Xứ Đoài mây trắng bay..

Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Xứ Đoài mây trắng bay..

Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 21 tháng 12, 2016

Tử tù Hàn Đức Long nấc nghẹn kể phút được trả tự do


 - Gặp tử tù Hàn Đức Long sau hơn 1 ngày đoàn tụ với gia đình tại Bắc Giang - gương mặt vẫn thất thần khi được trả tự do sau 11 năm ròng kêu oan.
XEM CLIP:

 
Ngôi nhà 4 gian đã xuống cấp, tường nhà nhiều chỗ rêu mốc loang lổ. Tài sản không có gì ngoài chiếc xe máy - phương tiện để vợ ông - bà Nguyễn Thị Mai (46 tuổi, ở thôn Yên Lý, xã Phúc Sơn, huyện Tân Yên, Bắc Giang) đi khắp nơi kêu oan cho chồng.
Được trả tự do chiều 20/12 - gương mặt ông Hàn Đức Long vẫn còn nguyên sự mệt mỏi. Kiểm tra sức khỏe có lúc huyết áp tăng lên 200 - dù yếu nhưng ông vẫn cố gắng chia sẻ niềm vui với mọi người ngày đoàn tụ.
Cuộc gọi bất ngờ
Giọng ngắt quãng ông nói trong mừng mừng tủi tủi: "Tôi được cơ quan chức năng đưa về từ tối qua (20/12), mừng không ngủ được, giờ vẫn cứ như trên mây. Tôi rất có niềm tin vào công lý. Điều phải nói lúc này là tôi cảm ơn gia đình và các luật sư đã không quản ngại khó khăn, gian nan đi tìm công lý cho tôi”.
"Được trả tự do tôi vui lắm" - ông Long nói như khóc. Nhưng do bị giam cầm lâu ngày nên sức khỏe giờ rất kém, đi lại khó khăn, đau xương cột sống, các khớp đau... nên gia đình sẽ phải tốn kém điều trị. 
"Mà lúc này kinh tế gia đình đã kiệt quệ" - ông Long lo lắng. Vợ tôi và gia đình đã cắm sổ đỏ và mượn nhiều sổ đỏ khác để vay tiền trong hành trình đi tìm công lý cho tôi. Bây giờ gia đình tôi nợ nhiều lắm...
Nói về việc chiều qua nhận quyết định được về nhà ông Long nghẹn lời: “Tôi đang đi tập thể dục thì cán bộ quản giáo gọi tôi về phòng thu dọn đồ. Lúc đó tôi chỉ nghĩ mình chuyển sang phòng giam khác nên cầm theo cả đồ dùng cá nhân. Khi ra ngoài, họ đưa tôi vào một phòng khách lịch sự rồi nói tôi được trả tự do”.
"Lúc đó tôi quá bất ngờ, đứng ngây người ra, không tin nổi. Mắt kém tôi không đọc được, nên đã nhờ anh Cường cán bộ viện kiểm sát tỉnh Bắc Giang đọc hộ. Nghe xong tôi mới tin mình được tự do” - ông Long nhòa nước mắt nhớ lại.
Tử tù Hàn Đức Long nấc nghẹn kể phút được trả tự do
"Lúc đó, tôi chỉ muốn về nhanh với vợ con, gia đình. Họ đã vất vả với tôi 11 năm nay rồi” - ông Long ngậm ngùi.
Niềm vui về trong phút tuyệt vọng nhất
Bà Nguyễn Thị Mai nói, suốt cả đêm qua bà không chợp mắt vì hạnh phúc. Bà vẫn chưa tin việc chồng trở về là sự thật. Thỉnh thoảng, bà lại đưa tay sờ sờ, nắn nắn vai chồng để tin đây không phải là một giấc mơ.
Kể từ ngày ông Long bị bắt, bà Mai một mình làm lụng vất vả vừa nuôi 2 con vừa kiếm tiền đi kêu oan và tiếp tế cho chồng. Có những lúc tưởng như đi vào bế tắc, tuyệt vọng rồi bà lại gắng gượng chạy vạy, vay mượn khắp nơi tiếp tục hành trình kêu oan.
Tối 20/12, sau bữa cơm tối, bà Mai ngồi ru cháu ngủ. Đang ngồi trong nhà, thấy có người gọi cổng bà chạy ra thì ngỡ ngàng đến không tin nổi vào mắt mình khi thấy chồng đang đứng trước mặt.
Trước khi gặp ông Long, bà Mai không được ai thông báo tin tức gì về việc ông được trả tự do. Sau vài phút tĩnh tâm, bà Mai mới nấc nghẹn, khóc ngất vì hạnh phúc!
Tử tù Hàn Đức Long nấc nghẹn kể phút được trả tự do
Vợ chồng ông Long
“Suốt thời gian dài đằng đẵng, ban ngày đi gửi đơn ban đêm về tôi lại nằm khóc. Cứ quay lưng vào tường, cắn chặt răng để nước mắt rơi vì sợ con nhỏ biết. Đã có lúc tôi suy sụp hoàn toàn vì thấy họ huỷ án rồi lại tuyên án tử hình, huỷ án rồi lại tuyên án.
Tôi nghĩ nhiều đến mức mắc bệnh đau đầu kinh niên, bây giờ ngày nào cũng phải uống thuốc. Nhưng tôi là người ở bên cạnh chồng mình trong ngày xảy ra vụ án, tôi biết ông ấy bị oan nên dù có chết tôi cũng phải tìm cách kêu oan cho ông ấy”, bà Mai kể lại.
Bà Mai còn nhớ: "Trong quá trình chồng tôi bị bắt giam, gia đình tôi gặp rất nhiều khó khăn. Khi đó 2 con tôi mới hơn 15 tuổi. Rồi khi 2 con tôi xây dựng gia đình, không có chồng tôi ở nhà, tôi phải ghép ảnh chồng tôi vào ảnh cưới cho các cháu đỡ tủi thân. Cả gia đình mang tiếng với dân làng vì có chồng, có bố phạm tội tày đình. Nhiều đêm ngôi nhà bị ném đá liên tục".
Nỗi tủi nhục đeo đẳng gia đình tử tù hàng chục năm

Nỗi tủi nhục đeo đẳng gia đình tử tù hàng chục năm

"Dân làng xỉa xói chúng tôi, khinh bỉ dòng giống, họ tộc. Họ nói không phạm tội sao lại nhận. Khổ lắm. Anh em họ hàng cũng khổ".
Trả hồ sơ vụ tử tù Hàn Đức Long kêu oan

Trả hồ sơ vụ tử tù Hàn Đức Long kêu oan

Ngày 25/8 VKSND tỉnh Bắc Giang ra thông báo về việc trả hồ sơ, yêu cầu điều tra bổ sung vụ án Hàn Đức Long cho cơ quan điều tra công an tỉnh Bắc Giang.
Nước mắt vợ tử tù 11 năm kêu oan khắp nơi cho chồng

Nước mắt vợ tử tù 11 năm kêu oan khắp nơi cho chồng

"Tự nhiên chồng tôi bị đi tù, mà lại vì giết người, hiếp dâm. Mấy đứa con tôi đều bỏ học vì sợ bạn bè chê cười, sợ mẹ vất vả".
Điều tra lại, tử tù Hàn Đức Long kêu oan vẫn dính tội

Điều tra lại, tử tù Hàn Đức Long kêu oan vẫn dính tội

Qua nhiều lần xét xử, kêu oan, rồi kháng nghị, kết quả điều tra lại mới đây, Công an tỉnh Bắc Giang  tiếp tục kết luận Hàn Đức Long (SN 1959, ở Bắc Giang) phạm tội Giết người và Hiếp dâm trẻ em.
Nhị Tiến
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Người đăng: Unknown vào lúc 02:15 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

Tính cách người cai trị trong lịch sử Việt Nam (phần tiếp)

Trở lại với cái mạch chung của thế kỷ XIV. Trên nét lớn, sau khi đọc các nhà sử học đã dẫn ra ở trên, người ta chỉ có thể đi đến kết luận rằng sau một thời đại anh hùng là một thời kỳ đen tối và  thế kỷ XIV là một thời kì đau đớn trong lịch sử nước ta.Sau khi Nhân Tông bỏ việc đi tu, người kế tục ông là Anh Tông đã nổi tiếng về chơi bời hư hỏng.Các sách sử cũ đều viết và Ngô thì Sĩ cũng viết rằng một lần khi Thượng hoàng Nhân Tông từ Thiên Trường về Kinh sư, mọi người trong ngoài đều không biết; vua uống rượu xương bồ quá say, Thượng hoàng đi xem khắp cung điện suốt hai khắc đồng hồ, chuẩn bị đi ăn cơm, vua vẫn chưa tỉnh.
Cũng vua Anh Tông này, theo cách miêu tả của Ngô Thì Sĩ phải kể là vị vua rất lông bông.“Vua thích vi hành, cứ ban đêm ngồi kiệu cho mười hai người thị vệ theo, đi khắp trong kinh kỳ đến gà gáy mới về cung” (Tr 394 sđd )
Ở trên đã nói, nếu lấy khoảng cách là 40 –đến 50 năm sau chiến thắng thì ông vua nhà Trần trị vì lúc ấy là Trần Dụ Tông.
Ông này mới thật hoàn toàn tiêu biểu cho tình trạng suy đồi của vua quan nhà Trần thế kỷ XIV.
Về Dụ Tông những năm cuối đời, Ngô Thì Sĩ  có lần buông một câu gọn ghẽ: “Việc làm rối loạn đạo trời, khiến cho Dụ Tôngtinh còn mà thần mất, người khỏe mà tâm đã chết, tối tăm càn rỡ vào tận máu thịt”.
Thời Dụ Tông cũng là thời Chu Văn An dâng sớ xin chém mấy người gian nịnh. Bởi vậy, Ngô Thì Sĩ  lại viết thêm:
“Cho dù Chu Văn Trinh muốn lấy nghĩa lý mà chữa, cuối cùng cũng không chữa nổi.” (tr 443)
 Trong bài viết về Trần Khánh Dư, tính chung cả hàng ngũ vua quan đương thời, tôi đã từng tạm khái quát “từ những người anh hùng có công, nhiều người trong họ trở thành những viên quan cai trị có tội”.
 Nhưng mà đấy mới chỉ là nói một cách chung.
 Thực ra ban đầu các vị ấy đâu đã phải hoàn toàn hư hỏng.
Về sự suy đồi đạo lý của họ, Ngô Thì Sĩ đưa ra một sự so sánh:
+năm 1296, một viên quan thượng phẩm là Nguyễn Hưng phạm luật đánh bạc liền bị đánh chết(tr 396).
+thế mà đến năm 1362, vua Dụ Tông lại gọi người vào chơi bạc, để mưu đóng vai nhà cái một vốn bốn lời “một lần đặt là 300 quan, ba lần đã gần nghìn quan rồi”.
 Dụ Tông cũng ban lệnh cho tư nô cày một mẫu đất ở bờ bắc sông Tô Lịch để trồng hành trồng tỏi, rau dưa rồi đem bán kiếm tiền. Rồi làm cả quạt mang bán (tr. 453).
Theo cách miêu tả của  Ngô Thì Sĩ, Dụ Tông có một tính cách rất hiện đại là biết dùng bộ máy quyền lực để kiếm tiền trong quan lại cấp dưới và cả dân.
ĐVSKTB ở tr 455 kể một chuyện xảy ra từ đời vua cha là Minh Tông. Thấy một nhà buôn là Ngô Dẫn giầu lên nhờ kiếm được ngọc quý, vua gả ngay con gái cho Ngô Dẫn. Nhưng Dẫn cậy mình giàu có, lấy vợ lẽ và ở với vợ lẽ, lại tỏ ý khinh bỉ công chúa. Đến đời Dụ Tông. Nghe lời than phiền của em, Dụ Tông liền tỏ uy quyền bằng cách  ra lệnh tịch thu toàn bộ của cải.
Về việc vua Dụ Tông đào hồ làm nơi vui chơi mà trên kia cuốn LSVN của khoa Sử ĐHSP đã viết, Ngô Thì Sĩ còn ghi rất rõ:
+ trên hồ này, trên bờ trồng tùng trúc và các loại cây cùng hoa quý cỏ lạ.
+ Lại nuôi nhiều chim quý, thú lạ ở trong vườn.
+Đối với hồ nước mặt, sai bắt các con vật ở biển như đồi mồi cá, ba ba đen về nuôi, lại sai người ở Hóa Châu (Thuận Hóa) chở cá sấu thả vào.
Ngô Thì Sĩ cho rằng cả Tùy Dạng Đế,– nhân vật nổi tiếng tàn bạo trong lịch sử Trung Quốc — cũng không tìm được niềm vui tương tự.
 Sau khi bảo rằng cách vui của Dụ Tông lúc ấy “có thể nói là vui mà quên chết” Ngô Thì Sĩ viết tiếp  “Người mải kiếm tiền và mải vui sẽ là người lơi lỏng lơ là trong việc trị nước”.
 Ông thầm nói với hậu thế chúng ta “Giả sử chuyển trí tuệ khôn khéo ấy để trị dân trị nước thì làm gì lo đến sự bại vong” (tr 456).
 Mở rộng ra nữa, ông cảnh báo về hậu quả mọi tội lỗi của các nhân vật quốc gia: “trong thì mê gái đẹp, ngoài thì mê săn bắn, thích rượu, ham âm nhạc. Làm nhà cao, đắp tường đẹp. Phạm điều này trong bốn điều này chưa từng ai không bị diệt vong ( cũng tr 456).
Về đức hạnh của các quan đầu triều đương thời, Ngô Thì Sĩ có nêu một trường hợp là Trần Khắc Chung.
Ông này thường “cùng với học sĩ Nguyễn Sĩ Cố đánh cờ hàng mấy ngày liền, đến nổi ngồi ngay bàn cờ mà ăn cháo, không nghỉ chút nào, được thua một vài quan tiền cũng cố làm. Bạn bè có việc mở tiệc đầy năm cho con hoặc mừng nhà hoàn thành, hễ mời là đến. Nhà thầy thuốc có món ăn cũng mò mà đến, quân lính thết đãi ăn uống thì khen vợ họ để nịnh (sđd tr. 431).
Trang 445 của cuốn ĐVSKTB kể năm 1354 có nạn đói, ngoài ra nhân dân lại khổ vì trộm cướp, có người xưng là cháu ngoại của Hưng Đạo Vương tên là Tề tụ hợp các gia nô bỏ trốn ở các xứ Lạng Sơn, Nam Sách.
 Con cháu các cụ có người cũng không sống nổi, hỏi người thường ra sao?
Trong việc các vua Trần nửa cuối thế kỷ XIV đối xử với Chiêm Thành, các nhà sử học hiện đại thường cũng quên không ghi rõ một điều mà Ngô Thì Sĩ cùng nhiều ngòi bút sử học chân chính hồi xưa đã viết. Đó là nhiều lần người Chiêm đã vào cướp phá cả những vùng như Thuận Hóa, và quân ta thua chạy. Đến đời Nghệ Tông, quân Chiêm đến sát kinh sư. Đến đời Duệ Tông thì xâm phạm xe vua.
Có lần một vua Chiêm là Chế Mỗ bị người trong nước đánh đuổi, vua Trần chở che và cho người đưa về, nhưng thất bại, Chế Mỗ chết trong cảnh đơn độc trên đất Việt.
 Nói chung trong cách đối xử với các vua Chiêm, vua ta nhiều khi tiền hậu bất nhất, dám tùy tiện làm nhiều chuyện mà trong quan hệ giữa các quốc gia  không được phép.
Nhìn chung về đội ngũ quan chức của nhà Trần suốt thế kỷ XIV, đọc Ngô Thì Sĩ, người ta có thể nhận xét là sau khi đánh xong giặc Nguyên, chả ai biết làm gì để khôi phục lại tình hình đất nước đã tiêu điều tan nát trong chiến tranh. Trên thì không có chính sách, cấp dưới thì không có người hiểu biết mà cố vấn cho vua.
Một đoạn có giọng văn bia Ngô Thì Sĩ về Dụ Tông, mà cũng là về tình trạng đổ đốn của con cháu các bậc anh hùng năm xưa:
“Dụ Tông lên ngôi 15 năm, sử chép 6 lần nhật thực, hạn hán đế 3 lần. Một lần sâu keo mất mùa hàng năm. Đến khi ấy từ mùa xuân đến mùa thu núi lở động đất lụt hạn, sét đánh, không tháng nào là không có. Trời phạt tội dâm ác đến cực độ, răn đe nảy ra chính sự lười biếng, thế mà cha con vua tôi trong một thời vẫn bình thản như thường. Kẻ trên không có lòng thành khẩn xét mình, kẻ dưới không có lời tâu cứu giúp thời cuộc, coi thường điều trời răn không biết sợ. Khinh bỏ việc người không biết lo.( VTN nhấn mạnh). Sang năm sau, Minh Tông qua đời, Dụ Tông thỏa lòng xa xỉ, giặc giã nổi lên từng bầy, việc thờ cúng không ra lề lối, ngôi báu nhà Trần suýt di chuyển về họ Dương” ( tr 448).
Mấy điều tổng kết tạm thời:
I/Nếu lịch sử Việt Nam thường chỉ được quy kết vào lịch sử chống ngoại xâm, thì việc ghi chép về các thời hậu chiến của người đương thời đã ít, đến các sử gia hiện đại, việc này lại càng bị lảng tránh.
Điều đó có thể  giải thích như sau:
  • Đối với người xưa, nó chứng tỏ xã hội Việt Nam thực ra vẫn chưa thực sự hình thành, quốc gia chúng ta vẫn giống như một đạo quân hơn là một xã hội sống bằng làm ăn kinh tế và hướng tới phát triển.
  •  Đối với các sử gia đương đại, nó càng chứng tỏ chúng ta chỉ mới có một nền sử học phục vụ cho cuộc chiến đấu trước mắt. Dù đã mấy chục năm ra khỏi chiến tranh nền sử học ấy vẫn chỉ xoay đi xoay lại các bài bản cũ, cách làm cũ.  Chúng ta thiếu các nhà trí thức biết nhìn lịch sử trên cả chặng đường dài và bằng con mắt của con người hiện đại.
II/ Khi miêu tả các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, các nhà sử học hôm nay thường chỉ ghi chép những điều tốt đẹp mà không ghi những mất mát đau thương mà chiến tranh mang lại.
Mà mất mát đau thương nhất của chiến tranh ở VN là gì?
Là cả cơ chế xã hội bị giải thể, trong đó bộ phận quan chức là bộ khung xã hội thì trở nên suy đồi  không thể cứu vãn.
Ta thường chỉ nói tới mặt tích cực của quan chức trong thời chiến.
Cái đó thì đáng trọng thật.
Nhưng mặt khác phải thấy sinh ra trong thời chiến, họ chỉ biết việc binh đao mà không biết gì việc làm ăn và quản lí xã hội.
Được làm vua thua làm giặc, kẻ võ biền chiến thắng tự dành cho mình tính chính danh trong việc quản lí đất nước.
Cậy là có công cứu nước, họ buộc cộng đồng mãi mãi mang ơn và tự cho mình có toàn quyền bóc lột đàn áp dân chúng.
Trong việc học hỏi và tiếp thu văn hóa Trung Quốc, chúng ta thường chỉ học lỏm về một số phương diện văn hóa; còn  chính bộ phận văn hóa quyền lực là phần văn hoá rất thâm hậu trong văn hóa Trung Quốc thì chúng ta lại không hề tiếp nhận không học theo một cách bài bản.
III/ Một thực tế của các vương triều hình thành sau khi chiến thắng là chỉ được một hai đời, đến các đời sau đều đồi bại đi rõ rệt. Trên đã nói những người đánh giặc giỏi chưa chắc đã là những người quản lý xã hội giỏi. Giờ phải nói thêm con cháu các bậc anh hùng trong thời chiến không mấy khi là những kẻ tử tế biết sống ra người trong thời bình. Đinh Bộ Lĩnh, Lê Đại Hành là thế. Nhà Trần là thế. Sau này là Nguyễn Huệ. Quang Trung xuất sắc bao nhiêu thì đến Quang Toàn hèn kém bấy nhiêu.
Tôi nhớ một nhà xã hội học lớp trước đã nhận xét là ở Việt Nam chỉ có giai cấp cầm quyền mà không có bộ phận quý tộc được hình thành nhiều đời và có văn hóa. Chỉ có triều Nguyễn ở đầu thế kỉ XIX rút kinh nghiệm được các triểu trước và tạo sự liên tục suốt bốn đời vua liền. Đó là  bước tiến bộ của lịch sử. Nhưng với con người thời nay, với các sử gia Hà Nội trong 70 năm qua,  thì triều Nguyễn lại không hề được quan tâm và rút kinh nghiệm. Chỉ toàn những lời đả kích phê phán.

Phần nhận xét hiển thị trên trang
Người đăng: Unknown vào lúc 01:21 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

45 năm trước, Kissinger đã tiên đoán vụ “xoay trục” về phía Nga. Trump có thực hiện hay không?


Phạm Duy Hiển


John Pomfret

Phạm Nguyên Trường dịch


Vấn đề bây giờ là, trong cái thế giới đã thay đổi rất nhiều sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, việc xoay trục của Trump có xảy ra được hay không? Mục tiêu, ngoài việc làm cho Bắc Kinh khốn đốn, là gì? Và Mĩ sẽ phải cho Nga những gì để có thể lôi nước này ra khỏi vòng tay của Bắc Kinh?

Tổng thống Richard Nixon và cố vấn an ninh quốc gia, Henry Kissinger



Ngày 14 tháng 2 năm 1972, Tổng thống Richard Nixon và cố vấn an ninh quốc gia, Henry Kissinger, gặp nhau để thảo luận về chuyến đi sắp tới của Nixon tới Trung Quốc. Kissinger - đã từng bí mật tới Trung Quốc trước chuyến đi lịch sử của Nixon tới Bắc Kinh – nói rằng so với Nga, người Trung Quốc “nguy hiểm không kém. Trên thực tế, đến một giai đoạn lịch sử nào đó, họ còn nguy hiểm hơn”.

Lúc đó, Kissinger còn nói rằng “sau 20 năm nữa, người kế nhiệm ông, nếu đấy là người sáng suốt như ông thì ông ta sẽ ngả về phía Nga để chống lại Trung Quốc”. Ông khẳng định rằng Mĩ, vì đang tìm cách lợi dụng sự thù địch giữa Moskva và Bắc Kinh, nên “cần phải nhảy vào trò chơi cân bằng quyền lực này, mà không được có một tí xúc động nào. Lúc này, chúng ta cần Trung Quốc để uốn nắn người Nga và đưa người Nga vào kỉ luật”. Nhưng trong tương lai, tình hình có thể xoay sang hướng ngược lại.

Có thể xảy ra sự kiện là, gần 45 năm sau vụ đột phá trong quan hệ với Trung Quốc của Nixon, Tổng thống thứ 45 của Mĩ sẽ thực hiện lời khuyên của Kissinger? Tổng thống Obama đã cố gắng làm cho việc “xoay trục” sang châu Á trở thành hòn đá tảng trong chính sách ngoại giao của mình. Donald Trump có làm cho việc “xoay trục” về phía Moskva và quay lưng với Bắc Kinh là hòn đá tảng trong chính sách ngoại giao của mình hay không?

Bằng một loạt nhận xét trên tweetter, các cuộc điện đàm, phỏng vấn và tuyên bố của các trợ lí, Tổng thống đắc cử Trump đã đưa ra tín hiệu về chính sách mới, cứng rắn hơn với Trung Quốc. Đoạn tuyết với tiền lệ kéo dài nhiều thập kỉ, ông đã nói chuyện trực tiếp với Tổng thống của Đài Loan, ngày 02 tháng 12 bà này đã gọi điện chúc mừng chiến thắng của ông. Hai ngày sau, trong một cuộc phỏng vấn với chương trình “Fox News Sunday”, Trump tỏ ra nghi ngờ chính sách một Trung Quốc - Washington, Bắc Kinh và Đài Bắc đã giữ được hòa bình ở châu Á sau chuyến đi của Nixon trong khuôn khổ chính sách đó. Ông cáo buộc Trung Quốc về thao túng tiền tệ, gian lận thương mại trong giao thương với Mĩ và thất bại trong việc giúp đỡ Mĩ trong quá trình đàm phán chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Trong khi đó, Carly Fiorina, người được coi là sẽ trở thành giám đốc cơ quan tình báo quốc gia của Trump, hôm thứ hai vừa rồi đã gặp Tổng thống mới đắc cử, sau cuộc gặp đã thông báo rằng hai người đã thảo luận về Trung Quốc, nước này “có khả năng sẽ trở thành đối thủ quan trọng nhất và là đối thủ đang lên của chúng ta”.

Về phía Nga, trong chiến dịch tranh cử, Trump đã dành cho Tổng thống Nga Vladimir Putin những lời tốt đẹp. Hôm thứ hai vừa qua, ông tuyên bố rằng Rex Tillerson – vốn có mối quan hệ lâu dài với Putin - sẽ là ứng cử viên cho chức ngoại trưởng. Cố vấn an ninh quốc gia của Trump là trung tướng Michael T. Flynn, đã hồi hưu, cũng được cho là có nhiều quan hệ với Nga, và cũng là người đã và đang kêu gọi sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa Moskva và Washington trong cuộc chiến chống Nhà nước Hồi giáo. Và hôm chủ nhật vừa rồi, Trump còn nói rằng lời cáo buộc của Cơ quan Tình báo Trung ương rằng chính phủ Nga - bằng cách xâm nhập vào máy tính của những người điều hành chiến dịch tranh cử của bà Hillary Clinton – nhằm giúp ông chiến thắng trong cuộc bầu cử hồi tháng trước là “nực cười”.

Tam giác Washington, Moskva và Bắc Kinh có vai trò quan trọng trong Chiến tranh Lạnh. Trong những năm 1950, chính quyền Eisenhower cư xử với người Nga tốt hơn hẳn so với người Trung Quốc nhằm chia rẽ nhà các nhà lãnh đạo Mao Trạch Đông của Trung Quốc và Nikita Khrushchev của Liên Xô. Cấm vận thương mại của Mì nhắm vào Trung Quốc nghiêm khắc hơn hẳn so với những biện pháp nhằm chống lại Liên Xô; người Mĩ có thể đi thăm Liên Xô, nhưng không được đến Bắc Kinh. Và Washington đã huấn luyện quân nổi dậy người Tây Tạng.

Chính sách đó đã mang lại một số kết quả và góp phần vào việc gây ra rạn nứt trong quan hệ Xô-Trung. Thật vậy, Mao tin rằng chính sách “chung sống hòa bình” với phương Tây của Khrushchev chứng tỏ rằng Mĩ đã làm suy yếu tinh thần cách mạng của Liên Xô. Tháng 10 năm 1959, Khrushchev đến Bắc Kinh ngay sau cuộc họp với Eisenhower ở trại David, với thông báo rằng, vì Liên Xô đã cải thiện quan hệ với Mĩ, ông ta sẽ buộc phải từ bỏ thỏa thuận giúp Trung Quốc sản xuất một quả bom nguyên tử. Khrushchev cũng chuyển yêu cầu của Mĩ đòi thả năm người Mĩ đang bị giam giữ. Mao giận tím người vì Liên Xô đã tìm cách chiều lòng Mĩ.

Mười năm sau, Nixon - từng là phó tổng thống của Eisenhower - đã xét lại chính sách này và lôi kéo Bắc Kinh vào cuộc cạnh tranh toàn cầu của Mĩ với Liên Xô. Vài năm sau, Tổng thống Jimmy Carter đã tăng gấp đôi số tiền đặt cược. Như một phương tiện nhằm ngăn chặn sự lây lan của ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Nam Á, các quan chức trong chính quyền Carter đã ủng hộ cuộc xâm lược của Trung Quốc vào Việt Nam, xảy ra ngay sau khi Đặng Tiểu Bình kết thúc chuyến đi đầu tiên trong vai trò nhà lãnh đạo Trung Quốc đến Mĩ vào tháng 1 năm 1979. Các chính quyền tiếp theo của Mĩ, cả Dân chủ lẫn Cộng hòa, đều hợp tác với Trung Quốc trong cuộc chiến ủy nhiệm nhằm chống lại Liên Xô ở Angola, Afghanistan và Campuchia, làm xói mòn đáng kể sức mạnh của Liên Xô và giúp đẩy nhanh sự sụp đổ của Liên Xô.

Vấn đề bây giờ là, trong cái thế giới đã thay đổi rất nhiều sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, việc xoay trục của Trump có xảy ra được hay không? Mục tiêu, ngoài việc làm cho Bắc Kinh khốn đốn, là gì? Và Mĩ sẽ phải cho Nga những gì để có thể lôi nước này ra khỏi vòng tay của Bắc Kinh?

Quan hệ Nga-Trung là quan hệ làm ăn. Trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, hai nước này thường xuyên ủng hộ nhau. Trong mấy thập kỉ vừa qua, Trung Quốc đã mua hơn 30 tỉ USD vũ khí của Nga và tháng 9 vừa rồi hai nước này đã tiến hành cuộc tập trận chung ở Biển Đông, vùng biển mà Trung Quốc tuyên bố có chủ quyền.

Donald Trump và Henry Kissinger

Nhưng, Nga cảm thấy bực mình vì địa vị em út trong quan hệ với Bắc Kinh. Có thời nền kinh tế Trung Quốc chỉ là một phần của nền kinh tế Liên Xô; hiện nay kinh tế Trung Quốc lớn hơn khoảng năm lần kinh tế Nga. Trong những năm 1950, thời hoàng kim của quan hệ Trung-Xô, Trung Quốc gọi là Nga “anh cả”. Bây giờ họ gọi đùa là “chị cả”.

Rõ ràng là, Putin muốn có vai trò lớn hơn trong khu vực châu Á -Thái Bình Dương. Ông ta sẽ đi Nhật Bản trong tuần này, theo lời mời của Thủ tướng Shinzo Abe. Nga đã bán tàu ngầm Kilo cho Việt Nam, mà nước này sẽ sử dụng nhằm chống lại sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông.

Trung Quốc không còn ao tù nước đọng nghèo túng như hồi năm 1972 nữa. Nước này đã phản ứng lại cuộc điệm đàm của Trump với Tổng thống Đài Loan bằng cách đưa máy bay ném bom bay mấy vòng trên Biển Đông. Và Nga được lãnh đạo bởi một người quyết tâm khôi phục ảnh hưởng của Nga thời Liên Xô, khi nước này gieo rắc nỗi sợ hãi cho tất cả các nước trên thế giới. Việc Trump sẵn sàng nhảy vào trò chơi cân bằng quyền lực của Kissinger hứa hẹn sẽ tạo ra kỉ nguyên mới, không thể nào đoán được, trong cái thế giới mà sức mạnh của Mĩ không còn là vô địch và không bị thách thức nữa.

----------------

John Pomfret từng là trưởng văn phòng đại diện của tờ Washington Post ở Bắc Kinh, tác giả cuốn Đất nước tươi đẹp và Trung Hoa: Mĩ và Trung Quốc, từ 1776 cho đến nay (The Beautiful Country and the Middle Kingdom: America and China, 1776 to the Present).



Nguồn: https://www.washingtonpost.com/news/global-opinions/wp/2016/12/14/45-years-ago-kissinger-envisioned-a-pivot-to-russia-will-trump-make-it-happen/?utm_term=.afd0f91dbb15

Phần nhận xét hiển thị trên trang
Người đăng: Unknown vào lúc 01:16 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

Năm nay không có Tết



NHIỆT BĂNG - THANH THÚY


























LĐO - Chưa năm nào lũ chồng lũ lại khiến người dân miền Trung kiệt quệ như năm nay. Không ai nghĩ, đã gần Tết Nguyên đán mà lũ dữ vẫn còn “cướp cơm” của người nông dân. Thành quả một năm làm việc vất vả của bà con bỗng trôi theo dòng nước.

Chưa thể thống kê cụ thể về thiệt hại, nhưng năm nay người dân vùng lũ các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa... không còn Tết.

“Không tết nhất gì nữa”

Mưa vẫn như thác đổ, làng rau và hoa thôn Ngọc Phước 2, xã Bình Ngọc (TP. Tuy Hòa, Phú Yên) không bóng người. Không ai buồn ra xem ruộng rau, hoa của mình như thế nào. “Ra chi, làm được gì nữa, nhìn chỉ thêm đứt ruột mà thôi” - chị Châu Thị Kim Yến (43 tuổi, thôn Ngọc Phước 2) bủn rủn tay chân nói vậy.

Lịch sử chưa năm nào như năm nay, lũ đã khiến hàng vạn cây hoa và rau của hơn 250 hộ dân ở làng này nằm rạp, thối củ, rụng lá, dập nát... Đứng lặng người bên đám hoa lay ơn ngập ngụa nước, anh Nguyễn Văn Lưu (xã Bình Ngọc) thốt lên: “3 ngày tết chỉ có ngần này đây, giờ mất trắng hết, không cứu vãn được gì nữa, không tết nhất gì nữa”.

Anh Lưu mếu máo bảo nếu như cây cảnh, có chậu, còn di chuyển đâu đó được, còn cả đám to đùng như thế này thì... thua. Cũng như các đám hoa kế cận, hơn 1 sào hoa của anh Lưu ngâm 2 ngày, 1 đêm nước lũ.

“Mấy năm nước vào còn lần thôi. Vào tiếng đồng hồ là ra liền. Còn năm nay, 4 - 5 cây (lần), “uống nước” kiểu đó thì không có hoa nào chịu nổi” - anh Lưu vừa rầu rĩ vừa cố gắng dùng tay đào rãnh lay ơn cho nước thoát ra mương trong vô vọng.

Theo anh Lưu, chi phí đổ vào cây lay ơn rất cao. Trung bình một sào cũng phải mười mấy triệu đồng. “Nhìn chúng còn xanh là do có nước, chỉ cần nắng lên là rụi toàn bộ” - anh Lưu buồn bã và mong muốn chính quyền có hướng hỗ trợ phần nào cho người trồng hoa “vượt qua cái tết này”.

Chị Lê Thị Mến (xã Bình Ngọc, TP. Tuy Hòa) có hơn 6 sào rau (xà lách, cải, tầng ô...) đón tết. Tất cả đều bị lũ “nuốt”. Chị bất giác hỏi tôi như người vô hồn: “Tôi đang tính mượn tiền tiêu tết, mà mượn ở đâu đây?”. Mấy chục năm sống nhờ vựa rau, chị Mến chưa từng thấy đợt lũ nào dữ dằn như vậy. Chị bảo rau đang có tiền, rồi tự hỏi mà rau đâu bán.

Nằm bên họng lũ, lại hứng lũ chồng lũ, làng hoa Hà Yến (xã An Thạch, huyện Tuy An) “chính thức” sạch trơn. Cách đây chưa đầy 1 tháng, chúng tôi đã đến đây và chứng kiến cảnh họ “giành giật” từng cây hoa tết với lũ dữ về dặm trên nền nhà, chờ nước rút mang ra trồng lại. Thế nhưng, lũ cũng “không tha”. Mức độ khủng khiếp của tai ương theo mô tả của ông Hồ Quang Hạnh (52 tuổi, thôn Hà Yến, xã An Thạch): “Người dân không ai nghĩ lại có một cơn lũ nữa “bồi” xuống đây. Cường độ không bằng cơn lũ trước đó nhưng quá “tê tái”. Toàn bộ số bông hoa tết “gầy” trồng lại tiêu hết. Đường xá tan tành. Nhà nào đợt lũ trước nước “đào” chưa sập thì giờ sập luôn”. Ông Hạnh nói: “Em có cách nào cứu được dân làng chúng tôi không”. Ước gì trước mặt ông không phải tôi mà là mạnh thường quân nào đó, thì ít ra tiếng cầu cứu đó không tan hút vào khoảng không.

Sang ngày mưa lũ thứ 4, anh Lê Văn Trên (xã Vĩnh Phương, TP.Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa) đội mưa dựng lại hàng rào, dăm gốc những cây khổ qua còn sót lại sau khi nước rút. “Hơn 2 sào dưa leo vừa đâm mầm tôi trồng cho vụ tết đã bị ngập trắng, giờ nước rút cây cũng không còn. Ruộng khổ qua hơn 1 sào này ở cao hơn, cũng bị ngập nửa ngày trời, tôi cố cứu từ sáng giờ nhưng chắc cũng chỉ vớt vát lại được khoảng 30%” - ông Trên cho biết.

Nhờ 3 sào đất thuê trồng màu tại xã Vĩnh Phương, mỗi vụ gia đình ông Trên trồng dưa leo, trồng khổ qua, đậu… thu hoạch ít cũng được trên 20 triệu đồng. Năm nay thời tiết vụ 1 thì nắng hạn nên không ăn thua, ông Trên cũng như nhiều gia đình dồn vốn xuống giống trồng vụ 2 phục vụ tết với hy vọng sẽ trúng lớn, nhưng: “Không nghĩ tháng 11 rồi mà Nha Trang vẫn có lũ, chẳng bình thường nên ai cũng thất vọng. Tay trắng coi như tết cũng buồn theo. Giờ thì chịu có xuống giống cũng không kịp nữa” - ông Trên lắc đầu.

Cùng chung cảnh trắng tay sau lũ, bà Nguyễn Thị Hoa (phường Cam Nghĩa, TP. Cam Ranh) ra nhìn vườn kiệu sắp đến kỳ thu hoạch đang ngập sâu trong nước rơi nước mắt nói: “2ha kiệu cả công mấy tháng nay giờ coi như mất trắng. Tối 16, nước lũ ở đâu về ngập hết bãi. Nước ngập mấy ngày nay rồi vẫn không rút. Ngâm nước bạc thế này thì coi như vứt luôn chứ không ai thu nữa vì còn lo chạy lũ. Năm ngoái kiệu thất thu, năm nay tưởng vườn kiệu ít cũng được vài chục triệu gỡ lại ai ngờ sắp thu hoạch rồi mất trắng luôn” - chị Hoa nói.

Bà Huỳnh Thị Thanh Thủy - Phó Chủ tịch UBND phường Cam Nghĩa (TP. Cam Ranh) cho biết, trận lũ từ ngày 16.12 đến nay đã khiến 30ha kiệu trên địa bàn cùng hàng trăm hécta thủy hải sản, lúa, hoa màu của bà con trong phường mất trắng. Nhiều điểm vẫn còn ngập trên 1m như tổ dân phố Nghĩa Bình… Thiệt hại đến thời điểm này chưa thể thống kê cụ thể, nhưng theo bà Thủy chắc chắn là rất nặng nề.

Khốn khổ vì rau củ “đội” giá ngất ngưởng

Đến thời điểm này nhiều địa phương trồng hoa màu trên địa bàn Khánh Hòa hầu như mất trắng vụ rau tết. Tại thôn Đức Lộc, xã Vĩnh Phương vựa rau của TP đã bị ngập úng hoàn toàn. Huyện Diên Khánh cũng trong tình trạng tương tự. Các loại rau ngắn ngày như dưa leo, đậu que, mùng tơi... được gieo trồng phục vụ Tết Nguyên đán đã bị ngập úng. Mưa ngập kéo dài rau hư hỏng khiến nhiều loại rau cũng trở nên khan hiếm, giá cả tăng gấp 3-4 lần, cá biệt có loại tăng 15 lần.

Chủ vựa rau Hoàng Lan (chợ Đầm, TP. Nha Trang) cho biết: “Cả tuần nay các loại rau nhà quê như: Mùng tơi, cải, rau quế… khan hiếm. Giá cả tăng từng ngày. Như rau cải các loại tăng từ 5.000 đồng/ bó lên 12.000 đồng/bó, rau quế từ 30.000 đồng/kg tăng lên 60.000 đồng/kg, ớt sừng từ 20 .000 đồng/kg tăng 100.000 đồng/kg… Các loại rau củ quả từ Đà Lạt chuyển về cũng tăng từ 10 - 20%”. Chị Thúy - chủ một đầu mối rau củ ở đường Nguyễn Thái Học (chợ Đầm, TP. Nha Trang) cũng than thở: “Cả tuần nay giành giật nhau từng mớ rau giá cắt cổ mà cũng không có. Rau muống tăng lên 12.000 đồng/bó, rau xà lách 45.000 đồng/kg… Để giữ khách bỏ mối cho các nhà hàng tôi phải lấy giá cao hơn bỏ thấp hơn mà vẫn phải chịu”.

Tại TP. Tuy Hòa (Phú Yên), người dân ra chợ cứ đứng loay hoay không dám mua gì vì đến rau cũng “đội” giá ngất ngưởng. Có người đi chợ về tay không hoặc không đủ “can đảm” mua sắm như mọi ngày. Lội một vòng trong chợ, chị Phan Thị Quyên (TP. Tuy Hòa) lè lưỡi: “Tôi mua có trái ớt xanh mà 10.000 đồng. Ngày thường chỉ có vài nghìn đồng mua được kha khá. Mấy hôm nay ra chợ cái gì cũng tăng giá, thật khủng khiếp”.

Tiểu thương Đặng Thị Hạnh, chợ Trần Phú (giao đường Nguyễn Tất Thành - Trần Phú) cho biết hầu hết các mặt hàng rau củ sau lũ đều tăng giá chóng mặt. “Do lũ thôi, chứ chúng tôi không muốn bán giá cao đâu. Hầu hết các vựa rau ở Phú Yên cung ứng vào chợ đều bị “cắt” hết, vì ngập, dập, úng hết rồi. Chúng tôi phải lấy rau củ từ Đà Lạt về bán. Rau củ Đà Lạt đắt đỏ một phần, phần đường xa, chi phí nhiều, chưa nói là rau củ trong lúc vận chuyển bị hư hỏng nặng nề”.

Còn tiểu thương Lê Thị Thu Hiền cho biết, nếu ngày thường, rau muống, cải cay chỉ 3.000 đồng/bó thì nay gấp đôi, hay mồng tơi bình thường 15.000 đồng/kg thì giờ “đội” 30.000 đồng/kg, hoặc xà lách 40.000 đồng/kg, nhất là ớt 120.000 đồng/kg (ngày thường chỉ vài chục nghìn đồng/kg). “Thương người dân lắm, nhưng nếu bán giá thấp, hoặc như ngày thường, chúng tôi chỉ còn cách dẹp quầy” - chị Hiền bất lực nói.


Phần nhận xét hiển thị trên trang
Người đăng: Unknown vào lúc 01:02 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

SỰ IM LẶNG CỦA BỌN NHÀ VĂN VIỆT NAM TA


Phạm Ngọc Tiến, 16 Tháng 12 Thấy không ít nhà văn quan tâm đến chuyện anh Đàm khóc mẹ rồi chị Trinh cặp bồ già. Bảo thật nhé, thối lắm. Đất nước bao chuyện đại sự thì ngậm hột thị. Biển thì giặc ngoài thù trong. Sau Formosa giết chết biển 4 tỉnh miền Trung đến Cà Ná rút tên chủ đầu tư Tôn Hoa Sen nhưng vẫn nằm trong quy hoạch. Thậm chí còn rút ngắn tiến độ. Lụt miền Trung giời người cùng kết hợp khi mưa cộng với 15 thủy điện xả lũ hành hạ dân nghèo. Hà Nội tiền nuốt Triển lãm Giảng Võ để xây nhà nhà cao 50 tầng tính nhốt dân cả một khu vực Giảng Võ, La Thành vì tắc đường khi cộng thêm ông kễnh xe buýt nhanh vào hoạt động nuốt hẳn 1/3 đường dành riêng. Nhiều nhiều lắm. Nhà văn không đụng được đến nỗi thống khổ đồng loại thì thôi nhơn nhơn đi đào bới mấy chuyện thị phi kia thì vứt mẹ bút đi cho xong. 

Nhà văn Phạm Ngọc Tiến. Ảnh: FB PNT. 


Bốt lại cái bài SỰ IM LẶNG CỦA NHÀ VĂN để gây sự với các vị đây.

SỰ IM LẶNG CỦA NHÀ VĂN

Phạm Ngọc Tiến

Kính gửi các nhà văn yêu quý.

Không hiểu sao cứ những lúc cuộc sống có biến cố xảy ra, bao giờ tôi cũng nghĩ đến các nhà văn trước tiên. Chẳng hạn một đám cháy lớn. Một đám cháy, lẽ ra cần phải huy động cứu hỏa và họ chính là người tất cả cần nhất trong tình huống đó. Nhưng không, cứu hỏa đến với đám cháy là việc tất nhiên. Họ sẽ sử dụng chuyên môn của họ dập tắt đám cháy. Một việc quá đỗi bình thường. Còn các nhà văn thì tôi nghĩ nếu họ gặp đám cháy ấy họ sẽ làm gì?

Vâng, nếu gặp một đám cháy thì các nhà văn sẽ làm gì? Câu hỏi ấy cứ xoay đi trở lại nhiều lần trong tôi. Sứ mạng của họ không phải để dập lửa. Luận theo lô zích thông thường, họ sẽ quan sát đám cháy, suy nghĩ rồi miêu tả nó. Những hậu quả. Bài học rút ra từ rất nhiều góc độ. Thậm chí là họ diễn giải tâm lý đám cháy trong nhiều chiều. Tất nhiên điều này có ích cho không chỉ nhà văn. Nhưng tôi biết sẽ có không ít nhà văn bình thản đứng nhìn đám cháy và lặng lẽ bước đi. Cái đám cháy ấy hoặc không đủ để tác động đến cảm xúc của họ hoặc nó chẳng liên quan gì. Tóm lại là họ bước qua đám cháy bằng sự im lặng. Một sự im lặng được gọi theo cách rất cũ kỹ ấy là vô cảm. Sự vô cảm cố hữu của đám đông trước những gì bất thường xảy ra của đời sống vốn đã không còn là sự lạ ở ngày hôm nay.

Lần ngược lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, các nhà văn của chúng ta luôn bám sát đời sống cùng những biến cố của đất nước. Đó là những cuộc chiến tranh giữ nước trường kỳ và khốc liệt. Những tác phẩm được viết ra bằng chính máu của nhà văn. Đó cũng là những sai lầm khó tránh ở mỗi thời kỳ và chính nhà văn lên tiếng. Không ít người đã phải trả giá bằng sinh mạng chính trị thậm chí bằng cả sự nghiệp của mình nhưng sự dấn thân của họ thật sự là những điều xã hội cần. Nó có ích. Tôi có may mắn quen biết một số nhà văn của những thời kỳ này. Họ thực sự là những nhân cách lớn. Thế hệ những nhà văn tham gia chiến tranh, họ là những người lính thực thụ và tác phẩm của họ xuất hiện trong tâm thế của người trong cuộc. Đọc tác phẩm viết về chiến tranh nếu của một ai đó không trong cuộc sẽ thấy sự hời hợt giả tạo. Ở chiều ngược lại, những trang viết khét lẹt khói súng, ta sẽ nhận được sự thuyết phục, chia sẻ và cảm nhận nhiều điều của chiến tranh mang tới để thấy được cái giá của hòa bình lớn lao mức nào và chiến tranh tàn khốc ra sao. Để rồi nhận chân giá trị sự sống và vì thế thêm yêu cuộc đời mà ta may mắn có mặt.

Tôi nói những điều trên từ đúc kết của chính mình. Những trang văn của các thế hệ đàn anh đã giúp cho tôi những hiểu biết về đời sống về chiến cuộc về chân lý và lớn hơn là một tình yêu cuộc sống. Có lẽ tôi trở thành nhà văn phần nhiều cũng là nhờ ở điều này. Và tôi nhận thức được rằng, chẳng có sứ mạng to tát nào dành cho nhà văn cả. Giản đơn chỉ là anh hãy sống và viết từ chính thu nhận đời sống. Vậy thôi. Hãy là người trong cuộc.

Thưa các nhà văn kính mến.

Xã hội của chúng ta hiện nay đang ở trong một giai đoạn có quá nhiều biến động và khó khăn. Công cuộc đổi mới 30 năm đã có không ít thành tựu làm thay đổi diện mạo xã hội và đời sống người dân. Nhưng hơn bao giờ chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức lớn. Tình hình chính trị cũng như kinh tế của thế giới luôn trong tình trạng khủng hoảng có những tác động nhiều mặt đến đất nước chúng ta. Trong khu vực luôn căng thẳng vì những tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải tạo ra sự khó lường với những quốc gia có chung biển Đông. Hiểm họa ngoại xâm luôn hiển hiện thường trực đối với biển đảo của đất nước. Kinh tế trong nước gặp vô vàn khó khăn. Bộ máy quản lý bộc lộ những khiếm khuyết hệ thống. Phải thẳng thắn thừa nhận một bộ phận không nhỏ đội ngũ lãnh đạo yếu kém, tham nhũng gây sự trì trệ trên nhiều lĩnh vực. Môi trường sau những sai lầm từ những quyết sách của những cán bộ có thẩm quyền đã kéo theo bao hệ lụy, thậm chí là hủy diệt môi trường mà Formosa là điển hình. Niềm tin của nhân dân sút giảm. Mâu thuẫn giầu nghèo phân chia các giai tầng xã hội…Nhiều lắm, có thể nói đất nước chúng ta đang đứng trước những nguy cơ tiềm tàng thù trong, giặc ngoài. Văn học có những gì trong giai đoạn nước sôi lửa bỏng này và nhà văn chúng ta đang đứng ở đâu?

Thừa nhận có rất nhiều tác phẩm đề cập đến những vấn đề của đất nước hôm nay. Không ít nhà văn miệt mài theo đuổi những giá trị của quá khứ thông qua những trang viết tái hiện các cuộc chiến. Nhiều nhà văn viết về những mảng nóng xã hội. Nhưng tại sao lại hiếm hoi những tác phẩm được công chúng đón nhận? Vì sao?

Mới đây một phóng viên nữ hỏi tôi, tại sao trong những biến cố của đất nước hiếm thấy nhà văn các anh lên tiếng. Có phải nhà văn cần sự lắng đọng của thời gian để nghiền ngẫm mới phát biểu được bằng tác phẩm. Tôi chưa kịp trả lời thì nữ phóng viên cũng là một nhà thơ này kết luận. Ngụy biện thôi, khi anh không dám mở miệng trước lâm nguy dân tộc thì mặc nhiên anh đã đứng ngoài cuộc, đứng ngoài số phận nhân dân. Tháng trước khi đi qua Hà Tĩnh, tôi ghé vào Kỳ Phương là một phường của thị xã Kỳ Anh chịu trực tiếp hậu quả biển nhiễm độc từ thảm họa Formosa. Khi biết tôi là biên kịch của một vài phim chính luận có chút ít sự chú ý, người dân đã hỏi thẳng. Tại sao không làm phim về biển độc. Phải có những bộ phim nói về chúng tôi chứ, đời sống của chúng tôi nếu các anh không nói ra thì ai nói. Chúng tôi cần những phim như vậy. Trong cả hai trường hợp vừa nêu tôi đều im lặng. Một sự im lặng xấu hổ đến mức tủi nhục.

Hãy khoan bàn đến tác phẩm bởi rõ ràng câu hỏi nhà văn chúng ta đang đứng ở đâu lại là điều tiên quyết. Tôi làm việc trong những căn phòng máy lạnh. Di chuyển bằng những phương tiện đầy đủ tiện nghi, thu nhập khá và dứt khoát không nằm trong số đông nghèo khó. Các nhà văn khác cũng vậy. Nếu có ai đó bần hàn thì đó chỉ là cá biệt của sự lười biếng và bất tài. Nhà văn sống sung túc và được xã hội chiều chuộng. Danh xưng nhà văn giúp chúng ta dễ dàng có vị thế. Khi có chủ trương dự án bauxite Tây Nguyên, đứng trước những bất cập của dự án nhiều nhà khoa học, nhân sĩ, trí thức…đã phân tích lên tiếng kêu gọi sự thận trọng của dự án. Lúc đó có bao nhiêu nhà văn lên tiếng. Thậm chí đến cả ký vào bản kiến nghị cho dừng dự án ngay chính tôi cũng không ký. Khi cá chết vì biển độc ở các tỉnh miền Trung có được mấy nhà văn đăng đàn hoặc viết bài về thảm họa này. Ngay trên mạng xã hội khi có những bài viết dũng cảm vạch tội Formosa thì cũng có rất ít nhà văn trong số những người sử dụng mạng dám bày tỏ sự đồng tình dù chỉ là một nút bấm like. Điều gì vậy? Biển đảo Tổ quốc bị xâm phạm, có bao nhiêu nhà văn bày tỏ chính kiến của mình?

Tôi gọi thẳng ra chúng ta im lặng bởi chúng ta sợ hãi. Nữ nhà báo nói rất trúng căn bệnh sợ hãi của nhà văn. Khi anh không dám mở miệng, anh im lặng vì sợ liên lụy, sợ mất đi bổng lộc thì đừng nói đến tác phẩm làm gì. Nhà văn đang đứng bên lề cuộc sống. Câu trả lời là vậy. Đã đứng bên lề cuộc sống thì sao phản ánh được những gì của cuộc sống diễn ra. Tất nhiên không phải tất cả nhà văn như thế. Vẫn có những nhà văn dũng cảm xông xáo bất chấp mọi hiểm nguy để bám sát hiện thực đời sống đưa vào tác phẩm. Đến đây chắc chắn sẽ có không ít nhà văn phản đối thậm chí dè bỉu lên án tôi. Vâng, tôi biết mình chỉ là một nhà văn bình thường là loại nhà văn số đông chứ không phải số ít nhà văn tài năng đặt được dấu ấn vào văn học. Nhưng chả nhẽ vì thế mà tôi không có quyền nói ra. Tôi nói những điều này nhưng thực chất cũng như tâm sự với chính mình. Sự sợ hãi đã khiến nhà văn chúng ta im lặng. Đúng là thế.

Trở lại với đám cháy. Sự im lặng của nhà văn nghĩa là cái đám cháy ấy sẽ không được nhà văn khả dĩ tìm ra được phương cách ngăn chặn để nó đừng xảy đến tương tự trong tương lai, điều mà công chúng cần ở văn học. Khi nhà văn im lặng trước an nguy đất nước thì cái trách nhiệm công dân nhà văn sẽ chẳng còn tác dụng nếu không muốn nói một cách cực đoan là nó đã bị chối bỏ bằng sự vô dụng. Sự vô cảm của nhà văn suy cho cùng cũng là hệ lụy chung của xã hội nhưng nó gây ra di chứng nhiều hơn. Dĩ nhiên đó cũng chính là nguyên nhân thiếu vắng những tác phẩm để đời như đã từng trong quá khứ. Tôi nghĩ đã đến lúc nhà văn cần lên tiếng mạnh mẽ để bước đi cùng nhịp với đời sống. Để những đám cháy đừng xảy ra. Hy vọng là thế./.

Đà Nẵng 12/8/2016
PNT

Phần nhận xét hiển thị trên trang
Người đăng: Unknown vào lúc 00:56 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

Thứ Ba, 20 tháng 12, 2016

Hãy nghe lời khó nghe này:


Việt Nam lấy cái gì để cạnh tranh với thiên hạ?
Túm cái quần lại là chúng ta, người Việt Nam năm 2016, hội nhập với tư cách gì? Tui nghĩ hoài, nghĩ hoài, nghĩ hoài. Tui nói thiệt đó, tui nghĩ nhiều lắm, nhưng mà tui không có câu trả lời khác. Nô lệ ? Tay sai ? Người làm công ?
Việt Nam lấy cái gì để cạnh tranh với thiên hạ 20 năm sau?
Thời điểm này là cuối năm 2016. Khi mà người ta đã sản xuất được những con chip độ dày chỉ có 25 nano mét thì thông tin về café, gạo bao nhiêu tiền một ký xuất khẩu vẫn còn được người dân Việt Nam bàn tán râm ran, và bàn tán ầm ĩ nhất vẫn là đi làm cho công ty nào lương cao hơn, thưởng nhiều hơn và nghỉ dài hơn.

Tui thiệt sự lo ngại cho đất nước mình khi đặt tầm nhìn vào 20 năm sau, chứ không nói tới 40 hay 50 năm sau nữa, vì khi đó chắc có lẽ thiên hạ đã dọn nhà lên sao hỏa ở rồi, còn dân Việt Nam mình mới bắt đầu sửa soạn tinh thần để đi làm cho những nhà máy tinh chế sản phẩm.

Người Việt Nam lấy cái gì để cạnh tranh với thiên hạ 20 năm sau?

Người Việt Nam lấy tư cách nào để hội nhập?

Tui luôn đặt câu hỏi này cho từng người từng người một mà tui tiếp xúc gặp gỡ, giống như in nó lên một miếng decal rồi dán lên một tấm kiếng, đặt trước mỗi người mà tui tiếp xúc, giao tiếp hàng ngày, ở nhiều công ty, nhiều nơi, nhiều lúc.

Người Việt Nam tự cho là hiện đại mà tui tiếp xúc đại khái là như vầy: mặc đồ Gucci, xách túi Hermes, mang giày Salvator Ferragamo, xài Sony Vaio hoặc iPad, điện thoại iPhone hoặc Vertu, lái Mercedes E300 hoặc BMW 525i, lãnh lương ba bốn chục triệu một tháng, đi du lịch ở khách sạn năm sao, tối nào cũng đi chơi coi film coi ca nhạc, mở miệng ra là tỷ, trăm tỷ, ngàn tỷ, tiếng Việt tiếng Anh trộn vào nhau và nói nhanh như gió.

Những người như vậy tui gặp nhiều, nhiều lắm, nhưng mà tui nghĩ họ không thể trở thành những người lãnh đạo được, không trở thành người quyết sách được, đất nước này không thể dựa vào những con người hiện đại đó mà phát triển được.

Vì suy cho cùng, họ cũng chỉ là những người làm thuê cho nước ngoài.

Suy cho cùng, họ cũng giống như cha ông mình hồi trước.

Trước 1975 mà chúng ta gọi những người làm cho Mỹ là tay sai cho giặc, là bán nước, sau khi giải phóng phải cho đi học tập cải tạo để quán triệt đường lối cách mạng.

Trước cả 1945 mà chúng ta gọi những người nói được tiếng Pháp, thân Pháp rồi “đè đầu cỡi cổ nông dân” là sài lang, là tư sản mại bản, mà cuộc cải cách ruộng đất năm 1954 đã làm họ khiếp sợ theo cái kiểu bây giờ mấy bạn trẻ hay nói là “vãi đái ra quần”.

Nông dân Việt Nam 2016 thì quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời với nỗi lo sợ nơm nớp không biết đất đai họ đang cày cấy có bị thu hồi hay không.

Công nhân Việt Nam 2016 thì cắm mặt vào dây chuyền sản xuất, phân xưởng máy móc chỉ mong tăng ca với thưởng Tết với nỗi lo chủ doanh nghiệp quỵt lương, bỏ trốn.

Dịch vụ Việt Nam 2016 thì làm ăn kiểu đối phó, chụp giựt, tới đâu hay tới đó với nỗi lo không biết thằng khác có giảm giá giảm chất lượng để kéo khách tìm giá rẻ hơn mình hay không hay đối tác có trở mặt không.

Cán bộ quản lý Việt Nam 2016 thì chăm bẵm vào thiếu sót của doanh nghiệp để thanh tra xử phạt, kiếm lỗi để bắt đặng tróc nã cho ra tiền bao thư với nỗi lo giảm biên chế, phải chia bao thư với sếp đặng yên cái thân từng năm, từng năm một.

Thứ trưởng, bộ trưởng Việt Nam 2016 thì rơi vô thế trên đe dưới búa, phải có sáng kiến cải tổ đất nước đặng dễ ăn nói với lãnh đạo vì cái tội đã lãnh lương do dân trả mà ăn không ngồi rồi không có cải cách thì không được, ngặt nỗi đưa cái sáng kiến nào ra áp dụng cũng bị cái đám ăn không ngồi rồi phá bĩnh, chửi xéo, chống đối không làm, đã vậy còn bị chửi ngu, cũng khổ.

Các bạn làm chính trị, tuyên giáo, mặt trận tổ quấc thì đến hẹn lại lên năm nào cũng gởi bao thơ cho doanh nghiệp vừa mời mọc vừa đe dọa đóng góp cho các chương trình vào mùa từ thiện, với nỗi lo thù trong giặc ngoài, đám “phản động” nó xách động nhân dân quần chúng nổi dậy là bỏ mẹ.

Đó là không kể các nhà văn thì phải bẻ cong ngòi viết của mình vừa chửi vừa bụm miệng sáng tác ra những cái văn học dở dở ương ương đọc một câu đầu là biết câu cuối của cái cuốn sách 1000 trang đó nó viết cái gì.

Đó là không kể các nhà khoa học của chúng ta mỗi năm phải lập dự án nghiên cứu ôm hàng tỷ đồng mỗi dự án mà cả năm trời không đăng nổi một bài báo nào lên tạp chí khoa học của thế giới hay có cái bằng sáng chế nào được cấp, đáng để được ghi nhận là có đóng góp vào sự sáng tạo của nhân loại.

Đó là không kể tới hàng triệu người đi làm văn phòng, chạy qua chạy lại trong những sàn máy lạnh mỗi ngày bận rộn tới sút quần mà không rõ là họ đang làm cái gì, có lợi cho ai (ngoài thằng chủ doanh nghiệp) và nỗi lo bị mất lòng đồng nghiệp, bị nói xấu, bị thiếu năng lực làm một việc gì đó.

h12d

Túm cái quần lại là chúng ta, người Việt Nam năm 2016, hội nhập với tư cách gì?

Tui nghĩ hoài, nghĩ hoài, nghĩ hoài. Tui nói thiệt đó, tui nghĩ nhiều lắm, nhưng mà tui không có câu trả lời khác.

Nô lệ
Tay sai
Người làm công

Nó giống như cái án bỏ túi treo trên đầu của dân tộc Việt này từ lúc vua Hùng khai sinh đất nước vậy đó. Việt Nam, theo ghi nhận của tui chỉ có những bước tiến rõ rệt trong những thời kỳ bị nước khác đô hộ (đửng biểu tui liệt kê ra là cái gì vào thời nào nha).

Nhưng nói gì thì nói, người Việt Nam khi ra khỏi đất nước này thì cũng có công danh nở mày nở mặt với các nước khác. Cũng nhiều. Và báo chí trong nước cứ canh me mỗi khi ở đâu đó có một người Việt Nam làm nên chuyện thì lập tức moi móc ra đăng lên trang bìa rặt mùi thấy sang bắt quàng làm họ, kiểu Mạc Ngôn với Mạc Can có bà con với nhau vậy á.

Vậy hông lẽ phong thủy của cái đất này, cái nước này nó có vấn đề? Chắc vậy, tui nghĩ chắc có vấn đề thiệt. Chứ người Việt Nam đi ra nước ngoài học tập làm việc một thời gian cũng nhiều người tạo dựng được công danh, nghiên cứu khoa học cũng có thành tựu, nghệ thuật gì cũng có tiếng tăm lắm.

Tại sao tui hỏi người Việt Nam hội nhập với tư cách gì chi dzậy?

Tại vì phải biết mình là ai thì mới tính chuyện hội nhập sau. Mình không giữ được bản sắc của mình thì khi hội nhập mình chỉ là bản sao của thiên hạ, những người đã đi trước mình nhiều chục năm. Mà bản sao thì có cái nào đẹp hơn tốt hơn bản chính không?

Cho nên, nếu tình trạng này kéo dài, thì hai chục năm nữa, Việt Nam không còn cái cửa nào để cạnh tranh với thiên hạ.

20 năm sau nữa, tài nguyên bán hết, mỏ dầu mỏ nguyên liệu khai thác hết, đồng lúa hết màu hết phù sa, rừng hết cây biển hết cá, thì chúng ta lấy cái gì nữa để bán cho người khác?

Hai chục năm sau, Việt Nam bán hết tài nguyên rồi, thì chúng ta lấy cái gì để cạnh tranh với thiên hạ?

Khoa học kỹ thuật mũi nhọn như là công nghệ nano hay công nghệ hạt nhân, khoa học vũ trụ chăng? Robot lai chăng? Sinh học biến đổi gen chăng? Công nghiệp nặng? Y tế kỹ thuật cao như cấy ghép gen hay sửa đổi bản đồ ADN? Quân sự? Tàu ngầm? Hàng không mẫu hạm? Dịch vụ? Bán lẻ? Trồng cây gây rừng? Bảo vệ môi trường? Hạn chế biến đổi khí hậu? May mặc? Ăn uống? Cảng biển? Cảng hàng không? Mại dâm? Du lịch?

Thôi mệt, tui càng nghĩ là tui càng thấy tui nghĩ bậy, tui nghĩ không ra cái con đường nào cho Việt Nam mình cạnh tranh với thiên hạ trong 20 năm sau, vì mọi thứ mà tui mới kể ở trên đó bây giờ thiên hạ đã có rồi, có hết rồi, có từ chục năm trước rồi, mà con dân Việt Nam vẫn còn lẹt đà lẹt đẹt “commission này nhiu tiền dzậy?”, “chú có việc gì lặt vặt thảy ra cho con làm cho”, “dự án đó có chiết khấu hông em?”, vậy đó, cứ vậy đó.

11anh1_1181x800

Những cái đầu lớn của Việt Nam tui không biết trốn đâu hết trơn rồi, tui thấy ai cũng nói chuyện đầu tư, chuyện mở rộng xuất khẩu, mở rộng lãnh vực kinh doanh rất là hùng hổ, nói chuyện kim ngạch, giá trị thặng dư, cán cân kinh tế, GDP, chỉ số hạnh phúc, bất động sản trăm tỷ ngàn tỷ ghê lắm, nhưng mà không có thấy ai nói cho tui biết được là 20 năm nữa Việt nam làm cái gì để cạnh tranh với thiên hạ!

Tức là có khả năng thằng con tui, thằng cháu tui trong 20 năm nữa nó sẽ giống ông cố nội nó, cái thời mà dân Việt Nam bị kêu là “lầm than”, bị đô hộ, phải nói tiếng tây bồi giỏi hơn tiếng Việt để mưu sinh chăng?

Vậy thì tui nín đẻ mẹ nó cho rồi, chứ tui không thích đẻ con mình ra rồi cho nó làm nô lệ.

Túm cái quần lại, người Việt Nam hội nhập với tư cách gì?

Tui đã hỏi rồi, và tui lại hỏi nữa, và tui sẽ tiếp tục hỏi nữa. Vì tui không thấy một tia sáng nào khả dĩ trả lời được cho tui câu hỏi đó.

Có người sẽ nói như vầy: mệt mày quá. Mày cứ đi làm đi, mày làm được cái gì cho ra hồn đi rồi nói chuyện cạnh tranh với nói chuyện tư cách Việt Nam. Có lý đó, anh chị đó có lý đó, cứ làm đi, đửng ngồi đây than thở này nọ rồi chối bỏ việc không làm gì. Kẹt cái là trong cái quá trình mò mẫm làm việc và hội nhập, tui đã gặp quá nhiều người, và sau cái quá trình dài tiếp xúc với những con người Việt Nam ưu tú đó nó đã làm tui nảy sinh ra câu hỏi này.

Tui bị cái bịnh nói chuyện xà quần, tức là tự mình đẻ ra một mớ dây xong rồi tự mình quấn chằng quấn chịt bản thân mình, không có đơn giản hóa được nữa. Tui vẫn đi làm thôi, vẫn cắm đầu làm những cái công việc nhỏ nhất và đơn giản nhất, vì tính tui thích làm như vậy, nhưng mà mấy bạn biết hông, tình cảnh của tui giống như mấy bạn công nhân hầm mỏ, cắm đầu đào một con đường mà có cảm giác là không bao giờ thấy được ánh sáng cuối đường hầm vậy á. Cái cảm giác đó nó rất là bất an, thậm chí có khi tui còn có cảm giác là con đường mà mình cắm đầu đào nó sẽ chấm dứt vào 20 năm nữa, tới chừng đó thì bụp, trúng ngay cái miếng đá bự tổ chảng trong lòng đất, chết cứng, quay đầu không được, đặt bom cho nổ cũng không được.

Vậy thì Việt Nam dựa vô cái gì để cạnh tranh?

Cái gì khó quá chưa giải quyết được thì để qua một bên, nghiền ngẫm, khi nào có câu trả lời thì quay lại nói tiếp. Bây giờ nói về giải pháp đi.

Việt Nam có cái gì mà nước ngoài không có? Hay là người Việt Nam có cái gì mà người nước khác không có? Tui suy nghĩ về vụ này cũng nhiều, có đi hỏi người này người nọ, rốt cuộc tạm đồng ý với mấy cái như sau:

1. chịu khó chịu khổ. Chịu khó chịu khổ nhưng mà làm biếng. Dân Việt Nam từ thời phong kiến cho tới bây giờ là giống dân chịu mọi áp bức của đô hộ, cai trị, bóc lột, đè nén quanh năm, nhưng mà không có người Việt Nam nào khổ mà chết hết. Bất quá thì chỉ có đói quá mà chết thôi, nhưng đó là chuyện hồi xưa chưa có UN. Khổ cỡ nào người dân mình cũng chịu được. Khó cỡ nào dân mình cũng làm được, tuy là cái làm đó nó không có hoàn hảo,, nhưng mà nói chung thì dân Việt Nam mình giải quyết được khoảng 70% vấn đề khó bằng sự khôn lanh của con người.

2. khôn vặt. Dân Việt Nam làm cái gì chắp vá chỉnh sửa nhỏ nhỏ lặt vặt thì làm rất tốt, dùng từ chuyên môn thì là giỏi tiểu thủ công nghiệp. Thí dụ cái xe Honda 67 Nhật nó làm thì dân mình làm không được, nhưng mà đem về chỉnh sửa, hàn hàn gắn gắn mấy cái chi tiết lặt vặt hay cố cắm đầu sửa lại cái bình xăng con cho nó hoạt động được thì dân Việt mình làm tốt. Không phải cái kiểu modification (độ) như mấy cái garage Mỹ độ lại chiếc xe nhìn khác quắc được, cái đó khó, dân mình làm không được, nhưng mà làm mấy cái lặt vặt thì làm tốt, thí dụ như rút căm, vá ruột, súc bình xăng con vân vân. Đem chuyện Honda 67 ra làm thí dụ thôi, bà con tự suy luận mấy chuyện khác nha.

3. khéo tay. Khéo tay nhưng mà không có sáng tạo, cho nên nhìn người ta làm, rồi về nhà bắt chước làm theo thì giống được tới 80%-90%, nhưng mà chỉ giống cái hình thức thôi, còn nội dung thì là chuyện khác. Lấy chuyện thiết kế thời trang ra làm ví dụ đi. Việt Nam không có cái mẫu thiết kế nào đặc trưng hết, nhưng mà mẫu thiết kế nào cũng có nét hao hao, lai lai, tổng hợp các mẫu thiết kế nổi tiếng khác. Tức là chôm chỗ này một chút, chôm chỗ kia một chút, đem về ráp lại thì được, nhưng mà sáng tạo ra thì không làm được.

4. hiền và dễ tính. Người Việt Nam được cái hiền, hay là xuề xòa, dễ dãi, tư duy nông nghiệp nên đâm ra không có khắt khe với thế giới xung quanh mình. Gì cũng được, sai chút xíu cũng được, trật chút đỉnh cũng được, làm cái gì được khoảng 90% là vui rồi, là cảm thấy có thành tựu rồi. Là chấp nhận được. Nhờ cái tính hiền này mà dân tộc mình mới tồn tại qua được 1000 năm Bắc thuộc, nhẫn nhịn, sao cũng được, sống được là được, nên nhờ đó mà học được chữ Hán, nhờ khôn vặt mà đẻ ra được chữ Nôm (cuối cùng chết yểu), mà tồn tại tới ngày hôm nay.

5. tầm nhìn ngắn. Biểu hiện cụ thể nhất là các nước có chiều dài lịch sử tương tự Việt Nam thì đã có những công ty cả trăm năm, vài trăm năm cũng có, còn Việt Nam thì không có một công ty nào lâu đời hơn 50 năm mà nổi tiếng với thiên hạ. Các thương hiệu như Dạ Lan, Cô Ba, Cây Kèn, Hinos, Chương Dương vân vân đều mất tích trong các thương hiệu sinh sau đẻ muộn.

6. vọng ngoại. Với tâm thế nô lệ 1000 năm, rồi 100 năm, dân Việt Nam ngày hôm nay dường như đã có một suy nghĩ ăn sâu vào tiềm thức của 84 triệu người Việt Nam: hàng ngoại mới tốt. Bất cứ cái gì, bất cứ nơi đâu và bất cứ lúc nào với bất cứ ai khắp cõi Việt Nam này, nếu đem hai cái gì đó cùng chức năng, một của nước ngoài làm và một của Việt Nam làm mà đem hỏi đều sẽ nhận được cùng một câu trả lời: đồ ngoại tốt hơn. Và thậm chí bạn mà xài hàng ngoại thì bạn còn nhận được sự ngưỡng mộ và tán thưởng của người xung quanh. Chỉ có một ngoại lệ duy nhất: người được hỏi không có khả năng chi trả cho hàng ngoại nên chọn hàng nội.

Tui dừng lại tại điểm số 6 này, vì kể ra nữa thì sẽ lòi ra toàn tính xấu, không phải là con đường để phát triển cho đất nước. Nếu vậy, thì chúng ta có khả năng phát triển cái gì để cạnh tranh với thiên hạ, dựa trên những yếu tố đó? Theo suy nghĩ hạn hẹp của tui, thì tui đề xuất (và sẽ sửa đổi) các hướng sau đây:

– gia công kỹ thuật cao cho nước ngoài. Ví dụ gia công chip, gia công chi tiết máy công nghệ cao. Tất nhiên mình không đời nào chạy theo nổi FoxxCon hay ASUS được, vậy thì tập trung tìm kiếm các hợp đồng gia công chi tiết tàu vũ trụ, chi tiết linh kiện động cơ vân vân, tất nhiên đem bàn thì nó sẽ ra việc, ở đây tui chỉ định hướng.

– dịch vụ tiêu chuẩn cao. Tức là cạnh tranh với Bali, Pattaya, Phang Nga, Honduras vân vân. Mà phải đặt ra tiêu chuẩn thật khắt khe kìa, đứa nào làm bậy rút giấy phép, không có du di, không có qua loa được vụ này.

– gia công dệt may chất lượng cao. Thí dụ làm hàng thời trang công nghệ cao cho Gucci, D&G, Hermes chẳng hạn. Mà phải làm hơn Trung Quấc, tức là không làm hàng giả, không làm hàng fake, không làm hàng copy-cat, cam kết không có hàng lỗi. Khúc này cũng phải khắt khe, đứa nào cố tình làm sai rút giấy phép, phạt nặng, cấm xuất khẩu, thậm chí bỏ tù cho nó sợ cũng được.

– Call center. Cái này thì mình thua Ấn Độ, Phillipins xa lắc xa lơ, người ta làm outsourcing Call Center cho Mỹ lâu lắm rồi, nhưng mà người Việt giỏi ngoại ngữ, có thể chọn thị trường hẹp để tấn công, thí dụ nói tiếng Hoa, tiếng Hàn, tiếng Nhật, tiếng Ý chẳng hạn.

Tui nói thiệt với bà con là tui làm biếng viết tiếp quá, vì hai lý do, một là ý tưởng nhiều quá tui làm biếng viết ra, hai là tui nói ra trên blog này thì tui cũng chưa chắc đủ khả năng làm hết mấy thứ tui nói, cho nên thôi, tui để đó, khi nào có cơ hội hay có dịp thì tui nói ra, làm được thì làm.

Vậy đi, bà con ai có cao kiến hay chửi bới, đóng góp gì thì nhào vô, xin mời^^

Demifantasy 

Được chỉnh sửa bởi Café Ku Búa

(Café Ku Búa)
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Người đăng: Unknown vào lúc 16:30 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Bài đăng mới hơn Bài đăng cũ hơn Trang chủ
Đăng ký: Bài đăng (Atom)

Người theo dõi

Tìm kiếm Blog này

Translate

Tổng số lượt xem trang

Lưu trữ Blog

  • tháng 1 (1)
  • tháng 8 (3)
  • tháng 7 (3)
  • tháng 6 (19)
  • tháng 5 (106)
  • tháng 4 (247)
  • tháng 3 (197)
  • tháng 2 (172)
  • tháng 1 (193)
  • tháng 12 (280)
  • tháng 11 (204)
  • tháng 10 (208)
  • tháng 9 (169)
  • tháng 8 (241)
  • tháng 7 (215)
  • tháng 6 (226)
  • tháng 5 (256)
  • tháng 4 (218)
  • tháng 3 (246)
  • tháng 2 (205)
  • tháng 1 (276)
  • tháng 12 (307)
  • tháng 11 (238)
  • tháng 10 (102)
  • tháng 9 (206)
  • tháng 8 (232)
  • tháng 7 (260)
  • tháng 6 (380)
  • tháng 5 (480)
  • tháng 4 (578)
  • tháng 3 (506)
  • tháng 2 (335)
  • tháng 1 (391)
  • tháng 12 (476)
  • tháng 11 (532)
  • tháng 10 (513)
  • tháng 9 (446)
  • tháng 8 (424)
  • tháng 7 (574)
  • tháng 6 (383)
  • tháng 5 (450)
  • tháng 4 (379)
  • tháng 3 (387)
  • tháng 2 (463)
  • tháng 1 (504)
  • tháng 12 (346)
  • tháng 11 (167)
  • tháng 10 (317)
  • tháng 9 (398)
  • tháng 8 (446)
  • tháng 7 (464)
  • tháng 6 (366)
  • tháng 5 (255)
  • tháng 4 (371)
  • tháng 3 (400)
  • tháng 2 (241)
  • tháng 1 (364)
  • tháng 12 (417)
  • tháng 11 (285)
  • tháng 10 (398)
  • tháng 9 (316)
  • tháng 8 (330)
  • tháng 7 (333)
  • tháng 6 (278)
  • tháng 5 (255)
  • tháng 4 (365)
  • tháng 3 (366)
  • tháng 2 (175)
  • tháng 1 (209)
  • tháng 12 (231)
  • tháng 11 (247)
  • tháng 10 (224)
  • tháng 9 (313)
  • tháng 8 (315)
  • tháng 7 (377)
  • tháng 6 (522)
  • tháng 5 (469)
  • tháng 4 (282)
  • tháng 3 (205)
  • tháng 2 (306)
  • tháng 1 (284)
  • tháng 12 (447)
  • tháng 11 (370)
  • tháng 10 (253)
  • tháng 9 (172)
  • tháng 8 (228)
  • tháng 7 (290)
  • tháng 6 (159)
  • tháng 5 (140)
  • tháng 4 (128)
  • tháng 3 (65)
  • tháng 2 (41)
  • tháng 1 (73)
  • tháng 12 (46)
  • tháng 11 (1)
  • tháng 10 (1)
  • tháng 9 (1)
  • tháng 5 (5)

Trang

  • Trang chủ

Tin nhắn

Mọi người, mọi nơi và mọi lúc
Powered By Blogger

Xứ Đoài mây trắng bay..

Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Người theo dõi

Tìm kiếm Blog này

Lưu trữ Blog

  • ▼  2023 (1)
    • ▼  tháng 1 (1)
      • PhầĐã lâu mới tìm lạin nhận xét hiển thị trên trang
  • ►  2020 (940)
    • ►  tháng 8 (3)
    • ►  tháng 7 (3)
    • ►  tháng 6 (19)
    • ►  tháng 5 (106)
    • ►  tháng 4 (247)
    • ►  tháng 3 (197)
    • ►  tháng 2 (172)
    • ►  tháng 1 (193)
  • ►  2019 (2744)
    • ►  tháng 12 (280)
    • ►  tháng 11 (204)
    • ►  tháng 10 (208)
    • ►  tháng 9 (169)
    • ►  tháng 8 (241)
    • ►  tháng 7 (215)
    • ►  tháng 6 (226)
    • ►  tháng 5 (256)
    • ►  tháng 4 (218)
    • ►  tháng 3 (246)
    • ►  tháng 2 (205)
    • ►  tháng 1 (276)
  • ►  2018 (4015)
    • ►  tháng 12 (307)
    • ►  tháng 11 (238)
    • ►  tháng 10 (102)
    • ►  tháng 9 (206)
    • ►  tháng 8 (232)
    • ►  tháng 7 (260)
    • ►  tháng 6 (380)
    • ►  tháng 5 (480)
    • ►  tháng 4 (578)
    • ►  tháng 3 (506)
    • ►  tháng 2 (335)
    • ►  tháng 1 (391)
  • ►  2017 (5531)
    • ►  tháng 12 (476)
    • ►  tháng 11 (532)
    • ►  tháng 10 (513)
    • ►  tháng 9 (446)
    • ►  tháng 8 (424)
    • ►  tháng 7 (574)
    • ►  tháng 6 (383)
    • ►  tháng 5 (450)
    • ►  tháng 4 (379)
    • ►  tháng 3 (387)
    • ►  tháng 2 (463)
    • ►  tháng 1 (504)
  • ►  2016 (4135)
    • ►  tháng 12 (346)
    • ►  tháng 11 (167)
    • ►  tháng 10 (317)
    • ►  tháng 9 (398)
    • ►  tháng 8 (446)
    • ►  tháng 7 (464)
    • ►  tháng 6 (366)
    • ►  tháng 5 (255)
    • ►  tháng 4 (371)
    • ►  tháng 3 (400)
    • ►  tháng 2 (241)
    • ►  tháng 1 (364)
  • ►  2015 (3727)
    • ►  tháng 12 (417)
    • ►  tháng 11 (285)
    • ►  tháng 10 (398)
    • ►  tháng 9 (316)
    • ►  tháng 8 (330)
    • ►  tháng 7 (333)
    • ►  tháng 6 (278)
    • ►  tháng 5 (255)
    • ►  tháng 4 (365)
    • ►  tháng 3 (366)
    • ►  tháng 2 (175)
    • ►  tháng 1 (209)
  • ►  2014 (3775)
    • ►  tháng 12 (231)
    • ►  tháng 11 (247)
    • ►  tháng 10 (224)
    • ►  tháng 9 (313)
    • ►  tháng 8 (315)
    • ►  tháng 7 (377)
    • ►  tháng 6 (522)
    • ►  tháng 5 (469)
    • ►  tháng 4 (282)
    • ►  tháng 3 (205)
    • ►  tháng 2 (306)
    • ►  tháng 1 (284)
  • ►  2013 (2366)
    • ►  tháng 12 (447)
    • ►  tháng 11 (370)
    • ►  tháng 10 (253)
    • ►  tháng 9 (172)
    • ►  tháng 8 (228)
    • ►  tháng 7 (290)
    • ►  tháng 6 (159)
    • ►  tháng 5 (140)
    • ►  tháng 4 (128)
    • ►  tháng 3 (65)
    • ►  tháng 2 (41)
    • ►  tháng 1 (73)
  • ►  2012 (54)
    • ►  tháng 12 (46)
    • ►  tháng 11 (1)
    • ►  tháng 10 (1)
    • ►  tháng 9 (1)
    • ►  tháng 5 (5)

Wikipedia

Kết quả tìm kiếm

Chủ đề Cửa sổ hình ảnh. Được tạo bởi Blogger.