Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2017

Tại sao những người học cao thường có tư tưởng tự do?


Tác giả: Biên dịch: Ngô Việt Nguyên | Hiệu đính: Nguyễn Huy HoàngNguồn: Neil Gross, “Why Are the Highly Educated So Liberal?The New York Times, 13/05/2016.
KD: Là bởi đầu óc họ tư duy luôn vận động, khám phá và không chịu thỏa mãn những gì đang có ở thực tiễn nhiều khi thành vòng kim cô đối với tư tưởng họ.
————-

Đối với những người quảng bá cho quan điểm phải coi giáo dục là một thị trường thì lo lắng như vậy là quá nhiều. Thị trường tuân theo qui luật cung cầu. Nếu có người cần mua thì bán, còn khách hàng làm được gì với sản phẩm là chuyện của họ. Qui luật thị trường sẽ tự điều chỉnh mối quan hệ cung cầu và ổn định nhu cầu xã hội.
Nhiều người không nhất trí với quan điểm thị trường kể trên, nhưng cũng ủng hộ việc mở rộng qui mô đào tạo. Dù không thể biến tất cả sinh viên yếu thành cử nhân với chất lượng “tàm tạm”, nhưng cũng góp phần nâng cao dân trí. Hơn nữa, nếu được dung nạp vào các trường đại học thì sẽ giảm bớt số lượng thanh niên vừa rời khỏi trường phổ thông nhưng chưa biết làm gì, dễ sinh ra lêu lổng.
Đấy là chưa kể đến nhu cầu đào tạo cán bộ cho các địa phương, cho vùng sâu, vùng xa. Nhiều tỉnh cũng muốn lập trường đại học riêng. Lợi thì nhiều, ít nhất sẽ dễ chi phối đầu vào để giải quyết nỗi lo canh cánh của nhiều quan chức.
Ai cũng có lý. Những lý nói ra được và cả những lý không nói ra được. Thành thử lớp lớp mở ra, người người đi học. Bên cạnh hàng chục vạn sinh viên phải vượt qua kỳ thi tuyển quốc gia để bước vào cổng trường đại học, còn có một lực lượng hùng hậu đi tắt đón đầu trong đội hình tại chức, đào tạo từ xa và cử tuyển.

… và chất lượng

Điều đáng lo ngại là khi qui mô đào tạo phình ra thì chất lượng tụt xuống quá thấp. Những bài giảng chiếu lệ, bớt giờ lại được sinh viên nhiệt liệt hưởng ứng, bởi lẽ như vậy thì thi càng dễ – một cách nghĩ phổ biến khi mà kiến thức không còn là mục tiêu chính để phấn đấu. Về hình thức, điểm học của sinh viên vẫn cao, hằng năm vẫn có nhiều sinh viên tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc. Nhưng những đánh giá ấy đáng tin cậy đến đâu? Một luận văn được cóp lộn xộn từ mấy tài liệu khác nhưng không bị lên án về tính trung thực, hội đồng chấm cho điểm 9,5 trong khi chỉ đáng một nửa, vậy mà tác giả còn được thầy hướng dẫn chia buồn vì không được điểm tối đa. Những chuyện tương tự không hiếm, nên nhiều khi điểm thể hiện tư cách người thầy hơn là trình độ của sinh viên.
Dư luận kêu ca về tình hình giáo dục nước nhà, song thường chỉ đề cập đến giáo dục phổ thông, trong khi giáo dục đại học cũng ở mức báo động từ lâu rồi. Các thầy cô hay phàn nàn sinh viên lười và dốt, nhưng lại ít trăn trở về một yếu tố quyết định hơn, đó là trình độ và đạo đức nghề nghiệp của giảng viên. Đúng là nước ta có nhiều thầy giỏi và tốt. Nhưng tỷ lệ được bao nhiêu và có đủ để đảm bảo cho chất lượng của hệ thống đào tạo đại học hay không?
Để xứng đáng dạy đại học, giảng viên phải thường xuyên dành nhiều thời gian tự học, bổ sung những kiến thức kinh điển mà mình còn thiếu và cập nhật những kiến thức mới mẻ nhằm theo kịp sự phát triển của khoa học và công nghệ. Tiếc rằng thời gian tự học của giảng viên ta quá ít, mặc dù trình độ chung còn lâu mới đáp ứng được yêu cầu. Một nguyên nhân quan trọng là qui mô đào tạo quá rộng, dẫn đến thời gian lên lớp quá nhiều. Thêm vào đó, những giáo trình có sẵn, đơn giản và ít thay đổi cũng khiến nhiều người ỷ lại, chỉ học một lần rồi giảng suốt mười năm.
Trong khi ở nhiều nước, nghiên cứu khoa học được dùng để đánh giá chất lượng các trường đại học, thì ở ta phần lớn giảng viên đại học không tham gia nghiên cứu (theo đúng nghĩa quốc tế). Một số người chẳng còn thời gian để nghiên cứu, số khác thì chưa bao giờ học nghiên cứu một cách thực sự. Cho nên, đòi hỏi họ phải dạy cho sinh viên tập nghiên cứu nhiều khi là điều không tưởng.
Nhằm khắc phục tình trạng giảng dạy và nghiên cứu ở các trường đại học, người ta đề nghị đưa các viện nghiên cứu cơ bản về các trường đại học. Liệu giải pháp ấy sẽ đem lại gì? Ví dụ: Nếu chia đều cán bộ nghiên cứu của Viện Toán học về các trường đại học và cao đẳng quanh khu vực Hà Nội thì mỗi trường cũng chỉ có thêm được một người. Liệu một người có đủ để giảm tải thời gian lên lớp và tạo ra phong trào nghiên cứu toán học ở trường ấy không? Hay kết quả đáng kể nhất là làm tan biến một tập thể nghiên cứu mà mấy chục năm phấn đấu với sự giúp đỡ to lớn của bè bạn quốc tế mới xây dựng được? Để khỏi tan, có ý kiến đề nghị đưa nguyên cả Viện Toán học về một trường đại học. Như vậy có thể có tác dụng tốt cho riêng trường ấy, nhưng ảnh hưởng gì đến hàng trăm trường khác?
Cần tìm giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu ngay trong chính các trường đại học. Trước hết phải hạn chế số giờ lên lớp ở mức độ hợp lý để giảng viên có thời gian nâng cao trình độ và tham gia nghiên cứu khoa học. Đồng thời phải có những qui định mang tính bắt buộc và biện pháp động viên thích hợp để thúc đẩy giảng viên làm tốt hai nhiệm vụ đang bị lơ là này.
Phải rất nghiêm túc và quyết tâm phấn đấu trong một thời gian dài thì mới hy vọng có thể củng cố và phát triển đội ngũ giảng viên đại học cho tương xứng với qui mô đào tạo hiện nay. Không còn con đường nào khác, nếu nhận thức rằng chất lượng giáo dục là một yếu tố quyết định số phận của cả dân tộc.
Làm ra một máy công cụ không đủ chất lượng thì phải bỏ đi, nếu cố dùng thì chỉ lãng phí vật liệu để sản xuất ra phế phẩm, đôi khi lại gây ra tai nạn. Sản phẩm giáo dục tồi thì tệ hại hơn vì không thể hủy đi, và có thể có ngày “sản phẩm” ấy sẽ ngoi lên được vị trí quan trọng, gây ảnh hưởng xấu cho cộng đồng. Bàn thêm như vậy để thấy đây không phải là điều có thể tặc lưỡi bỏ qua.
Nhu cầu và đáp ứng
Nhu cầu thì có nhiều loại, nhưng không phải loại nào cũng chính đáng và nên thỏa mãn. Con bạn có nhu cầu nghiện hút, liệu có nên chiều không? Bây giờ có nhiều người đi học nhưng không định học, chẳng màng kiến thức mà chỉ định kiếm mảnh bằng, để làm vỏ bọc tiến thân, hay dụng cụ ảo thuật, hay chỉ đơn thuần là có tí danh. Hiếu danh được ngụy trang bằng hiếu học. Có đáng hy sinh chất lượng giáo dục đại học vì đối tượng này hay không?
Nếu vì nâng cao dân trí và thỏa mãn nhu cầu kiến thức thì có thể mở ra hình thức đại học nhân dân, trong đó ai muốn hiểu thêm về lĩnh vực nào thì cứ đăng ký tham gia, học được gì tự mình biết lấy, cuối khóa học không có bằng chứng thực. Ở nhiều nước loại hình này thu hút rất đông học viên, nhất là những người lớn tuổi. Ở ta, nếu chỉ cung cấp kiến thức chứ không cấp bằng, chẳng hiểu còn bao người theo học? Nhưng sự hiện diện của một cơ sở đào tạo như vậy sẽ giúp cho những người có thiện ý đỡ phân vân và nhiều người bớt ngụy biện.
Nếu coi nhu cầu trang trí bằng cấp là chính đáng, bất chấp kiến thức kèm theo, thì cũng chẳng cần dùng đến các trường đại học để phải mở rộng qui mô. Trên internet vẫn xuất hiện đầy những quảng cáo theo kiểu: “Không phải học, không phải thi, không phải viết luận văn – Bạn có thể nhận được bằng cử nhân, hay thạc sĩ, hay tiến sĩ của bất cứ ngành nào mà bạn muốn.” Chỉ cần nộp ít tiền thì chẳng mấy lúc sẽ có 5-6 bằng tiến sĩ, của nước ngoài hẳn hoi. Đã có lần báo chí ngợi ca một trường hợp như vậy.
Xin trao đổi thêm đôi chút về phương diện quản lý xã hội. Nhiều thanh niên có thể trở thành những người lao động giỏi, thậm chí là xuất sắc, đóng góp cho xã hội còn hơn hẳn những kỹ sư làng nhàng. Nhưng nếu cho họ vào đại học thì không tiếp thu nổi. Được chiếu cố mảnh bằng thì chỉ thêm ngộ nhận, kéo dài thời gian lang thang thử nghiệm, cho đến khi lãng phí hết tuổi xuân lại phải bỏ nghề (cái nghề thực ra chưa bao giờ có) để kiếm kế sinh nhai. Trong hoàn cảnh đó có bao gia đình nghèo, bán hết gia súc, ruộng vườn và vay nợ cho con ăn học với hy vọng đổi đời, để rồi cuối cùng tiền mất tật mang. Với những trường hợp như vậy, có thể coi việc mở rộng cửa trường đại học là sự giúp đỡ cao thượng hay không? Tác dụng xã hội là giảm bớt số thanh niên lêu lổng cũng chỉ xuất hiện tạm thời trong mấy năm đầu thực hiện chính sách mở cửa, còn sau đấy thì đâu lại vào đó, chỉ biến một số thanh niên lêu lổng thành cử nhân lang thang mà thôi.
Bàn thêm như vậy để bớt mơ mộng và huyễn hoặc thôi, chứ không phải đòi hỏi bộ máy quản lý phải cân đối và tối ưu mọi mặt. Muốn điều khiển toàn diện và triệt để thì phải hiểu thấu đáo tình hình, cả trong nước lẫn quốc tế, cả hiện tại lẫn tương lai. Nhưng đấy là điều không tưởng, vì xã hội quá đa dạng và sự phát triển của nó quá phức tạp, dù muốn, dù cố cũng không thể bao quát hết được. Không hiểu mà can thiệp quá nhiều thì ảnh hưởng xấu sẽ nhiều hơn tốt.
Về lâu dài, mở rộng qui mô đào tạo đại học là một điều tất yếu. Trước mắt vẫn còn nhiều nhu cầu chính đáng của xã hội và đòi hỏi bức thiết của nền kinh tế chưa được đáp ứng. Nên khi cần thì vẫn phải mở thêm trường, thêm lớp, nhưng phải thận trọng, mở đến đâu chắc đến đấy. Đồng thời cũng phải xóa bỏ những nơi và hình thức đào tạo không còn xứng đáng tồn tại. Tiêu chuẩn đánh giá quan trọng nhất phải là chất lượng đào tạo. Cơ sở quyết định quan trọng nhất phải là năng lực thực tế của đội ngũ giảng viên.
Lý do chính khiến ta chưa thể mở rộng, thậm chí còn phải thu hẹp qui mô đào tạo đại học, là số lượng và chất lượng của đội ngũ giảng viên chưa đáp ứng được qui mô hiện nay. Điều này còn chính yếu hơn và bế tắc hơn nhiều so với chất lượng đầu vào và khó khăn về kinh phí. Khi không có đủ thầy thì chẳng thể bàn tới chuyện thỏa mãn nhu cầu đi học của xã hội. Để dễ hiểu, xin liên hệ với thị trường hàng hóa. Đúng là có cầu thì cung, có mua thì bán. Nhưng chỉ có thể cung khi người bán có hàng, mà là hàng đảm bảo chất lượng. Không có hàng hoặc chỉ có hàng giả kém chất lượng mà vẫn bán là lừa đảo. Nếu bộ máy quản lý làm ngơ thì vô trách nhiệm, còn nếu lại ra quyết định phải bán hàng trong khi chỉ có hàng giả thì không thể nào chấp nhận được. Khi coi giáo dục là một thị trường thì hàng hóa là kiến thức mà đội ngũ giảng viên thực có. Số lượng hàng hóa lệ thuộc vào số lượng giảng viên và thời gian họ có thể làm việc “tử tế”. Chất lượng hàng hóa phụ thuộc vào trình độ giảng viên và thời gian được dành để truyền thụ kiến thức cho mỗi lớp sinh viên. Khi không đủ giảng viên có trình độ để đảm bảo chất lượng của tất cả các giờ dạy mà vẫn tuyển sinh, mở lớp thì chẳng khác gì bày bán hàng giả! Trớ trêu thay: chẳng ai dám bán một chiếc kẹo cao su cho hai “thượng đế”, thế mà tên một số thầy lại hay được chưng ra để mở quá nhiều trường nhiều lớp.

Mấy kiến nghị cụ thể

  1. Nhà nước cần xây dựng quy hoạch dài hạn cho sự phát triển của qui mô đào tạo đại học, trong đó không chỉ dựa vào nhu cầu học tập của xã hội và đòi hỏi nhân lực của nền kinh tế, mà đặc biệt chú ý tới hiện trạng của đội ngũ giảng viên và khả năng đào tạo giảng viên bổ sung. Do ta không có nguồn dự trữ (như ở nhiều nước phát triển) và phải mất từ 5 đến 10 năm mới có thể đào tạo một người đã tốt nghiệp đại học loại giỏi trở thành giảng viên đại học có trình độ, nên muốn tăng qui mô đại học thì phải sớm  có chính sách phù hợp để thu hút người giỏi và bắt đầu đào tạo giảng viên bổ sung từ 7-8 năm trước đó. Xây dựng cơ sở vật chất thì có thể vay vốn để hoàn thành trong một thời gian ngắn, nhưng nhân lực trí thức thì không thể vay mượn của ngân hàng mà cần phải đào tạo trong thời gian dài. Vì vậy không thể bỗng chốc lại tùy tiện đưa ra quyết định thành lập một trường đại học.
  2. Khi xét duyệt đề án thành lập mới một cơ sở đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo nên kiểm tra kỹ phương án tuyển dụng giảng viên. Mỗi trường cần có một số lượng giảng viên khung tối thiểu để có thể chủ động đảm bảo chương trình giảng dạy trong mọi tình huống. Đối với giảng viên thuê ở ngoài, cần có đăng ký cụ thể là dạy bao nhiêu thời gian. Phải có biện pháp kiểm tra và quản lý tổng số giờ lên lớp của từng giảng viên (thực hiện ở tất cả các trường mà người ấy tham gia), tránh tình trạng dạy quá tải, gây hậu quả xấu cho chất lượng. Trong hoàn cảnh thiếu giảng viên đủ trình độ, không thể cho thành lập quá nhiều trường rồi để mặc các trường tự thân vận động. Chỉ có cái chăn vừa hẹp lại vừa mỏng, cố kéo lên che đầu sẽ hở chân, giằng co thì cuối cùng rách toặc.
  3. Để phục vụ cho việc qui hoạch đào tạo giảng viên và quản lý hoạt động của các trường, nên tiến hành khảo sát, thống kê và lập cơ sở dữ liệu về giảng viên đại học trên phạm vi toàn quốc, trong đó dùng mã số để xác định duy nhất từng người. Nếu đăng ký về số giờ giảng dạy được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu này thì có thể nhanh chóng kiểm tra xem những người tham gia dạy đồng thời ở nhiều trường có quá tải không và phương án huy động giảng viên của một trường có thể chấp nhận được hay không. Thực ra, đây cũng chỉ là một biện pháp bất đắc dĩ cho tình trạng thiếu tự giác, thuê giảng viên lộn xộn và dạy quá tải tràn lan ở nước ta hiện nay.
  4. Một khi đã đòi hỏi giáo viên phổ thông trung học phải có trình độ đại học thì khoảng cách tối thiểu giữa người dạy và người học đại học cũng phải là 5 năm đào tạo, nghĩa là giảng viên đại học phải có trình độ tiến sĩ. (Thậm chí, ở nhiều nước, chỉ các tiến sĩ đã được phong giáo sư hoặc phó giáo sư mới được đọc bài giảng tại các trường đại học, còn những tiến sĩ khác chỉ được làm trợ giảng.) Tuy còn lâu ta mới đạt được chuẩn này, nhưng cũng phải hướng vào đó mà phấn đấu. Không thể để diễn ra mãi cảnh vừa học xong đại học đã quay ra dạy đại học. Đặc biệt, không nên để các trường đại học chất lượng thấp tuyển sinh viên của chính mình làm giảng viên. Phải tập trung xây dựng một số trường đại học chất lượng cao để làm cơ sở đào tạo giảng viên cho các trường đại học trong toàn quốc.
  5. Đảm bảo chất lượng của đội ngũ giảng viên là vấn đề then chốt trong công tác tổ chức đào tạo đại học. Nhiệm vụ này rất khó khăn, đòi hỏi phải thường xuyên phấn đấu, phải nghiêm túc và thận trọng, nhất là lúc mới thành lập. Khi đã rơi vào trạng thái cán bộ đủ tiêu chuẩn chỉ là thiểu số nhỏ thì khó mà thoát ra khỏi. Nhân danh đa số, chuẩn dễ bị bóp méo và vai trò dễ bị đảo lộn. Xét từ góc độ này, phong trào “đại học hóa” các trường cao đẳng là một xu hướng đáng lo ngại. Ai cũng biết rằng xây nhà mới rẻ và tốt hơn hẳn so với cải tạo và nâng cấp nhà cũ. Nếu cứ cố tận dụng móng và tường của một ngôi nhà cấp 4 để nâng lên thành nhà nhiều tầng thì sẽ phải chịu mãi những hạn chế cơ bản của kiến trúc cũ, không thể khắc phục triệt để, và về lâu dài luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra sự cố. Việc nâng cấp một trường cao đẳng lên đại học còn nan giải hơn vì đụng đến con người (là đối tượng khó cải tạo hơn các công trình xây dựng) và bị chi phối bởi nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số. Nếu quan niệm không cần hệ đào tạo cao đẳng nữa thì hãy bỏ đi, còn nếu thấy vẫn cần thì nên duy trì các trường cao đẳng. Đừng biến chúng thành đại học rồi sau này lại phải sinh ra những trường cao đẳng non trẻ khác để bù lại, trong khi các bậc tiền thân khó trở thành đại học “xịn”.  Nếu cứ để xu hướng “đại học hóa” này tiếp diễn, không chừng sẽ có nhiều trường mẫu giáo mầm non noi theo, xin nâng cấp thành trường phổ thông cơ sở.
  6. Nên xây dựng các cơ sở đào tạo đại học tương đối tập trung. Không nên phân tán, tỉnh nào cũng thành lập một trường đại học. Như vậy là phi kinh tế, vì chi phí để xây dựng và duy trì trường ấy còn cao hơn nhiều so với việc cấp học bổng ưu đãi cho tất cả sinh viên của tỉnh đến học tại các trường đại học đang tồn tại ở nơi khác. Đáng nói hơn là: trường đại học ở một tỉnh vừa nhỏ, vừa xa các trung tâm lớn khó có được đội ngũ giảng viên đủ trình độ. Cán bộ khoa học của tỉnh quá ít, còn trí thức từ nơi khác thì không muốn đến. Khi một trường đại học trở thành “vườn trẻ”, cả “mẫu giáo lớn” và “mẫu giáo bé” đều chật ních những người được tuyển theo cơ chế áp đặt hoặc thân quen, thì nó sẽ trở thành trung tâm hiểm họa hơn là trung tâm văn hóa của tỉnh.
  7. Lâu nay đã có quy định số giờ chuẩn cho giảng viên, nhưng nó được hiểu như nghĩa vụ tối thiểu và là cơ sở để tính quyền lợi khi dạy vượt giờ. Cần phải qui định cả số giờ dạy tối đa, vừa là kỷ luật lao động để bảo vệ sức khỏe và chất lượng giảng dạy, vừa là biện pháp để đảm bảo cho các giảng viên có thời gian bổ sung kiến thức và tham gia nghiên cứu khoa học.
  8. Một số qui định bằng cấp trong chính sách cán bộ mang nặng tính hình thức và có tác dụng xấu hơn là tốt. Chúng đẩy một lực lượng lớn của xã hội lao vào cuộc chạy đua tìm kiếm bằng cấp, tạo sức ép phi lí lên qui mô đào tạo và đẩy chất lượng xuống vực thẳm. Lãng phí thời gian và của cải. Bỏ bê  nhiệm vụ đang đảm nhận. Truyền thụ kiến thức thì ít mà tiêu cực thì nhiều. (Điều này cũng xảy ra ở mấy môn học được áp trên diện rộng nhằm nâng cao giác ngộ và đạo đức của xã hội.) Cuối cùng lại làm tha hóa cả thầy, trò và bộ máy. Không thể làm ngơ trước những gì đang diễn ra  nhân danh “chuẩn hóa cán bộ”. Nếu thực sự muốn đề cao bằng cấp thì Nhà nước phải quản lý chặt chẽ để đảm bảo chất lượng, điều khó mà làm được trong tình trạng xã hội hiện nay. Nếu không quản lý nổi chất lượng thì không có lý gì lại nhấn mạnh bằng cấp trong tiêu chuẩn cán bộ, để nhiều khi bằng thật thì mốc meo, còn bằng rởm lại được trọng dụng. Nói cho cùng, bằng cấp chỉ là mốc đánh dấu trên một chặng đường đào tạo, không phải thước đo trình độ và năng lực.
Hà Nội, 2/9/2004
——–
Bài viết nhân dịp tham gia xê-mi-na bàn về chấn hưng giáo dục do Giáo sư Hoàng Tụy tổ chức tại Hà Nội từ tháng 3 đến tháng 5/2004, đã  đăng trên báo Pháp luật Chủ nhật ngày 3/10/2004 và 10/10/2004.
(*) Chú thích: Hoàng Xuân Phú- Giáo sư, Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Nghiên cứu viên 1984, Phó giáo sư 1992, Giáo sư 1996)
Viện sĩ thông tấn (Corresponding Member, Korrespondierendes Mitglied) của Viện Hàn lâm Khoa học Heidelberg (Heidelberg Academy of Sciences and Humanities, Heidelberger Akademie der Wissenschaften) (từ 8.2004)
Viện sĩ thông tấn (Corresponding Member, Korrespondierendes Mitglied) của Viện Hàn lâm Khoa học Bavaria (Bavarian Academy of Sciences and Humanities, Bayerische Akademie der Wissenschaften) (từ 2.2010)
Viện sĩ (Fellow) của Viện Hàn lâm Khoa học Thế giới – vì sự tiến bộ của khoa học ở các nước đang phát triển (TWAS, The World Academy of Sciences – for the advancement of science in developing countries) (từ 10.2013)
Đại sứ khoa học (Ambassador Scientist, Vertrauenswissenschaftler) của Quỹ Alexander von Humboldt (Alexander von Humboldt Foundation, Alexander von Humboldt-Stiftung) (3.2010 – 2.2016)
Tổng biên tập của Vietnam Journal of Mathematics (từ 8.2011)
" data-medium-file="" data-large-file="" class="alignnone wp-image-20207" src="https://i2.wp.com/nghiencuuquocte.org/wp-content/uploads/2017/02/intellectual-liberal.jpg?resize=620%2C358" width="620" height="358" style="margin-top: 0.5em; transition: opacity 0.3s linear; border: 4px double rgba(0, 0, 0, 0.0980392); max-width: 100%; height: auto; margin-bottom: 1.5em; opacity: 0.9;">
Năm 1979, trong một cuốn sách ngắn có nhan đề The Future of Intellectuals and the Rise of the New Class (Tương lai của giới trí thức và sự trỗi dậy của giai cấp mới), nhà xã hội học Alvin Gouldner giải quyết một câu hỏi được các nhà phân tích xã hội tranh luận sôi nổi lúc bấy giờ: Có phải các phong trào sinh viên trong những năm 1960 là dấu hiệu cho thấy những người có trình độ giáo dục cao đang trên đường trở thành một lực lượng chính trị lớn trong xã hội Mỹ?Câu trả lời của tiến sĩ Gouldner là đúng thế. Là một người tả khuynh, ông có nhiều cảm xúc lẫn lộn với diễn biến này, bởi ông nghĩ giới tri thức có thể sẽ muốn đặt những quyền lợi của riêng mình lên trên quyền lợi của những nhóm ngoài lề mà họ thường tự nhận là đại diện.
Ngày nay, với cách biệt ý thức hệ ngày càng lớn giữa những người có trình độ giáo dục khác nhau ở Mỹ, lập luận của tiến sĩ Gouldner đáng được xem xét lại. Giờ đây khi đã có quá nhiều người đi học đại học, người Mỹ có bằng cử nhân không còn tạo nên giới tinh hoa giáo dục. Nhưng những người Mỹ có trình độ học vấn cao nhất – những người đã học bậc sau đại học hay trường nghiệp vụ (như trường y hay trường luật) – đang bắt đầu tạo nên một khối chính trị.
Tháng trước, Trung tâm Nghiên cứu Pew công bố một nghiên cứu cho thấy gần một phần ba những người học sau đại học hay trường nghiệp vụ có quan điểm “hoàn toàn” tự do về các vấn đề xã hội, kinh tế và môi trường, trong khi điều này chỉ đúng với 1 trên 10 người Mỹ nói chung. Thêm 25% người tốt nghiệp sau đại học có quan điểm chủ yếu là tự do. Những con số này phản ánh sự thay đổi mạnh mẽ: Mặc dù giới chuyên môn đã theo Đảng Dân chủ trong một thời gian dài, năm 1994 chỉ có 7% người có trình độ sau đại học có tư tưởng chính trị tự do kiên định.
“Giai cấp mới” của tiến sĩ Gouldner không hẳn là giới trí thức đương đại, như các nhà phân tích chính sách ở Washington, các nhà biên tập ở New York, hay các nhà nghiên cứu công nghệ sinh học ở vùng vịnh San Francisco. Nhưng nó cũng gần như thế. Tiến sĩ Gouldner quan sát những thay đổi trong cấu trúc việc làm của Mỹ mà ông nghĩ đang làm thay đổi cân bằng quyền lực giữa các giai cấp xã hội. Như ông thấy, bắt đầu từ đầu thế kỷ 20, sự phức tạp ngày càng lớn trong các vấn đề khoa học, công nghệ, kinh tế và quản trị có nghĩa là giới “nhà giàu cũ” ngày trước không còn có chuyên môn để trực tiếp quản lý quá trình làm việc hay lèo lái con tàu quốc gia.
Các thành viên của giai cấp cũ quay sang các nhà khoa học, kỹ sư, nhà quản lý, chuyên gia về quan hệ con người, các nhà kinh tế và các chuyên gia khác để tìm sự giúp đỡ. Khi số lượng những chuyên gia này gia tăng, họ nhận ra mức độ của sức mạnh tập thể của mình. Họ đòi hỏi những mức lương và địa vị xứng đáng và nhấn mạnh quyền tự chủ chuyên môn. Một “giai cấp mới” được sinh ra, không phải giới chủ cũng không phải giới công nhân.
Một đặc trưng của giai cấp mới này, theo tiến sĩ Gouldner, là cách họ nói và tranh luận. Ngập trong kiến thức khoa học và chuyên môn, họ đón nhận một “văn hóa diễn ngôn phê phán.” Bằng chứng và logic được đề cao; viện dẫn đến các nguồn thẩm quyền truyền thống thì không. Các thành viên của giai cấp mới nuôi dạy con cái trong một nền văn hóa như vậy. Và những đứa trẻ ấy, dị ứng với những giá trị chuyên chế, lớn lên lại trở thành trọng tâm của các cuộc nổi dậy sinh viên, tìm được nền tảng chung với các trí thức “nhân bản” bất mãn vốn quyết tâm thay đổi thế giới.
Tiến sĩ Gouldner cho rằng khi những sinh viên cấp tiến già đi và bắt đầu tham gia lực lượng lao động, họ sẽ giữ lại những tình cảm cánh tả của mình. Nhưng ông thừa nhận rằng họ cũng có thể sẽ tìm cách củng cố những đặc quyền của mình. Ông mô tả giai cấp mới như một niềm hy vọng lớn của cánh tả trong thời kỳ phong trào lao động của Mỹ suy thoái, nhưng cũng có điểm yếu.
Nghiên cứu của Pew không nhất thiết chứng minh toàn bộ học thuyết của tiến sĩ Gouldner. Nhưng nó chỉ ra rằng những người có chuyên môn và trình độ học vấn cao nhất nếu không hình thành một giai cấp mới thì cũng đang hình thành một nhóm chính trị tự do bền vững.
Dù có nhiều bằng chứng cho thấy giai cấp có chuyên môn đang sử dụng vốn kinh tế và giáo dục để bảo tồn những lợi thế của họ – hãy nghĩ đến việc những người có chuyên môn phân nhóm vào những khu vực riêng biệt, hay con cái của giới chuyên môn được dẫn dắt sớm vào một thế giới của văn chương, nghệ thuật và khoa học – sự chuyển dịch sang cánh tả của họ thể hiện rõ ngay cả trong các câu hỏi về tái phân phối kinh tế. Phân tích riêng của tôi về những dữ liệu của Tổng Khảo sát Xã hội (GSS) cho thấy rằng trong những thập niên gần đây, khi bất bình đẳng giai cấp gia tăng, những người Mỹ có bằng cấp cao ngày càng ủng hộ những nỗ lực của chính phủ nhằm giảm khác biệt thu nhập, dù qua các thay đổi về thuế hay là củng cố hệ thống phúc lợi xã hội.
Về vấn đề này, quan điểm của những người có học vấn cao giờ đây cũng tương tự như quan điểm của những người có học vấn thấp hơn nhiều, những người có quyền lợi vật chất thực trong việc giảm bất bình đẳng. Ngay cả những người có bằng cấp cao có thu nhập cao hơn cũng ngày càng có tư tưởng ủng hộ tái phân phối, tuy không nhiều bằng các nhóm khác.
Điều gì giải thích sự hợp nhất của những người có học vấn cao thành một khối tự do chủ nghĩa? Số phụ nữ có bằng cấp cao ngày một lớn là một phần, do phụ nữ có học vấn cao có xu hướng có tư tưởng thiên tả. Quan trọng không kém là sự dịch chuyển của Đảng Cộng hòa sang cánh hữu từ những năm 1980 – đối nghịch với chủ nghĩa tự do xã hội mà đã từ lâu là đặc trưng của những người có trình độ học vấn cao – cùng với nhận thức rằng giới bảo thủ có tư tưởng phản trí thức, thù địch với khoa học và xung đột với các trường đại học.
Hiện tượng này chủ yếu có lợi cho Đảng Dân chủ. Dù chỉ 10% người Mỹ trưởng thành có bằng cấp cao, con số này dự kiến sẽ tăng. Nhóm này hoạt động chính trị tích cực và có ảnh hưởng.
Nhưng học thuyết giai cấp mới của tiến sĩ Gouldner cần cảnh báo Đảng Dân chủ về một mối nguy hiểm rình rập. Có lẽ đúng là cái gì đó như một văn hóa diễn ngôn phê phán có thể hiện diện trong nơi làm việc và các hộ gia đình và trong những ấn phẩm được đọc bởi những người Mỹ đã học sau đại học hay học chuyên nghiệp. Thách thức đối với Đảng Dân chủ trong chặng đường sắp tới sẽ là xây dựng sự thu hút với những cử tri không chỉ quan trọng với tập thể cử tri quan trọng này, mà còn với các nhóm quan trọng khác trong liên minh Dân chủ. Một trong những lý do mà Donald Trump thu hút cử tri nam giới da trắng trong giai cấp lao động là ví dụ như ông không nói chuyện theo kiểu văn hóa diễn ngôn phê phán. Trái lại, ông chế nhạo văn hóa đó, khai thác những oán giận giai cấp.
Những người ủng hộ Đảng Dân chủ có thể sẽ nhận ra họ cần từ bỏ một chút am tường của mình nếu muốn giành được những chiến thắng vang dội. Trở nên quá giống cái mà nhà bình luận Pat Buchanan từng gọi là “đảng của các tiến sĩ” không phải là lợi ích dài hạn của họ.
Neil Gross, giáo sư ngành xã hội học tại Colby College, là tác giả của cuốn Why Are Professors Liberal and Why Do Conservatives Care?(Harvard University Press, 2013).
—————-

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhìn người Nhật tổ chức lễ hội mà thèm


>> Đại dịch!
>> Muốn thu nhập cao đừng tham công tiếc việc
>> Xem ái nữ nhà Trump chúc Tết sứ quán Trung Quốc
>> Áo dài váy đụp cách tân: Thời trang khác với quốc phục


Nguyễn Quốc Vương
VNN - Năm nào cũng thế, sau Tết, khi lễ hội diễn ra là lại tái diễn những cảnh lộn xộn mất an toàn với các màn “cướp lộc”, “tranh ấn” rất phản cảm và đi ngược tinh thần nhân văn vốn có.

Tại sao lại diễn ra tình trạng đó? 

Nhu cầu tham gia các nghi lễ có tính chất tâm linh cùng ước nguyện các thế lực siêu nhiên phù hộ là chính đáng, có ở bất cứ ai không kể sang hèn. Ngay cả tại các nước dù đã công nghiệp hóa và có nền kinh tế phát triển, khoa học-kĩ thuật hiện đại, người dân vẫn có nhu cầu ấy.

Chẳng hạn ở Nhật Bản, vào dịp Tết (người Nhật đón tết Dương lịch), các đền chùa đông cứng người đến hành lễ, cầu nguyện. Họ cũng thực hành nhiều nghi lễ có tính chất tâm linh như rút quẻ, xin xăm, làm lễ trừ tai, giải hạn… Có những lễ hội kéo dài nhiều ngày. Có lễ hội thu hút đến cả hàng vạn người tham gia như lễ hội Jidai, lễ hội Gion…

Tuy nhiên, đông đúc nhưng ai cũng tuân thủ nội quy và phép cư xử nơi công cộng: không vứt rác lung tung, không hút thuốc, không chen lấn, xô đẩy, cướp “lộc” và đều trật tự xếp hàng. Chẳng hạn, ở các đền thờ Thần đạo hay chùa, khi đang diễn ra các nghi lễ đặc biệt như trừ tai, giải hạn, kết hôn… người ta sẽ không cho phép chụp ảnh. Chỉ cần một nhân viên mặc đồng phục giơ cao chiếc biển vẽ biểu tượng cấm chụp ảnh hướng về đám đông là đủ khiến họ lặng phắc dõi theo buổi lễ trang trọng.

Có thể kể ra rất nhiều nguyên nhân cho tình trạng “cướp”, “tranh” ở lễ hội Việt Nam: nó là một hiện tượng xã hội, phản ánh và quy chiếu những vấn đề khác đang tồn tại trong xã hội, như sự bất an trong tinh thần và hoang mang trong lý giải niềm tin của con người. Cũng có thể tìm ra ở đó những khiếm khuyết trong sự “xã hội hóa” của các cá nhân khi ở họ thiếu vắng phép cư xử tối thiểu ở nơi công cộng và tinh thần hợp tác cộng đồng…

Nhưng ở đây, tôi muốn nhấn mạnh một lý do lớn và trực tiếp, đó là sự thiếu sót lặp đi lặp lại của bộ phận có trách nhiệm trong việc tổ chức các lễ hội. Rõ ràng trước khi tiến hành lễ hội, họ hoàn toàn có thể dự tính trước được lượng khách và các tình huống phát sinh, nhưng dường như đã không có các biện pháp có hiệu quả để cải thiện tình hình.

Làm sao để không còn “tranh”, “cướp”?

Trung tâm của lễ hội là người dân, do vậy để lễ hội thành công thì đương nhiên phải dân chủ hóa lễ hội. Lễ hội phải do chính người dân đảm nhận trong tất cả các công việc, tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Khi được đảm nhận vai trò này, người dân sẽ ý thức được trách nhiệm và quyền lợi của họ.  Chính quyền và các ban ngành khác nếu tham gia chỉ nên tham gia trong vai trò cố vấn, trợ giúp vĩ mô hoặc trợ giúp về chuyên môn.

Tham gia lễ hội hay thăm viếng đền chùa ở Nhật, nếu tinh ý chúng ta sẽ nhận thấy những người trong ban tổ chức lễ hội và nhân viên điều hành nghi lễ hầu như không phải là nhân viên của chính quyền hay các ban ngành trực thuộc khối hành chính ở địa phương. Họ chính là những người làm việc thường xuyên ở đền, chùa đó hoặc những người dân làm tình nguyện, ngoài ra cả các du học sinh, người nước ngoài cũng có thể tham gia…

Trong những buổi lễ như thế, sự hỗ trợ của chính quyền địa phương chủ yếu thể hiện ở việc đảm bảo an ninh, an toàn với sự xuất hiện của những chiếc xe cứu hỏa, cứu thương cùng các nhân viên trong tư thế sẵn sàng hoặc các nhân viên cảnh sát cần mẫn im lặng quan sát đám đông. Quan chức địa phương chỉ đến trong chốc lát để phát biểu chào mừng hoặc động viên những người tổ chức, điều hành lễ hội, bắt tay, cúi đầu chào người dân...

Của cho và cách cho

Nhìn ở góc độ hẹp hơn, những cách thức thực thi có tính chất kỹ thuật trong các lễ hội ở Việt Nam cũng cần phải cải thiện ngay. Chẳng hạn khi “phát lộc”, tại sao lại dùng hình thức một người đứng trên bục cao rồi vứt một số lượng “lộc” hạn chế ra giữa đám đông kín đặc, dễ gây kích động, thiếu an toàn và có phần phản cảm.

Tại sao không nghĩ cách để ai có nhu cầu đều có lộc. Không nhất thiết phải miễn phí, vì sẽ rất khó khi phải bỏ công quỹ chuẩn bị một số lượng “lộc” lớn đến thế. Thay vào đó nên sử dụng cơ chế “cúng tiền nhận lộc”, với số tiền chỉ cần là số tiền mua chính phần “lộc” mà người dân nhận được. Phần gói ghém, chuẩn bị lộc có thể sử dụng các tình nguyện viên để giảm chi phí.

Thay vì phát lộc bằng cách tung, vứt tùy hứng, nên hướng dẫn người dân xếp hàng theo thứ tự để cúng tiền và nhận lộc. Khi biết ai cũng có phần người dân sẽ không cần phải ào ào tranh cướp.  

Ở chùa Vàng nổi tiếng ở Kyoto (Nhật Bản), người ta thiết kế vé vào cửa thành chính chiếc “ấn” hay lá bùa phù hộ có đóng dấu của chùa, khách có thể mang về nhà như một tấm bùa phù hộ. Ở các đền chùa khác, người Nhật cũng bán những miếng gỗ nhỏ gọi là Ema với giá tương đương vài chục nghìn đồng tiền Việt để khách có thể mua và ghi ước nguyện lên. Những miếng Ema này sau khi làm lễ sẽ được treo lên trong đền, chùa.

Mỗi khi nhìn thấy cảnh cướp lộc trong các lễ hội ở quê hương, lòng tôi lại buồn thương khó tả. Giả sử là người quyền tổ chức lễ hội nào đó có màn “cướp lộc”, tôi sẽ thay vào các món đồ được dùng làm lộc truyền thống những cuốn sách bổ ích về giáo dục, môi trường, văn hóa, các giá trị nhân văn phổ quát… (có đóng dấu của ban tổ chức hay ngôi chùa diễn ra lễ hội).

Cách làm ấy chưa từng có trong truyền thống, nhưng tôi nghĩ chắc chắn các vị thần linh và tổ tiên cũng cảm thấy hài lòng. Bởi nước Việt ngày một dân chủ, giàu có, văn minh để người Việt có cuộc sống ngày một hạnh phúc hơn vốn là ước nguyện chung ngàn đời.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Gặp gỡ cuối năm”: cơ hội trút ấm ức của nhóm nghệ sĩ Hà thành và sự giằng co tuyên giáo


Khi công chiếu đêm 30 tết, họ thấy khúc nào bị cắt thì lập tức tung lên mạng internet cho bà con coi bù lỗ. Mạng xã hội muôn năm ! “Gặp nhau cuối năm” là dịp hiếm hoi gần như duy nhất để nhóm hài tinh hoa Hà Nội trút ra nỗi ấm ức sau một năm nhẫn nhịn làm công chức hoặc thân phận đảng viên thường trước bao nhiêu vấn nạn xã hội, phải làm ngơ trước “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” nhưng lại bật ra với tiếng cười sảng khoái.

Phát ngôn của Ngọc Hoàng khi nói về tổ chức của nền chính trị hiện nay
Đôi điều về hài kịch
Hài kịch có lịch sử lâu đời từ thời cổ đại. So với các loại hình nghệ thuật khác, hài kịch khó đạt thành tựu nhất so với bi kịch và chính kịch. Hài kịch đòi hỏi lý trí cao, nghiền ngẫm hiện thực và tìm một hình thức thể hiện tương xứng. Hài kịch với tư tưởng sâu sắc nghiêm túc nhưng hình thức lại phải giản dị dễ hiểu. Đó là cái khó khăn đặc biệt của thể loại.

Hài kịch cần thiết phải mang tính thời sự nóng hổi. Hài kịch được dung chứa đa dạng trong văn học, sân khấu, điện ảnh, hội họa và hiếm hoi trong âm nhạc. Nổi bật dễ thưởng thức nhất là trên sân khấu hài và chuyện tiếu lâm ngắn kể lai rai mang tính dân gian.

Hài kịch dễ hiểu nên mang tính xã hội cao. Hài kịch châm biếm tất cả thói hư tật xấu của con người trong xã hội. Đặc biệt hài kịch mang tính phản biện, phê phán giai cấp thống trị rất lợi hại. Vì tiếng cười không thể bị qui chụp gọi là “bạo lực” nhưng hiệu quả vô tận, không đo lường được.

Hài kịch Việt Nam

Hài kịch dân tộc Việt Nam có truyền thống lâu đời: từ sân khấu Chèo, ít nhất cũng có cả nghìn năm tuổi. Hài kịch nước ta đa dạng vùng miền với các đặc điểm địa phương khác nhau.

Những năm trước đây VTV3 tổ chức chương trình hài “Gặp nhau cuối tuần”, vào trưa thứ Bảy hàng tuần. Vấn đề khó nhất là kịch bản. Vấn đề thứ hai là đối phó với sự săm soi xét nét của lãnh đạo tư tưởng chính trị… 

Được hơn 1 năm, nhóm Hài không chịu được hai áp lực đó nên giải thể. Họ chỉ còn dành tâm huyết cho 1 chương trình duy nhất “Gặp gỡ cuối năm” còn gọi là Táo quân (thực ra, đài VTV3 còn có GALA CƯỜI mùng 2 Tết nhưng nội dung nhạt nhẽo, kém nghệ thuật nên ít người chú ý).

Suốt quanh năm, các sân khấu hài, băng đĩa hài, trò chơi thi thố kiểu hài trên truyền hình nặng tính thương mại và bị lạm phát. Vậy nên khán giả toàn quốc ngóng chờ một chương trình Táo quân nghiêm túc và công phu hơn từ Hà Nội vốn đã trở thành thương hiệu quốc gia.

“Gặp nhau cuối năm” là dịp hiếm hoi gần như duy nhất để nhóm hài tinh hoa Hà Nội trút ra nỗi ấm ức sau một năm nhẫn nhịn làm công chức hoặc thân phận đảng viên thường trước bao nhiêu vấn nạn xã hội, phải làm ngơ trước “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” nhưng lại bật ra với tiếng cười sảng khoái.

Giằng co ngầm giữa nhóm hài và lưỡi kéo tuyên giáo

Nhóm hài biết rằng, trước khi công chiếu, nội dung khó tránh khỏi bị duyệt cắt. Vỏ quít dày có móng tay nhọn. Biết vậy, năm nay họ cắt phim thành nhiều video clip và thủ sẵn. Khi công chiếu đêm 30 tết, họ thấy khúc nào bị cắt thì lập tức tung lên mạng internet cho bà con coi bù lỗ. Mạng xã hội muôn năm !

Cuộc đấu tay đôi với tuyên giáo năm nay diễn ra như thế nào ?

Tuyên giáo cắn răng chừa lại những đoạn này. Bởi câu thành ngữ hiện đại này đã được dân gian hóa phổ biến rộng rãi nên đành để lại không thể cắt.

- Ngọc Hoàng và các táo đều khẳng định “Thứ nhất hậu duệ, thứ nhì tiền tệ, thứ ba quan hệ, thứ tư trí tuệ”.

Chỉ riêng 1 câu trên đủ chứng tỏ bản chất phong kiến của chế độ “rực rỡ nhất lịch sử dân tộc” (theo ý ông Trọng). Đây là cái đinh của chương trình,

Nếu cắt hết thì vở hài kịch chả còn gì, chỉ còn nước vứt vào sọt rác. Mà người duyệt lại khó ăn nói với nhóm hài và cũng tự xấu hổ với lương tri, chẳng dám nhìn mặt nghệ sĩ nữa. Lại e rằng năm sau văn nghệ sĩ bất mãn bỏ chương trình không làm nữa. Khán giả cả nước và giới báo chí nhìn vào sẽ nghĩ sao.

Tuy vậy những người cầm kéo vẫn quyết tâm cắt nhiều câu, ví dụ 2 đoạn và câu sau:

- Mục “Hái hoa dân chủ”, một Táo “hái” nhằm phải bông hoa nhức nhối “Lương công chức bao nhiêu mà sao sắm được con xe 3 tỷ?”. Anh Táo môi trường nói mình làm thêm nghề bán táo lẻ, mỗi quả táo bán 1 ngàn, lãi 500 đồng,… Cuối cùng còn có hai quả (!), bán nốt cho một người mới trúng số được gần 3 tỷ… Tiếng cười vỡ ra khi khán giả hiểu ngay được thâm ý.

- Táo Công chức thú nhận “Tuy là lãnh đạo lâu năm nhưng tớ có biết đếch gì đâu !”.

Kẻ có quyền cầm kéo cảm thấy kỵ húy quá nặng nên ra tay cắt.

Dù không được thỏa mãn về mặt nội dung nhưng Táo quân 2017 cũng khiến người xem thích thú, chia sẻ nỗi lao tâm khổ tứ của nhóm văn nghệ sĩ.

Phùng Hoài Ngọc

Phần nhận xét hiển thị trên trang

( ghi chép cách nay 5 năm, nhân sắp tới "Hội thơ" đăng lại. ):

THẨN THẨN, THƠ THƠ..
( ghi chép cách nay 5 năm, nhân sắp tới "Hội thơ" đăng lại. )
Ngày mười bốn bạn hắn đến chơi. Hai thằng bù khú với nhau một chặp, mãi đến lúc điện thoại mới nhớ, có người mời ăn tết rằm tháng giêng. Câu chuyện vẫn chưa ngã ngũ!
Rút kinh nghiệm các lần trước, chuyện nào “nhạy cảm” hắn làm thinh, tên bạn có khéo léo gợi ý như cách nào hắn cũng không hé môi. Hắn biết tên ấy chẳng thù ghét gì mình, nhưng không hiểu vì sao, câu chuyện hắn nói thế này, đến tai sếp lại ra thế khác. Sếp nhìn hắn như “có vấn đề”. Có lần sếp đặt vấn đề thông qua người khác tìm hiểu câu chuyện thực hư về hắn? May mà thời buổi bây giờ không như ngày trước. Nếu không chuyện lao lý vạ vịt rất có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Ông cậu hắn ngày trước chỉ viết mấy bài thơ, bình luận chuyện tiêu cực ở làng xã bị người ta ghét, tù mất sáu, bảy năm mới về vì cái tội “gây nguy hại cho nền an ninh XHCN”. Một tội cho đến mãi sau này ông cũng chưa hiểu thực ra nó là tội gì? Đến lúc chết ông còn dặn con cái: “ Sống là phải biết giữ mồm, giữ miệng, bức vách lúc nào cũng là bức vách có tai”. Hôm ông cậu mất, hắn có mặt, tận mắt chứng kiến nỗi ám ảnh ấy to lớn, ghê gớm đến thế nào trong ánh mắt tiếc đời, tuyệt vọng của ông trước lúc ra đi..
Câu chuyện của của hai thằng xoay quanh chuyện hội thơ năm nay. ( Trong bụng thật sự hắn không hiểu tại sao một thằng như bạn hắn lại làm thơ? Như câu : “Cả đêm nằm nghĩ không ra, tại sao thằng ấy lại là nhà thơ?” hắn đọc được ở đâu đó, không còn nhớ tên tác giả ). Hắn cứ nghĩ nhà thơ trước hết phải có cái “ Tâm”, cái “Hồn”. Sau rồi mới đến cái “Chí” cái “Khí”. Thiếu một trong bốn cái đó còn làm thơ nỗi gì? Nhà thơ không thể ác tâm , tà tâm. Cũng không thể thiếu cái “Chính khí”, mang cái chí của kẻ tiểu nhân, hẹp hòi, ghen ghét, đố kỵ. Càng không thể là kẻ cơ hội, xu thời, lưu manh đầu cơ chính trị. Áp vào mấy thứ đó hình như điều nào y cũng vướng phải. Bởi thế hắn mới thấy làm lạ là bao lâu nay không viết được cái gì tử tế nên hồn, mặc dù chuyện thời sự văn chương luôn sốt sắng. Hình như Y cho rằng thơ cũng như nhiều sự việc trên đời, thiếu cơ hội không tồn tại được. Hắn rất sợ mỗi khi Y mang tập bản thảo đến nhà. Thơ của Y như cơm nấu chưa chín, lại tạp phí lù dùng đọc ở đám cưới, đám tang thì được chứ để xuất bản xem ra còn phải đến khuya. Khen bốc thơm Y, hắn không đành, không nỡ làm thế. Chê thơ của Y dở sợ Y buồn. Có thể Y còn giận, thù dai là đằng khác!
Câu chuyện về thơ ca luôn là câu chuyện lớn, dài dòng, nhưng cũng rất dễ bị rơi vào nhạy cảm. Bởi xét cho cùng văn học nói chung và thơ ca nói riêng bao giờ cũng gắn liền với thời sự và thời cuộc. Thơ ca không là gì khác cái tâm thế, tinh hoa tư tưởng và tình cảm con người. Người ta không thể bàn đến thơ ca mà không nhắc đến những Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát. Không thể không nhắc đến Nguyễn Bính, Phùng Quán, Trần Dần… Đã thế dễ lan man sang chuyện khác. Và thế là sinh chuyện, nhất là người đối diện với mình lại là tên này.
Thực ra hai người chẳng thân thiết gì nhau. Cùng hội cùng thuyền, muốn tránh cũng không tránh được. Mà đã lâu lắm hai thằng không gặp nhau. Hắn biết tên này với mình cũng không thiện cảm. Hôm nay hắn đến là bởi mấy hôm trước có mấy vị “văn sĩ” lâu ngày đến chơi. Cơm rượu xong cứ một mực đòi hắn đưa đến nhà tên này. Trước lúc đó theo đề nghị chung của mấy người bạn, hắn đã gọi cho Y. Tên này nói đang có lý do. Dạo này hắn nhận thêm việc bảo vệ cơ quan tài chính. Tết nhất cán bộ, nhân viên của họ về quê ăn tết chưa lên. Hắn phải trực hai bốn trên hai bốn, không có nhà! Đấy là Y lý do thế, chứ mồng tám tết là các cơ quan đâu đã vào đó rồi. Máy móc, công sở đã vận hành, làm gì có chuyện nghỉ tết lâu như thế? Cái chính là Y trốn khách, gần đây vợ Y làm thêm công việc mà Y không muốn người như hắn và mấy người bạn này chú ý tới. mặc dầu chả ai có ý tò mò đến làm gì/
Hôm nay Y đến là có ý dò hỏi xem ý tứ mấy hôm trước có lời bình phẩm gì về Y và vợ Y không? Chuyện thơ phú chỉ là cái cớ. Tính Y đa nghi và hay thóc mách. Kiểu người ấy luôn tìm cách xê dịch nhân cách người khác và luôn sợ hãi người khác nói xấu mình.
Khi hắn bảo : “Từ thời ông Lê Duẩn cho người thay đổi lịch ta chênh lệch với lịch Tàu, lịch cũng như thời tiết cứ loạn cả lên. Thời một đằng, tiết một nẻo. Đúng ra phải cỡ tháng nữa mới có tết. Sang năm lại nhuận mười hai tháng, chả dài cổ ra mà đón tết à?” Không thấy hắn nói gì, y lại chuyển sang chuyện khác : “ Không hiểu các bố nhà ta tính toán thế nào, lại chọn ngày thơ Việt Nam trùng với ngày tết treo đèn, kết hoa của người Trung Quốc?” Bấy giờ hắn mới bảo : “ Ngày ấy là để tưởng nhớ đến bài thơ Nguyên Tiêu của ông cụ”. Hắn không ngờ nét mặt Y tái dại đi, ( biểu cảm này không biết có thật không, hay Y cố tình làm ra thế? ) Y vội xua tay: “ Chết chết, đấy là bài thơ sống muôn đời của ông cụ. Hy sinh thế chó nào được mà bảo tưởng nhớ?” Hắn vội phải đính chính ngay: “Ừ thì tôi dùng từ chưa chính xác. Thơ phú mà ông bắt bẻ thế bố thằng nào dám làm thơ và nói chuyện thơ nữa?”. Y cười nhen nhen, vẻ đắc ý lắm..
**
Như đã nói, đưa mấy người bạn đến chơi nhà Y, hắn không có ý gì. Mấy ông bà sính thơ đang muốn khuấy động phong trào, muốn hội thơ năm nay “Rôm” lên một chút, lờ tờ mờ như năm trước thì đếch có được! Chẳng nhẽ hội thơ lại không ý nghĩa gì hơn hội đua thuyền, hội chọi trâu, chọi gà? Nghe bảo mấy hội ấy được đầu tư cả tỷ bạc, hàng ngàn người tham gia, đông đến nỗi các bến sông tắc đò, đường tắc lối, cầu tắc nhịp, tham gia giao thông gặp vô vàn khó khăn..
Hội thơ là cái hội người ta tìm cái sướng tinh thần, không cần đầu tư lắm về tiền bạc, nhưng leo teo quá, nghe cũng tủi. Tôn chỉ, mục đích cả bọn chỉ có thế - Trừ hắn vì hắn là kẻ phụ động. Hơn nữa hắn rất ghét trò theo đuôi kẻ khác, dù kẻ ấy là ai, vai vế thế nào. Hắn không làm cái hắn không chủ động từ đầu.
Cả bọn đến nhà, ngồi chưa ấm chỗ, Y ở đâu tò tò về, nét mặt rất khó tả.Không ra cười, không ra thẹn, cũng không ra bối rối. Thấy hài hài, bi bi bi làm sao đâu? Vợ y vốn thường ngày da mặt đã tai tái như người uống nhiều ký ninh, giờ tối xẫm thêm. Vừa lấy bánh trái ra mời, vừa lẩm nhẩm cái gì trong miệng. Cả bọn ngơ ngác nhìn nhau? Không biết đang xảy ra chuyện gì? Trong bọn có thất thố gì chăng?
Với hắn, hắn không lạ. Mấy năm nay tự dưng vợ Y nổi “đồng”, nhiều người đến đặt lễ xem gia cảnh, tai họa sắp xảy ra, quan sự tốt xấu thế nào? Thậm trí người mất trộm gà, lạc trâu bò cũng đến nhờ “bà thầy” tìm kiếm!
Hắn đã từng góp ý với Y về chuyện này. Kẻ đọc sách “Thánh hiền” như Y sao lại đồng lòng với chuyện dị đoan?
Thời bây giờ, không ai còn hồ nghi niềm tin về thế giới tâm linh. Nhưng lòng tin là một chuyện, đồng bóng, bói toán lại là một chuyện. Vợ Y, đảng viên trẻ, theo “điều lệ” của đảng đâu được phép hành nghề này? Cho dù hành nghề trước mắt không nhận của ai một chinh, một đồng nào. Nhưng ai dám chắc đây không phải là cách dọn đường chờ khi nghỉ hưu non hay bị giãn việc mới “Hành” chính thức? Bấy giờ mới là lúc thu hoạch?
May mà lãnh đạo ban ngành các cấp, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên không hiểu tại sao nô nức “đi bầu”, “Hưởng ứng”, vào đền, xuống phủ, xin ấn, xin lộc, lễ lạy, xóc thẻ cầu may, xem tiền hậu vận.. Cho nên người ta cứ ngó ngơ như chưa xảy ra việc gì. Lãnh đạo trực tiếp vướng mắc điều gì còn đến dâng lễ, nhờ thầy cầu hộ, giải hộ cái nạn đứa bỏ mẹ nào ghen ăn, ghét ở, đặt điều tố giác mình tham ô, cửa quyền, trấn áp đồng sự, muốn gây chuyện lật đổ, tranh chiếm chỗ ngồi! Nếu kiểm điểm, khai trừ “bà thầy” lấy ai giúp mình “Tai qua nạn khỏi”?
Thôi thì nhân tâm tùy mạng mỡ. Ai thích cứ thích, ai theo cứ theo. Riêng hắn hắn chẳng tin chuyện vớ vẩn này. Thời bây giờ muốn xem tử vi, tướng số, xem phong thủy vv.. có thiếu gì sách? Nếu cần vào thằng Gu gồ gõ “xem tử vi” vài giây là có đủ cách xem. Vừa đỡ tốn tiền, không e thầy nói dựa theo ý mình. Từ lâu hắn không đến chỗ này, cho bớt khó xử của cả hai bên. Hắn biết tỏng vợ chồng Y không khoái hắn lắm. Mỗi lần có việc vạn đắc dĩ phải đến vì công việc, gặp ở nhà Y khách đến đâng lễ, vợ chồng Y có ý không được thoải mái vui vẻ. Chỉ chuyện đò đưa miễn cưỡng. Như vậy đến làm chi?
Hôm nay cũng vậy. Lúc đầu “bà thầy” còn lầm thầm trong miệng, về sau nói to dần “ Lạy thánh mớ bái, con xin xám hối, đây là ý riêng của người trần, con không được biết..Con xin xám hối, con xin xám hối..”
Mấy vị nhà thơ tái mặt. Điều gì mà chủ nhà phải cầu thánh xin xám hối? Trong bọn có ai đó khi đến đây vô tình phạm tội lỗi gì chăng? Hình như là không có chuyện đó thì phải?
Có lẽ đến lúc này mới thông cảm cho hắn, vì sao mà hắn bàn lùi khi các vị muốn đi đến đây thăm?
Dĩ nhiên, hôm hội thơ Y bỏ cuộc. Mãi đến chiều hôm sau, hội qua rồi, Y mới gọi điện hỏi thăm : “ Ăn bao nhiêu mâm? Có những ai”.
Khốn nạn, đi hội thơ chứ có phải đi “ăn khoán” cô Mầu đâu mà hỏi kỹ thế? Tuy nhiên hắn cũng bung phèng “ Trăm mâm, có mấy ông gỉ ông gì to lắm, vế đùi bằng cột đình, đầu hói đến tận sau lưng, đọc thơ cứ sang sảng như tiếng sấm mùa xuân ấy. Hay cực kỳ!”. Chả biết Y cũng thích đùa hay nói đểu: “ Thế hả? Chúc các bác đã ngon miệng!”
Ôi trời, nói chuyện thơ phú cứ như nói ở bãi vàng, sở “ba toa” về hát karaoke, hát “chầu văn” ấy!
**
Có vài cái không được trước và sau hội thơ, hắn định bỏ qua, không nhắc đến nữa. Cái gì lặp đi lặp lại mãi một kiểu đều đáng chán. Nhưng có vài suy nghĩ khiến hắn day dứt trong lòng, không nói không được. Dù rằng nó liên quan với hắn như “con cá dưới sông” dính dáng đến ông thuyền chài. Có thể tầm mức quan trọng còn lớn hơn cách so sánh ấy nhiều.
Mà ở đời bây giờ cái gì quan trọng? Cái gì không quan trọng?
Lúc đó cả hội trường lặng đi một phút.. Bắt đầu nổi lên tiếng rì rầm, rì rào rồi ồn ào. Không phải chuyện ở Iran xảy ra chiến tranh, không phải chuyện Tây Tạng đang có biến hay biển Đông tình hình nóng dần lên, chuyện ông Vươn, bà Sương nào đó.. Mà là chuyện về thơ. Diễn giả đang có bài nói trực tiếp về Tình cảnh và số phận của thơ. Điều mà nhiều người đã biết, nhưng chưa suy nghĩ thấu đáo và tư duy được sắp xếp có bài bản. Thường mỗi người chỉ quan tâm đến một khía cạnh nào đó.
Mọi năm những chuyện như thế chưa có ai đặt vấn đề, lại nói trong ngày hội về thơ như thế này?
Ông ta bảo “ Thời của thơ đã hết”! Thế giới quan tâm nhiều đến phát triển kinh tế và nghiên cứu khoa học. Thơ ca ở những nước có nền kinh tế phát triển, ngay cả Trung Quốc, thơ cũng bị đưa ra ngoại vi, khỏi sự chú ý của trung tâm. Người ta không đầu tư nhiều cho văn học nói chung và thơ nói riêng! Với nhiều người ngồi hội trường này có thể bất ngờ. Mình lại khác..
Thực ra thơ chưa bao giờ có thời cả ( Nếu cách đặt vấn đề như trên). Kể từ thời Tần Thủy Hoàng đốt sách, tiếp đến bao nhiêu vụ án oan văn nghệ, đã có thời nào của thơ đâu? ( Trừ một thời gian ngắn, thơ được vận dụng vào tuyên truyền chính trị, được ưu ái hơn một chút). Những thứ đó chưa chắc đã phải là thơ? Thơ chưa bao giờ ra khỏi cái nhìn “Đối tượng” của nhà cầm quyền.
Thực sự thơ bao giờ gặp thời cả. Bởi thơ là nước mắt, là nỗi đau nhân loại. Là những gì chưa đạt được, là khát vọng ngàn đời của kiếp người. Khi nào còn những cái đó thơ còn tồn tại. Sự thực là thơ luôn tồn tại, thế giới chưa bao giờ vắng thơ cả. Cho dù có lúc người ta coi rẻ, chà đạp nó. Thơ chưa bao giờ được các ngài tổng thống, các vị thủ tưởng đón chào nồng nhiệt, mong gì được o bế trên tay?
Hôm ở hội thơ của Hải Phòng, thành phố đang run lên về chuyện đất đai, một nhà thơ nói rất hay là “ Thơ có thể chữa lành vết thương lòng, cũng có thể chữa khỏi những vết thương lịch sử”. Câu này nghe quen quen, nhưng chẳng sao, ông ta có lặp lại của ai đó chẳng hề hấn gì. Miễn là nhắc lại được niềm kiêu hãnh của thơ vào đúng lúc này là được rồi! Rất tiếc là suốt buổi nghe nói chuyện, bình thơ ở hội trường này không có lấy một lời nào tương tự như vậy. Liệu có phải đó là cái hạn chế mang tính khu vực hay không?
Rất hiếm có thể chế nào xử tốt với trí thức và văn nghệ sĩ. Lịch sử kim cổ, đông tây đã chứng minh điều đó. Trí thức và quan lại thời nào cũng như gái lấy chung chồng, ít khi hòa thuận.
Người làm thơ đừng nên chú ý quá đến chuyện này. Thơ cần gì thời? Cần gì cơ hội? Tự nhiên như con chim, thích thì hót, có bao giờ đặt câu hỏi vì cái gì và vì sao đâu? Những tác phẩm lớn, những bài thơ hay thường ra đời trong bối cảnh lịch sử xã hội không thuận, nhiều bi kịch cá nhân và bi kịch dân tộc. Lúc lòng hơn hớn, vui tươi là lúc thơ dở nhất, nhạt nhẽo nhất. Là lúc thơ thù tạc, chúc mừng, tâng bốc, nịnh hót nhau đua nở như nấm sau mưa.
Hắn nghĩ, đây chính là thời của thơ. Miễn là người làm thơ một lòng một dạ, yêu thơ như chính mình. Đừng vì một mục đích nào khác. Thời ông Tố Hữu, ông Nguyễn Khoa điềm đã qua rồi. Thơ bây giờ chỉ đơn thuần chỉ là thơ thôi, không là gì khác. Và chắc chắn thơ còn một thời của nó dài lâu nữa..
**
Hắn định dừng bài viết này ở đây, viết dài dòng về thơ là một sự phí phạm. Đã có quá nhiều bài viết về chủ đề này. Viết nữa sẽ là sự tổn thất môi trường, nhiều cây cối sẽ bị đốn hạ để mang ra làm giấy. Rất mang chỉ đăng trên trang nhỏ của nhà, tốn thêm dăm ba ngàn tiền mạng, nên gõ thêm một lúc vì còn nhiều chuyện chưa ổn.
Bên quản lý thị trường có “ủy ban vật giá” thì bên văn học và thơ nói chung cũng có một “hội đồng lý luận” để cân nhắc và đánh giá về thơ. Công bằng và minh bạch thì không cần nói làm gì. Mặc dù thơ luôn là một thực thể vô cùng khó xác định, chỉ cảm được thôi chứ không cân, đong, đo, đếm được. Có khi chỉ vài ba câu người ta sẽ nhớ đời, không thì cả một trường ca dài lê thê lại không gây được ấn tượng nào. Không biết các bác ở cái hội đồng kia lấy loại thước nào để đo, mà vẫn còn có nhiều bàn cãi chưa nhất trí được về thơ đến thế?
Gần như trọn buổi nói chuyện về thơ vị diễn giả độc chiếm diễn đàn. Ông ta nói nhiều đến nỗi người nghe ù hết cả tai. Nhìn quanh thính phòng, rất nhiều hàng ghế bỏ trống. Sinh viên khoa văn mà xem ra thờ ơ với thơ quá thể, từ từ rút lui tự lúc nào. ( Mặc dù ngày nay thày dạy văn có nhiều thuận lợi hơn trước đây : Kiến thức sâu rộng hơn, tài liệu, phương tiện nhiều hơn..) Số ở lại hắn đoán là những người thật thà có dạ với thơ, yêu thơ thực lòng. Còn các vị trong ban tổ chức đương nhiên không thể bỏ về rồi. Các nhà thơ chuyên và không chuyên cũng ngồi lại vì câu chuyện của diễn giả ít nhiều động chạm đến chuyện mình quan tâm. Sợ rằng cứ kiểu tổ chức như thế này, hội thơ năm sau chẳng còn mấy người. Có lẽ ở những trung tâm người ta sáng tạo ra “ Trình diễn thơ”, “Thơ trình diễn” là để khắc phục tình trạng này chăng? Nghe thơ thì ít, dán tít mắt vào cảnh của nhà thơ “Vì nghèo” nên rất ít vải trên người!
Ông hội đồng cho rằng ngày nay có hai xu hướng. “ Những người trung thành với truyền thống” và những người “Cách tân, đổi mới thơ”. Trong nhóm “cách tân đổi mới” ông lại chia ra làm hai hạng, hạng nhẹ cân nhất là anh tìm cách “đổi mới hình thức”. Sự uốn éo nhào lộn của chữ nghĩa không mấy thành công, phần nhiều đi vào ngõ cụt. Khiến thơ trở thành thứ “Không thể hiểu được”! Hạng có giá hơn “Đổi mới về nội dung”, chú ý hơn tâm thế của người làm thơ, nâng tính triết lý, tính tư tưởng trong thơ.
Rồi ông than : “Chưa bao giờ có nhiều thơ dở như bây giờ, chưa bao giờ số người làm thơ đông như bây giờ ! Chỉ riêng câu lạc bộ thơ Việt Nam tính đến nay có hơn năm ngàn hội viên”. Rồi than: “ Một năm chỉ riêng thơ thôi một nước nghèo như nước ta, chưa đến chín mươi triệu dân mà ra đến sáu trăm tập thơ, chưa kể thơ in báo, thơ trên mạng”.
Sao một nhà thơ như ông lại than thở vì thơ ra quá nhiều? Chắc ông quên các hội từ trung ương đến địa phương mỗi năm đều có quỹ tài trợ sáng tạo văn học nghệ thuật, trong đó có thơ. Lại có quy định vài ba năm không in sách là vi phạm hợp đồng sẽ bị cắt luôn khoản tài trợ đó.
Nghĩ đến chuyện này hắn lại thấy tức cười. Có ai viết mà lại không muốn có người đọc, không muốn in sách bao giờ? Khổ nỗi số tài trợ ấy thường không đủ để đi in, dù là truyện hay thơ. In ra rồi cũng chẳng bao giờ bán được sách, trừ một số rất ít nhờ công nghệ PR. Vài ba đồng ấy, chẳng qua đủ tiền xăng xe, tiền mua sách báo tài liệu vv.
Nào có sung sướng gì mà nhà các bác nặng lời quá vậy? Thơ dở chẳng qua thời nó dở, nó loạn xà bần, tốt xấu lẫn lộn. Chưa biết chừng vài chục năm sau có không ít bản thảo còn nằm trong hộc tủ của nhà thơ nào đó lúc ấy mới ra mắt thì sao? Thời Tự Đức đã có mấy ai biết Truyện Kiều? Cũng như người đẹp đoan trang không muốn đứng cùng với đám phấn son, lẳng lơ, nhảm nhí chỗ ồn ào?
Điều này hắn nghĩ rất có thể?
Có trách là trách mấy ngài trọc phú dửng mỡ, lại háo danh thò tay vào. Đã đành văn chương giống như cái chùa, ai muốn vào thì vào, ra thì ra. Nhưng nhà chùa cũng phải có phép tắc của nhà chùa. Đến đó lòng phải ngay thẳng, chay tịnh, chớ có bỡn cợt mà họa có ngày!
Hắn định có đôi điều thắc mắc, muốn hỏi lại ông “Tiến sĩ” hội đồng.. Nhưng nghĩ lại, lại thôi. Thôi thì ăn cơm chúa, múa tối ngày. Không nói thế thì nói sao? Cái ông đi cùng ông ông ấy là nhà phê bình có tài, lại không thấy nói gì? Hắn từng đọc, từng nghe ông này nhiều lần và rất trọng ông ấy. Không hiểu tại sao sau tập “ Đi tìm NHT” thấy ông ít viết hẳn đi. Hôm nay đến chẳng nói câu nào, ai chào hỏi chỉ gật đầu, cười nhênh nhếch??
Viết sau hội thơ 2012

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TIẾNG NÓI TRÍ THỨC 30 NĂM TRƯỚC


Mai Anh Tuấn



Nhìn lại những thành tựu nổi bật của sự nghiệp Đổi mới đất nước trong 30 năm qua, có lẽ không sợ sai khi khẳng định rằng năm 1987 đóng vai trò rất đặc biệt. Năm 1987 chính xác là thời điểm của tiếng nói trí thức-nghệ sĩ đã được lắng nghe, cộng hưởng và phần nào được hiện thực hóa, không chỉ mở ra nhiều cơ hội thúc đẩy sự phát triển đời sống văn hóa văn nghệ, mà còn góp phần tạo đà đi lên của các lĩnh vực khác.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (thứ tư từ trái qua) trò chuyện với Nguyễn Văn Hạnh, Lưu Quang Vũ, Trần Văn Thủy (từ trái qua) và một số văn nghệ sĩ khác - Ảnh tư liệu tại cuộc gặp gỡ với văn nghệ sĩ trí thức ngày 7-10-1987.

Trước hết, ta hãy điểm qua một số sự kiện văn hóa văn nghệ đã diễn ra trong năm 1987, hoặc đáng nói hơn, phải chờ đến năm này, nghĩa là sau Đại hội Đảng VI (12/1986) mới được thuận buồm xuôi gió. Trường hợp đáng kể đầu tiên chính là bộ phim tài liệu Hà Nội trong mắt ai của đạo diễn Trần Văn Thủy. Bộ phim này làm xong từ năm 1982. Trong những thước phim nhựa Orwo color 35mm màu sắc phai nhạt ấy, Hà Nội hiện lên thực sự nghèo khó, hưu tàn. Phim quay chùa Huy Văn (có ít nhất từ đời vua Lê Thái Tông, sau được Lê Thánh Tông sửa sang và xây thêm điện Dục Khánh) đã mất hẳn vẻ thâm nghiêm cổ kính, trơ vơ đổ nát, ngói vỡ, lộ rõ những vạt nắng mờ nhạt hắt trên bậc thềm xưa cũ. Xe bò, xe xích lô, quang gánh, những thân người gầy gò trong bộ quần áo cũ kĩ và xám xịt vì rét, nháo nhác đi qua cửa ô Quan Chưởng. Trên đường Nguyễn Trãi, người dân lao động nối hàng dài, lầm lũi, cắm cúi mua bán những thức dụng lặt vặt, buồng chuối, mớ rau, cái áo. Café, nước giải khát, bánh ngọt, vài ba nhãn hiệu mới dường như cuống cuồng trưng ra để khỏa lấp những thiếu hụt sinh kế đã kéo dài. Một Hà Nội vốn tự tin vào nền văn hiến của mình, như lời bình có tiếng vọng trong phim, tỏ ra rất e ngại vì kiểu làm ăn thị trường. Hơn một năm sau, ngày 18/10/1983, Thủ tướng Phạm Văn Đồng mới được xem Hà Nội trong mắt ai. Nhưng lời nhắc nhở như mệnh lệnh của ông rằng phải tổ chức chiếu công khai bộ phim này cho nhân dân xem, chiếu càng rộng càng tốt, càng nhiều càng tốt đã không được lưu tâm thực hiện. Tiếp đó, tháng 5/1987, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh trực tiếp xem phim này. Đến đây, mọi kịch tính, tựa con lắc đơn, giữa cho phép và cấm, chỉ chấm dứt khi ngày 26/9/1987, Văn phòng Trung ương ra văn bản yêu cầu Ban Văn hóa Văn nghệ, Ban Tuyên huấn, Bộ Văn hóa công chiếu Hà Nội trong mắt ai.

Vậy là suốt năm năm, bộ phim liên tục bị ách lại vì bị cho là “có vấn đề”, mượn xưa nói nay, không cùng Đảng giải quyết những khó khăn hiện tại mà nuối tiếc quá khứ phong kiến và gieo rắc vào quần chúng đảng viên những bi quan, hoài nghi, tiêu cực”1. “Ai cấm Hà Nội trong mắt ai?”, Lã Nguyên, người sau này sẽ rất tích cực nhìn nhận nhiều trường hợp văn nghệ khác, đặt câu hỏi và tự trả lời: “chính là những người rất hiểu văn nghệ”2.

Ngày 1-2/1/1987, đoàn Quốc hội Mỹ vừa kịp rời Việt Nam thì Báo Văn nghệ số 1, ra ngày 3/1, nêu hai câu hỏi mà sự thẳng thắn trong đó sẽ kích thích những đề đạt táo bạo: 1. Văn học nghệ thuật phải đổi mới những gì? Làm thế nào để thực hiện những đổi mới ấy?; 2.Vì sao chưa có tác phẩm hay? Cần giải quyết những gì để đạt được mục đích có nhiều tác phẩm hay? “Tác phẩm hay”, nỗi kì vọng khắc khoải ấy, sẽ khó lòng xác thực nếu không có cây bút nào dám gạt đi những tác phẩm dở đã chất đầy ở giai đoạn trước đó. Mấy ngày sau, 17/1, Hà Nội vừa rộn ràng ăn Tết Đinh Mão vừa gật gù nhấm nháp những trả lời xông xáo đầu tiên, của Nguyễn Tuân, Nguyên Ngọc, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Minh Châu… Nguyễn Tuân thúc giục “nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật sẽ có nhiều tác phẩm hay”. Theo ông, xã hội đang đấu tranh để xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã đấu tranh thì phải có người tốt đấu tranh với người xấu mới làm bật lên cái tốt được. Vậy mà thơ văn đều nói toàn người tốt. Ông nghĩ “ngay đến năm 2000 và xa hơn nữa, vẫn còn người chưa tốt”. Nguyên Ngọc tỏ ra trầm lắng hơn khi cho rằng một trong những điều quan trọng nhất của đổi mới lúc đó là sự tỉnh táo. Bởi, tỉnh táo là “một đặc điểm mới của tư duy thời đại”, là “dấu hiệu của trưởng thành- của từng trải, chín chắn”. Trong khi đó, Hoàng Ngọc Hiến, gần mười năm sau vụ “hiện thực phải đạo” thì nhấn mạnh vào “đổi mới cách nhìn”3…
Ngày 25/5, một bài báo như để gây chú ý, đã phải in đậm tiêu đề, “Những việc cần làm ngay”, mạnh mẽ và thoáng chút sắc lệnh, đóng khung xuất hiện trên Nhân Dân. N.V. L không phải là cái tên chỉ kí dưới bài cho xong. Nhưng ngay tức thì, “Những việc cần làm ngay” đã tạo một hiệu ứng bàn luận sôi nổi hiếm thấy, một cú hích dư luận vượt qua mọi rào cản, để nhìn thẳng nói thật nhiều vấn đề xã hội nóng hổi. Bằng nhiều hình thức khác nhau, hoặc đăng lại bài báo của N.V.L trên tờ báo khác, hoặc viết bài bày tỏ thái độ đồng tình, tán dương, “Nói và Làm” nhanh chóng đi vào tâm tư, kì vọng, hành động của cả cộng đồng. Đầu tháng Bảy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra hẳn Thông tri về việc Mặt trận hưởng ứng “Những việc cần làm ngay” của tác giả N.V.L. Từ Lạng Sơn đến thị xã Minh Hải, các tỉnh ủy, các ban ngành, đoàn thể đều nhất tề xắn tay giải quyết một cách cụ thể, nhanh chóng, chính xác và triệt để những việc bất cập, tiêu cực trong đời sống thường ngày mà lâu nay, vì muôn vàn lí do, đã không được giải quyết, giải quyết nửa vời hoặc bỏ mặc. Đã có 20 trên tổng số 31 bài báo “Những việc cần làm ngay” kí tên N.V.L xuất hiện trong năm 1987 (bài cuối cùng ra ngày 28/9/1990). 1987, vì thế, lưu lại khá chồng chất lớp ngôn từ đặc tả thực trạng xã hội, những thực trạng nhức nhối, đau lòng và phẫn nộ bậc nhất. Về việc có hàng vạn đơn xin thôi việc trong ngành giáo dục chẳng hạn, ngày 7/8/1987, N.V.L chỉ thẳng nguyên nhân là do cuộc sống nhà giáo quá chật vật, đồng lương ít ỏi, phương tiện làm việc thiếu thốn, sức khỏe giảm sút, trường lớp dột nát, bàn ghế xiêu vẹo, thiếu bảng, thiếu giấy, thiếu mực… Rõ ràng, không một mĩ từ nào ở đây.
Tháng Sáu năm đó, Nguyên Ngọc có quyết định về làm Tổng biên tập Văn nghệ. Một trong những dấu ấn đầu tiên của ông là cho đăng truyện ngắn Tướng về hưu (vốn được gửi đến bàn biên tập từ tháng 4/1987) của Nguyễn Huy Thiệp. Mặc dù Nguyên Ngọc chưa hề nghe tên Nguyễn Huy Thiệp nhưng ông nhận thấy trong Tướng về hưu có năng lượng đối đầu trực diện với các vấn đề nóng bỏng của đời sống và tin rằng sau truyện ngắn này, dù nói ra hay không, giới cầm bút từ nay sẽ không thể viết như trước được nữa4. 24 trang, giấy trắng, hụt khổ của Văn nghệ bốn số gộp, 20/6, chào đón Tướng về hưu. Như chúng ta đều biết, kể từ đây, Nguyễn Huy Thiệp được coi là tác giả văn chương nổi bật nhất của văn học Việt Nam hơn ba thập niên qua.
Ở một diễn biến đáng chú ý khác là hiện tượng kịch Lưu Quang Vũ. Hai năm trước, 1985, Lưu Quang Vũ còn là “tác giả trẻ”, nhưng đã biến Hội diễn nghệ thuật Sân khấu toàn quốc thành hội diễn của riêng mình. Nguồn sáng trong đời, Tôi và chúng ta, Người trong cõi nhớ, Người tốt nhà số 5, Vách đá nóng bỏng, Chuyện tình bên dòng sông Thu… chiếm hầu hết các suất diễn trong năm đợt của Hội diễn đó. Nghiễm nhiên, ông nằm trong tầm ngắm của nhiều phía, từ khán giả, các đoàn kịch, đến chính giới. Những bàn tay kiểm duyệt vô hình chưa hạ xuống. Truyền thống lãnh đạo “xem trước” vẫn còn đó. Để Tôi và Chúng ta đến với khán giả trong Hội diễn 1985 ấy, đạo diễn Hoàng Quân Tạo của Nhà hát kịch Hà Nội phải trải qua 12 lần kiểm duyệt. Buổi diễn cho lãnh đạo xem có Tố Hữu và Hoàng Tùng dự. Tố Hữu nhận xét “Hay! Tuyệt vời”5. Không dễ để những sáng tạo nghệ thuật mà trong đó “sự thật” chiếm chỗ, được tự do cất lên. Những mong muốn chính đáng và đau đáu, như của Lưu Quang Vũ, “muốn nói hết sự thật/Về đất nước của mình”, vẫn phải trượt vào quĩ đạo kìm nén, hoặc, mất công mất sức, mất thời gian chờ đợi, mới đi qua những lỗ kim khuôn mẫu. Đã hơn ba năm, Hồn Trương Ba da Hàng Thịt nằm im trong ngăn kéo. Nó thử thách lòng kiên nhẫn. Nó cần đúng lúc để gây choáng váng và trở thành mẫu mực. Phải vào cuối năm 1987, Hồn Trương Ba da Hàng Thịt mới được Nhà hát kịch Việt Nam dàn dựng và chính thức ra mắt công chúng.

Đầu tháng 10/1987 diễn ra sự kiện cuộc gặp gỡ của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với gần 100 văn nghệ sĩ, trí thức. Cuộc gặp gỡ gần như là “hội nghị Diên Hồng” này đã trực tiếp đề cập đến nhiều vấn đề “nóng bỏng của đất nước, của xã hội, của thời đại”, chứ không chỉ của nghệ thuật. Bởi, như nhận định của báo Văn nghệ, “suy cho cùng, những trăn trở sâu xa nhất về nghệ thuật bao giờ cũng bắt nguồn từ những suy tư, quằn quại về xã hội, về dân tộc và thời đại”6. Có thể nói, lần đầu tiên kể từ khi kết thúc chiến tranh, giới “tinh hoa” của đất nước đã thể hiện đúng, hiệu quả vai trò phản biện, đề đạt và tích cực xây dựng quan điểm một cách thẳng thắn, nồng nhiệt đến thế. Nhưng đồng thời, đây cũng là dịp mà người lãnh đạo cao nhất của Đảng đã “bắt mạch” chính xác tâm tư, nguyện vọng của số đông trí thức, nghệ sĩ. Từ “cởi trói” vang lên trong cuộc gặp này, cho đến nay, vẫn liên tục được nhắc lại như là một từ khóa then chốt nhằm lí giải sự thăng hoa độc đáo của văn học nghệ thuật, ít nhất từ 1987-1991.
Sự kiện trên tiếp tục được tiếp nối và cụ thể hóa trong Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị (ra ngày 28/11/1987) về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lí văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới. Nghị quyết yêu cầu văn học nghệ thuật cần góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh để mở rộng và làm sâu sắc thêm quá trình dân chủ hóa mọi mặt của đời sống đất nước. Tinh thần “dân chủ hóa” ở đây, trên thực tế, đã được rất nhiều nhà văn nỗ lực theo đuổi và thường xuyên làm cho sáng rõ. Chỉ cần nhìn vào các tranh luận, đối thoại, các phóng sự/bút kí trên báo chí lúc bấy giờ, những hoạt động như Nguyên Ngọc đánh giá là “lập lại trật tự, lập lại công bằng xã hội”7, cũng đã thấy phần nào đà dân chủ hóa, dân sự hóa trên phương tiện truyền thông.
Khép lại năm 1987 có thể nhắc đến tiểu luận Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa của Nguyễn Minh Châu. Cho dù gần với bản tự thú, nhưng các nhận định, phân tích của Nguyễn Minh Châu đã khía rất sâu vào thái độ nín nhịn làm “cán bộ truyền đạt đường lối” quá lâu của lớp người vốn được coi có cá tính, có lương tri như giới cầm bút. Lời ai điếu hẳn đã làm ngượng chín mặt số đông nhà văn nhưng sẽ là cần thiết, thậm chí, là phương thuốc liều cao để ngăn ngừa thói tính “bảo hoàng hơn vua” vẫn hay tái lặp trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật ở ta. Trong sổ tay của ông mà gần đây mới công bố, người ta giật mình vì thấy ông không bận tâm gì đến Tết, chỉ một mực tự nhắc nhở: “chỉ có cái ác thì phải nhớ lấy, chỉ có mưu mô trả giá trong bóng tối là phải nhìn cho rõ. Những cái viết lách của mình vẫn còn lành quá đi mất. Chưa đau. Giữa một cuộc đời đầy oan khiên oan khuất và đầy dối trá, sự lộng hành của cái ác đóng vai trò quyền lực”8. Có lẽ, bất kì lúc nào, cũng đều cần phẩm chất của kiểu trí thức trượng phu như Nguyễn Minh Châu, dám tự nhận lỗi, tự phán xét và thức tỉnh.
Năm 1987, như thế, cho chúng ta những cứ liệu phong phú về quá trình tìm kiếm, trăn trở, suy tư làm sao để có sự thay đổi, đổi mới đích đáng. Những khát vọng, hi vọng bị che khuất hoặc kìm nén từ lâu đã bắt đầu được công khai. Chúng ta có thể nhắc lại ở đây một băn khoăn đã chiếm chỗ hầu hết các luận bàn của trí thức lúc đó: sự thật. Tuy chưa có ai trả lời thế nào là sự thật nhưng hễ có cơ hội, “sự thật”, giống mũi tên được gài dây cung quả cảm, phóng thẳng lên mặt báo. Ngô Thảo thì đinh ninh rằng “đối với nhà văn không có gì cần thiết hơn là được nói lên sự thật”; Nguyễn Văn Hạnh, phó Ban Văn hóa-Tư tưởng Trung ương, thì so sánh: “Nói đến khoa học là nói đến qui luật. Nói đến sáng tác văn học thì trước hết phải nói đến sự thật”. Nguyễn Khải, người mà chiếu theo góc nào cũng thấy sự kín kẽ, tỉnh táo và biết xoay xở, trong lúc thổ lộ quan điểm, đã để trọng âm lệch hẳn như một lời hịch: “Chỉ viết có sự thật, những sự thật đã được kiểm tra từ nhiều phía, từ nhiều nguồn, dẫu có bị chẹt xe, bị dao đâm, bị súng bắn, thậm chí bị đưa ra tòa hoặc bị vu là điên là dại cũng không rời bỏ cái vị trí là một nhà báo cộng sản của mình”. Có lí do để không phải giấu mình quá lâu, sự quyết chí của Nguyễn Khải đã mở thêm vài ngả đường cho các kiểu “sự thật” xuất hiện trong tác phẩm của ông9. Còn Lưu Quang Vũ, trong Tôi và Chúng ta, thì nhấn mạnh: “các đồng chí không muốn hoặc không dám nhìn thẳng vào sự thật. Sự thật là chúng ta đang bị lún trong đầm lầy, không khéo sẽ chết chìm”. Như vậy, “sự thật”, điều tưởng như khó định lượng và cũng khó thốt thành lời ấy, đã trở thành mối bận tâm thường trực, là tiêu chí để nhận diện, đánh giá khả năng trung thực tận đáy trong ngòi bút nhà văn. Bởi thúc ép này mà bản thân họ, thay vì im lặng, đã liên tục lên tiếng trước những điều chướng tai gai mắt. Nếu hiểu việc nói cho bằng hết, cho cạn lí lẽ và trách nhiệm là một phẩm tính quan trọng của trí thức thì quả thật, thời điểm 1987 xuất hiện rất nhiều “cả giọng” mà độ vang đập, lay chuyển, dư âm của nó đã mang lại nhiều biến chuyển cần kíp, từ nghệ thuật đến đời sống. Câu hỏi “vì sao chưa có tác phẩm đỉnh cao” mà báo chí hay đặt ra gần đây, có lẽ, nên đổi theo hướng sát gần với thực tế hơn, rằng “vì sao rất ít tiếng nói trí thức sáng giá trong văn chương nghệ thuật”.
Trong tâm thế hôm nay luôn sốt ruột chờ đợi, kì vọng vào tầng lớp “tinh hoa” tiên phong hoặc ít ra là gợi dẫn bước đi lí tưởng cho đông đảo nhân quần, chúng ta hẳn phải cổ vũ cho thái độ dám nói thật, nhìn thấu và yêu chuộng sự thật. Dĩ nhiên, bối cảnh giờ đây đã khác xa ba mươi năm trước. Song hồi ức 1987 vẫn còn nguyên vẻ đẹp khó phai về những thân danh đã vì công nghiệp chung mà bền bỉ dấn thân, đôi khi phải chấp nhận thua thiệt, tai bay vạ gió. Riêng điều này, tôi nghĩ, đủ để lấy làm sự chia sẻ chung, không cứ phân biệt xưa hay nay.
-----------
1 Xem thêm: Trần Văn Thủy, Lê Thanh Dũng (2013), Chuyện nghề của Thủy, NXB Hội nhà văn, H., tr.170
2 Thảo luận “Bàn tròn” tại Tuần báo Văn nghệ, số 9 (27/2/1988) và số 10 (5/3/1988)
3 Xem thêm các bài: Nguyễn Tuân, “Nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật sẽ có nhiều tác phẩm hay”; Nguyên Ngọc, “Đổi mới trước hết là sự tỉnh táo”; Hoàng Ngọc Hiến, “Trước hết là đổi mới cách nhìn”, trên Văn nghệ, số 3+4, 17/1/1987.
4 Nguyên Ngọc (2009), Tuyển tập tác phẩm, Tập 2, NXB Hội nhà văn, H., tr.257-258.
5 Hà Linh (2014), “Ký ức về những lần kiểm duyệt kịch Lưu Quang Vũ”, Nguồn: http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/san-khau-my-thuat/san-khau/ky-uc-ve-nhung-lan-kiem-duyet-kich-luu-quang-vu-3044211.html
6 Xem thêm: “Hai ngày đáng ghi nhớ mãi” (Tường thuật cuộc gặp gỡ của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với gần 100 văn nghệ sĩ trong hai ngày 6 và 7 tháng 10 năm 1987), Văn nghệ, số 42, 17/10/1987
7 Nguyên Ngọc (1987), “Về cái tiêu cực và cái tích cực”, Văn nghệ, số 29, 18/7.
8 Nguyễn Minh Châu (2009), Di cảo, NXB Hà Nội, H., tr.412
9 Xem thêm các bài: Ngô Thảo, “Khi thực tiễn lên tiếng”, Văn nghệ, số 27, 4/7/1987; Nguyễn Văn Hạnh , “Đổi mới tư duy, khẳng định sự thật trong văn học nghệ thuật”, Văn nghệ, số 33, 15/8/1987; Nguyễn Khải, “Nhà báo” Văn nghệ, số 27, 4/7/1987.

Phần nhận xét hiển thị trên trang