Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2016

HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000 (Thời biến đổi gien) Kỳ 15




Bùi Ngọc Tấn


Điện từ Hà Nội cũng dồn dập.
Tiếng Bầu cười giòn:
– Tôi mất tên rồi ông ơi. Điện thoại suốt ngày. Mình bảo Lê Bầu đây thì chúng nó bảo không, tôi gặp ông Lê Bàn cơ. Ông Lê Bàn có nhà không ông.Ông Lê Bàn bạn với Hắn ấy mà…
Còn Mạc Lân hét to:
– Tết này là tết của chúng mình. Ông đã làm vẻ vang cho tất cả. Nhiều thằng đến đây hỏi mượn. Tôi bảo không được. Còn phải đọc đi đọc lại đã. Nhiều điện thoại hỏi tôi về ông. Có một cú điện thoại vào lúc sắp đi ngủ: Anh Lân đấy à. Tiếng phụ nữ nhẹ nhàng. Anh đã đọc Chuyện Kể Năm 2000 của anh Bùi Ngọc Tấn chưa ạ? Vâng, Đọc rồi chị ạ. Đang đọc lần thứ hai. Anh ấy viết về anh như thế đấy: Con một nhà văn nổi tiếng nhưng không bao giờ nói về bố mình, tức là anh ấy nói anh sợ liên lụy nên không dám nói về bố anh, ông Lê Văn Trương. Tôi nghĩ ngay bọn đểu đây, bọn tâm lý chiến đây. Không giữ được, tôi văng ra một câu chửi tục “Đ. mẹ mày!” rồi dập máy. Từ bấy không thấy nàng gọi lại nữa. Với bọn du côn phải đối xử du côn ông ạ.
Anh cười, giọng cười rất Mạc Lân như Lê Bầu cười rất Lê Bầu vậy.
Vũ Bão không gọi điện. Anh viết thư. Thư đánh máy trên những tờ giấy điện báo anh thó được của bưu điện. Để giống như bức điện báo, anh thay những dấu chấm câu bằng “stop.”
Dàn nhạc Mộng Du đã chơi bài ouverture ([1]) stop sắp tới sẽ chơi tiếp chương hai và chương ba stop anh em vẫn tiếp tục khen Mộng Du stop mình đã đọc qua điện thoại cho Kiều Duy Vĩnh nghe những trang Bùi Ngọc Tấn viết về Kiều Duy Vĩnh stop chúc mừng thành công của Bùi Ngọc Tấn stop dù sao bản nhạc đã đến với người nghe stop
Rất nhiều điện dởm dài ngắn. Bức “thư điện” đề ngày 25-2-2000 “phát lúc 7 giờ 30”, một bức điện rất nghịch ngợm, rất Vũ Bão thì ngay ngoài phong bì cũng đã lạ: Họ và tên người gửi Vừ A Páo. Họ và tên người nhận Pui Ngoc Tếnh 10 Tien Pien Phu Hải Phòng. Thế mà bưu điện vẫn chuyển đến nơi:
Tếnh à stop thủ ngồ mẩu kéng là chà stop cổi trầu hẩu tắc kin mìn nhị xập xây tỉm tỉu háy cái lẩu phồ stop tiểu muội leng leng stop hảo lớstop
Vừ A Páo
Tếnh à thì dù ngôn ngữ gì cũng là Tấn ơi rồi. Tiếp theo là nguyên văn một câu trong tiểu thuyết của tôi nên tôi biết nó có nghĩa là cải tạo tốt được gặp mặt hai bốn tiếng ngủ với vợ. Câu cuối Vũ Bão viết thêm vào, tôi tạm dịch: Em gái xinh xinh. Được lắm. Còn Vừ A Páo chắc phải dịch là Vũ Bão.

Châu Diên không gọi điện, cũng không viết thư. Khi sách đã bị cấm, anh đi nhờ một chuyến xe của ai đó về Hải Phòng đến nhà tôi giữa bữa ăn trưa. Thế là vừa ăn vừa nói:
– Cho chúng nó tha hồ ra quyết định. Tập truyện của mày là không thể cấm. Không thể tiêu diệt. Tất cả là tuyệt. Riêng hai chương Già Đô và sân kho hợp tác tao cho điểm 10. Mười cộng. Viết một cái gì nữa đi, Tấn ơi. Viết một cái gì khác hẳn cái này. Như Dostoievski viết Kỷ Niệm Nhà Mồ rồi viếtAnh Em Karamazov. Để người ta thấy mình viết về cái gì cũng hay.
  Tôi bảo Châu Diên:
– Ông Đốt viết Kỷ Niệm Nhà Mồ Nga Hoàng đọc rồi ân xá cho Đốt nên Đốt mới viết tiếp được Anh Em Karamazov. Mày thử tưởng tượng xem nếu Nga Hoàng ra lệnh thu hồi tiêu hủy Kỷ Niệm Nhà Mồ thì có Anh Em Karamazov,  Thằng Ngốc không?
Châu Diên rút ra bốn trăm nghìn:
– Còn không? Bán cho tao bốn bộ. Tao tặng các cụ hưu.
Cầm mấy bộ sách, đi ra đầu hẻm, nhẩy lên chiếc xe vẫn đậu chờ, anh còn nhắc lại: “Viết một cái gì nữa đi, khác hẳn cái này…” Thật hạnh phúc khi mình làm được một việc khiến bạn vui, tin tưởng và muốn làm thêm những gì tương tự.
Khi một trăm bộ sách đầu tiên Đình Kính chở về cho tôi đã vơi đi gần hết, tôi lên nhà Lam Luyến lấy thêm 100 bộ sách nữa. Tôi nhớ rõ là ngày 8 Tết. Có lẽ đó là chuyến đi Hà Nội vui nhất, đẹp nhất của tôi. Trời xuân không mưa không nắng, hửng lên rồi lại dịu đi ngay, ngập ngừng như sợ những tia nắng dù rất nhẹ cũng sẽ làm hỏng bầu không khí sữa tươi ẩm lạnh xoa lên hai gò má bừng nóng của mọi người sau chén rượu đầu năm. Lại một lần nữa thấy trời vui, đời vui, người vui. Đến đâu cũng là những cái nắm tay thật chặt, những lời chúc mừng. Nhất là các anh chị nhà xuất bản Thanh Niên. Buổi gặp gỡ hãy còn nồng nàn hương vị Tết, buổi gặp gỡ giữa người viết sách và người xuất bản sách với tín hiệu báo trước một thành công đặc biệt. Trên tay mỗi người một chén rượu, các anh quây lấy tôi, thông báo cho tôi những kết quả đầu tiên. Cao Giang luôn chín chắn cũng không giấu được phấn khởi:
– Dư luận bước đầu chúng tôi nắm được là rất tốt. Chưa có một ý kiến nào phản bác lại. Tất cả đều khen. Mới có một số người đọc thôi nhưng ai cũng khen. Phải nói chưa có tập sách nào được khen như vậy. Từ cán bộ lãnh đạo đến nhân viên, từ cơ quan trung ương đoàn đến cục xuất bản. Nhiều người vừa đọc vừa khóc, rồi gọi điện xin địa chỉ, số điện thoại của anh, nhưng chúng tôi không cho. Sách của anh là đề tài trong câu chuyện tết năm nay. Công ty Tiền Phong xin được độc quyền phát hành, bao tiêu toàn bộ, nhưng chúng tôi không đồng ý. Độc quyền sợ không hay, cái gì độc quyền cũng có mặt hạn chế của nó. Chắc chắn phải in nối bản trong một ngày gần đây.
Ngừng một lát, anh tiếp:
– Hiện dư luận đang xôn xao. Cứ để dư luận êm êm rồi chúng ta sẽ tổ chức một buổi gặp mặt giữa nhà xuất bản với tác giả và chị Ngọc, hoặc ở Hà Nội hoặc ở Hải Phòng. Rồi một buổi giao lưu giữa tác giả, nhà xuất bản với độc giả. Nhưng phải đợi ít ngày nữa cho dư luận lắng xuống, trở lại bình thường đã.
Thật là một ý định tuyệt vời. Một ý định ngoài mong đợi. Tôi tưởng tượng đến cuộc gặp mặt ấy. Mọi người nhìn cả vào vợ chồng tôi, những người từ trong tiểu thuyết bước ra, quá khứ khổ đầu của chúng tôi đã biến thành kỷ niệm chung của tất cả, tôi và vợ tôi ngồi bên nhau, rạng rỡ vì thành công và hạnh phúc. Tôi đã quên tên tôi dưới mặt trời… Từ bóng tối nhà tù, từ đêm đen cuộc sống, vợ chồng tôi sẽ lại được đứng dưới mặt trời, hơn thế, còn cả hào quang chiến thắng. Từ cuộc sống bị hằn thù, vu cáo, giam cầm, chúng tôi đến với những cánh tay bao bọc xót thương, từ cô đơn gậm nhấm nỗi đầu, chúng tôi đến với sự xẻ chia đồng cảm. Đó sẽ là một ngày tôi có thể đền bù lại chút ít cho vợ.
Tôi bay lên với những ý nghĩ như vậy khi ngồi sau xe Luyến lướt trên đường phố Hà Nội về nhà Luyến lấy thêm một trăm bộ sách nữa để tặng bạn bè.
Phải chở sách bằng taxi thôi. Những hai trăm quyển cơ mà. Chú lái xe tưởng tôi không biết đường Hà Nội, chạy vòng vèo. Từ Dốc Bưởi, nhà Lam Luyến, lẽ ra lên đê La Thành, qua đài Truyền Hình Trung Ương vào trung tâm thành phố, rồi về dốc Thọ Lão, nhà Vũ Tín, anh lại cho xe chạy dọc sông Tô Lịch về Ngã Tư Sở, qua Bạch Mai, Đại Cồ Việt... Biết anh ta xả quác, nhưng đang lâng lâng, tôi tận hưởng cái cảm giác gặp lại những người bạn cũ: Những đường phố Hà Nội. Trời thì vẫn một mầu trắng sữa, gió ẩm và mịn lọt qua cửa kính xe như thoa một lớp phấn dịu dàng lên da mặt. Thỉnh thoảng không kìm nén được niềm vui trong lòng, tôi nói một mình nhưng cũng để trêu anh lái xe một chút:
– Tuyệt! Lâu lắm mới được chạy lòng vòng ngắm phố phường Hà Nội.
– Công viên Thống Nhất. Chỗ này ngày trước anh đi đào lấp, gánh đất gẫy mấy cái đòn gánh đây.
– Rẽ chỗ này là Bà Triệu, cơ quan anh ngày trước
Chú lái xe biết mình đã xả nhầm quác, chỉ im lặng. Tới dốc Thọ Lão, biết lỗi, chú khuân vác hết số sách vào nhà Vũ Tín, không để tôi phải động tay. Gần một trăm nghìn tiền tắc xi tất cả. Tôi cười vui:
– Cám ơn em đã cho anh một chuyến du lịch thủ đô. Nhưng hơi đau hào.
Vợ chồng Vũ Tín reo lên khi thấy tôi. Chị Tùy bảo:
– Cứ để đấy. Tôi chuyển hết lên gác cho ông.
Vũ Tín với giọng ồm ồm quen thuộc thuật lại chuyện đi nhận sách từ Đỗ Quang Hạnh:
– Nhà nó giầu lắm. Ba tầng. Tìm gần chết. Số đánh lẫn lộn lung tung hết cả. Hỏi mãi. Tìm mãi. Tầng trệt để chật xe máy. Thằng bạn mày xuống. Tưởng già nhưng còn trẻ lắm. Đưa cho túi sách. Mình chưa kịp nói lời cám ơn nó đã quay vào mất rồi. Chẳng hiểu ra làm sao. Hay nó giận gì mình.
Tôi cũng đã đến căn nhà ba tầng số đánh lẫn lộn lung tung ấy. Không phải nhà của Đỗ Quang Hạnh mà là nhà anh Khánh, một người bạn vong niên của Hạnh. Anh Khánh chủ nhà cũng từng bị tù nhưng được giao một công việc tuyệt vời là đi chăn vịt. Vừa đọc xong tập tiểu thuyết của tôi với những xúc động còn nóng hổi, anh tổ chức một bữa ăn trưa tại nhà anh với món thịt gà hầm cam rất ngon mà đầu bếp là hoạ sĩ Trịnh Tú, có Đỗ Quang Hạnh, Nguyễn Thụy Kha, tôi và nhiều phóng viên báo Lao Động khác để chào mừng Chuyện Kể Năm 2000.
Vũ Tín lại cười khà khà:
– Tao đưa tập sách mày viết về tao cho mấy ông bạn xem. Lại đưaChuyện Kể Năm 2000 của mày ra. Họ bảo ông có một người bạn tuyệt vời. Tao bảo: Ông dở hơi. Bạn của tôi toàn những người tuyệt vời. Chứ lại không à!
Tôi gọi điện cho Vũ Công Luận, người bạn cùng làm phóng viên báo Tiền Phong với tôi nhưng đã sớm nhận ra tính bạc bẽo, sự nguy hiểm của nghề cầm bút, anh đi học đại học bách khoa, ở lại trường dạy, rồi sang Algerie bán cháo phổi tại một trường trung cấp. Luận có mặt ngay. Đem cả xe máy tới làm xe ôm, chở tôi cùng mấy dây sách tới nhà Dương Tường.
Tôi ước tính số sách tôi tặng ở Hà Nội chỉ vài chục bộ, nên để sách ở nhà Vũ Tín mặt đường, phòng khi có ai lên Hà Nội, nhờ chuyển về Hải Phòng cho tiện. Nhưng hoá ra mấy dây sách đem đến nhà Dương Tường hết rất nhanh. Bên cái bàn nhỏ, nơi đặt máy điện thoại của Mai Gallery tôi liên miên ký tặng. Dương Tường bảo:
– Đây. Tôi mở hàng cho ông mười bộ.
Rồi bắt tôi đề tặng trên những tập sách anh mua. Tặng những người bạn của anh. Mà bạn của Tường thì khá đông. Rồi Phương Mai, con gái anh, chủ của Mai Gallery cũng lấy năm bộ. Trinh cũng mấy bộ. Đều với giá cao hơn giá bìa, cái giá của Châu Diên: Một trăm nghìn một bộ.
Ngồi ký tặng và khi thấy số sách đã gần cạn, tôi gọi điện cho Vũ Tín đem thêm sách tới. Chỉ ít phút sau với một chân gỗ, trên chiếc xe Chaly, anh chở những dây sách đóng gói vuông vắn ghé sát cửa nhà Dương Tường.
Cuối cùng tôi xếp các tập sách đã ký tặng vào một “cái túi ba gang” và gọi điện cho Đình Kính đến để ngồi sau xe anh đi rải sách các nơi. Kính cũng đang ở Hà Nội. Anh đi đưa thiếp mời đám cưới con gái lớn. Đưa thiếp mời đám cưới giống như tặng sách. Không thể mời tất cả người quen dự đám cưới. Cũng như không thể tặng sách cho tất cả. Thành ra hai chúng tôi đi với nhau rất hợp.
Đến đâu tôi cũng nhận được những lời chúc mừng. Ngô Văn Phú nguyên giám đốc nhà xuất bản Hội Nhà Văn — sau khi Nguyễn Kiên nghỉ hưu — cầm hai tập sách còn trinh tiết tôi tặng, nói với Lê Minh Khuê:
– Dạo ấy mình không in được quyển này, mình hèn.
Anh ngắm nghía hai cái bìa sách, lật mặt sau xem bìa bốn rồi xếp chồng hai quyển lên nhau, nhìn độ dầy của nó:
– Viết phải có cái gì thúc bách bên trong. Phải bứt rứt cần giãi bầy. Chứ chưa lên lương đợt này đã chuẩn bị lên lương đợt sau, mới từ phó phòng lên trưởng phòng đã có người lo cho chức phó giám đốc, đang ở tập thể đã được cấp buồng riêng, rồi lại chuẩn bị phân nhà riêng thì viết làm sao được.
Vừa đưa Dạ Ngân sách hôm trước, hôm sau Nguyễn Quang Thân đã gọi điện thoại tới, vẫn với giọng hài hước cay độc cố hữu của anh:
– Tao với Dạ Ngân đọc mà bảo với nhau là chính công an thuê mày viết. Đặt hàng mày mấy chục triệu rồi bỏ tiền ra in cho mày, để mọi người đọc mà sợ đi tù. Đọc quyển này ai cũng sợ tù. Không ai dám phạm pháp nữa.
Anh cười rất sảng khoái:
– Nói chuyện với Dạ Ngân nhé.
Tiếng Dạ Ngân:
– Em đang đọc. Hay quá. Mà sao không thấy bán ở đâu cả nhỉ. Đến cơ quan — Dạ Ngân là biên tập viên báo Văn Nghệ — em toàn nói về Chuyện Kể Năm 2000 thôi. Em mang sách đến cơ quan quảng cáo. Mọi người bổ đi các hiệu sách, chẳng hiệu nào có cả.
Đúng là sách của tôi chưa hề nằm ở một cửa hàng sách nào. Giá Lam Luyến cẩn thận hơn, tình thế có thể đã khác rồi.
*
Chiều 26 Tết, sau khi gửi sách cho tôi, Đoàn Thị Lam Luyến đã mang ngay 20 bộ sách đến phòng hành chính nhà xuất bản Thanh Niên để phòng nộp lưu chiểu, thực hiện đúng như tôi và Phạm Đức đã nói cùng nhau: Khi người ta đang nâng cốc chúc mừng năm mới, chúng ta bán sách. Nhưng kế hoạch tuyệt vời của chúng tôi bị phá sản. Sách đã bị đình chỉ phát hành ngay sau Tết. Tôi biết tin ấy vào một buổi tối, khi tôi đi uống bia với Lê Xuân Thủy, phó chủ tịch công đoàn xí nghiệp, bữa bia đầu năm giữa hai chúng tôi, mừngChuyện Kể Năm 2000 được xuất bản. Tôi đã tặng vợ chồng anh một bộ, tập sách mà gần mười năm trước, thỉnh thoảng anh thấy tôi ngồi cắm mặt trên xếp bản thảo ở phòng làm việc của anh, bộ sách mà “hai vợ chồng em khi đọc đều khóc” như Thủy nói.
Vừa thấy tôi bước vào cửa, vợ tôi kêu lên:
– Anh đi đâu bây giờ mới về? Sách của mình bị cấm rồi!
Một tiếng sét ngay bên tai, phải lệch đầu tránh theo bản năng. Dù chưa hiểu ngay điều vợ nói. Câu tiếp theo của vợ tôi như một lời trách móc:
– Mỗi khi xẩy ra chuyện gì thì bao giờ ở nhà cũng chỉ mỗi mình em.
Đã hiểu. Giờ thì đã hiểu. Đã có cảm giác. Cảm giác bị đòn đánh ngang đầu như buổi sáng mùng 8 tháng 11 năm 1968. Tiếp theo là cảm giác bị xúc phạm, bị lăng nhục! Dù đã lường trước chuyện có thể xảy ra. Như trong phòng hỏi cung nghe những lời mạt sát, vu cáo, sỉ nhục, những lời đạo đức giả, phải lấy hết sức bịt miệng một ngọn núi lửa nghẹn ngào. Nhìn dáng người nhỏ bé, nét mặt lo lắng, thất vọng của vợ, thương quá. Họ đã tiêu diệt vợ chồng tôi và bây giờ họ tiêu diệt tập sách của tôi viết về sự tiêu diệt đó.
– Anh Cao Giang trên nhà xuất bản gọi điện về nói: Buổi sáng giám đốc vừa quyết định in nối bản 1500 bộ nữa thì buổi chiều có lệnh đình chỉ phát hành.
Tôi không nói được một lời nào. Điều tôi nghĩ lúc đó là nghĩ tới các anh ở nhà xuất bản. Anh Bùi Văn Ngợi, các anh Phạm Đức, Cao Giang và Đoàn Thị Lam Luyến có thể bị lôi thôi. Còn đối với vợ chồng tôi là một sự thất vọng và ghê tởm. Điều thực hiện với sách tôi viết hôm nay giống điều họ đã thực hiện với tôi trước đó: Vu cáo. Đàn áp. Tiêu diệt. Bao nhiêu năm rồi, vẫn một miếng võ gia truyền ấy.
– Chú Hoàng Hưng ở Sài Gòn cũng vừa gọi điện báo tin ngày mai sẽ có một phóng viên bay ra phỏng vấn, một nữ phóng viên, anh chuẩn bị tiếp khách. Em bảo sách bị đình chỉ phát hành rồi. Vừa có lệnh xong. Chú ấy cứthế à thế à, chẳng nói được câu nào. Mãi sau mới nói thôi anh chị cứ yên tâm, bây giờ không như ngày trước nữa.
Tôi hiểu ý Hưng muốn nói tôi không bị bắt. Tôi gọi điện ngay cho Bùi Văn Ngợi. Con trai anh trả lời:
– Bố cháu đi vắng. Chín giờ bố cháu về, bác gọi lại.
Một giây dài như một ngày, không thể đợi được đến chín giờ, tám rưỡi tôi đã gọi. May, anh đã có nhà. Tôi nói như người có lỗi:
– Tôi rất áy náy vì tôi mà các anh bị lôi thôi.
Tiếng Ngợi vang lên ngay bên tai tôi:
– Sao anh lại nói như vậy? Anh Tấn ạ. Chúng ta làm một việc mà chúng ta tin rằng có lợi cho dân cho nước. Anh nghĩ thế là không được. Có nhiều việc không tiện nói qua điện thoại. Anh hiểu ý tôi chứ. Chúng ta sẽ gặp nhau ở Hà Nội. Nếu có điều kiện mời anh lên tôi.
Giọng nói, cách nói rắn rỏi, tự tin, không một chút hoang mang của anh khiến tôi vững tâm hẳn lên. Tôi chỉ lo các anh oán tôi, vì tôi, các anh mang vạ.
– Tôi rất suy nghĩ về những chuyện xẩy ra với tập tiểu thuyết của tôi. Nhưng tôi nghĩ về tôi thì ít. Nghĩ về các anh thì nhiều.
– Không anh Tấn ơi. Sao anh lại nghĩ như thế. Chúng ta không được phép có một ý nghĩ bi quan nào. Chúng ta cùng chịu trách nhiệm.
Giọng Ngợi lanh lảnh bên kia đầu dây nói. Nghe anh, tôi hình dung ra nét mặt anh. Giọng nói của anh giống hệt những lúc anh trao đổi với tôi trước khi in tập sách. Tôi hiểu rằng Ngợi là người rất khó, nếu không muốn nói rằng không thể đánh gục — thời gian đã chứng tỏ tôi đúng. Từ phẫn nộ tôi lây cái tự tin bình tĩnh của anh. Chúng ta cùng chịu trách nhiệm. Còn câu nào tiếp thêm sức mạnh cho tôi hơn thế nữa.
– Tôi nói với anh em trong cơ quan rằng mọi việc cứ tiếp tục bình thường. Người việc nào cứ việc ấy. Nhà xuất bản không chỉ in một Chuyện Kể Năm 2000...
Câu nói ấy của anh lại làm tôi lo. Như vậy nghĩa là công việc trong nhà xuất bản không bình thường. Nhà xuất bản Thanh Niên từ khi Bùi Văn Ngợi về làm giám đốc đang “ăn nên làm ra”, in được nhiều tập sách giá trị, được bạn đọc đón nhận, cán bộ nhân viên từ mức lương tối thiểu đã nâng cao được thu nhập, cải thiện đời sống... Và bây giờ có một cuốn sách bị đình chỉ phát hành. Đình chỉ phát hành vì một vấn đề cấm kỵ nhất của người lãnh đạo: Mất lập trường quan điểm trong nhìn nhận xã hội do đảng lãnh đạo. Đó là cái gốc của người cán bộ. Là điều cốt lõi đánh giá một đảng viên. Tính kiên định của giai cấp công nhân, đối lập với thói tiểu tư sản dao động bấp bênh. Là không được lấy hiện tượng thay cho bản chất. Là thước đo lòng trung thành của người cộng sản. Là hòn đá thử vàng. Nhiều tội lắm. Toàn tội nặng. Không ai có thể cứu anh. Chưa kể cơ quan nào chẳng có mâu thuẫn nội bộ. Cả bè phái nữa. Anh Ngợi được nhiều người yêu, nghĩa là cũng có những kẻ ghét. Trong cơ quan. Ngoài cơ quan. Những lãnh đạo nhà xuất bản khác...
Tôi hứa với Ngợi sẽ lên gặp anh trong một ngày gần nhất. Rồi gọi điện cho Luyến. Trách Luyến:
– Anh đã bảo mồng 9 tốt ngày phát hành đi thì Luyến lại bảo 12 tốt ngày hơn, thế là bây giờ bị đình chỉ.
– 12 cũng chưa phát hành được. Vì chưa hết thời gian lưu chiểu.
– Mình nộp lưu chiểu từ ngày 27 tết. Ba ngày sau là phát hành được rồi còn gì.
– Không phải ba ngày mà bẩy ngày.
Đến lúc ấy tôi mới biết thời gian lưu chiểu là bẩy ngày chứ không phải ba ngày như tôi vẫn nghĩ.
– Thì đến mồng 9 vẫn quá thừa thời gian.
– Mãi đến mồng 6 mới nộp lưu chiểu cơ anh ơi. 27 Tết em mang sách đến phòng hành chính cơ quan để phòng nộp lưu chiểu theo đúng chức năng, nhưng mãi đến mồng 6 Tết, hỏi ra mới biết, số sách lưu chiểu vẫn còn nằm đấy, lúc bấy giờ họ mới mang đi nộp.
–  Sao lại như vậy?
– Có thể họ quên. Nhưng cũng có thể là quên có chủ ý. Việc đời phức tạp lắm anh ơi. Em ngu quá. Chủ quan quá. Giá cứ đem thẳng sách đi nộp lưu chiểu thì bây giờ xong rồi.
Tôi lặng người. Không chỉ bốn ngày nghỉ Tết chúng tôi định tận dụng, còn thêm mấy ngày nữa bị bỏ phí. Mà thời gian là thắng lợi. Luyến động viên tôi:
– Anh yên tâm. Đây mới chỉ là lệnh qua điện thoại thôi. Chưa có công văn chính thức. Anh em mình cứ chuẩn bị, tới 13 tháng Giêng —âm lịch— không có lệnh gì mới thì tổng phát hành.
Tôi chẳng tin vào những may mắn sẽ đến nhưng vẫn cứ hy vọng. Hy vọng vào một phép màu nào đấy dù là hy vọng hão huyền. Bắt đầu một giai đoạn mới trong cuộc sống của vợ chồng tôi. Một hội chứng mới xuất hiện: Hội chứng sợ điện thoại. Toàn những tin dữ. Toàn những điều phải lo lắng suy nghĩ. Lại càng lo lắng suy nghĩ khi chính giám đốc Bùi Văn Ngợi nói qua điện thoại rằng có những điều không tiện nói qua điện thoại, nghĩa là điện thoại của Ngợi cũng bị nghe lén. Anh cũng là một phần tử nguy hiểm, một đối tượng phải theo dõi sát sao. Tình hình có vẻ mỗi lúc một thêm nghiêm trọng.Tất cả chúng ta đều bị theo dõi, tất cả chúng ta sắp bị bắt rồi như thơ Hoàng Nhuận Cầm.
Chuông điện thoại reo là tôi và vợ tôi lại nhìn nhau. Chờ hết hồi chuông thứ ba, vợ tôi từ từ đưa tay khẽ nhấc máy. Để biết người gọi tới là ai. Chuyện lành hay chuyện dữ. Dữ nhiều hay dữ ít. Và sẵn sàng nói tôi đi vắng nếu đầu dây bên kia là một giọng nói lạ, một người lạ. Bởi vì đã có một cú điện thoại từ Hà Nội về dặn vợ chồng tôi không được có mặt ở Hải Phòng cũng không có mặt ở Hà Nội. Luyến cũng điện nói tôi đi thành phố Hồ Chí Minh là tốt nhất. Luyến không điện thẳng cho tôi mà ra một máy công cộng nào đó điện cho Đình Kính. Để Đình Kính nói lại với tôi. Luyến sợ điện thoại của tôi và cả điện thoại của Luyến bị nghe lén. Nếu tôi không đi thành phố Hồ Chí Minh được thì tạm lánh về Thuỷ Nguyên. Ở đâu thì ở nhưng không được ở Hải Phòng, Hà Nội. Lại càng không được đến nhà xuất bản. “Bây giờ người ta đang muốn thu hồi số sách về chờ xử lý. Mà anh là người in sách, anh Kính thay mặt anh ký hợp đồng với nhà in. Anh là người nhận sách từ nhà in và quản lý, phát hành số sách đó. Người ta đang tìm anh.”
Lúc bấy giờ tôi mới biết ngóc ngách về cái vị trí của tôi quan trọng như vậy, không chỉ là người viết ra tập sách mà còn là người in sách. Người ta tìm tôi, bắt tôi nộp lại số sách, toàn bộ 1500 bộ — chắc chắn dưới con số thực in rất nhiều — mà tôi chỉ nhận 200 bộ và đã vừa tặng vừa bán-tặng gần hết, còn lại là ở nơi Luyến nên tôi nhất nhất nghe lời Luyến. Hơn nữa tôi rất không muốn gặp các nhà đương cục, không muốn gặp chính quyền. Tôi dị ứng với các công sở và các viên chức trong bộ máy trực tiếp với quyền lực. Tôi đã quá hiểu họ.
Luyến dặn tôi: Ba mươi sáu chước, chước tránh mặt là thượng sách. Tôi thấy có lý. Ở đây cũng nói thêm là tôi rất cám ơn Đoàn Thị Lam Luyến, người trong dịp gặp gỡ ngẫu nhiên, đã làm một cái cầu nối giữa tôi và nhà xuất bản để tập sách này tới đúng địa chỉ, được in ra, đến với mọi người. Luyến tượng trưng cho sự may mắn của bộ sách và cũng là sự may mắn của tôi. Cũng giống Luyến, việc nộp lại sách tôi hoàn toàn không muốn, dù hai người xuất phát từ hai góc độ khác nhau. Mặc người ta có thể ghép tôi vào việc tán phát tài liệu cấm. Lại còn vi phạm luật lưu chiểu nữa. Đúng là tôi đã tặng sách trước thời hạn lưu chiểu, nhưng tập Nhà Văn Hải Phòng Thế Kỷ 20 vừa lấy từ nhà in về cùng với bộ sách của tôi cũng đã được tặng ngay thì sao. Với lại tôi đã nộp lưu chiểu từ trước Tết, chậm là do nhà xuất bản. Lỗi không phải ở tôi. Nhưng như vậy khuyết điểm của Ngợi càng to. Quan liêu. Thiếu kiểm tra đôn đốc. Càng gay cho Ngợi. Tôi cứ nghĩ một mình, tranh luận một mình như vậy.
Chuông điện thoại reo là thần kinh chúng tôi lại rung lên theo nhịp chuông vang. Vợ chồng tôi nhìn nhau rồi cùng nhìn cái ống nghe vỏ nhựa úp chụp trên máy. Nhấc nó lên thì chuông sẽ hết reo. Nó sẽ nói gì với tôi. Hẳn là một điều làm nhức đầu, một điều tệ hại, nhưng tệ hại nhất là tôi cứ luôn nhìn thấy một người thứ ba đang áp ống nghe vào tai hay bật máy ghi âm chăm chú theo dõi cuộc nói chuyện của chúng tôi và nhếch mép cười. Điên nhất là cái nhếch mép cười ấy. Thích thú? Nhạo báng? Khinh bỉ? Hay cười nhạt?
Cho nên từ bấy về sau, tôi và Lam Luyến muốn nói gì với nhau đều qua Đình Kính, dù cả tôi và Kính, Luyến đều chẳng mảy may tin vào sự an toàn của  “hòm thư lưu Đình Kính.” Chẳng biết làm thế nào dưới lưới trời lồng lộng,  tôi ra bưu điện gọi cho Luyến và rất hoang mang khi phải viết giấy khai rõ họ tên địa chỉ người gọi và số máy gọi tới — Thật là đến đâu cũng phải để lại dấu vết, không cho chúng nó thoátchúng bay vào sẽ không có đường ra. — Lại càng hoang mang hơn khi tôi nghe tiếng Luyến đầu dây bên kia:
– Anh gọi ở bưu điện đấy à? Ra bưu điện mà vẫn gọi số máy của em thế này thì cũng vậy thôi.
Tôi cũng nghĩ như Luyến.
Nhưng có còn cách nào khác nữa đâu?
Ngày 14 tháng Giêng là ngày giỗ mẹ tôi. Đã 9 giỗ mẹ, tôi không một lần vắng mặt. Nhưng ngày 14 tháng Giêng năm Canh Thìn ấy tôi phải đi Hà Nội. Tôi thắp hương trên bàn thờ bố mẹ, xin với Người được vắng mặt và cầu Người phù hộ cho tôi được mọi sự may mắn, cho tôi thêm sức khoẻ để chịu đựng và vượt qua được cuộc vật lộn này.
Không giống chuyến đi mùng 8 Tết lòng tràn đầy niềm vui, tay bắt mặt mừng trong gió Đông ẩm mịn, hôm nay rét đậm như cắt cứa vào da thịt. Tôi nai nịt gọn gàng. Áo “Phổ Nghi” lưng lửng đùi. Áo len bên trong. Cravate. Lại thêm phu-la kín cổ. Chưa hết. Mũ Nin-da, thứ mũ có lưỡi chai, trùm kín đầu kín tai kín mặt, xuống tận cổ, chỉ để hở hai con mắt. Rất lợi hại, giá chỉ mười nghìn, vợ tôi mua cho tôi ở trước cửa nhà máy len. Trùm vào ấm đã hẳn, người ta lại còn không biết mình là ai. Chưa kể nó bảo vệ mặt tránh được những ca át xít. Có thể tôi đã có đuôi. Cái cảm giác có đuôi ngày nào trước khi bị bắt năm 1968 lại phả hơi lạnh, hơi bẩn sau gáy.
Ra đến cửa vợ tôi còn thì thào:
– Anh đi tầu xe để ý nhé. Trên ấy gọi điện về dặn phải hết sức cẩn thận. Đừng đi đâu một mình. Anh đi đâu cũng phải có em đi cùng. Nhưng hôm nay em không đi được. Hôm nay em phải về nhà giỗ mẹ.
Tôi cũng biết phải cẩn thận. Giờ đây tôi có nhiều kẻ thù. Từ cấp vĩ mô đến cấp vi mô. Chẳng hạn như có những người bỗng nhiên nhận ra mình trong tập sách của tôi. Và pháp luật vĩ mô khó trừng trị thì họ xử theo luật vi mô: Luật rừng. Bởi vì họ không thể chịu đựng được một điều: Đang đường đường là những đấng từ bi chăn dắt yêu quý dân lành, bỗng bị tôi lột trần truồng và hiện nguyên hình là những kẻ đê tiện, những tên miệng nam mô bụng một bồ dao găm, những kẻ ngậm máu phun người, những kẻ đang hành nghề đao phủ.
Đã điện trước cho Luyến, tôi đến thẳng quán cà phê phố Trương Hán Siêu,  cái quán cà phê mà những lần ăn cơm với các anh chị ở nhà xuất bản Thanh Niên xong, chúng tôi đều sang đấy uống nước. Một quán cà phê quen của cả nhà xuất bản.
Không chỉ tôi và Luyến mà còn có cả Hằng Thanh.
Luyến cười: Em chào anh. Còn Hằng Thanh nhìn tôi với ánh mắt tinh nghịch, một kiểu nói: Em chào ông anh đang đùa với chính quyền. Bên tách cà phê nóng, tôi ngồi im lặng nghe hai cô bạn gái kể. Đó là những người mới cách đây mấy tháng còn chưa hề quen biết nhưng giờ đây thân thiết, cùng chia vui xẻ buồn không chỉ trong việc in tập tiểu thuyết của tôi.
Vẫn chưa biết chuyện ngừng việc phát hành này là do đâu. Cú điện thoại tạm ngừng phát hành là từ Cục Xuất Bản. Trung ương đoàn chưa có ý kiến gì. Bí thư thứ nhất, trưởng ban tư tưởng văn hoá trung ương đoàn còn đang đọc. Nhưng chiều hướng rất gay. A25 thì bực lắm. Rất cáu. Họ bảo bạn bè vẫn chơi với nhau mà phản thùng. Hằng Thanh còn nói rõ hơn: Có một ông trung tá — hay thượng tá gì đấy — ở A25 điên lên. Ông ấy vẫn chơi với bọn em. Thì cũng là lợi dụng lẫn nhau thôi. Ông ấy nắm tình hình bên này. Bên này nắm tình hình bên ấy. Ông ấy nói với em: “Anh theo dõi lão này hai mươi năm nay, tháng nào cũng về Hải Phòng nắm tình hình, nghe báo cáo. Thế mà để sểnh một cái lão ta in ra quyển này có điên không cơ chứ. Anh kỳ này mất lon vì lão ấy.”
Luyến lại bảo:
– Chính cái ông Hằng Thanh nói ấy bảo với em rằng hôm qua cả 50 hãng thông tấn trên thế giới đều đồng loạt đưa tin về tập sách của anh.
Cả ba chúng tôi đều phấn khởi vì điều ấy, nếu đúng thế. Nhưng tôi nghĩ các vị ấy nói vậy để tăng thêm tính nghiêm trọng của vấn đề lên thôi. Một quyển tiểu thuyết chứ có phải một vụ nổ bom nguyên tử đâu. Dù thế nào thì câu nói ấy cũng làm tôi phấn khởi, cảm thấy mình là người quan trọng. Luyến đưa tách cà phê lên môi rồi lại đặt xuống bàn thừ thượi:
– Năm 2000 Liên Hợp Quốc lấy là năm Nhân Quyền. Còn trong nước lấy là năm Thanh Niên. Họ bảo nhà xuất bản Thanh Niên in tập sách này không thể tha thứ được.
Tôi giật mình. Đến lúc ấy tôi mới biết ý nghĩa chính trị của những năm tháng tôi đang sống. Như vậy tập sách của tôi là một mũi tên trúng hai mục tiêu. Người ta không thể dung tha một sự chống đối tinh vi quyết liệt như thế được. Bùi Văn Ngợi nữa, hẳn cũng rất khó an toàn.
B.N.T.

([1]) Mở đầu
Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHẬT BẢN - VIỆT NAM DIỄN TẬP HẢI QUÂN CHUNG


 
Máy bay tuần tra biển P-3C của Nhật Bản (trên hình là bay tại quần đảo Senkaku)

Nhật-Việt diễn tập hải quân chung
 
19.02.2016
Hãng tin Kyodo cho hay lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản (MSDF) và hải quân Việt Nam vừa có đợt tập dượt chung ba ngày ngoài khơi Đà Nẵng.

Hãng tin Nhật nói cuộc diễn tập kết thúc hôm thứ Năm 18/2.

Các kênh thông tin chính thức của Việt Nam không đề cập gì sự kiện này.

Một đội của MSDF với hai máy bay tuần tra P-3C đã tham gia hoạt động với mục đích tăng cường hợp tác quốc phòng song phương và "kiềm chế Trung Quốc trong bối cảnh tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông", theo Kyodo.

Mới tuần rồi, thông tin đưa ra cho hay Trung Quốc đã triển khai tên lửa đất đối không trên đảo Phú Lâm thuôc quần đảo Hoàng Sa mà Việt Nam cũng tuyên bố chủ quyền.

Cho tới nay, Chính phủ Việt Nam chưa có bình luận về việc này trong khi Hoa Kỳ và một số nước khác đã lên tiếng bày tỏ quan ngại.

Trung Quốc thì không bác bỏ nhưng cũng không thừa nhận mà chỉ nói là đã đặt vũ khí trên đảo từ lâu nay.
.
Hợp tác Việt-Nhật

Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Gen Nakatani và người đồng nhiệm Việt Nam Phùng Quang Thanh thống nhất tại Hà Nội tháng 11/2015 về chuyến thăm Cam Ranh trong tương lai của tàu thuộc MSDF.

Cuộc diễn tập 16-18/2 được nói là trong khuôn khổ hợp tác chung về nâng cao năng lực hỗ trợ nhân đạo và cứu hộ thiên tai, có tính tới tình hình ở Biển Đông.

Kyodo cho hay lộ trình diễn tập được dựa trên kịch bản là máy bay P-3C của Nhật và tàu hải quân của Việt Nam cùng tham gia cứu một tàu dân sự gặp nạn.

Một máy bay P-3C đã tới thăm Việt Nam hồi tháng Năm năm ngoái.

Trong một diễn biến liên quan Biển Đông, báo chí Philippines cho hay một cuộc diễu hành "lịch sử" với sự tham gia của hàng trăm người Philippines và người Việt Nam sống tại Philippines sẽ được tổ chức ngày 25/2 tới trước Tòa đại sứ Trung Quốc ở Makati City, Metro Manila.

Những người tham gia, có thể có cả sinh viên các nước ngoài khác, sẽ cùng phản đối các hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông, mà Philippines gọi là Biển Tây Philippines.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Hỗn độn” như là tiểu thuyết sắp đặt dưới dạng những ký hiệu văn hóa…



Đặng Văn Sinh


Bất cứ ai lần đầu tiếp xúc với “Hỗn độn”* cũng sẽ bị mất phương hướng vì  tác phẩm được phối hợp bởi nhiều loại văn bản khác nhau theo trình tự phi tuyến tính rất đặc trưng của thi pháp tiểu thuyết Hậu hiện đại. Tuy nhiên, “Hỗn độn” không hoàn toàn được viết theo khuynh hướng Hậu hiện đại. Nó là sự tổng hợp của nhiều thể loại khác nhau, trong đó, ngoài Hiện thực cổ điển, Hiện thực huyền ảo, còn thấp thoáng phong cách Liêu trai dưới dạng ẩn dụ với nhiều cấp độ khác nhau. Nói cách khác, với “Hỗn độn”, Nguyễn Khắc Phục có tham vọng biến tác phẩm của mình thành sản phẩm đa khuynh hướng, một thứ “hỗn độn” cả về lý thuyết lẫn thực hành như là sự thể nghiệm chưa từng có về “công nghệ sắp đặt”, bởi vì theo cách suy nghĩ của nhân vật chính Nguyễn Văn Rơm “hỗn độn” cũng là một thứ trật tự.
Về mặt bố cục, “Hỗn độn” được hình thành dựa trên dạng kết cấu mở giống như thực thể sinh động tiềm tàng thuộc tính đàn hồi, có thể bao quát được nhiều loại hình khác nhau mà không bị bão hòa cả về mặt sinh học lẫn cơ học. Logique của hệ thống văn bản này dựa trên sự tương thích giữa hoàn cảnh, tình huống và tâm trạng, bao hàm cả những khái niệm triết học mù mờ của dàn nhân vật nửa thực nửa hư.
Nếu những chỉ dấu về khuynh hướng Hậu hiện đại được hiển thị tương đối rõ nét qua 64 tiểu mục với hàng loạt tựa đề mà nội dung văn bản thường không ăn nhập với nhau, thì các chi tiết, tình tiết như một dạng tiểu tự sự lại diễn ngôn xen kẽ giữa tính nghiêm túc của loại chính văn với tính giễu nhại của loại phúng thích.

 Khác với tiểu thuyết Hậu hiện đại thuần túy được sáng tác dựa trên lý thuyết nguyên thủy, “Hỗn độn” có vẻ như được hình thành từ khuynh hướng “kép”, giống như cặp Rơm và Nàng, kết hợp được cả Hậu hiện đại lẫn Hiện đại tạo nên một văn bản nghệ thuật đa phong cách, trong đó, yếu tố “đại tự sự” không bị “giải cấu trúc” hoặc đẩy ra vùng “ngoại biên” mà ngược lại, đã tham gia một cách tích cực vào quá trình hình thành tác phẩm cũng như điều tiết các mối quan hệ với tiểu tự sự.
Như vậy, về mặt cốt truyện, đọc “Hỗn độn” ta được tiếp xúc với ít nhât hai loại văn bản. Loại “chính văn” thuộc khuynh hướng hiện thực cổ điển và loại giễu nhại thuộc khuynh hướng Hậu hiện đại. Hai khuynh hướng này, lúc thì hoạt động riêng rẽ, lúc lại lồng vào nhau tạo thành cấu trúc lưỡng cực xoay quanh một trục giả tưởng. Người đọc có thể tìm thấy ở đấy, qua hiệu ứng thẩm mỹ những biến thiên của thời cuộc qua hàng loạt thân phận con người được tác giả nhào nặn, thậm chí thao túng như một thiền sư đắc đạo, đạt đến cảnh giới thượng thừa, tiên đoán được lẽ huyền vi của tạo hóa.
Về một mặt nào đó, có thể xem “Hỗn độn” có một đại tự sự xuyên suốt toàn bộ tác phẩm với tư cách “phản ánh hiện thực” được giấu dưới lớp vỏ Hậu hiện đại, nếu biết bóc tách nó người đọc sẽ nhận ra tư tưởng của nhà văn thông qua cuộc đời Nguyễn Văn Rơm. Đến đây, dù muốn hay không, ta vẫn phải thừa nhận, Rơm là một đại tự sự. Anh ta chiếm một vị trí quan trọng ở trung tâm tác phẩm với nhiều mối quan hệ xã hội, khu biệt hẳn với với các nhân vật Hậu hiện đại thường xuất hiện trong các tiểu tự sự, và không hiếm trường hợp, bị đẩy ra vùng ngoại biên. Rơm là nhân vật trung tâm tạo nên một trường lực hấp dẫn hàng loạt nhân vật vệ tinh xoay quanh ở những khoảng cách khác nhau tạo nên một tiểu vũ trụ vô cùng phức tạp.
Dưới góc nhìn của Chủ nghĩa hiện thực cổ điển, sẽ có người cho rằng Rơm không điển hình mà chỉ là sản phẩm hư cấu của một đầu óc hoang tưởng, được lắp ghép vô tội vạ theo kiểu tùy hứng, nhất là những đấng bậc tai to mặt lớn luôn có thói quen chăn dắt đám bách tính u mê, dễ bảo như Đấng Không Cảm, Bậc Giả Hình hay Người Đa Nghi. “Thời đại hôn ám” của Rơm được đánh giá là cực kỳ nguy hiểm vì đó là sản phẩm của một “Kẻ Phao Tin” ngược chiều chính thống, toàn những chuyện hư hư thực thực, chứa đầy những ký hiệu, những ám thị, những ẩn ngữ của một gã nửa tâm thần nằm trong cũi sắt Trại Cuồng Quá Cảnh đợi ngày ra bãi tha ma hoặc lên đài hóa thân Hoàn Vũ. Tuy nhiên, trên thực tế, Rơm và “Thời đại hôn ám” phức tạp hơn nhiều. Rơm không chỉ là vấn đề xã hội mà còn mang tư tưởng triết lý. Nói một cách dễ hiểu, bằng phương pháp Hậu hiện đại, tính cách điển hình của Rơm bị nhòe mờ, thay vào đó là những mảnh ghép gần như ngẫu nhiên bị đẩy ra khỏi trung tâm của trường hấp dẫn nhưng vẫn hiển lộ “bản lai diện mục” qua hàng loạt những thao tác phụ trợ, trong đó có những hồi ức được “liêu trai hóa” tạo nên những bối cảnh mang nặng âm tính như Ngõ Vong, trường bắn Cầu Một Nhịp hay Xóm Dựa Cột…. Thế nhưng, khi gạt bỏ lớp sương mù lảng vảng những hồn ma âm u, người tinh ý sẽ nhận ra ngay một thực thể kiến trúc giống như tòa lâu đài xây trên hoang mạc, không cần nền móng lại có tham vọng trường tồn, nên đã tạo ra hàng loạt bi kịch lịch sử. Đó là hệ ý thức chắp vá được tích hợp giữa sản phẩm văn hóa đầy khuyết tật từ cả ngàn năm trước với thứ triết thuyết cũ rích sặc mùi nghĩa địa, một thời  từng được rao bán ầm ĩ nhưng giờ đã yên vị trong sọt rác nhân loại.
Không còn nghi ngờ gì nữa, Rơm rất xứng đáng là hình ảnh tiêu biểu cho người nghệ sĩ Lạc Quốc mà tác giả gọi một cách mỉa mai là “Kẻ Phao Tin”. Ở vào hoàn cảnh chính trị, xã hội như Lạc Quốc, việc Rơm có nguồn gốc xuất thân không bình thường, bị tha hóa chẳng có gì là khó hiểu. Trong con người Rơm hội tụ đủ các tính chất điển hình của một nền chính trị nhếch nhác. Rơm là sản phẩm của thiết chế văn hóa đương đại nhưng cũng là di sản của quá khứ, một quá khứ u ám, bạc nhược, luôn lép vế trong các mối quan hệ đồng đẳng nhưng lại vượt trội ở tố chất “Phao Tin” và tự huyễn hoặc mình bằng công thức A.Q.
Về mặt hiện tượng, Nguyễn Văn Rơm có thành phần xuất thân và một nhân cách nghệ sĩ quá phức tạp. Có lúc anh ta là điển hình cho tầng lớp “Phao Tin” vừa đói khát về vật chất vừa bệ rạc về tinh thần chẳng khác gì một kẻ bần cùng dưới đáy xã hội. Đương nhiên, như phần đầu chúng tôi đã nhắc đến, Rơm không phải là một cá thể suy thoái nhân cách mà thực ra là cả một cộng đồng đang có nguy cơ biến đổi gene. Từ Rơm thành “Bọn Rơm”. Rơm có mặt khắp nơi, tham gia vào mọi trò du hý trong một giới hạn “nhà cái” cho phép, từ đàn đúm nhậu nhẹt, viết thuê đủ loại hồi ký, chơi gái mại dâm đến vào nhà thương điên hoặc tự tử nhưng dứt khoát không được phao tin đồn nhảm mà luôn được định hướng theo quan điểm của các đấng bề trên. Chính vì thế, nảy sinh cả một giai cấp Người Rơm tự nhiên mất cắp hộ chiếu, biến mình thành thứ rẻ rách nhan nhản khắp vương quốc. Chân dung Người Rơm được tác giả (rất có thể cũng là một Rơm) phác thảo chỉ vài đường nét nhưng xem ra khá chính xác nếu nhìn nhận từ phía những “Kẻ Phao Tin” hàng ngày sống vất vưởng bằng vài đồng nhuận bút còm. Có thể nói, chính Rơm tự họa khuôn mặt quái đản của mình: “Người Rơm là tất cả những ai bị xóa bỏ hay tự xóa bỏ, toàn bộ nhân thân, gốc rễ, ký ức, tương lai... của mình, bị xua đuổi hoặc trốn chạy, rơi vào tình trạng vô thừa nhận không riêng trên những miền đất hứa mà ngay tại nơi mình chôn nhau cắt rốn” (Hỗn độn, tr. 7). Và cũng thật khó hiểu, trước vong hồn nhà thơ Mũ Sắt, Rơm lên giọng triết lý như một nhà tư tưởng dự báo cho số phận con người: “Rơm là biến thái cuối cùng của kiếp Người trước khi quay về chính nơi y được một Đấng nào đó gửi đến đây với những ý đồ rất khó đoán định, hoặc là để chứng tỏ ta đây thừa mứa quyền năng, hoặc là để thực hiện các kế hoạch siêu việt, hoặc chỉ đơn giản do ngẫu hứng và thói ưa nhiễu sự của Kẻ Rách Việc Vĩ Đại...” (Hỗn độn, tr. 38).
Cũng như Rơm, Anh Hề, Con Tin, nhà thơ Mũ Sắt, Thiện Sĩ, Thày Lang, Bác Mộng, thậm chí cả Người Xanh, Ngợm Xám…, đều thuộc giai tầng Rơm, được tổng hợp từ nhiều thành tố, trong đó có cả những yếu tố độc hại lưu cữu trong bộ nhiễm sắc thể văn hóa Lạc Quốc do tổ tiên để lại. Về chuyện này, Rơm cũng đã tự thú nhận, rằng mình chỉ là loại sản phẩm phế thải, biến thành xác chết vô thừa nhận đang phân hủy về mặt lý thuyết.
Không phải ngẫu nhiên, một trong hai tác giả của tập bản thảo rớm máu mà nhà văn mua lại được từ chị đồng nát viết những dòng cảm khái sau đây: “Trong cả mớ hỗn danh quái gở ấy, thì tên Rơm đáng sợ nhất, nó chứa đựng số kiếp không riêng của nàng, mà của hàng triệu người trên cái đất nước khốn khổ này. Rơm rạ. Trôi dạt, nhẹ bẫng cọng rơm rác. Bị bỏ rơi. Bị khinh miệt. Bị giày xéo. Tị nạn. Bị lưu đày, tự giác hoặc bất đắc dĩ. Và có lẽ, đúng nhất Rơm dễ bị cháy...” (Hỗn độn, tr. 26). Thế nhưng, Rơm lại là một “Kẻ Phao Tin” đặc biệt trong các mối quan hệ xã hội vô cùng phức tạp. Ở lớp văn bản thứ nhất, tạm gọi là hiện thực, người đọc có thể xếp Rơm vào nhân vật trung tâm (một ngoại lệ không tương thích với lý thuyết Hậu hiện đại), và châu tuần xung quanh anh ta,    ngoài hai gã Người Xanh, Ngợm Xám hành nghề xe ôm, thu nạp được từ Xóm Dựa Cột, lúc nào cũng kè kè bên mình, Rơm luôn có hàng tá bằng hữu trong đám văn nghệ sĩ “thành tích bất hảo” hoặc hành tung mờ ám như Thiện Sĩ, Anh Hề…, luôn được Đấng Không Cảm, Bậc Giả Hình hay Người Đa Nghi chăm sóc chu đáo vì nền an ninh Lạc Quốc. Nếu những hội viên lương thiện trong Hội Phao Tin coi Rơm là một tài năng thì dưới con mắt nhà cầm quyền, anh ta là điển hình cho loại văn nghệ sĩ thoái hóa biến chất, là trung tâm của đám người bất đồng chính kiến, chuyên phao tin bậy bạ, gây mất niềm tin của thần dân với triều đình.
Thật ra, cuộc đời Rơm là một chuỗi những thất bại ê chề được tác giả diễn đạt khá sinh động từ nhân thân đến sự nghiệp cầm bút, cầm cọ. Rơm có một căn cước luôn tiềm tàng khả năng vào trại tâm thần hoặc trại cải tạo bởi những ý tưởng nổi loạn, nhưng lại cũng rất nhu nhược, hèn nhát, thỏa hiệp  trước những cám dỗ bởi nhu cầu vật chất tối thiểu. Câu chuyện anh ta buộc phải bán bản thảo “Thời đại hôn ám” cho gã chủ quán thịt chó Tạ Quay với giá rẻ mạt lấy tiền chữa chạy cho vợ, cùng thói máu mê cờ bạc đến nỗi cháy túi bị chủ trọ tống ra khỏi Ngõ Vong, hay vụ scandal cô vợ lăng loàn lao vào cơn lốc hụi đen, qua mặt chồng, lòng thòng với giám đốc Hồng Chuyên, bị đầu gấu xiết nợ, cũng chỉ là một cảnh trong vở bi hài kịch không tiền khoáng hậu.
Song hành với Rơm, văn bản hiện thực còn tạo ra mối liên kết, móc xích với hàng loạt văn bản thứ cấp, thường xuất hiện xen kẽ không theo bất cứ trình tự nào nhưng đều có giá trị tự thân nhằm bổ sung cho hình ảnh Rơm thêm đậm hơn về khả năng biến dạng của nhân cách, tha hóa tâm hồn, hay nói theo ngôn ngữ của chính Rơm: “sự thối rữa linh hồn”. Những nhân vật này phần lớn đều là thành viên của Hội Phao Tin nhưng ở đẳng cấp thấp hơn vì những lý do tế nhị, cho dù, trong đám ấy, không ít kẻ có thực tài thuộc thành phần nguyên khí quốc gia.
Như vậy, thân phận Rơm là thân phận của một lớp người vừa có tính cá biệt lại vừa mang tính cộng đồng, đang ngụp lặn trong một môi trường ô nhiễm, bị các loại virus độc hại tàn phá, không gian sinh tồn bị thu hẹp dẫn đến tình trạng, muốn tồn tại phải biến đổi gene. Cái chết của Nhà Thơ Mũ Sắt, vụ tự tử của Con Tin sau khi buộc phải nghỉ hưu hay cảnh thi hành án tử hình ở trường bắn Cầu Một Nhịp, xét đến cùng đều là cái chết về thể xác bằng những phương thức khác nhau, không đáng sợ với người dân Lạc Quốc vốn đã quá nhờn với súng đạn sau mấy cuộc chiến khốc liệt, nhân danh đủ thứ tốt đẹp. Cái chết về tâm hồn của cả một cộng đồng đáng sợ hơn nhiều. Theo nhận định của Rơm, dường như dân tộc Lạc đang chờ đợi một cái chết từ từ, mà Nàng - cũng là một Người Rơm – gọi là “tự đánh mất hộ chiếu”.  
Rơm là một thực thể trong đám nhân quần nhếch nhác với cái đầu hoang tưởng trong cũi sắt trại Cuồng Quá Cảnh, nhưng cũng có thể chỉ là huyễn ảnh mang tính biểu tượng của lối tư duy ngược kiểu người trồng cây chuối  khi mà linh hồn anh ta đang thối rữa. Ở lớp văn bản thứ hai này, hệ thống tiểu tự sự và chuỗi nhân vật ngoại vi bỗng nhiên gia tăng đột ngột. Trong khi ấy, các khái niệm thời gian và không gian vật lý dường như đã chuyển thành thời gian và không gian ảo. Toàn bộ các sự kiện được diễn dịch theo một quy trình phi logique, luôn có xu hướng phá vỡ cấu trúc ổn định, chẳng những không thể kiểm soát mà còn tạo ra vô số câu hỏi hoài nghi về bản chất của chúng.
Có thể nói, cấu trúc “Hỗn độn” càng đọc càng rối, hệt như lạc vào ma trận. Ở đó, cái thực chìm khuất trong cái ảo, cái sống lặn ngụp trong cõi chết, cái vĩnh cửu sóng đôi với khoảnh khắc, tất cả tạo nên một mớ bòng bong, không phải ở dạng xã hội học mà ở cấp độ triết học, có thể tìm thấy từ Platon, Nietzsche, Hegel, Heidegger, đến Lão Tử, Trang Tử và cả chuyên gia phân tâm học Freud trong tư tưởng của các nhân vật thuộc thành phần công dân khố rách áo ôm Lạc Quốc  dưới đủ các hình thái Phao Tin.
Không phải ngẫu nhiên mà tác giả đặt tên cho các tiểu mục toàn bằng những danh xưng hay khái niệm phiếm chỉ, mà hầu hết trong số đó, giữa văn bản ngôn từ và văn bản ngữ nghĩa không tương ứng với nhau. Nói cách khác, nếu chỉ đọc các đề mục mà bỏ qua nội dung đề mục, ta sẽ bị tác giả “qua mặt” bởi cách “nói một đàng làm một nẻo” rất phổ biến của khuynh hướng Hậu hiện đại. Chẳng những thế, không ít tiểu mục, ở phần đầu tác giả sử dụng lối kể truyền thống một cách lớp lang, có không gian thời gian tuyến tính, có nhân vật với đầy đủ diễn biến tâm trạng, có đối thoại, có độc thoại, đôi khi còn sử dụng phong cách văn chương trữ tình, tuy nhiên, ngay sau đấy, một loạt hiện tượng ma quỷ hiện hình với những ảo giác,  những cô hồn từ cõi mê bất ngờ xuất hiện đồng loạt tạo nên vô số tiểu cảnh kịch tính bằng thứ ngôn ngữ lãng đãng liêu trai ma mị của những oan hồn vật vờ nơi hoang địa từ lâu không được siêu thoát.
Ngoài việc văn bản ngôn từ và văn bản ngữ nghĩa vênh nhau, các loại văn bản khác dưới hình thức liên kết hoặc phái sinh cũng không trùng khớp ở mức độ khác nhau. Phần thừa ra giữa hai loại văn bản này tạo thành sự tương tác, đôi khi lại triệt tiêu nhau qua công đoạn giải cấu trúc và giễu nhại.
Nói “Hỗn độn” có một trung tâm là theo cách gọi của Chủ nghĩa hiện thực cổ điển, còn xét dưới góc độ Hậu hiện đại, nó có khá nhiều trung tâm khi ta khảo sát dạng văn bản thứ hai, nhất là những phần chờm ra vùng ngoại biên. Văn bản Hậu hiện đại khá lỏng lẻo, gồm nhiều loại tiểu tự sự được ráp nối với nhau theo cấu trúc trò chơi xếp hình. Dạng cấu trúc này, trung tâm và ngoại biên luôn có khả năng đổi chỗ cho nhau. Vì thế, nhân vật Rơm cũng như Nàng, Người Mất Mặt, Con Tin hay Nhện Mù Tám Chân thường xuất hiện như những đơn vị protein trong chuỗi tế bào gốc. Tuy nhiên, khác với cấu trúc DNA vốn luôn trong trạng thái ổn định, các văn bản của cuốn sách lại được phát sinh tùy theo hoàn cảnh và tăng trưởng theo dãy số bí hiểm được mã hóa bằng những ký hiệu. Đây chính là nguyên nhân mỗi khi tiếp xúc với văn bản, người đọc cần phải lựa chọn phương pháp đọc, nếu không , sẽ bị sa lầy trong mớ bòng bong những từ ngữ được tổ hợp bởi nhiều mô hình câu, nhiều cấu trúc ngữ pháp phức tạp.
Như phần đầu chúng tối từng nhắc đến, yếu tố Hậu hiện đại đầu tiên của cuốn truyện đã tác động ngay đến tâm lý người tiếp nhận. Tuy rằng đó chỉ là lớp vỏ của “Hỗn độn”, nhưng một khi giở lướt qua hơn sáu mươi tiểu đề mục với hơn ba chục danh xưng, độc giả sẽ phải giật mình bởi sự kỳ quái chưa bao giờ thấy trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Nói một cách nghiêm túc, đó là một mớ từ ngữ có xu hướng “khiêu khích”, chẳng những nó loại bỏ hoàn toàn lớp từ Hán - Việt truyền thống, thay vào từ thuần Việt lạ tai, gai góc, mà còn sử dụng loại từ không hề tu sức chỉ sự vật một cách trần trụi, như cố tình gây trêu ngươi các nhà khoa bảng từng được đào luyện một cách trong hệ thống trường ốc nổi tiếng về khoa “đạo đức giả”! Đó là những địa danh như “Ngõ Vong”, “Thành Rốn Rồng” (Long Đỗ), “Thành Phố Không Mùa”, “Sông Vành Tai” (sông Nhĩ Hà), “Phường Đạo Sắp Thành”, “Thành Phố Váng Dầu”, “Ngã Tư Sáu Vú”, “Xóm Dựa Cột”, “Hẻm Thối”…, hay chùa chiền, miếu mạo, công sở…, như “Chùa Địa Ngục”, “Sở Căn Cước”, “Lạc Quốc” (nước Vui Vẻ hay nước của Chim Lạc(!?), “Trại Cuồng Quá Cảnh” (trại tâm thần), “Đấng Không Cảm”, “Bậc Giả Hình”, “Người Mất Mặt”, “Nhà Thơ Mũ Sắt v.v… Hầu hết những cụm từ trên đã bị dung tục hóa, giễu nhại hóa trong một giới hạn nhất định, có lúc khá tương thích với nội hàm tiểu mục, nhưng cũng không ít trường hợp chỉ là sự tương phản về hình thức gây hiệu ứng thẩm mỹ ở khía cạnh châm biếm, phúng dụ.
Quá trình diễn ngôn của “Hỗn độn”, ngoài Rơm mang tính biểu tượng cho lớp người được mệnh danh là những “Kẻ Phao Tin” ngược với chính thống, đang thối rữa linh hồn, tác giả còn “đẻ” ra hàng loạt nhân vật phụ trợ mà hình hài và nhân cách đều biến dạng đến mức quái dị. Phần lớn trong số ấy đều được khoác cho những cái tên phiếm chỉ căn cứ vào một hành vi vượt trội nào đó. Người đọc thừa biết chúng chỉ là những biệt danh mang tính sắp đặt, không loại trừ yếu tố ngẫu hứng, có điều, ở phần ruột của nó vẫn tiềm ẩn một ý tưởng. Chẳng hạn, Người Xanh, Ngợm Xám hành  là cặp đôi, lúc nào cũng kè kè bên cạnh Rơm như hình với bóng, được miêu tả như hai vệ sĩ trung thành, tuy sở hữu một diện mạo khó coi nhưng lại chứng tỏ một tâm hồn cao cả. Hai gã cô hồn từng có hành vi nghĩa cử cứu ông chủ thoát khỏi cảnh “nhập kho” khi Rơm bị “Đấng Không Cảm” khám nhà vì liên quan đến bản thảo cuốn “Thời đại hôn ám”. Từ hai gã nửa người nửa ngợm này, ta có quyền liên tưởng đến anh giám mã Sancho Panza của ngài hiệp sĩ quý tộc  Don Quixote. Người Xanh, Ngợm Xám không chỉ là hai quái nhân của trò chơi giễu nhại, mà ẩn phía sau lớp ngôn từ hài hước ấy, tác giả ngầm chỉ ra một căn bệnh trầm kha thời đại. Chỉ có trên đất Lạc Quốc, ở vào thời điểm xảy ra nhiều biến cố mới xuất hiện những quái nhân. Đó là dấu hiệu cho thấy sự thối rữa linh hồn mà chính Rơm và Nàng đã dự đoán.
Nhưng không chỉ có Người Xanh, Ngợm Xám. Cùng với hai gã xe ôm, tác giả còn “thả” một loạt “vong” khác vào “Hỗn độn” mà tính bi kịch còn đậm đặc gấp nhiều lần so với Nguyễn Văn Rơm. Trong số này phải kể đến Nhện Mù Tám Chân, Người Mất Mặt, Anh Hề và Con Tin. Nguyễn Khắc Phục có sở trường viết về các hồn ma. Những trường đoạn kể về cái chết của cô thợ hàn Thành Phố Váng Dầu hay vụ án bí ẩn của người cựu phi công phản lực cơ rất hấp dẫn người đọc tuy đều nặng mùi tử khí. Điển hình là cách kết thúc tính mệnh theo kiểu “trồng cây chuối” của thân phụ Thày Lang sau khi buộc phải thủ tiêu bạn mình là nhà văn Hồn Bướm, hay vụ tự tử của Con Tin đều được tác giả phục hiện với tâm thức người trong cuộc. Một điều dễ nhận thấy là, ngoài sự u ám, lạnh lẽo của không gian mộ địa, người viết còn sử dụng lối hành văn cổ điển, chân phương, tạo nên một văn bản khác hẳn với phong cách giễu nhại tùy hứng thường thấy ở những tiểu mục thuộc khuynh hướng Hậu hiện đại.
Riêng các nhân vật “vip” (Very Important Person), danh xưng thường thống nhất với hành vi. Ngôn ngữ diễn đạt của tác giả đối với loại người nay, nói chung đều được bộc lộ tối đa khả năng giễu nhại. Sự “ăn khớp” tuyệt đối giữa nội dung và hình thức, ít nhiều đã làm tăng hiệu quả tiếp nhận về cách nhìn không mấy thiện cảm với các “đấng”, “bậc” đang thối rữa linh hồn nhưng lại điếc khứu giác, không ngửi được loại mùi ghê tởm của chính mình. Trong tiểu mục “Bản thảo thành tang vật vụ án” (Hỗn độn, tr. 56), Rơm bị Đấng Không Cảm thẩm vấn sau khi bản thảo bị thu giữ, tác giả viết bằng giọng văn giễu nhại ở cấp độ trung tính: “Đấng Không Cảm nhìn xa trông rộng, tin rằng đây là một âm mưu nham hiểm, làm nhiễu loạn xã hội, gây hoang mang cho đám dân chúng vốn đã quá căng thẳng mệt mỏi vì lạm phát, dịch bệnh tràn lan, tệ tham nhũng tác oai tác quái, thói đạo đức giả ở đủ các cấp độ thi nhau nở rộ như nấm mùa mưa, tội ác hoành hành khắp nơi, rồi hạn hán, lũ lụt, động đất bất cứ lúc nào cũng có nguy cơ bùng phát... Nhất là giữa lúc trăm họ không ngớt rỉ tai nhau tin đồn thổi về chuyện, chính quyền Lạc Quốc từ nhiều  năm  trước đã bí mật ký một bản khế ước bán cả dẫy 99 ngọn Phượng Hoàng cho một đối tác họ Bành ở nước ngoài và khả năng nổ ra bạo loạn, càng trở nên nguy hiểm”. Ngay sau đấy, cường độ phúng thích gia tăng tỷ lệ thuận với thói hách dịch của ông lớn: “Đấng Không Cảm đứng phắt dậy, tuyên bố: Ắt là phác thảo này chưa đọc đã đáng được xay thành bột giấy”. Mức độ hoạt kê được đẩy lên đỉnh điểm khi một vị quan chức khác có biệt danh “Người Đa Nghi” lên giọng thẩm vấn: “Lý gì đặt tên triển lãm 00 Giờ - Hồn vía & Đột sinh? Tại sao lại 00 Giờ chứ không phải một giờ giấc nào khác? Hay 00 Giờ muốn ám chỉ một bước ngoặt, một kiểu giao thừa, cái cũ sắp qua và cái mới đang đến? Tại sao "Hồn vía", phải chăng hồn vía của những bóng ma? Tại sao "Đột sinh", cái gì sinh ra đột ngột, hay là một ổ nhóm chống đối hay cách mạng màu đột sinh?”. Còn đây là nhận xét không mấy dễ chịu của Người Xanh, Ngợm Xám về ông lớn chuyên cai quản phần hồn của trăm họ Lạc Quốc: “Thì chúng có khác gì những bong bóng xà phòng mà Đấng Không Cảm phun ra từ vô số những bài diễn văn, huấn thị hàng ngày phát trên đài phát thanh và sóng truyền hình?”.
Giữa Đấng Không Cảm, Người Đa nghi với Lũ Rơm có một hố ngăn cách đủ lớn không thể có được tiếng nói chung là trình độ học vấn, tầm văn hóa, và sau hết là hệ ý thức. Thiết chế toàn trị không bao giờ chấp nhận đa phong cách mà luôn duy trì tình trạng đồng phục. Cách diễn ngôn của tác giả thông qua miệng một anh chàng “quái dị” như Rơm thường đạt hiệu quả cao nhất mỗi khi muốn công chúng hiểu rõ bản chất những người cầm cân nảy mực trong chính quyền Lạc Quốc.
Nhìn từ khuynh hướng sáng tác, cả về mặt lý thuyết lẫn nội dung văn bản, ta còn nhận ra “Hỗn độn” có ít nhất hai trung tâm mà một trong số đó là mối quan hệ giữa Rơm với các nhân vật thuộc về thế giới hiện thực. Đây là dạng trung tâm mang tính quy ước, vì, ngay cả thế giới được gọi là thực này, lắm lúc cũng xuất hiện hồn ma. Ngược lại, trung tâm thứ hai hoàn toàn là ảo mà bản chất của nó là âm tính với với vô vàn những trò quỷ thuật, được tái hiện không phải bằng trực giác mà là linh giác bắt nguồn tư vô thức hay tiềm thức.
Tình yêu giữa giữa Rơm và Nàng cũng được xem là một trung tâm. Xét về mọi phương diện, giữa một “Kẻ Phao Tin” nửa người nửa ngợm, luôn trưng ra trước thiên hạ bản mặt “hãm tài”, lại là đối tượng luôn được nhà cầm quyền Lạc Quốc “chăm sóc”, nếu cần sẽ tống ngay vào Trại Cuồng Quá Cảnh như văn sĩ Rơm, với cô con gái của một vũ nữ ballet như Nàng, thuộc hai thế giới khác nhau. Vậy thì cơn cớ gì, những kẻ ở hai phương trời khác nhau này, đêm đêm lại “trèo qua cửa sổ webcam” đến với nhau sau mỗi phiên “chat”? Đành rằng nữ sĩ Đồng Á sắp đặt cho cuộc tình oái oăm này hoàn toàn vì động cơ vụ lợi, nhưng chuyện khó hiểu là, người phụ nữ Lạc Kiều, sống ở xứ sở văn minh bậc nhất thế giới, lại chấp nhận gã “Nội Kiều” đầu óc bệnh hoạn, hơn mình hẳn một thế hệ như người tình trong mộng? Rơm lý luận rằng, đó là định mệnh thông qua chính sự gửi gắm của vong hồn người phi công phản lực cơ.
Công nghệ thông tin đã góp phần đắc lực trong quá trình diễn đạt tình yêu thời @. Ở tiểu mục “Cân chỉnh tim & óc”, Rơm làm thơ: “Cả thế giới cởi truồng/Sao ta còn ý tứ/Hồn ta rửa sạch trơn/Đùng đùng ngọn lửa”, và cũng vào thời điểm ấy, tại Ngõ Vong, Nàng xuất hiện từ vũng nưới dưới lòng đường dưới dạng một “Rơm Cái” khiến văn sĩ của chúng ta phải thốt lên: “Trời ơi! Nàng cũng là một Người Rơm!”. Đến đây thì mọi thắc mắc đều được giải thích. Rơm và Nàng đến với nhau bởi cả hai đều có chung một thân phận. Trong cuộc tình “trăm năm dâu bể này”, Rơm và Nàng gọi nhau bằng đủ loại danh xưng, trong đó có những cái tên rất ấn tượng như “Người Bố Thí”, “Kẻ Hớp Hồn”, “Nàng Tiên Cá”, “Con Bé”, hay  “Tò He”, “Zombi”, “Thuyền Trưởng”, “Kẻ Yêu Độc Tài”, “Thằng Bé”… Và cũng chính từ khi gặp nhau trong không gian ảo, nàng chủ trại chăn nuôi xinh đẹp đã trở thành đồng tác giả cuốn sách “Thời đại hôn ám” hay những bức tranh bôi bác từng bị biến màu ở cuộc triển lãm “00 Giờ, Hồn vía và Đột sinh” với Thiện Sĩ.
Viết về tình yêu của Rơm, tác giả sử dụng khá nhiều huyền thoại, thật cũng có mà phịa cũng không ít. Trong phần “yY”, ở tiểu mục “Cuốn sách về cái chết”, qua nhật lý “chat”, người đọc ít nhiều đã nhận ra “00 Giờ” giống như loại chìa khóa mà Rơm dùng để mở các tầng ký ức vốn vẫn đóng kín trong trạng thái tiềm sinh. Nội dung nhật ký “chat” khác hoàn toàn với lời kể trong văn bản truyền thống. Đó là những mảnh huyền thoại được lắp ghép bởi một trí tưởng tượng không giới hạn, lại được gia cố bằng lời bình sắc sảo, nhằm biểu đạt một tư tưởng nào đó nhưng vẫn còn khá mơ hồ. Giữa hai người luôn nảy sinh hiện tượng thần giao cách cảm, cùng nhau khai thác tối đa dữ liệu từ tầng vô thức. Nhật ký “chat” của họ giống như diễn ngôn đại tự sự, hàm chứa triết lý nhân sinh, giải tỏa vô số ẩn ức khi mà không gian tự do tối thiểu của con người mỗi ngày một thu hẹp bởi quyền lực vô hạn của Đấng Không Cảm, Kẻ Đa Nghi và Bậc Giả Hình. Những cuộc làm tình với Rơm Cái, Nàng Tiên Cá trên bờ vịnh Sirene, thậm chí với ca ve Lạc Quốc đều được xem như  thể nghiệm thứ học thuyết do chính Rơm đề xướng mà cơ sở lý luận của nó là sự hoài nghi và cấu trúc ký hiệu.
Trong giới hạn “00 Giờ “, khi Rơm và Nàng “chat” với nhau, văn sĩ của chúng ta nghĩ đến đám tang Dì Út, và khi Nàng đã quay về với nhịp sống quen thuộc, hành trạng của Gã Phao Tin bỗng nhiên nhảy cóc, vượt cả thời gian và không gian thực tại vào miền ảo giác. Đến đây, ta có thể xem “Hỗn độn” như một tiểu thuyết sắp đặt. Sự lắp ghép các mảnh ký ức theo một trình tự có vẻ như ngẫu nhiên cùng với ngôn ngữ tình yêu “bặm trợn” trong mỗi phiên “chat” xem ra rất khó chấp nhận với những ai xưa nay vẫn quen nhấm nháp loại tiểu thuyết diễm tình: “Anh ơi, em thèm anh quá. Tựa đầu vào chiếc gối trên chiếc giường trong phòng đọc. Nóng nhức đến tội nghiệp. Em chết mất, chết mất. Làm sao đây. Chỉ có Tò He, chỉ có một mình Tò He với tình yêu nóng nhức, với mùi vị đậm sắc hoang dã ấy mới giải toả được cho em cơn thèm đang căng cứng đến bật vỡ. Anh ơi, chết mất. Khói từ bụng xông lên cay sè cổ. Làm sao bây giờ anh ơi!” (Hỗn độn, tr.191). Và đây, ngôn ngữ miêu tả của tác giả, xem ra cũng chẳng kém gì Rơm, nếu ta đọc dưới nhãn quan “Kẻ Phao Tin”: “ Mỗi khi nhớ nàng da diết, lòng Rơm mềm nhũn như bị cái khao khát quá nóng nhức hầm nhừ. Những lúc không chịu đựng được, Rơm thò tay mở dây buộc bảo bối vẫn giấu kín trong lòng: Cái túi vải đựng đầy kỷniệm. Mắt nàng xoáy sâu vào Rơm đòi hỏi, hờn giận, hai bầu vú lật thốc dưới lần áo rướn lên đón tay Rơm và...” (Hỗn độn, tr.192-193).
Thủ pháp “nhảy cóc” trong “Hỗn độn” luôn xảy ra với tần số cao, các sự kiện chẳng ăn nhập gì với nhau, nhưng một khi ta hình dung chúng qua nghệ thuật sắp đặt thì có vẻ như đã tồn tại một trật tự nào đó. Ví dụ, Rơm vừa thoát ra khỏi mạng internet, lập tức rơi ngay vào vùng tối của hồi ức về: “Chẳng phải chính Rơm và lũ bạn sống sót trên con tàu chở đầy thuốc nổ nhặt nhạnh những bài thơ vương vãi của Anh Hề, in thành tập “Xế bóng”và đó là một trong nhiều lý do khiến Rơm tổ chức chuyến đi này. Rơm muốn giúp người vợ góa và đứa con gái duy nhất của Anh Hề tìm được nấm mộ của chồng, của bố mình” (Hỗn độn, tr.194). Hình ảnh Anh Hề, nhà thơ quá cố, lúc này hiện lên qua những lời cảm thán chẳng hiểu của văn sĩ Rơm hay chính tác giả cuốn sách: “Anh Hề rơi vào lỗ thủng thời gian, hay chỉ là hiện tượng một đám bụi tinh vân bay xẹt qua cuộc sống này, để lại những bài thơ thê thiết buồn và đầy ám ảnh? Thi sĩ, Anh Hề, người ngay khi sống đã phải sống bằng chính những huyền thoại xám xịt, chát chúa và trớ trêu về mình, chàng trai Rốn Rồng lại sống như một đứa con của cái thành phố hải cảng mà ngay trong những giấc mơ cũng hôi mùi váng dầu...” (Hỗn độn, tr. 195).
Nét dặc trưng của loại “văn bản ảo” được tác giả sắp đặt như là sự phân thân tối đa đối với dạng nhân vật phiếm chỉ như Rơm. Rơm là hiện tượng phổ quát của khá nhiều gương mặt với những biến thái phức tạp về hành vi cũng như diễn biến tâm lý ở mỗi dạng hóa thân.
Cấu trúc tâm lý cũng như hệ tư tưởng nảy sinh từ vô thức của Người Rơm sau mỗi lần nhập Trại Cuồng Quá Cảnh lại vô cùng phức tạp. Rơm, lúc là Anh Hề bất đắc kỳ tử, lúc khốn khổ như Con Tin, lúc đa đoan như cô chủ trang trại - Lạc Kiều xinh đẹp, trí tuệ - xứ Phù Lãng, lúc là nàng Sirene đầy ma thuật, lúc lại trong hình hài Nhện Mù Tám Chân, như là khuyết tật tiền kiếp trong cấu trúc văn hóa Lạc Quốc. Nhện Mù Tám Chân không chỉ đơn giản là một "con ma" mà thực chất là biểu tượng của di sản quá khứ đã ăn sâu vào máu thịt và trở thành một bộ phận không thể thiếu của tâm hồn chúng ta. Nó què quặt, nó vật vã, nó hành hạ chúng ta. Có lúc nó làm ta sợ hãi. Có lúc nó lại cổ vũ chúng ta vì một sức mạnh mơ hồ nào đấy.
Tuy vậy, ở “Hỗn độn”, người đọc vẫn sàng lọc được một số nhân vật bị tách hoàn toàn khỏi Rơm trong nghệ thuật sắp đặt của tác giả. Một trong số đó là nữ sĩ Đồng Á. Nói về nhân vật của mình, chính tác giả từng bộc lộ: “Đây là một người thông minh, lý trí mạnh mẽ , nhìn thẳng vào hiện thực và nhận chân những vấn đề đang làm thối rữa xã hội Việt Nam. Nhưng thay vì tìm cách sửa chữa thay đổi hiện trạng ấy thì Đồng Á lại khai thác chúng, biến chúng thành chất liệu sáng tác để mưu lợi cho mình, hiện nguyên hình một con người vừa cơ hội vừa thực dụng - hình mẫu của một kiểu trí thức văn nghệ sĩ hiện đại. Chính vì vậy Đồng Á mới tìm cách sắp đặt cho Rơm và Nàng (con nuôi của Đồng Á) gặp nhau với một dụng ý rất rõ ràng: nữ văn sĩ dự đoán rằng khi hai con thỏ thí nghiệm Rơm và Nàng gặp nhau, nhất định một câu chuyện hấp dẫn đa diện và nhiều ngang trái sẽ diễn ra. Bà ta theo dõi các diễn biến này và biến nó thành tiểu thuyết, thứ tiểu thuyết sắp đặt theo ý bà ta. Nhưng hai con thỏ ấy không phải là robot, lúc nào cũng chịu sự điều khiển của người khác” (NKP).
Ngoài tình yêu mang nhãn hiệu Rơm được hiểu như một trò chơi sắp đặt, khuynh hướng Hậu hiện đại còn được ghi nhận khá rõ ở những sự kiện rất nghiêm túc nhưng lại được diễn ngôn bằng thứ văn phong giễu cợt làm người đọc không khỏi nghi ngờ. Cuốn sổ tay ghi chép việc vườn thú thanh lý những con hổ đã thoái hóa do bị nhốt quá lâu ngày, hay sư tử mẹ cắn chết con sau khi được tắm bằng xà phòng thơm đương nhiên là “ký hiệu” ám thị cho vấn nạn thời cuộc. Cái gọi là “Vườn Thú” theo thói quen dùng uyển ngữ của Đấng Không Cảm giống như trại tạm giam những thành viên Hội Phao Tin “bất trị” dưới sự quản giáo của một gã vô học nhưng lại có tên Hồng Chuyên. Trong khi ấy, một chủ quán thịt chó như Tạ Quay lại có hợp đồng sản xuất phim truyện.
Cấu trúc “Hỗn độn” từ vô số tiểu tự sự đã hình thành một dòng chảy ngầm xuyên suốt mọi ngõ ngách của cuốn sách qua thao tác sắp đặt, liên quan đến các huyền thoại được giải phóng từ tiềm thức, vô thức. Về mặt cấu trúc, “Hỗn độn” đã tiến rất gần đến thể loại tiểu thuyết sắp đặt, nhưng về văn bản ngôn từ, cách xử lý huyền thoại hiện đại như tác giả từng làm chính là hiện tượng “giải cấu trúc” những văn bản đa nghĩa dưới dạng ký hiệu.

Chí Linh, 17/2/2016

              Đ.V.S.
* Tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Phục, NXB Hội Nhà văn, 2015

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Không thể xây dựng được bất kỳ cái gì tử tế trên cái nền đồi bại của văn hóa.

KHÔNG CÓ GÌ TỬ TẾ TRÊN NỀN VĂN HÓA KÉM

Hoàng Hạnh



Chúng ta rất đau khổ vì nền kinh tế của chúng ta những năm trước tăng trưởng 7-8% mà năm nay có khi chỉ tăng được 5% thôi, nhưng chúng ta không hề xấu hổ, không đau khổ trước việc chúng ta chế biến thịt súc vật chết để bán cho mọi người. Chúng ta chỉ xấu hổ vì nghèo đi mà chúng ta quên mất xấu hổ vì sự xấu đi về mặt đạo đức. Chuyện đó là chuyện quan trọng hơn tất cả những gì chúng ta bàn ở trên – ông Nguyễn Trần Bạt.
Chúng ta chưa có kinh nghiệm mô tả sự thật

PV: -Tuần vừa rồi, bài phát biểu ngắn kết thúc năm học của một giáo viên Trường trung học Wellesley, bang Massachusetts, Mỹ đã được dư luận Mỹ tiếp nhận như một lời nói thật, một cảnh báo giáo dục: “Các em chẳng có gì đặc biệt cả”. Xin ông hãy lý giải, tại sao một đất nước tôn trọng tư duy độc lập cá nhân như Mỹ, lời nhận xét trên đáng lẽ là bình thường nhưng lại được tiếp nhận một cách cầu thị nồng nhiệt đến vậy?

Ông Nguyễn Trần Bạt: - Điều đó thể hiện người Mỹ đã thức tỉnh. Từ xưa tới nay, họ luôn luôn coi mình là tiêu chuẩn, nước Mỹ luôn là "miền đất hứa".
Mặc dù sống khá lâu trong sự thành đạt nhưng khủng hoảng kinh tế và tài chính hiện nay đã khiến họ bỗng nhận ra tính bình thường của xã hội mình.
Và đấy là một dấu hiệu vĩ đại của nước Mỹ khi nó còn giữ được năng lực thức tỉnh, nhận ra chính mình, biết đón chào một ý kiến như vậy.
Tôi hoan nghênh nước Mỹ, hoan nghênh thái độ ấy và hoan nghênh cả ông thầy dám đưa ra tuyên bố trái với thói quen vốn có của người Mỹ.
Tôi rất thích ví dụ bạn đưa ra và tôi thích câu hỏi này. Tôi đề nghị trong chừng mực nào đó, báo chí các bạn giúp cho những ông bố và bà mẹ Việt Nam nên có thái độ này, những cô giáo thầy giáo Việt Nam nên có thái độ này và các nhà lãnh đạo Việt Nam nên có thái độ này.
Chúng ta cũng nên chào đón thái độ khiêm nhường đó của các nhà lãnh đạo, của các thầy các cô như người Mỹ đang làm. Đây là một ví dụ tốt, là một ví dụ mà tôi rất thích, một ví dụ rất đẹp về giáo dục.
PV: - Người Việt mình có câu “thuốc đắng giã tật, sự thật mất lòng”, theo ông, trên thực tế chúng ta có thói quen nói thật và nghe được lời nói thật hay không? Tại sao những lời nói thật hay những phản biện lại khó lọt tai đến thế, trong khi ai cũng tưởng rằng mình cởi mở, sẵn lòng nghe góp ý dù có… trái với mình đến đâu đi nữa?

" Nếu lời nói thật được mô tả một cách hấp dẫn, có văn hóa thì khả năng được tiếp nhận của nó sẽ cao hơn. Tất nhiên, cũng không loại trừ khả năng, người phải nghe sự thật có văn hóa thấp mà lại là người mạnh. Chúng ta không bao giờ nên đối thoại với những người như thế."
Nguyễn Trần Bạt
Ông Nguyễn Trần Bạt: -Tôi vừa mới thảo luận với con trai tôi về sự thật và tính hiệu quả của việc mô tả sự thật. Tôi nghĩ, chúng ta có thể không chê bai sự thật, có thể tôn thờ sự trung thực nhưng chưa biết cách mô tả sự thật một cách hấp dẫn để con người biết yêu mến sự thật.
Tôi muốn kể với bạn câu chuyện như thế này. Có hai anh em nhà nghèo bữa ăn chỉ có cơm không, không có thức ăn gì. Hai anh em bảo nhau, bây giờ em ăn trước, nhưng để em ăn cho ngon thì anh mô tả sự ngon ngọt của thức ăn để em có cảm giác ăn ngon.
Cậu anh mô tả con gà quay lên như thế nào, món bò xào như thế nào, món cá kho như thế nào… Người em tiết hết dịch vị ra và ăn bát cơm không rất ngon lành. Người em ăn xong, đến lượt người em mô tả cho người anh ăn. Người em ăn no rồi cho nên chỉ nói một câu đơn giản: ước gì có một con bò để làm thịt cho anh ăn.
Đấy là hai cách tiếp cận khác nhau đối với một sự thật là người ta cần phải được hỗ trợ kỹ thuật để ăn cho ngon một bữa cơm nghèo. Một ví dụ khác: Một vị nhà giàu đi tuyển người thuyết phục người làm như sau: "Bác ở với người ta, sáng ăn rồi mãi đến chiều mới được ăn. Chứ bác đến ở với nhà em là cứ sáng ăn - chiều ăn, sáng ăn - chiều ăn". Sáng ăn và chiều ăn là một sự thật nhưng ở hai cách mô tả này hoàn toàn khác nhau.
Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, cách mô tả nào hấp dẫn hơn.Sự thật không phải là một khái niệm đơn giản, sự thật là một khái niệm phức tạp, có nội hàm phong phú và nó là một trong ba khía cạnh của cái đẹp,chỉ có điều chúng ta không được rèn luyện, không đủ bản lĩnh, không đủ kinh nghiệm để mô tả sự thật.
Chúng ta vẫn thường bảo là "thuốc đắng giã tật, sự thật mất lòng". Sự thật mà biến nó, sắp xếp nó, cân đong đo đếm nó tương đương với thuốc đắng thì chúng ta là kẻ ngốc nghếch không biết giá trị của sự thật và không biết cách thể hiện sự thật. Chúng ta phải rèn luyện khả năng biết mô tả sự thật để làm cho người ta "xơi" nó mà không cảm thấy vị đắng của thuốc.
Thật không dễ nghe khi sự thật được nói ra xâm phạm tới lợi ích của người đối thoại. Trong trường hợp này, phải làm rõ, lợi ích của người đó có chính đáng hay không, nếu có, thì người nói ra sự thật đó có lỗi.
Nếu lợi ích ấy không chính đáng, việc người đó có nghe hay không là phụ thuộc vào nghệ thuật mô tả của người nói. Nếu lời nói thật được mô tả một cách hấp dẫn, có văn hóa thì khả năng được tiếp nhận của nó sẽ cao hơn.
Tất nhiên, cũng không loại trừ khả năng, người phải nghe sự thật có văn hóa thấp mà lại là người mạnh. Chúng ta không bao giờ nên đối thoại với những người như thế, phải dùng một cách khác, không phải là tiếp cận văn hóa mà là tiếp cận sức mạnh, sức mạnh của số đông chính nghĩa.
Vì sao phụ huynh Việt Nam tự “đánh lừa” mình?
PV: -Ở Việt Nam, có một nghịch lý đang tồn tại trong việc giáo dục các cô các cậu học trò nhỏ: Trong nhà thì bố mẹ ông bà ra sức chăm sóc, chiều chuộng…thầm hy vọng con mình sẽ là “thiên tài” hoặc có tài năng độc đáo….nhưng ra ngoài xã hội thì chính họ lại rất sợ cụm từ “học trò cá biệt”, “học sinh đặc biệt”... Hiện tượng này phản ánh điều gì vậy, thưa ông? Liệu nó có ảnh hưởng gì đến chuyện trẻ con không có tư duy độc lập, mà thường bị hòa vào đám đông?
Ông Nguyễn Trần Bạt: - Xã hội nào cũng thế. Xã hội của bầy thú cũng thế. Nó sống được, tự tin được làvì vẻ đẹp riêng của chính nó và vì những giá trị mà nó nghĩ rằng nó có. Nhưng nó tồn tại được, thoát chết được bằng sự kín đáo của nó.
Hai trạng thái ấy chính là hai trạng thái khuyến khích hình thành bản lĩnh của con người: yêu mình, tự tin vào bản lĩnh, sức mạnh, sự hoành tráng của mình với kín đáo, khôn khéo, đi, bò, trườn dưới tên bay đạn lạc.
Về khía cạnh thứ hai, tư duy độc lập và nói ra tư duy độc lập tùy thuộc môi trường vĩ mô. Nếu từ nhỏ không được diễn đạt tư duy độc lập, nếm trải cái đúng và cái sai của nó, nếm trải sự ném đá và sự hoan hô trước mỗi một tư duy độc lập được diễn đạt ấy, thì người ta sẽ không có kinh nghiệm.
Và nếu phải phê phán, hãy phê phán môi trường vĩ mô khiến trẻ con không biết nói tiếng nói độc lập của mình, chứ không thể dồn sai lầm đó vào khuyết tật có tính nhân chủng học của người Việt.
PV: -Như ông nói, đó là phản ứng tự nhiên. Vậy nguyên nhân nào về mặt xã hội khiến phụ huynh Việt Nam hành xử theo cách như vậy?
Ông Nguyễn Trần Bạt: - Việc quảng bá quá nhiều về tài năng, luôn luôn “nhắc nhở” các bậc phụ huynh rằng hiền tài là nguyên khí quốc gia, đã làm hỏng người Việt. Coi nhân tài là "nguyên khí" dẫn đến việc phụ huynh sẽ cố gắng để trong nhà mình có chút "nguyên khí".
Và họ đành tự đánh lừa mình để yên tâm mà sống. Chúng ta nói quá nhiều chuyện hiền tài là nguyên khí quốc gia, trong khi quên mất rằng con người mới là nguyên khí của đời sống.
“’… Chúng ta đang biến vô đạo đức trở thành sản phẩm giáo dục”?
PV: - Dư luận đã lên tiếng khá nhiều về sự vô cảm thậm chí nhẫn tâm với đồng loại như nạn thực phẩm bẩn, độc hại tràn lan ngày càng nhiều và không có dấu hiệu suy giảm. Cái quả đắng này phải chăng nảy sinh từ những vấn đề cơ bản trong giáo dục thế hệ tương lai hiện nay: nạn chạy trường, chạy điểm, không chú ý giáo dục nhân cách sống…?
"Con người đang chế tạo ra những sản phẩm phi đạo đức một cách rất có trình độ. Những người không học tốt về hóa rất khó để có thể cho melamine vào sữa. Phải có trình độ khoa học và năng lực nhất định mới có thể tạo ra trạng thái sữa có melamine, xay thịt trộn mắm tép thơm lừng để ngụy trang thịt xúc vật chết. Chúng ta đang chểnh mảng trong việc giáo dục đạo đức cho nên các hiện tượng vô đạo đức đã lẻn vào đời sống của nhà trường và đời sống của xã hội".
Nguyễn Trần Bạt
Ông Nguyễn Trần Bạt: - Ngay cả nơi đào tạo tốt nhất như trường Havard thì thái độ, nhận thức, văn hóa cũng vẫn còn có hạn chế, đầu ra của nó cũng không phải luôn luôn là sản phẩm tốt. Đó là điều khiến người Mỹ thức tỉnh và hoan nghênh phát biểu: “Các em chẳng có gì đặc biệt cả”.
Nói như vậy để thấy, những hiện tượng bạn nói ở trên không phải là hệ quả trực tiếp của giáo dục. Chúng là hệ quả của một thứ quan trọng hơn giáo dục, là cha đẻ của giáo dục: VĂN HÓA.
Nạn thực phẩm bẩn, độc hại tràn lan, lấy thịt lợnchết làm mắm tép chưng thịt là một biểu hiện “rực rỡ” về sự thoái hóa đạo đức, thoái hóa văn hóa của con người.
Nhưng điều đáng báo động hơn là, chúng không phải là trạng thái hoang dã mà là trạng thái có giáo dục củatính hoang dã, trạng thái phát triển ổn định và bền vững của trạng thái phi đạo đức của con người.
Con người đang chế tạo ra những sản phẩm phi đạo đức một cách rất có trình độ. Những người không học tốt về hóa rất khó để có thể cho melamine vào sữa.
Phải có trình độ khoa học và năng lực nhất định mới có thể tạo ra trạng thái sữa có melamine, xay thịt trộn mắm tép thơm lừng để ngụy trang thịt xúc vật chết.Chúng ta đang chểnh mảng trong việc giáo dục đạo đức cho nên các hiện tượng vô đạo đức đã lẻn vào đời sống của nhà trường và đời sống của xã hội.
Chúng ta rất đau khổ vì nền kinh tế của chúng ta những năm trước tăng trưởng 7-8% mà năm nay có khi chỉ tăng được 5% thôi, nhưng chúng ta không hề xấu hổ, không đau khổ trước việc chúng ta chế biến thịt súc vật chết để bán cho mọi người. Chúng ta chỉ xấu hổ vì nghèo đi mà chúng ta quên mất xấu hổ vì sự xấu đi về mặt đạo đức. Chuyện đó là chuyện quan trọng hơn tất cả những gì chúng ta bàn ở trên.
Vậy mà cho đến thời điểm này, chưa có một tiếng kêu cứu có chất lượng nhà nước nào, tổ chức nào, đặc biệt là tổ chức giáo dục. Tôi mong các vị lãnh đạo ở các Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông… hãy nghe tiếng kêu cứu này.
PV: -Trong một bài phỏng vấn mới đây, GS Hoàng Tụy cho rằng: “Không thể nào có một nền kinh tế tăng trưởng lành mạnh dựa trên một nền văn hóa suy đồi. Người ta lý giải chuyện đó là sự lệch pha giữa văn hóa và kinh tế”. Ý kiến của một chuyên gia kinh tế như ông như thế nào?
Ông Nguyễn Trần Bạt: Tôi thích câu nói ấy của bác Hoàng Tụy. Tôi khái quát vấn đề của bác Hoàng Tụy lên là: Không thể xây dựng được bất kỳ cái gì tử tế trên cái nền đồi bại của văn hóa.
PV: -Theo cá nhân ông, làm thế nào để khắc phục được vấn đề trên?
Ông Nguyễn Trần Bạt: Câu hỏi đó phải đi thường xuyên với con người, với tư cách là một nỗi niềm của mỗi một con người. Rằng chúng ta đang làm đồi bại một nền văn hóa hay chúng ta là thành viên của một nền văn hóa đồi bại.
Ra khỏi sự đồi bại về văn hóa bằng cách nào? Điều gì là động lực của sự đồi bại hóa của nền văn hóa đến như vậy? Truyền thông có nghĩa vụ phải làm thế nào để ý kiến của GS Hoàng Tụy đã được tôi khái quát hoá lênthành một câu hỏi có mặt trong từng bữa cơm, giấc ngủ, từng nụ hôn của con người.
Tôi không khái quát hóa việc ra khỏi sự đồi bại về văn hoá như thế nào? Vì mỗi người góp phần vào sự đồi bại hóa của nền văn hóa một cách khác nhau, với những “công nghệ” khác nhau. Chúng ta chỉ cần thức tỉnh, rút các yếu tố làm đồi bại nền văn hóa của mình ra khỏi xã hội, tự nhiên xã hội sẽ sạch sẽ.
Phần nhận xét hiển thị trên trang