Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2017

(Nhân đọc cuốn BẢN LĨNH VĂN HÓA của nhà văn Tô Nhuận Vỹ, NXB Tri Thức-2014)


ToNhuanVyCách đây chừng 8 năm, phần lớn những bài viết trong tập sách “Bản lĩnh văn hóa”, ở dạng bản thảo, chúng tôi đã được tiếp cận. Thời điểm đó, chúng tôi, với tư cách bằng hữu đã đề nghị tác giả cho ấn hành. Qua trao đổi, anh Vỹ có nhiều băn khoăn.
Trước đó, với công việc tổ chức bản thảo, chúng tôi tiến hành xuất bản bộ sách khá đồ sộ “Những người lao động sáng tạo của thế kỷ XX”. Nhóm chủ biên sách gồm: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Trọng Tạo, Thanh Thảo, Hoàng Hưng, Nguyễn Thụy Kha. Nội dung chủ yếu của bộ sách là tôn vinh hơn 100 nghệ sỹ và nhà khoa học hàng đầu của Việt Nam trong thế kỷ XX. Có một nhân vật khi đưa vào bộ sách có trở ngại, đó là nhà văn Nhất Linh. Nhiều nhà xuất bản không duyệt khi đưa Nhất Linh đứng trong hàng ngũ những nhà văn hàng đầu của thế kỷ.
Chúng tôi đã trình bày ý kiến của mình với nhà văn Nguyễn Đình Thi, lúc đó là chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam. Nhà văn Nguyễn Đình Thi đã nói, đại ý: Nhất Linh hoàn toàn xứng đáng. Ông là linh hồn của Tự lực văn đoàn. Và ảnh hưởng của Tự lực văn đoàn đối với sự phát triển của Văn học Việt Nam là rất lớn. Nếu Nhất Linh có sai lầm thì ông đã đổi bằng cả mạng sống của mình.
Chúng tôi đã chuyển ý kiến của ông Nguyễn Đình Thi đến Ban biên tập của Nhà xuất bản Lao Động. Lúc đó chị Hồng Hạnh trưởng ban đã nhiệt tình ủng hộ và nhà văn Nhất Linh đã có tên trong bộ sách. Bộ sách ra đời gồm 6 tập, tập đầu in năm 1999, tập cuối in năm 2002.
Chúng tôi đưa trường hợp này trao đổi với anh Vỹ như là một gợi ý về việc vận động những người có uy tín, có “tiếng nói” để cuốn “Bản lĩnh văn hóa” của anh được xuất bản. Nhưng tập sách cũng không được xuất bản vào thời điểm đó.
Nếu “Bản lĩnh văn hóa” trình làng cách đây gần một thập kỷ thì giá trị đối với cuộc sống sẽ cao hơn. Nhưng không sao, dù muộn còn hơn không.
Với 18 bài (các bài báo và tiểu luận), phần lớn là ngắn, thậm chí có bài rất ngắn, lời lẽ điềm đạm, ý rõ ràng, không có chỗ nào lắt léo, Tô Nhuận Vỹ đã thể hiện dứt khoát bản lĩnh văn hóa của mình. Văn học Việt Nam nhất thiết phải được đổi mới, nhất thiết phải được dân chủ trong sáng tạo.
Qua tập sách, người đọc thấy, ở Tô Nhuận Vỹ, ý thức đổi mới văn học, ý thức dân chủ trong văn nghệ, ý thức tôn vinh những giá trị thực của văn nghệ, ý thức ‘chiêu oan” cho những đồng nghiệp, ý thức chia sẻ với những người cùng quan điểm (về cả 2 phía), ý thức đấu tranh vì tiến bộ của văn nghệ, ý thức đấu tranh về việc chèn ép, mất dân chủ trong văn nghệ… đã thành hệ thống trong hệ tư tưởng của anh trong suốt mấy thập kỷ qua.
– “Với Phạm Quỳnh, tôi nghĩ, với nhiều lý do chính đáng, đã đến lúc nhà nước, ở đây là Bộ Văn hóa thể thao và du lịch, cần kết luận và vinh danh chính thức sự đóng góp lớn lao cho văn hóa dân tộc của ông.” (trang 20) 
– “Chúng tôi chỉ biết tri ân vô cùng người đã có sáng kiến học cách “đầu tư chiều sâu” của Hội văn học Liên Xô và đốc thúc quyết liệt thực hiện sáng kiến này. Người có sáng kiến và thực hiện quyết liệt sáng kiến đó là anh Trần Độ.” (trang 22)
Phạm Quỳnh là ai, Trần Độ là ai, nhà văn cả nước biết, những người hoạt động văn hóa biết, trí thức cả nước biết. Công khai ở “luồng chính thống” đề nghị vinh danh học giả Phạm Quỳnh và tri ân Trần Độ phần nào nói lên bản lĩnh của tác giả tập sách. Đó chỉ là những dẫn chứng bất kỳ, độc giả có thể thấy rất nhiều trường hợp tương tự trong tập sách: Trường hợp “bảo vệ” Phùng Quán; trường hợp chia sẻ nỗi đau của Nguyên Ngọc; muốn làm minh bạch trường hợp của Trần Dần, Lê Đạt về giải thưởng nhà nước..
Với đội ngũ đông đảo các nhà văn Việt Nam hiện nay, làm được những điều đó không chỉ có Tô Nhuận Vỹ. Một loạt những nhà văn khác như Nguyên Ngọc, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Trọng Tạo, Phạm Xuân Nguyên, Thanh Thảo… đều có những đóng góp đáng kể trong việc giữ vững bản lĩnh văn hóa của người nghệ sỹ. Từ đó, họ có những đóng góp nhất định cho sự phát triển văn học nghệ thuật, cho cá tính sáng tạo, cho dân chủ trong sáng tạo của nghệ sỹ nước ta.
Tuy nhiên, nói một cách công bằng, Tô Nhuận Vỹ với sự kiên trì trong suốt một thời gian khá dài và rất cần mẫn “chiến đấu” cho hệ tư tưởng của mình đã tự khẳng định cái riêng của anh.
Nếu nói đến sự nổi lên hàng đầu trong mong muốn đổi mới văn nghệ, trong việc đối đầu với những trì trệ, bảo thủ, áp chế thì Tô Nhuận Vỹ không bằng một số nhà văn khác. Trong những người tử tế nổi bật có , chẳng hạn, Nguyên Ngọc. Nhưng xét về tính hiêu quả thì Tô Nhuận Vỹ là trường hợp đáng được ghi nhận.
Sở dĩ được như vậy là nhờ ông có một nét riêng để bảo vệ hệ tư tưởng của mình; đó là luôn luôn tìm cách đối thoại: “Mà trong lẽ phải có người có ta” (Nguyễn Du).
Tô Nhuận Vỹ đối thoại qua thư, đối thoại qua trao đổi, đối thoại tay đôi, đối thoại qua diễn đàn… Anh đối thoại với cả hai phía.
Trong tập sách được đề cập, độc giả có thể gặp rất nhiều những cuộc đối thoại ấy. Thế nhưng trong thực tế, rất nhiều trường hợp anh bị “đánh” từ cả hai phía.
Một lần, chúng tôi nghe một người bạn biết nhiều văn nghệ nói: “Tô Nhuận Vỹ là người của Hữu Ước!”. Ô hay, Hữu Ước thì có liên quan gì? (Ý của anh bạn ấy là Tô Nhuận Vỹ làm việc cho an ninh để theo dõi văn nghệ). Lại nữa, có một dạo Tô Nhuận Vỹ đi lại Mỹ-Việt Nam như con thoi , liền bị xì xào là người của CIA (!)
Chúng tôi biết Tô Nhuận Vỹ đã lâu, đọc những trang như là “tuyên ngôn” về bản lĩnh văn hóa của anh lại chảng thấy Hữu Ước, cũng chẳng thấy CIA!
Chỉ thấy bản lĩnh của một nhà văn đương đại Việt Nam-như nhiều bạn bè, đồng nghiệp của anh: đấu tranh cho sự đổi mới của văn nghệ. 
Tô Nhuận Vỹ hay đi Mỹ vì nhiều lý do. Do vậy, có thể nói anh là một trong ít những nhà văn trong nước sống trên đất nước Mỹ nhiều ngày. Điều kiện đó đã giúp anh tiếp xúc với nhiều nhà văn Việt Nam ở hải ngoại. Và chính ở đây, bản lĩnh văn hóa của anh được thử thách.
Nhiểu người trong chúng ta đều biết, một số nhà văn hải ngoại quyết liệt vì hận thù đã xem những nhà văn cộng sản như những tấm bia để nhả đạn.
Trong “Bản lĩnh văn hóa”, Tô Nhuận Vỹ đã kể lại một số trường hợp ghê gớm về lòng hận thù của những nhà văn đó. Đặc biệt là chuyến đi Mỹ với Nguyễn Quang Thiều, Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa…(Xem bài “Con đường Văn học Việt Nam vào Hoa Kỳ: con đường từ trái tim”).
Tuy nhiên, những nhà văn tử tế, lương thiện ở hải ngoại cũng không phải ít. Tô Nhuận Vỹ đã vận động bằng đối thoại thích hợp để văn học Việt Nam có thể hòa nhập. Tô Nhuận Vỹ đã cùng với nhiều nhà văn tâm huyết khác đã đưa văn học Việt Nam vào Hoa Kỳ bằng con đường từ trái tim.
Nhiều năm kiên trì, Tô Nhuận Vỹ cùng với nhiều đồng nghiệp đã làm “cầu nối giữa hai bờ đối nghịch” (trang 115), cũng là góp phần vào việc giữ gìn an ninh quốc gia.
Những bài viết của Tô Nhuận Vỹ trong tập sách, một mặt khẳng định bản lĩnh văn hóa của mình, mặt khác cũng phần nào khẳng đinh bản lĩnh văn hóa của một số đồng nghiệp.
Nghệ sĩ là người của công chúng. Tác phẩm nghệ thuật nói chung có đặc trưng là sự đa biến trong tiếp nhận. Do đó, cả sản phẩm lẫn bản lĩnh văn hóa của người nghệ sỹ dù ít, dù nhiều đều có tác động đến công chúng.
Một số người cho rằng văn học nghệ thuật không đòi hỏi người nghệ sỹ phải có trách nhiệm công dân về phương diện chính trị. Sự tồn tại chủ yếu của người nghệ sỹ là tác phẩm nghệ thuật. Nguyễn Du với kiệt tác Truyện Kiều (đã trở thành “An Nam đệ nhất thư”), trong khi Nguyễn Du không phải là một “công dân tích cực” ở phương diện chính trị. Ở một thứ bậc khác, Hàn Mặc Tử, Đoàn Chuẩn … chỉ có thơ tình và tình ca, tác phẩm của họ cũng sống mãi với thời gian. Ngay cả những trường hợp như vậy thì tâm hồn của người nghệ sỹ, bản lĩnh văn hóa của người nghệ sỹ, theo thời gian, vẫn sống mãi trong lòng dân tộc mình, nhân dân mình.
Nghệ sỹ Tô Nhuận Vỹ sở dĩ được khẳng định vì tâm hồn anh luôn thuộc về dân tộc và nhân dân Việt Nam.
Với Tô Nhuận Vỹ, bản lĩnh văn hóa của anh được thể hiện chẳng những ở CÁI thể hiện mà còn ở CÁCH thể hiện.
“Tôi vừa đọc lại bài bác viết trên Talawas, thấy bác rỉ rả mưa Huế mà hay. Hay lắm. Hình như cái này là đúng cách của bác nhất đây. Nên ngoài cái sự hay, lại thấy một Tô Nhuận Vỹ rất hiện diện” – (Nguyễn Trọng Tạo).

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đứng ở đàng xa :

Lãnh đạo VN chúc Tết thôi nhắc CNXH
BBC
Lời chúc Tết đăng trên báo chí Việt Nam của lãnh đạo Đảng Cộng sản, Nhà nước và Chính phủ đều nhấn mạnh đến tinh thần dân tộc, chủ đề tổ quốc chứ dường như không nhắc tới “ý thức hệ xã hội chủ nghĩa” nữa.
Đến chúc Tết lãnh đạo Hà Nội và xuất hiện trong bức hình chụp cùng Bí thư thủ đô Hoàng Trung Hải, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “đề nghị Hà Nội xây dựng Đảng bộ thực sự trong sạch, vững mạnh”.
Ngoài ra, vào sáng mùng 1 Tết, Giáo sư Trọng “đã đến dâng hương trước tượng đài Vua Lý Thái Tổ và Vua Lê Thái Tổ”, rồi đi dạo và đi xe bus ở trên phố, sự kiện được báo chí Việt Nam đồng loạt mô tả.
Các lời trích cho thấy ông Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh đến tính dân tộc hơn là ý thức hệ cộng sản hoặc chủ nghĩa xã hội.
Ông nói về sự “tưởng nhớ công ơn các vị tiên hiền, tiên liệt, các liệt tổ, liệt tông đã dày công xây dựng và bảo vệ non sông đất nước, Thủ đô Thăng Long-Hà Nội để con cháu ngày nay được chung hưởng thái bình, độc lập, tự do”.
Ngay cả khi gặp gỡ, chúc Tết quân đội, ông Trọng cũng không nhắc đến chủ nghĩa xã hội nữa, ít ra là theo những gì báo chí Việt Nam tường thuật.
Thăm Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng trước Tết, ông nhắc họ “bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, phát huy sức mạnh tổng hợp, thực hiện nghiêm pháp luật về biên giới…”, theo trang Quân đội Nhân dân 20/01/2017.
Huyền thoại Rồng Tiên
Thông điệp đầu năm và lời chúc Tết của Chủ tịch nước Trần Đại Quang còn nói rõ hơn đến huyền thoại Rồng Tiên:
Đón chào năm mới, mỗi người Việt Nam chúng ta hãy phát huy cao độ tinh thần yêu nước, truyền thống “con Rồng, cháu Tiên”, ý chí tự lực, tự cường, đoàn kết, sáng tạo, ra sức thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng, mở ra thời kỳ phát triển mới, đất nước phồn vinh, mọi người, mọi nhà ấm no, hạnh phúc.”
“Với niềm tin sâu sắc vào sức mạnh của cả dân tộc và tiền đồ tươi sáng của đất nước, chúng ta quyết tâm giành những thắng lợi mới, to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, xây dựng đất nước ta giàu mạnh, dân tộc ta trường tồn, sánh vai cùng bạn bè năm châu, đi tới tương lai xán lạn.”
Cụm từ ‘xã hội chủ nghĩa’ quen thuộc một thời chỉ còn trong chữ ký và chức danh của ông Trần Đại Quang là “Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Cũng nhân dịp Tết, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có chuyến thăm đến Quảng Nam và Quảng Ngãi hôm mồng 3 Tết.
Báo chí trích lời ông Phúc “đề nghị tỉnh Quảng Ngãi cần đẩy mạnh lĩnh vực công nghiệp, tập trung xóa đói giảm nghèo, chú ý đến phát triển kinh tế xã hội khu vực phía Tây, nơi có số đông đồng bào dân tộc đang sinh sống”.
Ông Phúc cũng khen tỉnh Quảng Nam “về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, cảng biển, sân bay, giao thông nông thôn, các tuyến đường lên vùng cao được quan tâm đầu tư…”
Từ một số năm qua, giới quan sát và báo chí quốc tế đã nhận định rằng kinh tế tư bản chủ nghĩa đang ‘chung sống’ với ý thức hệ xã hội chủ nghĩa của chính quyền.
Nhà báo kỳ cựu của BBC News, Alastair Leithead trong chuyến đến Hà Nội đưa tin về ĐH Đảng Cộng sản khóa trước (1/2011) đã đặt câu hỏi sự pha trộn ‘tư bản – cộng sản’ có kéo lùi phát triển của Việt Nam hay là không.
Gần đây, khi còn là Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, ông John Kerry đã nhận định rằng ở Việt Nam “nay chỉ thấy có chủ nghĩa tư bản”.

Phần nhận xét hiển thị trên trang
Bộ ảnh chứng minh có tiền là có tất cả
D.H. - Theo thegioitre.vn 
Đồng tiền nhìn mỏng manh nhưng kì thực sức mạnh của nó là rất ghê gớm.
Con đường tắt là con đường được rải bằng tiền.
Nó còn là con đường nhanh nhất và dễ dàng nhất.

Tàn tật là bất lực về trí tuệ chứ không phải thể xác.
Bạn làm từ thiện vì mục đích gì?
Rừng đang bị tàn phá dữ dội vì túi tham không đáy của con người.

Kiếm tiền bằng cách bẩn thỉu thì đồng tiền cũng bẩn thỉu theo.
Những kẻ vừa có tiền vừa có quyền lực thật ra chỉ là những con quái vật đội lốt người.
Bạn không bao giờ biết được tài sản của một người 
có được có do chính họ làm ra hay không.

Xã hội này có rất nhiều cỗ máy trá hình, chỉ hoạt động khi được nhét tiền.
Số tiền tiêu đi bao giờ cũng tỉ lệ nghịch với số tiền kiếm được.
Đồng tiền nhìn mỏng manh nhưng kì thực sức mạnh của nó là rất ghê gớm.

Trước sức mạnh của đồng tiền, người ta có thể sẵn sàng đui mù câm điếc.

Bạn sẽ rơi vào cái bẫy chết người nếu nghĩ rằng tiền có thể mang lại hạnh phúc.

Thế giới chỉ có hai loại người: những kẻ có tiền và những kẻ làm ra nó.

Họ sẽ làm mọi thứ để làm giàu cho bản thân, cho dù phải vắt kiệt cả Trái Đất này.

Sống mà chỉ thấy đồng tiền trước mắt thì chính là đang tự đào huyệt chôn mình.

Định nghĩa về cái khổ của mỗi người mỗi khác nhau.

Cùng một mục tiêu như nhau nhưng người ta thường chọn con đường xa hơn vì họ không dám phá bỏ rào cản trước mắt.


(Ảnh: Internet)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ngoại giao bẫy nợ của Trung Quốc


Tác giả: Brahma Chellaney
Dịch giả: Song Phan
Ảnh minh họa.
NEW DELHI – Nếu có một điều mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc thật sự nổi trội thì đó là việc sử dụng các công cụ kinh tế để thúc đẩy lợi ích địa chiến lược của nước họ. Thông qua sáng kiến “một vành đai, một con đường” $1000 tỉ Mỹ kim, Trung Quốc đang trợ giúp các dự án cơ sở hạ tầng ở các nước đang phát triển nằm ở các vị trí chiến lược, thường bằng cách mở rộng các khoản vay lớn cho các chính phủ của họ. Kết quả là các nước đang bị rơi vào bẫy nợ nần khiến cho họ dễ bị Trung Quốc ảnh hưởng.
Tất nhiên, việc mở rộng các khoản vay cho các dự án cơ sở hạ tầng vốn không phải là xấu. Nhưng các dự án mà Trung Quốc đang tài trợ thường không có ý định nâng đỡ nền kinh tế địa phương, mà để tạo điều kiện cho Trung Quốc dễ dàng tiếp cận tài nguyên thiên nhiên, hoặc để mở cửa thị trường cho hàng hóa xuất khẩu kém chất lượng, giá thành thấp của họ. Trong nhiều trường hợp, Trung Quốc thậm chí còn đưa công nhân xây dựng của chính họ làm giảm thiểu số lượng việc làm được tạo ra cho địa phương.
Một số dự án đã hoàn thành bây giờ đang chảy máu tiền. Ví dụ, Sân bay quốc tế Rajapaksa Mattala của Sri Lanka, mở cửa vào năm 2013 gần Hambantota, đã được gọi mỉa mai là sân bay vắng nhất thế giới. Tương tự như vậy, cảng Magampura Mahinda Rajapaksa ở Hambantota phần lớn vẫn để không, giống như cảng Gwadar nhiều tỉ đô la ở Pakistan. Tuy nhiên, đối với Trung Quốc, các dự án đang vận hành đúng như đòi hỏi: tàu ngầm tấn công của Trung Quốc đã hai lần cập bến Sri Lanka, và gần đây hai tàu chiến Trung Quốc đã tạm dùng sự an toàn của cảng Gwadar.
Theo một nghĩa nào đó, thậm chí sẽ là tốt hơn cho Trung Quốc khi các dự án không chạy tốt. Suy cho cùng, gánh nợ nần càng nặng cho các nước nhỏ thì đòn bẩy của chính Trung Quốc sẽ càng lớn thêm. Hiện tại, Trung Quốc đã sử dụng ảnh hưởng của mình để thúc đẩy Campuchia, Lào, Myanmar và Thái Lan ngăn chặn một ASEAN đoàn kết chống lại việc Trung Quốc hung hăng theo đuổi các yêu sách lãnh thổ của họ ở biển Đông.
Hơn nữa, một vài quốc gia bị ngợp bởi các khoản nợ của họ đối với Trung Quốc, đang bị buộc phải bán cho họ các cổ phần trong các dự án do Trung Quốc tài trợ hay trao quyền quản lý cho các xí nghiệp quốc doanh Trung Quốc. Ở các nước có nhiều rủi ro về tài chính, Trung Quốc hiện nay đòi hỏi nắm đa số về sở hữu trước. Ví dụ, trong tháng này Trung Quốc đạt được một thỏa thuận với Nepal trong việc xây dựng một đập nước nữa do Trung Quốc sở hữu phần lớn ở đó, với Tập đoàn quốc doanh Tam Hiệp của Trung Quốc nắm 75% cổ phần.
Như thế vẫn chưa đủ, Trung Quốc đang thực hiện các bước để cầm chắc rằng các nước sẽ không thể thoát ra khỏi nợ nần. Để đổi lại việc gia hạn trả nợ, Trung Quốc hiện đòi hỏi các nước phải trao cho họ các hợp đồng cho các dự án bổ sung, qua đó làm cho cuộc khủng hoảng nợ của các nước này không dứt được. Tháng 10 năm ngoái, Trung Quốc xoá $90 triệu nợ cho Campuchia, chỉ để nắm được nhiều hợp đồng lớn mới.
Một số nền kinh tế đang phát triển đang hối hận về việc họ quyết định nhận vay nợ của Trung Quốc. Các cuộc biểu tình đã nổ ra bởi tình trạng thất nghiệp tràn lan, do việc Trung Quốc chủ ý bán phá giá hàng hóa, đang giết chết sản xuất địa phương, và bị trầm trọng hơn do việc Trung Quốc nhập khẩu lao động cho các dự án của chính họ.
Chính phủ mới ở một số nước, từ Nigeria đến Sri Lanka, đã ra lệnh điều tra các cáo buộc Trung Quốc hối lộ cho các lãnh đạo cũ. Tháng trước, Zhao Lijian, quyền đại sứ Trung Quốc ở Pakistan, đã tham gia vào một vụ tranh cãi với các nhà báo Pakistan trên Twitter về những cáo buộc tham nhũng liên quan đến dự án và việc sử dụng tù nhân Trung Quốc sang làm lao động ở Pakistan (không phải là một cách làm mới đối với Trung Quốc). Zhao mô tảnhững cáo buộc trên là “vô nghĩa”.
Nhìn lại, những mưu đồ của Trung Quốc có vẻ rõ ràng. Nhưng quyết định của nhiều nước đang phát triển chấp nhận vay nợ của Trung Quốc, theo nhiều cách, là dễ hiểu. Bị các nhà đầu tư lơ là mà họ lại có những nhu cầu cơ sở hạ tầng lớn chưa được đáp ứng. Vì vậy, khi Trung Quốc chường mặt ra, hứa hẹn đầu tư rộng lượng và tín dụng dễ dàng, họ đều tham gia vào. Chỉ sau đó khi rõ ra mục tiêu thực sự của Trung Quốc là để thâm nhập thương mại và nắm đòn bẫy chiến lược; đến lúc đó thì đã quá muộn, và các nước đều đã bị kẹt vào vòng luẩn quẩn.
Sri Lanka là một ví dụ điển hình. Mặc dù nhỏ nhưng nước này nằm ở vị trí chiến lược giữa các cảng phía đông của Trung Quốc và các cảng Địa Trung Hải. Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đã gọi nó là vị trí trọng yếu cho việc hoàn thành con đường tơ lụa trên biển.
Trung Quốc bắt đầu đầu tư mạnh ở Sri Lanka trong thời cầm quyền gần như độc đoán của Tổng thống Mahinda Rajapaksa, và Trung Quốc đã bảo bọc Rajapaksa khỏi những cáo buộc về tội ác chiến tranh tại Liên Hiệp Quốc. Trung Quốc nhanh chóng trở thành nhà đầu tư và người cho vay đứng đầu của Sri Lanka, và là đối tác thương mại lớn thứ hai ở đây, cho Trung Quốc đòn bẫy ngoại giao đáng kể.
Mọi việc đều thuận buồm xuôi gió cho Trung Quốc, cho đến khi bất ngờ Rajapaksa bị đánh bại trong cuộc bầu cử đầu năm 2015 bởi Maithripala Sirisena, người đã vận động tranh cử với lời hứa sẽ giải thoát Sri Lanka khỏi bẫy nợ của Trung Quốc. Đúng như hứa hẹn, ông cho ngưng công việc đối với các dự án lớn của Trung Quốc.
Nhưng đã quá muộn: chính phủ Sri Lanka đã ở trên bờ vực vỡ nợ. Vì vậy, như một cơ quan ngôn luận nhà nước Trung Quốc đã quang quác, Sri Lanka không có lựa chọn nào khác ngoài việc “quay lại và ôm Trung Quốc trở lại.” Sirisena, cần nhiều thời gian hơn để hoàn trả các khoản vay cũ cũng như tín dụng mới, lẵng lặng chấp nhận một loạt các đòi hỏi của Trung Quốc , khởi động lại các sáng kiến bị đình chỉ, như dự án $1,4 tỉ cảng thành phố Colombo, và trao Trung Quốc nhiều dự án mới.
Sirisena cũng vừa đồng ý bán 80% cổ phần cảng Hambantota cho Trung Quốc với giá khoảng $ 1,1 tỉ. Theo đại sứ Trung Quốc tại Sri Lanka, Yi Xianliang, việc bán cổ phần trong các dự án khác cũng đang được thảo luận, để giúp Sri Lanka “giải quyết vấn đề tài chính của mình”. Bây giờ, Rajapaksa tố cáo Sirisena trao cho Trung Quốc những nhượng bộ quá mức.
Bằng cách kết hợp các chính sách an ninh, kinh tế và ngoại giao nước ngoài, Trung Quốc đang xúc tiến các mục tiêu hình thành một vùng thống trị về thương mại, thông tin liên lạc, giao thông vận tải, và các liên kết an ninh. Do đó, nếu các quốc gia đang gánh chịu những mức nợ nặng nề thì nỗi lo tài chính của họ chỉ giúp cho các mưu đồ thực dân mới của Trung Quốc. Các nước chưa bị sập bẫy nợ của Trung Quốc nên lưu ý – và làm bất cứ điều gì họ có thể làm để tránh nó.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

anh thợ chữ ?



( Thư trả lời bạn )
Đôi lúc
Tự hỏi mình :
Có thể nhận mình là nhà thơ chưa ?
Hay chỉ là anh thợ chữ ?
Viết những lời dông dài,
con cá , củ khoai
con tườu , con vượn ..
Ngỡ mình đi trên mây,
bay theo hương, theo khói
Mà thực ra đường đời ..
Hèn nhát và e ngại,
thích ăn theo,
nói leo,
nói nhại..
Nhai lại lời của ai kia đã nói!
Khác nào đống mùn rơm ủ khói,
ngỡ mình làm nên mây,
ngỡ mình góp sức
Cho cuộc đời đắm say!
May còn có một ngày,
ta sang sông
thấy bóng mình trên sóng
Thảm thay,
sao mang dáng vẻ con người
khát vọng sống còn đâu trong mắt?
Yêu thì nhạt..
Ghét thì chua!
Điêu tàn và hoang vu,
khật khưỡng qua nhiều bất trắc ..
Giận mình không sao nói được!
Có đáng gọi là người làm thơ không?
đám ngôn từ hôi rác?
Thực ra,
ta là tên thất nghiệp,
tháng ngày lê chân,
bịa bao chuyện rông rài!
Chẳng có ích cho ai
Thì cần chi giấy mực?
Ai cần những lời phỉnh phờ thời nay ?
Thôi.
Nhà cũ ta về..
Ngắm nhìn,
và nghĩ suy,
nếu có thể thì ..
quên đi
Những gì đã viết ..
Xin đừng ai gọi là nhà thơ
khi thơ là cái xác,
những con chữ khô cằn,
người ta toan vất bỏ từ lâu.
ta lượm về
Ngỡ của quý mai sau!

Phần nhận xét hiển thị trên trang
NGƯỜI ĐÀN ÔNG MANG TÓC GIẢ

Truyện ngắn của HG

Lần cuối cùng người ta thấy lão xuất hiện ở xóm Cây Bàng cách nay hai tháng. Hôm đó phải khó khăn lắm mới nhận ra lão. Không phải hôm đó tối trời hay mưa gió, bụi cuốn mu mít mỗi lần có xe chạy ngang qua làm ảnh hưởng đến tầm nhìn. Khó nhận ra vì một nguyên nhân khác.
Trời rất xanh và cao.
Cái nắng đầu hè rực rỡ, tầm nhìn xa có khi hơn mười cây số.
Lão ngồi ngay sát bờ đường, chỗ hành lang chỉ rộng hơn hai mét thì có gì mà khó nhìn?
Người ta khó nhận ra lão vì lần này mặt lão nom hốc hác, không béo tốt phương phi như mọi lần từ tỉnh Bắc sang đây. Cái áo phông mỏng cộc tay lại càng như phô diễn đám xương sườn rõ từng chiếc một. Không thấy mái tóc dày đen nhánh, bóng nhẫy trên đầu lão như mọi khi. Thay vào đó là mái tóc lưa thưa màu hung húc, hói từ trán lên đến đỉnh đầu, nom rõ từng sợi tĩnh mạch màu thâm thẫm.
Thì ra, mọi khi lão mang tóc giả, nhiều người cứ ngỡ là thật, do nhuộm thuốc, nhất là với các ông bà già kém mắt của thị trấn này.
Một thị trấn nhà cao tầng xây khá nhiều, mốt mới, rất hiện đại, nhưng dân trí thì vẫn như xưa, chả chịu nhúc nhích. Lòng người xem ra còn nhạt hơn hồi nào!
“Trong các mục tiêu “phấn đấu” xây dựng văn hóa, xã hội thì cái anh “dân trí” là cái khó thúc đẩy, khó “xây” nhất.
Người ta không thể dùng sức người, sức của, “đốt cháy gian đoạn” mà nâng nó lên ngay được.
Nó là cái tiệm tiếm, ngấm từ từ, cần có không gian và thời gian, cần có môi trường thích hợp, nó mới khá lên dần dần và định hình được”  - Có lần chuyện vãn, lão tâm sự với tôi như thế.
Tôi đánh giá cao “trình” của lão. Rõ ràng lão không phải con người bình thường. lão là người có lý luận, có trình độ, có hiểu biết hẳn hoi. Ít nhất là so với mặt bằng tri thức ở một nơi như thị trấn “Con Cóc” này!
Lúc đầu thấy người ta thì thào câu chuyện về lão, nói thực tôi không để ý. Ở nơi tôi ở thiếu gì chuyện kì lạ và kỳ cục?
Một cậu phó chủ tịch vừa lãnh bằng tốt nghiệp cao học ra, tiền đồ đang độ thăng hoa, hứa hẹn nhiều thành công lớn trong đời, bỗng dưng giở chứng, gặp chuyện chẳng ra làm sao. Cậu này kẻng trai, đẹp mã, nhà khá giả vợ dáng dấp như người mẫu thời trang. Không hiểu tại sao lại phải lòng một cô giáo đã có chồng, người ngắn một mẩu.
Chuyện chỉ thế thôi cũng chẳng đáng nói làm gì bởi sự đời dù cắc cớ đến đâu, mãi cũng thành quen.
Nhưng chuyện chàng phó này không như thế. Người ta có thể phải lòng gái bởi nhiều lý do. Cái này chỉ có giời mới biết, mới hiểu là vì sao?
Khi con người ta sẵn điều kiện, nhất là có nhiều tiền kiếm được một cách quá dễ dàng, quá vô lý, điều gì cũng có thể xảy ra. Vì một lẽ nông cạn, một ham muốn rồ dở nào đó vào những lúc những người nghiên cứu tâm lý xã hội cho rằng: “Có khi, có lúc con người tiết ra cái chất không ra người”..
Thời nay những chuyện đại loại như thế không hiếm, thậm trí tràn lan xứ sở, nơi nào cũng có thể gặp.
Thiên hạ bàn: Lòng thòng thì cứ lòng thòng, đạo lý và ngay cả đến luật lệ cũng không cho phép, vì lẽ bí hiểm, được che dấu, nó vẫn thường diễn ra. Ăn vụng phải biết chùi mép vv..
Nhưng lòng thòng kiểu tay phó này thì có một không hai ở đất này. Anh ả bàn nhau cho người chồng “lấp lỗ” bằng cách lén bỏ vào cốp xe cả một gói ma túy mấy mươi “tép”..Rồi báo nhà chức năng.
Suýt nữa thì anh chồng mang họa lớn. Không dựa cột cũng chắc chắn ngồi tù không biết bao giờ mới ra?
May mà giời có mắt.
Kẻ châm lửa đốt trời thì lửa lại rơi trúng mình. Thời nay những kẻ gắp lửa bỏ tay người khó thành được âm mưu. Những người lập kỷ cương, trật tự xã hội mau chóng tìm ra kẻ thủ ác. Anh phó vào trại và sau đó ra tòa..
Rồi chuyện một cô gái lấy ông chồng già hơn cô những bốn mươi tuổi, gần bằng tuổi của ông nội mình! Người ta lại bảo: “Ý chừng cô ả đón lõng, chờ ông lão về chầu tiên tổ rồi sau đó thừa hưởng cái gia sản to lớn mà nhiều năm lăn lộn quan trường ông này kiếm được nhờ vào có đăng ký kết hôn hẳn hoi”. Cũng có kẻ cho rằng cô gái ở vào tình cảnh quá khó khăn, muốn nương tựa vào cuộc hôn nhân này để tìm lối thoát.

Óc suy diễn của thiên hạ thật vô cùng, chuyện gì cũng có thể nghĩ ra và có lý cả.
Nhưng áp vào hoàn cảnh của ông đại úy già này vẫn thấy khó giải thích. Ở tuổi của ông người ta coi trọng sự yên ổn thảnh thơi. Không ai lại mua thêm phiền phức, rắc rối về mình.
Phải thế nào đấy ông ấy mới chịu kết hôn với bà Lan Béo. Một bà đã trải qua mấy đời chồng. Ông chồng thứ nhất bỏ nhau vì sự ghen tuông. Hai người chia tay một thời gian, sau khi bán hết cơ nghiệp chuyển ra phố ở. Ông này vẫn còn sống, đến bây giờ chưa lấy ai. Ông thứ hai là cán bộ ngành điện. Bà quen ông này lúc mở quán ăn sáng gần cổng cơ quan. Ông này “già nhân nghãi, non vợ chồng”. Bà vợ ông ấy chỉ tạm thời ly thân mà chưa ra tòa. Việc to việc nhỏ trong gia đình bà, ông này đều hết lòng. Ngay đến vợ chồng bằng thật chưa chắc đã được như thế. Căn nhà và miếng đất bà đang ở bây giờ là do ông ấy lo liệu. Bà chỉ việc đứng tên chứ không phải mất đồng nào.
Người tốt việc tốt thường không có nhiều và kéo dài lâu. Ông cán bộ ngành điện không may bị tai nạn thảm khốc trên đường. Tối hôm đó trời cuối tháng xe cộ chạy nhiều, ông từ thành phố chạy ngược lên thị trấn này bằng xe máy. Đến cua tay áo sát bờ sông bị lóa đèn hay do quán tính, xe chạy tốc độ cao, không làm chủ được tay lái, cả người và xe văng xuống bờ sông, nơi vực thẳng đứng.. Sáng ra người ta phát hiện thì ông này đã chết cỏng từ khi nào không ai biết!
Sau đận ấy người ta thấy bà Lan Béo đi ngược về xuôi với nhiều người. Đàn bà con gái khi còn trẻ son phấn đã đành. Nhưng bà ngoài năm mươi, tô son điểm phấn thì ngộ lắm. Nhất là thứ son phấn rẻ tiền ( có thể do tình hình tài chính đang khó khăn? ).
Dưới gầm trời này, hãn hữu mới có người muốn và có đủ can đảm  sống một mình, ngay cả khi con cái có cả đàn, đã ra ở riêng. Bà Lan cũng vậy.
Người ta xì xào một thời gian, chán rồi cũng thôi. Mà có phải có mình bà đâu? Ngay sát nhà bà cũng có một bà như vậy.
Có lẽ chưa có thời nào người ta hồi xuân kinh khủng như thời bây giờ. Bà gần nhà bà vừa nói đến cũng xấp sỉ tuổi bà, cháu nội cháu ngoại cả đống, vẫn tấp tểnh với đủ hạng đàn ông. Có người còn kém bà đến hơn chục tuổi, vẫn “anh anh em em” ngọt xớt.
Khi bà Lan dẫn được ông cựu đại úy về, bà này cũng đột nhiên có ông ôm quần áo cùng vài trăm triệu đến, rồi ở hẳn ở lại đấy.
Ông này cứ một hai đòi ra chính quyền đăng ký vì cả hai đều chết vợ, chết chồng không còn vướng mắc. Bà “số hưởng”, theo cách nói của dân xóm, xấu hổ hay có ý gì khác, ngại con cái phẫn nộ chẳng hạn, nhất định không chịu nghe.
Giá như mươi năm trước, chắc chắn thế nào người ta cũng hỏi hộ khẩu hộ tịch dù người lạ già hay trẻ. Bây giờ chính quyền việc tồn chất cao như núi, chả ai rỗi hơi hỏi đến những việc vớ vẩn như chuyện này.
Ông mới đến sau ông cựu, không chịu thua người đồng cảnh, chồng hờ của bà Lan. Ông khoe trước từng là đặc công. Gì chứ võ vẽ ông đầy mình. Ông đã từng có chức vụ cao trong ngành an ninh. Ông về nghỉ  một cục theo cái nghị định, nghị điếc gì đấy quy hoạch về bằng cấp trong chiến dịch “Chuẩn hóa” của cơ quan nhà nước.
Riêng chuyện vợ con ông im thin thít, không đả động gì. Nhưng cũng không giấu được lâu. Mắt, miệng thiên hạ tinh lắm và khó quản lý. Cuối cùng người ta cũng hay: Ông và bà vợ cũ vừa ra tòa li dị vì cái tội ông không đàng hoàng với con dâu. Số tiền ông mang đến đây là tiền “cưa đôi” tài sản với bà vợ cũ..
Hàng ngày ông đánh cái xe máy tàu chở cám đi, chở cám về bán cho khách tới tận nhà. Bà chủ tiệm bán tạp hóa kiêm cám lợn từ đó thôi không phải mướn xe ôm.
Ông cựu đại úy không ở lỳ như cái nhà ông thừa tiền mà lại thiếu tình cảm kia. Ông chỉ đi đi về về. Mỗi lần từ tỉnh bắc sang chỉ ở độ đôi ba ngày, sau đấy lại về.
Một bận sang nhà tôi chơi ông ấy bảo: “ Tôi không ở lâu bên này được vì vẫn có việc phải lo. Con cái đã riêng tây cả, tôi vẫn còn cái trang trại, vẫn phải thuê người làm. Mình ở lâu, người ta làm không đến nơi đến chốn, tiền công vẫn phải trả, nên phải về..”
Cả hai ông khách vãng lai này đều không uống rượu, không hút thuốc. Ngay cả nước trà cũng không.
Tôi thì bận nhiều việc, lại nghiện thuốc, nghiện trà chả có chung sở thích gì với các ông. Có ngồi với nhau cũng không có gì để nói. Chuyện chiến trường, chuyện B chuyện C nghe nói nhiều, nói mãi rồi cũng chả còn mấy hứng thú. Chuyện sách vở, viết lách các ông ấy lại không quan tâm. Vậy có chuyện gì để nói với nhau? Chuyện yêu đương trai gái nói vào tầm tuổi này là không được rồi. Hơn nữa, ông nào ông nấy cũng muốn tỏ ra trước người bạn khác giới của mình rằng mình đoan trang, đứng đắn không ưa chuyện gái gú, ướt át. Vậy thì cách tốt nhất, cơm ai nhà ấy ăn, việc ai người ấy lo. “Kính nhi, viễn nhi” cho nó lành!
Tuy nhà đối diện nhau, không xa nhưng có nhẽ hàng tháng nay chả ai đến nhà ai. Có gặp giữa đường cũng chỉ qua loa chiếu lệ.
Thôi thì “nửa quê nửa tỉnh” thế cũng có cái hay, đỡ mất thời giờ!

Dù cố tình tỏ ra không để ý, có một việc làm tôi bất ngờ và sửng sốt. Đó là một buổi sáng như mọi buổi sáng ở thị trấn này. Chỉ có khác ngồi trên chiếc ghế dựa có tựa lưng hình như không phải lão Cựu hàng ngày, mà là một con người khác? Nhác thấy tôi người ấy gọi, giọng lại quen quen:
- Bưu tá vừa đến gọi không thấy cậu. Anh ta đưa cho tôi cái công văn này, nói là khi nào cậu về đưa giúp.
Tôi không thể từ chối, bèn sang bên kia đường gặp lão. Đến gần tôi tá hỏa: Đầu lão trọc lông lốc, nhẵn bóng chả có sợi tóc nào. Nếu có cạo trọc đầu như mốt mới gần đây của một số người thì vẫn phải còn chân tóc chứ. Ai lại nhẵn nhụi như nhổ tóc tận gốc thế kia? Ngay cả mớ tóc lơ thơ hung húc ngày nào giờ cũng biến đâu mất?
Tôi hỏi. Thì ra trước nay lão mang tóc giả. Mà tóc giả làm theo mốt bao giờ chả đẹp hơn tóc bình thường? Tôi vẫn thường khen bộ tóc lượn sóng điệu nghệ của lão, mà lão cứ chỉ cười mỉm, không nói gì cả.
Bây giờ mới vỡ lẽ ra, từ lâu nay thỉnh thoảng lão có đi trị xạ ở viện K. Lần này lão nói người không được khỏe. Đeo thêm bộ tóc giả vào khó chịu, phát ốm lên, đành phải cất đi. Lão nói khi nào khỏe lại, sẽ mang tiếp. Tôi thì tôi nghĩ, lão có đeo hay không, không quan trọng. Tai tóc chỉ là hình thức bề ngoài. Tâm tính, tư cách không giả là được. Suýt nữa tôi buột miệng nói ra điều này. Người ta đang mang bệnh, không có lời an ủi thì thôi, nói ra điều chạm vào chỗ đau của người khác là việc rất, rất không nên!
**
Cái quán bán hàng ăn sáng của bà Lan béo đột nhiên đóng cửa. Cánh cửa kéo hàn bằng sắt sơn xanh của nhà bà móc khóa đến cả tuần nay. Ông Cựu thì cũng lâu không thấy sang.
Người ta đoán bên tỉnh Bắc đã vào mùa thu hoạch vải thiều, ông cựu có thể do bận không sang được. Nếu bà Lan béo không vào miền nam thăm ông bồ cũ có nhẽ bà ấy sang bên tỉnh Bắc cũng nên?
Ông chạy cám của chủ nhà có tiệm tạp hóa cũng đột nhiên biến mất. Hỏi bà chủ nhà chỉ nói: “Không rõ ông ấy đi đâu”. Có người ngờ rằng vào một đêm đã khuya có cái xe bít bùng đỗ trước cửa nhà bà Ninh bán tạp hóa này. Không phải xe chở hàng đến, hàng đi như mọi bận. Xe chở hàng ít ai đến vào những giờ như vậy. Người ta bán hàng ngay thẳng, chính đáng chứ có phải hàng buôn lậu đâu vào lúc đêm hôm như thế. Chỉ có một giả thiết thuyết phục: Sự xuất hiện của chiếc xe bịt kín đó có liên quan đến sự vắng mặt từ hôm ấy của ông chạy cám hàng bà Ninh! Ông ta “được” hay “bị” cái gì đến nay cả tôi và dân của thị trấn này đều chưa biết!
Thị trấn vắng đi hai người đàn ông đáng kể. Những người chẳng giống ai ở đất này. Người ta cũng chỉ xôn xao ít bữa, rồi quên hẳn. Không ai có đủ kiên nhẫn để quan tâm bàn luận mãi về người khác. Nhất là trong thời buổi thông tin loạn cào cào này. Ngay đến hạn hán miền Cao nguyên, ngập mặn đồng bằng sông Cửu Long, ô nhiễm cá chết hàng loạt ngoài bể, người ta cũng chỉ bàn tán dăm ba bữa. Thì cái chuyện vặt vãnh của hai ông cựu quân nhân kia có đáng gì mà nói?
 Thờ ơ và lãnh đạm không biết từ khi nào đã ăn mòn trí não con người không trừ nơi nào. Ngay cả đến cái thị trấn heo hút này cũng không có ngoại lệ. Cuộc sống thực dụng, áp lực, ham muốn vì đồng tiền có lẽ là thứ dung môi thích hợp cho loại vi rút thờ ơ lãnh đạm sinh sôi nảy nở.
Ông chủ tịch thị trấn rất lấy làm lo ngại về việc này, nhưng chưa biết làm cách nào. Sự sa sút của ông phó gây ra làm ông thêm lúng túng. Biết nói thế nào với trên với dưới lúc này đây?
Một bận tình cờ gặp nhau ở nhà đám ông có “bật mí” với tôi tí ti. Không hiểu hôm ấy do thói quen giữ gìn hay do lo ngại cái gì tôi lại nói với ông: Chuyện vớ vẩn ấy tôi không quan tâm?
Không khéo ông ta sẽ không thích mình vì câu nói này. Mặc kệ, cũng chả tội tình gì, nghĩ như nào là việc của ông ta!
Bà Lan béo đột ngột trở về nhà, trên đầu chít khăn tang. Các cụ thân sinh quy tiên đã lâu, thân nhân quanh thị trấn này có ai mất? Hay ở dưới quê có chú bác họ hàng hang hốc vừa qua đời?
Tôi không phải thắc mắc quá lâu. Ngay chiều hôm ấy bà Lan béo qua nhà báo tin ông Cựu, chồng bà, hàng xóm của tôi vừa mất cách đây mấy ngày. Đó là lý do vì sao nhà bà cửa đóng then cài những ngày vừa qua. Vì quá gấp bà không kịp biến báo cùng ai, nhận được tin vội vã thuê xe sang tỉnh bắc, hy vọng gặp người chồng mới giây phút cuối cùng. Rất tiếc sang đến nơi, người nhà ông ấy đang bàn giờ giấc phát tang. Thi thể chưa nhập quan đã được trang điểm lại theo cung cách văn hóa mới thời bây giờ. Bà thấy người ta đã lại mang cho ông bộ tóc thật đẹp ngày nào, buổi bà gặp và làm quen với ông trên chuyến tàu từ nam ra bắc. Đôi môi ông khép vẻ nghiêm nghị, rất có dáng quân nhân, tuy có thoa chút son hồng. Hai mắt như người say ngủ..
Kể xong vài chi tiết như trên, bà Lan béo mời tôi vào sáng hôm sau sang nhà, cùng với gia đình bà và xóm làng làm lễ báo tang cho ông ấy. Dù sao thì ông cũng là dể của đất này, không thể ra đi âm thầm không ai hay biết. Bà có xin phép gia đình ông ấy bên tỉnh bắc để lập án thờ, lập bài vị vì lý do đường xá xa xôi không sang thường xuyên bên ấy được. Là bà nói vậy. Giả dụ bà có xin phép hay không người nhà ông ấy đâu có biết/ Dù có biết thì cũng không ai nỡ bắt bẻ.
Người ta chết là hết, nhiễu sự thêm để làm gì? Từ nay, sẽ chẳng còn ai được thấy người đàn ông có mái tóc lượn sóng, mặc đồ quân nhân ngồi trước cửa quán cháo lòng. Cái ghế nhựa có lưng tựa không để bên gốc cây bàng như mọi khi. Nó đã được mang vào nhà, hay mang tới đâu, không ai biết?

Nước ngoài sông đang cạn, mây trời rối và mỏng, đang trôi.
Nắng và nóng hình như là cái còn lại dài lâu, mãi mãi ở đất này?

=============================






Phần nhận xét hiển thị trên trang

CHÍNH KHÁCH TRẦN TUẤN ANH


Đỗ Mai Lộc
Bộ trưởng Bộ Công thương, Trần Tuấn Anh. Nguồn: VNN
Nhiệm kỳ Chính phủ trước, nổi lên một Đinh La Thăng, Bộ trưởng Giao thông Vận tải với những phát ngôn làm dậy sóng dư luận. Nhiệm kỳ Chính phù này, từ “vụ Trịnh Xuân Thanh” dẫn đến “nguyên” Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng, và lôi theo những vụ ì xèo như: chạy chức, thất thoát, … của Bộ Công thương làm điểm nhấn của dư luận.
Dư luận xã hội quan tâm đến Bộ Công thương, Bộ trưởng bây giờ là ông Trần Tuấn Anh; muốn biết ông Trần Tuấn Anh sẽ giải quyết hậu quả cũ và chính sách mới của Bộ Công thương như thế nào?
Việc đầu tiên mang tính chất chiến lược với tư cách Bộ trưởng là ông Trần Tuấn Anh quyết tâm quy hoạch bằng được “Dự án thép Hoa Sen Cà Ná – Ninh Thuận”. Dự án này, nếu thực hiện sẽ tác động rất lớn đến vùng kinh tế Nam Trung Bộ và Tây Nguyên và ảnh hưởng đến cả nước ít nhất là 3 thế hệ.
Trên Wikipedia tiếng Việt, ngay dòng đầu tiên ghi “Trần Tuấn Anh (sinh ngày 6 tháng 4 năm 1964) là một chính khách Việt Nam”. Vì vậy, tìm hiểu về “chính khách Trần Tuấn Anh” qua những gì ông ta đã nói và làm được để hiểu được “tâm và tầm” của người quyết tâm quy hoạch bằng được Dự án Thép.
1. Trần Tuấn Anh nói: “Trước khi là một Bộ trưởng, tôi cũng là một công dân và chúng ta bình đẳng trước pháp luật.”(https://goo.gl/nYwtVq)
Điều này được hiểu là (a) từ khi ông làm Bộ trưởng thì không còn là “công dân” nữa. (b) “Bộ trưởng” và “công dân”: chúng ta bình đẳng trước pháp luật.
Phân tích (a): “Trước khi là một Bộ trưởng, tôi cũng là một công dân” tức là từ khi làm Bộ trưởng thì không còn là “công dân” nữa.
– Hiến pháp 2013, Điều 17.1 “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam.”. Phải chăng ông đã từ bỏ “quốc tịch Việt Nam” và có một quốc tịch khác? Nếu không thì ông đã không nói “Trước khi …”, mà sẽ nói: “Dù là một Bộ trưởng, tôi cũng là một công dân”.
– Nếu cố gắng hiểu nghĩa theo cách các quan chức hay nói với dân là: “trước khi là cán bộ, tôi cũng là một người dân” để thể hiện sự gắn bó, đồng cảm với nhân dân. Thì:
Ngược đòng thời gian trở về trước, xem ông Trần Tuấn Anh đã làm “dân” khi nào?
Ông có quá trình làm việc trải qua nhiều cơ quan quản lý nhà nước (https://goo.gl/0s4WZx).
  • 01/1988-4/1994: Chuyên viên Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
  • 4/1994-6/1999: Chuyên viên Vụ Kinh tế đối ngoại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
  • 6/1999-6/2000: Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách công nghiệp, Bộ Công nghiệp.
  • 6/2000-5/2008: Phó Vụ trưởng, rồi Quyền Vụ trưởng, sau đó làm Vụ trưởng Vụ Tổng hợp kinh tế, Giám đốc Quỹ Ngoại giao phục vụ kinh tế, Bộ Ngoại giao; Tổng Lãnh sự Việt Nam tại San Francisco (Mỹ).
  • 5/2008-8/2010: Thành ủy viên, rồi Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Cần Thơ.
  • 8/2010-01/2016: Ủy viên ban Cán sự Đảng, Bí thư Đảng ủy Bộ, Thứ trưởng Bộ Công Thương, kiêm Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương.
  • Giai đoạn 15/8/2011-11/9/2013: Hiệu trưởng trường Đại học công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh.
  • 26/01/2016 Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • 01/2016-4/2016: Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Cán sự Đảng, Bí thư Đảng ủy Bộ, Thứ trưởng Bộ Công Thương, kiêm Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương.
  • 4/2016: Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII, được Quốc hội phê chuẩn, Chủ tịch nước bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Công Thương.
Người đọc có thể hiểu: Trần Tuấn Anh sinh năm 1964. Đến 1982 (18 tuổi) còn nhỏ học phổ thông phụ thuộc gia đình. 1982-1988 là 6 năm là học đại học, thạc sĩ, có thể tiến sĩ: giai đoạn đó nhà nước còn bao cấp, đi học cũng được hưởng lương như chuyên viên tập sự. Đến 1988 (24 tuổi) là bắt đầu đi làm cán bộ nhà nước.
Tiểu sử ông Trần Đức Lương, cha của Trần Tuấn Anh thì:
  • Từ tháng 8/1977-2/1987: Phó Liên đoàn trưởng, Liên đoàn trưởng Liên đoàn Bản đồ Địa chất; Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất; Bí thư Đảng uỷ Liên đoàn, Ủy viên Ban Chấp hành Tổng Công đoàn Việt Nam, Bí thư Ban cán sự Đảng Tổng cục; Đại biểu Quốc hội khoá VII, Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật của Quốc hội; Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt-Xô; Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá V…
  • Từ tháng 6/1996-2006: Ủy viên Bộ Chính trị, sau đó Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá VIII; Ủy viên Bộ Chính trị khoá IX, Đại biểu Quốc hội khoá X, khoá XI; Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam.
  • Làm Chủ tịch nước, nhiệm kỳ 24/09/1997-26/06/2006, 8 năm 275 ngày.
Trần Tuấn Anh từ khi sinh ra đã là con của một quan chức, sau này (33 tuổi) là con của Chủ tịch nước (nếu gọi là “vua” thì Trần Tuấn Anh là “thái tử”). Ông được nhà nước bao cấp nuôi toàn bộ từ nhỏ đến bây giờ.
Vậy thì ông Trần Tuấn Anh làm “dân” khi nào? “Dân” theo đúng nghĩa đen của nó, trong câu nói “Trước khi là một Bộ trưởng, tôi cũng là một công dân”.
Phân tích (b): “Bộ trưởng” và “công dân” – chúng ta bình đẳng trước pháp luật.
Ông Trần Tuấn Anh nói câu này xuất phát từ nhận thức của mình hay là “Đảng nói” qua mồm của ông!
– Có “luật” dành cho “Bộ trưởng” hay không? nếu có thì sao không xử ông Vũ Huy Hoàng theo “luật” mà phải đưa ra Quốc hội đến nỗi bàn cãi tới nóng nghị trường?
– Các quan chức Chính phủ, hay thường vụ Quốc hội có thực sự muốn “thành luật về việc xử lý kỷ luật đối với cán bộ công chức đã nghỉ hưu” không khi hết “Quốc hội hoãn rồi đến “Chính phủ lùi dự thào Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
– Nhân dân là nạn nhân trực tiếp của quan chức làm bậy, tại sao bàn về “xử lý kỷ luật đối với cán bộ công chức” không công khai dự thảo ra dư luận cho dân góp ý. Không khéo sau này như “Thương Ưởng” thời nhà Tần sẽ chết thảm vì chính sách hộ khẩu của chính mình.
– Có thực sự “Bộ trưởng” và “công dân” bình đẳng không; trong khi Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng gây thiệt hại cho xã hội gấp triệu lần so với dân thường nhưng chỉ bị cắt cái “nguyên” so với “vì hai con vịt, ba nông dân bị 13 năm tù”, “hai thiếu niên giật bánh mì, 18 tháng tù”.
Xin hỏi, cắt cái “nguyên” Bộ trưởng thì ông Vũ Huy Hoàng có “mất cọng lông chân” nào không? Có làm sống lại hàng trăm nạn nhân hàng năm bị chết oan vì cấp phép thủy điện vô tội vạ? Có thu hồi hàng ngàn tỷ đồng tiền thuế của nhân dân bị thất thoát?
2. Trần Tuấn Anh nói: “Tôi là Đảng viên của Đảng, tôi thực hiện nhiệm vụ của mình cũng là theo sự phân công của Đảng. Tôi không e ngại chuyện từ chức”
Không riêng gì Việt Nam độc đảng, mà nhiều nước dân chủ đa đảng trên thế giới các chính khách đều được đảng của họ cử ra tham gia chính trường; nhưng khác nhau ở chỗ, nội các Chính phủ từ Bộ trưởng đến Thủ tướng chịu trách nhiệm trước Nhân dân, còn ở Việt Nam thì các chính khách chịu trách nhiệm trước Đảng.
Vì vậy mà mới có chuyện Quốc hội mới chưa bầu mà đã bầu Chính phủ mới tháng 4/2016, mặc dù theo Hiến pháp không có lý do nào giải tán Chính phủ cũ!
Xa hơn một chút là tháng 11/2012, tình hình kinh tế – xã hội vô cùng tồi tệ và đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc đặt vấn đề từ chức thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dùng trách nhiệm Đảng viên để thoái thác việc từ chức.
Là con nhà nòi sinh ra trong cái nôi cộng sản, ông Trần Tuấn Anh cũng thừa biết nếu “Dự án thép Hoa Sen Cà Ná – Ninh Thuận” có là “Formosa 2” đi nữa thì sẽ lấy “kim bài Đảng viên” được Đảng bảo kê để không thể từ chức được với lý do “đúng quy trình theo sự phân công của Đảng”; còn dự án thì đúng trình tự thủ tục theo quy định pháp luật của Đảng.
Dù “Dự án thép Hoa Sen Cà Ná – Ninh Thuận” có là “Formosa 2” đi nữa, nhưng điều quan trọng là đến khi hạ cánh, ông Trần Tuấn Anh và người em đồng hao Lê Phước Vũ sẽ nắm trong tay 1.500 ha đất đẹp nhất ở Ninh Thuận và đằng sau đó có chỗ dựa vững chắc là bóng dáng của “thiên triều Trung Nam Hải”.
(Dự án thép Formosa Hà Tĩnh và Dự án thép Hoa Sen Cà Ná – Ninh Thuận đều cùng đơn vị tư vấn thiết kế CISDI Group China; CISDI còn là nhà thầu chính cho dự án Formosa Hà Tĩnh. CISDI Group là công ty con của MCC (China Metallurgical Group Corporation – Công ty – Tập đoàn Luyện kim Trung Quốc). MCC là một tập đoàn thuộc sở hữu nhà nước Trung Quốc. MCC chịu sự lãnh đạo của một Đảng bộ thuộc Đảng Cộng sản Trung Quốc. Xem ở đây: https://goo.gl/i5GeZ8  –– https://goo.gl/TGEk0y  ––  https://goo.gl/wkTVwc   ––   https://goo.gl/NP7emd)
3. Trần Tuấn Anh nói: “Một Chính phủ liêm chính, kiến tạo thì không có chỗ cho người nhà, quan hệ cá nhân, phi pháp lý, vượt lên trên pháp luật” (https://goo.gl/VsEDYh)
Đối chiếu thời gian của hai cha con Trần Đức Lương – Trần Tuấn Anh; từ một chuyên viên, đến năm 1996 ông “bố” Trần Đức Lương vào Ủy viên Bộ Chính trị và làm Chủ tịch nước là một quá trình thăng tiến zích zắc rất nhanh của ông “con” Trần Tuấn Anh.
Con đường này không phải dành cho nhân tài, mà dành sẵn cho “con ông cháu cha”.
Với vai trò là “Bí thư Đảng ủy Bộ, Thứ trưởng Bộ Công Thương giai đoạn 8/2010-01/2016” trong cơ chế “Đảng lãnh đạo toàn diện” của thể chế Cộng sản thì ông Trần Tuấn Anh hoàn toàn không thể nói là không liên quan gì đến “vụ Trịnh Xuân Thanh” và hàng loạt bê bối ở Bộ Công thương.
Nếu không có “Thái thượng hoàng” tại vị thì liệu “thái tử” Trần Tuấn Anh có thể từ Bí thư Đảng ủy Bộ, Thứ trưởng có lên đuợc Bộ trưởng Bộ Công thương hay không?, còn mọi tội lỗi, sai phạm thì “nguyên” Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng gánh hết !
Tài năng, dấu ấn của Trần Tuấn Anh trước khi làm Bộ trưởng, không thấy gì nổi bật. Nếu có, là giai đoạn 15/8/2011-11/9/2013, làm Hiệu trưởng trường Đại học công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh. Ông nổi tiếng đổi mới với việc “tái cơ cấu” thành “ngôi trường có 7 phó hiệu trưởng, 68 phó khoa và 66 phó phòng” (https://goo.gl/YSBzA1), quy mô lớn nhất nước nhất nước về … bộ máy nhân sự.
Ông đã làm được việc mà ít người có thể làm được, đó là đưa ông Nguyễn Thiên Tuế, xuất phát là giáo viên cấp III lên làm Hiệu trưởng một trường Đại học lớn (https://goo.gl/8fmISb) năm 2015, ngay sau khi ông Tuế vừa kiếm được cái bằng Tiến sĩ 2014 (https://goo.gl/AeX7SI). Ông Trần Tuấn Anh tạo được truyền thống cho ngành giáo dục là Hiệu trưởng trường Đại học không cần là Giáo sư / phó Giáo sư.
(Những người Quảng Ngãi ở Sài Gòn nói chuyện với nhau: ông Anh đưa ông Tuế lên vì cùng đồng hương Quảng Ngãi, có điểm chung là đều 2 vợ. Điều quan trọng, ông Tuế cần ông Anh chống lưng và sẽ không dám “phản” lại ông Anh !)
***
Phần kết
Ông Trần Tuấn Anh được đào tạo, cơ cấu để trở thành chính khách. Có giai đoạn làm việc ở Bộ Ngoại giao; Tổng Lãnh sự Việt Nam tại San Francisco (Mỹ), nhưng môi trường làm việc ở những nước dân chủ tư bản không thay đổi tư duy của một chính khách chuyên nghiệp.
Cũng như Pon Pot (Campuchia) từng du học ở Pháp hay Kim Jong-un (Bắc Triều Tiên) đã được đào tạo ở Thụy Sỹ. Nhưng vì đều là những người của Chủ nghĩa Cộng sản nên mục đích tối thượng là bảo vệ và duy trì sự độc quyền cai trị của đảng Cộng sản, nên họ đã sẵn sàng bần cùng hóa, kể cả diệt chủng chính dân tộc mình.
Ngày Tết cổ truyền viết lan man về quê hương và con người Quảng Ngãi. Người dân Quảng Ngãi đã quá tự hào khi cất lên “Tiếng nói từ Mộ Đức” có nói về Chủ tịch nước Trần Đức Lương, nên không mong muốn có thêm một “Trần Tuấn Anh” nữa.
Lịch sử Việt Nam chưa từng có hai cha con đều là tội đồ của dân tộc; tuy nhiên sẽ có, nếu “Formosa 2” trở thành hiện thực.

Phần nhận xét hiển thị trên trang