm dò dư luận từ cả ba trung tâm (đều là của Mỹ) cho thấy, tỷ lệ dân chúng ủng hộ Trump trong cách điều hành công việc xuống chỉ còn 39%, mức thấp nhất so với các tổng thống trong năm nhiệm kỳ trước đó. Với sự “mất điểm” như thế cùng với thái độ “gây thù chuốc oán” với “đệ tứ quyền”, tân Tổng thống Trump đang đứng trước nhiều nan đề. Cuộc đụng đầu về pháp lý chắc còn tiếp diễn (các sắc lệnh của Tổng thống tiếp tục bị trì hoãn). Những đợt sóng ngầm bùng phát trong Nhà Trắng chưa hẳn sớm chấm dứt (Cố vấn An ninh quốc gia Flynn phải từ nhiệm). Tất cả… liệu đã đủ để Trump “ngấm” thế nào là giới hạn quyền lực của một tổng thống trong toàn bộ hệ thống chính trị Hoa Kỳ? Trump, qua nhiều năm liền bươn chải trong thương trường có thể đã biết cách lẫn tránh sự kiểm soát, nhưng trên chính trường, lần đầu tiên ông sẽ “ngộ ra” sự hạn chế của hành pháp trong thiết chế tam quyền phân lập. Đại nhật báo Le Monde (Pháp) ngày 14/2 xác nhận: Sau những tuần đầu của nhiệm kỳ, Donald Trump đã nhượng bộ về ngoại giao và đã chịu rót thêm nước vào ruợu của mình! Trump ủng hộ 100% Nhật Bản, tái khẳng định nguyên tắc “một nước Trung Hoa”, không xét lại thỏa thuận hạt nhân với Iran, không phê phán chính sách lấn đất của Israel[4]… Ông Trump sẽ làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại hay ông sẽ “trấn lột” chính nước Mỹ để trở thành mối đe dọa đối với thế giới như Chủ tịch Hội đồng châu Âu Donald Tusk vừa cảnh báo? Hy vọng nền dân chủ Mỹ đủ trưởng thành để nhận rõ phải trái (Kissinger năm 1972 mật đàm với Bắc Kinh theo sự ủy quyền của Tổng thống khác với Flynn trước khi nhậm chức đã vi phạm nguyên tắc tiếp xúc khi “cầm đèn chạy trước ô tô” trong điện đàm với đại sứ Nga). Đấy là chưa nói tới tình huống nghiêm trọng hơn khi dư luận đang đòi điều tra lại xem có ai nữa đứng đằng sau cuộc điện đàm với Nga của Flynn hay không? Thế giới mong đợi nền dân chủ Mỹ đủ mạnh để kiểm soát con tàu Donald Trump cùng với tân nội các không chệch khỏi đường ray. 

BOX-1: Giờ đây, nhẫn để chờ thời là cái dũng của người quân tử, nhưng nếu nhẫn để cầu an hay thỏa hiệp vô nguyên tắc thì chắc chắn sớm hay muộn, sẽ chuốc lấy tai vạ khôn lường…
Các nước lớn khác, đặc biệt là Trung Quốc và Nga dường như đang chuẩn bị cho những canh bạc mới. Đây là hai cường quốc được cho là đang đòi xét lại trật tự hiện hành. Tuy nhiên, cả hai đều không thừa nhận mình thuộc về các quốc gia đòi xét lại nguyên trạng (revisionist state), dù trên thực tế họ đều hành động như vậy. Nga chiếm bản đảo Crưm của Ukraina, Trung Quốc đang liên tục có nhiều hoạt động phá vỡ nguyên trạng tại Hoa Đông và Biển Đông. Nếu xẩy ra phân chia lại thế giới theo xu hướng này, chúng ta sẽ chứng kiến sự tái lập một thế giới đa cực, trong đó sự thống trị của Nga và Trung Quốc sẽ nổi lên. Nếu như sự hỗn loạn hoặc tư duy “đèn nhà ai nhà nấy rạng” vượt trội, sẽ đánh dấu sự biến đổi lớn của hệ thống quan hệ quốc tế tương lai. Thế giới có thể sẽ đi vào một khúc quanh mới của lịch sử. Theo Robert Kagan[5],Nga và Trung Quốc đều không mấy hài lòng với cấu hình phân bổ quyền lực hiện nay và cả hai đều muốn sớm khôi phục lại phạm vi ảnh hưởng truyền thống của họ cả ở phía Tây (đối với Nga) lẫn phía Đông – Nam (đối với Trung Quốc). Hai nước này đều muốn xóa bàn cờ từ đầu để chia lại thiên hạ. Luân Đôn sau Brexit cũng đang ve vãn Bắc Kinh để hình thành trục thứ ba. Mộng bá chủ của Trung Quốc, vì vậy ngày càng quyết liệt. Biển Đông với vị trí địa – chính trị và quân sự quan trọng, giai đoạn tới đây sẽ là nơi tranh chấp để các bên có thể trắc nghiệm một trật tự mới. Điều nan giải là Việt Nam làm thế nào để tránh trở thành trọng điểm của cuộc tranh chấp ấy. Do bờ biển dài hơn ba ngàn cây số, lại ở vị trí là cửa ngõ vào ra Thái Bình Dương, là con đường tiến xuống phía nam của Trung Quốc, Việt Nam đang phải đối diện với nhiều bất trắc. Trong “nguy” có “cơ” và ngược lại, nếu không tận dụng được “cơ” thì sẽ hứng đủ cái “nguy” từ cuộc tranh hùng mới! Giữ được độc lập, chủ quyền hay không sẽ là một thách đố lớn trong giai đoạn tới đây[6]
Trong thời điểm chuyển giao chính quyền ở Mỹ, Bắc Kinh toan tính gì? Cuộc điện đàm của hai nhà lãnh đạo Mỹ—Trung diễn ra chỉ vài giờ sau sự cố giữa máy bay Trung Quốc và máy bay Mỹ trên vùng trời gần bãi cạn Scarborough ở Biển Đông. Có cơ sở để phỏng đoán rằng ông Trump có thể đã nêu vấn đề này với ông Tập. Cũng không phải vô tình khi ông Trump công nhận chính sách “một Trung Quốc” chỉ vài giờ trước khi tiến hành cuộc gặp thượng đỉnh với Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe tại Washington. Ngay từ đầu tuần ấy, Trung Quốc đã cử lực lượng cảnh sát biển đến các vùng nước quanh quần đảo Điếu Ngư/Senkaku trên Hoa Đông, sau khi Bộ trưởng Mỹ Mattis khẳng định các cam kết đồng minh Mỹ – Nhật áp dụng với cả quần đảo này. Hiện vẫn còn nhiều lĩnh vực bất đồng giữa hai cường quốc Mỹ – Trung, như tiền tệ, thương mại, Biển Đông và Triều Tiên, chưa được đề cập đến trong các tuyên bố công khai về cuộc điện đàm giữa hai nhà lãnh đạo. Tính đến nay, thực tế cho thấy là nếu chính sách về Trung Quốc mới bắt đầu “có da có thịt”, thì đối sách liên quan đến Biển Đông của chính quyền Trump vẫn chưa được định hình rõ nét, về căn bản vẫn tạm đi theo hướng mà cựu tổng thống Obama đã vạch ra[7]. Mới đây, một đơn vị hải chiến của Mỹ, gồm chiến đấu cơ và hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson bắt đầu tuần tra tại Biển Đông từ ngày 18/2/2017. Hải quân Mỹ thông báo tin này vài ngày sau khi Bắc Kinh cảnh cáo Washington không nên thách đố chủ quyền biển đảo của Trung Quốc. Cũng như việc Trung Quốc chiếm giữ bất hợp pháp thiết bị lặn của Mỹ tại vùng biển quốc tế dịp cuối năm ngoái… tất cả chỉ là một phản ứng trong chiến lược bao quát hơn nhiều mà Trung Quốc theo đuổi trong thời gian tới nhằm thôn tính toàn bộ Biển Đông. Như vậy, riêng đối với vấn đề Biển Đông, triết lý “chơi rắn” của Trung Quốc cho đến nay chưa thấy có sự biến chuyển nào. Các hình ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy, Trung Quốc đã xây dựng xong hàng loạt đường băng và củng cố các cơ sở hạ tầng phục vụ cho các máy bay quân sự tại ba hòn đảo nhân tạo là Vành Khăn, Su Bi và Chữ Thập, nơi cách đây vài năm chưa từng là đảo. Trung Quốc đã hoàn thành xong việc lắp đặt các hệ thống vũ khí trên cả 7 đảo mà nước này đã cưỡng chiếm và bồi đắp ở Trường Sa. Sau phán quyết của Tòa Thường trực Trọng tài (PCA), Trung Quốc dùng phép thử “mồi nhử” về kinh tế và ngoại giao, kêu gọi hợp tác với một số nước trong khu vực trong khi vẫn giữ nguyên áp lực lên một số nước chưa chịu khuất phục.
Lợi ích quốc gia trên hết

Trung tâm nghiên cứu an ninh và địa – chính trị trên thế giới (Stratfor) cảnh báo, cán cân quyền lực ở Đông Nam Á đang âm thầm dịch chuyển theo hướng có lợi cho Trung Quốc và có lẽ không một quốc gia nào cảm nhận điều bất lợi ấy đối với mình rõ như Việt Nam. Trung tâm nghiên cứu này cho rằng Việt Nam cố gắng mềm mỏng hơn trong những lời chỉ trích Trung Quốc và tiếp tục các bước đi hàn gắn với Bắc Kinh. Thay vì đối đầu trực diện, Hà Nội đã bắt đầu theo đuổi các tuyên bố chủ quyền lãnh hải một cách tế nhị và liên minh với các đối tác mạnh hơn, để ngỏ các khả năng kháng cự cũng như sẵn sàng phòng thủ. Tổ chức này phân biệt rõ, không giống như các quốc gia khác, Việt Nam không thể chống lại, hay chấp nhận sức mạnh gia tăng của Trung Quốc trên biên giới phía Bắc. Stratfor dẫn việc Philippines và Malaysia “hồ hởi gia nhập các cơ chế xử lý tranh chấp cũng như các khối thương mại do Trung Quốc dẫn đầu”, hay việc “Nhật Bản và Singapore mạnh mẽ ủng hộ vai trò của Washington ở khu vực”. Trong khi ấy, Việt Nam phải luôn luôn khôn khéo cân bằng giữa quan hệ với Trung Quốc và với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trong bối cảnh khu vực phải thay đổi để thích nghi với các thực tế địa – chính trị mới, Hà Nội ngày càng khó khăn hơn trong việc thực thi chiến lược đó.
BOX-2: Cuộc chiến mà Trung Quốc tiến hành chống Việt Nam từ ngày 17/2/1979 không phải là ngoại lệ của sự giả dối chính trị, bởi chính nó được khoác chiêu bài “phản kích tự vệ” trong khi người Việt không hề xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc. Không khuyến khích thói dối trá, song không nên ngăn chặn người dân biết nhận diện sự giả dối, biết cảnh giác đề phòng những kẻ vốn có truyền thống lịch sử lâu đời về giả dối.
Theo giới quan sát, ở Đông Nam Á, tới đây, Nhật sẽ có vai trò giống như là Mỹ đã từng đóng. Các nước khu vực, trừ một vài ngoại lệ hiếm hoi, hầu hết đều không muốn nhờ cậy Trung Quốc về an ninh. Nếu có nước nào bị bắt buộc phải làm thế là vì, họ không có sự lựa chọn khác. Và khi Nhật Bản tiến lên một bước trong vị thế lãnh đạo khu vực, các nước Á châu ủng hộ ngay. Đấy là nhận xét của GS. Pongsudhirak, một trong những tác giả của bản báo cáo từ Quỹ châu Á (Asia Foundation) về “Quan điểm đối với vai trò của Mỹ ở khu vực”[8]Thái Lan và Philippines có dấu hiệu “giãn dần” quan hệ đồng minh với Mỹ, vì họ thất vọng và buộc phải tìm đến Trung Quốc. Trên cương vị hiện nay, ông Trump sẽ phải dựa vào các báo cáo, tư vấn của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Cục Tình báo Trung ương để làm mới chính sách đối ngoại. Hiện nay, cả ba cơ quan này đều ủng hộ chính sách “tái cân bằng”, nhưng không hài lòng với cách tiếp cận quá mềm mỏng của Obama, chưa tạo được sức nặng răn đe đối với Trung Quốc. Có thể Mỹ sẽ thể hiện quan điểm và hành động quân sự tại khu vực một cách trực diện hơn so với thời Tổng thống Obama thông qua sự hiện diện và tăng cường quan hệ với các đồng minh chiến lược, để duy trì lợi ích của Mỹ tại khu vực.
Để ứng phó với các biến động có thể ập đến bất ngờ, nếu Việt Nam vẫn giữ tư duy cũ và cách làm cũ, các chủ trương hiện nay về ngoại giao và an ninh sẽ gặp khó khăn trong hoàn cảnh mới. Chính sách “giữ cân bằng mang tính cơ học” từ trước đến nay sẽ phải trả giá nếu giữa Trung Quốc và Mỹ xuất hiện tình huống đổi chác hay những cuộc đi đêm như đã từng xẩy ra trong lịch sử. Chính sách “ba không” sẽ bế tắc nếu có hữu sự ở Biển Đông hay trên các tuyến biên giới, cả phía Bắc lẫn phía Tây Nam (xem Tuyên bố chung nhân chuyến thăm của Thủ tướng Hun Sen tại Hà Nội từ 20-21/12/2016). Trong cục diện phức tạp và hiểm nguy như hiện nay, chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc giờ đây chỉ có thể gắn với hội nhập quốc tế một cách toàn diện và triệt để (xem Nghị quyết 22 của Bộ Chính Trị ngày 10/4/2013). Để tránh tình thế “tứ bề thọ địch”, không chỉ do các nước lớn chèn ép mà bị ngay chính các nước nhỏ, từng có quan hệ đặc biệt, qua mặt, thì đất nước phải chủ động hội nhập sâu rộng với “bên thứ ba” như là một tập hợp lực lượng mới ở cả khu vực lẫn toàn cầu. Các kết nối về ngoại giao và an ninh giữa Việt Nam với Nhật Bản – Ấn Độ – Ốtxtrâylia là cơ hội hiếm hoi mà chúng ta đã và cần phải tham gia sâu rộng hơn nữa, thực chất hơn nữa. Chuyến thăm cấp nhà nước của Nhật Hoàng tới đây, các mối liên hệ toàn diện, đặc biệt là sự hợp tác về an ninh, giữa Việt Nam với Nhật Bản – Ấn Độ – Ốtxtrâylia là những cột mốc đối ngoại vượt trên các ý nghĩa biểu tượng.

Một chuyên gia hàng đầu về kinh tế của Việt Nam từng phát biểu, sau 30 năm Đổi mới và 10 năm tham gia WTO, chưa bao giờ chúng ta lại khát khao một cuộc Đổi mới lần thứ hai, thực chất là một cuộc Cách mạng về thể chế như hiện nay để đưa đất nước đi lên trong những năm tới[9]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Dy cũng hoàn toàn có lý khi đưa ra lời kêu gọi đã đến lúc phải “kiểm toán” chính sách đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ “hậu Thành Đô” (1990-2016), trên cơ sở thành công hay thất bại[10]. Qua mấy thập kỷ, Việt Nam đã bị lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc, cả về kinh tế, chính trị và đối ngoại, vì vướng phải cái vòng “kim cô” ý thức hệ. Muốn khắc phục những hệ lụy to lớn và lâu dài đó, Việt Nam phải đổi mới thể chế toàn diện, cả về kinh tế lẫn chính trị, cả về đối nội lẫn đối ngoại. Nếu coi lợi ích quốc gia là tối thượng, các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam sẽ không phải “bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước”. Ba tiêu chí cơ bản, như ba giá trị cốt lõi của chính sách đối ngoại giai đoạn mới sẽ là những định hướng cho tương lai. Tuy nhiên, từ những định hướng ấy để triển khai thành các chủ trương cụ thể: độc lập trưởng thành (mature independence), tái cân bằng tích cực(active rebalance) và chủ động hội nhập (proactive integration), thiết nghĩ phải có những bước đột phá về tư duy chiến lược và hoạt động thực tiễn, cả trong đối nội lẫn đối ngoại. Muốn có giải pháp hiệu quả cho những tình huống mới, nhiều khi còn bất định và bất toàn, không thể dựa vào các phương pháp cũ, tư duy cũ, dẫu đó là những phương pháp và tư duy đã dẫn đến những thành công nhất định.    
Dân tộc phải trưởng thành
Cả Á lẫn Âu đang sục sôi trước thay đổi. Bảy năm sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhiều nền kinh tế vẫn chưa hồi phục. Nền kinh tế châu Âu tiếp tục đi xuống, với “đường đứt gãy” từ nước Ý đe dọa tạo ra cơn địa chấn khắp “lục địa già”. Niềm tin vào các thể chế đều có nguy cơ lụi tàn ở cả Á lẫn Âu và quan hệ giao thương giữa các nước có nguy cơ bị xói mòn, khi các nhà xuất khẩu rời bỏ các thị trường truyền thống. Sự lan rộng của chủ quyền quốc gia có thể là một hướng đi tích cực, nếu điều đó dẫn đến xu hướng mà kinh tế gia Larry Summers từ Đại học Harvard gọi là “chủ nghĩa dân tộc có trách nhiệm”. Các chính phủ khu vực đồng tiền chung Euro sẽ cần phục vụ công dân của họ hơn là các ý tưởng trừu tượng về châu Âu và trưởng thành với các nguyên tắc của hòm phiếu và thị trường. Không thể giải quyết những vấn đề mới bằng cách bám vào các phương pháp lỗi thời. Đó là chân lý trong kỷ nguyên tư duy đột phá. Tuy nhiên, từ thời “mưa Âu, gió Mỹ” này, mỗi khi nhớ về thế đứng chông chênh của cách mạng Việt Nam thuở còn trong trứng nước, chúng ta không thể không nhắc lại một tinh thần đầy minh triết, khi Nghị quyết của ĐCS Đông Dương lúc bấy giờ (2/1951) đã xác tín: ngoại giao của ta phải có tính dân tộc và dân chủ.
Ngày nay, muốn tôn vinh các giá trị dân tộc không thể thiếu môi trường dân chủ. Muốn mạnh bên trong không thể thiếu “đối tác chiến lược” với bên ngoài. Tương quan giữa hai hằng số P, tức xây dựng hệ thống “đối tác chiến lược” (Strategic Partnership)  với D, tức là tiến trình thúc đẩy “dân chủ hóa” trong nước (Democratisation) chưa bao giờ tương sinh tương khắc như thời điểm hiện nay. Ngoại giao và nội trị giờ đây là hai mặt của một đồng tiền, là các thành tố tích hợp trong một chiến lược phát triển tổng thể, theo mô thứcP&DOWN[11]. Bài học quốc gia khởi nghiệp của Israel (start-up nation) là gì nếu không phải là hệ sinh thái khởi nghiệp chỉ có thể ươm tạo và nở rộ trong một môi trường dân chủ và tự do, theo Eryadi K. Masli, giảng viên tại Đại học Swinburne (Áo). Trước đây, thế giới không mấy chú ý đến thị trường khởi nghiệp tại Việt Nam, nhưng hiện tượng Flappy Bird[12] đang dần thay đổi quan điểm này. Con người Việt Nam thông minh, nếu có thể chế và môi trường pháp lý phù hợp thì dòng vốn của các quỹ đầu tư có thể giúp Việt Nam sớm trở thành điểm đến cho các công ty khởi nghiệp. Các nhà startup được ươm tạo, các khu công nghệ cao đã vài chục tuổi, quyết không thể là những cộng đồng sinh ra để “bú mớm”. Tất cả chỉ có thể lớn lên trên nền của môi trường tự do và sáng tạo trong lòng một quốc gia—dân tộc trưởng thành.
BOX-3: Quốc gia phải tự do, nghĩa là không bị trói buộc vào bất cứ lợi ích nhóm độc tôn hay ý thức hệ lỗi thời nào cả. Dân tộc phải trưởng thành, thể hiện ở khả năng hòa hợp và hòa giải thực sự. Có như thế mới hy vọng tiệm cận được các triết lý về phát triển, có thể tự trọng khi xây dựng quan hệ với thế giới bên ngoài, mới tự cường trong việc hàn gắn mọi vết nứt trong lòng quốc nội.
Một biểu hiện mới về sự trưởng thành của dân tộc là truyền thông “lề phải” năm nay dành được quyền công khai kỷ niệm cuộc chiến tranh biên giới tháng 2/1979 trên một số trang báo. Tuy nhiên, chủ trương đối với việc tưởng niệm các liệt sĩ đã ngã xuống vì Tổ quốc vẫn bất nhẫn, vẫn lặp đi lặp lại những sai lầm cũ. Sự xuất hiện một thương binh ngồi xe lăn từng chiến đấu trong cuộc chiến năm 1979 tại buổi lễ tưởng niệm hôm 17/2 dưới chân tượng đài Lý Thái Tổ, Hà Nội khiến cả cộng mạng đồng hết sức xúc động. Đúng là sòng phẳng với lịch sử không phải là nuôi dưỡng hận thù[13]Muốn có hòa bình phải chuẩn bị cho chiến tranh[14]. Một giảng viên đại học Nhật Bản từng 15 lần bỏ tiền túi đi lại giữa Tokyo—Hà Nội—Lạng Sơn để phỏng vấn trực tiếp các nhân chứng sống còn sót lại từ cuộc chiến năm 1979. Sỡ dĩ anh đi liên tục trong vội vàng, vì theo anh, các nhân chứng sống ấy ngày càng ít đi. Anh lo với thời gian và cung cách ở Việt Nam hiện nay, mọi chuyện dễ rơi vào quên lãng. “Quên sự đóng góp của người dân, sau này động viên họ sẽ rất khó”[15].  Người viết bài này còn nhớ rõ nét mặt đau khổ của Tổng Biên tập“Tuần Việt Nam” trong một lần đặt bài để tưởng niệm cuộc chiến 17/2, nhưng ông nói có lệnh trên là không được nhắc lại việc “Trung Quốc trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược”. Vượt qua cái cái lệnh ngang xương như vậy, “Tuần Việt Nam” năm ấy vẫn dũng cảm đăng bài để nhớ về về cuộc chiến mà một số người đang muốn xóa đi khỏi ký ức của dân tộc[16]. Nhà xã hội học nổi tiếng, Giáo sư Zygmunt Baumaneorges có lần nói rằng, giả dối là nguyên tắc, sự thật là ngoại lệ[17]. Cuộc chiến mà Trung Quốc tiến hành chống Việt Nam từ ngày 17/2/1979 không phải là ngoại lệ của giả dối chính trị bởi chính nó được khoác chiêu bài “phản kích tự vệ” trong khi người Việt không hề xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc. Không khuyến khích thói dối trá, song không nên ngăn chặn để người dân biết nhận diện được sự giả dối, biết cảnh giác đề phòng những kẻ vốn có truyền thống lịch sử lâu đời về sự giả dối.


Trên con đường trở nên dân tộc trưởng thành, nhiều nước trong khu vực từng ngưỡng mộ Singapore như một quốc gia có quyết tâm vươn lên với ý chí tự chủ và tự cường. Hai chính sách căn bản của cố Thủ tướng Lý Quang Diệu từ giai đoạn lập quốc được cho là nền tảng đem lại chính sách đối ngoại độc lập. Thứ nhất,  không chọn tiếng Hoa mà chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ phổ biến. Thứ hai, thiết lập ngay từ đầu quan hệ ngoại giao với nước Mỹ (năm 1965), nhưng mãi gần ba thập kỷ sau, mới thiết lập bang giao với Trung Quốc (năm 1990). Singapore là một quốc đảo, 75% dân số là người gốc Hoa khi tách khỏi Malaysia. Nếu chọn tiếng Hoa làm ngôn ngữ phổ biến trong giao tiếp xã hội thì cũng là một sự hợp lý lúc bấy giờ. Nhưng ông Lý Quang Diệu đã chọn tiếng Anh, nên vị thế của cộng đồng người Hoa đối với Singapore không còn là nhân tố độc tôn nữa. Điều đó cho thấy quốc gia này kiên quyết lựa chọn hướng đi độc lập với Trung Quốc. Và bang giao với Mỹ là một trong những mối quan hệ quốc tế đầu tiên và quan trọng nhất của Singapore từ thời lập quốc đến nay. Một quốc gia, không kể lớn hay nhỏ, như Singapore hay Israel, được thế giới kính nể, coi là một dân tộc đã trưởng thành, nhờ những chủ trương thông minh trong những thời khắc quyết định của lịch sử.
*
Vẫn biết mọi lý thuyết dù hay mấy cũng chỉ là màu xám, vấn đề là cây đời[18]… Nhưng trên mỗi chặng đường phát triển, không thể không đi tìm kiếm hình hài của một triết lý tối ưu (dù vẫn có khía cạnh bất toàn) như cách thức để ứng phó linh hoạt trong thời buổi cả quốc tế lẫn quốc nội đều diễn ra những thay đổi đến chóng mặt. Triết lý—Quốc gia—Dân tộc đều có thể xem như ba đỉnh của tam giác, đồng cấu với tam giác Nhận thức—Tổ chức—Quan hệ. Một đất nước tầm trung như Việt Nam, cần vượt thoát càng sớm càng tốt khỏi ảnh hưởng các lợi ích nhóm nhiều lúc đội lốt ý thức hệ, lấy cảm hứng chủ yếu từ triết lý của thời đại, đặt lợi ích quốc gia—dân tộc lên trên mọi lợi ích đảng phái, tổ chức ươm mầm, vun đắp có chọn lọc các giá trị để cố kết toàn xã hội. Quốc gia phải tự do, nghĩa là không bị trói buộc vào bất cứ lợi ích nhóm độc tôn hay ý thức hệ lỗi thời nào cả. Dân tộc phải trưởng thành, thể hiện ở khả năng hòa hợp và hòa giải thực sự. Có như thế mới hy vọng tiệm cận được các triết lý về phát triển, có thể tự trọng khi xây dựng quan hệ với thế giới bên ngoài, mới tự cường trong việc hàn gắn mọi vết nứt trong lòng quốc nội. Bởi vì, nếu bên trong, “bầu bí” còn chưa thương nhau thì mọi cố gắng hội nhập sẽ gặp nhiều trở lực, có khi bị vô hiệu hóa hay bỏ nhỡ thời cơ. Nội trị và ngoại giao từ nay—xin được nhắc lại—là chiến lược tích hợp rất cần có sự đồng thuận của toàn dân tộc lẫn sự đồng điệu với các xu thế tiến bộ của thời đại./.



[1] Bản mới bổ sung gần đây nhất (Revised Edition) được tác giả gửi tới vinhnv43.blogspot.com; xin hân hạnh giới thiệu với bạn đọc. Trước đây, bản cũ từng được đăng tải tại “Văn Nghệ” (Cơ quan Ngôn luận của Hội Nhà văn Việt Nam) http://baovannghe.com.vn/dinh-dau-2017-triet-ly-quoc-gia-dan-toc-16103.html?vip=bvn, Tạp chí “Văn hóa Nghệ An” (Cơ quan của Sở Văn hóa và Thông tin Nghệ An)https://vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/cuoc-song-quanh-ta46/dinh-dau-2017-triet-ly-quoc-gia-dan-toc, Tạp chí “Thông tin và Phát triển” (Cơ quan của Bộ Khoa học & Công nghệ) và Tập san“Lý luận & Phát triển” (Diễn đàn của Viện các vấn đề Phát triển / VIDS).
[6] Trong Hội nghị Ngoại giao lần thứ 29 từ 22—26/8/2016 tại Hà Nội, Ngoại trưởng Phạm Bình Minh thừa nhận các điều kiện quốc tế của Việt Nam là khá nghiệt ngã: “Ở bên ngoài, môi trường chiến lược của nước ta đã và đang nổi lên nhiều thách thức chưa từng có, tác động trực tiếp đến các lợi ích an ninh và phát triển”. Mời xem tại: http://baovannghe.com.vn/tu-hoi-nghi-ngoai-giao-lan-thu-29-suy-nghi-ve-van-nuoc-hom-nay-851.html?vip=bvn
[11] P&DOWN là tổ hợp thống nhất năm biện pháp trong một mô thức tương sinh—tương khắc nhằm đạt tới “giải pháp cả gói” (package deal), bao gồm: 1) Bồi đắp hệ thống đối tác (Partnership) với các cường quốc bên ngoài, 2) Thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa bên trong (Democratisation) để “tái cấu trúc” kinh tế và xã hội, 3)Tổ chức kết hợp cuộc chiến pháp lý (COC) với cuộc chiến truyền thông nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền, 4) Tìm cách tiếp cận minh triết để “định chế hóa” mọi nỗ lực (Wisdom) và 5) Tận dụng tối đa mạng lưới tự do hóa thương mại khu vực lẫn toàn cầu (Networking) để ra với thế giới. Mời tham khảo: https://anhbasam.wordpress.com/2015/10/16/5472-thach-thuc-moi-o-ien-dong-qua-ky-hoi-thao/ hoặc: http://gabsdinhhuong.blogspot.com/ hoặc xem tại:http://vinhnv43.blogspot.com/2015/10/mot-cach-tiep-can-moi-ve-bien-ong-trong.html
[14] https://vi.wikipedia.org/wiki/Si_vis_pacem,_para_bellum “Nếu bạn muốn hòa bình, hãy chuẩn bị cho chiến tranh” là     một câu tục ngữ tiếng Latinh, có thể được viết vào khoảng chừng năm 390.
[18] “Mọi lý thuyết đều là màu xám, chỉ cây đời là mãi mãi xanh tươi” (Goethe).



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Loanh quanh


Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng ngẫm nghĩ và thốt ra lời: Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt.
Mà đúng, loanh quanh mệt thực. Ấy là tôi liên hệ đến sự loanh quanh của mấy nhà chức việc nhà nước. Qua vài vụ:

-Chả hiểu vì sao, tự dưng các vị ấy hứng lên cấm mấy bài hát cũ, trong đó có bài "Con đường xưa em đi" của Châu Kỳ - Hồ Đình Phương vốn đã rất nổi tiếng, in đẫm vào đầu người yêu nhạc bao thế hệ. Sống lâu với người CS nên tôi biết, tôi hiểu cái duyên cớ họ cấm. Cũng lại cái mà họ coi là nhạy cảm, ca ngợi lính Sài Gòn, chính trị chính em cả thôi. Có lẽ dạo trước cấm còn sót, còn lọt, nên nay giở ra rà soát lại, cấm tiếp. Thì chính có một ông đã bảo "con đường xưa em đi là con đường nào, chiến trường anh bước đi là chiến trường nào". Nhà cai trị, không thích thì cứ cấm, nhưng đừng lòng vòng, loanh quanh, ú ớ. Thấy bị phản đối dữ quá, ông này ông kia liền bảo do vấn đề bản quyền, bản gốc, dị bản, chứ chúng tôi có cấm kiếc gì. Cứ như tốt lắm. Vớ vẩn, ăn nói linh ta linh tinh. Cấm thì cứ cấm mẹ nó đi, toàn vòng vo. Còn không thì thôi, nên đứng ra xin lỗi.

-Vụ dân Hà Tĩnh chiếm phủ huyện, thực chất là họ yêu cầu phải công khai, minh bạch, sòng phẳng trong việc chi trả tiền Formosa đền bù cho dân. Cứ nhìn những câu khẩu hiệu, băng rôn họ căng ra thì biết. Họ ức chính quyền, họ bực cái thói ăn chặn ăn bớt. (Tôi đã từng viết vụ chi trả tiền 500 triệu USD rồi sẽ rất phức tạp, ngay sau khi Formosa đồng ý đền bù).

Dân chúng không rảnh đến mức tới giờ còn kéo nhau đi phản đối Formosa. Họ thừa biết, đó là việc của nhà nước, của chính quyền. Trong vụ chiếm phủ huyện vừa rồi, họ không đối đầu với Formosa mà là đối đầu với chính quyền, đòi quyền lợi thiết thực. Nhưng chính quyền cũng như truyền thông của nhà nước cố tình lái vụ việc vào chuyện "kích động biểu tình phản đối ô nhiễm môi trường, phản đối Formosa" để gián tiếp quy kết rằng vụ Formosa nhà nước đã tích cực giải quyết, Formosa đã cam kết khắc phục, mà dân vẫn còn đòi này đòi nọ là dân không biết điều. Mưu mẹo này cũng khiến không ít người nhìn nhận, đánh giá sai cuộc "vùng dậy" của dân Hà Tĩnh, cho là họ quá đáng.

-Vụ Cục Hàng không định ép giá sàn vé máy bay cũng vậy, định lấy ý kiến cho phải phép (giống vụ Hà Nội lấy ý kiến về loa phường) nhưng rồi chờ thời cơ thuận lợi là áp giá. Thấy không xuôi, liền đổ cho doanh nghiệp, cụ thể là hàng Jetstar Pacific, bảo nó đề xuất thế chứ chúng tôi đã muốn thế đâu. Cũng trò loanh quanh, cãi chày cãi cối.

Sự loanh quanh nào rồi cũng dẫn đến kết quả chứ không phải cứ đi mãi, đi mãi. Nhưng những ý đồ thì không dễ giấu được như hồi một mình một chợ truyền thông.

Nguyễn Thông

Phần nhận xét hiển thị trên trang

PHẬN TÔI HÈN!


Trước mặt tôi những người bạc tóc
Sau lưng tôi tóc ai phai màu
xung quanh tôi nhiều mái đầu óng mượt
vẫn hồn nhiên như chưa biết yêu!
Trẻ đến nỗi khiến tôi nghĩ ngợi
tôi băn khoăn giờ này quê hương mình ra sao?
bao bài hát oai hùng một thủa
lên đàng hoài.. giờ đang ở đâu?
Thời mạt pháp quá.. nhiều lời miệt thị
người với người
người đang làm người đau
tôi lạc lõng cô đơn như thể
không phải anh em,
khát nỗi đồng đồng bào
Cuộc thôi miên trường kỳ đã thành công mĩ mãn
con quỷ cười khi hắn làm tôi đau
đau hơn nữa từ cái nhìn vô cảm
khi mình bơ vơ trước đêm tối
thẳm sâu..
Tôi có lỗi gì.. đến giờ tôi chưa hiểu?
ai biết chỉ dùm tôi xin cảm ơn
một đời sống thực ra ngắn ngủi
tóc nay xanh
mai đã bạc màu!
Yêu để sống
sống để yêu vốn dĩ
ghét sự trái ngang dù diêm dúa thế nào
không dễ thôi miên
khiến tôi thành xa lạ
cõi ta bà tôi thành người đâu đâu?
Sớm cô đơn,
chiều một mình tôi chịu
phận mình hèn đi nốt đường thương đau..
yêu để sống đã là không nổi
nỗi buồn này
đến bởi từ đâu?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

“SĨ” ĐÃ ĐỚN HÈN THÌ CẢ DÂN TỘC SẼ ĐỚN HÈN !!!

NGẪM VỀ NGHỆ SĨ HÀI HOÀI LINH, VÀ ...
CANH LE·THURSDAY, JANUARY 28, 2016
Tôi nhớ là nghệ sĩ cải lương tài sắc một thời Phùng Há có lần tâm sự về chuyện bà cùng với một số nghệ sĩ khác đã lập nên Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu Tương Tế Nam Việt, rồi đứng ra vận động tiền bạc đóng góp từ các mạnh thường quân, khách mộ điệu và chủ hãng có hảo tâm để mua đất, xây nên ngôi Nhựt Quang Tự, còn gọi là Chùa Nghệ Sĩ, cùng với khu Nghĩa Trang Nghệ Sĩ từ năm 1949.
Bà nói đại ý :
Thấy thương lắm, giới nghệ sĩ Cải Lương lên sân khấu thì xiêm y tha thướt, cân đai rỡ ràng, điệu bộ trau chuốt, hát ca văn vẻ vậy thôi chứ ngoài đời thật thì khổ cực lắm, có nghệ sĩ tài danh khi chết đi chỉ có mảnh chiếu quấn thân vì không có áo quan để chôn ; đa số lại thất học vì yêu nghề muốn theo đuổi đam mê, theo gánh hát lênh đênh rày đây mai đó từ nhỏ để học ca tập múa cho thuần thục mới mong thành tài, nên ra ngoài đời thì nói năng cục mịch, cư xử vụng về, thấy tội lắm ...
Quả thật là phần đông khách mộ điệu Cải Lương vẫn thường bị choáng ngợp bởi ánh đèn sân khấu, nên ít thấu cảm được những góc khuất này. Họ thường chỉ được nhìn ngắm thần tượng từ xa rồi hâm mộ đắm đuối, chứ khi tiếp xúc thần tượng rồi thì sẽ khó tránh khỏi ngỡ ngàng thất vọng.
Vậy nên mới có chuyện cô thôn nữ buổi tối đi coi Cải Lương đã say sưa mê mệt chàng Lã Bố dáng vẻ oai hùng, mặt mũi khôi ngô, giáp trụ sáng ngời, sáng hôm sau bèn lén “bỏ nhà theo trai”, tìm tới chỗ con thuyền của gánh hát đang neo đậu, hỏi thăm thì được chỉ cho một anh chàng đen đúa hom hem, mình mẩy đầy lang ben hắc lào đang ngồi cởi trần phơi nắng đuổi ruồi gỡ ghẻ ...
Thực ra thì giới nghệ sĩ sân khấu, ngoài năng khiếu và khổ luyện thì vẫn phải phụ thuộc rất nhiều vô bài bản, tuồng tích, đạo diễn ; sự tỏa sáng thành danh của họ nhờ rất nhiều vô bài bản, tuồng tích, đạo diễn hay mà họ may mắn gặp được hay được quyền chọn lựa, chứ nếu kém may mắn hay không được quyền chọn lựa thì cũng đành phải chịu mai một hẩm hiu ...
Sau này, có một số nghệ sĩ sân khấu kiêm luôn cả viết kịch bản và làm đạo diễn, nhưng thường khó thành công, vì trong những lĩnh vực này còn đòi hỏi phải có những tố chất và kỹ năng khác nữa.
Đối với nghệ sĩ hài Hoài Linh, thật khó có thể phủ nhận về năng khiếu diễn xuất của anh cùng với bản lĩnh sân khấu và những thủ thuật tiểu xảo trong lĩnh vực diễn hài, từ chuyện giả gái đến giả giọng khắp Bắc Trung Nam, giả giọng các ca sĩ từ Tuấn Vũ, Tuấn Ngọc, Duy Khánh ... cho đến ... Thái Thanh ... vv ... Ngoài ra, trong một lần xem anh làm giám khảo trong chương trình Gương Mặt Thân Quen, tôi lại càng cảm phục, đến mức rưng rưng, khi nghe anh phân tích cho Hoài Lâm về cách đánh lưỡi phát âm nhả chữ “s” đặc trưng, do bị rụng răng lại vừa nhai trầu vừa hát, của nghệ nhân xẩm Hà Thị Cầu ... Tôi làm nghề có dính dáng chút đỉnh với nghệ thuật, nên hiểu rằng phải rất yêu nghề và chịu khó, cẩn thận và tinh tế thì mới có thể nhận xét nghiêm túc và chính xác đến như vậy. Nếu có nhiều kịch bản hay, sâu sắc và bổ ích thì tài năng của anh sẽ còn thăng hoa hơn nữa !
Nhưng khi nghe trong buổi họp báo công bố live show gần đây, Hoài Linh nói rằng “Hài mà không tục là mất gốc”, tôi ngạc nhiên, vì tôi nghĩ đến danh hài Charlie Chaplin ( vua hề Sác-lô ). Đương nhiên, so sánh Hoài Linh với Charlie Chaplin là khập khiễng, nhưng tôi đang muốn nói đến cái “gốc” của hài. Quả thật là từ xưa đến nay, dân tộc Việt Nam thường dùng “tục” để gây hài, ẩn nấp dưới cái kiểu lập lờ “đố tục giảng thanh”, nhưng nhiều khi quá dung tục, nhãm nhí, vô bổ, thậm chí là quá dơ dáy, thấp kém, độc hại ...
Charlie Chaplin có một tuổi thơ đầy bất hạnh với người cha nghiện rượu và người mẹ mắc bệnh tâm thần, nên đã phải lang thang lưu diễn từ khi còn rất nhỏ để kiếm sống. Đến khi thành danh, trong sự nghiệp của mình, ông đã kiêm nhiệm rất nhiều vai trò như diễn xuất, biên kịch, đạo diễn, soạn nhạc, biên tập, sản xuất cho hầu hết các phim. Phim hài của ông, như The Bond ( Công Trái - 1918 ) có nội dung tuyên truyền được tặng cho chính phủ Mỹ để gây quỹ cho Đồng Minh trong Thế Chiến I ; phim Shoulder Arms ( Vác Súng - 1918 ) được dựa trên bối cảnh chiến tranh ; phim The Kid ( Đứa Trẻ - 1921 ) mang nhiều yếu tố tự truyện, đề cập đến các vấn đề nghèo đói và chia cắt cha con ; phim The Gold Rush ( Cơn Sốt Vàng - 1925 ) được gọi là “một hài kịch hùng tráng sinh ra từ một chủ đề tàn nhẫn” ; phim Modern Times ( Thời Đại Tân Kỳ - 1936 ) là “một màn trào phúng về những giai đoạn nhất định trong đời sống công nghiệp của chúng ta”, “sự suy tưởng tàn nhẫn về sự tự động hóa cái cá nhân”, quan tâm đến hoàn cảnh người lao động, các vấn đề chính trị và hiện thực xã hội ; phim The Great Dictator ( Nhà Độc Tài Vĩ Đại - 1940 ) nhằm đả kích cả trùm phát-xít Adolf Hitler lẫn Benito Mussolini và chủ nghĩa dân tộc cực đoan ; phim Monsieur Verdoux ( Quý ông Verdoux - 1947 ) lên án chủ nghĩa tư bản, chiến tranh và vũ khí hủy diệt hàng loạt, đến độ ông từng bị cáo buộc là có cảm tình với cộng sản ; phim A King In New York ( Một Vị Vua Ở New York - 1957 ) chế nhạo nền chính trị Mỹ và công kích những yếu tố văn hóa của thập niên 1950 như chủ nghĩa tiêu dùng, phẫu thuật thẩm mỹ và phim màn ảnh rộng ... vv ... Người ta còn so sánh Charlie Chaplin với Adolf Hitler như là hai biểu tượng trái ngược, tuy có nhiều điểm tương đồng như sinh cách nhau có 4 ngày, đều vươn lên từ nghèo khổ rồi trở thành nổi tiếng thế giới, cùng để kiểu ria mép bàn chải ..., nhưng một “gây cười” và một “gây khóc” cho nhân loại. Ấy vậy nhưng xem phim hài của Charlie Chaplin người ta cũng có thể “khóc”, hay “cười ra nước mắt” ...
Chắc hẳn, hài của Charlie Chaplin thấm đẫm chất Nhân Văn - Nhân Bản.
Cái “gốc” của hài là ở đó chăng !?
Hài kịch cũng có giá trị giáo dục, thanh lọc và di dưỡng, có tác dụng đả kích trực diện những thói hư tật xấu của con người cũng như xã hội, tuy sâu cay nhưng nhờ có tiếng cười nên tạo thú vị, ít gây bất mãn và thù hằn ...
Ta cứ thử lấy ví dụ như vở hài kịch “Nghêu Sò Ốc Hến”, tất cả mọi người đều có thể nhận ra, tuy là ở các mức độ khác nhau do trình độ nhận thức, những tính cách bần tiện tham lam gian giảo của Trùm Sò, Lý Trưởng, Pháp Sư ..., những tính cách cửa quyền nhũng nhiễu ngu dốt của Quan Huyện, Thầy Đề, Lính Lệ ... Mà nếu dùng chính kịch chưa chắc đã lột tả sâu cay được những tính cách đó để đả kích trực diện những thói hư tật xấu của con người cũng như xã hội Phong Kiến, và chưa chắc vở chính kịch đó không bị kiểm duyệt hay bị cấm đoán.
Hiện nay, chuyện nhà nước tìm mọi cách, bất chấp phạm pháp và vi hiến, để ngăn cấm hài kịch “Táo Quân” hàng năm cũng cho thấy sự “đáng sợ” của hài kịch, và sự “thụt lùi” của chế độ hiện tại so với chế độ Phong Kiến !
Mới đây, nghe tin Hoài Linh nhận danh hiệu “nghệ sĩ ưu tú”, tôi lại càng ... lạnh người.
Bởi vì tôi biết ở Việt Nam hiện nay, các “văn nghệ sĩ - trí thức” phải tự làm hồ sơ và đơn “xin” để được nhà nước “xét duyệt” rồi “phong tặng” cho các “danh hiệu cao quý” : nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân, nhà giáo ưu tú, nhà giáo nhân dân ... vv ..., thậm chí có người còn phải chạy chọt để “mua” ...
Từ chuyện nay nhớ chuyện xưa, Học Giả Nguyễn Hiến Lê trong Hồi Ký của mình có kể rằng, dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, chính quyền có nhiều lần trao tặng cho Ông Kỷ Niệm Chương và Phần Thưởng ( bằng hiện kim ) để ghi nhận công lao đóng góp cho nền Văn Hóa nước nhà, và mời Ông cộng tác trong Bộ Quốc Gia Giáo Dục, nhưng Ông đã từ chối với lý do còn bất mãn với một số chính sách của chế độ và tự thấy mình chưa đóng góp được gì lớn lao cho xã hội, chính quyền cũng đành thôi mà cũng không gây khó dễ gì ...
Ở Miền Nam trước 1975, các Văn Nghệ Sĩ đều không phải “thi”, “diễn”, “xin” để được nhận các giải thưởng. Trách nhiệm xem xét và sàng lọc thuộc về công chúng và các hội đoàn xã hội, sau rốt mới đến chính quyền ...
Qua hai câu chuyện này, tôi có một số nhận xét :
1- Chính quyền thời trước đã làm đúng chức trách của mình, là phát hiện nhân tài, ghi nhận công lao, tưởng thưởng xứng đáng, và tùy tài bổ dụng ... Còn việc có nhận hay không là việc của họ, chính quyền phải tự xét lại mình có đủ tư cách để “phát hiện”, “ghi nhận”, “tưởng thưởng”, và “bổ dụng” ... hay chưa !? Cả người “cho” và người “nhận” đều giữ gìn và thể hiện được lòng tự trọng của mình.
Chính quyền thời nay thì lại đặt ra một cơ chế “xin - cho” một cách trịch thượng, tự cho mình cái quyền “toàn trị”, ban phát trên mọi lĩnh vực, phản ánh một não trạng u tối và thấp kém ... Cả người “cho” và người “xin” đều nhục cả !
2- Về phía Văn Nghệ Sĩ - Trí Thức, nếu là “chân chính”, với danh dự và tự trọng, thì không ai lại đi làm cái việc “xin” danh hiệu cả.
Nay, các loại “sĩ - sư - gia - giả”, nhiều nhan nhản, có tự thấy phải “xin”, thậm chí “mua”, như vậy là đớn hèn và nhục nhã không ... !?! ...
Hay là các loại “sĩ - sư - gia - giả” rất đồng tình và thỏa mãn với những chính sách của chính quyền và tự thấy mình đã có những đóng góp lớn lao cho xã hội ... !?! ...
3- Nhìn ra thế giới, tôi chắc rằng nhà nước Pháp khi trao tặng Bắc Đẩu Bội Tinh, nhà nước Anh khi phong tặng Tước Hiệu Hiệp Sĩ ..., không ai làm theo cái cơ chế “xin - cho” như ở ta hiện nay. Có lẽ nhờ vậy mà họ Văn Minh chăng !? Hay là bởi vì họ Văn Minh nên mới như vậy !?
4- Ở các nước Văn Minh, giới Chính Trị Gia thường hay kết thân với giới Văn Nghệ Sĩ - Trí Thức, vì ở các nước đó, Văn Hóa dẫn đường cho Chính Trị ... Văn Nghệ Sĩ - Trí Thức là những con người “anten” cực kỳ nhạy cảm trước những tín hiệu biến chuyển của xã hội, là những người luôn đi tiên phong trong các trào lưu tư tưởng mới ... Gần họ, giới Chính Trị tiếp thu các tín hiệu xã hội và kịp thời điều chỉnh hay vạch ra các sách lược, chiến lược, chính sách cho phù hợp với sự phát triển của xã hội !
5- Văn Nghệ Sĩ - Trí Thức Việt Nam ngày nay dường như vẫn còn đang chìm đắm trong “bi kịch” với những “sầu cổ độ”, “vạn cổ sầu”, “nỗi buồn muôn năm cũ” ... của thời “tiền chiến”, vẫn cứ quanh quẩn lê la ở những “phố nhỏ, ngõ nhỏ”, “quán cóc liêu xiêu” ..., để rồi mỏi mòn với “thương nhớ đồng quê”, lay lắt với “nỗi buồn phố thị” ; còn “hài kịch” thì vẫn mang hơi hướm của những “Trạng Quỳnh”, “Trạng Lợn”, “Xiển Bột”, “Ba Giai Tú Xuất” ... và ngày càng dung tục, kệch cỡm, rẻ rúng ...
Cho đến nay, người Việt Nam vẫn cứ hình dung “nghệ sĩ” là phải “lãng mạn”, “bay bướm”, “đi mây về gió” ... Họ ngạc nhiên khi thấy Văn Nghệ Sĩ - Trí Thức nhạy cảm, quan tâm với thời cuộc, chính trị ... Chính quyền thì dường như lo sợ, và theo dõi, không phải để tiếp thu, học hỏi, mà để ngăn ngừa, khủng bố ...
Năm điều trên cho thấy Xã Hội Việt Nam vẫn còn cách xa “Cánh Cửa Văn Minh” lắm ! Chưa biết đến ngày nào, giới Văn Nghệ Sĩ - Trí Thức Việt Nam mới có thể đưa được Xã Hội Việt Nam đến bên “bậc thềm” của nó ... !?! ...

Hơn nữa, tôi vốn “dị ứng” với chữ “XIN”.
Như một thông lệ, người Việt mỗi khi viết đơn, hay trong các mẫu đơn in sẵn, bán sẵn, sau chữ ĐƠN thường tiếp liền theo là chữ XIN, như :
- ĐƠN XIN CHỨNG NHẬN ...
- ĐƠN XIN NHẬP HỌC ...
- ĐƠN XIN VIỆC LÀM ...
- ĐƠN XIN TẠM TRÚ / THƯỜNG TRÚ / NHẬP HỘ KHẨU ...
- ĐƠN XIN CẤP PHÉP SỬA / XÂY NHÀ ...
- ĐƠN XIN CẤP GIẤY KHAI SANH / KHAI TỬ / MAI TÁNG ...
- ĐƠN XIN ... vv ... và ... vv ...
Đủ thứ phải XIN, từ lúc sinh ra cho đến lúc chết đi ...
Tại sao phải XIN ... !? ... Đây là thời đại DÂN CHỦ, DÂN QUYỀN ..., DÂN làm CHỦ, QUYỀN LỰC thuộc về NHÂN DÂN ... kia mà ...
Đã XIN, tất phải có người CHO, có QUYỀN LỰC để CHO ... Và người XIN phải NĂN NỈ, KHẨN CẦU, ĐÚT LÓT ... ; người CHO thì BAN PHÁT, HOẠNH HỌE, NHŨNG NHIỄU ...
Tại sao không là :
- ĐƠN ĐỀ NGHỊ CHỨNG NHẬN ...
- ĐƠN ĐỀ NGHỊ NHẬP HỌC ...
- ĐƠN ĐỀ NGHỊ VIỆC LÀM ...
- ĐƠN YÊU CẦU TẠM TRÚ / THƯỜNG TRÚ / NHẬP HỘ KHẨU ...
- ĐƠN YÊU CẦU CẤP PHÉP SỬA / XÂY NHÀ ...
- ĐƠN YÊU CẦU CẤP GIẤY KHAI SANH / KHAI TỬ / MAI TÁNG ...
... vv ...
Và đến :
- ĐƠN KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI / THỰC THI / CHẤP HÀNH HIẾN PHÁP - PHÁP LUẬT ...
- ĐƠN KIẾN NGHỊ TỪ NHIỆM / MIỄN NHIỆM / BÃI NHIỆM CÁC CÔNG CHỨC / BAN / NGÀNH / BỘ / CHÍNH PHỦ ...
Đã ĐỀ NGHỊ, YÊU CẦU, KIẾN NGHỊ ..., thì tất phải có người có CHỨC TRÁCH, TRÁCH NHIỆM, BỔN PHẬN, PHẬN SỰ, KHẢ NĂNG, NĂNG LỰC ... giải quyết thỏa đáng những điều đó ... "Người" đó chính là nhà nước, và công chức nhà nước, công bộc ... Nếu không làm được, thì hãy tự giác TỪ NHIỆM, hay bị công dân MIỄN NHIỆM, BÃI NHIỆM ...
Chung quy cũng chỉ là do ở cái chữ XIN, đã đẻ ra cái cơ chế XIN - CHO, làm HÈN cả một DÂN TỘC ...
( Nhân đây, Tôi
ĐỀ NGHỊ, YÊU CẦU, KIẾN NGHỊ ... :
NGƯỜI VIỆT NAM, TỪ CÔNG DÂN CHO ĐẾN CÔNG CHỨC, TỪ NAY KHÔNG DÙNG CHỮ “XIN” TRONG BẤT CỨ ĐƠN TỪ NÀO NỮA, NGOẠI TRỪ “ĐƠN XIN BỊ CÚI ĐẦU LÀM THẦN DÂN NÔ LỆ” !
Bỏ chữ “XIN” trong đơn từ, là cách để chính chúng ta hôm nay và con cháu chúng ta mai sau ĐƯỢC NGẨNG ĐẦU LÀM CÔNG DÂN TỰ DO )

Nghệ Thuật cũng chia sẻ những phạm trù chung của Triết Học : VẬT CHẤT & Ý THỨC, HÌNH THỨC & NỘI DUNG, HIỆN TƯỢNG & BẢN CHẤT, NGUYÊN NHÂN & KẾT QUẢ, NGẪU NHIÊN & TẤT NHIÊN, KHẢ NĂNG & HIỆN THỰC, CÁI RIÊNG & CÁI CHUNG ...
Nghệ Sĩ, do thôi thúc nội tại, xung động nội tâm, đi giữa hai bờ VẬT CHẤT & Ý THỨC, HÌNH THỨC & NỘI DUNG, HIỆN TƯỢNG & BẢN CHẤT, NGUYÊN NHÂN & KẾT QUẢ, NGẪU NHIÊN & TẤT NHIÊN, KHẢ NĂNG & HIỆN THỰC, CÁI RIÊNG & CÁI CHUNG ... để sáng tạo.
Nguyễn Công Hoan viết Kép Tư Bền :
“Vinh dự thay, anh kép Tư Bền ! Nhưng mà khốn nạn thân anh !
Người ta biết đâu rằng hiện giờ này, ở nhà, cha anh đương dở chứng khò khè, chỉ chờ từng phút để thở một hơi nữa là hết nợ, và ở trong buồng trò, anh cũng đương nẫu ruột nhầu gan.
Thật vậy, ai ngó vào trong buồng trò mới thấy được cái khổ tâm của anh Tư Bền. Anh ngồi ủ rũ trước cái gương, bụng thì rối beng, mặt thì nhăn nhó, nhưng tay vẫn phải sờ vào hộp phấn hồng để đánh mặt, quệt vào đĩa mực để bôi nhọ cái mồm. Rồi anh lại phải mặc trái cái áo lụng thụng thêu, lận đôi hia xanh và đội cái mũ cánh chuồn ngược. Anh đóng vai này, trông ra phết, giàu sang sung sướng. Chốc nữa, anh còn phải làm cho chủ anh bằng lòng, các bạn anh trông anh mà gắng sức, các khán quan được một phen cười vỡ bụng, vỗ rát tay kia mà !
Nhưng mà cha anh Tư Bền sắp chết ! Ban nãy, lúc anh ở nhà ra đi, đã thấy nguy lắm rồi. Thôi ! Nhưng mà mặc kệ. Anh phải quên đi, mà bông, mà đùa, mà pha trò trên sân khấu, cho chúng tôi cười, hét lên mà cười, cười đến nỗi phải lăn cả ra đất chứ ?”
Hay như Pablo Picasso vẽ những anh hề của gánh xiếc rong :




Đều là những hình ảnh chất chứa những nỗi niềm thống khổ hay bất an vô định, đối nghịch với những cảnh trí huy hoàng và sắc màu rực rỡ ...
Có câu chuyện Hà Chính Mãnh Ư Hổ, kể về những người dân đã phải vô rừng sống thà chấp nhận số phận rủi ro bị hổ ăn thịt còn hơn phải sống dưới những chính sách hà khắc của chính quyền, Hoài Linh và gia đình cũng đã từng phải rời bỏ đất nước để tránh những chính sách hà khắc “học tập cải tạo”, “đánh tư sản”, “kinh tế mới”, “lý lịch” ... của chính quyền.
Nay, cái chính quyền ấy, là cái chính quyền vẫn ngăn cấm hài kịch “Táo Quân” hàng năm, cũng là cái chính quyền vừa “phong tặng” cho anh cái danh hiệu “nghệ sĩ ưu tú”, liệu đã hết hà khắc hay chưa !?!
Để trả lời cho câu hỏi đó một cách khách quan trên bình diện xã hội, cần phải liên tưởng đến một loại chế độ chính trị, mà từ cuối những năm 1940, Ivan Alexandrovich Ilyin - một nhà tư tưởng, nhà luật học và chính trị học lớn của Nga - đã viết bài báo “BÀN VỀ CHẾ ĐỘ TOÀN TRỊ” :
“Cách đây ba mươi năm không ai có thể nghĩ đến việc đưa vào khoa luật học khái niệm “nhà nước toàn trị” : không phải vì rằng ý kiến về một nhà nước như thế chưa từng xuất hiện ( nói thế là sai ! ), mà một chế độ như thế có vẻ như không thể nào khả thi được và không ai dám làm như thế. Nếu có một kẻ nào đó “bịa” ra nó ( thí dụ như nhân vật Sigalev trong Lũ Người Quỷ Ám của Dostoievsky ! ) thì mọi người sẽ nói ngay : trên trái đất không làm gì có những kẻ bất lương và ngu xuẩn như thế, không thể có những cơ quan nhà nước khủng khiếp đến như thế, cũng không đào đâu ra phương tiện kỹ thuật để có thể xây dựng nên một cơ chế chính trị bao trùm lên tất cả, thâm nhập vào tất cả và cưỡng bức được tất cả mọi người như thế. Nhưng nay thì chế độ toàn trị đã hiện hữu như là một sự kiện lịch sử và chính trị và chúng ta buộc phải tính đến : người đã có, các cơ quan đang được xây dựng và kỹ thuật cũng đã sẵn sàng.
Chế độ toàn trị là gì ? Đấy là chế độ chính trị can thiệp một cách vô giới hạn vào đời sống của các công dân, một chế độ tìm cách quản lý và điều tiết một cách thô bạo toàn bộ hoạt động của tất cả các thần dân của mình. Từ “totus” trong tiếng Latinh có nghĩa là “toàn bộ”. Nhà nước toàn trị nghĩa là nhà nước bao trùm lên tất cả. Nó xuất phát từ quan niệm rằng sáng kiến cá nhân không những là không cần thiết mà còn có hại, tự do là khái niệm nguy hiểm và không thể chấp nhận được. Có một chính quyền trung ương : chính quyền này phải biết hết, dự đoán hết, lập kế hoạch hết và chỉ đạo hết. Nhận thức pháp luật thông thường xuất phát từ quan điểm : cái gì không cấm thì đều được phép làm, trong khi chế độ toàn trị nhồi sọ vào đầu óc người ta điều ngược lại : tất cả những gì chưa có quy định thì đều bị cấm. Trong khi nhà nước bình thường bảo : mỗi người đều có lĩnh vực quan tâm riêng, trong lĩnh vực đó người ta được tự do, thì nhà nước toàn trị tuyên bố : chỉ tồn tại quyền lợi của nhà nước, mỗi người phải có trách nhiệm gắn bó với quyền lợi ấy. Trong khi nhà nước bình thường cho phép : tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do xây dựng cuộc sống theo ý mình thì nhà nước toàn trị yêu cầu : suy nghĩ theo quy định, không được theo tôn giáo, xây dựng đời sống nội tâm theo chỉ đạo của cấp trên. Nói cách khác : ở đây người ta quản lý tất, con người bị nô dịch về mọi phương diện, tự do trở thành tội lỗi và bị trừng phạt.
Như vậy bản chất của chế độ toàn trị không phải nằm ở hình thức nhà nước ( dân chủ, cộng hòa hay độc tài ) mà ở khối lượng công việc quản lý : quản lý toàn diện các mặt của đời sống. Nhưng sự quản lý toàn diện như thế chỉ có thể thực hiện được dưới một chính thể chuyên chế nhất quán, dựa trên cơ sở thống nhất về quyền lực, một chính đảng duy nhất, sự độc quyền về sử dụng lao động, tất cả mọi người phải theo dõi và tố cáo lẫn nhau và một chế độ khủng bố tàn bạo. Cách tổ chức quản lý như thế có thể khoác cho bộ máy nhà nước bất kỳ hình thức nào, đấy có thể là chế độ Xô-viết hay liên bang, cộng hòa hay bất kì hình thức nào khác cũng được. Điều quan trọng không phải là hình thức nhà nước mà là tổ chức quản lý bao trùm lên tất cả, từ một căn phòng trong thị xã cho đến một túp lều ở nông thôn, từ tâm hồn của một cá nhân cho đến một phòng thí nghiệm khoa học, từ ý tưởng bay bổng của một nhạc sĩ cho đến phòng điều trị trong một bệnh viện, một thư viện, một tờ báo, một con thuyền đánh cá cho đến phòng xưng tội trong một nhà thờ.
Như thế có nghĩa là chế độ toàn trị không dựa trên các đạo luật căn bản mà tồn tại trên cơ sở các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn của đảng. Vì không có luật cho nên chỉ thị của đảng chính là luật. Vì về hình thức các cơ quan nhà nước vẫn còn nên các cơ quan này chỉ là bình phong cho chế độ chuyên chế của đảng mà thôi. Các “công dân” cũng vẫn còn nhưng đấy thực chất chỉ là chủ thể của những nghĩa vụ ( không phải là quyền ! ) và đối tượng của các chỉ thị và nghị quyết của đảng ; nói cách khác : cá nhân con người chỉ là những cỗ máy, chỉ là những kẻ truyền bá nỗi sợ hãi và giả vờ trung thành với chế độ. Đây là một chế độ mà trong đó không có chủ thể của pháp luật, không có luật pháp, không có nhà nước pháp quyền. Ở đây nhận thức pháp lý được thay thế bằng các cơ chế tâm lý : đói khát, sợ hãi, đau khổ và nhục mạ, còn lao động sáng tạo được thay bằng lao động cưỡng bách của thời kỳ chiếm nô.
Vì vậy chế độ toàn trị không phải là chế độ nhà nước cũng chẳng phải là chế độ pháp trị. Nó được những người duy vật lập ra và tồn tại dựa trên cơ chế phi nhân và nô dịch “thể xác - tâm hồn” ; dựa trên những mệnh lệnh có tính đe dọạ giữa cai ngục và nô lệ, dựa trên những mệnh lệnh tùy tiện của cấp trên. Đấy không phải là một nhà nước có công dân, có pháp luật và chính phủ ; đấy là một xã hội đã bị thôi miên ; đấy là một hiện tượng kinh khủng và chưa từng có trong lịch sử, là một xã hội được cố kết bởi nỗi sợ hãi, bản năng và sự tàn bạo chứ không phải bởi luật pháp, tự do, lương tri, quyền công dân và nhà nước.
Nếu vẫn phải nói về hình thức của tổ chức này thì đấy không phải là pháp trị, cũng chẳng phải là vô pháp mà là chế độ chuyên chế chiếm nô rộng lớn chưa từng có và cũng bao trùm chưa từng có.
Nhà nước pháp quyền đặt cơ sở trên sự công nhận con người cá nhân, một cá nhân có tâm hồn, được tự do và tự chủ về lương tâm và công việc của mình, nghĩa là nhà nước đặt cơ sở trên sự nhận thức pháp lý đúng đắn. Chế độ toàn trị, ngược lại, dựa vào sự đe dọa. Dân chúng bị đe dọa đủ thứ : thất nghiệp, thiếu thốn, chia lìa với người thân, chết chóc, bắt bớ, tù đày, thẩm vấn, lăng mạ, đánh đập, tra tấn, lưu đầy, chết trong trại cải tạo vì đói, rét và lao động khổ sai. Dưới áp lực của những nỗi sợ hãi như thế họ còn bị thôi miên : phục tùng tuyệt đối, thế giới quan duy vật, vô thần, thường xuyên tố giác, sẵn sàng chấp nhận mọi điều dối trá và phi đạo đức, chấp nhận sống trong cảnh đói rét và làm lụng đến kiệt sức. Hơn thế nữa, họ còn bị thôi miên về nhiệt tình cách mạng và cảm giác về tính ưu việt so với tất cả các dân tộc khác ; nói một cách khác : thói tự mãn về sự điên rồ và ảo tưởng về thành công của chính mình. Dưới ảnh hưởng của sự thôi miên mang tính khủng bố như thế họ trở thành những người tin tưởng mù quáng vào chủ nghĩa cộng sản phi tự nhiên, tự cao tự đại và coi thường tất cả những gì không phải là Nga ( Xô-viết ! Cộng sản ! )
Quá trình thôi miên diễn ra đã lâu, hàng chục năm, bao nhiêu thế hế ; nó đã làm băng hoại tâm hồn con người ; họ không còn biết nguồn gốc của nó, họ không còn hiểu từ đâu ra cái thói kiêu ngạo ấy ; một số người trong bọn họ khi ra nước ngoài vẫn còn phiêu lãng trong trạng thái tâm lý toàn trị bệnh hoạn, không tin ai và khinh thường những người di cư trước đây và thỉnh thoảng lại rơi vào những cơn co giật của thói tự mãn. Đấy là hậu quả của ba mươi năm thôi miên, chỉ có thể xoá bỏ một cách từ từ. Đấy là những nét đặc trưng của cái chế độ quái gở và bệnh hoạn đó."
( Phạm Nguyên Trường dịch ).
Nếu là một Nghệ Sĩ đích thực hoạt động trong lĩnh vực Văn Hóa, có lẽ cần phải biết và hiểu :
- VĂN HÓA DẪN ĐƯỜNG CHO CHÍNH TRỊ, chứ không phải ngược lại !
- CẢI CÁCH CHÍNH TRỊ PHẢI ĐƯỢC TIẾN HÀNH SONG SONG VỚI CẢI CÁCH VĂN HÓA, VÀ PHẢI DỰA TRÊN NHỮNG THÀNH TỰU CỦA CẢI CÁCH VĂN HÓA ! ( - Về Trí Thức Nga - ).
- TRÍ THỨC LÀ NGƯỜI CÓ TINH THẦN PHÊ PHÁN ! ( - Về Trí Thức Nga - ).
- QUỐC GIA HƯNG VONG, THẤT PHU HỮU TRÁCH !
- TƯỚC HỮU NGŨ, SĨ CƯ KỲ LIỆT
DÂN HỮU TỨ, SĨ VI CHI TIÊN !
Những ai luôn thích khoác lên mình những “chiếc áo” có đính những chữ “sĩ - sư - gia - giả” lấp lánh và sang trọng, xin hãy biết rằng, những chiếc áo Sĩ - Sư - Gia - Giả thật sự rất rộng và rất nặng, hàm chứa bên trong đó là TRI THỨC rất rộng lớn và TRÁCH NHIỆM rất nặng nề, nó sẽ gây vướng víu hay đè bẹp những ai không đủ “tầm vóc” ... !!! ...
“SĨ” ĐÃ ĐỚN HÈN THÌ CẢ DÂN TỘC SẼ ĐỚN HÈN !!!

Phần nhận xét hiển thị trên trang