Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2017

Luận bàn về Văn hóa giao thông Đại Việt 2016



-Tuần trước, trong một hội nghị về giáo dục, một ông Hiệu trưởng trường tư thục bảo: chuyện 200.000 sinh viên và thạc sĩ thất nghiệp không phải lỗi do ngành giáo dục.
-Tuần này bàn về giải quyết ách tắc giao thông, một ông to khác phán: tắc đường do ý thức người tham gia giao thông kém( TV đưa thế, chả biết có cắt xén gì không?)
-Lại một vị cũng làm to nữa ở bộ Học thông tin: từ năm tới, sẽ tổ chức thi đại học chung và bỏ điểm sàn khi tuyển. Ông không nói ra các phương án trước đây mắc lỗi ở đâu mà chỉ bảo lúc này các phương án ấy không thích hợp nữa. Chả biết tôi có cưỡng từ đoạt lý không nhưng về bản chất là đã thừa nhận mấy phương án kia sai rồi.

Tôi nghe các vị ấy tổng kết cứ thấy gờn gợn thế nào. Xin lạm bàn như sau:
- Cái cách chối bỏ trách nhiệm như thế rất không sòng phẳng. Đành rằng người thất nghiệp không chỉ do ngành giáo dục nhưng mở trường ồ ạt thế, đào tạo nhiều thế, chất lượng kém thế... không do ngành thì do ai? Có cả ngành và những chính sách do ngành đề nghị và được phê duyệt. Chả thế mà bây giờ phải rà soát lại cơ cấu trường, ngành, nội dung đào tạo... ( Tôi cũng tham gia vào việc tạo ra nạn thất nghiệp này nên không dám chối bỏ trách nhiệm). Giải pháp bỏ điểm sàn được nhiều vị hỉ hả vì như thế các trường vốn khó tuyển sinh có cơ hội lấy điểm thấp vì đã phân cấp rồi. Ở trong ngành, tôi biết: sinh viên không có năng lực nhận thức thì không có phép thánh nào biến họ thành giỏi được. Tôi tin rằng: ai cũng có quyền học nhưng không phải ai cũng có đủ năng lực tư duy để trở thành trí thức. Không có bột, không ai có thể gột nên hồ. Tôi sợ sẽ lại có những tiền đề để chất lượng đào tạo xuống nữa sau khi bỏ điểm sàn. Tôi chỉ bàn chuyện chất lượng chứ không bàn những chuyện khác.
- Tôi đồng ý là trong các nguyên nhân làm tắc đường có lý do từ ý thức tham gia giao thông của người dân kém. Nhưng nguyên nhân chính nằm ở chỗ khác. Đường sá đô thị có thế thôi, mở thêm nữa không thấm vào đâu vì gần đây ở trung tâm thành phố, cạnh các con đường huyết mạch cứ xây hết khu đô thị này đến các khu chung cư khác. Mỗi khu hàng vạn căn hộ lại thiếu hạ tầng đô thị như nhà trường, bệnh viện, cửa hàng. Các khu đó chủ yếu xây nhà ở, nghĩa là chỉ xây chỗ để ngủ để bán vì làm thế lãi lớn nhất, thủ tục dễ nhất. (mới chỉ có vài khu mới xây trường học thôi). Thế là cư dân ở đó ngày mấy buổi phải đi về nơi làm việc, đưa đón con cái đến trường, đi ngược nhau, đi từ bên này sang bên kia thành phố. Nghe nói khu triển lãm Giảng Võ đã bán cho một đại gia nào đó để xây hàng chục cao ốc. Tôi mạo muội khuyên đừng xây nữa, xây xong không bán được hàng đâu vì xung quanh chỉ có mấy con đường nhỏ thế, giờ đã tắc rồi, nay mai nhà cao tầng chồng lên thì cứ đứng mà nhìn nhau, đi lại sao được? Nghe ông Bí thư thành phố than phiền không có kinh phí, nhìn thấy trước thảm hoạ mà chịu bó tay, buồn quá.

Xin có ngu ý thế này: thành phố nên cho dừng ngay việc xây các khu chung cư trong trung tâm. Điều này không tốn quá nhiều tiền mà lại tránh được thảm hoạ. Không tin cứ cho Viện nghiên cứu xã hội của thành phố đi lấy ý kiến người dân xem, họ sẽ đồng tình ngay. Thà bây giờ bỏ tiền ra đền cho doanh nghiệp vì đã trót cho họ xây dựng rồi, yêu cầu họ chuyển đổi mục đích sử dụng đất còn đỡ tốn hơn sau này phải phá nhà để làm đường.
Tôi cho rằng các chuyện trên, các ông bà có trách nhiệm biết cả. Vì sao ư? Vì các ông bà đều là những người sáng láng, lại nhiều thông tin. Còn vì cái gì mà các ông bà biết lại không làm hoặc làm khác đi, thì chỉ các ông bà là người biết rõ nhất.
Chả lẽ lại học cụ Tú Xương: bồng bế nhau lên, tớ ở non để tránh thảm hoạ? Nhưng, người khôn, của khó, lúc ấy non cũng hết thì chỉ còn nước thăng thiên thôi.
https://www.facebook.com/long.phamquang.35/posts/1589199674429155?pnref=story


2.

Thủ tướng 'bắt bệnh' Hà Nội ùn tắc

 - Thủ tướng lưu ý Hà Nội nổi lên việc ùn tắc giao thông hiện nay có nguyên nhân là do cho xây dày đặc các chung cư cao tầng trong các quận nội đô.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ghi nhận Hà Nội năm qua làm được nhiều việc tốt, kết quả cụ thể là cải cách hành chính, tinh giảm biên chế, sắp xếp bộ máy, thu ngân sách đạt tốt, thu hút đầu tư tốt…

Thủ tướng 'bắt bệnh' Hà Nội ùn tắc
Chung cư cao tầng mọc dày đặc ở nhiều quận huyện Hà Nội
Tuy nhiên, ông cũng lưu ý Hà Nội nổi lên việc ùn tắc giao thông mà chính Bí thư thành uỷ đã đề cập nhiều lần.
"Tôi và anh Chung cùng xuống hiện trường mấy lần rồi, nguyên nhân quan trọng là việc cho xây quá dày đặc chung cư cao tầng trong các quận nội đô. Đây là việc không phù hợp” - Thủ tướng nhấn mạnh.
Thủ tướng kể lại mới đây ông dự khánh thành 1 cây cầu, đi trên đường mà thấy chung cư cao tầng liên tục, dày đặc.
“Như thế là do cấp phép. Chúng ta không thể chối bỏ nguyên nhân này” - Thủ tướng nhắc nhở và cho rằng đây là bài học kinh nghiệm trong quản lý quy hoạch Hà Nội phải xử lý.
Tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng chiều nay, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung hứa bám sát chỉ đạo của Chính phủ, phối hợp với các bộ, ngành đẩy mạnh cải thiện môi trường kinh doanh, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh.
Đồng thời tăng cường quản lý quy hoạch đô thị, thực hiện hiệu quả năm kỷ cương hành chính 2017… 
Cả làng lên Hà Nội bán kẹo lạc: Đường tắc đến thế kỷ sau

Cả làng lên Hà Nội bán kẹo lạc: Đường tắc đến thế kỷ sau


Nhịp điệu giao thông Hà Nội, Sài Gòn 2016: Tắc - Lụt

Nhịp điệu giao thông Hà Nội, Sài Gòn 2016: Tắc - Lụt


Thu Hằng
http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/thu-tuong-nguyen-xuan-phuc-bat-benh-ha-noi-un-tac-349072.html#inner-article




1.

Văn hóa giao thông Việt - Nhật khác nhau trời vực

Ở Nhật, khi ra đường nếu không may dẫm vào chân nhau thì người bị dẫm sẽ xin lỗi trước, ở VN thì ngược lại.
Chuyện ứng xử giao thông được mổ xẻ tại hội thảo “Văn hóa giao thông - Trách nhiệm thuộc về ai?” sáng 28/12 tại Hà Nội.
Theo ông Đào Ngọc Nghiêm - Phó chủ tịch Hội Quy hoạch kiến trúc và đô thị Hà Nội, văn hóa giao thông ở VN là trách nhiệm của cả hệ thống, trước hết là ở người quản lý, sau đó đến người dân.
Ông đưa ra yếu tố dẫn đến thực trạng tham gia giao thông “chưa văn hóa” ở VN, đó là cơ chế chính sách chất lượng chưa cao, từ nội dung xây dựng, định hướng chưa bám sát thực tiễn...
Cụ thể, VN đang thiếu cơ sở hạ tầng. Đất dành cho giao thông ở đô thị phải là 20% và bãi trông đỗ xe là 3%, nhưng thực tế ở Hà Nội đất dành cho giao thông mới chỉ có 9% và 0,28% đất cho bãi đỗ xe. 
"Do đó, giao thông khó khăn là tất nhiên", ông Nghiêm nêu quan điểm.
Cơ sở hạ tầng thiếu dẫn đến tranh giành, gây ùn tắc và lộn xộn, thiếu văn hóa giao thông là điều khó tránh khỏi.
Ông Vũ Hồng Trường - Chủ tịch HĐ thành viên công ty TNHH Một thành viên Đường sắt Hà Nội cho rằng, văn hóa giao thông ở Việt Nam đang ở "độ tuổi vị thành niên" và phải thêm 5-10 năm nữa mới có thể trưởng thành được.
Ông Trường đưa so sánh về sự khác biệt trong văn hóa ứng xử khi tham gia giao thông ở VN và Nhật Bản: “Ở Nhật, khi ra đường nếu không may dẫm vào chân nhau thì người bị dẫm sẽ xin lỗi trước, lý do là vì mình lớ ngớ cản bước của người khác nên xảy ra chuyện. Ở VN thì người dẫm phải xin lỗi và dễ nhận được câu chửi 'đi đứng kiểu gì…'”.
Đừng đổ lỗi hết cho người dân
Theo ông Nguyễn Xuân Thủy, nguyên Giám đốc, Tổng biên tập NXB GTVT, nếu hạ tầng giao thông tốt, đường rộng thì văn hóa của người tham gia giao thông cũng tốt lên.
Ông nói rõ, nếu luật pháp chặt chẽ thì văn hóa của người dân cũng tốt lên. Do vậy, văn hóa giao thông trước hết thuộc về nhà nước, sau đó mới đến người dân.
Ông Lê Hồng Sơn, nguyên Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) cho rằng, để người tham gia giao thông chấp hành nghiêm thì lực lượng chức năng làm nhiệm vụ còn nhiều vấn đề phải thực hiện.
"Một bộ phận CSGT chưa nhận biết hết nhiệm vụ của mình là phải điều tiết, hướng dẫn người dân tham gia giao thông an toàn, đúng luật, trái lại chỉ thấy vi phạm là phạt. Thậm chí khi vi phạm rồi lại đưa ra phương án '50-50' gây bức xúc và nhờn luật", ông Sơn nói.
Ông Đào Ngọc Nghiêm thẳng thắn tiếp lời, năng lực xử lý vi phạm của lực lượng chức năng chưa nghiêm. Kiểu anh hùng “núp” xử lý vi phạm gây bức xúc dư luận thì không thể nâng cao được văn hóa giao thông trong cộng đồng.
Vẫn có những "hạt sạn"
Thứ trưởng Bộ GTVT Lê Đình Thọ nhìn nhận, đúng là còn những "hạt sạn" trong lực lượng thực thi công vụ nhưng cũng có những hành động rất đẹp như CSGT đưa người già qua đường…
Văn hóa giao thông Việt - Nhật khác nhau trời vực
Thứ trưởng Bộ GTVT Lê Đình Thọ
Văn hóa giao thông phụ thuộc vào trách nhiệm và ý thức của mỗi người trên cơ sở nhận biết pháp luật.
Ghi nhận những đề xuất, ông Thọ cho biết: Bộ GTVT sẽ có trách nhiệm cập nhật, rà soát, bổ sung, điều chỉnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp với sự phát triển của xã hội.
"Trong chiến lược quy hoạch của ngành GTVT cũng phải tính toán và cập nhật lại cho phù hợp" - Thứ trưởng nói.
Thủ tướng 'bắt bệnh' Hà Nội ùn tắc

Thủ tướng 'bắt bệnh' Hà Nội ùn tắc


Ám ảnh khôn nguôi về tai nạn giao thông 2016

Ám ảnh khôn nguôi về tai nạn giao thông 2016


Gia Văn
http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/an-toan-giao-thong/van-hoa-giao-thong-viet-nhat-khac-nhau-troi-vuc-349082.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hướng dẫn viên du lịch người Hoa bôi bác Việt Nam


Bãi biển Mỹ Khê ở Đà Nẵng, một trong hai thành phố thu hút nhiều du khách nhất.

Theo South China Morning Post (SCMP), năm qua là một năm kỷ lục về số du khách từ Hoa lục đến Việt Nam. Tuy nhiên, vấn nạn hướng dẫn viên "chui" người Hoa đang gây căng thẳng : không chỉ làm các công ty du lịch địa phương mất mối, họ lại còn trắng trợn xuyên tạc lịch sử và chủ quyền Biển Đông.
Ở đầu bài viết, tờ báo Hồng Kông mô tả, đó là một ngày du ngoạn dài tại thành phố duyên hải Đà Nẵng. Nhóm du khách xung quanh chùa Linh Ứng và tượng Quan Thế Âm Bồ Tát khổng lồ đã mệt mỏi, hướng dẫn viên của họ bèn tuôn ra một phiên bản khác về lịch sử và văn hóa Việt Nam.

Trời đã về chiều và nóng, phải trở về những căn phòng máy lạnh trong khách sạn, thể nên nhóm người Hoa có thể bỏ qua những sai sót về địa chính trị mà hướng dẫn viên không giấy phép nói. Anh ta bảo rằng Việt Nam không còn là một bộ phận của Trung Quốc, đã đòi độc lập, nhưng vẫn còn lệ thuộc vào Bắc Kinh và tiếp tục triều cống. Hoặc bãi biển Mỹ Khê, bãi biển cát trắng xinh đẹp mà trước đây lính Mỹ gọi là China Beach, thực sự thuộc về Trung Quốc.


Những tuyên bố trơ trẽn như thế có thể không gây ngạc nhiên. Cùng với sự bùng nổ khách du lịch Trung Quốc tại Việt Nam, nhiều người đã hành nghề hướng dẫn một cách bất hợp pháp để đáp ứng nhu cầu. Những hướng dẫn viên "chui" này cho rằng họ sẽ làm hài lòng một công chúng vốn luôn nghĩ rằng Trung Quốc là trung tâm thế giới, hoặc đơn giản là họ rập khuôn theo tuyên truyền của Bắc Kinh về Đông Nam Á, đặc biệt về Biển Đông – mà Đà Nẵng nằm sát cạnh.

Nhưng vấn đề là sự kiện như thế lại diễn ra ngay trên đất Việt Nam, gây ra nhiều tranh cãi. Đây chỉ là một trong những ví dụ về tình trạng căng thẳng đang tăng lên cùng với làn sóng khách du lịch Trung Quốc, mà theo tờ SCMP, đã giúp làm đầy két tiền của thành phố, nhưng lại khiến cho ngành du lịch trong nước phải vất vả để cạnh tranh.

Theo Tổng cục Du lịch, trong năm 2016 Việt Nam đã đón lượng khách Trung Quốc kỷ lục là 2,7 triệu người, tăng 55% so với năm trước. Du khách từ Hoa lục chiếm đến 30% tổng số khách ngoại quốc đến Việt Nam. Đa số khách Trung Quốc thích đến Đà Nẵng hay Nha Trang, hai thành phố miền Trung nổi tiếng với những bãi biển, các di tích lịch sử và hải sản. Hiện tượng này làm ngành du lịch nội địa nhức đầu, và đặc biệt là các hướng dẫn viên người Việt.

Một số hướng dẫn viên người Hoa hoạt động tại Việt Nam nói với các nhóm khách rằng Việt Nam ghét Trung Quốc, không nên tin bất cứ những gì người hướng dẫn tại chỗ nói. Các hướng dẫn viên chui này còn bị cáo buộc sử dụng thổ ngữ để những người hướng dẫn Việt nói tiếng quan thoại hay Quảng Đông không thể hiểu được.

Ông Nguyễn Hữu Tuấn, giám đốc bán hàng của In-Our Tour Company có trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh nói : « Gần đây, một số hướng dẫn viên chui người Hoa cung cấp những thông tin sai lạc về tranh chấp biển đảo tại Biển Đông. Họ xuyên tạc sự thật, gây phiền nhiễu cho người dân và chính quyền Việt Nam ».

Không chỉ những lời hướng dẫn viên chui nói, mà còn cả những việc họ làm đã khiến các công ty du lịch địa phương giận dữ. Ông Trần Trà, chủ tịch Câu lạc bộ hướng dẫn viên du lịch Đà Nẵng, cho biết : « Theo luật pháp, người nước ngoài không được phép hành nghề hướng dẫn du lịch trên đất nước chúng tôi ». 

Ông tâm sự : « Ban đầu, các hướng dẫn viên người Việt vui mừng trước sự gia tăng du khách Trung Quốc trong năm 2016, vì nghĩ rằng sẽ có nhiều cơ hội kiếm tiền hơn và mức sống sẽ tăng lên ». Nhưng ngược lại, họ bị mất mối vì « Các công ty du lịch Trung Quốc chỉ định trưởng đoàn người Hoa làm hướng dẫn, một cách bất hợp pháp ». Còn ông Cao Trí Dũng, chủ tịch Hiệp hội lữ hành Đà Nẵng nói rằng ngoài khía cạnh luật pháp, hướng dẫn viên địa phương còn cảm thấy bị coi thường.

Căng thẳng lên đến tột bực hồi tháng Bảy, khi chính quyền Đà Nẵng và Nha Trang phải ra tay trước nạn hướng dẫn chui. Đà Nẵng trục xuất bốn hướng dẫn viên người Hoa vì làm việc bất hợp pháp, phạt 4.200 đô la, công ty thuê mướn họ bị rút giấy phép và phạt 560 đô la. Cùng trong tháng đó, tỉnh Khánh Hòa trục xuất 66 người Hoa hoạt động bất hợp pháp trong ngành du lịch.

Theo SCMP, xung đột trong hướng dẫn du lịch có thể được coi là một phần của bối cảnh rộng lớn hơn trong quan hệ hai nước. Mặc dù liên hệ chặt chẽ về kinh tế, Trung Quốc và người dân nước này thường không được người dân Việt bình thường có cảm tình. Các tranh chấp ngoại giao, đặc biệt tại Biển Đông, đã khiến nỗi oán giận càng trầm trọng hơn.

Người Việt vốn tự hào về lịch sử và đất nước mình, nên các nỗ lực xuyên tạc của hướng dẫn viên người nước ngoài không thể coi là chuyện nhỏ. Bên cạnh đó, thái độ của một số khách du lịch Trung Quốc lại càng không giúp ích được gì.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2017

CÁC VỊ QUAN ĐẦU TỈNH VÀ NHỮNG TÂM ĐỊA


Bùi Xuân Đính
Nguyễn Đình Tân và Đặng Quốc Lang từng có thời gian cùng làm quan tại tỉnh Nghệ An với nhau; Đình Tân làm Bố chính (viên quan cao thứ hai một tỉnh, phụ trách việc binh lương, thuế khóa; sau quan đứng đầu tỉnh là Tuần phủ), còn Quốc Lang là Tri huyện Hưng Nguyên thuộc tỉnh đó. Về sau, cả hai người cùng thăng tiến và cùng được điều về tỉnh Hưng Yên, song khi đó hai người đã ngang hàng nhau về ngạch quan (Tân làm Tuần phủ, còn Lang làm Án sát - quan phụ trách việc nội chính, tư pháp, ngang với chức Bố chính). Chẳng rõ quá trình “đồng liêu” với nhau ở Nghệ An và Hưng Yên, quan hệ giữa họ ra sao mà về sau, vào tháng Tám nhuận năm Quý Mão (khoảng đầu tháng 10 năm 1843), xảy ra câu chuyện “rầu lòng” dưới đây.

Khi đó, Nguyễn Đình Tân được triệu về Kinh đô Huế để được bổ chức Hữu Tham tri (viên quan hàng thứ ba của một bộ, sau Thượng thư và Tả Tham tri) bộ Lại. Đặng Quốc Lang liền làm bản mật tâu lên triều đình rằng, các văn bản liên quan đến đơn từ của tỉnh Hưng Yên gửi về Kinh đô Huế trong một thời gian dài đều không có chữ ký của quan đứng đầu tỉnh là Tuần phủ Nguyễn Đình Tân là do Tân bị đau mắt đã lâu, nên phàm những đơn từ ở tỉnh đều mật ủy cho thuộc ty của tỉnh phê chuẩn thay. Vua Thiệu Trị đọc bản mật tâu liền lệnh cho Nguyễn Đình Tân phải giải trình về việc văn bản không có chữ ký của mình mà chỉ có con dấu. Tân tâu với Vua rằng, khi mình bị đau mắt, Tân đã từng bàn với Nguyên Án sát Lê Nguyên Trung và Đặng Quốc Lang cùng biết, để Trung và Lang ký các văn bản, không phải là mật ủy và có lần, khi Tân trình bày với hai người về bệnh tình của mình để xin nghỉ dài hạn, Trung và Lang đảm nhận việc điều hành các công việc ở tỉnh đường thay Tân, thì Lang vừa lạy vừa năn nỉ khuyên Tân lưu lại, thành ra Tân không xin nghỉ nữa.
Vua Thiệu Trị nghe lời tâu của Tân, thấy Tân có lỗi nhưng không đến mức nghiêm trọng, nên vẫn ra lệnh cho bộ Lại bổ Tân giữ chức Hữu Tham tri, nhưng phải giáng hai bậc lương; Đặng Quốc Lang và Lê Nguyên Trung cùng bị giáng một bậc.
Tuy nhiên, sau đó, các Ngôn quan (quan phụ trách việc khiếu nại, đàn hặc quan lại) trong triều là Chu Duy, Nguyễn Huy Lịch, Nguyễn Văn Diễm, Trình Nho cùng tâu cho rằng, nếu quả như lời nói của Nguyễn Đình Tân thì không có việc “mật ủy” đó và như vậy, Đặng Quốc Lang tâu báo “mò”, tội không thể từ chối được, còn gì là thể diện của vị quan đầu tỉnh nữa; nên phải tra xét tường tận ngay để nghiêm kỷ luật trong quan trường.
Vua Thiệu Trị nghe lời tâu của các Ngôn quan liền dụ rằng : “Lang và Tân đều là quan to một địa phương, trước tuy là thuộc viên, nay thì là đồng sự. Vái mà không lạy là lễ, há nên tự đặt mình vào địa vị thấp hèn? Huống chi (Quốc Lang) trước thì nói ngọt để cho người ta nghe, sau lại mật tâu để bới cái không hay của người, bụng dạ như thế, công luận không thể dung thứ được ! Đình Tân tâu đối không thực, cũng không phải là đạo người bề tôi thực lòng thờ vua”.
Rồi sai Phạm Duy Trinh mới được bổ về làm Quyền Tuần phủ tỉnh Hưng Yên triệu tất cả các quan và thuộc viên có liên quan của tỉnh ấy hỏi rõ ngọn ngành; cũng lệnh cho Đặng Quốc Lang phải tâu về Kinh. Đến lúc này, Lang mới tâu rằng, sự thật của vụ việc trên là vào đầu năm nay, gặp tiết Vạn thọ (lễ mừng thọ vua, tổ chức vào đầu năm), Tân muốn tổ chức một tiệc hát xướng sau buổi lễ, nhưng buổi đó rất đông các quan và lại viên các phủ, huyện trong tỉnh không đến dự, nên Tân giận dữ, muốn làm bản tâu tham hặc về tội “bất kính” của họ. Đặng Quốc Lang đã đến công đường khuyên giải Tân, chỉ lạy miệng mà thôi, chứ không thụp lạy. Tuần phủ Phạm Duy Trinh thu thập thông tin từ các thuộc viên ở tỉnh Hưng Yên cũng có kết quả giống như lời tâu trên đây của Đặng Quốc Lang.
Vua Thiệu Trị thấy Nguyễn Đình Tân và Đặng Quốc Lang bới xấu lẫn nhau, bèn hạ lệnh giải chức cả hai, giao cho bộ Hình nghị xử. Bản án của các quan trình lên đề nghị cách chức Nguyễn Đình Tân, còn Đặng Quốc Lang phải giáng ba cấp và đổi đi tỉnh khác.
Vua đọc bản án và nói rằng : ”Tân hiềm vì Lang bới sự không hay của mình, nên thêu dệt cái thái độ Lang đê tiện để hả lòng tức giận. Lang tuy không có thực trạng ty tiện, nhưng hơi một tý thì nói lạy bằng miệng, không còn ra thể diện gì nữa. Vậy nên đổi tội Tân xuống cách lưu, Lang thì giáng hai cấp, đổi đi nơi khác”.
Vua cũng khép tội các quan có liên quan. Riêng Thông phán (quan hoặc lại viên phụ trách việc giấy tờ ở tỉnh đường) tỉnh Hưng Yên là Đàm Quang Tú từng bị Phạm Duy Trinh không ưa và khi Tân - Lang bới xấu lẫn nhau, Trinh đã tham hặc cả Tú về tội cắt xén, sửa đổi lời khẩu cung, nên Tú bị cách chức, khóa tay, giao bộ Hình tra hỏi. Đến đây, sau khi xét kỹ, thấy Tú không có những lỗi như Trinh tham hặc, bèn cho phục lại nguyên hàm của Tú; còn Trinh bị giáng hai cấp.
Lời bàn:
Việc hành chính có những nguyên tắc rất nghiêm ngặt, cần phải tuân thủ, nếu không, chỉ vì một sơ suất nhỏ mà có thể dẫn đến những hậu quả từ nhiều phía, cho việc công và cho cả bản thân mình.
Trong trường hợp đang bàn, xét bên ngoài, cả Tuần phủ Nguyễn Đình Tân và Án sát Đặng Quốc Lang đều không tuân thủ đúng nguyên tắc hành chính nên khi xảy ra sự rắc rối, đã bị “phía đối lập” vin cớ đổ lỗi. Đây là điểm thường thấy trong tính cách quan lại thời phong kiến : đổ lỗi những yếu kém, trì trệ, khuyết điểm và thất bại của bản thân mình hoặc của cơ quan mà mình đứng đầu cho hoàn cảnh khách quan và cho người khác, thậm chí cho tập thể.
Song xét kỹ căn nguyên thì đó là do sự đố kỵ giữa hai viên quan đầu tỉnh một thời là quan hệ trên - dưới của nhau, đến đây “ngang bằng” nhau. Khi sự đố kỵ đó được sử dụng vào mục đích “hạ bệ” nhau thì những sai sót trong nguyên tắc hành chính sẽ là “vũ khí” lợi hại để tấn công đối thủ, bảo vệ mình, hiệu nghiệm và nguy hiểm vô cùng.
Câu chuyện là bài học cho việc giữ đúng các nguyên tắc hành chính, nhất là việc bàn giao giữa người cũ - người mới, người đi - người ở trong các công sở. Đây còn là bài học về việc đối nhân xử thế giữa những người cùng làm việc với nhau, một thời từng là quan hệ trên dưới, phụ thuộc nhau, nay lại trở nên ngang hàng nhau.
Câu chuyện cũng cho thấy, việc kiểm tra, thanh tra, giám sát quan lại các cấp phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, để không chỉ phát hiện ra những sai phạm của quan lại, mà còn lần ra và dẹp bỏ những “luồng sóng ngầm” trong hàng ngũ quan lại của từng cơ quan, nảy sinh do bất đồng về quan điểm và cách giải quyết vấn đề, “trái ngược” về tính nết, tính cách, không đồng thuận về quyền lợi, và đặc biệt là tính đố kỵ, “không chịu nhau” giữa  các quan. Những luồng sóng ngầm đó là đầu mối của mâu thuẫn, phe phái trong công sở, ảnh hưởng xấu đến hiệu quả làm việc, uy tín của cơ quan.
Câu chuyện cũng là bài học trong việc xây dựng phong cách làm việc theo những chuẩn mực hành chính của đội ngũ quan lại.
Và những bài học từ câu chuyện trên đây không hề cũ đối với xã hội ta ngày nay.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những bài học sử:

8 lý do Đế chế Tây La Mã sụp đổ

Print Friendly
roman-empire
Nguồn: 8 Reasons Why Rome Fell”, History.com, 14/01/2014.
Biên dịch: Đậu Thế Hoàng | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Vào cuối thế kỷ thứ IV, Đế quốc Tây La Mã sụp đổ sau gần 500 năm thống trị như một siêu cường hùng mạnh nhất thế giới. Theo các sử gia, kết quả này là do hàng trăm yếu tố khác nhau gây nên, từ thua trận, thuế má bất ổn, cho tới thiên tai và thậm chí là biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, nhiều người khác lại cho rằng, Đế chế La Mã không hẳn đã suy tàn vào năm 476 SCN, bởi nửa phía đông của đế chế này vẫn tồn tại thêm một nghìn năm nữa dưới tên gọi Đế chế Byzantine. Dù những câu hỏi về việc Đế chế này sụp đổ như thế nào và vào lúc nào vẫn đang là đề tài tranh luận, một vài giả thiết nổi bật nhất đã lý giải về sự suy yếu và tan rã của Đế quốc Tây La Mã. Cùng tìm hiểu 8 lý do dưới đây để biết tại sao cuối cùng một trong những đế chế huyền thoại nhất trong lịch sử lại suy tàn.
  1. Cuộc xâm lăng của các man tộc
Giả thuyết xác đáng nhất cho sự sụp đổ của Đế quốc Tây La Mã gắn với một chuỗi những lần thất trận khi chống lại các thế lực bên ngoài. Cuộc đấu tranh giữa Rome với các bộ tộc Germanic (Giéc-manh) kéo dài hàng thế kỷ, nhưng tới những năm 300, các “man tộc” như người Goth đã tràn sâu vào trong biên giới của Đế quốc Tây La Mã. Vào cuối thế kỷ thứ IV, người La Mã đã chế ngự được cuộc nổi dậy của người Germanic, nhưng đến năm 410, vua Alaric của Visigoth đã tổ chức thành công một cuộc cướp phá thành Rome. Trong vài thập kỷ sau đó, Đế quốc Tây La Mã liên tục phải gánh chịu sự đe dọa trước khi “Thành phố Vĩnh hằng” (Eternal City) này bị tấn công lần nữa bởi người Vandal vào năm 455. Cuối cùng, đến năm 476, người đứng đầu tộc Germanic là Odoacer đã tiến hành một cuộc nổi loạn và truất ngôi Hoàng đế của Romulus Augustulus. Kể từ đó trở về sau, không còn vị Hoàng đế La Mã nào giành lại được quyền cai trị ở Italia, dẫn tới việc nhiều người trích dẫn năm 476 là thời điểm Đế quốc Tây La Mã sụp đổ.
  1. Những khó khăn về kinh tế và sự quá lệ thuộc vào lao động nô lệ
Trong khi bị các thế lực từ bên ngoài tấn công, Rome cũng bị mục ruỗng từ bên trong do xảy ra một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Những cuộc chiến liên tiếp xảy đến cùng với bội chi dẫn đến tình trạng ngân khố hoàng gia bị thâm hụt nặng, ngoài ra, sưu cao thuế nặng và tình trạng lạm phát đã làm gia tăng khoảng cách giữa người giàu và người nghèo. Với hi vọng trốn thuế, nhiều người thuộc tầng lớp giàu có đã bỏ trốn tới vùng quê và lập nên các thái ấp độc lập. Cùng thời gian này, Đế chế còn bị lung lay do thiếu lao động. Nền kinh tế của Rome phụ thuộc vào nô lệ trong hoạt động cày cấy, làm nghề thủ công, và sức mạnh quân đội thường mang lại những tù binh mới để phục vụ lao động. Thế nhưng, quá trình mở rộng lãnh thổ chững lại trong thế kỷ thứ II khiến nguồn cung ứng nô lệ của Rome và các chiến lợi phẩm bắt đầu cạn kiệt. Một tai ương khác ập tới vào thế kỷ thứ V khi người Vandal chiếm được khu vực Bắc Phi và trở thành cướp biển tại vùng biển Địa Trung Hải khiến hoạt động giao thương của đế chế bị gián đoạn. Với tình hình kinh tế chao đảo, sản xuất nông nghiệp và hoạt động thương mại giảm sút, Đế quốc Tây La Mã bắt đầu mất đi vị thế của mình ở châu Âu.
  1. Sự trỗi dậy của Đế quốc Đông La Mã
Số phận của Đế quốc Tây La Mã phần nào được định đoạt vào cuối thế kỷ thứ III, khi Hoàng đế Diocletian chia cắt Đế chế La Mã thành hai phần lãnh thổ – Đế quốc Tây La Mã nằm ở thành phố Milan, Đế quốc Đông La Mã nằm ở Byzantium, sau này được gọi là Constantinople. Bằng cách phân chia này, việc cai trị trở nên dễ dàng hơn trong ngắn hạn, nhưng hai vùng bắt đầu trở nên cách xa nhau theo thời gian. Đế quốc Đông và Tây La Mã không còn đồng lòng hợp tác trong cuộc chiến chống lại những mối đe dọa bên ngoài, và hai bên còn thường tranh cãi nhau về các nguồn lực và việc hỗ trợ quân sự. Khi sự khác biệt ngày càng lớn, Đế quốc Đông La Mã – quốc gia phần lớn nói tiếng Hy Lạp đã phát triển hưng thịnh, trong khi Đế quốc Tây La Mã nói tiếng La-tinh lại rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế. Quan trọng hơn cả, sức mạnh của Đế quốc Đông La Mã đã khiến các cuộc xâm lược của các man tộc chuyển sang phía Tây. Các hoàng đế như Constantine luôn đảm bảo rằng thành phố Constantinople được đặt dưới sự bảo vệ kỹ càng và kiên cố, còn Italia và Rome – nơi chỉ có giá trị biểu trưng đối với nhiều người ở phía Đông – lại trở thành khu vực dễ bị tổn thương. Cuối cùng, cơ cấu chính trị của Đế quốc Tây La Mã tan rã vào thế kỷ thứ V, trong khi đó, Đế quốc Đông La Mã tồn tại thêm một nghìn năm nữa trước khi bị Đế chế Ottoman lấn át vào những năm 1400.
  1. Mở rộng quá mức và ‘vung tay quá trán’ vào quân sự
Trong thời kỳ đỉnh cao, Đế chế La Mã trải dài từ Đại Tây Dương tới sông Euphrates ở Trung Đông, nhưng việc bành trướng này có thể cũng là dấu chấm hết của một đế chế. Với việc cai quản một vùng đất rộng lớn như vậy, đế chế phải đối mặt với một cơn ác mộng về hành chính lẫn hậu cần. Ngay cả với các hệ thống đường sá có chất lượng cũng không thể giúp người La Mã di chuyển đủ nhanh và hiệu quả để quản lý lãnh thổ của mình. Rome gặp khó khăn trong việc tập hợp đủ số lượng binh lính và nguồn lực nhằm bảo vệ biên giới trước các cuộc nổi loạn địa phương và các cuộc tấn công từ bên ngoài, và vào thế kỷ thứ II, Hoàng đế Hadrian buộc phải dựng lên bức tường thành nổi tiếng của mình tại Anh chỉ để cách ly kẻ thù. Khi số tiền đế chế dùng để duy trì quân đội ngày càng lớn, tốc độ phát triển về tiến bộ kỹ thuật theo đó chậm lại, và các cơ sở hạ tầng dân dụng rơi vào tình trạng xuống cấp.
  1. Tham nhũng trong chính phủ và bất ổn chính trị
Nếu như quản lý một vùng lãnh thổ rộng lớn đối với Rome là khó khăn, thì sự lãnh đạo không nhất quán và kém hiệu quả càng khiến cho vấn đề thêm trầm trọng. Ngôi vị Hoàng đế La Mã luôn là công việc đặc biệt nguy hiểm, và trong bối cảnh rối ren của thế kỷ thứ II và thế kỷ thứ III, vị trí này gần như trở thành bản án tử. Cuộc nội chiến đã đẩy đế chế vào tình trạng hỗn loạn, chỉ trong vòng 75 năm đã có hơn 20 người lên ngôi hoàng đế, thường là sau khi sát hại người tiền nhiệm. Ngay cả đội Hộ vệ có nhiệm vụ canh gác và bảo vệ hoàng đế cũng ra tay ám sát và tùy ý tấn phong các hoàng đế mới, thậm chí còn bán đấu giá vị trí này cho ai trả giá cao nhất. Sự mục nát về chính trị còn lan cả sang Viện Nguyên Lão (Roman Senate), nơi cũng không thể kiểm soát được số lượng của các hoang đế do nạn tham nhũng cũng như năng lực yếu kém của cơ quan này. Khi tình hình xấu đi, niềm tự hào của công dân suy giảm, nhiều công dân La Mã mất đi lòng tin vào giới lãnh đạo.
  1. Người Huns xuất hiện và sự di cư của các man tộc
Các đợt tấn công của các man tộc vào Rome một phần xuất phát từ việc người Huns xâm chiếm châu Âu và gây ra cuộc di cư ồ ạt vào cuối thế kỷ thứ IV. Khi các chiến binh Á – Âu này càn quét tới Bắc Âu, họ đã đánh đuổi nhiều bộ tộc Germanic tới biên giới của Đế chế La Mã. Người La Mã bất đắc dĩ để người của bộ tộc Visigoth băng qua phía nam sông Danube và đến khu vực an toàn thuộc lãnh thổ của đế chế La Mã, nhưng họ lại đối xử rất thô bạo với người Visigoth. Theo nhà sử học Ammianus Marcellinus, nhiều viên chức La Mã thậm chí còn buộc những người Goth đói khát phải bán con làm nô lệ để đổi lấy thịt chó. Do đối xử tàn ác với người Goth, người La Mã đã tạo ra kẻ thù nguy hiểm ngay trong chính biên giới của mình. Khi sự áp bức trở nên quá sức chịu đựng, người Goth nổi dậy và họ cuối cùng đã đánh tan quân đội La Mã và giết Hoàng đế Valens của Đế quốc Đông La Mã trong cuộc chiến Adrianople vào năm 378 SCN. Trước cú sốc ấy, người La Mã đã thương thuyết một hòa ước tạm thời với các man tộc, nhưng thỏa hiệp ngừng chiến bị đổ vỡ vào năm 410 khi vua Alaric của Goth kéo quân về phía tây và chiếm đóng Rome. Với sự suy yếu của Đế quốc Tây La Mã, các bộ tộc Germanic như Vandals và Saxon đã có thể tràn qua biên giới của đế quốc này và chiếm Anh, Tây Ban Nha và Bắc Phi.
  1. Thiên chúa giáo và những giá trị truyền thống bị đánh mất
Sự suy tàn của Rome đi đôi với sự nở rộ của đạo Thiên chúa, và một số người cho rằng sự trỗi dậy của đức tin mới này cũng góp phần vào sự sụp đổ của đế chế. Sắc lệnh Milan đã hợp pháp hóa Thiên chúa giáo vào năm 313 và biến nó trở thành quốc giáo vào năm 380. Những sắc lệnh này đã chấm dứt nhiều thế kỷ của tình trạng đàn áp Thiên chúa giáo, nhưng chúng cũng đã làm xói mòn các hệ giá trị La Mã truyền thống. Thiên chúa giáo thay thế Đa thần giáo La Mã, thứ vốn coi hoàng đế như thần thánh, đồng thời chuyển sang tôn thờ Chúa trời độc tôn thay vì nhà vua như trước đây. Cùng với đó, Giáo hoàng và những người đứng đầu giáo hội cũng đóng vai trò lớn hơn trong các vấn đề chính trị, càng làm cho việc cai trị trở nên phức tạp hơn. Nhà sử học thế kỷ XVIII Edward Gibbon là người đề xướng nổi tiếng nhất của giả thiết này, nhưng kể từ đó, quan điểm của ông đã gặp nhiều chỉ trích. Tuy việc truyền bá Thiên chúa giáo có thể đã đóng một vai trò nhỏ trong việc làm xói mòn phẩm chất công dân La Mã, nhưng đa phần các học giả ngày nay cho rằng, ảnh hưởng của nó bị lu mờ nếu so với những yếu tố về hành chính, kinh tế và quân sự.
  1. Sự suy yếu của quân đoàn La Mã
Mặc dù phần lớn ghi chép trong sử sách đều nói Rome sở hữu quân đội đáng ghen tị trong thế giới cổ đại, nhưng trong giai đoạn suy tàn, hình ảnh của những quân đoàn La Mã hùng dũng bắt đầu có sự đổi khác. Khi không còn khả năng tuyển đủ binh lính từ dân chúng, các vị hoàng đế như Diocletian và Constantine tiến hành thuê các đội quân đánh thuê từ nước ngoài nhằm củng cố quân đội. Hàng ngũ quân đoàn La Mã cuối cùng đã đầy những người Goth và các man tộc khác, nhiều tới nỗi người La Mã phải dùng từ La-tinh “barbarus” (“người mọi”) thay cho “soldier” (binh lính) để gọi họ. Dù các binh lính gốc Germanic này đều là các chiến binh hung bạo, nhưng họ lại rất ít hoặc không hề trung thành với đế chế, những viên chỉ huy đói khát quyền lực người Germanic thường trở mặt với những ông chủ La Mã của mình. Trên thực tế, nhiều người trong các man tộc cướp phá thành Rome và lật đổ Đế quốc Đông La Mã từng có hàm tước khi còn phục vụ trong các quân đoàn La Mã.
Xem thêm:
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2016/01/07/8-ly-do-de-che-tay-la-ma-sup-do/#sthash.NnIew79S.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tư Tưởng Chính Trị Phương Tây Thời Trung Cổ


a) Đặc điểm lịch sử chính trị - xã hội 

Đặc trưng đời sống xã hội Tây Âu thời kỳ này là sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và sự ra đời chế độ phong kiến. Lúc này người nông dân bị bóc lột hết sức nặng nề và trở thành những người hoàn toàn lệ thuộc. Họ bị trói buộc vào ruộng đất của địa chủ, lao động nô lệ thay bằng lao động của nông nô và thợ thủ công. Trong giai doạn nay không những đa diễn ra sự suy đồi về kinh tế mà về toàn bộ đời sống xã hội. 

Về mặt tinh thần, thời kỳ trung cổ ở Tây Âu là cũng là thời kỳ thống trị của tôn giáo và nhà thờ. Những thế kỷ đầu của thời kỳ trung cổ là một bước thụt lùi so với thời kỳ cổ đại. Xã hội tây âu thời kỳ trung cổ có sự phân chia giữa hai trật tự của đời sốn và sự phân chia giữa hai quyền lực. Quyền lực chính trị có lĩnh vực của nó là cái hữu hạn (hay cái thế tục). Quyền lực tôn giáo ngược lại, thực hành trên lĩnh vực vô hạn. 21 Tồn tại hai thiết chế khác biệt là chính trị và giáo hội (hay nhà nước và nhà thờ). 

b) Các nhà chính trị tiêu biểu 
St. Ôguytxtanh (357 - 430) 
(còn gọi là thánh Ôguytxtanh), ông sinh ra ở Bắc phi nay thuộc Angiêri. Ông là một giáo chủ, đương thời ông được coi là trụ cột, là sự khẳng định chân lý của đạo Cơ đốc. Những tư tưởng chính trị của ông được thể hiện trong tác phẩm “về thành đô của thựơng đế”. Ông chia xã hội loài người thành hai thành đô hai vương quốc: vương quốc điều ác là nhà nước trần thế và vương quốc của thượng đế trên trái đất là nhà thờ. 

Theo ông nhà nước cần phải phụ thuộc vào nhà thờ. Nhà thờ phải là một trường học về tư cách công dân và tình hữu ái, ở ông quyền lực của nhà thờ cao hơn nhà nước. Nhà thờ thống trị về tinh thần còn nhà nước thì thống trị về vật chất. Những giá trị tinh thần, phẩm hạnh và đạo đức được ông đặt lên hàng đầu. 

Con người sinh ra đều như nhau, đều bình đẳng trước chúa nên không có phân biệt sang hèn, giàu nghèo. Chính trị phải được thực hiện như sự công bằng ngự trị, phải để cho công bằng chi phối không để cái khác chi phối. Do đó, người cầm quyền trước hết phải biết chỉ huy mình trước khi chỉ huy người khác. 
Theo ông người chỉ huy phải có trí tuệ, có nhân cách 

+ Phải biết trước và ngăn chặn những thói hư tật xấu 
+ Quyền lực chỉ huy phải được thực hiện như quyền lực phục vụ 
+ Cầm quyền không chỉ là một vinh dự mà còn là một gánh nặng 
+ Cầm quyền phải biết phân biệt những lợi ích thực sự của quốc gia. 

Quan niệm về bản chất của quyền uy trong xã hội: ông đưa ra hai phẩm chất quan trọng của quyền lực. 
+ Quyền lực là sở hữu chung của cả cộng đồng “quyền lực là sở hữu cá nhân thì là một sai lầm cơ bản”. 
+ Sứ mệnh của quyền lực là làm cho sự công bằng ngự trị, không có cong bằng, quyền lực trở nên sai lệch. 

Tômát Đacanh (1225 - 1274) 
Ông sinh ra ở Italia, là nhà thần học đạo Thiên chúa. Học thuyết của ông được nhà thờ đạo thiên chúa coi là duy nhất đúng đắn và lấy làm hệ tư tưởng của mình. Ông cho rằng con người là động vật chính trị để phát triển và hoàn thiện, đời sống của họ đòi hỏi an ninh, trật tự, pháp lý. 

- Theo ông nguồn gốc của quyền lực là thượng đế - Thể chế chính trị hợp lý nhất là thể chế chính trị hỗn lọan. Chính phủ trong đó kết hợp nền quân chủ, chế độ quí tộc và chính phủ nhân dân. Mặt khác ông vẫn đề cao và ủng hộ cho chế độ quân chủ.

Phần nhận xét hiển thị trên trang