Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 27 tháng 12, 2016

VỐN SỐNG & LAO ĐỘNG NHÀ VĂN


NGUYỄN KHẮC PHÊ
(Trích Tự truyện “Số phận không định trước”)
Từ ngày “chuyển ngành” thành anh “cán bộ văn nghệ” (1974), một công việc tôi thường được tham gia là “đi thực tế”.

Trước khi nói chuyện của riêng mình, có lẽ cũng nên bàn qua về cái gọi là “đi thực tế” – theo như tôi hiểu thì chỉ mới xuất hiện từ khi có phong trào văn nghệ cách mạng, có tổ chức quản lý, lãnh đạo văn nghệ sĩ, với mục đích là lôi kéo những văn nghệ sĩ chỉ thích “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” về sống với cuộc sống của nhân dân.
Hình như cũng có người cho rằng đây là chủ trương khá là “vớ vẩn”, vì tác phẩm được sáng tạo từ trải nghiệm máu thịt, từ con tim, khối óc của mỗi văn nghệ sĩ, chứ đâu phải qua mấy ngày “đi xem” nông dân gặt lúa, công nhân bên lò nung…, về nhà tả lại là xong! Suy nghĩ một cách bình tĩnh thì ý kiến loại này không hoàn toàn là “vớ vẩn”, nhất là với những cuộc “đi thực tế” theo kiểu “cưỡi   ngựa xem hoa”, một kiêu du lịch trá hình, chỉ tốn tiền bạc của công quỹ; và nếu chúng ta thử đặt câu hỏi: Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng có ai tổ chức “đi thực tế” đâu mà vẫn có tiểu thuyết “Tắt đèn”, “Số đỏ”…; rồi tác phẩm khoa học viễn tưởng thì “đi thực tế” ở đâu?
Tuy vậy, theo góc nhìn của tôi, thì chủ trương “đi thực tế” vẫn có ích đối với người sáng tác, miễn là việc đó không bị dẫn dắt bởi quan niệm thô thiển là “thấy gì viết nấy” mô tả y xì hiện thực, càng không thể theo kiểu chỉ đi “săn” nhân tố mới, “người tốt việc tốt”, “tô hồng” hiện thực. Vì đơn giản, trách nhiệm nhà văn và đặc thù nghề văn khác với báo chí và cán bộ tuyên huấn; hơn thế, như chúng ta đều biết, hầu hết những tác phẩm lớn của nhân loại đều thể hiện những số phận bất hạnh, những nỗi đau nhân thế.
Với nhận thức như thế, thì chính những chuyến “đi thực tế” sẽ giúp nhà văn hiểu biết cuộc sống nhân dân sâu sắc hơn, nhìn ra những “góc khuất” của cuộc đời và nhiều khi những cảnh đời ta tình cờ bắt gặp hay nghe kể lại, sẽ làm nẩy những tứ thơ, gợi ra cả một “tình huống truyện” độc đáo. Có thể nói, đó là “bột” để “gột nên hồ” là tác phẩm văn chương. Một số tác phẩm của tôi đã hình thành theo “con đường” ấy.
1. Từ những con kênh khô cạn đến tiểu thuyết “Những cánh cửa đã mở” 
Tiểu thuyết Những cánh cửa đã mở dày gần 600 trang, xuất bản lần đầu năm 1986 (Nxb. Thuận Hóa), năm 2006, được Nxb. Hội Nhà văn tái bản trong bộ sách “Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi Mới”, năm 2014 được in lại trong bộ sách đạt Giải thưởng Nhà nước (Nxb. Hội Nhà văn). Nếu nói về đề tài, thì đó là cuốn tiểu thuyết viết về những công trình thủy lợi trên dải đất miền Trung khắc nghiệt trong mấy chục năm cuối thế kỷ 20. Và quả thật cuốn sách đã được viết sau nhiều đợt tôi “đi thực tế” tại các công trình thủy lợi ở Bố Trạch (Quảng Bình), đại thủy nông nam Thạch Hãn (Quảng Trị) kênh đào nam Sông Hương, rồi đập ngăn mặn Thảo Long (Huế)… Nhưng trong sách nếu chỉ có chuyện xây đập ngăn sông thì ngoài dân làm thủy lợi, mấy ai đọc, nhất là sách lại dày như thế. Vậy mà sách in lần đầu 25.000 bản, chẳng có chiêu thức “PR” nào (ngoài một bài viết của anh Phan Ngọc Thu trên Tạp chí Sông Hương) đã bán hết trong một thời gian ngắn.
Có lẽ cuốn tiểu thuyết “đứng” được và bán hết khối lượng lớn chính nhờ cái tên sách và cũng là hình tượng gợi nhiều suy nghĩ đến các vấn đề đặt ra trong tác phẩm. Hình tượng đó chính là một chi tiết kỹ thuật – một sáng kiến – trong công trình đập ngăn mặn Thảo Long (gần cửa Thuận An): Thay vì làm một đập bê tông khổng lồ chắn ngang sông Hương để ngăn nước mặn, trong điều kiện tiền đầu tư hạn hẹp, các kỹ sư có sáng kiến làm những cánh cửa treo vào hàng cọc bê tông đóng giăng ngang cửa sông; khi thủy triều dâng, những cánh cửa bị ép vào hàng cọc, không cho nước mặn lên; còn mùa mưa bão, trước sức đẩy của nước từ thượng nguồn, những cánh cửa tự động mở để thoát lũ. Hình ảnh những cánh cửa tự do “bay lên” thật đẹp, đồng thời gợi nghĩ đến thái độ của con người trước thiên nhiên: không áp đặt thô bạo, mà biết nương dựa, hòa điệu với thiên nhiên…
Cho dù vậy thì đây cũng không phải là vấn đề của văn chương. May mắn là tôi nắm được “thực tế” này qua người bạn kỹ sư Hàm; và đặc biệt hơn, kỹ sư L.K., “đồng tác giả” Thảo Long là người đồng hương với tôi – anh là lớp sinh viên Trường Đại học Thủy lợi khóa đầu tiên, sau khi miền Bắc được hòa bình (1954), nhưng “nghe nói” do hưởng ứng “Nhân văn – Giai phẩm” sao đó (chỉ “hưởng ứng” thôi, chứ anh có viết lách gì đâu!), bằng tốt nghiệp bị gác lại, lương bổng thua thiệt rất nhiều. Sau 1975, anh vào Huế tiếp nhận căn nhà bà mẹ giao lại và kết hôn với một cô giáo dạy Anh văn, chẳng ngại chi cô có anh trai là sĩ quan chế độ cũ di tản sang Mỹ! Thế là từ hình ảnh những “cánh cửa” mở tự do của một công trình thủy lợi, tôi tìm đến vấn đề “Mở cánh tự do” (tên một phần trong tiểu thuyết) đối với trí thức, đối với mối quan hệ giữa “Bên thắng cuộc” với đồng bào ta ở miền Nam. Trong thời gian thi công đập Thảo Long, tôi đang ở nhờ một căn phòng của gia đình anh L.K., nên tôi đã “mượn” luôn khung cảnh căn nhà ở Huế này đưa vào tiểu thuyết…
“Thông điệp” của một tiểu thuyết dày trên 600 trang không chỉ từng đó. “Thực tế” gợi cảm hứng đầu tiên cho tác phẩm này lại là những dòng kênh khô cạn qua các triền đồi cháy nắng – hậu quả của kiểu lãnh đạo “duy ý chí”, tiêu tốn không biết bao nhiêu là tiền của và cả xương máu của những người lao động. Nỗi thương cảm trước cô gái trẻ bị cụt chân do vướng bom khi đào kênh ở ngay làng quê vợ tôi đã trào lên ngọn bút khi tôi viết một chương vào loại hay nhất trong tác phẩm, miêu tả sự hối hận và tỉnh thức của Hồng – nhà báo, con gái vị phó chủ tịch tỉnh, người liều mạng khởi phát công trình sông đào vô dụng – khi cô có dịp trở lại thăm công trình mà cô đã “tô vẽ” hồi nào…
Công trình vô dụng đó là “điển hình” cho các con kênh mãi khô cạn như kênh “Duy-Hàm ở huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) và sông đào “Nam Sông Hương” ở Huế. Khung cảnh làng quê ở bên sông với những mái nhà có các cánh cửa phía trước, kiểu tấm rèm chống lên như “mi mắt mở chong”, với các bà mẹ nhân hậu chính là tôi “mượn” cảnh làng Trung Quán – quê vợ tôi. Hồi còn ở Quảng Bình, tôi cũng đã mấy lần đi tham gia lao động trên các công trình thủy lợi. Còn cảnh những chiếc xe chở nước ngọt bán cho dân phố do dòng sông nhiễm mặn là cảnh thành phố Huế mùa hè sau giải phóng, khi chưa có đập Thảo Long…
Hiện thực cuộc sống mà tôi thu lượm qua các chuyến “đi thực tế” ngành thủy lợi và vốn sống trực tiếp của tôi đã được “biến hóa” và đưa vào tác phẩm Những cánh cửa đã mở như thế đó. Cũng cần nói thêm, tác phẩm đạt được một ít thành tựu là nhờ tôi đã tránh được kiểu “bám sát” tiến độ xây dựng các công trình (tương tự như các tiểu thuyết viết về chiến tranh “bám sát” diễn biến một chiến dịch…) mà hướng sự quan tâm chủ yếu vào số phận nhân vật – các kỹ sư, cán bộ lãnh đạo, những con người bình dị ở nông thôn Việt Nam… trong cả một quá trình mấy chục năm…
Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật – biên tập viên – và anh Vương Hồng, giám đốc Nhà xuất bản Thuận Hóa lúc đó, tôn trọng tác giả, giữ nguyên bản thảo 100%; chỉ bổ sung một câu nói của Lê Nin theo đề nghị của anh Vương Hồng, đại ý phê phán lối áp đặt kiểu chỉ huy thời chiến vào lãnh đạo xây dựng kinh tế. Anh Vương Hồng không ít lần gặp tôi, tỏ ý rất thích thú đã cho xuất bản một tác phẩm phù hợp với không khí “Đổi mới” sôi nổi lúc đó (1986 – 1987). Có lẽ nhờ thế, một tác giả đã chuyển thể phần đầu tiểu thuyết sang kịch truyền thanh phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam và trong kỳ tổng kết Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên 5 năm (1982 – 1987), Những cánh cửa đã mở đã được tặng Giải Bông Sen Trắng hạng A.
Nhân đây, nói chuyện “ăn theo” cuốn sách này cho vui. Mà duyên là chuyện “đi thực tế”. Khi sách vừa ra, tôi được đi Liên Xô cùng các nhà văn Trần Công Tấn, Văn Linh và nhà phê bình Phong Lê tham dự Hội thảo “Văn xuôi trong những năm gần đây – Những vấn đề xã hội và sự tìm tòi sáng tạo” giữa hai Đoàn Nhà văn Liên Xô và Việt Nam. Tại Hội thảo, tôi đã đọc bản tham luận “Những vấn đề xã hội và sự tìm tòi sáng tạo trong văn học nghệ thuật”, về sau đã đăng Tạp chí Sông Hương số 29 (Tháng 1/1988) và in trong tập sách “Hiện thực và sáng tạo tác phẩm văn nghệ” của tôi (Nxb. Hội Nhà văn, 2006). Trước khi lên đường, một số bạn ở Hà Nội từng quen buôn bán qua Liên Xô và Đông Âu nhiệt tình khuyến khích và bày vẽ cho chúng tôi mua hàng nào thì bán có lời. Thế là tôi cũng liều một chuyến, vay tiền cậu em rể, đi “chợ Trời” mua quần “bò”, đồng hồ điện tử và cả… mì chính mang sang! Lúc ấy cũng ít băn khoăn vì sao mà một cường quốc phóng vệ tinh đầu tiên, có tên lửa, bom hạt nhân như Liên Xô mà lại thiếu mì chính và đồng hồ điện tử. Chỉ lo tính toán tiền nong, cân đo trọng lượng, nhất là khi mang hàng về. Bốn anh em chúng tôi đều có “đầu mối” là những bạn quen đang học hay công tác ở Liên Xô, giúp bán hàng mang sang và hướng dẫn mua hàng gì về; lúc đó “ưu tiên” là mua thuốc lá Captant, bàn là, “áo bay”, rồi phích nóng-lạnh, đồ nhôm, máy may, phim chụp ảnh… Phải nhiều lần đi sắp hàng mua ở các cửa hàng mậu dịch mới hết tiền. Khổ nhất là “đóng hàng” và làm thủ tục gửi về nước trước khi ra sân bay. Tiếng Nga thì chủ yếu nói bằng… tay. Tôi vụng về, đóng xong thùng hàng to bằng cái tủ lạnh thì các bạn đã về trước, lần mò ra ga tàu điện ngầm, rồi đón tắc-xi về khách sạn trong tâm trạng đầy lo lắng. Hình như tối đó không đón được tắc-xi, nhờ xưng là “nhà văn Việt Nam”, nói tên khách sạn, và một xe con cho đi nhờ; rồi cũng về đến nơi.
Cũng vì “đèo bòng” hàng hóa mà lúc về đến sân bay Nội Bài, suýt nữa bị kẹt. Cán bộ hải quan khám thùng hàng, chất vấn: “Anh mua thuốc lá làm gì nhiều thế này?”; “Tôi mua tặng các bạn nhà văn ở Hà Nội, Huế…”. Người cán bộ hải quan liếc nhìn tôi giây lát, xem lại giấy tờ và hỏi: “À, có phải anh là tác giả cuốn tiểu thuyết Những cánh cửa đã mở phải không?” Kết cục, tôi “thoát hiểm”, trong khi một nữ đại biểu Quốc hội, cũng… buôn thuốc lá Captant, bị phát hiện và bị một tờ báo “nêu gương”! Chuyện chỉ có thế, nhưng có lẽ nên thêm một lời bình: “Này, anh cán bộ hải quan đọc cuốn sách đó là nhờ cái nhan đề “Cánh cửa đã mở” gợi nghĩ đến công việc khám xét ở các cửa khẩu, chứ đừng có tưởng…”.
2. Tai nạn ở hầm đá vôi Long Thọ đến tiểu thuyết “Nếu được chết thay em” 
Tiểu thuyết Nếu được chết thay em (Nxb. Thuận Hóa, 1989), với tranh bìa của họa sĩ Đinh Cường, tuy cũng được Giải Cố Đô hạng B (Tổng kết 5 năm Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế 1987 – 2003), nhưng ít được dư luận chú ý. Tuy vậy, nói đến chuyện “đi thực tế” để sáng tác, thì đây lại là một trường hợp khá “điển hình”.
Khi đi thực tế các công trình thủy lợi, ngoài nhiệm vụ trước mắt là viết vài bài ghi chép “người thật việc thật” để đăng báo như nhiều chuyến “đi thực tế” khác của hầu hết các nhà văn, tôi chưa hề nghĩ đến mục đích sẽ viết tiểu thuyết về công trình A… hay B… Các chuyến đi cũng rải rác trong nhiều năm và hầu như không ai tổ chức, không được ai giúp đỡ. Như khi đi tìm hiểu các công trình thủy lợi ở huyện Bố Trạch, tôi đạp xe đi một mình, đến nhà bếp cơ quan huyện ăn cơm phải nạp tiền và cả tem gạo!
Còn việc “đi thực tế” ở nhà máy xi măng Long Thọ – một xí nghiệp có truyền thống vẻ vang nhất ở Huế – là do “thủ trưởng” Nguyễn Khoa Điềm thấy tôi là một tác giả được xếp vào hàng “nhà văn công nhân”, gợi ý và rồi cử hẳn tôi về tham gia sinh hoạt suốt liền 3 tháng tại nhà máy. Và như thế, khởi đầu chuyến đi, tôi đã tự đặt nhiệm vụ là phải viết một cuốn tiểu thuyết về nhà máy này.
Suốt 3 tháng liền, tôi được nghỉ công tác ở Tạp chí Sông Hương, lên “bám trụ” tại Long Thọ. Long Thọ nổi tiếng không chỉ vì sản xuất ra vôi, xi măng từ thời Tây còn đô hộ mà do câu ca “Gió đưa cành trúc la đà – Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Cương” được truyền tụng trong dân gian. Nhà máy vôi Long Thọ đối diện với chùa Thiên Mụ qua sông Hương và ở cạnh Hổ Quyền – cũng là một di tích độc đáo của Huế. Tuy vậy, 3 tháng ở Long Thọ, tôi ít quan tâm đến các di tích mà tập trung tìm hiểu lịch sử nhà máy, đời sống công nhân, nhiều ngày đêm mang quần áo như công nhân xuống hầm khai thác đá vôi, lên lò luyện clinke, vào phòng thí nghiệm chất lượng sản phẩm… Đồng chí Lê Bá Lan, giám đốc nhà máy và các đồng chí trong Đảng ủy, Công đoàn nhà máy đều quan tâm đến công việc của tôi, bố trí một căn phòng nhỏ khi tôi ngủ lại và cung cấp những bữa ăn miễn phí theo tiêu chuẩn như công nhân; mỗi tháng, tôi còn được trợ cấp một khoản tiền nhỏ, có lẽ bằng mức lương thấp nhất của nhà máy.
Với sự “thâm nhập” thực tế như vậy, tôi đã viết vài bài ký một cách dễ dàng, nhưng mãi không tìm ra ý tứ, cốt truyện cho cuốn tiểu thuyết. Cho đến sau một trận lũ, hầm đá sâu hàng chục mét bị ngập chìm trong nước đã khiến 3 công nhân trẻ hy sinh. Từ sự cố này, tôi đã “dựng” thành tiểu thuyết Nếu được chết thay em, trong đó không chỉ có chàng công nhân từng bỏ nhà máy đi kiếm trầm cũng suýt mất mạng trong trận lũ kinh hoàng, phải sám hối rồi tỉnh ngộ mà nhiều người khác cũng tự “kiểm định” lại công việc của mình một cách ng- hiêm túc, như các nhân viên kỹ thuật trong việc kiểm tra chất lượng sản phẩm qua các mẩu thí nghiệm…
Cuốn tiểu thuyết ít được dư luận quan tâm, theo tôi, một phần do câu chuyện chưa đủ chất dính kết các nhân vật và quan trọng hơn là không mang một “chủ đề tư tưởng” có tầm khái quát, đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội. Nói cho công bằng thì cách chọn đề tài chỉ xoay quanh một nhà máy nhỏ ở địa phương, khiến tác giả rất khó “hư cấu” và tưởng tượng cũng như nâng tầm tư tưởng của tác phẩm lên cao. Điều này cũng đồng nghĩa là nếu “gò” nhà văn vào một đề tài, một “địa chỉ” quá cụ thể, sẽ khó tạo nên tác phẩm có chất lượng cao. Tất nhiên, đã nói chuyện sáng tác thì nguyên nhân chủ quan là chủ yếu: dù tác giả chung bữa ăn với công nhân, lên lò cao với thợ nhiều ngày đêm, nhưng có khi vẫn chưa hiểu hết những nỗi niềm sâu thẳm cũng như ước vọng cao xa của họ; và chuyện muôn thuở: thiếu tài năng!
Viết đến đây, lại phải nhắc đến nhà văn Hemingway với tiểu thuyết Ông già và biển cả – tác phẩm lớn mà “thực tế’ chỉ có con cá mắc câu ngư ông giữa biển khơi mịt mù…
3. Chuyện người kiểm lâm bị trói đến tiểu thuyết “Thập giá giữa rừng sâu” 
Để “thay đổi không khí”, xin kể “ngược”, tức là trước hết, nhắc lại hai câu chuyện nhỏ sau khi sách ra đời. Theo lời anh tôi kể, trong số độc giả sốt sắng đón mua cuốn tiểu thuyết này có ông già V.Đ.L., bạn thân của anh tôi, một tín đồ đạo Ki-tô, quê Đức Thọ (Hà Tĩnh); anh trai ông là một linh mục rất nổi tiếng, từng là đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nghe nói ông mua cả chục cuốn, có thể vì đọc qua nhan đề, ông tưởng là tiểu thuyết viết về đề tài công giáo, có khi viết về chuyện anh tôi bỏ nhà theo đạo cũng nên! Dù chuyện có “sai số” thì cũng là chuyện vui vì có khi nhờ nhiều người lầm như thế mà sách bán chóng hết!
Chuyện thứ hai, nửa vui nửa… buồn, mới xảy ra năm 2011, khi các Hội đồng tiến hành xét chọn các tác phẩm văn hóa nghệ thuật đề nghị tặng Giải thưởng Nhà nước. Được biết mình có tên trong danh sách đề nghị với hai tiểu thuyết là Đường giáp mặt trận và Những cánh cửa đã mở, tôi liền viết thư gửi Hội đồng kiến nghị “nếu đã đưa Đường giáp mặt trận thì cần phải đưa thêm tiểu thuyết Chỗ đứng người kỹ sư vì đây là bộ tiểu thuyết 2 tập liên hoàn, mà tập sau được đánh giá là hay hơn tập đầu với bằng chứng là cuốn này đã được Tổng Công đoàn và Hội Nhà văn Việt Nam tặng Giải thưởng; cũng nên xét thêm tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu vì không ít người cho rằng cuốn này còn hay hơn Đường giáp mặt trận, lại có đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết…”. Thư đã viết, nhưng rút cục không gửi vì khi hỏi ý kiến một vị là thành viên Hội đồng, ông bảo mọi chuyện đã xong, đưa danh sách hai cuốn tiêu biểu và cho gọn, bây giờ đưa vấn đề lên, cấp trên bắt họp lại Hội đồng thì lôi thôi lắm! Vậy nhưng khi công bố giải thưởng, tôi thấy có nhà văn ghi đến 4-5 tác phẩm vào bằng giải thưởng. Tôi đoán rằng, các vị ngại đưa tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu vào giải vì chính cái tên sách dễ bị hiểu lầm; mà chắc rằng có vị – nhất là ở cấp cao nhất, không thể có thời gian đọc hết hàng trăm tác phẩm, sẽ phán: “Cuốn này viết về công giáo, đề tài phức tạp, phải xem kỹ nghe!” Nói rằng chuyện này nửa vui, nửa buồn, vì dù sao tôi cũng đã được “dính” một giải thưởng sang trọng, nhưng hơi buồn vì Nhà nước đã đầu tư cho tái bản các tác phẩm được giải; có nghĩa là Thập giá giữa rừng sâu không có may mắn ấy, trong khi chính cuốn tiểu thuyết này – theo tôi – chỉ xét về khía cạnh xã hội, lại rất cần tái bản, để góp sức vào cuộc chiến đấu bảo vệ “mái nhà xanh” của chúng ta đang bị uy hiếp ngày ngày. Vậy nhưng sách bán hết lâu rồi, Nxb. Trẻ hứa sẽ xem xét tái bản, nhưng mãi chẳng thấy đâu; vì thế, thỉnh thoảng có bạn đọc hay nhà phê bình cần sách, tôi lại phải đi phô-tô…
Tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu, tuy có vài nhân vật ở một làng quê theo “đạo”, nhưng chủ yếu là viết về cuộc chiến đấu chống lâm tặc, bảo vệ “lá phổi” của trái đất. Đó là xét thuần về đề tài. Cũng tương tự như với tiểu thuyết Những cánh cửa đã mở, tôi không có chủ đích viết một cuốn tiểu thuyết về rừng, trước những chuyến “đi thực tế” về các lâm trường, các hạt kiểm lâm. Tuy nhiên, cây rừng và những người giữ rừng là đề tài tôi quan tâm từ lâu, đơn giản vì từ năm 1962, khi chuyển công tác từ Hà Đông vào miền Tây Nghệ An, tôi thường xuyên sống giữa chốn rừng sâu, núi thẳm; trong mấy năm làm công tác bảo đảm giao thông trên đường 12A, có thể nói rừng là tấm “khiên” khổng lồ che chắn, bảo vệ tính mạng cho tôi cùng ngàn vạn những chiến sĩ giữ con đường ra trận.
Khi đất nước hòa bình, tôi trở lại vùng rừng thông Ba Trại bên sông Gianh, rồi đến với những chiến sĩ kiểm lâm dưới chân đèo Hải Vân… nhưng sau các chuyến đi chỉ viết được mấy bài ký để đăng báo. Tôi cũng muốn viết một “cái gì đó” có dung lượng lớn hơn về đề tài này, nhất là dạo đó nhiều vụ phá rừng nghiêm trọng với sự cấu kết của các quan chức địa phương bị công luận lên án mạnh mẽ, nhưng một sáng tác văn học không thể chỉ dựa vào những bài báo – dù là bài điều tra đăng nhiều kỳ hấp dẫn.
Cho đến ngày dự Trại Sáng tác do Hội Văn nghệ mở ở Lăng Cô… Một câu chuyện tôi nghe từ hồi đi thực tế lâm trường Bố Trạch bỗng “sống lại”: Một nhân viên kiểm lâm bị lâm tặc bắt trói trong rừng với một thanh gỗ dài cột suốt hai cánh tay giang ra, tựa như một “cây thập giá sống”! Cách trả thù độc đáo này của bọn lâm tặc kích thích trí tưởng tượng trong tôi, nó như là cái nút kéo theo một chùm dây – những chi tiết thu lượm trong các chuyến đi thực tế và cả trên mặt báo, câu chuyện thương tâm về một cô gái ở quê bị “hư thai”, một số người lại bảo vì chồng là kiểm lâm đối xử ác với kẻ phá rừng, cả hình ảnh diễn viên xiếc thân thiết với hổ dữ… – tất cả kết lại thành một cốt truyện khá hấp dẫn, vừa có tính thời sự, vừa chuyển tải được những thông điệp đậm chất nhân văn. Vài dòng tóm tắt một mạch chuyện trong tiểu thuyết, bạn sẽ hình dung được phần nào:
…Trong khi kiểm lâm viên Đức bị lâm tặc trói trong rừng sâu, đói khát kiệt quệ, đồng đội, thủ trưởng của Đức vẫn mải mê lo chuyện “đi đêm” với lãnh đạo địa phương để tiêu thụ gỗ lậu, dụ dỗ vợ của Đức, thậm chí định giết Đức để phi tang, bịt đầu mối, thì một con hổ không quên ơn cứu mạng của Đức hồi anh còn là lính Trường Sơn, đã đến giải cứu cho Đức…
Tiến sĩ Trần Huyền Sâm trong bài bình về tác phẩm này đăng báo Văn Ng- hệ đã lấy nhan đề là “Một lời nói tối hậu với con người.” Quả là khi con người tha hóa, mất nhân tính, ác hơn cả loài hổ báo, thì phải lên tiếng cảnh báo khẩn cấp. Thông điệp cảnh báo đối với con người không chỉ qua vụ một kiểm lâm viên bị hạ sát; bọn lâm tặc phá rừng đã dẫn đến tội ác phá hủy môi trường và sự cân bằng sinh thái mà tạo hóa đã thiết lập qua hàng ngàn năm. Đức được con hổ cứu sống, nhưng anh đã hy sinh trong một trận lũ khủng khiếp, khi xông vào cứu một lớp mẫu giáo, trong đó có đứa con vô tội của vợ anh (cô mang thai chính trong lúc Đức bị trói trong rừng, với chính cái tên định giết anh để bịt đầu mối!)…
Nói đến mối liên hệ giữa thực tế với sáng tác của nhà văn, có lẽ cũng nên kể thêm chi tiết này: Trong tiểu thuyết, khi bọn lâm tặc bị công an bao vây, tôi “bố trí” anh nhà báo (bạn học với Đức hồi phổ thông) đi theo và… “hư cấu” (hay là bịa) ra cảnh anh nhà báo bị lâm tặc dùng sào đâm mù mắt. Sau khi sách phát hành một thời gian, trên báo Lao Động có bài tường thuật một cuộc vây bắt lâm tặc với chi tiết một người bị chúng đâm mù mắt, như là “cóp-pi” từ tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu vậy!
Hẳn là có bạn văn sẽ cười khi tôi kể những chuyện này, vì thiếu gì các cây bút “cách tân” được không ít nhà phê bình ngợi khen mà chẳng cần chi đi thực tế. Đó là chưa kể những nhà văn viết chuyện khoa học viễn tưởng. Với những cây bút hiện đại này, tôi xin cúi đầu bái phục. Cho dù vậy, kể chuyện “đường đến văn chương” của chính mình thì phải chân thực. Tôi nghĩ là có lẽ không vô ích, vì ít ra, nếu thấy đây là “con đường” lạc hậu và sai lầm, thì các bạn đồng nghiệp trẻ cũng như ai có ý định làm văn sẽ tránh đi…
(Nguồn: TCSH 10-2016)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 26 tháng 12, 2016

Phút cuối cùng của tên bạo chúa Pol Pot.


Pol Pot bị Ta Mok giam lỏng trong một nhà tạm tại khu rừng sát biên giới Thái Lan trước khi bị đau tim chết.

 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Cả nước chỉ có 13 tỉnh thành đóng góp, ngân sách sao chịu nổi?”


Theo Mạnh Nguyễn/Bizlive

Cafef - "Tôi từng nói với nhiều tỉnh rằng không thể để ngân sách Trung ương trợ cấp mãi được. Cả nước chỉ có 13 tỉnh, thành phố đóng góp cho ngân sách Trung ương thì làm sao ngân sách chịu nổi”.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh như vậy tại cuộc làm việc với lãnh đạo chủ chốt tỉnh Quảng Nam tại trụ sở Chính phủ, sáng 28/9.

Tại cuộc họp, Thủ tướng biểu dương Quảng Nam từ một tỉnh nhận trợ cấp từ ngân sách Trung ương đến 75% thì nay đã tự cân đối và từ năm 2017, bắt đầu điều tiết, đóng góp cho ngân sách Trung ương.

“Các đồng chí phải thấy rằng đóng góp cho ngân sách Trung ương là niềm tự hào đối với Quảng Nam. Tôi từng nói với nhiều tỉnh rằng không thể để ngân sách Trung ương trợ cấp mãi được.

Cả nước chỉ có 13 tỉnh, thành phố đóng góp cho ngân sách Trung ương thì làm sao ngân sách chịu nổi”, Thủ tướng bày tỏ và mong muốn các tỉnh, trong đó có Quảng Nam phải nỗ lực hơn nữa trong lĩnh vực này.

Gợi mở các giải pháp cụ thể cho Quảng Nam, Thủ tướng nhấn mạnh, bộ máy lãnh đạo các cấp, nhất là cấp tỉnh, thành phố phải trách nhiệm, quyết liệt, dám nghĩ dám làm và làm việc ngày đêm vì nhân dân, vì tỉnh nhà.

“Phải loại bỏ cán bộ làm việc cầm chừng, vô trách nhiệm”, Thủ tướng quán triệt tinh thần này đối với tỉnh Quảng Nam.

Bên cạnh đó, phát triển nguồn nhân lực. Định hướng quy hoạch, bảo vệ quy hoạch để không xung đột nhau, nhất là sản xuất công nghiệp và du lịch, bảo vệ môi trường. Phải có chương trình phát triển doanh nghiệp mạnh mẽ, gấp 2 - 3 lần số doanh nghiệp hiện nay.

Tỉnh phải lấp đầy các khu kinh tế, cụm, khu công nghiệp. Yêu cầu tỉnh tiếp tục hoàn thiện hệ thống hạ tầng quan trọng như cảng, sân bay, tuyến đường bộ, Thủ tướng giao Quảng Nam phối hợp với Bộ Giao thông vận tải và một số bộ, ngành liên quan tổ chức hội nghị chuyên đề để bàn về hệ thống hạ tầng này, coi đây là một nút thắt đối với sự phát triển của Quảng Nam.

“Phát triển công nghiệp thì là công nghiệp gì? Công nghiệp mà ảnh hưởng đến môi trường thì chúng ta phải từ chối thôi, mà trước đây chúng ta đã từ chối một số dự án, rất đáng hoan nghênh. Nếu muốn phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn thì vấn đề bảo vệ môi trường càng cần phải đặt ra”, Thủ tướng nói.

Nhất trí với nhận định du lịch là lĩnh vực mũi nhọn đối với sự phát triển của Quảng Nam, Thủ tướng nêu rõ “không thể để tình trạng du lịch là mũi nhọn mà chỉ đóng góp có 7-8% vào GDP mà phải đẩy lên hơn 10% GDP mới gọi là mũi nhọn”.

Bên cạnh đó, Thủ tướng cũng yêu cầu tỉnh Quảng Nam phải tính toán, xây dựng quy trình vận hành hồ chứa để phục vụ chống hạn, nhiễm mặn, lũ lụt một cách chặt chẽ hơn; tiếp tục quan tâm chăm lo công tác an sinh xã hội, thực hiện tốt chính sách đối với người có công với cách mạng.

Nhận trợ cấp từ ngân sách 2.230 tỷ đồng năm 2016

Theo báo cáo do ông Đinh Văn Thu, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam trình bày, 9 tháng qua, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh tăng 12%. Thu ngân sách đạt 100% kế hoạch, với gần 12.460 tỷ đồng, tăng hơn 40% so với cùng kỳ và đã đạt 90% dự toán.

Hoạt động du lịch tăng khá, tổng lượt khách tham quan và lưu trú đạt 3,4 triệu lượt, tăng gần 17% so với cùng kỳ.

Theo ông Đinh Văn Thu, trong thời kỳ ổn định ngân sách năm 2011 - 2016, Quảng Nam là địa phương nhận trợ cấp từ ngân sách Trung ương, riêng năm 2016 được nhận trợ cấp 2.230 tỷ đồng. Năm 2017, năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách mới 2017 - 2020, theo số kiểm tra của Bộ Tài chính và thu - chi ngân sách thì Quảng Nam sẽ vào nhóm các tỉnh có thể điều tiết, đóng góp cho ngân sách Trung ương.

Quảng Nam có nguồn thu từ Nhà máy ô tô Chu Lai - Trường Hải, chiếm trên 60% thu nội địa. Năm 2017, xu hướng số lượng xe tiêu thụ tăng lên nhưng chủ yếu là nhập khẩu, trong khi địa bàn Quảng Nam rộng và phân tán (toàn tỉnh có 9 huyện miền núi, 6 huyện đang hưởng chính sách 30a, 30b), cơ sở hạ tầng kinh tế, an sinh xã hội còn yếu, tỷ lệ hộ nghèo cao, đối tượng chính sách, người có công với cách mạng rất nhiều, do đó nhu cầu về nguồn lực đầu tư và chi trả các lĩnh vực trên rất lớn nên tỉnh sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc điều hành cân đối ngân sách không chỉ năm 2017 mà cả những năm tiếp theo.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Các vlogger họ kiếm tiền như thế nào?


Các vlogger họ kiếm tiền như thế nào?YouTube Partner – Cộng sự YouTube đã và đang là giấc mộng làm giàu của không ít hot vlogger. Câu chuyện kiếm tiền từ YouTube vốn không còn là điều quá bí ẩn đối với cộng đồng teen đang sử dụng mạng xã hội video này trên thế giới.
Tuy vậy, mới đây khi Hồng Gấu, du học sinh Việt từng gây chú ý khi làm vlog kêu gọi tẩy chay Facebook tung một đoạn video bàn về cách “làm giàu” bằng YouTube, vấn đề này lại được đông đảo bạn trẻ xôn xao bàn tán.
kiem-tien-truc-tuyen

Trong video, Hồng Gấu kể các câu chuyện về các YouTube Partners, một phạm trù không quá mới mẻ song ít nhiều vẫn còn mù mờ đối với đa số các bạn trẻ, đặc biệt khi đây là đề tài khá tế nhị khiến không ít hot vlogger ngại đề cập.

Hồng Gấu nói đến một xu hướng dễ nhận thấy trong thế giới vlog, đó là việc các hot vlogger ngày càng đầu tư hơn cho sản phẩm của mình, thậm chí thuê hẳn một ekip và đăng tải thường xuyên theo đúng lịch. Cô bạn nhắc đến một số YouTuber hàng đầu thế giới như Smosh, Niga Higa, Annoying Orange… cùng số thu nhập “khủng” từ việc làm video.

Hồng Gấu cũng nhắc đến công việc “cá kiếm” bằng YouTube của nhiều nhân vật nổi tiếng trong làng vlogger Việt. Câu chuyện của Hồng Gấu không mới, song với cách diễn đạt khá hấp dẫn, video đã khơi lại một đề tài được không ít bạn trẻ mê làm giàu từ mạng râm ran tranh luận suốt thời gian qua: sức hấp dẫn từ việc làm YouTube Partner.

Vậy, YouTube Partner là gì? Theo lý giải của giới kiếm tiền online, chương trình “cộng sự” này được YouTube đưa vào hệ thống từ năm 2009, với một số tiêu chuẩn khá khắt khe như: video phải do chính bạn tạo ra, thường xuyên hoạt động với lượng truy cập và người đăng kí theo dõi (subscriber) nhất định, và đặc biệt video không sử dụng hình ảnh, âm thanh vi phạm bản quyền. Ban đầu, việc đăng kí trở thành YouTube Partner phải mất một thời gian dài, trải qua nhiều khâu xét duyệt. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm chia sẻ từ Hồng Gấu, cô bạn cho rằng hiện tại, chuyện đăng kí khá dễ dàng và chỉ mất từ 1, 2 ngày.

Những quy ước ngặt nghèo của YouTube về lượng view, người theo dõi theo Hồng Gấu cũng không hẳn là “khó thở” như đa số bạn trẻ tưởng tượng. Cô bạn chia sẻ, mặc dù YouTube ra điều kiện lượng người theo dõi phải ít nhất 5.000 người, song theo kinh nghiệm của Hồng Gấu, cô bạn chỉ cần 3.000 người là có thể được duyệt. Trên thực tế, nhiều hot vlogger trên thế giới vượt quá tiêu chuẩn của YouTube, song vẫn không thể trở thành cộng sự. Ngược lại, một teen boy Ấn Độ 13 tuổi có nick AvatarSSJ dẫu chỉ có 40 người theo dõi, mỗi video chỉ vài trăm view, song vẫn được YouTube chọn nhờ chất lượng nội dung video tuyệt vời và “tiềm năng” trở thành hot vlogger.

Sau khi trở thành cộng sự, các video của bạn sẽ có thêm tính năng kiếm tiền qua quảng cáo (monetization). Tuy vậy, theo Hồng Gấu, lượng thu nhập này cũng khá mơ hồ do phụ thuộc vào lượng người xem và theo dõi của tài khoản YouTube. Cô bạn lấy ví dụ, theo ước tính thông thường, 1.000 views sẽ được trả 1 đô; tuy nhiên, nếu có lượng người theo dõi “khủng”, bạn có thể kiếm được gấp 5, 7 lần cũng với lượng view tương tự, và một video thông thường có thể kiếm đến hàng nghìn đô.

Thu nhập của các hot vlogger từ việc làm cộng sự cho YouTube cũng là mối quan tâm hàng đầu của các teen. Không ít người choáng váng khi những con số thu nhập “khủng” từ các kênh YouTube cá nhân được tiết lộ, chẳng hạn như Ray William Johnson, diễn viên hài 8x nổi tiếng trên YouTube có thể kiếm 9 nghìn đô mỗi ngày.

Hoặc chàng trai vlogger đẹp trai, hài hước Niga Higa “cá kiếm” hơn 2 triệu đô chỉ trong một năm. Show hài về quả cam phiền toái Annoying Orange bỏ túi gần 300 nghìn đô mỗi năm. Cộng đồng teen Việt cũng từng xôn xao trước thông tin Natalie Tran, “nữ hoàng YouTube” người Úc gốc Việt thu về 200 nghìn đô mỗi năm. Cô gái gốc Việt Michelle Phan cũng “cá kiếm” 130 nghìn đô mỗi năm nhờ những video hướng dẫn trang điểm của mình.

Tại cộng đồng vlogger ở Việt Nam, nhiều dấu hỏi về thu nhập của chàng hot vlogger JVevermind được đặt ra, khi anh chàng sở hữu một lượng video có số lượt view lên đến hàng triệu, được xếp vào hàng “đỉnh” trong làng vlog. Một cư dân mạng nhẩm tính vui, với mỗi view kiếm được 0,0005 đô, mỗi tháng lượng fan khổng lồ của JV đã giúp anh chàng bỏ túi đến hàng nghìn đô.

Cách đây không lâu, duhocsinhmy, người khởi đầu cho xu hướng làm vlog tại Việt Nam sung sướng “khoe” anh chàng đã được YouTube mời làm cộng sự sau 7 tháng trầy trật. Lâm Việt Anh, chàng vlogger “quái tính” cũng tiết lộ, công việc làm cộng sự cho YouTube giúp anh chàng kiếm thêm một khoản tiền tiêu vặt như một niềm vui nho nhỏ. Tuy nhiên, do điều khoản của YouTube nghiêm cấm tuyệt đối các cộng sự tiết lộ khoản thu nhập của mình, số thu nhập cụ thể của các hot vlogger hàng đầu Việt Nam vẫn chỉ nằm trong vòng đồn đoán của đông đảo bạn trẻ.

Sức hấp dẫn từ việc hợp tác cho YouTube khó cưỡng là thế, song chuyện biến sở thích làm video thành một công cụ hái ra tiền đối với nhiều teen vẫn còn là mơ ước nhỏ nhoi. Hồng Gấu chia sẻ, chuyện kiếm tiền từ YouTube không phải là dễ, bởi lượng thu nhập rất không ổn định, ngoài ra còn phải có sự sáng tạo vì không phải ai cũng có thể nghĩ ra một đề tài hay ho câu hàng triệu view chỉ trong thời gian ngắn.

Lâm Việt Anh cũng cho biết, khó khăn chủ yếu của Việt Anh khi làm cộng sự YouTube là thời gian để cân bằng giữa lịch học và việc làm vlog. “Đôi khi mình lên lịch nhưng có nhiều sự cố xảy ra nên tốn thời gian. Clip chất lượng sẽ lôi cuốn được nhiều người xem, khi đó lượt view của mình sẽ ổn định hơn nên mình cần đầu tư nhiều”, Việt Anh tâm sự.

Một khó khăn khác cho teen Việt khi muốn trở thành cộng sự cho YouTube chính là phạm vi bao phủ của chương trình này tại Việt Nam chưa cao. Tính năng kiếm tiền qua quảng cáo gắn lên video vẫn chưa được YouTube khai triển rộng rãi tại Việt Nam, và được mạng xã hội này giải thích là vẫn đang cập nhật thêm tại một số nước.

Tuy vậy, không ít teen vẫn đang từng bước nuôi mộng làm giàu từ YouTube bằng cách đăng video lên YouTube và kiếm tiền quảng cáo qua blog cá nhân. Theo các hot vlogger, nếu muốn trở thành cộng sự cho YouTube, hãy bắt đầu từ chính sở thích, đam mê của riêng mình, sau đó chuyện gì tới sẽ tới. “Đừng nóng vội chỉ để trở thành YouTube Partner mà quên đi sự đầu tư cho mặt nội dung cũng như chất lượng của từng video, từng sản phẩm của bạn”, vlogger Lâm Việt Anh chia sẻ.

Theo iOne

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguồn gốc gần 4 tỷ đồng trong phòng lãnh đạo tỉnh Yên Bái bị bắn chết




Đức Thuận/VTC News 
VOV - Cơ quan CSĐT tỉnh Yên Bái đã làm rõ nguồn gốc số tiền 100.000 USD và 1,5 tỷ đồng trong phòng ông Ngô Ngọc Tuấn – Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái.

Tại buổi họp báo diễn ra vào 15h ngày 26/12, cơ quan CSĐT công an tỉnh Yên Bái đã làm rõ thông tin dư luận cho rằng, có hàng trăm tỉ tại phòng làm việc của lãnh đạo tỉnh Yên Bái sau khi bị bắn.

Theo đó, cơ quan CSĐT công an tỉnh này cho biết, kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, cho thấy không có dấu hiệu bị lục soát, cậy phá, các cánh cửa ra vào, cửa sổ ở trạng thái đóng, nguyên vẹn.

Tại phòng làm việc của ông Phạm Duy Cường đã phát hiện và thu giữ 4 vỏ đạn và 2 đầu đạn; 1 chiếc điện thoại di động và 1 máy đọc truyện mini của ông Cường. Ngoài ra, còn có 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) để ở trong cặp tài liệu.

Tại phòng làm việc của ông Ngô Ngọc Tuấn có 1 két sắt, trong két có 100.000 USD, 1,5 tỷ đồng và 4 chiếc nhẫn màu vàng, mặt đá không xác định trọng lượng và chất lượng.

Trả lời câu hỏi của phóng viên về việc dư luận có nhiều thông tin cho rằng khi xảy ra vụ việc, tại phòng của lãnh đạo tỉnh Yên Bái có số tiền rất lớn lên đến hàng trăm tỉ.

Ông Phạm Ngọc Thắng, Phó Giám đốc công an tỉnh khẳng định: Về số tiền, như thông báo, tại phòng làm việc ông Tuấn có két, thu được 100.000 USD, 1,5 tỉ đồng, đã thẩm tra, Ban tổ chức Tỉnh ủy xác định Ban tổ chức không giao cho ông Tuấn số tiền này, ông Tuấn không vay nợ ai.

Lời khai của bà Vũ Thị Thu Hiền, vợ ông Tuấn cho biết: Số tiền này là tiền tích cóp của hai vợ chồng từ nhiều năm nay. Do hai vợ chồng đi làm thường xuyên, ở nhà có mẹ già nên ông Tuấn mua két sắt để tại phòng làm việc sử dụng và cất tiền cá nhân.

Cơ quan CSĐT khẳng định, thông tin cho rằng có hàng trăm tỉ tại phòng làm việc của lãnh đạo tỉnh là không chính xác.

Theo tài liệu công bố của cơ quan điều tra, động cơ gây án của Đỗ Cường Minh do bất mãn bức xúc cá nhân trong bố trí sắp xếp nhân sự khi sáp nhập Chi cục lâm nghiệp vào Chi cục kiểm lâm tỉnh Yên Bái dẫn đến Đỗ Cường Minh đã dùng súng bắn chết ông Phạm Duy Cường và ông Ngô Ngọc Tuấn./.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hóa ra chẳng cần tổng biên tập


BÁ TÂN (nhà báo)

Báo chí quốc doanh hiện có hàng trăm tổng biên tập. Cấp phó còn nhiều hơn, lên đến hàng ngàn. Vượt trội về số lượng nhưng phó tổng biên tập chỉ là người giúp việc cho tổng biên tập.

Có thể khuyết phó tổng biên tập nhưng không thể thiếu tổng biên tập. Không có tổng biên tập thì khác nào con tàu viễn dương không người cầm lái. Có nhà báo lão thành, trọn đời cầm bút phục vụ sự nghiệp của đảng, khẳng định như đinh đóng cột: không có tổng biên tập, tờ báo sẽ sụp đổ.

Cả đời làm báo tôi cũng nghĩ theo kiểu”hiền lành” như vậy. Nhưng mới đây, từ thực tế của báo Lao Động, tôi ngộ ra vấn đề mà trước đó cho dù nằm mơ cả tháng cũng không gặp.

Thực tế ở báo Lao Động cho thấy: hóa ra chẳng cần tổng biên tập.

Không có tổng biên tập, báo vẫn hoạt động tốt. Phát hành đúng định kỳ, nhật báo. Nội dung vẫn sinh động, cập nhật đầy đủ những thông tin cần thiết cho bạn đọc. Số lượng phát hành không giảm… Đó là thực tế của báo Lao Động trong thời gian không có tổng biên tập.
Đã hơn một tháng báo này không có tổng biên tập. Tờ báo của Tổng liên đoàn Lao động VN hiện có 3 phó tổng biên tập. Cả 3 đều là phó, không có người nào được giao phó phụ trách, hoặc quyền tổng biên tập.

Nhiều tuần liền không có tổng biên tập nhưng báo Lao Động không những không sụp đổ mà vẫn cứ vững chãi trong làng báo quốc doanh. Làm sao che khuất được thực tế này.

Có nhiều cách lý giải, loại chém gió thì không chấp, nhưng không và không thể đánh gục được thực tế hùng hồn ở báo Lao Động. Thực ra, không ít tờ báo vẫn có thể tồn tại theo “mô hình” của báo Lao Động.

Phải thừa nhận có những tổng biên tập thuộc loại “tướng tài”. Họ biết làm, dám làm, dám chịu trách nhiệm, luôn đổi mới vì khát vọng phục vụ bạn đọc.

Sẽ là ngớ ngẩn và nhu nhược nếu không nói lên thực tế phũ phàng: có một bộ phận cầm đầu tờ báo chỉ là để đoạt phần ăn trên ngồi trốc. Họ non nớt cả về chính trị và nghiệp vụ. Họ tìm ghế bằng mua-bán, chứ không phải dựa vào đức và tài. Họ, loại cầm đầu tờ báo như vậy, mang danh hão nhưng ăn thật, bị đồng nghiệp khinh bỉ. Làng báo quốc doanh không hiếm những người đứng đầu thực chất là hàng giả, đồ dởm.

Không có tổng biên tập nhưng tờ báo vẫn hoạt động tốt. Đây là câu trả lời hùng hồn từ báo Lao Động. Cơ quan chỉ đạo, cơ quan quản lý báo chí cần suy nghĩ nghiêm túc vấn đề này.

Bạn đọc chỉ quan tâm chất lượng thông tin. Tờ báo có tổng biên tập hay không, ai làm tổng biên tập, điều đó bạn đọc không cần biết.

Bá Tân

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tuổi Thơ Dữ Dội #1 - Truyện Dài của Phùng Quán | Trò Chuyện Đêm Khuya

Phần nhận xét hiển thị trên trang