Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016

Mai Tuệ Vân - 3 truyện cực ngắn:


Rã đông

Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình đang khóc. Nước mắt nóng và mặn. Một kỷ băng hà đã qua.


Giấc mộng hoá thân

Trên đầu mây trắng bay, dưới chân bụi mịt mù. Bỏ lại sau lưng bao nhiêu rừng thẳm, cánh đồng, làng mạc, đô thị, và những chân trời đã cũ; tôi cứ bước đi miệt mài như một dòng sông. Có lẽ kiếp trước tôi là một dòng sông?
Một sớm mai, trên con đường men theo dãy núi già, tôi bắt gặp một đoá hoa trắng và một đoá hoa vàng. Cúi xuống ngắm nhìn những cánh hoa nhỏ khẽ run lên vì hơi thở, tôi nằm xuống cạnh hai đoá mong manh và thiếp đi sau nhiều năm tháng bộ hành không ngơi nghỉ.
Sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, tôi thấy mình đã hoá thành một con đường; thân thể trải dài mãi ra xa khuất vào sau sương mù. Ngoảnh nhìn bên cạnh mình, vẫn là hai đoá hoa nhỏ, một trắng một vàng, run lên trong cơn gió nhẹ sớm mai.


Hoa mưa

Từ những vết chém người đời tạo ra trên thân thể anh, sẹo không liền mà lại nhú lên những lưỡi dao. Vì thế, anh không dám lại gần con người.
Anh không còn sợ bị nhận thêm những đường dao của tha nhân mà sợ chính mình sẽ làm đau kẻ khác. Nhưng sống trong thế gian anh không làm cách gì có thể hoàn toàn tránh mặt con người, vì thế anh đã chọn cái chết bằng cách tự lụi dao thẳng vào tim mình.
Nhiều năm sau, em hoá thân thành những đám mây ngũ sắc làm mưa trên mộ anh. Những giọt nước từ bi ngọt lành làm lắng dịu đớn đau. Nơi những giọt mưa rơi xuống, bây giờ đã nở ra những đoá hoa màu hồng nhạt như màu da non. Từ đó, người đời gọi những đoá hoa trên mộ anh là hoa mưa.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

THỬ ĐẶT MỘT LỘ TRÌNH MẠNH HÓA NHÀ NƯỚC



Tôi đọc từ một nguồn tin Quốc hội, có đại biểu nói, nếu chi lương đủ sống tối thiểu cho đội ngũ hơn 11 triệu viên chức (bao gồm cả quân đội), thì tổng thu ngân sách (gồm cả thuế và dầu thô) chỉ đủ nuôi bộ máy, nuôi một cách tối thiểu. Và không còn đồng nào để đầu tư cho phát triển.
Hỡi ôi, một bộ máy hơn 11 triệu người, quản trị một đất nước hơn 90 triệu dân mà đụng vào đâu cũng nhiều thiếu sót, trì trệ thì sao có thể gọi là Nhà nước MẠNH?
Tại sao chỉ với 2,8 triệu viên chức Mỹ, họ lại có thể quản trị số dân đông gấp hơn 2 lần dân Việt mà mọi việc đều tinh tươm đến mức, ví dụ, một ông khách ất ơ nhập cảnh vào nước Mỹ với visa 6 tháng, mà ngày mai hết hạn, hôm nay đã có người đến nhắc?
Tôi thấy các ĐB Quốc hội Trần Du Lịch, Trần Hoàng Ngân, Nguyễn Thị Quyết Tâm đều thống nhất là cần giảm biên chế đi 1/3 nhưng cái cốt yếu là giảm ai, giảm như thế nào thì đều không nói. Ông Trần Du Lịch là ĐB nổi tiếng, dân khá hài lòng về các phát biểu của ông mà không nói cái điều cốt yếu, cái lý hiển nhiên thì đúng là một nghịch lý. Xem ra, cái ngưỡng để dân hài lòng, để dân quý mến trên chính trường Việt Nam còn thấp lắm.
Sở dĩ 2,8 triệu viên chức Mỹ có thể quản trị đất nước với nền kinh tế lớn nhất thế giới, là bởi vì họ không phải nuôi số đảng viên của hai đảng Cộng hòa và Dân chủ. Đảng viên hai đảng này, nếu có tài, họ sẽ trở thành viên chức Nhà nước và tiền thuế nuôi họ và gia đình họ. Suốt 9 năm (1945 – 1954) đảng viên Đảng Lao động Việt Nam cũng không mấy ai chỉ ăn lương Nhà nước để hoạt động việc đảng. Văn phòng Tổng Bí thư Trường Chinh chỉ có vài ba chục người; Bí thư Xứ ủy Nam kỳ Lê Duẩn ăn lương Trường phòng Dân quân. Ý chí của Đảng, được lãnh đạo và thực hiện thông qua từng đảng viên; toàn đảng có mấy chục Trung ương ủy viên đều trực tiếp làm việc chính quyền. Hàm lượng đảng ở trong ý chí, ví dụ, Bộ trưởng và trong từng hành vi của ông Bộ trưởng ấy, là TOÀN BỘ. Ông ta làm dở? Thanh tra Chính phủ và Quốc hội giám sát, chỉ rõ và khi cần bãi nhiệm nếu để sai trái trì trệ kéo dài. Cần gì UB Kiểm tra TW? Trưởng ban Kiểm tra TW, kiêm Trưởng ban Nội chính TW được đề cử, Quốc hội phê chuẩn ông ấy làm Chánh thanh tra Chính phủ - ăn lương Chánh thanh tra Chính phủ. Như thế mới đủ quyền, Chánh thanh tra Chính phủ do Thủ tướng cử, sao có đủ quyền lực để lập văn bản cáo buộc trách nhiệm một vị đồng cấp là Bộ trưởng khi mà Bộ trưởng nhiều quân hơn, nhiều tiền hơn?
Như cơ chế các Ban của Đảng “ngang cơ” các Bộ, tự nó đã có hai ý nghĩa:
1, Đảng không hoàn toàn tin tưởng Chính phủ và Bộ trưởng – người do Đảng đề cử; lại phải có một Ban đảng ở trên Bộ, lãnh đạo Bộ trưởng. Như thế, Bộ trưởng là một quyền lực không đầy đủ.
2, Một Bộ trưởng quyền lực không đầy đủ, không thể cách chức hay đề bạt một thứ trưởng một vụ trưởng; khiến mệnh lệnh không nghiêm. Tình trạng công việc trì trệ, nợ báo cáo, nợ văn bản (thông tư, hướng dẫn luật…) đã trở nên triền miên, chồng chất mà Ban của Đảng và Văn phòng bộ chả có ai thấy mình có trách nhiệm hiển nhiên. Các vụ án oan, án tồn đọng là hệ quả của cơ chế Ban Kiểm tra, Ban Nội chính TW trùm lên Tòa án và Viện Kiểm sát; cho nên án oan, án tồn đọng hiển nhiên lỗi không thuộc về CHỈ MỘT Chánh án Tòa án.
Từ hệ quả song trùng, chồng chéo dẫn đến một hệ lụy: Hàm lượng (ý chí) đảng trong mỗi vị đều không cao, quyền lực của đảng, do đó là cũng là quyền lực thiếu.
Vì ai cũng thiếu ý chí và quyền lực nên công việc cứ bê trễ, càng bê trễ càng cần tuyển thêm nhiều người. Tôi nhớ, hồi mới Đổi mới, viên chức chỉ có 7 triệu người bao gồm cả khoảng ít nhất là 3 triệu công nhân nông lâm trường quốc doanh, cơ khí thủy lợi huyện – là số người ăn lương thuế dân vì họ suốt đời thua lỗ. Nay số công nhân viên ấy đã nghỉ, đủ thay được số giáo viên tăng lên do học sinh tăng lên. Như vậy là sau 30 năm Đổi mới, không năm nào không ra rả nói cần tinh giảm biên chế, mà biên chế đã tăng thêm 7 triệu người – gấp hai lần sau 30 năm!
Có câu, “đảng viên đi trước làng nước đi sau”, Đảng cứ tự đầu tầu, nhất thể hóa các Ủy viên TW trong các chức vụ chính quyền với công thức 2 trong 1; thì, đến lượt mình, các bộ tỉnh đều giảm ít nhất 1/3 viên chức.
Cố nhiên là giảm có lộ trình. Giảm 1/3 sau 5 năm, giảm 1/ 3 sau 5 năm nữa. Sau 20 năm nữa, viên chức Việt Nam sẽ chỉ còn 2,8 triệu; quản lý một đất nước hơn trăm triệu người. Coi như bằng Mỹ còn gì!
Nên nhớ, 1 đồng lương là 1 đồng quản lý phí. Do đó, giảm được 33% viên chức thì không phải viên chức được tăng lên 33% mà là 66% thu nhập.
40 ngàn tỷ đồng để cải cách tiền lương theo đúng lộ trình không tìm đâu ra được. Muốn có nguồn tăng…
VIETNAMNET.VN|BỞI VIETNAMNET.VN

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Stalin và vấn đề ký ức lịch sử của nước Nga


stalin
Nguồn: Nina L. Khrushcheva, Stalin and MemoryProject Syndicate, 02/03/2003.
Biên dịch: Vũ Thành Nam | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Oscar Wilde đã từng nói: “Bổn phận của chúng ta với lịch sử là viết lại nó”. Là một người Nga, tôi rất quen thuộc với việc viết lại lịch sử. Liên Xô đã dành ra cả một thế kỷ để sửa lại mụn trên mũi của Lênin, sửa lại số liệu thu hoạch nông nghiệp, và làm cho một Yuri Andropov bệnh tật[1] trông đỡ giống xác chết hơn. Nhưng đối với trường hợp của Stalin – người đã mất cách đây 50 năm -phần lớn chúng ta hiện nay viết lại lịch sử bằng cách giả vờ là một phần của nó chưa bao giờ xảy ra.
Đừng hiểu sai ý tôi: Stalin không hề biến mất như những người bị đưa đến trại lao động Gulag. Ông không hề bị xóa nhòa khỏi ký ức của chúng ta như cách mà Trotsky và Bukharin bị cắt ra khỏi những tấm ảnh gốc.
Một lần, khi tôi ra khỏi một xe taxi ở Moskva, người lái xe nâng chiếc khăn của mình lên để cho tôi thấy một bức ảnh Stalin ghim trên áo khoác của ông ta. Tôi cứ nghĩ hoài về cử chỉ tinh quái này. Ông ta dường như đại diện cho một thế giới ngầm, một người cảm thấy sốc và bị phản bội bởi thế giới nảy sinh ra từ chính sách “glastnost và perestroika”(công khai hóa và cải tổ) của Gorbachev.
Nhưng bám vào quá khứ một cách thiếu tư duy phê bình thì vẫn tốt hơn là cho phép quá khứ điều khiển hiện tại. Sau tất cả, chính lịch sử đã xúi giục người Nam Tư biến một góc châu Âu của họ trở thành một lò mổ thời trung cổ với nạn hiếp dâm, cướp bóc, và những cuộc bao vây. Vào ngày 28 tháng 6 năm 1989, ngày Thánh Vitus, trong khi hầu hết các nước Đông Âu đã dám ước mơ về một tương lai phi cộng sản, thì một triệu người Serbia lại chuẩn bị lao vào quá khứ với Slobodan Milosevic, đổ về Quảng trường Blackbirds[2] ở Kosovo để kỷ niệm 600 năm ngày Thổ Nhĩ Kỳ đánh bại Serbia.
Lịch sử, tất nhiên, không phải là một loại thuốc với nhãn cảnh báo về liều lượng thích hợp. Lịch sử cho một quốc gia tính cách, các thể chế, bản sắc riêng. Nó có thể bị hiểu sai hoặc dùng sai, nhưng không bao giờ bị hạn chế. Milosevic không cho người Serbia dùng lịch sử quá liều lượng; ông chỉ đơn giản là cung cấp lịch sử như cách họ tưởng tượng ra, và không bị pha loãng bởi những lời chỉ trích.
Rõ ràng, điều tốt nhất là phải đối mặt với lịch sử – và với chính mình – một cách thẳng thắn, để rút ra được những kết luận trung thực nhất. Nhưng đâu là những kết luận đúng đắn khi bạn đối mặt với lịch sử nhuốm máu và thối nát như thời kỳ Stalin? Một số người đã sẵn sàng nhìn vào quá khứ với một tâm lý cởi mở, để theo đuổi mục đích tự hoàn thiện bản thân. Những người khác thì quan tâm nhiều hơn đến việc sử dụng nó để biện minh cho sự thất bại hay thậm chí là những sự xâm lược; lịch sử này là sự tự thương hại. Những người khác thì vẫn chỉ đơn thuần là tự chìm vào ảo tưởng.
Những người cầu tiến là hiếm nhất. Gần đây, chỉ có Đức, hay đúng hơn là Tây Đức, là đã đối mặt thẳng thắn với quá khứ của họ để tự làm lại mình. Phải cần đến tầm cỡ của thảm kịch Holocaust mới mang lại được sự tự kiểm điểm cần thiết. Bất cứ điều gì ít khủng khiếp hơn thế có thể là chưa đủ.
Về phía người Nga, vốn đã bị chia rẽ từ lâu giữa phe truyền thống và phương Tây hóa, tâm lí nạn nhân cạnh tranh với tinh thần tự kiểm điểm khi nói về lịch sử. Trong năm 1989 và 1990, khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ và glasnost bám rễ, nhiều người Nga thèm khát tìm kiếm “sự thật”. Điều gì gây ra nạn đói trong những năm 1930 và liệu nó có nằm trong kế hoạch? Có bao nhiêu người đã thiệt mạng trong các cuộc thanh trừng? Khrushchev đã thực sự nói gì về Stalin trong bài phát biểu bí mật của ông năm 1956? Những sự kiện lịch sử trở thành tin trên trang nhất.
Đối với những người khác, sự sụp đổ của hệ thống chính trị có nghĩa là sự kết thúc của không chỉ đơn thuần là những câu chuyện lịch sử họ biết, mà còn là của một đế chế và bản sắc dân tộc . Và trong khoảng trống đó các chính trị gia cánh hữu và các nhà sử học mô tả Nga là nạn nhân của một “nền văn hóa sai lầm,” và những người nước ngoài chịu trách nhiệm cho tất cả các vấn đề. Nhiều người bây giờ thấy khó có thể hiểu được bảy thập niên của chủ nghĩa cộng sản. Rất nhiều người đã từ bỏ nỗ lực tìm hiểu nó.
Không bao giờ dễ tạo ra một phiên bản lịch sử nước Nga mà tất cả người Nga đều đồng ý; các quan niệm mâu thuẫn nhau về bản sắc dân tộc chống lại điều đó. Nhưng một số nước khác đã lột xác khỏi chủ nghĩa cộng sản lại quá sẵn sàng chấp nhận một lịch sử mới – thậm chí dựa trên sự tưởng tượng và bịa đặt – để phù hợp với nhu cầu hiện tại.
Ukraine là một ví dụ. Ukraine có lịch sử không? Chắc chắn là mảnh đất đó có lịch sử, nhưng mảnh đất đó có phải là một quốc gia không? Ukraine theo nghĩa đen nghĩa là “nằm bên rìa.” Nó là một biên giới nhiều hơn là một khu vực, càng không phải là một quốc gia. Vì vậy, nó rất cần có một lịch sử tự vẽ ra – và có ai cung cấp thứ lịch sử ấy tốt hơn cộng đồng người Ukraine hải ngoại, những người luôn mong muốn thúc đẩy vùng đất của ông cha họ? Có thể là không phải ngẫu nhiên mà cuốn sách giáo khoa lịch sử đầu tiên của Ukraine đã được viết ở Toronto, chứ không phải Kiev.
Cho đến nay, Nga, một quốc gia ít có sự ôn hòa, hoặc là thảo luận hăng hái hoặc là im lặng tuyệt đối và tự lừa dối về Stalin. Những sự thay đổi đó làm cho nhiều người (không chỉ người cao tuổi) bầu cho Đảng Cộng sản. German Gref, bộ trưởng trẻ tuổi của Bộ Thương mại và Kinh tế Nga, trả lời một câu hỏi về cha mẹ của ông, vốn là tù nhân ở trại Gulag, bằng câu nói, “Thì sao, thời đó tất cả đều là tù nhân.”
Sự thật là, ngoài người Đức ra thì rất ít người sẵn sàng trung thực trong việc đối đầu và chấp nhận quá khứ. Hầu hết những dân tộc khác chú tâm vào những gì huy hoàng, giấu kín sự nhục nhã, tô điểm cho các phần còn lại – nếu không thì giả vờ rằng quá khứ không tồn tại.
Tuy nhiên, trước khi sa vào chủ nghĩa bi quan, vẫn còn có gì đó khác đáng xem xét. Mặc dù không thể ám ảnh quá nhiều bởi lịch sử, nhưng vẫn cần phải dành nhiều thời gian để xem xét nó. Vì giống như quá khứ, tương lai cũng cần phải được viết ra. Nếu người Nga im lặng về Stalin, thì có thể là bởi vì chúng ta đang bận rộn viết lịch sử của tương lai.
Nina L. Khrushcheva, tác giả của các cuốn sách “Imagining Nabokow: Russia Between Art and Politics”, và cuốn “The Lost Khrushchev: A Journey into the Gulag of the Russian Mind”, là Giáo sư ngành Quan hệ Quốc tế và Phó Hiệu trưởng Trường Đại học The New School tại New York. Bà cũng là nghiên cứu viên cấp cao tại Viện Chính sách Thế giới.
Copyright: Project Syndicate 2003 – Stalin and Memory
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2016/09/23/stalin-va-van-de-ky-uc-lich-su-cua-nuoc-nga/#sthash.DppUEAxf.dpuf
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trịnh Xuân Thanh – cánh diều đứt gió và ẩn số Interpol


Tác giả: Kiến An

.KD: Thông tin không thống nhất giữa Bộ Công an Việt Nam và Interpol làm cho số phận của cựu chính trị gia Trịnh Xuân Thanh trở nên bí hiểm. (Kiến An)
.Bạn bè gửi cho bài viết này. Xin đăng lên để bạn đọc tham khảo một vấn đề đáng quan tâm
—————
Từ vinh quang đến trốn chạy
Bị can Trịnh Xuân Thanh (sinh năm 1966), cựu Phó Chủ tịch tỉnh Hậu Giang, cựu Chủ tịch Hội đồng quản trị PVC, chính thức bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Việt Nam (C46, Bộ Công an) khởi tố tội “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” (theo Điều 165 Bộ luật hình sự) từ tối ngày 16/9 vừa rồi.
Xuất thân từ một gia đình có truyền thống cách mạng (cha của ông Thanh, ông Trịnh Xuân Giới, từng giữ chức Hiệu trưởng trường Đoàn Trung ương), ông Trịnh Xuân Thanh đắc cử đại biểu Quốc hội Việt Nam với tỷ lệ 75,28% số phiếu ủng hộ. 198.392 phiếu bầu cho ông là số phiếu cao nhất tại Hậu Giang trong cuộc bầu cử khóa rồi.
Ông TrËnh Xuân Thanh,thÝi kì làm Bí th° £ng çy, Chç tËch HQT TÕng công ty CÕ ph§n Xây l¯p D§u khí ViÇt Nam (PVC) . ¢nh PVC-MT
Ông TrËnh Xuân Thanh,thÝi kì làm Bí th° £ng çy, Chç tËch HQT TÕng công ty CÕ ph§n Xây l¯p D§u khí ViÇt Nam (PVC) . ¢nh PVC-MT
Ông Trịnh Xuân Thanh từng làm Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty CP xây lắp dầu khí VN (PVC) – Hình: Báo Tuổi Trẻ
Ông Trịnh Xuân Thanh bắt đầu được công luận biết đến nhiều nhất từ đầu tháng 6 năm nay ngay sau cuộc bầu cử quốc hội, khi việc ông đi xe hơi Lexus cá nhân gắn biển số xanh dành cho xe công vụ được báo chí trong nước chú ý. Sau vụ việc này, con đường công danh của ông Thanh bị cuốn vào một xoáy trôn ốc theo chiều đi xuống.

Ngày 15/7, hơn 20 thành viên Hội đồng bầu cử quốc gia quyết định hủy tư cách đại biểu quốc hội của ông Thanh. Sau đó, ông Thanh xin nghỉ phép một tháng từ ngày 3/8. Các tin đồn về việc Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đích thân chỉ đạo điều tra ông Thanh và ông Thanh đã trốn ra nước ngoài sau đó rộ lên trên trang mạng xã hội Facebook, đặc biệt từ một nguồn tin được nhiều người theo dõi là blogger Người Buôn Gió (tên thật Bùi Thanh Hiếu).
Ngày 4/9 ông Thanh bất ngờ gọi điện thoại cho một phóng viên báo Thanh Niên tại Cần Thơ để thông báo là ông đã xin ra khỏi đảng Cộng sản Việt Nam vì “không còn tin vào sự lãnh đạo của đồng chí Tổng bí thư“.
Ngay từ tối ngày 16/9, khi quyết định khởi tố ông Thanh được chính thức đưa ra, truyền thông trong nước đã rầm rộ đưa tin ông Thanh bị “truy nã quốc tế”, dẫn nguồn chính thức từ cơ quan điều tra, Tuy nhiên, những trang tin lớn như VnExpress, Zing và Vietnamnet đều không giải thích cụ thể “truy nã quốc tế” nghĩa là gì.
Theo giải thích của luật sư Nguyễn Anh Thơm trên báo điện tử VnMedia, quy trình của việc truy nã quốc tế này có thể là:
“…Sau khi Cơ quan Cảnh sát điều tra, Bộ Công an ra quyết định truy nã toàn quốc và truy nã quốc tế đối với Trịnh Xuân Thanh nếu có căn cứ xác định ông Thanh đã bỏ trốn ra ngoài lãnh thổ Việt Nam thì sẽ gửi Lệnh truy nã này đến Văn phòng Interpol Việt Nam (C55) trực thuộc Tổng cục Cảnh sát. Đây là cơ quan đầu mối trong hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm của Lực lượng Cảnh sát Việt Nam với Tổ chức Cảnh sát Hình sự quốc tế (INTERPOL). Văn phòng Interpol Việt Nam sẽ đề nghị Ban Tổng thư ký tổ chức Interpol ra quyết định truy nã quốc tế ông Trịnh Xuân Thanh…”
Hiện nay có dấu hiệu là quy trình nói trên vẫn chưa được hoàn tất, không rõ lý do.
Interpol vẫn chưa đăng truy nã
Truy cập vào trang mạng đăng danh sách các cá nhân đang bị truy nã của Interpol vào lúc 11h30 tối giờ Việt Nam ngày 20/9, có thể thấy là trong danh sách này chưa có tên Trịnh Xuân Thanh. Đăng nhập tên họ Trịnh và kiểm tra toàn bộ danh sách các cá nhân đang bị chính phủ Việt Nam truy nã trên trang này đều không có kết quả Trịnh Xuân Thanh.
Dĩ nhiên là có thể giải thích sự thiếu vắng này một cách giản đơn là vì các cơ quan chức năng vẫn đang làm việc, như phóng viên Minh Đức của báo Tiền Phong cho biết:
“…Ngày 19/9, phóng viên Tiền Phong nhập tên bị can Trịnh Xuân Thanh trên website http://www.interpol.int/notice của Tổ chức Cảnh sát Hình sự quốc tế – Interpol nhưng chưa thấy xuất hiện hình ảnh và thông tin về ông này. Về việc này, Trung tướng Phan Văn Vĩnh – Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát (Bộ Công an) cho rằng: Các đơn vị chức năng đang làm thủ tục với Tổ chức Cảnh sát Quốc tế để truy nã ông Trịnh Xuân Thanh…”
Tuy nhiên, nhìn vào lịch sử “truy nã quốc tế” gần đây của ngành công an Việt Nam, có một tiền lệ làm dấy lên nghi ngờ: trường hợp Trịnh Văn Thảo.
Truy nã Trịnh Văn Thảo
Ông Trịnh Văn Thảo từng là giám đốc của Công ty CP Thi công Cơ giới và Lắp máy Dầu khí (PVC-ME), công ty có chủ sở hữu 100% vốn là Tổng công ty CP Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC ), thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.
Phóng viên Thái Sơn trên báo Thanh Niên cho biết trong giai đoạn 2009 – 2012, dưới sự lãnh đạo của ông Thảo, PVC-ME đã “thua lỗ hơn 576 tỉ đồng, dẫn đến mất toàn bộ vốn chủ sở hữu, chưa kể những khoản nợ khổng lồ lên tới hàng trăm tỉ đồng”. Khi Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tiến hành điều tra PVC-ME vào tháng 7/2012, ông Thảo bất ngờ đi Mỹ và từ đó không trở lại. Cơ quan điều tra Việt Nam tiết lộ cho báo chí trong nước việc họ đang “truy nã quốc tế” ông Thảo từ đầu năm 2014.
trinhvanthao-1416018070550

Ông Trịnh Văn Thảo – Hình: Báo Lao Động
Tới tháng 11/2014, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao hoàn tất cáo trạng truy tố ông Thảo cùng 14 bị can khác trong vụ án “cố ý làm trái quy định Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng và thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại PVC-ME. Ông Thảo được xác định trong cáo trạng là kẻ chủ mưu, cầm đầu tổ chức hành vi phạm tội.
Tháng 8/2015, Tòa án Nhân dân TP. Hà Nội mở phiên tòa hình sự sơ thẩm xét xử vụ án PVC-ME chỉ với 14 bị can và sự vắng mặt của ông Thảo. Bản án cao nhất được phiên tòa này đưa ra là 15 năm tù. Ông Thảo vẫn tiếp tục bị truy nã để xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều kỳ lạ là khi truy cập vào trang danh sách truy nã hiện nay của Interpol, không thể tìm thấy tên của ông Trịnh Văn Thảo, cho dù kiểm tra lại nội dung báo chí trong nước những ngày gần đây nhất thì ông Thảo vẫn chưa hề được xác nhận là đã bị bắt.
Việc này đặt ra một câu hỏi cần trả lời về thực tế hoạt động của quy trình “truy nã quốc tế” của cơ quan công an Việt Nam.
Sơ sót về cập nhật dữ liệu hay còn có nguyên nhân nào?
Kiểm tra danh sách toàn bộ 160 cá nhân mà chính phủ Việt Nam đang truy nã trên trang Interpol, có thể thấy một nhân vật khá quen thuộc cũng bị cáo buộc tội danh “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” giống Trịnh Xuân Thanh và Trịnh Văn Thảo: Giang Kim Đạt, nguyên quyền Trưởng phòng Kinh doanh công ty TNHH MTV Vận tải Viễn dương Vinashin (Vinashin Lines).
Giang Kim Đạt hiện vẫn bị Interpol đăng truy nã trong khi theo trang tin Truyền hình Công an Nhân dân, ông Đạt đã bị bắt ngày 7/7/2015 sau 5 năm trốn chạy. Ông Giang Kim Đạt theo thông tin trên trang Interpol bị truy nã từ năm 2010, như vậy là bị truy nã quốc tế trước cả ông Trịnh Văn Thảo.
giang-kim-dat-interpol

Phần đăng tin truy nã Giang Kim Đạt trên trang Interpol – Cập nhật lúc 11h30 tối giờ VN
Như vậy, có thể thấy việc cập nhật danh sách truy nã giữa hai phía công an Việt Nam và Interpol không phải thật sự nhanh chóng và kịp thời.
Theo đó, việc Trịnh Xuân Thanh chưa bị đăng truy nã có thể được giải thích là do nguyên nhân khách quan, các cơ quan chức trách cần thời gian hoàn thành thủ tục giấy tờ, chưa tới bước nhập dữ liệu, đăng hình lên trang web của Interpol, hay là bản thân những người quản trị trang web của Interpol sơ sót.
Nhưng trường hợp Trịnh Văn Thảo không có trong danh sách thì lại là một bí ẩn vì không có thông tin về việc ông Thảo bị bắt trên truyền thông Việt Nam.
Nếu không có sai sót từ một trong hai phía Interpol và công an Việt Nam thì phải chăng ông Trịnh Văn Thảo đã bị bắt nhưng thông tin này được giữ bí mật cho công tác điều tra? Hay giữa Interpol và công an Việt Nam có quy chế đặc biệt cho phép họ truy nã quốc tế một cách bí mật, và ông Trịnh Xuân Thanh cũng sẽ bị truy nã quốc tế một cách bí mật như vậy?
————  

Phần nhận xét hiển thị trên trang

LUẬN CỨ BÀO CHỮA TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ PHÚC THẨM 22/09/2016 của LS Hà Huy Sơn




cho ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy về “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” quy định khoản 2 Điều 258, BLHS.

Kính thưa HĐXX,
Tôi, Luật sư Hà Huy Sơn thuộc Công ty Luật TNHH Hà Sơn xin trình bày luận cứ bào chữa cho ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy như sau:
I. Tóm tắt các sự kiện chính của vụ án:
1. Ngày 05/05/2014, ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy bị bắt tạm giam.
2. Ngày 13/05/2014, Cơ quan An ninh điều tra (ANĐT), Bộ Công an ra Quyết định khởi tố vụ án về “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”, Điều 258 Bộ luật hình sự (BLHS).
3. Ngày 13/05/2014, Cơ quan ANĐT, Bộ Công an ra Quyết định khởi tố bị can số 18/ANĐT-P3 đối với ông Nguyễn Hữu Vinh; Quyết định khởi tố bị can số 19/ANĐT-P3 đối với bà Nguyễn Thị Minh Thúy.
4. Ngày 30/10/2014, Cơ quan ANĐT, Bộ Công an ra Bản kết luận điều tra số 14/ANĐT.
5. Này 26/01/2015, Cơ quan ANĐT, Bộ Công an ra Bản kết luận điều tra bổ sung số 03/KLĐTB. (Lần thứ 01)
6. Ngày 06/02/2015, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao ra Cáo trạng số 05/VKSTC-V2; quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân (TAND) thành phố Hà Nội ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy theo khoản 2 Điều 258, BLHS; ủy quyền cho VKSND thành phố Hà Nội thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm.
7. Ngày 22/05/2015, Cơ quan ANĐT, Bộ Công an ra Bản kết luận điều tra bổ sung số 11/KLĐTB. (Lần thứ 02)
8. Ngày 03/06/2015, Viện trưởng VKSND tối cao ra Văn bản số 2063/VKSTC-V2 giữ nguyên Cáo trạng số 05/VKSTC-V2 ngày 06/02/2015.
9. Ngày 07/08/2015, Cơ quan An ninh điều tra của Bộ Công an ra Kết luận điều tra bổ sung số 21/KLĐTBS (Lần thứ 03). 
10. Ngày 22/10/2015, Cơ quan An ninh điều tra của Bộ Công an ra Kết luận điều tra bổ sung số 26/KLĐTBS (Lần thứ 04).
11. Ngày 05/11/2015, VKSND tối cao ra văn bản số 4400/VKSTC-V1 về việc giữ nguyên cáo trạng số 05/VKSTC-V2 ngày 06/02/2015 và chuyển đến Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội để xét xử sơ thẩm theo quy định.
12. Ngày 30/12/2015, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (TAND Tp.Hà Nội) ra thụ lý số 637/2015/HSST.
13. Ngày 04/01/2016, TAND Tp.Hà Nội ra Quyết định số 04/2016/HSST-QĐ đưa vụ án ra xét xử vào ngày 19/01/2016. Ngày 12/01/2016, Thẩm phán Nguyễn Văn Phổ ra Thông báo hoãn phiên tòa số 45/TB-TA.
14. Ngày 09/03/2016, TAND Tp.Hà Nội ra Thông báo số 86/HS-TB mở phiên tòa vào ngày 23/03/2016.
15. Ngày 23/03/2016, TAND Tp.Hà Nội ra Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2016/HSST, tuyên: ông Nguyễn Hữu Vinh 05 (năm) năm tù, tính từ 05/05/2014; bà Nguyễn Thị Minh Thúy 03 (ba) năm tù, tính từ 05/05/2014.
16. Ngày 05/09/2016, TAND cấp cao tại Hà Nội ra giấy báo số 4995, phiên tòa phúc thẩm mở ngày 22/09/2016.
Ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy bị tạm giam tại Trại tạm giam B14, Bộ Công an ở Hà Nội từ ngày 05/05/2014 cho đến nay.
Điều 258. Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân 

1. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

II. Không có chứng cứ buộc tội:
Điều 64. Chứng cứ

1. Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.

2. Chứng cứ được xác định bằng:

a) Vật chứng; 

b) Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;

c) Kết luận giám định;

d) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.

Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2016/HSST, ngày 23/03/2016 của TAND Tp.Hà Nội đã tuyên, không có đủchứng cứ buộc tội:
Thứ nhất:
Không có một bút lục nào, không có một lời khai nào của ông Nguyễn Hữu Vinh, bà Nguyễn Thị Minh Thúy hoặc lời người khai của người tham gia tố tụng nào khác làm chứng cứ chứng minh ông Vinh, bà Thúy có hành vi liên quan đến việc đăng tải 12 bài viết trên blog “Dân quyền” và 12 bài viết trên blog “Chép Sử Việt” như bản án sơ thẩm nêu.
Thứ hai:
Không có một vật chứng nào để chứng minh ông Vinh, bà Thúy có hành vi liên quan đến việc đăng tải 12 bài viết trên blog “Dân quyền” và 12 bài viết trên blog “Chép Sử Việt” như bản án sơ thẩm nêu. Các cuốn sổ tay thu giữ ở nhà ông Nguyễn Hữu Vinh, không theo trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS 2003 quy định; nội dung không phản ảnh thông tin, hay không chứng minh được những kết luận tại bản án sơ thẩm.
Thứ ba: 
Kết luận giám định của Bộ Thông tin và Truyền thông, ngày 19/09/2014, về 12 bài viết trên blog “Dân quyền” và 12 bài viết trên blog “Chép Sử Việt” không có liên quan đến ông Nguyễn Hữu Vinh, bà Nguyễn Thị Minh Thúy. Nó không phải là chứng cứ để giải quyết vụ án.
Thứ tư:
Các bút lục trong hồ sơ vụ án liên quan đến chứng cứ điện tử được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập không theo quy định của pháp luật, không được xác định là chứng cứ. Tòa án cấp sơ thẩm, đã dựa vào các tài liệu này để làm suy đoán chủ quan, buộc tội ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy là không có căn cứ.
III. Đề nghị:
Kính thưa HĐXX,
Với các lý lẽ trình bày ở trên và căn cứ khoản 1 Điều 107 “Không có sự việc phạm tội”, Điều 251 “Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án” và khoản 1 Điều 227 “Trả tự do cho bị cáo” của BL TTHS 2003, tôi đề nghị HĐXX xem xét tuyên hủy bản án hình sự sơ thẩm số 96/2016/HSST, ngày 23/03/2016 của TAND Tp.Hà Nội, tuyên bố ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy không có tội và đình chỉ vụ án.
Tôi xin chân thành cám ơn sự lắng nghe của các quý vị.
Hà Nội, ngày 22/09/2016.
Người bào chữa

Luật sư Hà Huy Sơn

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Biển Đông: Mỹ và Trung Quốc ai trúng kế ai?


Lữ Giang
Đài RFI của Pháp ngày 16.9.2016 có đăng bài "Tháng 11, thời điểm định mệnh của Biển Đông?"của Tú Anh tóm lược bài phân tích «Bắc Kinh có lẽ đang chờ thời điểm lý tưởng để tấn công ở biển Nam Trung Hoa» (Beijing may be waiting for the perfect timing to strike in South China Sea) của chuyên gia Harry Kazzianis, tân giám đốc Nghiên cứu Quốc phòng Mỹ thuộc Trung tâm vì Quyền lợi Quốc gia ở Washington. Tác giả cho biết một viên chức Bộ Quốc Phòng Mỹ nói rằng giai đoạn thích hợp nhất để Trung Quốc tấn công (bãi cạn Scarborough) là từ giữa tháng 9 đến đầu tháng 11, Hoa Kỳ bị «việt vị» ở Biển Đông vì cuộc bầu cử tổng thống. Trong khi đó một viên chức khác lại cho rằng «nếu Trung Quốc ra tay thì thời điểm từ giữa tháng 9 đến tháng 11 không phải là tốt nhất». 
Vị trí bãi cạn Scarborough
Thật ra đây chỉ là một kiểu tung hỏa mù của báo Mỹ. Trong cuộc chiến Biển Đông hiện nay, chiến lược của Mỹ và của Trung quốc như thế nào? Trung Quốc đã trúng kế Mỹ hay Mỹ đang trúng kế Trung Quốc? Ai sẽ thắng ai? Để trả lời những câu hỏi này, trước hết phải nhìn lại chiến lược của cả Mỹ lẫn Trung Quốc ở Trung Đông. Nếu chỉ nhìn các diễn biến thì không thể hiểu được.
CHIẾN LƯỢC CỦA HOA KỲ
Chúng tôi đã nhắc lại nhiều lần, trong một bài diễn văn đọc trước Quốc Hội Úc ngày 17.11.2011, ông Obama tuyên bố sẽ xoay trục từ Trung Đông về Á Châu Thái Bình Dương (để bao vây Trung Quốc cả về kinh tế, chính trị lẫn quân sự). Ông nói: “Tại khu vực Á Châu Thái Bình Dương trong thế kỷ thứ 21, nước Mỹ sẽ toàn tâm toàn lực nhập cuộc.”
Xin nói rõ: Kế hoạch này không phải là kế hoạch của ông Obama. Vào tháng 7 năm 2001, Hội đồng Bang giao Quốc tế Mỹ đã phổ biến một tài liệu mang tên “Hoa kỳ và Đông Nam Á: Đề nghị một chính sách mới cho tân chính phủ Bush” do cựu Thượng Nghị sĩ John Kerrey và ông Robert A. Manning, một chuyên gia của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia và Hội Đồng Đại Tây Dương soạn thảo. Tài liệu nói rõ rằng “Kinh nghiệm của Hoa kỳ ở Châu Á chỉ cho chúng ta thấy là chúng ta sẽ có thể gặp rất nhiều rủi ro ngày nào chúng ta còn lãng quên vùng Đông Nam Châu Á.” Người có nhiệm vụ thi hành kế hoạch này trước tiên là Tổng Bush, sau đó là Tổng Thống Obama. Người kế tiếp sẽ là bà Hillary hay bất cứ người nào nối quyền của Obama.
Tuy tuyên bố bằng dao to búa lớn như đã nói trên, từ năm 2011 đến nay Tổng Thống Obama xem ra chẳng làm gì để ngăn chận sự bành trướng của Trung Quốc ngoài việc "biểu dương khí thế" bằng máy bay và tàu chiến, trong khi Trung Quốc lấn chiếm hết đảo nọ đến đảo kia. Tại sao vậy?
Chúng tôi xin nhắc lại, trong cuộc họp ngày 18.11.2013 tại Bộ Tư Lệnh các nước Châu Mỹ ở Washington, sau khi nhắc lại học thuyết mang tên Tổng Thống Monroe được chấp thuận năm 1823 cho phép Hoa Kỳ can thiệp bằng quân sự khi các nước thuộc Châu Mỹ Latin bị xâm phạm, Ngoại Trưởng Kerry tuyên bố: "Ngày nay, chúng ta có một sự lựa chọn khác. Thời đại của học thuyết Monroe đã cáo chung" (The era of the Monroe Doctrine is over).
Trong thực tế, những hành động của Mỹ dựa vào học thuyết Monroe không phải chỉ cáo chung ở Châu Mỹ Latin, mà đang cáo chung tại nhiều nơi trên thế giới, nhất là tại Đông Âu, Trung Đông và Biển Đông.
Kể từ khi các võ khí lỗi thời còn tồn động lại từ sau chiến tranh Việt Nam đã được Mỹ trút hết xuống Afghanistan và Iraq, Mỹ đã thay đổi chiến lược: Từ bỏ chiến lược CAN THIỆP BẰNG QUẬN SỰ dựa theo học thuyết Monroe, và thay thế bằng chiến lược CHIẾN TRANH ỦY NHIỆM (proxy war), đó là chủ trương thúc đẩy việc hình thành các lực lượng tại từng khu vực để các lực lượng này tự đối đầu với nhau, Mỹ chỉ đứng đàng sau yểm trợ và bán vũ khí.
Hiện nay trên Biển Đông, Mỹ chỉ "biểu dương khí thế" chứ không đối đầu trực tiếp với Trung Quốc mà thúc đẩy Nhật, Úc, Philippines, Việt Nam và Ấn Độ hình thành một lực lượng khu vực để đối đầu với Trung Quốc. Tình hình nghiêm trọng hiện nay trên Biển Đông là do chiến lược nầy gây ra.

CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG QUỐC
Alexander L. Vuving, giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu an ninh Châu Á - Thái Bình Dương ở Honolulu, chuyên gia trong lĩnh vực an ninh Châu Á, Biển Đông, Việt Nam và Trung Quốc, đã tóm lược chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông như sau:
Mục tiêu tổng thể của Trung Quốc là giành quyền kiểm soát Biển Đông nhưng không phải thông qua các trận đánh lớn mà qua các hoạt động từng bước thay đổi thực địa, tạo dựng một sân chơi có lợi cho mình. Ý tưởng then chốt là làm sao để “không đánh mà vẫn thắng” (winning without fighting).
Khi cần tranh chấp lãnh hải, đầu tiên Trung Quốc đưa tàu đánh cá đến khu vực, tiếp theo là tàu hải giám và cuối cùng mới là tàu chiến. Chiến lược này được gọi là “chiến lược bóc lá bắp cải” hay “chiến lược tằm ăn dâu”. Bình luận trên National Interest, tác giả Harry J. Kazianis cho rằng vũ khí lợi hại nhất của Bắc Kinh không phải là quân sự mà có thể là các tàu đánh cá.
Yếu tố đầu tiên là tránh tối đa những trận đánh lớn. Yếu tố thứ hai là kiểm soát các vị trí chiến lược trong khu vực nếu những vị trí này còn chưa có ai chiếm hữu. Cần phải chiếm một cách âm thầm lén lút nếu có thể, và nếu cần thiết, bằng một cuộc xung đột có giới hạn. Yếu tố thứ ba là phát triển những vị trí này thành các trạm kiểm soát mạnh, các trung tâm hậu cần vững chắc và các căn cứ triển khai sức mạnh quân sự một cách hiệu quả.
Trung Quốc nhận thấy: Đảo Phú Lâm, bãi Chữ Thập, bãi Vành Khăn và bãi cạn Scarborough sẽ tạo thành một cụm bốn điểm mà từ đó, với bán kính 250 hải lý, Trung Quốc có thể theo dõi chặt chẽ toàn bộ khu vực chính của Biển Đông. Cùng với đảo Phú Lâm và 7 đảo nhân tạo ở Trường Sa, Trung Quốc có thể triển khai hàng ngàn tàu cá và tàu hải giám, đẩy Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Indonesia ra khỏi vùng biển mà Bắc Kinh coi là của riêng mình.

AI TRÚNG KẾ AI?
Để thực hiện chiến lược chiến tranh ủy nhiệm tại Biển Đông, như chúng tôi đã trình bày trong bài "Biển Đông: Những trò chơi tai hại!" phổ biến ngày 9.6.2016, các chuyên gia cho biết Mỹ đã có những hành động khiêu khích để Trung Quốc phải nỗ lực lấn chiếm nhanh hơn vì sợ Mỹ sẽ ra tay trước. Phương thức này đã đưa đến năm hệ lụy chính sau đây:
(1) Tạo ra sự bất hòa và căng thẳng thường xuyên giữa Trung Quốc và các nước trong vùng.
 (2) Thúc đẩy các nước trong vùng phải liên kết lại với nhau để đối phó với Trung Quốc.
(3) Biến Trung Quốc thành một quái vật trước dư luận quốc tế vì sống trên và ngoài vòng luật pháp quốc tế về luật biển.
(4) Bắt buộc Trung Quốc phải gia tăng chi phí quốc phòng vào những mục tiêu phiêu lưu mà họ đang theo đuổi.
(5) Tạo lý do cho Bộ Quốc Phòng Mỹ xin gia tăng thêm ngân sách quốc phòng,
Nhìn vào 5 hệ lụy trên, chúng ta có thể nói Trung Quốc đã trúng kế Mỹ. Nhưng Mỹ đã thất bại trong chiến thuật kích động các nước trong vùng liên kết lại với nhau để chống Trung Quốc.
AI SẼ THẮNG AI?
Trong một bản báo cáo dài 430 trang mới được công bố có tên gọi là  "Tương quan quân sự Mỹ-Trung…", được soạn thảo bởi 14 học giả, tổ chức RAND, một tổ chức nghiên cứu ở Caloifornia, cho rằng lực lượng quân sự Mỹ vẫn luôn giữ được ưu thế trong hầu hết các tiêu chí về quân sự và quốc phòng.
Trong khi đa số người Việt đấu tranh lo lắng và gào thét về việc Trung Quốc đang lấn chiếm Biển Đông, Hoa Kỳ ít quan tâm đến các cơ sở quân sự mà Trung Quốc đang thiết lập trên các đảo nhân tạo ở Biển Đông. Theo tổ chức RAND, nếu chiến tranh xảy ra, hệ thống tàu ngầm của Mỹ sẽ “san bằng” toàn bộ các đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Biển Đông một cách dễ dàng và nhanh chóng.
Hoa Kỳ cũng không quan tâm đến việc Trung Quốc dọa thiết lập Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở Biển Đông. Ngày 23.11.2013 Trung Quốc đã tuyên bố thiết lập ADIZ ở biển Hoa Đông. Chỉ ba ngày sau, ngày 26.11.2-16, Mỹ đã đưa 2 máy bay ném bom B-52 bay qua vùng ADIZ mà không hề thông báo cho phía Trung Quốc biết. Sau đó, các hãng hàng không vận tải All Nippon Airways (ANA) và Japan Airlines (JAL) cũng tuyên bố không tuân thủ yêu cầu của phía Trung Quốc. Từ thời điểm đó đến nay, vùng ADIZ ở biển Hoa Đông bị vô hiệu hóa. Số phận của ADIZ nếu được thiết lập tại Biển Đông thì cũng thế thôi.
Giáo sư Alexander L.Vuving cho rằng nếu các đối thủ của Trung Quốc không có đối sách bẻ gãy chiến lược của Trung Quốc, "Trung Quốc sẽ nổi lên như là chúa tể của Biển Đông, ít nhất là trong nhận thức của hầu hết các nước trong khu vực. Từ đây, sẽ chỉ còn vài bước để vươn tới vị trí bá quyền khu vực và toàn cầu".
Mặc dầu có nhiều sự sự kích động như thế của Mỹ, việc hình thành một lực lượng vùng để chống Trung Quốc là chuyện khó thành vì hai lý do chính sau đây: Lý do thứ nhất là các quyền lợi về mậu dịch giữa các nước trong vùng và Trung Quốc còn rất lớn. Lý do thứ hai là mối đe dọa của Trung Quốc mà các chuyên gia Mỹ nên ra ít có dấu hiệu trở thành hiện thực. Trung Quốc chưa đủ lực để làm chuyện đó.


Phần nhận xét hiển thị trên trang