Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2016

ASEAN LẠI KHÔNG THỂ RA TUYÊN BỐ CHUNG, VÌ CAMPUCHIA PHÁ




Các bộ trưởng ngoại giao ASEAN chụp ảnh trong phiên khai mạc hội nghị hẹp các 
bộ trưởng ASEAN tại Vientiane, Lào - Ảnh: AP.

Vấp phản đối của Campuchia, ASEAN không ra tuyên bố chung

Tuổi trẻ
25/07/2016 06:37 GMT+7

TTO - Các quốc gia thành viên ASEAN đã không thể tìm được tiếng nói chung cho những vấn đề tranh chấp tại Biển Đông trong phiên họp ngày 24-7 tại Vientiane, Lào. 

Theo Stratfor, bộ trưởng ngoại giao của 10 quốc gia thành viên ASEAN đã có cuộc họp đầu tiên kể từ sau khi Tòa trọng tài thường trực ở The Hague ra phán quyết ủng hộ Philippines và bác bỏ yêu sách đường 9 đoạn của Trung Quốc ngày 12-7.




Tại hội nghị, Philippines và Việt Nam mong muốn các bộ trưởng ngoại giao ASEAN sẽ cùng đề cập tới phán quyết của tòa trọng tài trong tuyên bố chung sau hội nghị.

Tuy nhiên Campuchia, đối tác thân cận nhất của Trung Quốc tại ASEAN, đã phản đối việc đề cập tới phán quyết này trong tuyên bố chung. Động thái khiến các nhà ngoại giao trong khối rơi vào tình huống không thể đạt được một thỏa hiệp cho vấn đề.

Lần đầu tiên ASEAN không thể ra được tuyên bố chung sau một hội nghị là năm 2012. Lần đó cũng là chính là Campuchia phản đối về vấn đề câu chữ liên quan tới Biển Đông.

Theo một quan chức ngoại giao đang có mặt tại hội nghị, ASEAN tự đặt ra hạn chót là ngày 26-7 sẽ phải đạt được một sự đồng thuận và ra tuyên bố chung của khối sau hội nghị.

Trong hai ngày tới, các thành viên ASEAN sẽ hội đàm với bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị và ngoại trưởng Mỹ John Kerry.

Mỹ, quốc gia đồng minh của Philippines đã kêu gọi Trung Quốc tuân thủ phán quyết của tòa trọng tài. Nước này cũng lên án Trung Quốc về việc xây dựng các đảo nhân tạo, đồng thời tiến hành các hoạt động tự do hàng hải ở gần những khu vực đảo, đá mà Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông.

Tuy nhiên ông Kerry cũng hối thúc các nước ASEAN tìm kiếm những phương án giải quyết bằng con đường ngoại giao nhằm hạ nhiệt căng thẳng trong các vấn đề tranh chấp trên biển.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Bác sĩ trưởng khoa” hay bi kịch một thời của người trí thức Việt Nam



Đặng Văn Sinh






Nếu đọc kỹ ở cấp độ sâu hơn, chúng ta sẽ nhận ra một điều, “Bác sĩ trưởng khoa”* không đơn thuần chỉ là cuốn tiểu thuyết hư cấu được hình thành trên nền tảng những đặc điểm của Chủ nghĩa hiện thực cổ điển rất phổ biến ở thế kỷ XX, đem đến cho người đọc những trang viết đầy cảm xúc, mà phía sau nó, còn một hồ sơ chuyên môn, được ghi chép trung thực bởi một nhà văn, vốn là chuyên gia phẫu thuật, dưới dạng những đoạn hồi ức như một thủ pháp đông hiện, phơi bày những góc khuất của ngành y mà dư luận công chúng chưa từng biết đến. Đồng thời, cũng từ mặt trái của chuỗi bệnh viện công, người ta có quyền suy luận đến hiện trạng xã hội, một hiện trạng rất không bình thường, ẩn chứa nhiều rủi ro bất trắc, liên quan đến số phận cộng đồng nhưng lại bị giấu kín qua lớp vỏ bọc hào nhoáng.

Vấn đề của “Bác sĩ trưởng khoa” là vấn đề thời đại. Tinh thần thời đại ấy bao quát mọi hoạt động xã hội. Nó dường như đã trở thành một hình thái văn hóa, đạo đức chi phối hành vi và nhân cách mỗi viên chức trong hoạt động chuyên môn hàng ngày. Nói như vậy, có nghĩa là, mỗi một kíp mổ và quá trình mổ xẻ trong bệnh viện nào đó, đều được xem như một công đoạn vận hành của cấu trúc xã hội. Vì thế, nó không dừng lại ở những y cụ như dao kéo, panh, bông gạc hay gây mê, hồi sức… mà còn là tâm thức xã hội, sự tử tế hay bất lương, và rộng hơn là triết lý sống mang trong mình nó tư tưởng nhân văn hay lạnh lùng vô cảm của cả một cộng đồng.

Về mặt bố cục, chỉ cần đọc vài trang ở bất cứ phần nào của cuốn tiểu thuyết, chúng ta dễ dàng nhận ra những chỉ dấu của phương pháp Hiện thực cổ điển qua lối kể đơn tuyến kết hợp thủ pháp hồi cố với nỗ lực đan cài sự kiện theo trình tự thời gian tuyến tính. Tuy nhiên, giới hạn phân cách giữa dòng chủ câu chuyện với các phụ lưu của “Bác sĩ trưởng khoa” lại khá mờ nhạt, đôi lúc bị xóa nhòa, khó phân biệt được đâu là lời dẫn với mạch hồi tưởng của cùng một sự kiện nhưng lại được định vị ở những khoảng thời gian khác nhau. Sự lệch pha giữa trực tiếp và gián tiếp trong cách xử lý văn bản đương nhiên là gây khó khăn cho việc tiếp nhận nắm bắt mạch truyện, đôi khi cũng là một biện pháp nghệ thuật, có tác dụng như chiếc phanh hãm nhằm điều tiết trạng thái cảm xúc, tạo ra những khoảng “lặng” để người đọc có sự chuẩn bị cần thiết về mặt tâm lý trước khi tìm hiểu những phần tiếp theo câu chuyện.

            Nhân vật chính, bác sĩ Trần Tử Khang xuất hiện thường xuyên suốt 470 trang sách, nhưng quá trình hoạt động của ông luôn bị gián cách bởi các trường đoạn, lúc thì được chèn vào bằng ca phẫu thuật của một bác sĩ non tay nghề cắt nhầm nội tạng bệnh nhân dẫn đến tử vong nhưng vẫn vô can (!?), đơn giản chỉ vì anh ta có lý lịch bần cố nông; lúc lại kéo dài cả một chương phơi bày mưu lược triệt hạ đồng nghiệp của những quan chức thiếu bản lĩnh chuyên môn nhưng thừa thói đố kỵ nhân tài. Cũng có đoạn trình bày khá tỉ mỉ về gia cảnh Đặng Vũ Hoàng Anh mà ông bố là cán bộ cao cấp của Đảng, được tiêu chuẩn mua hàng Tông Đản, mỗi khi có việc “nhạy cảm” cần phải bí mật thì ông bà nói với nhau bằng tiếng Pháp, nhưng lại rất dị ứng với thành phần xuất thân có nguồn gốc “nhà quê” của Trần Tử Khang nên đã dùng cả những thủ đoạn không mấy tử tế cho con gái ly hôn mà chẳng mảy may để tâm đến đứa cháu ngoại vẫn còn trứng nước. Đó là chưa kể đến những cảnh tượng kinh hoàng ở một trạm phẫu tiền phương sau trận không kích của máy bay Thần Sấm, Con Ma mang tính hủy diệt được phục hiện làm bối cảnh cho sự phát triển của mạch truyện.

Như vây, về mặt tổng thể, ở phần bình diện, “Bác sĩ trưởng khoa” như một bức tranh toàn cảnh với những điểm nhấn khác nhau, chia đều cho cả hai miềm Nam Bắc về sự khốc liệt của chiến tranh. Tình cảm, lương tri và nhân cách con người bị hủy diệt không chỉ bởi súng đạn, mà còn bởi ý thức hệ. Học thuyết Đấu tranh giai cấp, chủ nghĩa lý lịch là thứ vũ khí vô cùng sắc bén để loại bỏ một cách có hệ thống giai tầng trí thức. Nếu có ai đó may mắn thoát thoát khỏi những cuộc đấu tố trong Cải cách ruộng đất hay Cải tạo tư bản tư doanh thì cũng bị vô hiệu hóa, biến thành những công chức gọi dạ bảo vâng, sống vật vờ như các xác không hồn.

Qua hệ thống nhân vật, xét về tương quan thế lực, người đọc không khó nhận ra, đây là một cuốn tiểu thuyết được dàn dựng khá mất cân đối. Trước khi bàn về vấn đề này, chúng ta nên tìm hiểu thêm một chút về phương pháp sáng tác mà người viết bài đã đề cập ở phần trên. Không còn nghi ngờ gì nữa, “Bác sĩ trưởng khoa” là tiểu thuyết được sáng tác theo khuynh hưởng Hiện thực cổ điển xuất hiện ở Việt Nam vào những năm ba mươi của thế kỷ XX với hai tuyến nhân vật chính diện và phản diện (hoặc thiện và ác). Các nhân vật này đấu tranh với nhau phản ánh những mâu thuẫn xã hội, những xu hướng chính trị… thể hiện quan điểm sáng tác của người cầm bút qua hàng loạt biến động lịch sử. Nhân vật, rất nhiều trường hợp trở thành người phát ngôn cho tác giả về quan điểm thẩm mỹ, tư tưởng thời đại cũng như cách nhìn nhận lịch sử. Vì thế, với tiểu thuyết Hiện thực chủ nghĩa, hệ thống nhân vật chính là linh hồn tác phẩm. Số lượng nhân vật và sự tương quan giữa hai tuyến chính diện và phản diện thường không có quy định rõ ràng, mà tùy vào hoàn cảnh cụ thể, nhà văn tạo ra chúng theo yêu cầu nội tại của tác phẩm, miễn là phù hợp và cân đối với cấu trúc tổng thể.

Trở lại với “Bác sĩ trưởng khoa”, nói theo quan điểm của các nhà nghiên cứu theo trường phái Hiện thực xã hội chủ nghĩa, thì nhà văn Vũ Oanh rất “mất lập trường chính trị” khi mà ông chỉ để cho một bác sĩ Trần Tử Khang đứng chênh vênh trên “chiến tuyến” ý thức hệ “tiểu tư sản bấp bênh”, còn bên kia là cả một đám đông, mang danh đồng nghiệp nhưng thực chất lại rất khác nhau về tầm vóc văn hóa, kỹ thuật chuyên môn và cả phẩm giá con người. Họ nhân danh lý tưởng cao đẹp, khoác trên mình đủ thứ học hàm, học vị, chức danh xủng xoảng, nhưng thực chất lại là lũ hoạt đầu, kiến thức nông cạn, trong đầu chứa đầy mưu ma chước quỷ, rình cơ hội chèn ép nhân tài, hãm hại người trung thực. Công sở, bệnh viện, thậm chí các cơ quan nghiên cứu trở thành diễn trường đấu đá, sẵn sàng hạ gục nhau giành quyền lực, bổng lộc, cho dù trong cuộc họp vẫn gọi nhau là “đồng chí”(!?).                         

“Bác sĩ trưởng khoa” được nhìn nhận như bức tranh với gam chủ đạo màu xám, khi mà, một bác sĩ Trần tử Khang phải đối đầu với cả một tập thể các nhà chuyên môn bị tha hóa. Bệnh thành tích, thói háo danh và sự ghen ghét người khác hơn mình đã ăn mòn lương tâm họ. Trần Tử Khang cho dù có đôi bàn tay vàng cũng không thể nào giải phẫu được căn bệnh nan y này, một khi nó đã hằn sâu trong não bộ của những Phạm Quang Minh, Bùi Cường, Lã Hồng Quân hay Đinh Mãn Độ…

Có thể nói, ngay sau khi ra trường, cho dù là học trò yêu của Giáo sư Tôn Thất Tùng, Trần Tử Khang đã phải sống trong một môi trường xã hội không bình thường mà hệ tư tưởng của nó được thiết kế dựa trên nền tảng ý thức hệ vô sản, lấy Đấu tranh giai cấp làm động lực phát triển. Học thuyết Đấu tranh giai cấp luôn gắn với động loạn xã hội. Những cuộc xung đột sắc tộc hay nội chiến đều được nhân danh lý tưởng cao siêu cùng với nghệ thuật tuyên truyền thượng thặng đã tạo nên hội chứng đám đông, huy động được hàng triệu cá thể sẵn sàng “bỏ bút nghiên theo nghiệp binh đao”. Cuộc chiến tàn khốc, dai dẳng đã hủy hoại sinh lực cộng đồng, tàn phá nguyên khí quốc gia, biến những công trình văn hóa phải mất nhiều thế kỷ mới tạo dựng được thành phế tích.

Trong bối cảnh xã hội lúc ấy, Trần Tử Khang không thể từ chối vào chiến trường. Anh chỉ là con tốt trên bàn cờ thế sự. Người ta sẵn sàng thí tốt chứ không đời nào thí xe, cho dù “con tốt” ấy có một bàn tay tài hoa và cái đầu tỉnh táo, biết phân tích tình hình thời cuộc ở trình độ bậc thầy của những chính khách “xôi thịt” xuất thân từ giai cấp công nông.

Hàng loạt trí thức tài năng như Trần Tử Khang bị đưa vào chiến trường với đầy đủ lý do không thể chối cãi, nhưng nguyên nhân đích thực của nó thì người ta lại cố tình lờ đi. Chính vì thế mới có chuyện, phó tiến sĩ “hữu nghị” Phạm Quang Minh hay bác sĩ Đinh Mãn Độ, được bổ nhiệm làm giám độc bệnh viện chỉ vì có các bậc sinh thành là cốt cán trong thời kỳ Cải cách ruộng đất.

Sau nhiều năm lăn lộn ở chiến trường, tuy thân xác vẫn nguyên vẹn, nhưng tâm hồn Trần Tử Khang bị thương tổn nặng nề. Ra khỏi cuộc chiến, Khang trở thành con người hoàn toàn khác cho dù tay dao của ông vẫn duy trì phong độ của một phẫu thuật viên hàng đầu. Nói cách khác, sự tổn thương về tinh thần của người bác sĩ phẫu thuật phải được nhìn ở góc độ tư tưởng triết học. Vết thương ấy chẳng những không lành mà còn di căn như một khối u ác tính luôn gây ra những cơn kịch phát mỗi khi trái gió trở trời.

Thân phận của Trần Tử Khang chính là bi kịch của lớp trí thức tài năng, chứa chan nhiệt huyết nhưng gần như suốt đời không được trọng dụng bởi chủ trương “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ”, mà trớ trêu thay, thành phần nguyên khí quốc gia ấy, từng được Thân Nhân Trung coi là bảo vật, khắc vào bía tiến sĩ, lại là những kẻ đầu tiên bị triệt hạ. Chưa hết, những kẻ lãnh đạo cơ hội còn dùng đủ mọi “mưu hèn kế bẩn” hạ nhục người bác sĩ tài hoa, mà một trong những trò đó là đẩy cho ông mổ những ca khó, ca nặng, chỉ cần sơ sẩy một chút là kỷ luật “treo dao”.

Ở đây như có một nghịch lý nhưng buộc phải chấp nhận, cuộc đời này không có chỗ cho những người như ông dung thân, chưa nói là thi thố tài năng. Người ta không cần một cá nhân nổi trội vượt lên trên dàn lãnh đạo thiển cận nhưng vô cùng ngạo mạn, mà họ cần một đám đông vô danh được giáo dục theo phương thức phục tùng mệnh lệnh một khi đã có nhóm người “ưu tú” suy nghĩ thay cho cả dân tộc.

Muốn lý giải hiện tượng này, ta hãy điểm lại một vài chân dung nhân vật, những “gương mặt thời đại” của ngành y, một lĩnh vực đặc biệt gắn liền với sinh mệnh con người, nhưng các vị trí chủ chốt trong cơ cấu hoạt động lại được trao vào tay những kẻ dốt nát, cơ hội, hãnh tiến và ham hố thành tích như Phạm Quang Minh, Bùi Cường, Lã Hồng Quân, Đinh Mãn Độ. Điều đáng lo ngại ở đây lá, sự dốt nát, tính cơ hội cũng như thói đố kỵ nhân tài ấy lại được hợp thức hóa dưới danh nghĩa “tập thể lãnh đạo”. Chiêu bài “tập thể”, “tổ chức đảng”, “lập trường” hay “ý thức giác ngộ giai cấp”…thực chất chỉ là những cái ô bảo kê cho sự lộng hành của những cán bộ tha hóa nằm trong hệ thống quản lý khá chặt chẽ, được gia cố bằng tư tưởng Marxisme giáo điều và tinh thần tiến công cách mạng nơi đầu môi chót lưỡi: “Cái tài rồi thì sớm muộn gì cũng rèn dạy được. Có ngô nghê, ú ớ thế nào rồi cũng thành. Cứ vào các trường đại học của ta, là chúng mày dù có thần kinh, đần độn, ngớ ngẩn… cũng sẽ thành nhân tài tuốt tuột. Chứ còn cái lý lịch làm sao thay đổi? Cái đạo đức của tầng lớp địa chủ tư sản và người lao động cũng thế. Là ta chỉ rèn giũa đào tạo những con người ưu tú, từ con cái của giai cấp công nông lao động trong sạch, những gia đình cách mạng kiểu mẫu mà thôi”(tr. 287-288).

Phó tiến sĩ Phạm Quang Minh, Giám đốc Bệnh viện quân y 101 là trở ngại đầu tiên của Trần Tử Khang khi ông có ý định ra khỏi quân đội sau nhiều năm phục vụ chiến trường. Đại tá Phạm Quang Minh có đầy đủ phẩm chất của một trí thức công nông, trong đó, thói kiêu ngạo cộng sản (Lenin) và “lập trường giai cấp” vững vàng chính là kim chỉ nam của “quy trình” vô hiệu hóa nhân tài. Ông ta luôn tìm mọi cách dìm họ xuống để mình nổi bật lên: “Minh xuất thân bần nông. Là người được cấp trên nâng đỡ và tin cậy ngay từ khi tham gia cách mạng…vào Đảng lúc mười tám tuổi, rồi học y tá. Sau chống Pháp ông học y sĩ, rồi tôt nghiệp đại học. Sau khi nhận danh hiệu Anh hùng trên đường Trường Sơn, ông được ra Bắc học chuyên khoa ngoại cấp hai. Và sau cùng, ông có bằng phó tiến sĩ y khoa…vừa đúng mười sáu năm ròng” (tr. 26 – 27). Ngoài bệnh háo danh hành xử theo cách tiểu nhân như chiếm đoạt công trình khoa học của người khác,  Phạm Quang Minh còn là một kẻ lạnh lùng, tàn nhẫn trong cách cư xử với đồng nghiệp: “Không có thằng này, những ca khó khăn như thế, và những ca phẫu thuật gan, mật, đại tràng, trực tràng, thực quản… Ai mổ? Bác sĩ ngoại khoa đông nhưng họ chưa làm được. Tại sao thằng này mổ giỏi nhiều mặt bệnh… chỉ có một mình nó xử lý an toàn ” (tr. 15). Bộ mặt thật của viên đại tá phó tiến sĩ rởm một lần nữa lại được bóc trần qua diễn biến tâm lý của ông ta: “Mình cương quyết không cho nó đi. Chỉ cho nó làm phẫu thuật viên và bác sĩ điều trị. Không cho danh hiệu “Thầy thuốc ưu tú”. “Thầy thuốc nhân dân” lại càng không được! Mấy năm nay nó đòi ra quân liên tục. Đừng hòng! Đừng có tưởng bở! Tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, chứ đâu phải bọ quân hồi vô phèng” (tr.16).

Để vô hiệu hóa Trần Tử Khang, Phạm Quang Minh đã huy động cả hệ thống tổ chức. Viên đại tá rất phấn khởi khi đọc được những dòng “bút phê” trong lý lịch của đồng nghiệp từ chiến trường gửi ra: “Từ khi Khang mới về, ông đã đọc kỹ lý lịch, nhất là những nhận xét của người chỉ huy ở chiến trường B3 Tây Nguyên. Họ lưu ý các cấp chỉ huy về tư tưởng lệch lạc, phi vô sản và lập trường bấp bênh của viên trung úy bác sĩ. Trong đó ghi rõ, đã kiểm điểm với quy mô sâu rộng, cả về thời gian cũng như số người tham gia phê phán. Cần phải theo dõi giáo dục lâu dài, vì bản chất giai cấp thì rất khó cải tạo, thay đổi(tr.14). Đọc đến đây ta phải hiểu được ẩn ý của tác giả phía sau những con chữ. Buồn thay cho nền y học nước nhà khi mà những kẻ thiển cận ở tầm học vấn “bình dân học vụ”, lại nhân danh lập trường này, tư tưởng nọ để làm một công việc ngược đời là “giáo dục” tầng lớp trí thức(!?). Cách hành xử trái quy luật tự nhiên và  đạo lý đã dẫn đến những hệ lụy mà cái giá phải trả rất không nhỏ khi con người được dùng làm vật thí nghiệm cho những thầy thuốc thiếu trình độ chuyên môn nhưng lại rất vững vàng quan điểm, lập trường. Trường hợp “bán dao” của Phạm Quang Minh hay Bùi Cường và Lã Hồng Quân trong các ca phẫu thuật không phải là hiếm một khi nó trực tiếp liên quan đến tính mạng con người. Cử chỉ”xuống thang” của của vị phó tiến sĩ đối với Trần Tử Khang xem ra có phần sượng sùng: “Ca này ổ bụng dính đặc như bí. Khang mổ được không? Khang vào làm giúp” (tr.18). Còn Lã Hồng Quân, tuy đã mấy lần buộc phải “bán dao” để mong cứu sống bệnh nhân sau cái chết oan ức của lão Mộc Đen nhưng vẫn trâng tráo thỏa thuận với Trần Tử Khang một “hợp đồng’ hết sức vô liêm sỉ: “Bây giờ tôi thống nhất thế này…Từ nay, mỗi ca lớn nhỏ, tôi đều vào mổ với bác. Ta cùng làm với nhau. Về danh nghĩa, tôi là bác sĩ Chuyên khoa cấp hai, lại là trưởng khoa, là lãnh đạo. Tôi đứng tên, tôi che chắn cho bác trên phương diện pháp ký và đối ngoại. Tức là tôi sẽ phải đối mặt với các vụ kiện cáo… Để bác rảnh tay, chuyên tâm mổ xẻ. Mà có thế, giám đốc Bùi Cường mới chịu ký duyệt cho mổ. Trong hoàn cảnh hiện nay, không có tôi, bác không thể làm ăn gì được” (tr. 324).

Bộ sưu tập về “trí thức bần cố” trong “Bác sĩ trưởng khoa” còn phải kể đến Nguyễn Quý Thân, Phạm Quang Thoảng, Bảo Hiên, Phạm Phát… Tất cả những nhân vật tai tiếng này đều có một thứ báu vật vô giá bảo hiểm cho sự cất nhắc địa vị mà Trần Tử Khang dù có nằm mơ giữa ban ngày cũng đành chịu phép, là nguồn gốc xuất thân. Lý lịch trong sạch lúc ấy quan trọng lắm.  Các nhà lãnh đạo nhìn cái gì cũng có tính giai cấp, kể cả khoa học và người làm khoa học . Chính vì thế, một gã lưu manh như Lã Hồng Quân, chỉ nhờ mấy đôi lợn giống và một bữa rượu thịt chó ông bố tiếp đãi ban tuyển sinh huyện mà được xét tuyển vào đại học Y khoa: Lý lịch và đạo đức thằng cháu Quân đây, là tuyệt vời rồi! Cả bố mẹ đều cố nông và đều là du kích thời đánh Pháp oanh liệt. Thế mày thích đại học, hay thích vào bộ đội, hở Quân? Đằng nào khoái hơn?” (tr. 288). Với loại thầy thuốc như Lã Hồng Quân, con bệnh qua tay anh ta không nhanh chóng ra nghĩa địa mới là sự lạ: “Họ im lặng nghe giám đốc Bùi Cường lăng xê trưởng khoa Ngoại mới. Anh ta vốn dốt, bỗng chốc thông minh; thiển cận lập tức trở thành sáng suốt, nhìn xa trông rộng; hiểu biết ít ỏi, nông cạn, thoắt đã uyên bác, hàn lâm… thoắt cái đã là bác sĩ chuyên khoa cấp hai và chễm chệ ngồi ghế trưởng khoa”(tr. 290). Sở dĩ đồng nghiệp ở bệnh viện Hồng Phúc đàm tiếu về tư cách tân trưởng khoa Ngoại - Sản với lời lẽ không mấy tốt đẹp như vậy, một phần cũng bởi cái chức danh chuyên khoa cấp hai có được của anh ta là do ăn cắp luận án: “Giáo sư Nguyễn Đức Tấn cho Quân mượn cái luận án của học trò cũ từ hơn mười năm trước. Quân sao lại một bản rất sạch sẽ. Đề tài ‘Mổ điều trị thủng ổ loét dạ dày, tá tràng’. Quân có thêm bớt một số chữ, vài câu, vài dòng ở mỗi trang, mỗi đoạn. Cái thủ thuật sáng tạo ấy thì Quân giỏi. Các bảng biểu, phân tích, biện luận…trong luận văn đều được giữ nguyên. Chỉ thay đi những con số người bệnh mổ và ngày tháng năm viết luận văn ở cuối. Tổng số mổ khâu lỗ thủng dạ dày trong luận án của Quân lớn hơn bất cứ ai đã bảo vệ trước đó. Người ta có kiểm tra những con số trên mặt giấy với bệnh nhân được mổ thực bao giờ! Quân thuê làm vi tính, in ra nhiều bản. Và Quân bảo vệ tại Hội đồng Giáo sư cấp nhà nước, do chính tiến sĩ Nguyễn Đức Tấn đứng vai Giáo sư chủ tịch”(tr.275).

Còn Đinh Mãn Độ thì dùng ngón nghề “B quay hợp pháp” để leo dần từ gã y tá quèn chuyên bưng bô đổ vịt đến chức vụ giám đốc bệnh viện tỉnh rồi trở mặt trả thù những người từng cưu mạng mình.

Phạm Quang Minh, Bùi Cường, Lã Hồng Quân, Phạm Phát, Thủ, Nguyễn Quý Thân, Nguyễn Chủng, thậm chỉ cả GS.TS. Nguyễn Đức Tấn, PGS.TS. Lương Ngọc Bình… đều có một mẫu số chung là trí tuệ thấp kém nhưng không hẳn là những kẻ xấu xa bẩm sinh. Họ là sản phẩm của một xã hội khuyết tật, được thăng tiến dựa trên tiêu chí thành phần giai cấp. Môi trường xã hội ô nhiễm chính là điều kiện lý tưởng để nuôi dưỡng những dục vọng thấp hèn.

Một điều rất đáng bàn nữa trong “Bác sĩ trưởng khoa” là nhân vật Trần Tử Khang, không hiểu do vô tình hay cố ý, được xây dựng trong tình trạng cô đơn. Tuy nhiên, đây không phải là sự cô đơn tâm lý của một cá nhân bất đắc chí, mà là của cả một thế hệ trí thức được đào tạo bài bản ở thời kỳ còn ít nhiều chịu ảnh hưởng của nền giáo dục phương Tây, bị học thuyết Đấu tranh giai cấp loại khỏi cộng đồng bằng những ngón đòn triệt hạ chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Nhìn lại quá khứ, hầu hết các vương triều phong kiến Việt Nam đều trọng dụng kẻ sĩ, coi trí thức là nguyên khí quốc gia. Vì thế, triều đình thường có chiếu cầu hiền cùng với quy chế tiến cử nhân tài. Thế nhưng, khi lịch sử Việt Nam mở sang trang mới, đất nước không còn giặc ngoại xâm, thì những đối tượng bị thanh trừng hoặc vô hiệu hóa đầu tiên lại là thành phần tinh hoa của dân tộc.

Trần Tử Khang cô đơn vì ông không có điều kiện thi thố tài năng cứu người bênh, chấn hưng nền y học èo ọt ngày càng nhếch nhác bởi hệ thống quản lý yếu kém và tệ tham nhũng đã trở thành quốc nạn. Nỗi buồn của ông cũng là nỗi buồn của cả một dân tộc chỉ có thói quen nhìn lại phía sau, vui vẻ gậm nhấm dần vinh quang có thật và tưởng tượng trong mớ bùng nhùng của lịch sử mà ít khi dám ngẩng đầu nhìn đến tương lai.

Từ những đoạn hồi ức được phục hiện bên cạnh những trường đoạn của thời hiện đại, giống như kỹ xảo đồng hiện trong phim truyện, người đọc có thể hình dung được thân thế, sự nghiệp cùng nhân cách của Trần tử Khang qua sự dàn dựng bố cục không mấy mạch lạc của văn bản. Những dính dấp trong mạch truyện, phương pháp diễn đạt không liền mạch cũng như thủ pháp hòa trộn giữa ngôn ngữ kể với ngôn ngữ nhân vật luôn tạo ra những mê cung, đánh đố người đọc trước mỗi ngã rẽ, khiến ta không thể phán đoán ngay được ý đồ của tác giả.

Phải thừa nhận một điều là, xung quanh Trần Tử Khang có khá nhiều đàn bà. Ông có sức hấp dẫn phụ nữ như nhụy hoa thu hút bầy ông tìm mật. Tuy thế, cuộc đời tình ái của người bác sĩ tài hoa này lại hoàn toàn không suôn sẻ. Với người phụ nữ nào Trần Tử Khang cũng bị phản bội trừ Trần Lam Khương.

Đến đây, người đọc lại nhận ra, cấu trúc mất cân đối trong “Bác sĩ trưởng khoa” xâm thực sang cả địa hạt ái tình. Cách viết về tình yêu, hôn nhân của Vũ Oanh hầu như đều trượt ra khỏi quỹ đạo chính tắc. Các mối quan hệ trong cuốn tiểu thuyết, dù là tình yêu, tình dục hay đơn giản chỉ là sự lợi dụng lẫn nhau đều phát triển nương theo quy luật tự nhiên mà không bị gò ép vào những tiêu chuẩn đạo đức giả vốn chỉ được đặt ra để các “đồng chí” giăng bẫy triệt hạ nhau.

Đọc “Bác sĩ trưởng khoa”, ta có cảm giác như người viết cố tình xây dựng hai cốt truyện đan cài vào nhau trên cùng một văn bản nghệ thuật. Cốt truyện về chuyên môn thì đầy rẫy những pha đấu đá, lừa lọc, thanh toán nhau trong bệnh viện bằng các biện pháp “tổ chức”, còn cốt truyện về tình yêu, hôn nhân thì lại cho ta một cái nhìn toàn cảnh về phông văn hóa của những người thầy thuốc tự nhận là trí thức, trong đó, không hiếm trường hợp huy động cả thành phần xã hội đen vào cuộc để thỏa mãn sự ghen tuông mà trong đó, chi tiết khá điển hình là cuộc hành hung Đào Thị Như Hoa (tr 113 - 120).

Phần lớn các mối quan hệ nam nữ trong “Bác sĩ trưởng khoa” đều đươc “giao dịch” ở phía bên kia của sự minh bạch. Danh xưng “tổ chức” giam hãm con người trong cái lồng của hệ ý thức giáo điều, duy ý chí, biến họ thành những cỗ máy vô cảm. Chủ nghĩa xã hội có tham vọng giáo dục công dân của mình thành những vị thánh. Trong xã hội không tưởng đó, tình yêu nam nữ được xếp vào phạm trù đạo đức. Yêu đương vụng trộm là tội lỗi. Tình cảm tự nhiên vốn được tạo hóa ban cho, qua một thời gian dài bị khống chế quá giới hạn chịu đựng, tự nó sẽ gây ra những đột biến giống như hiện tượng “tức nước vỡ bờ”. Đến lúc ấy, những dạng thức ngoại tình mà nòng cốt của nó là tình dục phát triển thành dòng ngầm, lúc ẩn lúc hiện, vô cùng sinh động với kỹ xảo biến hình  như trò chơi ảo thuật.

Đặng Vũ Hoàng Anh và Ngô Ngân Hà là hai người phụ nữ từng đi qua cuộc đời Trần Tử Khang để lại trong ông những vết thương lòng. Với Đặng Vũ Hoàng Anh, khi còn là sinh viên trường y, cô có một tâm hồn trong sáng, dâng hiến con tim non trẻ, cuồng nhiệt của mình cho tình yêu. Thế nhưng, Hoàng Anh được sinh ra trong một gia đình cán bộ cao cấp mà ông bố và bà mẹ đều nhiễm thói kiêu căng, hợm hĩnh cũng như thấm nhuần sâu sắc học thuyết Đấu tranh giai cấp. Từ một thiếu nữ hồn nhiên, yêu đời, Hoàng Anh bị tha hóa, phản bội chồng từ chính nhân sinh quan méo mó của những bậc sinh thành. Từ một bác sĩ được đào tạo bài bản, tương lai đầy hứa hẹn, trở thành gái bao, từ chối nghĩa vụ làm mẹ, ăn chơi thác loạn, Hoàng Anh cũng như Ngân Hà và Bảo Hiên chính là kết quả của nền giáo dục nhồi sọ, luôn véo von tự ca ngợi mình bằng những bài văn sáo rỗng.

Với Trần Tử Khang, mối tình ấy ám ảnh ông suốt đời, thì ngược lại, Đặng Vũ Hoàng Anh coi đó chỉ là thứ trò chơi mơ mộng nhất thời của tuổi học trò nên sẵn sàng rũ bỏ chạy theo những thứ phù vân.

Ngô Ngân Hà thừa hưởng được của bố mẹ vốn là tiểu thương sự tính toán hơn thiệt kể cả ở địa hạt tình yêu, làm sao có lợi nhất trong các phi vụ làm ăn. Thời điểm ấy, bác sĩ đối với cô chỉ là nghề tay trái. Cho dù được đào tạo chính quy, “vừa hồng vừa chuyên”, lại có biên chế chính thức trong bệnh viện Hồng Phúc nhưng cô ta lại sống bằng nghề môi giới vật liệu cho những chủ thầu xây dựng. Ngân Hà đi học lấy bằng thạc sĩ y khoa nhưng chưa bao giờ dám cầm dao mổ, đến khi mở phòng khám riêng, bệnh nhân xẩy ra sự cố lại phải nhờ đến Trần Từ Khang. Là một kiểu phụ nữ ham mê nhục dục, bất cần các quy chuẩn đạo đức tối thiểu, sống buông thả, tuy đã qua mấy đời chồng, sẵn sàng lên giường với bất cứ người đàn ông nào, nhưng Ngân Hà chưa bào giờ thỏa mãn. Cuộc làm tình đầu đời giữa Ngân Hà với anh lái xe Trường Sơn trên đường đi thăm người yêu được Vũ Oanh tái hiện như là sự nổi loạn giới tính đầy sức thuyết phục. Đó chính là sự khởi đầu cho một chuỗi sự kiện xẩy ra sau này làm nên tính cách rất khác thường của người nữ bác sĩ kể cả khi cô ta đã leo lên đến chức vụ Bí thư đảng ủy, phó giám đốc bệnh viện Hồng Phúc.

Cuộc hôn nhân bất đắc dĩ của Ngô Ngân Hà với Nguyễn Quý Thân đầy kịch tính khi mà nửa đêm cô ta lẻn dậy bắt quả tang ông chồng già đang làm tình với con Ô sin Thị Nở ngay trên giường mẹ đẻ, hay sự gá nghĩa muộn màng chẳng phải vì tình yêu với Trần Từ Khang, đều là những trò chơi tạm thời trong hành trình tha hóa nhân cách. Xét đến cùng, cả Đặng Vũ Hoàng Anh, Ngô Ngân Hà, thậm chỉ cả bác sĩ Bảo Hiên, cũng là những phụ nữ đáng thương, bị cuộc đời lừa lọc nên tìm mọi cách trả thù đời mà Trần Tử Khang, một trí thức ngu ngơ, ngẫu nhiên rơi vào tầm ngắm của họ.

Như vậy, về mặt sự nghiệp, Trần Tử Khang hoàn toàn thất bại, nếu nhìn nhận theo quan điểm của những kẻ cơ hội, bợ đỡ, nhưng ông đã để lại dấu ấn đậm nét trong lòng người bệnh về tài năng và nhân cách.  Trần Tử Khang, với tư cách là một nhà khoa học, một nghệ sĩ có bàn tay vàng trong làng phẫu thuật tầm cỡ quốc gia, không học hàm, học vị, không chức danh, chức vụ, nhưng thật sự là một thầy thuốc nhân dân, cho dù bị cả một hệ thống quyền lực xúm nhau lại đánh đòn hội chợ. Về mặt tình yêu, gia đình, Trần Tử Khang cũng là một kẻ thất bại ê chề. Lúc bắt đầu khởi nghiệp, Khang bị ông bà Đặng Vũ Chí Thành xúc phạm, bị Hoàng Anh phản bội, khi đã luống tuổi, trong quan hệ gia đình không mấy tốt đẹp, ông lại bị Ngô Ngân Hà hạ nhục.  Cuộc đời Trần Tử Khang từng nếm trải không ít đắng cay, nhưng ông khác người ở chỗ là bình tĩnh đón nhận, coi nó như một phần tất yếu trong cuộc nhân sinh đầy bất trắc. Đôi khi Trần Tử Khang còn hóa giải được nó như đã từng hóa giải sự sai lầm trong các ca phẫu thuật của đồng nghiệp, cứu sống không ít bệnh nhân. Cuối đời, sau khi giải nhiệm, chỉ còn mỗi Trần Lam Khương là người yêu ông thật lòng thì lại đi xa.

Trần Tử Khang là một bác sĩ đáng trọng nhưng cũng đáng thương. Ông chính là thân phận của người trí thức được đào luyện trong lò giáo dục của chế độ mới nhưng lại bị chính guồng máy quan liêu, tham nhũng ấy đẩy ra ngoài lề cuộc sống bằng những thủ đoạn bẩn thỉu.

Viết “Bác sĩ trưởng khoa”, tác giả Vũ Oanh tìm được một cốt truyện mà tính hiện thực của nó nổi trội hơn những cuốn tiểu thuyết viết về ngành y như “Thành trì”, “Những năm ảo vọng”, “Thân phận thầy lang” của Anh Quốc; “Người tình tuyệt vời”, “Bác sĩ Bređơ”, “Một ca suy tim” của Mỹ;  “Đèn không hắt bóng”, “Gia đình Nire” của Nhật; “Thầy lang” của Ba Lan; “Cái chết của ông bác sĩ” của Hungari; “Một gia đình lớn” của Liên Xô. Mấy chục năm qua, Việt Nam cũng đã có vài tiểu thuyết về đề tài trên, mà điển hình là “Chân trời”, “Lời thề Hypocrate”, “Màu trắng không im lặng”, hoặc “Cát bụi nhân ai”…, tuy nhiên, hầu hết chúng đều diễn ngôn theo khuôn mẫu của phương pháp sáng tác Hiện thực xã hội chủ nghĩa thông qua đặc trưng điển hình hóa nhân vật, để cuối cùng có được sự kết thúc phe tích cực chiến thắng, còn phe tiêu cực thất bại  như một công thức bất thành văn. Ngược lại, “Bác sĩ trưởng khoa” có một cái kết buồn khi Trần Tử Khang nghỉ hưu, sống lặng lẽ như một dật sĩ đã quá hiểu lẽ đời. Sự thất bại của người thầy thuốc từng trải này là phù hợp với quy luật phát triển của một xã hội mà những người quản lý nó không chấp nhận những giá trị phổ quát đang vận hành của nền văn minh nhân loại. Từ lâu, họ đã tạo ra cho mình một nền văn hóa “đậm đà bản sắc” khác người, không thể dung nạp được những nhân cách lớn. Trong khi ấy, Trần Tử Khang vẫn “bảo thủ” không chịu tuân theo luật chơi của họ, trở thành một kẻ khác, được hiểu ngầm như là “thế lực thù địch”, đương nhiên sẽ bị vô hiệu hóa. Một lần nữa ta phải nhìn nhận, thân phận của Trần Tử Khang là một tất yếu lịch sử. Bi kịch đời ông chính là bi kịch của cả một thế hệ chỉ vì muốn sống và làm việc theo những chuẩn mực văn hóa của xã hội văn minh.



Chí Linh, 7/10/2015



Đ.V.S.



*“Bác sĩ trưởng khoa”,tiểu thuyết của Vũ Oanh, NXB Hội Nhà văn - 2013, tái bản 2014

Phần nhận xét hiển thị trên trang

KÊ KHAI TÀI SẢN




Nguyễn Thị Mai

Cầm bản KÊ KHAI TÀI SẢN
Bao nhiêu câu phải trả lời
Nào xưởng, nào nhà, nào đất
Nào tiền, đồ qúi, xe hơi ?
Có bao kim cương, vàng, bạc ?
Tiền gửi số dư trong, ngoài ?
Tài khoản nước nào đang có
Ngân hàng thứ nhất, thứ hai ?
Đặt bút bắt đầu kê khai
Mới hay phận mình nghèo khó
Hỏi đến mục gì cũng bỏ
Nhà, không biết xếp loại nào
Lương thì thấp, ở thì cao
Tâm hồn thi ca lãng mạn
Giầu nhất có trái tim yêu
Lại không được là tài sản ( ! )
Giá đừng ai đặt vào tay
Cái sự kê khai giàu có
Thì mình vô tư như cỏ
Bình yên xanh dưới mặt trời.
Ngày 7/ 1 / 2013.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

một bài thơ đáng thương

một bài thơ tội nghiệp
lục ra trong trí nhớ đã bị bỏ tù
một bầu trời trong bài thơ bị giam lỏng
cây và cành khua xích sắt
reo chờ
một bình minh không bao giờ tới
những toa tàu tiếp tục lao đi vùn vụt
chẳng còn thấy bạn hàng
những bao tải trống không
xẹp lép như những cái bao tử rỗng tuếch
trong muôn ngàn cái xác phất phơ
những cái xác phất phơ
để gió cù bay đi
những cái xác chẳng còn sức để gào
 
một bài thơ tội nghiệp
luôn khát đói
bị bỏ quên
ồ không! bị bỏ tù trong quên lãng đã lâu
một sân khấu kịch tuồng nhân sinh đầy bụi
mối mọt thi nhau gặm nát mặt sàn
nhân tình đong đưa
bèo bọt hoá trang
chờ một bình minh từ cõi nào
những cành cây thòng lọng
những chuông nguyện hồn ai
một bài thơ chỉ còn nghe sóng gào
từ khơi xa
một bài thơ đáng thương
viết về thời thổ tả
người chết như gió lay hoa rụng...
 
 
Phần nhận xét hiển thị trên trang

LÀM DÂU





Chị làm dâu cuộc chiến tranh
Hòa bình khóc kẻ chưa thành lứa đôi
Hứa hôn với lính lâu rồi
Nghĩa trang chị bạc tóc ngồi làm dâu

Giá ngày xưa kịp lấy nhau
Giờ này chắc đã con đầu bằng anh
Đất sâu đợi rỗng tiểu sành
Mộ chưa có cốt rừng xanh gửi hồn

Mỗi khi chim lợn kêu dồn
Khói hương khấn gió Trường Sơn tìm mồ
Đêm về đội lén khăn xô
Thương người nằm khoác ba lô mối đùn

Tay sờ ảnh mộ còn run
Xin thương rế rách chổi cùn chiến tranh
Gọi thầm nấm đất bằng anh
Chị xin nhận tấm cỏ xanh làm chồng.

Trần Mạnh Hảo
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Văn nghệ sau Nghị quyết 05

Nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh của Nhà văn Trần Độ 23/9/1923-23/9/2013, chúng tôi lần lượt giới thiệu lại toàn bộ nội dung bộ sách "Trần Độ tác phẩm" (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, 2012) và "Nhớ Nhà văn Trần Độ" (Nhà xuất bản Văn học, 2013). 
Chúng tôi sẽ tuần tự cập nhập, mong được các bạn đọc theo dõi. Cảm ơn.


Chương 10
Văn nghệ sau Nghị quyết 05

Suy nghĩ mãi tôi mới quyết định đặt cho chương 4 của tập sách này cái tên “Hậu 05”. Nó vừa hài hước, vừa dí dỏm lại vừa đúng với nghĩa đen: Những sự kiện xảy ra sau khi có Nghị quyết 05. Hài hước ở chỗ người ta vừa thông qua xong Nghị quyết, các cấp các ngành theo thông lệ đang tổ chức quán triệt nghị quyết, thậm chí có nơi nghị quyết chưa tới thì đã có những ý kiến (rất đáng buồn là có cả ý kiến của các cơ quan, các cá nhân có trách nhiệm) muốn phủ nhận những quan điểm cơ bản của Nghị quyết. Thậm chí có người còn dám đổ thừa: Sau Nghị quyết 05 văn nghệ có những biểu hiện lệch lạc.
Sự thật là như thế nào?


Sự thật là giới văn hóa văn nghệ hết sức tán thành “đổi mới” chờ đợi “đổi mới”, coi “đổi mới” như một cái gì của chính bản thân mình. Chính vì nhận “đổi mới” là của mình, cho nên khi thấy xuất hiện những khó khăn thì nhiều anh chị em văn nghệ lo ngại, sợ phong trào “đổi mới” vừa khơi lên đã bị chặn lại. Do đó, xuất hiện một tâm trạng e dè, ngần ngại, lan rộng trong anh em là một tình hình rất đáng quan tâm.
Ban Văn hóa Văn nghệ phải đi sâu để làm rõ thực chất vấn đề. Không cần khó khăn lắm cũng có thể nhận biết trong quá trình đổi mới xuất hiện không ít những biểu hiện cơ hội chủ nghĩa, gây nhiễu tình hình. Có một số ý kiến cho rằng dường như một số sai sót trong hoạt động văn nghệ vừa qua là sự cản trở “đổi mới”, phá hoại “đổi mới”. Tôi thấy cần nhấn mạnh và khẳng định: lực cản chính của phong trào “đổi mới”, không phải là tranh “cóc bắn mạng nhện”, là truyện ngắn “Phẩm tiết”, càng không phải là báo “Văn nghệ”... Sự cản trở lớn đối với đổi mới chính là tư tưởng bảo thủ, trì trệ và chủ nghĩa cơ hội.
Đánh giá những thành tựu của văn hóa văn nghệ trong hai năm 1987 -  1988, phải đặt trong khung cảnh “đổi mới” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI và Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị về văn hóa văn nghệ.
Bình tĩnh xem xét một cách sòng phẳng và công tâm, ta nhận thấy phong trào văn nghệ đã xuất hiện nhiều hiện tượng mới rất đáng phấn khởi.
Hoạt động văn hóa văn nghệ đang trở về với đời sống đích thực của nó, nó đi vào cuộc sống bình thường, nó đi vào các tâm tư, số phận từng người, xúc động đến mọi người. Nhiều văn nghệ sĩ có ý thức sâu sắc đối với lương tri con người, đến đạo đức xã hội. Có điều đáng vui là nhân dân ta rất chờ đón văn nghệ, các đồng chí lãnh đạo cũng hết sức quan tâm đến văn nghệ. Khen hay chê cũng đều do quan tâm cả. Điều đó là đáng phấn khởi vì nó khác trạng thái văn nghệ bị thờ ơ trước đây. Đó là dấu hiệu nói lên văn nghệ gắn bó với xã hội và được xã hội đón nhận như người bạn tâm tình của mình. Đây là nhân tố để thúc đẩy văn nghệ tiến lên trên con đường đổi mới. Về mặt lý luận phê bình, văn nghệ cũng xuất hiện rõ xu thế dân chủ hóa, phê bình, lý luận cũng gắn bó với đời sống, với công chúng, và công chúng quan tâm hơn tới phê bình, lý luận. Có tranh luận, có đối thoại, không phải chỉ một chiều. Tuy trong từng bài có thể có vài chữ, vài câu ý kiến chưa chỉnh, nhưng nói chung cũng có khởi sắc Xuất hiện nhiều ý kiến mới mẻ trong khi lý giải các hiện tượng nghệ thuật. Đáng tiếc là cái đà này sớm bị chắn lại, để hiện tượng lý luận phê bình công thức và quy chụp lại bao trùm không khí văn nghệ.
Theo hướng ấy, hoạt động văn nghệ có tác động chung đến đời sống xã hội và như vậy là hoạt động văn nghệ góp phần tạo ra không khí dân chủ trong xã hội, có tác dụng thức tỉnh và nhắc nhở lương tri của xã hội. Đấy cũng là trách nhiệm của văn nghệ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI.
Đi sâu hơn, chúng ta thấy đã xuất hiện những hiện tượng mới mẻ: tác phẩm mới, tác giả mới, phong cách mới, ngôn ngữ mới, hoạt động mới sôi nổi. Ngoài Báo Văn nghệ ở Trung ương, báo Văn nghệ ở địa phương cũng có nhiều cái mới. Các nhà xuất bản cũng xuất bản nhiều tác phẩm mới, đành rằng chưa có tác phẩm kiệt xuất, nhưng rõ ràng văn nghệ có “ngôn ngữ mới”, gọi “khởi sắc” là rất đúng. Đây là mặt chủ yếu trong đời sống văn hóa văn nghệ, nét chủ yếu của diện mạo văn nghệ trong hai năm qua. Cần khẳng định và làm rõ hơn nữa nhận định này.
Nhưng cũng có một cách nhận định khác, tuy là buộc phải thừa nhận vừa qua văn nghệ có khởi sắc, nhưng tiếp đó lại liệt kê đủ thứ khuyết điểm lệch lạc, tô đậm thêm, đẩy những lệch lạc ấy đến mức nghiêm trọng “chết người” như là: bôi đen, kích động làm mất lòng tin, kêu gọi chống đối và nổi dậy, nghĩa là dùng một loạt khái niệm đã quen dùng trước đây để báo động văn nghệ đang phát triển “nguy hiểm”. Nhận định như vậy là sai lạc hẳn diện mạo thực của văn nghệ và muốn trở lại như cũ. Hoạt động văn hóa văn nghệ có thiếu sót, đương nhiên, nhưng mặt chủ yếu là thành tựu, là có đổi mới, là văn nghệ tích cực thực hiện tinh thần Nghị quyết Đại hội VI.
Vậy văn nghệ có khuyết điểm lệch lạc không?
Có những thiếu sót và lệch lạc thật, nhưng cần phân tích cho rõ nhẽ. Điều đáng chú ý là, hiện nay đứng trước bất cứ hiện tượng nào mới xuất hiện cũng đều có ít nhất là hai cách đánh giá. Đó là sự phân cực ra hai loại ý kiến, xuất phát từ hai quan điểm đánh giá khác nhau. Ví dụ, có người nói: xem báo Văn nghệ ngày nay thì đám “nhân văn” xưa phải gọi bằng cụ. Đây cũng là một loại ý kiến cực đoan, theo họ, thì dường như mấy bài văn nghệ có thể gây nguy cơ cho đất nước. Hội đồng tư tưởng khi họp đã bác bỏ ý kiến này.
Đúng là trong văn nghệ, tức là nói trong sáng tác và lý luận, phê bình, thời gian qua có những khuyết điểm và lệch lạc. Nhưng cũng còn nhiều điều cần làm cho sáng rõ. Không thể hồ đồ lấy tất cả các ý kiến nhận xét những khuyết điểm và lệch lạc khác nhau cộng lại thì sẽ đi tới một bức tranh sổ toẹt tất cả những gì có trong văn nghệ thời gian qua. Và như thế không có gì là đổi mới, và tất cả dấu hiệu về sự đổi mới đều là hư hỏng hết. Thực chất đó là sự bóp méo và xuyên tạc sự thật. Vì vậy, vẫn phải tiếp tục làm rõ cái gì là khuyết điểm, cái gì là lệch lạc. Mọi người đều nói có khuyết điểm và lệch lạc. Nhưng một sự kiện, một tác phẩm, một chi tiết trong tác phẩm, có người cho là lệch lạc, có người cho là không, mà lại là một giá trị, có người khác lại cho là còn tiếp tục thảo luận. Vân cần lắng nghe nhiều ý kiến khác nhau. Quan điểm của tôi là cần tôn trọng những ý kiến của nhiều người, nhưng như nhiều đồng chí đã nói có khi ý kiến đông người chưa phải là chân lý. Có một số vấn đề cần tiếp tục làm cho sáng rõ. Chưa làm sáng rõ được là một khuyết điểm. Cần làm sáng rõ là làm sáng rõ thực chất vấn đề đó là gì. Bản chất của sự thảo luận vấn đề đó là cái gì.
Đó là vấn đề mối quan hệ chính trị - văn nghệ.
Ngày nay không còn ai phân vân gì về mối quan hệ này. Ai cũng thừa nhận: chính trị là giường cột của đất nước, văn nghệ cũng như các lĩnh vực khác đều phải hoạt động phù hợp với đường lối chính trị của Đảng, đội ngũ tiên phong lãnh đạo đất nước đi lên. Trên báo có bàn về vấn đề này là cốt làm cho rõ thêm, sáng thêm thôi. Ngay đồng chí Nguyễn Đình Thi cũng đã nghĩ không nên nói “văn nghệ phục vụ chính trị” mà nói “văn nghệ phục vụ cách mạng”. Hoặc đồng chí Huy Du nói: “Không nên nói “Đảng lãnh đạo văn nghệ”, mà nói “Văn nghệ dưới sự lãnh đạo của Đảng” để tránh những hiểu lầm không cần thiết”.
Bản chất vấn đề ở đây không phải là công nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa văn nghệ, mà tìm cách phân tích để chỉ rõ mối quan hệ chức năng giữa Đảng và văn nghệ mà thôi.
Cũng nên tránh lối đọc sách kiểu suy diễn như xem Ngô Thị Vinh Hoa là văn nghệ, còn Quang Trung và Nguyễn Ánh là quyền lực, để đi tới chỗ quy kết là truyện “Phẩm tiết” nói “Quyền lực bị khuất phục trước văn nghệ”. Câu chuyện này làm ta nhớ đến vụ án “Hắc mẫu đơn thi” đời vua Càn Long nhà Thanh. Càn Long là ông vua kém văn chương nhưng lại rất thích cho mọi người biết mình không những là đấng minh quân mà còn là người có tài thơ phú - Thẩm Đức Tiềm là một vị đại thần, vốn là một nhà thơ lớn đương thời, thường được Càn Long nhờ làm thơ hộ. Khi đã 80 tuổi, về hưu, Thẩm Đức Tiềm vẫn được Càn Long nhờ làm thơ giúp để khoe với mọi người. Một lần Càn Long tuần du phương Nam, nhớ đến Thẩm Đức Tiềm liền ghé vào thăm nhà và viếng mộ viên Đại thần cũ. Tình cờ Càn Long tìm thấy một tập thơ của Thẩm Đức Tiềm, mở ra xem thấy còn nhiều bài thơ chưa công bố. Đặc biệt có những bài thơ Thẩm Đức Tiềm làm thay cho Càn Long trước đây cũng được chép trong tập thơ này, phía dưới còn chú thêm ba chữ “Đại đế tác” (làm thay vua). Xem xong Càn Long thẹn quá hóa giận, căm ghét Thẩm Đức Tiềm biết những bài thơ này của nhà vua đã được in và phát hành mà vẫn ghi lại trong thi tập của mình, lại còn đề “làm thay vua”.
Đang lúc căm giận trong lòng nhưng phải lặng yên, chưa tìm được cách xử trí, Càn Long thấy bài thơ “Hắc mẫu đơn thi” với hai câu:
“Đoạn chu phi chính sắc
Dị chủng diệc xưng vương”.
Ngài bèn nổi giận, đùng đùng quát lớn: “Tên đại nghịch bất đạo này giỏi thật. Hắn dám nói trẫm đã cướp ngôi Thiên tử của họ Chu lại còn chửi trẫm là dị chủng nữa”.
Từ xưa hoa mẫu đơn vẫn được coi là vua các loại hoa và có mầu đỏ. Hoa mẫu đơn mầu đen là đã bị mất đi màu đỏ, coi như là dị chủng. Nhưng Càn Long lại cho chữ Chu ở đây là chỉ nhà Minh vì thủy tổ triều Minh là Chu Nguyên Chương. Còn câu thứ hai, chữ “dị chủng” đã ám chỉ nhà Thanh, coi khinh người Mãn Châu là giống man rợ.
Càn Long tức giận hạ chỉ quật mồ, phá bia của Thẩm Đức Tiềm, kéo xác chết ra khỏi quan tài. Con cháu họ Thẩm đều bị đày đến Hắc Long Giang để xung quân, chỉ giữ lại một đứa cháu nội 5 tuổi để nối dõi tông đường.
Hiểu văn chương chữ nghĩa như vậy quả là nguy hiểm, nhất là thơ chữ Hán, một thứ chữ có nhiều nghĩa, phán theo nghĩa nào cũng được.
Chẳng riêng thơ chữ Hán, văn chương chữ Việt ta ngày nay tuy đơn giản hơn nhưng qua sự suy diễn của một vài vị “quan” có chức, có quyền thì cũng có nhiều nghĩa không kém, đôi khi trở thành những nghĩa chết người. Bản thân tôi đã từng thấy không ít trường hợp chỉ căn cứ từ những câu, những chữ, những hình vẽ, những nết nhạc nào đó trong tác phẩm để biến thành những cái gì đó có tính chất chống đối. Vì như cái vỏ bao thuốc lá Tam Thanh chẳng hạn, người ta vẽ cái cửa động hẳn hoi, việc rõ ràng và đơn giản thế, vậy mà cũng có người thì thầm là vẽ ông nọ, ông kia, ám chỉ thế này thế khác, thì có khổ cho người ta không. Tuy nhiên, cũng có những tác giả tỏ ra sơ hở khi dùng ngôn từ, ví dụ nói: Bá quyền chính trị so với bá quyền văn nghệ, khiến người ta hiểu lầm có sự tranh chấp quyền lực ở đây. Đó là thiếu sót cần rút kinh nghiệm.
Vấn đề thứ hai là phủ định quá khứ
Không ai phủ định quá khứ cả. Tôi đã đọc kỹ các tác phẩm nhưng không hề thấy tác phẩm nào gợi lên ý này. Rõ ràng văn nghệ trong 40 năm qua đã được Đảng đánh giá cao với những giá trị không ai có thể chối cãi. Nhưng cũng rất rõ ràng là văn nghệ trong 40 năm qua cũng có chỗ yếu kém, cũng có nhược điểm, khuyết điểm. Vậy xem lại những yếu kém và khuyết điểm là một việc cần thiết. Chỉ có tự phê bình, tự phê phán mới có thể có sự đổi mới.
Tại sao có ý kiến báo động ầm ĩ lên rằng phủ định quá khứ, phủ định sạch trơn, phủ định văn nghệ để phủ định cách mạng, phủ định sự lãnh đạo của Đảng. Đó là sự cố ý không đi vào thực chất của vấn đề, không phải là nhiệt huyết đòi đổi mới mà là một sự cố ý không tốt đẹp. Các nhà văn có những ý kiến xúc động, tự kiểm tra lại mình để đổi mới được mạnh hơn, tốt hơn. Đó là những cảm xúc đáng hoan nghênh. Nó không hề mảy may có tác dụng phủ định bất cứ một cái gì. Tuy nhiên, ở đây cũng lại có sơ hở như anh Nguyễn Minh Châu viết: “Lời ai điếu cho thời kỳ văn nghệ minh họa”. Tôi nói rõ là sơ hở về ngôn từ, chứ không phải chủ ý.
Tóm lại, hoạt động văn nghệ vừa qua có lệch lạc do quá trớn chứ không phải kích động chống lãnh đạo để làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Và cần nhấn mạnh lần nữa là: không phải có những lệch lạc trong văn nghệ đã cản trở “đổi mới”, mà “bảo thủ, trì trệ và cơ hội chủ nghĩa” mới là lực cản “đổi mới” hiện thời. Vấn đề là có thực tâm thúc đẩy tiếp tục đổi mới hay không.
Tháng 12 năm 1988, trong một cuộc thảo luận nhân một năm ra đời Nghị quyết 05, tôi đã phát biểu:
Một xã hội phải có kỷ cương, trật tự. Mỗi lĩnh vực trong cuộc sống xã hội cũng phải có kỷ cương, trật tự. Dân chủ cũng phải có kỷ cương, trật tự. Nhưng lại phải nói thêm: đó là kỷ cương dân chủ chứ không phải kỷ cương thiếu dân chủ hay kỷ cương mất dân chủ. Chỉ có một kỷ cương dân chủ mới đảm bảo được kỷ cương chặt chẽ, mới có kỷ cương tự giác và bền vững. Điều này trùng hợp với những lý lẽ về “Ý Đảng lòng dân”. Ý Đảng có hợp lòng dân, dân mới gần Đảng, nghe Đảng. Và nếu mọi ý Đảng đều thấy lòng dân trong đó thì dân mới tích cực thực hiện ý Đảng, mới có kỷ cương tốt đẹp. Cũng như dân chủ và sự tập trung, chỉ có một sự tập trung trên cơ sở dân chủ, sự tập trung ấy mới mạnh mẽ và hiệu quả, và tự nhiên là sự dân chủ có tập trung. Không bao giờ nên tách ra và đối lập dân chủ và kỷ luật, dân chủ và tập trung.
Có người chỉ thích bất cứ ở đâu cũng có trạng thái yên ổn, êm ả, và coi như thế là tốt đẹp, là ổn định. Họ không thích bất cứ một sự bàn bạc có ý kiến khác nhau, bất cứ một sự bàn bạc có tranh cãi, bất cứ một sự chất vấn nào, một sự nói khác nào, nhất là đối với cấp dưới. Họ không chịu được bất cứ một sự “phạm thượng” nào. Họ khăng khăng cho rằng: đã là cấp trên thì bao giờ cũng đúng, bao giờ cũng phải(!). Đó không phải là trạng thái dân chủ. Có dân chủ mới có tự do và bình đẳng, và có bình đẳng mới có dân chủ.
Vì vậy muốn có tự do sáng tác phải có dân chủ và phải có sự dân chủ hóa sâu sắc và hoàn toàn.
Trước đó, để bảo đảm thực hiện chính sách tự do sáng tác, có lần tôi nêu van đề “định hướng rộng”. Sau đó có nhiều ý kiến bàn bạc, có ý kiến cho rằng đề ra “định hướng rộng” là một sai lầm, là vẽ đường cho hươu chạy, là khuyến khích những người viết và nói ba láp, là tạo ra những hậu quả lộn xộn, v.v... Lại có ý kiến cho là chỉ nói “định hướng rộng” không thì không đủ, cần phân tích sâu hơn. Có thể trong sáng tác thì phải “định hướng rộng”, nhưng trong sự phổ biến truyền bá tác phẩm, trong điều hành hoạt động văn hóa văn nghệ phải có những xử lý cụ thể, nghĩa là cũng phải có “định hướng hẹp” nữa, định hướng cụ thể, thậm chí cho một hành vi, một sự việc phải kết hợp “định hướng rộng” và “định hướng hẹp”.
Tôi nghĩ ý kiến sau là ý kiến bổ sung đúng và hợp lý.
Khi tôi nói định hướng là tôi muốn nói lên một tư tưởng, đó là tư tưởng của chính sách tự do sáng tác. Tư tưởng đó muốn nói lên lãnh đạo văn nghệ thì cần phải dành phạm vi rộng cho sự sáng tạo, dành chỗ rộng để phát huy sức tưởng tượng, để phát huy sự đa dạng về phong cách, và như vậy cũng là phù hợp với tư tưởng của Lênin.
Lênin nói: “Không thể chối cãi rằng trong sự nghiệp này tuyệt đối cần phải bảo đảm một phạm vi hết sức rộng rãi cho sáng kiến riêng, cho những thiên hướng cá nhân, cho suy nghĩ và tư tưởng, cho hình thức và nội dung”. (Lênin - “Tổ chức Đảng và văn học Đảng”).
“Định hướng rộng” chưa phải là một ý kiến về thể lệ, quy định. Tôi vẫn cho rằng để thực hiện chính sách tự do sáng tác phải có tư tưởng “định hướng rộng”. Khi ta nói “định hướng” là ta nói về sự lãnh đạo. Chúng ta đã chứng kiến, mỗi giai đoạn cách mạng, sự định hướng của Đảng vừa chỉ phương hướng, vừa khơi nguồn cho sức sáng tạo của văn nghệ. Và như vậy rõ ràng là văn nghệ không thể không có sự lãnh đạo của Đảng.
Tôi cho rằng có một vài sự lầm lẫn như sau: Có đồng chí quan niệm là Đảng lãnh đạo văn nghệ là Đảng phải luôn luôn có ý kiến chỉ dẫn, góp ý kiến với văn nghệ sĩ. Không luôn phát hiện sai lầm, khuyết điểm để lập tức có ý kiến “giúp đỡ” văn nghệ thì không phải là lãnh đạo văn nghệ. Có người cho rằng phát hiện càng nhiều vấn đề về quan điểm, chỉ ra cho hết “nguy cơ” của các quan điểm, thì càng có chính trị cao, càng có khả năng lãnh đạo sâu sắc và nhạy bén. Mà Đảng ở đây có khi là những đảng viên không hiểu hoặc hiểu rất ít về nghệ thuật nhưng lại buộc phải có ý kiến về bất cứ tác phẩm nào, thuộc loại hình nghệ thuật nào.
Trước đây đã có lúc có tình trạng một cá nhân nào đó phát biểu ý kiến nào đó và cứ tự nhân danh đường lối của Đảng hoặc nhân danh Đảng. Tiếc thay có khi ý kiến đó không đúng mà cũng khó có người, khó có tổ chức Đảng dám đính chính lại.
Ngày nay trong không khí tự do dân chủ và công khai, những ý kiến “nhân danh Đảng” sẽ dễ dàng được công luận của nhân dân kiểm tra. Điều này có thể hạn chế bớt những sự lạm dụng. Sự công khai có triển khai làm rõ trắng đen nhiều việc và ngăn ngừa được những người cơ hội hay lợi dụng “không khí bí mật” để truyền đạt những cái gọi là “tin tức nội bộ”, “chỉ thị nội bộ” để hù dọa mọi người.
Cũng trong buổi nói chuyện này, tôi phát biểu cả vấn đề phê bình, cũng là vấn đề nổi cộm lên sau Nghị quyết 05. Khi tác phẩm ra đời, thì ai cũng có quyền thích hoặc không thích toàn bộ tác phẩm, thích hoặc không thích một vài đoạn, một vài bộ phận. Mà có ý kiến phê bình thì có quyền phát biểu trên báo chí, trong các cuộc hội thảo, thậm chí cả trong lúc “trà dư, tửu hậu”, nhưng ai đó đừng nên nghĩ rằng ý kiến mình là “đúng nhất thế giới” và không chịu lắng nghe người có ý kiến khác mình. Không bao giờ nên cho là tác giả kém hơn mình và có động cơ xấu. Nếu tác giả hoặc bất cứ ai có hành vi xấu, đã có cơ quan an ninh công an. Do đó, phải có quan điểm của chính sách tự do sáng tác, nghĩa là phải chấp nhận sự phong phú, đa dạng trong văn nghệ. Phong phú đa dạng thì có sự khác nhau, thậm chí có khi nghịch nhau. Tuyệt đối không bao giờ nêu ý kiến phê bình trở thành ý kiến cấm đoán, thậm chí trở thành chỉ thị cấm đoán. Ta đã từng có những trường hợp một tác phẩm nào đó chỉ vì có một đồng chí lãnh đạo quan trọng nào đó không thích và có vài ý kiến phân tích chê trách, thế là lập tức tác phẩm đó không được tồn tại “dưới ánh sáng mặt trời” nữa. Muốn có tự do phê bình thì tác phẩm phải được tự do tiếp xúc với công chúng. Nếu không có tiếp xúc thì ai biết đâu mà phê bình! Không bao giờ nên có sự phê bình “bắc nồi chõ nghe hơi”, tức là người không được đọc, không xem tác phẩm cũng cứ phê bình vì “nghe nói có vấn đề”. Phê bình là một bộ phận của bản thân đời sống văn nghệ. Các nghệ sĩ và các đơn vị nghệ thuật, không bao giờ nên giận và ác cảm với những lời phê bình. Tất nhiên là phải có những trường hợp cấm đoán. Nhưng cấm là cấm những tác phẩm phạm luật. Sự cấm đoán đó phải có lý do buộc tội, có cáo trạng: tác phẩm phạm điều khoản nào, của luật nào? Và tác giả hoặc nhóm tác giả có quyền bào chữa, trình bày. Sự cấm đoán phải được công khai, phải do cơ quan có chức năng pháp lý ra lệnh cấm. Lệnh cấm phải có văn bản và người ký văn bản phải chịu trách nhiệm về lệnh của mình trước công chúng và trước cả lịch sử. Khi lệnh bị chứng minh là sai, thì phải có sự sửa đổi. Thực hiện pháp luật là phải theo luật và lệ, thủ tục tố tụng. Vì luật còn phải ngăn ngừa và cấm đoán những hành vi phạm luật có hại cho xã hội, cho quyền công dân và quyền của nghệ sĩ.
Không bao giờ lầm lẫn giữa phê bình và luật pháp. Chỗ nào chưa có luật ta phải tích cực xây dựng luật. Trong khi chưa có luật, xin thử nêu mấy nguyên tắc:
- Cấm phải có lý do,
- Cấm phải có văn bản,
- Người cấm phải chịu trách nhiệm về lệnh cấm của mình bằng chữ ký,
- Lệnh cấm phải công khai, phải do các cơ quan có chức năng pháp lý thực hiện.
Ta  thường thấy là trong văn hóa văn nghệ có cái công chúng thích thì một bộ phận lãnh đạo không thích, ngược lại cái một bộ phận lãnh đạo thích thì công chúng lại thờ ơ. Tất nhiên cũng đã có những tác phẩm được công nhận cả trong cán bộ lãnh đạo cũng như trong công chúng rộng rãi. Nhưng hình như những tác phẩm như vậy chưa có nhiều.
Trần Độ 
Phần nhận xét hiển thị trên trang