Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2016

KHÔNG PHẢI LÀ VUA THÌ MUỐN LÀM GÌ CŨNG ĐƯỢC!



Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa: 
Không phải là vua thì muốn làm gì cũng được! 
10:28 12/08/2016
.

Những câu chuyện thời sự nóng hổi như việc một quan chức có tên Trịnh Xuân Thanh mắc đầy khiếm khuyết trong quá trình công tác nhưng vẫn được cất nhắc tới vị trí phó chủ tịch tỉnh, hay dự án đầu tư nước ngoài mang tên Formosa để lại hàng loạt tác động nguy hại cho môi trường an sinh quốc gia đã được mổ xẻ, bàn luận ở nhiều góc độ.

Nhưng phía sau hai câu chuyện mang tính hiện tượng này liệu có những vấn đề nào liên quan tới... lỗi hệ thống hay không? Việc giám sát lãnh đạo cơ quan nhà nước và quyền được biết, quyền làm chủ thực sự của người dân trong các vấn đề lớn liệu có đang gặp phải những trục trặc đâu đó không?

Đấy là hai vấn đề mà tôi đã đặt ra với Tiến sĩ Luật học Phạm Duy Nghĩa, và phải nói sau hơn một giờ đồng hồ nghe tiến sĩ phân tích, cá nhân tôi đã vỡ ra rất nhiều điều. Khi dựng lại cuộc đối thoại này, tôi vẫn còn nguyên cảm giác tiếc nuối khi hôm đó tiến sĩ chỉ có thể ưu ái dành cho tôi chừng ấy thời gian, còn tôi cũng chỉ có thể ngồi thụ giáo ông một cách ngắn ngủi trước khi kịp ra phi trường Tân Sơn Nhất (TP Hồ Chí Minh), bay vội về Hà Nội.

- Nhà báo Phan Đăng: Thưa Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa, tôi muốn bắt đầu câu chuyện với bối cảnh xã hội phong kiến - xã hội "vua bảo chết, thần không thể không chết" ngày xưa. Trong một xã hội - một cơ chế như vậy, có lẽ không ai đặt ra vấn đề phải giám sát tư tưởng, hành động của vua, ông nhỉ? 

- Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa: Quả thật, quyền lực của nhà vua trong chế độ quân chủ là tuyệt đối và rất khó giám sát. Tuy nhiên, nếu anh đọc sử Việt Nam sẽ thấy người làm vua cũng không có nghĩa là có thể làm tất cả những điều mình muốn, quyền lực thực tế của nhà vua cũng bị giới hạn.

Ví dụ khi vua Tự Đức băng hà, người kế vị là Dục Đức được cho là đã tự ý sửa chữa, né tránh đọc di chúc của vua cha, và thế là hoàng tộc họp lại, quyết định nhà vua phải chết.

Một nhà nghiên cứu ở Hồng Công sau khi khảo sát xã hội Khổng giáo ở Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam đã đưa ra kết luận là phương Đông có những thiết chế tựa như kiểm soát quyền lực, ràng buộc nhà vua. Vua phải học làm vua, có thầy dạy làm vua, vua phải chịu trách nhiệm trước tiền nhân, vua cũng phải có đạo lý mẫu mực của người làm con.

Và nếu anh nhìn vào cuối triều Tự Đức, anh sẽ thấy ngay cả khi nhà vua muốn cải cách cũng phải tham khảo ý kiến của quan các tỉnh, những giai tầng tinh hoa trong triều đình, xã hội thời đó.

Như thế, xét cả về mặt chính trị, kinh tế, đạo lý và thực tiễn thì quyền lực nhà vua vẫn có thể bị giới hạn. Anh nhìn sang phương Tây sẽ thấy sự giới hạn còn rõ hơn, ví dụ các đô thị tự quản, giới thương nhân giàu có giành được quyền lực, nhà vua Anh và nhiều vị vua châu Âu đã phải vay nợ của giới tư nhân, và nhà vua cũng bị ràng buộc bởi những khế ước của thành phố, thị dân cho vua vay. Khi ngân khố thâm thủng không thể nói quyền lực của vua là tuyệt đối.

- Những giới hạn, những ràng buộc là có, nhưng rõ ràng nó không xuất hiện như một nhu cầu lớn, dữ dội, mang tính quyết định. Tôi muốn hỏi ông là trong xã hội phương Đông chúng ta, khi nào những sự giới hạn, ràng buộc, giám sát này mới xuất hiện như một nhu cầu thật sự dữ dội? 

- Phải đồng ý với anh một điểm là trong xã hội phong kiến phương Đông và Việt Nam thì nhà nước tự cho mình trách nhiệm dẫn dắt xã hội, và những vua chúa, quan lại tự cho mình là cha mẹ của dân. Thái độ đó đến tận bây giờ vẫn còn nếu anh nghe kỹ phát biểu của giới lãnh đạo - những người vẫn dùng những từ mà cá nhân tôi cho là hơi trịch thượng, như "chăm sóc cho dân", "chăm lo cho dân".

Nghĩa là trong cách nói này có thái độ coi dân như người chưa trưởng thành, thiếu hiểu biết, thế  nên mới phải chăm sóc. Nho giáo dạy quan lại phải thương dân và góp phần tạo ra một đội ngũ quan chức có liêm sỉ, có khí tiết, nhưng đúng là không đủ sức để tạo ra một chính quyền phải biết tuân thủ ý chí nhân dân.

Còn trở lại với câu hỏi của anh, khi nào nhu cầu giám sát quan chức thực sự xuất hiện thì tôi cho rằng nó diễn ra ở Trung Hoa vào khoảng những năm 20 của thế kỷ XX với quan niệm "thiên hạ vi công" của Tôn Trung Sơn. "Thiên hạ vi công" nghĩa là mọi thứ quyền lực dưới gầm trời này là của chung, chứ không phải "thiên hạ vi quân", nghĩa là "thiên hạ của vua" như trước nữa.

Quan niệm này chịu ảnh hưởng bởi những tư tưởng dân chủ của nền cộng hoà có từ thời các thành quốc Hy Lạp cổ đại.

- Ông vừa đề cập một ý rằng thời buổi bây giờ không nên nói tới việc "chăm sóc, chăm bẵm nhân dân", vì phân tích kỹ nó phảng phất một màu sắc trịch thượng, vậy phải dùng những từ ngữ như thế nào đây?  

- Theo tôi nên nói là phụng sự nhân dân, thậm chí tuân thủ nhân dân nữa. Ví dụ người dân chúng ta đã đưa ra những ý nguyện, thể hiện trong bản Hiến pháp 2013 và nhà nước cần phải tuân thủ ý nguyện đó.

- Như vậy, nếu ở xã hội quân chủ ngày xưa, việc giám sát vua chúa quan lại là có nhưng rất hạn chế thì sang thời "thiên hạ vi công" mọi thứ đã khác hẳn rồi. Còn bây giờ, tôi muốn dẫn chứng một ví dụ cụ thể liên quan tới câu chuyện đau lòng của nguyên Phó Chủ tịch tỉnh Hậu Giang - Trịnh Xuân Thanh. Câu hỏi đặt ra là, trong trường hợp cụ thể này chúng ta đã giám sát quan chức như thế nào mà lại để một nhân vật mắc hàng loạt khiếm khuyết trong quá trình công tác vẫn có thể liên tục leo cao như thế? Với góc nhìn của một nhà nghiên cứu luật pháp, ông có thể lý giải xem vấn đề nằm ở lỗi cá nhân - lỗi tập thể hay ở đâu? 

- Trước hết phải cảm ơn báo chí và những phương tiện truyền thông nhân dân đa dạng khác đã làm những chuyện mà trước kia vốn ít người biết thì nay nhiều người biết hơn, những chuyện mà trước kia người ta lâu lâu mới biết thì nay đã biết thường xuyên, cập nhật hơn. Nhưng nhìn vào mặt thể chế, qua những vụ việc này chúng ta thấy rằng cần xem cách vận hành để giúp dân chúng chọn được những người thực tài, thực đức, có liêm sỉ và khát vọng cống hiến vào hệ thống.

- Về lý thuyết, khi ông Trịnh Xuân Thanh làm việc ở Bộ Công thương rồi tỉnh ủy Hậu Giang thì ở đây cũng có những cơ quan thanh tra, giám sát. Đảng cũng có ủy ban kiểm tra của Đảng. Như thế về lý thuyết, cách tổ chức hệ thống của chúng ta rất chặt chẽ, và với  một hệ thống chặt chẽ như thế, thật khó để giới quan lại thực hiện những hành vi giả dối của mình... 

- Về chữ nghĩa, trên báo chí thời nay hay có trào lưu sử dụng lại ngôn ngữ của thời thực dân và kể cả phong kiến. Dùng chữ tùy nhà báo, nhưng tôi phải nói, trên thực tế chúng ta không còn hệ thống quan lại nữa, bởi để làm quan ngày xưa thường phải trải qua hệ thống thi cử cạnh tranh rất cao và cũng rất bình đẳng. Con nhà nghèo nếu học giỏi, có thực tài vẫn có thể đỗ đạt làm quan, thường bắt đầu bằng một chức quan nhỏ như tri huyện.

Bây giờ để làm chủ tịch huyện, người ta đâu có phải trải qua những kỳ thi khốc liệt, minh bạch và cạnh tranh nữa đâu. Càng khó để con nhà nghèo, không có quan hệ nâng đỡ đáng kể gì có thể dễ dàng đứng đầu một huyện.

Tóm lại, khi đã dùng chữ của ngày xưa thì cũng phải thấy xấu hổ rằng mình chỉ vay cái sự khệnh khạng quyền uy của một thời mà nó trao cho ông quan thôi, chứ thực sự con đường để ông ấy làm quan thì mình ít nghiên cứu.

Đấy là chuyện "quan", còn chuyện "lại", hay công vụ cũng là một khái niệm mà bây giờ ta chưa hiểu rõ. Người làm quan là làm chính trị, tức là làm cho mọi sự trở nên ngay ngắn, thông qua các chính sách làm quan. Còn "lại" thuần túy là chức vụ trong nền công vụ, thực thi công việc mà ông quan giao cho. Nói thế để thấy thể chế ngày xưa, mặc dù chưa thật rõ, nhưng cũng có những nguyên lý trong phân công của nó.

Bây giờ trả lời anh, rằng thể chế hiện nay thiết kế như thế nào mà lại khó giám sát, phải nói là vấn đề anh đặt ra chỉ đúng một phần thôi, bởi trong hệ thống của chúng ta cũng có giám sát, cạnh tranh nội bộ chứ. Để có được một chức vụ trong hệ thống của chúng ta, người ta chắc cũng phải ganh đua ghê gớm trong nội bộ.


Cuộc đua đòi hỏi những kỹ năng, kỹ xảo để nhận diện cơ hội, nhận diện đối thủ, cạnh tranh để giành uy thế, để trở nên nổi bật, và cuối cùng là giành phiếu của những người có quyền ủng hộ. Làm chính trị chắc ở phương Đông hay phương Tây cũng đều như thế. Và tôi nghĩ trong cuộc cạnh tranh đó, các ứng cử viên tất yếu sẽ giám sát nhau.

Rồi đến vòng ngoài, cũng có khá nhiều cách giám sát, như báo chí, như người dân. Rồi Đảng cũng có hệ thống giám sát về kỷ luật Đảng, về nhân sự của Đảng, Chính phủ cũng có hệ thống giám sát của thanh tra, nội vụ...

Như vậy, có một hệ thống giám sát cốt lõi bên trong và cả các tổ chức xã hội bên ngoài, và chắc hệ thống đó cũng hoạt động với hiệu quả nhất định, vì như thế hệ thống mới tồn tại được. Cái gì tồn tại được thường phải có lý riêng của nó. Tuy nhiên, những vụ việc như của ông Trịnh Xuân Thanh cho thấy hệ thống của chúng ta cần phải được điều chỉnh, có những phần nên duy trì, song có những phần cần thay đổi.

- Sự thay đổi nằm ở đâu, thưa ông?

- Tôi có một nghiên cứu, nhìn lại sự du nhập học thuyết Mác - Lênin và mô hình Nhà nước Xôviết vào Việt Nam. Về cơ bản cấu trúc nhà nước của mình đã qua nhiều lần thay đổi, điều chỉnh, nhưng cái cốt lõi của nó thì hầu như không thay đổi.

Anh tưởng tượng toàn bộ thể chế của ta giống như ngôi nhà thì đôi khi các phòng được phân bố lại, sơn bả thay màu, ngói lợp lại, còn nền móng và toàn bộ rường cột, sắt thép bên trong thì đó là một nhà nước mà cốt lõi là Đảng. Cái thú vị ở đây là Đảng và Nhà nước không tách rời.

Hệ thống này từ năm 1945 hình thành và tồn tại tương đối bền bỉ. Nó được thiết kế với những nguyên lý của nó. Nhưng ngày nay, khi các nhóm lợi ích nào đó thao túng được quyền lực, thao túng được dư luận, hệ thống này có vẻ khó giúp chúng ta sớm phát hiện, cảnh báo và ngăn ngừa những liên kết quyền lực đó.

Hiến pháp năm 1980 của mình có tham khảo nhiều hay ít Hiến pháp năm 1977 của Liên bang Xôviết, Hiến pháp năm 1959 thì tham khảo Hiến pháp năm 1954 của Trung Quốc, có màu sắc chủ nghĩa xã hội kiểu Á Đông. Còn bản Hiến pháp mới - 2013 ra đời trong bối cảnh Liên Xô đã trở thành dĩ vãng và ở Trung Quốc chủ nghĩa xã hội đôi khi chỉ là cái vỏ giấu đi chủ nghĩa dân tộc.

Bản Hiến pháp 2013 của nước ta đã cố gắng cách tân để đáp ứng những đòi hỏi của thời đại mới, nhưng nền móng tổ chức mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước thì cơ bản không đổi.

- Một bộ phận người nào đó đã liên tục đề nghị chúng ta phải thay đổi theo cách mà họ cho là hợp lý, mà có lẽ chúng ta cũng không ngại nói thẳng ở đây là sự đa nguyên, đa đảng. Quan điểm của một nhà nghiên cứu giàu kinh nghiệm như ông ra sao ạ? 

- Tôi nghĩ là một Đảng vẫn có sự tích cực của nó, điều quan trọng là quyền lực nhà nước trao cho bất kỳ ai cũng phải được giám sát, và việc thực thi quyền lực dứt khoát phải mạch lạc. Tôi lấy ví dụ cách thiết kế cơ quan dân cử là Quốc hội để Quốc hội là cơ quan phản biện đúng nghĩa. Ngược lại, bên Chính phủ phải đề xuất chính sách, chính sách đề xuất không được Quốc hội thông qua thì phải chịu trách nhiệm.

- Nếu một Quốc hội vận hành như thế, có thể tin rằng sẽ không diễn ra cảnh có nhiều vấn đề được các đại biểu nói thì rất hay, rất hùng hồn, nhưng mọi thứ sau đó có vẻ cũng chỉ dừng lại ở cấp độ nói...

- Quốc hội nguyên thủy trước hết là nơi để nói, nhưng nếu chỉ để nói thì có thể dùng nhiều diễn đàn. Đại biểu Quốc hội mà chỉ nói, chỉ kêu ca thì chưa đủ, đại biểu phải hành động. Như một cái khuỷu trung chuyển quyền lực, nghị sỹ đại diện cho cử tri của mình để đi đàm phán với các nhóm khác. Quốc hội trở thành nơi trao đổi, thương lượng giữa những lợi ích của các nhóm cử tri, từ đó Quốc hội tự tìm đến quy trình xác lập những điều mà người dân ưu tiên nhất.

Nếu mỗi dân biểu nói điều mình thích, nghị viện sẽ trở thành cái chợ. Trên thực tế, thông qua quy trình nghị viện, các dân biểu dàn xếp với nhau để sao cho những ưu tiên chính sách trồi dần lên trong các ủy ban của nghị viện, rồi từ ủy ban trình ra các phiên toàn thể xác lập các chính sách ưu tiên.

- Nếu chúng ta có thể tiếp tục hoàn thiện hệ thống của mình bằng cách xác định rõ quyền của Quốc hội thì không riêng gì vấn đề giám sát quan chức, một vấn đề quan trọng khác là tiếng nói của dân, sự tham gia của dân vào các câu chuyện chính sách cũng sẽ lớn hơn, được cải thiện hơn? 

- Vâng, ở đâu cũng thế, chính thể nào bây giờ cũng tự cho mình là nhà nước của dân, cho nên tiêu chí thứ nhất để đánh giá nền quản trị ở một quốc gia tốt hay chưa tốt chính là tiếng nói của dân đã được vang lên, dội lên trong tất cả các chính sách như thế nào.

Ở Việt Nam, tiêu chí tiếng nói người dân trong quản trị quốc gia chưa được giới nghiên cứu thế giới đánh giá cao. Ví dụ trong vụ Formosa, lẽ ra ngay từ đầu, người dân phải biết chính sách kêu gọi người nước ngoài đầu tư vào một vùng có vị trí xung yếu về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng ấy như thế nào. Một dự án đầu tư rất lớn, hiển nhiên quá trình điều tra, xác minh, tính toán, thương lượng với chính quyền chắc phải diễn ra lâu dài.

Vậy trong quá trình đó, dân có được biết về quy hoạch không, có được biết về quy trình chọn nhà đầu tư không? Mình có một nguồn tài nguyên khan hiếm, đất, biển và con người miền Trung cần cù, gọi ai đến đầu tư chắc phải tìm hiểu kỹ càng. Nếu người dân biết chủ dự án là một công ty có nhiều tai tiếng trong hủy hoại môi sinh, người dân biết họ sẽ tìm cách phản đối.

- Tôi hiểu điều ông đang nhấn mạnh, rằng ý kiến của người dân phải được tôn trọng. Nhưng tôi chợt nhớ năm 2015, khi chúng ta đang thảo luận xem có nên thông qua luật trưng cầu dân ý hay không thì một giáo sư - nhà nghiên cứu luật cũng đề cập tới khía cạnh: "Trong khi tâm lý đám đông rất phổ biến, mà trình độ dân trí nói chung còn thấp thì việc trưng cầu dân ý nói chung lại gây hại". Nhận định này có vẻ đi ngược hẳn lại điều ông vừa nói, và thú thật, tôi đang thấy mâu thuẫn, phân vân quá... 

- Khi đã nói đến người dân, ví dụ như ở dự án Formosa chẳng hạn, thì người dân ấy bao gồm tất cả những người quan tâm, hoặc có lợi ích tới dự án đó và cả những nhóm quan tâm đến môi trường, đến an ninh quốc phòng nữa.

Giá mà có sự tham gia của tất cả những người như thế, giá mà chúng ta lắng nghe phản biện của tất cả những đối tượng như thế thì rủi ro cho những câu chuyện như thế này sẽ ít đi.

Tôi nghĩ, một ông Võ Kim Cự (nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh, người gắn liền với quá trình Formosa vào Hà Tĩnh - PV), chứ một trăm ông Võ Kim Cự cũng không thể nào thông thái hơn tai mắt của toàn bộ nhân dân.

Tất nhiên điều anh vừa nói đến cũng rất đáng suy nghĩ, bởi lẽ cũng có chủ nghĩa dân túy, dùng những chính sách lấy lòng dân, thậm chí mị dân, mà không xét đến hiệu quả. Có người nói trưng cầu dân ý nếu không khéo sẽ dẫn tới sự độc tài của đám đông. Đám đông mà bị dẫn dắt bởi những phù thủy dân túy, những người dùng hoạt ngôn xảo ngữ để lấy lòng dân, những người kích động, châm ngòi vào những giá trị mà đám đông dễ bị dẫn dắt để hành xử theo cảm tính thì rất đáng sợ.

Thế cho nên có những trào lưu trong quản trị quốc gia nói rằng một quốc gia phải có một tầng lớp kỹ trị tốt, có giới tinh hoa tốt, và tôi nghĩ điều này đã phảng phất trong đầu ông Trần Trọng Kim khi ông ấy được Vua Bảo Đại nhờ thiết lập một chính quyền. Nhưng cũng đừng vì thế mà kết luận rằng dân chúng cần được dẫn dắt, vì như đã nói từ đầu cuộc đối thoại này, nó là một tư duy khinh miệt dân chúng.
Ảnh trong bài: Alanguyen Đức.

- Một tầng lớp tinh hoa dẫn dắt, chăm bẵm dân chúng có thể là biểu hiện của một tư duy trịch thượng như ông vừa nói, nhưng vai trò của tầng lớp ấy trong quá trình phát triển của một dân tộc thì không thể phủ nhận. Tôi chỉ dừng lại ở cấp độ vai trò thôi, chứ không đẩy nó lên cấp độ dẫn dắt, chăm bẵm, thưa ông! 

- Hiển nhiên, mỗi một xã hội, bất kỳ giai đoạn phát triển nào cũng có tầng lớp tinh hoa dẫn dắt, và tầng lớp tinh hoa ấy hội tụ khả năng quản trị tài nguyên, hội tụ khả năng tổ chức chính quyền, hội tụ khả năng tổ chức các thể chế mang tính khuyến khích cho cả dân tộc phát triển.

Giới tinh hoa ấy phải có trách nhiệm làm cho những nhận biết về quyền, bao gồm quyền tư hữu và quyền tự do được lan rộng ra. Giới tinh hoa đó nới rộng ra, giá trị của họ tràn ra đám bình dân thì xã hội càng ngày càng tạo được nhiều giới trung lưu có hiểu biết, có nhận thức về quyền tài sản. Chỉ có giai cấp trung lưu mới thúc đẩy những giá trị tốt đẹp như báo chí, pháp quyền, công lý của xã hội...

- Và như thế, sẽ thật lý tưởng để áp dụng và thi triển luật trưng cầu dân ý nếu tầng lớp trung lưu này là số đông, thậm chí là một lực lượng áp đảo trong xã hội? 

- Thú vị là nếu anh tìm hiểu về nền dân trị Hoa Kỳ hay nghiên cứu lịch sử châu Âu thì anh sẽ thấy nó đều tiến triển như vậy cả. Ở châu Âu, nền dân chủ bầu cử không bắt đầu bằng phổ thông đầu phiếu. Mới đầu, người ta căn cứ vào tài sản, thuế của anh đóng góp vào ngân sách quốc gia để tính ra số lượng phiếu trên từng hạng cử tri. Anh đóng thuế nhiều được nhiều phiếu bầu, đóng thuế ít hơn được số lượng phiếu ít hơn. Phải vài trăm năm sau mới có nguyên tắc phổ thông đầu phiếu.

Hiển nhiên quá trình dân chủ hoá, tự do hoá không nhập khẩu dễ dàng được, không truyền từ nước này qua nước kia qua việc thả dù một nhóm chuyên gia Liên Hiệp Quốc.

Ngược lại, dân chủ hóa phải bắt đầu bằng những nhà khai sáng, bắt đầu bằng tự do tư tưởng. Ví dụ trong học đường, đào tạo ra những đứa trẻ biết tự do giữ gìn nhân cách của chúng, biết trân trọng nâng niu tự do sở hữu.

Những đứa trẻ đó sau này trở thành công dân đòi hỏi quyền của mình, thành những ông bố bà mẹ, thành chủ gia đình, chủ doanh nghiệp có trách nhiệm trước rất nhiều người làm công. Những người như thế mới có thể đối thoại với chính quyền, và đòi hỏi chính quyền bảo vệ mình. Quá trình đó không thể dễ dàng có được.

- Khi nào quá trình đó chưa có được thì việc trưng cầu dân ý đều rất dễ dẫn tới tác dụng ngược? 

- Vào tháng 10-1955 đã có một cuộc trưng cầu dân ý diễn ra ở miền Nam Việt Nam đấy chứ. Khi ấy có hai ông, một ông là Bảo Đại, lúc bấy giờ gọi là Quốc trưởng và một ông nữa là Ngô Tổng thống. Và dân chúng miền Nam được lựa chọn hoặc đi theo chế độ quân chủ lập hiến có vua, có nghị viện, hoặc đi theo chế độ tổng thống. Nhưng cuộc trưng cầu dân ý đó có dân chủ thật hay không thì nhiều nhà sử học Hoa Kỳ đã chứng minh rằng nó là "một cuộc trưng cầu dân ý giả hiệu, không dân chủ".

Còn anh nói là trưng cầu có dễ dẫn tới tác dụng ngược hay không thì tôi nghĩ, trong bối cảnh hiện nay, khi mà một người vẫn có thể đi bầu giùm cho cả hộ gia đình, thì cũng thật khó đoán được tác dụng xuôi hay ngược.

- Ý tôi không chỉ như vậy. Ý tôi là trình độ nhận thức, trình độ hiểu biết của số đông dân chúng, liệu họ đã đạt tới một mức độ cần thiết để không dễ gì mà những nhà phù thuỷ dân túy có thể dắt mũi mình hay chưa...

- Tôi nghĩ có thể bắt đầu tiến hành trưng cầu dân ý bằng chuyện nho nhỏ như tách xã tách huyện, lớn hơn như gộp các tỉnh, ví dụ nhập Hà Tây vào Hà Nội có thể đã là một việc cần trưng cầu ý dân. Hay những chuyện như những giá trị mang tính biểu trưng cho một địa phương chẳng hạn. Nếu để dân chúng Sài Gòn được bỏ phiếu chưa chắc cảng Ba Son sẽ trở thành một khu đất cho kinh doanh nhà ở.

Nếu người Hà Nội được lấy ý kiến, chưa chắc Hỏa Lò xưa đã trở thành một phần khách sạn như bây giờ. Dân ở đâu cũng có tâm tình riêng, Ba Son hay Hỏa Lò gắn với ký ức của nhân dân, không chỉ gồm những nhà chọc trời, đô thị cũng cần lưu giữ trí nhớ tri ân người xưa cho con cháu.

- Tôi tin là khi ấy người dân sẽ rất hào hứng, và rất hạnh phúc với cảm giác mình thực sự được lắng nghe, được tôn trọng. Và tôi tin là ngày ấy sẽ diễn ra không xa, vì thực tế Luật Trưng cầu ý dân cũng đã được chúng ta thông qua rồi. Rất cảm ơn ông về cuộc đối thoại này, và nếu có thể, thật lòng, tôi muốn được ngồi với ông thêm nhiều lần nữa để hỏi ông nhiều hơn về những vấn đề mà hôm nay, trong khuôn khổ của cuộc đối thoại này tôi chưa kịp hỏi.

Phan Đăng


Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĐỘNG RỒ!


  
            Truyện ngắn của H.G


Mẹ nó, tình hình này mà cứ ngồi làm thơ chẳng hóa ra ngu xuẩn và độc ác vô trách nhiệm lắm sao?
Nhân dân vợ mình nó bảo “Anh cứ như người trên trời, lở đến tận đít rồi mà vẫn cứ ngồi ỳ ra đấy mà thơ với chả phú. Chả trách tay “Hiệu” nó  vờ hỏi thơ là là ấy nhỉ?” ông tưởng nó không biết thơ là cái giống gì đấy phỏng? Chẳng qua nó muốn nhắc nhẹ ông sống có đầu óc thực tế một chút. Như nó ấy, có lo cho em, giáo viên dưới quyền nó có ổn định cuộc sống mới có điều kiện “biết điều” với sếp. Cả tập thơ năm ngoái tài trợ được ba triệu bạc! tưởng được nhiều lắm phỏng? Có mà đong gạo mua cháo ăn mới đủ. Không có con này dài lưng ra, hết ở trường về là lao vào chuồng lợn, chạy ra vườn. may còn tý đất các cụ để lại còn có chỗ đào ngoáy, không thì khốn cả lũ, lấy đâu tiền nuôi con ăn học” Rồi nó dịu giọng: “ Thôi mình ạ, đừng có theo tàu bay giấy nữa. Đừng có phổng mũi lên mỗi khi có người giới thiệu nhà nọ nhà kia nữa.. Mình còn nhớ hôm về quê, các bác ấy hỏi mình làm gì? Em bảo nhà em là nhà thơ, các bác ấy biểu lộ thế nào mình nhớ không? Hôm ấy em cứ ngượng tím cả mặt. Cứ như thể mình làm cái nghề gì đó mờ ám, dại dột không bằng ấy”.
Nghe đến đây Tuân giận tím người. Đến như “nhân dân” vợ mình, một thời thần tượng mình còn nghĩ thế, chả trách thiên hạ coi thường là phải. Bằng chứng là thơ bây giờ chỉ còn giá trị đọc góp vui cho đám cưới và chia buồn chỗ đám ma. In rõ là đẹp, bán chả ma nào mua. Một lần gặp thằng bạn từ thủa chăn trâu cắt cỏ mình tặng nó. Mấy hôm sau có việc ghé vào thăm, thấy nó để ngay dưới chân cầu thang. Tập thơ của mình còn in dấu chân trẻ con dẫm lên thế mới đau chứ?
Vợ chồng giận nhau mấy ngày nay vì chuyện thơ phú này. Nguyên do tại  bảo: “ Tới đây có lẽ tôi phải ra tập sách nữa, không có anh em người ta kỳ kèo. Ông hội trưởng từ năm kia năm kìa đã ra quy ước “sau ba năm tài trợ, không ra sách là cắt”. Mà mình cũng gần đến cái ngưỡng ấy rồi. Nhân dân vợ giãy nảy lên, như dẫm phải cứt:
- Mình định bán tôi đi để in sách chắc?
Tuân nạc mỡ:
- Nếu mình đồng ý, ai mua mình bán tạm mấy hôm!
Nói là nói chơi thế, nào ngờ nhân dân vợ tưởng thật, tru tréo lên :
- Tưởng rằng có ăn có học, có nhân cách, có tư cách, không ngờ không bằng thằng quét chợ. Ai động vàovợ nó, vác búa đinh làm việc ngay. Chỉ được cái mã. Thơ phú gì? Tưởng báu lắm đấy hả? Con này không đời nào làm cái chuyện xấu xa ấy vì thơ phú của ông đâu. Chẳng thà ông cờ bạc, còn có canh được canh thua. Đằng này thơ phú có thấy được cái gì bao giờ đâu?
Tuân cãi:
- Nhà giáo như mình nói thế sao ổn? Nó là giá trị phi vật thể, tồn trường mãi mãi, sao lại so với việc cờ bạc cá độ được?
- Xời, còn khuya nhé. Bao nhiêu ông gỉ ông gì, thơ ca lừng lẫy một thời. Đến nay còn chả ai nhắc đến, cái ngữ mình..
Không đợi cho nhân dân ấy hết câu, Tuân sừng xộ:
- Nói năng cho cẩn thận. Thằng này đói khổ lầm than thế nào cũng chịu được, làm nhục là không có được. Ai cho phép cô xúc phạm tới các vị ấy?. Cô đừng có vơ đũa cả nắm. Còn mấy ông làm vè diễn ca thì nói làm gì. Thời nào mà chẳng có? Triều đình bao giờ cũng cần có kẻ ca xướng, đám cưới cần có “em si”. Có người lo dẫn chương trình, dù chẳng có thực quyền gì. Mấy vị ấy ăn cơm chúa phải múa tối ngày là việc của họ. Tôi là nhà thơ tự do.. Cô đừng có mà..
Cả đêm đó Tuân không chợp được mắt. Trở mình bên nào cũng không ổn. cứ như nằm trên chông trên gai  chứ không phải giường đệm nhà mình. Nhân dân ấy ôm gối vào nằm
 với đứa con gái. Ngoài trời mưa hùng hục, như ném sỏi xuống vườn, ném đá xuống sông. Phía  sông lở ùm ùm, hậu quả của việc nhân danh khai thác cát sỏi để đào vàng sa khoáng. Còn có thông tri từ trên phủ đánh về: “Người nào, nhà nào ngăn cản việc khai thác cát xây dựng là vi phạm, phải xử lý. Nếu có xảy ra sạt lở, lý trưởng, chánh tổng phải có bổn phận báo lên bản phủ rồi bàn cách giải quyết”
Nửa đêm có tiếng la hét thất thanh. Nhân dân vợ quên cả giận, lay Tuân gọi:
- Này, này.. Dậy xem ngoài kia có chuyện gì? Hình như bên hàng xóm đổ nhà hay có ai chết í..
Tuân giả vờ ngủ say. Đây là lần đầu tiên trong đời anh “Thấy cháy nhà hàng xóm bình chân như vại”. Như mọi khi, chưa cần vợ gọi đã nhao ra ngoài đó rồi. Đang giận, buồn hết cả chân tay, Tuân như kẻ ngoài cuộc. Nằm một lúc tự nhiên thấy nhói trong ngực, Tuận chạy bổ ra ngoài..

Đêm phố Pủ băng keo dán miệng hũ. Tối không nom thấy gì. Đi một quãng mới thấy lửa sáng một chòm. “Nhân vật” Tài cởi trần, quần lửng, cầm bó đuốc, mồ hôi ròng ròng. Thấy Tuân nhân ấy hỏi:
- Bao giờ có điện hả chú? Mưa như thế này lại mất điện, đến là khổ!
Tuân gắt:
- Tao cũng như mày, biết gì hơn mà hỏi?
Cái thằng beo ăn ba ngày không hết thịt, không chịu vào khiêng vác đỡ người ta. Lại đứng đây mà cầm đuốc ra vẻ chỉ đường! Bực. Tuân bảo nó:
- Mày khỏe, vào xem có gì nặng vác đỡ. Nhà Bá Bành nhiều đồ quý cẩn thận kẻo hư của nó.
- Con nói thật với chú, khuân vác con không ngại. Nhưng lão này rẻ người, con ghét. Có bữa gặp lão người đường, chào, lão còn không thèm trả lời.. Nhân ấy nói có vẻ hờn.
Tuân bảo:
- Lúc í khác, bây giờ khác. Mày cứ giúp lão rồi lão ấy sẽ hối hận. Đưa cây đuốc đây tao cầm cho.
Nhân dân Tài có vẻ miễn cưỡng, nhưng rồi cũng hòa vào đám đông. Nom dáng nó khật khừ có vẻ miễn cưỡng, tội nghiệp.
Chả cứ lão Bá Bành, làng này có ai ưa nó? Mặc dầu nó nhanh nhảu, mồm mép, ai nhờ gì cũng hung húc làm, nhưng lại có tính tắt mắt, nên cả phố đề phòng. Không ai thích nó đến nhà.
 Tuân cũng không thích nó, nhưng anh không ghét nó theo cách người ta ghét. Chẳng qua đói ăn vụng, túng làm càn. Từ đời bố mẹ nó đã trộm cắp vặt thế rồi. Nhà nó nghèo, bố ham cờ bạc, mẹ nghiện quà vặt lại đông em, lấy đâu ra có? Cũng không ai như bố nó... Trước ngày mở đường, cả khu vườn gần mẫu đất đổi cho người ta lấy cái bè nuôi cá lồng. Thằng cá lồng bảo lồng cá của nó có ngót ngàn con sắp sửa được bán cá thịt. Đếm cua trong lỗ, mua cá dưới ao, đến lúc xong giấy tờ mới trắng mắt. Lại đang dịch. Cả nhà nó được mấy bữa cá rán, cá luộc rồi cho người ta. Bố nó buồn. Ốm rồi chết.
Đám ma bố nó là đám lạ lùng nhất xưa nay.Quan tài kê dập dềnh dưới cái bè cá nó đang ở bây giờ. Lúc khiêng lên, một anh sơ í, tụt chân. Suýt nữa cả bọn cùng cái quan tài văng ra thăm Hà Bá.
Rồi nó lấy vợ, đẻ con. Cứ như giống cỏ dại chẳng ai chăm bón mà vẫn tươi tốt. Mới tí tuổi đã ba đứa con. Ruộng nương chẳng có, cả nhà trông vào cái đò nan. Từ ngày Bá Bành ra cái đò máy, nhà nó đói nặng. Kể ra nó còn chút quân tử, chút nhân tính nó mới đến đây. Giờ thì đang è vai ra khiêng cái tủ gỗ sưa Bá Bành mới mua về..
Phải người khác, với kẻ làm đổ niêu cơm nhà mình, liệu có làm được như thế không?
Đúng là thời bây giờ cá lớn nuốt cá bé. Ngành nghề gì cũng vậy, yếu thế là thiệt. Tuân cứ day dứt mãi chuyện này. Có lần anh bảo với Bá Bành:
- Đằng nào bác cũng thuê người chạy đò, bác thuê luôn thằng Tài cho nó kiếm miếng nuôi vợ con nó?
Lão cười kha kha:
- Chú xúi dại anh đấy à? Thuê nó có khác gì gửi cá miệng mèo? Được đồng nào liệu nó có đưa cho mình không, hay lại bớt xén? Chú thương tình cho nó bớt đám nương để nó sinh nhai có phải tốt hơn không?
Lão đá quả bóng sang sân nhà mình. Chót nói, mình phải cho nó một đám. Ai ngờ cấy được đám lúa, chưa kịp gặt, nghe người ta bày dại. Bùi tai, nó bán sắm bộ kích đêm đêm đánh cá. Được vài hôm bị đoàn xã bắt lên quận, tịch thu mất. Lại trắng tay. Từ ấy nó ngại, luôn tánh mặt, không dám gặp Tuân. Nhưng cũng từ đấy, trộm vặt buồng cau trái chuối ở đâu không nói, vườn nhà Tuân thì không. Cũng còn có chút tự trọng, chút khí phách. Khí phách của loại công dân hạng ba ở phố Pủ này. Giá mà Bá Bành giúp nó, chút nhân tâm ấy, chưa chắc nó dám tơ hào.?
 Nhưng bá Bành thì có bao giờ nghĩ đến ai? Lão còn muốn nuốt tất cả vào bụng. Người đàng hoàng không bao giờ xử trí như thế. Không bao giờ dòm ngó đất đai của nhà hàng xóm, coi vợ hàng như vợ mình. Lão là kẻ không đàng hoàng, không cứ nhân vật Tài không ưa, nhân dân mình và nhân dân các nơi đều không thích. Chẳng qua sống chung với lũ. Lão gặp hoạn nạn phải cứu mà thôi
Nửa đêm, cả dãy taluy cao ngật ngưỡng đổ ụp xuống. Cái nhà ba từng của lão trật móng đổ rầm, nghe như động đất. Mưa mấy ngày liền, đất bở, nhão ra như bùn. Ngôi nhà Bá Bành chênh vênh.. Chớp mắt đã thành tương. Tivi, tủ lạnh chả biết có dùng được không? Còn cái xế hộp bốn chỗ bẹp dúm, bẹp gió.
Ai cũng than trời mưa ác quá. Thực ra còn có chút nguyên nhân từ con người. Bá bành hẳn hoi, tình tiết đã không xảy ra não nề đến thế..
**
Cụ tổ Vân Sản ngày xưa là người thích tiết canh chó sói và hay ăn thịt mèo. Trong khi đó cụ bà nghiện bánh đúc và đôi khi có ăn thịt thỏ. Thời ấy các con vật kể trên còn rất nhiều ở vùng này. Đêm đêm còn có tiếng chó sói hú trong rừng sâu. Thỉnh thoảng người ta còn bắt gặp ma cà rồng trong khe núi. Hai cụ tổ làm nghề lái đò dọc và kiêm cả đò ngang con sông Khúc Thủy này.
Bạn bè của họ là lão Sinh Khai lông ngực rậm như cái chổi lúa giấu trước bụng. Lão cao to, mắt xếch, râu quai nón che kín gần hết mặt. Không ai biết lão làm nghề gì. Chỉ lâu lâu mới thấy xuất hiện, mang theo một cuốn sách dày chi chít chữ và một con dao nhọn với sợi dây thừng. Người nói lão là nhà truyền giáo, kẻ bảo làm lục lâm thảo khấu ở rừng phía bên kia núi. Cũng có người bảo lão chẳng qua là kẻ vô công rồi nghề, nói phét nói lác kiếm cơm thiên hạ. Con người này có ảnh hưởng ghê gớm với cụ tổ Vân Sản bởi những bài hát ngô nghê, mà cực kỳ nguy hiểm thời ấy. Những lời ca khuyếch trương và gợi óc tò mò về một nơi cực lạc. Phải băng qua địa ngục có quỷ canh vạc dầu và  vua ma xó cưa người như cưa ống nứa..
Những nhân dân, nhân vật.. kinh khủng ấy là của một thời đã qua. Không có xuất hiện một lần nữa về sau. Một thời nơi đây còn hoang sơ, tăm tối và quá ư thanh vắng. Con người có thể chơi thân với hổ, báo và các loại thú dữ vì  xung quanh quá tẻ nhạt và đơn điệu, u mê, trì trệ vv..
Bá Bành là hậu duệ thế hệ thứ ba. Cha ông ta có rất nhiều con, nhưng loạn lạc, đói kém, bất đồng, bệnh hoạn chết mất khá nhiều. Giờ còn anh thứ ba điếc lác, chẳng giống ai ở làng Bắc Cụp.  Chỉ còn hai anh em Bá Bành và Thọ Ruộng còn ở cạnh nhau.
Nhiều năm  giữa họ không xảy ra điều gì. Thọ vợ tên là Ruộng thường ốm đau luôn, kinh tế lúc nào cũng moi mói. Lại luôn bị kẻ khác bắt nạt vì tính “đã yếu lại hay ra gió”, ham mê bài bạc, gạ gẫm người này người kia. Thời gian dài Bá Bành là chỗ che chắn cho y. Không có ông anh, bọn chúng dỡ nhà, chiếm đất mất rồi. Mỗi lần Thọ Ruộng bí, phải bán ruộng vườn, ông anh lại bỏ tiền ra mua giá cao hơn người ngoài, nói là để giữ cho em, “Bao giờ chú ấy khá để chú ấy chuộc lại”. Việc mua bán này Thọ ngấm ngầm làm, không cho vợ con biết. Vẫn nói dối là mình chưa có điều kiện canh tác cho bác ấy làm, khi nào dùng đến thì lấy về. Đến khi vỡ lở ra mới sinh chuyện. Đấy là chuyện phần sau. Nhưng chuộc lại cách nào và khi nào là điều chưa hề xảy ra. Ai cũng bảo nhà ấy anh em như chân với tay. Tình nghĩa ruột thịt thật là cảm động!
Bá Bành giỏi làm ăn, con cái dễ bảo, bóp mồm bóp miệng, chịu nhẫn nhục bao năm, giờ giàu lên mỗi ngày. Mua thêm đất, tạo thêm trâu mở rộng bốn phương tứ hướng say mê đến nỗi quên cả chuyện về lâu về dài sẽ tới đâu? Bất chấp đến sự ganh tị đề phòng của xung quanh. Tạo ra một nghịch lý: Không phải phú quý sinh lễ nghĩa. Sự giàu có lại tạo thêm rất nhiều kẻ thù!
Sự đời xưa nay giàu ăn uống, khó cãi nhau. Ông em gia cảnh vì thế mà luôn lộn nhộn trong nhà, vợ con mỗi người một phách.
Phàm xưa nay nhà nào đổ cũng bởi tự dột nát, mối mọt từ bên trong.  Giường cột vững chãi, gió bão chưa chắc đã đổ?
Nếu không có chuyện thằng em thay đổi cung cách, chưa chắc đã có chuyện xích mích giữa hai anh em.
Nhà Chúa cho “mở rộng” lô đề, hợp pháp hóa trò vè trước nay bị nghiêm cấm. Có một gã  tự bên kia sông Khúc Thủy đến “mở đường” cho Thọ Ruộng làm ăn.
Ngày ngày Thọ Ruộng kê cái bàn con ra gốc cây tùng. Nhàn. Rủng rinh. Tiền  như nước. Có tiền, Thọ Ruộng đặt vấn đề chuộc lại miếng vườn trước đây bán lại cho ông anh. Bá Bành chỉ mặt: “Đồ ăn cháo đá bát!”. Tuyệt tình. Anh em không nhìn mặt nhau nữa. Gặp không hỏi, chào không thưa. Ngày giỗ cụ Vân Sản nhà nào có nhà nấy cúng..
Thọ Ruộng hận không đòi chuộc lại đất. Con vợ xui:
- Mình xuống tấn phát. Cho ông ấy biết tay!
Hôm sau thuê máy xúc, đào thành taluy cao tới mười mét, nói là cho ngang với bến xuống sông, tiện tắm giặt. Nhà Thọ Ruộng được đám đất rộng, tương đối rộng, tha hồ trồng su hào bắp cải. Nhà Bá chênh vênh như trứng treo đầu đũa. Ba mặt khúc mắc với laan bang từ trước, còn lối duy nhất bây giờ cũng tịt, không có lối ra.
Đang cùng mặt bằng với nhau, giờ thành hai cấp. Nhà Thọ Ruộng nhà gỗ giỡ xuống lại dựng, không vấn đề gì. Nhưng nhà Bá bành xây cao tầng mới là cái chết. Mưa lớn ròng rã nửa tháng, đất mềm nhũn ra, chỗ cao nhao xuống chỗ thấp.. việc phải xảy ra đã xảy..
Nhà đổ không bởi động đất mà là do anh em nhà này động rồ.
Tuân đang đứng cầm đuốc soi cho đám người xúc đất bới đồ đạc của nhà Bá Bành. Nhân dân Tài thỉnh thoảng chạy qua cười nhen nhen như để khoe công, cậy sức. Chợt.. có một bóng đen vụt qua, Tuân bỗng buốt nhói sau gáy, mắt tối xầm, rồi không nhìn thấy gì nữa..

Đất dưới chân Tuân lở ùm ùm. Nước chảy xiết không thể tưởng tượng được. Anh bám được đám bèo lục bình, hoa xanh tím xanh tái. Rất lâu đám bèo ấy  trôi qua nhiều xứ sở không cửa, không nhà. Không cả chó cắn mèo kêu, chứ đừng nói chim kêu vượn hót. Quang cảnh điêu tàn như thể “Hai trăm năm sau vắng bóng con người”. Không có gì sất.
Bèo cứ thế trôi đi..Chợt bè tấp vào một gò đất lầy lội và ướt át. Trên đỉnh gò mấp mé nước, sách từng chồng xếp cao như một quả đồi. Những quyển sách bìa xanh, bìa đỏ, bìa vàng như mới vừa in xong, chưa từng có ai đọc, xô dồn cả đống.
Tuân kêu ú ớ:
- Sách của tôi, ai có thuyền mau tới đây…Sách mà mất đời còn nghĩa gì nữa..Sách ..sách..
Vợ Tuân đang ngồi chườm vết đau đang bị xưng u lên của chồng. Nhân dân ấy buột miệng:
- Đúng là động rồ. Đau thế này còn sách với chả vở!
Nhân vật cu Tài bảo:
- Hay để cháu cõng chú ấy lên bệnh viện. Nói mớ thế này chắc nguy mất?
Nhân dân vợ gói ghém quần áo chuẩn bị đi thì Tuân mở mắt he hé:
- Không sao đâu, đi làm gì. Vài hôm sẽ khỏi. Nhưng mà tôi làm sao thế này?
- Không biết đứa nào đánh trộm. Không có anh cu Tài phát hiện ra sớm, nằm đó chắc đi rồi!
- Tôi có làm gì ai đâu mà có người đánh?
Nhân dân vợ bảo:
- Không đi thì cứ nằm yên, cho nó đỡ đau, đừng hỏi nhiều nữa. Chắc là có đứa thù oán hay hiểu lầm chứ tự nhiên ai gây với mình?

Năm, bảy, chín, mười.. người nhìn nhau, đã xảy ra chuyện gì mấy ngày nay nhỉ?
***
Cơn lũ đột ngột chấm dứt như khi bất ngờ xảy ra. Trời trong xanh trở lại, chỉ còn những đám mây trắng xốp, nhẹ nhàng trôi chậm dãi về phía chân trời. Dòng sông thản nhiên trong trẻo như chưa hề có trận lũ nào qua đây.
Tuân vẫn còn chút uể oải sau lần bị đả thương vừa rồi. Anh ghét nhất là cứ phải nằm dài như những ngày vừa qua. Nhân dân vợ vẫn ngày ngày tất tả đến trường. Ngành giáo dục ngày càng eo hẹp về thời gian. Những lúc rảnh rỗi như trước đây không còn nữa. Thời buổi người khôn của khó, chả nghề nào là không có cạnh tranh. Lão “hiệu” từ ngày được trao thêm quyền theo quy định mới, ngày càng cay nghiệt ra mặt. Thì có ở đâu bệnh quan liêu cửa quyền không thò mũi vào? Nay điều chuyển, mai kiểm tra đột suất theo kiểu “rang lạc”, chị em nóng mày, nóng mặt.. Ai không ăn cánh, trái ý lão là bị điều chuyển đến phân hiệu xa, đi lại khó khăn. Buổi họp “hiệu” luôn chì chiết theo lối mẹ chồng nàng dâu, muốn nói sao thì nói. Cái mục đích vụ lợi, bắt người khác phải cung phụng mình, xà xẻo công quỹ của lão ai cũng biết, mà không dám hó hé. Có người khiếu tố lên trên. Trên về, điều tra lại “vô tang vô cứ”. Làm sao có được “tang”, “cứ” bởi những vụ mơ hồ như thế? Lão lại khôn như lươn, trườn như rắn, “trên kín, dưới bền”, một tốp theo đuôi nịnh hót thì làm gì được “hiệu” nào? Thế là thêm “tội phá rối tổ chức, làm mất uy tín lãnh đạo”. Lại bị chú ý, đày đặt, không mở mắt ra được!
Tất nhiên nhân dân vợ Tuân không dại gì lấy trứng chọi đá, nhưng căng thẳng ở trường khiến nàng không vui.
Về nhà nét mặt lúc nào cũng căng thẳng, dầu dĩ, bực bội vô cớ. Các con còn nhỏ chẳng giúp được việc gì, “nhà thơ” cứ nằm ườn ra đấy coi sao tiện?
Không biết thời các ông Tản Đà, Nguyễn Bính sống thế nào?  Các vị ấy làm gì, ăn gì mà làm thơ hay “ngây ngất con gà tây” như thế? Tuân bây giờ chữ nghĩa vón cục như bị cám để lâu ngày. Lâu lắm anh chả nặn ra được bài nào. Viết cái gì? Về cái gì luôn là cái “Nhân dân nhà thơ” này day dứt trong lòng.
Thôi thì lúc này ra phía bờ sông xem lũ đợt vừa rồi sụt lở ra sao. Nhân dân vợ nói đúng. Có thực mới vực được đạo. Ngồi đơm đó ngọn tre, mơ hão có khi đói cả nhà. “Sức này còn cấy lúa trồng khoai, còn chăm được mảnh vườn. Khỏe lên, vào rừng kiếm thuốc nam cũng là cách sinh nhai đáng kể. Chả làm được việc to tát gì, ít ra cũng biết vì nhân dân vợ, nhân dân con mà quên mình”!
Đang ngồi tỉ tê nội trạng như thế thì Đội Dư vào. Đội phụ trách bảo an của phố Pủ này. Thực tình mà nói, Tuân không có ác cảm nhưng cũng không thích đội. Con người đội luôn khó hiểu. Cái nghĩ bên trong và cái lời bên ngoài là hai cực trái ngược nhau. Đã dốt lại luôn làm ra vẻ nguy hiểm, quan trọng. Tình nghĩa gì mà đội Dư đến?

Thực ra đội Dư không có ác cảm và cũng không có toan tính gì với Nhân dân Tuân cả. “Gã ý là nhà thơ, tính gàn gàn một chút, nhưng thẳng tính và tốt bụng. Bất cứ ai nhờ vả việc gì là tay ấy không từ nan, sốt sắng giúp ngay. Chính vì thế mà nhiều khi mang vạ vào thân”. Đã có lần đội nói với nhân dân ấy, vì biết nhân ấy ưa thẳng thắn:
- Ông làm thơ thì cứ làm, sáng tác nhiều thơ ca bất hủ, ra nhiều tác phẩm có giá trị văn học nghệ thuật cho mai sau. Lịch sử và nhân dân sẽ ghi nhận điều đó. Đừng có mà rỗi hơi tham gia những việc không phải của mình. Việc đó có “ông trên” lo. Gái góa lo chuyện triều đình có ích gì? Hai nữa những chuyện trong quận trong phủ hàng ngày chĩa mũi vào làm gì? Không phải đầu cũng phải tai. Đơn từ khiếu kiện dính vào làm gì?  Ai có thân người đó lo. Đúng sai có xã ủy, có chánh tổng, người ta chuyên về việc này.. Kỳ đà cản mũi chả có bao giờ là cái hay cả. Đừng như mấy ông nhà thơ ở Y ở X, ban đầu “phản đối tiêu cực, giúp đỡ dân oan, sau rồi bất bình chuyện biển, đảo, biên giới”..Rồi nói với nhau:
“ Đấy là xu hướng của kẻ sĩ, của người có tâm, bao nhiêu anh tài đi trước làm gương rồi..”  Đi quá trớn lúc nào không hay.. Nhiều bài học nhỡn tiền ra đấy, có ích lợi gì cho mình, hay chỉ khổ vợ khổ con? Hiền sĩ với cả lương tâm là cuộc chơi không đơn giản. Không phải ai chưa lượng sức mình cũng có thể dí mũi vào! Tôi nói thế, ông thấy có phải không?
À thì ra lâu nay đội có “để ý” mình đến việc này. Mà mình đâu có làm gì, đội lại nói như thế nhỉ?
Tuân định tranh luận nói để cho đội nắm rõ. Nghĩ lại, anh thôi. Con người như Đội nói thế nào ấy nhỉ? Đó là khối lý luận rắn chắc, khó bề thay đổi, đã lập trình sẵn trong đầu, trong tim. Một vài lời phải trái, chả xoay chuyển được tình hình. Nó như một ngôi nhà đã định hình. Móng có chỗ đổ beton, có chỗ là móng đất. Mái thì chỗ mái bằng, chỗ lợp ngói, có chỗ lợp gianh. Tường chỗ xây, chỗ vẫn thưng vách nứa, hỏng chỗ nào sửa chỗ ấy. Hình thái tư tưởng ấy, sự cảm hóa, biến chuyển chỉ là không tưởng. Mà người xưa nói rồi, “đã không đồng quan điểm, tranh luận không bao giờ chấm dứt”. Không khác đấm bị bông, đánh bùn sang ao!
Tốt nhất là không tranh luận. “Càng tranh luận càng dễ xa nhau”. Nói gì thì nói, mình với đội vẫn cùng ăn ở, sống chết ở phố Pủ này. Đội mà cay mũi, chả hay gì.
Đội Dư có lẽ cũng nghĩ như thế. Nên bảo:
- Nói thật với chú, anh đã từng qua “cao học chính trị”, lý luận anh không thiếu. Nhưng không gì bằng sống tình cảm với nhau. Một trăm cái lý, không bằng một tý cái tình..
Rồi đội nói ra mục đích đến đây của mình.
Đội bảo thằng lớn con nhà Bá Bành nghi Tuân xúi dục nên Thọ Ruộng mới làm ra nhẽ ấy. Nó bảo mấy lần đơn từ Thọ Ruộng đều nhờ Tuân viết hộ. Nó nói thẳng với đội: “ Chú chả phải mất công điều nghiên điều nghiếc gì nữa. Nói cho chú biết việc ấy cháu làm đấy. Phải chú tức thế, chú có làm không? Có chú, cháu ở đây cháu không dấu. dưng mà chú lập biên bản, hay báo lên trên là thằng này không nhận đâu nhé! Lời nói gió bay mà!”
Đội vừa mừng vừa bực. Mừng là cuối cùng cũng tìm ra manh mối. Hung thủ đã tìm ra được. Nhưng bực là nó nói trắng trợn, lại chả có “tang”, có “cứ” nào để buộc tội nó, đem ra xử lý. Cha con Bá bành xưa nay ngang ngược, đểu cáng ở vùng này ai không biết, nhưng lại cực kỳ xảo quyệt, thâm hiểm, luôn biết che dấu hành tung. Gây với cha con nó không chừng khốn cả mình!
Nghĩ. Nghĩ đi nghĩ lại. Đội bảo:
- Có chắc là ông ấy xúi giục, đơn điếc không? Tao nghi lắm. Người như ông ấy không chắc đã làm việc này. Mày nghi oan cho người ta, xử lý đểu, kiểu xã hội đen như thế là bậy. Theo chú mày nên đến nhà xin lỗi ông ta. Hoàn cảnh chú ấy cũng khó khăn, nhà mày có điều kiện, “thường” cho người ta một chút tiền máu, mới phải con người cháu ạ!
Nó  ngẫm nghĩ một lát rồi giãy nảy:
- Làm thế có khác gì lạy ông tôi ở bụi này? Các ông có cớ để xích cổ thằng này lại à?
Còn việc bồi thường nhẽ ra không nên làm vì hai nhẽ: Một là ông ấy có làm những việc kia thì đây là trừng phạt cần thiết để “dạy cho bài học” về sau. Hai là cũng để dè chừng kẻ khác, vì trong việc này nhất thiết phải có kẻ làm. Dưng mà chú đã nói thế, để chú dễ hành xử với bên ngoài, cháu đồng ý. Chú tìm cách xoa dịu rồi đưa cho chú ấy giúp, còn cháu ra mặt thì không đâu!
Nó dứt khoát như thế, móc túi đưa đội ba triệu bạc.

Đây là lần đầu tiên đội nói với nhân dân Tuân theo kiểu thành thực. Đặc thù công việc của đội nó vậy chứ đội chẳng phải là xấu xa gì. Quan tòa và lưu manh xưa nay vẫn gần và dễ hiểu nhau. Bảo như thế là tốt, là xấu còn tùy quan điểm mỗi người. Chưa bao giờ khó xử lý vụ việc như vụ này. Bồi thường cho nạn nhân mà nạn nhân không được biết hung thủ là ai? Hung thủ chỉ là cái bóng vô hình!
Nghe xong câu chuyện, Nhà thơ nhân dân cười như mếu:
- Bác đã nói thế, em còn nói gì được nữa? Nhưng mà tiền thì em không nhận đâu. Em không thể nhận tiền mà không biết của ai, đưa cho mình vì việc gì? Như thế nó mờ ám, không nên.
- Thế chú vẫn dứt quyết đi kiện à?
- Bác buồn cười, như bác nói, kiện ai? Kiện củ khoai trong chùa à?

Nhân dân vợ đứng đấy nghe rõ câu chuyện. Không thấy nhân dân ấy bảo sao. Nhưng nhìn vào đôi mắt, Tuân biết nhân dân ấy bảo:
- Đúng là điên, động rồ. Bị đau mà không nhận bồi thường là cớ làm sao?

Đội Dư chả biết nói thế nào. Đội kéo hai, ba điếu thuốc lào liền. Điếu ục là loại điếu không nên hút như vậy. Bởi thế đội say chỏng gọng, rớt dãi, giơ cả  bốn chân tay lên trời!

==========


Phần nhận xét hiển thị trên trang

nền tảng văn hoá được tập nhiễm ngàn đời đã tạo thành tập quán tư duy, tạo nên những thang giá trị "nhân cách kẻ sỹ" có điểm khác biệt, nên tinh thần sống khác biệt


Thưa các anh chị, trong tập BÌNH LUẬN VĂN CHƯƠNG mà tôi đang làm, tập chia làm 3 phần, trong đó Phần III dành cho những bài vấn/đáp về thơ.
Và dưới đây là bài trả lời phỏng vấn, giữa tôi với nhà thơ Nguyễn Giáng Vân. Bài đã được gt trên Văn Việt. Trân trọng gt với các anh chị:
*
TRÒ CHUYỆN VỚI NHÀ THƠ GIÁNG VÂN
1/ Thưa nhà thơ Đỗ Trọng Khơi, với mọi người thì việc đọc đã rất quan trọng, với anh, việc đọc dường như là sự sống còn của đời sống cá nhân?
- Vâng, đúng vậy. Như chị đã biết, tôi sớm phải nghỉ học. Việc được học bài bản, hệ thống trường lớp là con đường tiếp thu tri thức một các nhanh chóng và đầy đặn. Tất nhiên, nếu thấy thoả mãn với kiến thức trường lớp trang bị thì ai đó chỉ có thể thành một công chúc cạo giấy, ăn lương. Người "học trò cuộc đời" muốn có được sự trưởng thành ngày một lớn hơn, sống giầu ý nghĩa hơn thì họ đều phải tiếp tục tự học không ngừng. Nghĩa là đọc và suy nghiệm, đúc kết. Tôi không được may mắn để có được cơ sở ban đầu là học qua hệ thống trường lớp, tôi hoàn toàn phải tự học bằng cách sống và đọc. Một chặng đường mò mẫm, nhiều lúc loanh quanh, u u minh minh. Rất mất thời gian và có thể nói kiến thức thu được khá chắp vá, ít ỏi. Tôi là kẻ trên đường văn học với cây gậy yếu bấy và duy nhất, là niềm kinh hãi trong sự lưu lạc, côi cút của phận người trong cõi người, kiếp người. Tôi là kẻ luôn bị cuộc đời dồn đuổi, không một cư trú an toàn, chị ạ. Vì thế mà nhiều khi tôi gấp gáp, lại cũng khi tôi trở lên u lì, gan góc hơn trước những cảm thức buồn thương về sự lưu lạc, dồn đuổi ở thế gian này. Không rõ đấy có phải là lòng can đảm, là nghị lực như người ta thường nói không? Nhà thơ lớn người Nga, Boris Leonidovich Pasternak viết "Lòng can đảm - cội nguồn cái đẹp", quả vậy thì tôi cũng có ít nhiều hy vọng đạt được đôi chút mảnh vỡ của "cái đẹp" thơ ca vào một ngày đẹp trời nào đó chăng?
2/ Các học giả, các nhà nghiên cứu, họ có rất nhiều kho kiến thức trong đầu, họ thường dùng những thứ họ có để soi vào văn chương, cái mà một người không may mắn như anh không dễ gì có được. Vậy anh đã đọc và tiếp nhận bằng cách nào?
- Con đường văn học của tôi, khởi đầu có lẽ chỉ là do niềm yêu thích, bản năng hồn nhiên. Tôi đọc sách để "giết thời gian", giải khuây trong những ngày đau bệnh triền miên. Sách với tôi khi ấy là giải trí, như một con thuyền giúp tôi chuyên tải dòng thời gian buồn thương và trỗng rỗng. Sau dần dần niềm yêu thích đọc sách lớn thành khát vọng viết sách. "Con thuyền" bản năng, vô tư kia ai ngờ lại hoá thành phương tiện chở tôi sang bờ. Ý thức sáng tác xuất hiện đồng nghĩa việc tiếp thu kiến thức cho công việc này, lúc đó tôi đã tích luỹ được ít nhiều. Tôi còn nhớ, vào khoảng năm 1983 - 1984, năm đó tôi 23, 24 tuổi và đã nằm liệt giường dăm năm, sau khi xem một cuốn tiểu thuyết được viết thời chống Mỹ, một người hỏi "Khơi thấy thế nào?" thì tôi bảo "Tôi cũng có thể viết được…". Và thế là tôi viết thật. Những câu chuyện, dạng truyện ngắn lần lượt ra đời. Hiển nhiên, không hoàn toàn như tôi chủ quan nghĩ, những tác phẩm đầu tay đó, chừng mươi cái, được viết trong vài ba năm, chưa phải là một tác phẩm văn học hoàn chỉnh. Phải mất dăm năm sau, truyện ngắn "Hồng y bảo ngọc" được viết và được báo Văn nghệ đăng trên số Tết, mục dự thi và vào tới vòng Chung khảo thì mới được xem là một tác phẩm. Về thơ, tôi viết thơ sau viết văn xuôi, nhưng ngược lại, trước khi có truyện ngắn đăng báo thì tôi đã có thơ được báo Văn nghệ trao giải Nhì. Con đường sáng tác văn học quả là một con đường dài và đầy khó khăn. Phải mất khoảng 20 năm sau đó nữa, tôi mới tin là mình có thể đi được trên con đường này. Và cũng cần xác định thêm, yếu tố năng khiếu cũng là một đảm bảo lớn. Dường "năng khiếu trời cho", trong sâu thẳm bản thân nó có ẩn chứa, được tích hợp kiến thức tự… bao giờ. Nó là cõi tâm thức, vô thức, là thứ báu vật được mang từ tiền kiếp chăng...?
3/ Vâng, chính là anh đã chạm tới một phạm trù triết học, triết học về thế giới bên trong của con người, về những bí ẩn của tâm linh, như những vũ trụ thu nhỏ, và chỉ khi chúng ta đi sâu vào bản thể mình, lắng nghe bản thân thì mới thấu thị được bản chất thế giới. Điều này không lạ với tư duy phương Đông, trong Thiền học. Bản năng, sự hồn nhiên dường như giúp chúng ta đi thẳng đến bản chất sự vật, không cần một trợ giúp nào. Một đứa trẻ dễ dàng nhận ra kẻ giả dối với nó hơn những người lớn đầy kinh nghiệm, bởi vì nó trong suốt. Một thi nhân, bởi sự nhậy cảm của bản năng, nên anh ta buồn đau trước khi người khác thấy buồn đau, thấy cái đẹp trước khi người khác thấy… Ánh sáng soi rọi hơn mọi thứ tri thức, chính là ánh sáng bên trong. Thưa nhà thơ Đỗ Trọng Khơi, đọc thơ anh, tôi nhìn thấy rất rõ thứ ánh sáng này. Dường như, sự đọc, sự học của anh cũng thấm đầm tinh thần phương Đông?
- Thưa chị, quả là tôi sớm được làm quen với sách vở cổ điển phương Đông, với không gian nhà chùa, và không khí lễ hội ở làng quê Việt, vùng Châu thổ sông Hồng. Về gia đình, ông nội tôi có bà vợ hai, bà ở với ông nhưng không được người con nào và bà thường ở chùa làng. Thuở ấu nhi tôi thường ngày được cùng bà ra chùa làng chơi và cụ Hoà thượng trụ trì ở chùa cũng hay vào nhà tôi chơi. Cái không khí, không gian hương khói nhà Phật len thấm trong tôi từ đấy. Tuy nhiên kinh pháp nhà Phật thì phải sau này, khi đã lớn khôn, nếm trải nhiều nhọc nhằn số phận, hiểu hơn về lẽ bể dâu, mất còn nhân thế, điều Phật gọi là sắc, uẩn, là giải thoát, phải tới khi này tôi mới dần dà thâm nhập vào thế giới nhà chùa và cả những phương diện Đông phương học khác.
Trong Phật học, chữ "Tâm" chính là điều căn cốt nhất. Phật tại Tâm. Thảy mọi lẽ sống thế gian đều khởi từ Tâm. Khi Tâm định trụ thì sự vật không biến đổi, cuộc sống được an lạc, viên toàn. Tâm định thì Tuệ khởi. Cái "ánh sáng từ bên trong" mà chị coi trọng, chính là cái ánh sáng nguyên nhất, tinh khôi, trinh huyền này. Nó không thể bị vẩn đục, bi khúc xạ, bị chia chẻ. Vậy "Tâm" trong quan niệm này chính là tính nguyên thuỷ, nguyên lý của mọi vận động, của bản chất thế gian. Khi Tâm an định thì ánh sáng tuệ giác sẽ phóng chiếu mang lại cho ta những nhận thức tới chân lý, chân giá trị đích thực. Và, với người sáng tác văn chương khi tu tập cho mình được cái Tâm này, tất anh ta có cơ hội tiếp cận và trình bày được về cái đẹp, điều chân lý của thời đại, cao hơn của nhân loại, của kiếp người trong cõi thế. Xuất phát từ lý do đó, với tôi, giá trị Đông phương học mang trong nó sơ đồ cấu trúc thế gian, cấu trúc vũ trụ. Vấn đề còn lại với người làm sáng tác, là giải mật, giải thiêng cấu trúc này thế nào, với phương thức nào cho mới mẻ, phù hợp với ngôn ngữ thời đại anh đang sống và với nhiệm vụ riêng, không kém phần căn cốt, là tạo ra được hệ ngôn ngữ thi ca của mình. Qủa khó khăn, phải không thưa chị? Và để làm được những việc này, từ tiếp nhận đến chuyển hoá, dường như sức một con người trong một lần sống, chuyển hoá là chưa đủ. Nó còn được tích hội từ đâu đó nữa, phải chăng là điều mà chúng ta vẫn nói với nhau rằng "trời cho", là thứ siêu văn bản chăng?… Loanh quanh tôi lạ trở về "đổ lỗi" cho tâm linh, cho chữ "kiếp"…
4/ Vâng, thưa anh, tôi nghĩ rằng, trực giác, một thứ siêu tâm thức, bản thân mỗi người ít nhiều đều được trời cho, nhưng, mỗi người trong đời sống của họ, nếu không thường xuyên sử dụng như một cách nuôi dưỡng đều bị mất đi, bị lẩn khuất ở đâu đó. Nhưng có một nghịch lí rằng, khi ta có được một thành tựu, một kinh nghiệm, một vốn tri thức nào đó, dù rằng, nhờ trực giác, nhờ siêu tâm thức ta đạt tới, thì ngay lập tức, các kinh nghiệm, các thành tựu đó đã trở thành vật cản, thành giới hạn của chính bản thân mình. Anh có khi nào cảm thấy điều đó?
- Câu hỏi rất lý thú. Thưa chị, tôi luôn cảm thấy, nghiệm thức rõ về điều này. Trong sâu thẳm mỗi con người đều còn ẩn chứa bao tiềm năng. Bộ não, tâm thức chúng ta dường như một vũ trụ, một lòng đất sâu bí hiểm. Còn bao mỏ quặng, bao nguồn năng lượng chưa được biết tới…? Và rồi những rào cản lại được dựng lên mỗi khi những nguồn năng được khai mở. Ấy là khi cái gọi là "giá trị" được xác lập. Bởi trong lòng mỗi giá trị đều có tính tự mãn, kiêu hãnh của nó. Và đó là khi tri thức, kinh nghiệm bắt đầu trở nên rào cản cho việc tiếp cận nguồn trí năng khác nó, ngoài nó, mà trong khi "sáng tạo", bản chất của nó là làm ra cái mới mẻ, khác lạ, cái chưa từng có.
Tôi luôn ý thức được về đòi hỏi này trong công việc, vì vậy mà tôi rất ủng hộ những tác giả mới, có cống hiến về sáng tạo. Nhưng về bản thân thì không phải "cứ muốn mà được", tôi cũng luôn trong cảm giác bất lực khi đối diện với cây bút, trang giấy. Có lẽ, vượt qua chính mình, qua những thành công của mình cho những giá trị mới mẻ hơn, cao hơn luôn là "vật cản" với tất cả những ai có tinh thần sáng tạo, tìm đường…
5/ Anh đã vượt qua những rào cản của chính bản thân trong việc đọc và tiếp nhận như thế nào?
- Khi ta còn khát vọng cho cái mới, cho những tầm cao của chính mình thì ta còn đấy năng lực, bản lĩnh cần thiết để ra đi.
Về bản thân tôi, có vẻ tôi ít phải đối đầu với thách thức này. Vì tôi bản năng chăng? Tôi ít "tích luỹ" được kiến thức chăng? Kiến thức có trong tôi, không giấu gì chị, quả thức còn rất ít ỏi. Như những người bà con làng xóm, nông dân bên mình, tôi vừa làm vừa học. Học qua chính bài làm, trên "cánh đồng" của mình. Mà bài làm hôm nay, giống như cây lúa, nó chỉ là sản phẩm trả nợ cho mồ hôi công sức ngày hôm trước, khó đem ra trả nợ cho ngày sau đó nữa, nên mỗi kết quả đều có một giá trị hạn hữu. Nhưng với đời sống "sách vở", "phố phường", thì có điểm khác, tôi thường thấy không ít gương các tác giả bị vướng mắc khá nặng nề vì chính những thứ bài bản, "đại tập thành" mà họ có được. Điểm cần được vượt qua nhất cho công việc sáng tác - sáng tạo, là hai chữ "bài bản" chăng? Nói chung đây còn là một nhận thức ngoài tôi. Tôi khó trả lời chị cho thấu đáo được câu hỏi này.
6/ Như vậy, tôi vẫn cứ phải nói điều tôi thấy về anh là "anh cũng đã học được khá nhiều đấy. Khó thể nói khác". Điều khác là, nghĩa là, dù anh đã đọc khá nhiều, đã tích lũy được khá nhiều, nhưng để tiếp nhận các giá trị khác, anh lại phải gạt sang một bên những xác tín? Việc này hẳn nhiều khó khăn, vẫn cần được "tò mò", thưa nhà thơ ?
- A, thật khó, thật khó. Vâng, nói theo logic câu chuyện của chúng ta, là, rất khó khăn. Vì, như ta đã biết, mỗi giá trị là một trở ngại. "Gía trị" do tích luỹ được từ sự học hay do ta đạt tới được bằng sáng tác, dưới bất cứ hình thức nào, khi nó càng to lớn thì khả năng để vượt qua nó càng thêm bội phần khó khăn. Trừ khi ta đạt được những giá trị trong tính không, từ tính không. Song đây lại là vấn đề cách biệt nhau, vấn đề của các cơ sở nguyên lý. Còn khi trong lòng kiêu mạn của ta, "giá trị" lớn thành một trái núi thì vượt qua nó sẽ là điều không thể. Thế mới có khái niệm học để mà quên, học để tự làm rỗng mình. Và nữa, còn phải tính tới những trở ngại do tuổi tác, sức khoẻ, điều kiện sống nữa chứ.
6/ Anh có sự quan sát việc này ở những người khác không? Và có thể kể đôi điều những gì anh thấy được?
- Quan sát ư? Tất nhiên rồi, như trên tôi đã trình bày. Và thực tế, không cần mất nhiều công sức, sự tinh tế gì cho lắm, chúng ta đều dễ dàng nhận ra điều, rất nhiều, rất nhiều bạn đồng hành của chúng ta họ đã dừng lại trước những rào cản cuộc sống; phần do môi trường xã hội quẩn quanh, tù đọng, phần lớn hơn do căn bệnh tự thoả mãn với cái mình đã có. Đáng tiếc là trong số họ có cả người từng được xem là có tài.
Cũng cần phải nói thêm, có một điều gây cho tôi suy nghĩ nhiều. Hoàn cảnh, môi trường xã hội, thời đại, như biết, luôn có tác động, áp lực lên sáng tác của nhà văn xưa nay, dù ở Đông hay Tây là không hề nhỏ, thậm chí nó như một thứ quyết định luận. Thế nhưng, cũng là sống dưới một bầu xã hội, thể chế chính trị chung, ví như giữa Việt Nam với Liên Xô một thời. Vậy sao trong những năm 1950 - 1960, ở Liên Xô vẫn có được các tác phẩm, như Bác sĩ Zhivago, Trái tim chó, Nghệ Nhân và Margarita, Lolita.v.v.., dù là các tác phẩm này xuất bản thời gian nào, ở đâu, với thứ tiếng nào, trong khi ở nước ta thì không nhà văn nào viết được các tác phẩm như vậy? Vì sao? Do đâu? Câu trả lời, do Tài năng, Bản lĩnh, và nền tảng văn hoá được tập nhiễm ngàn đời đã tạo thành tập quán tư duy, tạo nên những thang giá trị "nhân cách kẻ sỹ" có điểm khác biệt, nên tinh thần sống khác biệt chăng? Qủa thế thì chúng ta phải làm thế nào để thoát ra, sống khác đi? Thưa chị, tôi rất trăn trở, nhiều khi thấy đau đớn, nhức nhối về điều này.
GV - ĐTK

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cái gì mà hi hi?


PHÁC THẢO TƯỢNG ĐÀI CHIẾN THẮNG CẦU SÔNG THƯƠNG
Quang Đại là họa sĩ duy nhất của Bắc Giang tham gia phác thảo tượng đài chiến thắng cầu sông Thương trong kháng chiến chống Mỹ. Các họa sĩ khác không hiểu vì lý do gì không tham gia. Có tin đồn cuộc thi chỉ là hình thức. Vậy vô tình một mình tôi làm "quân xanh" cho một cuộc thi có bày biện sẵn ai thắng từ đầu.
Tôi nhớ là mình đem nộp tác phẩm vào ngày hạn cuối cùng. Khi đó chỉ có khoảng dăm bảy tác phẩm.
Vậy mà sau này có rất nhiều. Những tác phẩm vào giải và đưa ra" xin ý kiến công chúng" đều là những tác phẩm mà tôi không thấy xuất hiện vào giờ hết hạn.
Nhiều bạn bè cho rằng có mẫu nào đó trong các mẫu đem trưng cầu giống với phác thảo của Quang Đại.
Tuy nhiên, tượng đài đã làm không hề giống.
Tượng đài hiện nay đã xong có một bố cục rời rạc, thiếu tập trung. Nhìn ảnh này còn tạm. Ngắm cá góc cạnh khác đều thấy vụn vặt.
Tôi đăng 3 phác thảo tượng đài của mình cho các bạn của mình coi thôi. Thực ra đây chỉ là phác thảo sơ lược thể hiện ý tưởng chứ thực ra trong thời gian tuần lễ chưa thể làm chi tiết được. Tuy nhiên cũng nhận được tài trợ 9 triệu đồng,
Tôi bị các bạn đồng nghiệp trách: S ao lại đi làm quân xanh cho chúng nó. Tôi cãi: Nhưng "chúng nó" cho tiền! HiHi!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mỹ thuật đương đại Nam Mỹ


image
Nghệ thuật thị giác Nam Mỹ từ xưa đến nay cho chúng ta thấy bị ảnh hưởng rõ rệt nền mỹ thuật của châu Âu. Tuy vậy nền mỹ thuật phong phú bản địa của Nam Mỹ vẫn giữ được bản sắc riêng của mình mặc dù có những ảnh hưởng từ nước ngoài. Hình thái mỹ thuật ở Nam Mỹ phần lớn bao  gồm các họa phẩm Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và baroque Pháp. 

image
Những họa phẩm này lại bị ảnh hưởng của các cây cọ người Ý. Do đó, có thể nói nghệ thuật thị giác của Nam Mỹ có gốc gác từ các hoạ sĩ châu Âu. Đến đầu thế kỷ 20, Nam Mỹ mới bắt đầu phát triển phong cách riêng của mình.

Truy tìm nguyên thủy của nền mỹ thuật Nam Mỹ, chúng ta có thể theo dấu những người thổ dân Inca là những người đầu tiên đã khai sinh nguồn gốc nghệ thuật này. Nghệ thuật của người Inca cũng chính là nền nghệ thuật cổ truyền của Nam Mỹ. Tiếp theo đó là cuộc cách mạng nghệ thuật đã gây thiệt mạng cho nhiều hoạ sĩ trong các vụ thảm sát. Tuy nhiên nghệ thuật truyền thống của người Inca vẫn tiếp tục được ngưỡng mộ cho đến ngày nay.

image
Nền mỹ thuật đương đại của Nam Mỹ đặc biệt là ở Brazil(Ba Tây) bao gồm những quan niệm thẩm mỹ mới. Đại diện của nó là một số nhóm hoạ sĩ cùng các hoạ sĩ độc lập mới nổi lên vào những năm 1930. Tuy nhiên, tác phẩm của họ đã rất tinh tế và là những tấm gương phản ảnh được đời sống xã hội. Mặc dù chúng xem rất giống với những phong cách truyền thống nhưng chúng không nhắm mục đích trở lại hình thái nghệ thuật cũ. Những hoạ sĩ đương đại nổi danh của Nam Mỹ sau này đã thiết lập các hiệp hội nghệ thuật như Bernadelli Nucleus, Nhóm Santa Helena v..v.. Một số các hoạ sĩ đương đại điển hình có thể nhắc đến như Candido Portinari, Antonio Berni, Fernando Botero v..v..

Fernando Botero

image
Fernando Botero Angulo (1932-...) là một họa sĩ của trường phái tượng trưng và là một điêu khắc gia của Colombia. Ông có một phong cách đặc thù nổi tiếng được gọi là "Boterismo". Lối vẽ này đặc biệt phóng đại hình dáng con người trong lối miêu tả. Mục đích để chỉ trích chính trị hay hài hước, giễu nhại tùy từng tác phẩm. Ông được xem như một nghệ sĩ được biết đến nhiều nhất mà còn sống của châu Mỹ Latinh. Những tác phẩm nghệ thuật của ông có thể được tìm thấy ở những nơi dễ nhận thấy nhất trên thế giới, chẳng hạn như Park Avenue ở thành phố New York và đại lộ Champs-Élysées ở Paris. 
image
Năm 1958, ông đã giành được giải nhất Salón de Artistas Colombianos của quốc gia ông. 

Làm việc nhiều năm ở Paris, ông đạt được sự công nhận quốc tế cho các bức tranh, bản vẽ và tác phẩm điêu khắc. Chúng được triển lãm trên khắp thế giới. Nghệ phẩm của ông được thu thập bởi nhiều viện bảo tàng quốc tế lớn, các tập đoàn, và sưu tập tư nhân. Năm 2012, ông nhận được The International Sculpture Center's Lifetime Achievement trong giải thưởng Contemporary Sculpture Award.

image
Mona Lisa by Fernando Botero

Mona Lisa được hoàn thành vào năm 1978 là một tác phẩm điển hình của phong cách Fernando Botero. Botero đã bắt đầu sự nghiệp của mình bằng cách sao chép những bức tranh nổi tiếng. Tuy nhiên, ông đã thêm vào nét đặc trưng và ý tưởng riêng của mình trong các bức tranh. Ông sử dụng những biểu tượng điển hình của Botero để tái tạo những tác phẩm này. Chúng ta có thể nhìn thấy từ các chủ đề lặp đi lặp lại của các tác phẩm của bậc thầy xưa như The Wedding Arnolfini bởi JanVan Eyck và Las Meninas của Diego Velazquez.

Nhưng bức tranh đáng chú ý nhất là "Mona Lisa". Botero đã vẽ nhiều bức của nàng Mona Lisa, ví dụ, "Mona Lisa Tuổi 12" là một bức tranh tưởng tượng phác họa Mona Lisa trong thời thơ ấu. Trong khi bức "Mona Lisa" này, chúng ta đang nói đến, là một kiệt tác của ông. 

image
Bố cục của nó tương tự như của Leonardo da Vinci, nhưng sự khác biệt là Botero đã thay nhiều hình ảnh trong tranh bằng cách sử dụng phong cách độc đáo của mình. Trong bức tranh này, khuôn mặt Mona Lisa phồng lên, thúc đẩy ước muốn của chúng ta muốn véo vào da nàng. Lại thêm cảnh núi lửa phun trào phía sau bên phải nàng tạo nàng một dáng vẻ rất ngây thơ và dễ thương. Ông đã tạo một hình ảnh Mona Lisa khác xa một Mona Lisa tinh tế và bí ẩn của viện bảo tàng Louvre. Thật vậy tuy tác phẩm của ông là một sao chép nhưng Botero không bảo thủ, ông đã đạt được mục đích của sự đổi mới bằng cách thay thế chủ đề.

Antonio Berni(1905-1981)

image
Delesio Antonio Berni là một hoạ sĩ ảnh hưởng phong cách tượng trưng(Figurative) của Argentina. Ông lại kết hợp thêm trường phái "New Realism(Tân hiện thực) và trở thành một hoạ sĩ Mỹ Latin của chủ nghĩa hiện thực xã hội. Tác phẩm của ông, bao gồm một loạt các tranh Collage miêu tả sự đói nghèo và những tác động của công nghiệp hóa ở Buenos Aires, đã được trưng bày trên toàn thế giới. Ông sinh ra năm 1905 tại thành phố Rosario, Argentina. Mất năm 1981 tại Buenos Aires, Argentina.

image
Juanito tocanto la flauta
Juanito tocando la flauta(1973)- 160x105,5cm- Dầu, thạch cao, các tông, vải, kim loại và các vật liệu khác nhau trên gỗ.

Sau năm 1950, các tác phẩm của Berni có thể được xem như là một sự tổng hợp của Pop Art và chủ nghĩa hiện thực xã hội. Năm 1958, ông bắt đầu thu thập và cắt dán hình ảnh phế liệu để tạo ra một loạt các sáng tác bao quanh một nhân vật tên là Juanito Laguna. 

Loạt tranh này trở thành một câu chuyện xã hội về công nghiệp và nghèo đói. Ông chỉ ra sự chênh lệch cực độ đã tồn tại giữa các tầng lớp quý tộc giàu có Argentina và kẻ nghèo điển hình là "Juanito" của các khu ổ chuột.
image
Như ông giải thích trong một cuộc phỏng vấn của tạp chí Le Monde 1967, "Một đêm lạnh, nhiều mây, trong khi đi qua các thành phố khốn khổ của Juanito, nhãn quan tôi đã thay đổi tận gốc rễ khi nhìn thực tại đang xảy ra ... Tôi vừa khám phá trong những con đường không vỉa hè là bãi rác. Đó là thế giới đích thực của Juanito, bao quanh anh toàn những vật phế liệu- gỗ cũ, vỏ chai, sắt, hộp các tông, kim loại tấm v..v.. 

image
Mà những vật liệu này trên được sử dụng để xây dựng các túp lều ở các thị trấn như thế này. Tất cả đều chìm nghỉm trong nghèo đói".

Candido Portinari(1903-1962)

image
Ông là một trong những họa sĩ quan trọng và nổi bật nhất của Brazil có ảnh hưởng phong cách Neon-realism(tân hiện thực) trong hội họa. Là con một gia đình nhập cư Ý từ Veneto, ông sinh ra trong một đồn điền cà phê gần Brodowski, ở São Paulo. Portinari học tại Escola Nacional de Belas Artes (ENBA) ở Rio de Janeiro. Năm 1928, ông đã giành được một huy chương vàng tại ENBA. Ông qua đời ở Rio de Janeiro năm 1962 vì nhiễm độc chì từ sơn của mình.

image
Criança Morta
Criança Morta (Đứa bé chết)-180x190cm-sơn dầu/1944
Năm 1944, Portinari bày tỏ mối quan tâm của mình đến tình trạng xã hội của những công nhân Brazil. Hoạ phẩm với phong cách "Expressionist" (Biểu hiện) này là một bày tỏ kín đáo sự oán thán cuộc sống xã hội thời ấy dưới một chủ đề "Cuộc sống trẻ em, di dân và mai táng"

Trong tranh chúng ta thấy một người mẹ khổng lồ đang cúi xuống ôm đứa trẻ đã chết. Bà mẹ với đôi chân cong và đứa trẻ trong vòng tay trông giống bức tượng "The Pieta" của Michelangelo họa sĩ người Ý. Bốn nhân vật phụ đứng quanh người mẹ đau khổ này.

Đứa bé chết với thân thể trần truồng, ốm giơ xương bảo cho ta biết nó chết vì đói. Đầu nó đưa ra phía trước, trong khi cánh tay phải thõng xuống phía mặt đất, hệt như Chúa Giêsu trong bức "The Pieta" và các tác phẩm thời kỳ Phục hưng khác.

Bối cảnh quanh người mẹ và đứa bé mang một màu sắc ảm đạm. Ở bên trái, người đàn ông giữ vai vợ mình, với tấm lưng oằn, như thể ông muốn truyền xuống cho bà sự an ủi, cảm thông. Một người phụ nữ nắm giữ đầu đứa bé chết bằng cả hai tay. Trong khi bên phải, người phụ nữ khác dắt tay một đứa trẻ mà khuôn mặt trông giống như mặt người lớn. 

Người chồng và hai phụ nữ kia rơi nước mắt, hạt to như đá, tượng trưng cho thực chất của nạn hạn hán và sự thống thiết của niềm đau. 

image



Trịnh Thanh Thủy

Tài liệu tham khảo:
Candido portinari, Fernando Botero, Antonio Berni, wikipedia

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện vui về Khổng Tử


image

Khổng Tử dạy học trò:

image

Khi ta đúng mà kẻ nào nói ta đúng thì kẻ đó là bạn ta.

Khi ta sai mà kẻ nào nói ta sai thì kẻ đó là thày ta.

Khi ta sai mà kẻ nào nói ta đúng thì kẻ đó là kẻ thù của ta.

Học trò xin hỏi:

image

Thưa thày, nếu khi ta đúng mà kẻ nào nhất định nói ta sai thì sao?

Khổng Tử trả lời:

image

Thì kẻ đó đích thực là vợ ta chứ còn ai nữa!!!

happy angry the lord of the rings wife husband

*****

Vì tôi là đàn bà!

Phần nhận xét hiển thị trên trang