Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2016

Uông Triều và Tưởng tượng & dấu vết


Giờ đây, lúc biết là phải nhìn lại (sự nhìn lại này là một trong những điều tôi ớn nhất đấy, mặc dù cần thiết, ớn đến nỗi vào những thời điểm ấy, tôi toàn phát ốm): tôi phải nói ngay điều này vào thời điểm này, vì đã tới lúc rồi. Tôi phải trả lời một câu hỏi: toàn bộ văn chương Việt Năm dăm bảy năm vừa rồi, sẽ còn lại gì?

Tôi phải làm nhanh, đúng lúc này, vì ngay sau đây tôi sẽ chuyển sang hai vấn đề duy nhất còn lại trong phê bình văn học Việt Nam.

Bất kỳ một con người tinh tế nào (cũng không nhiều lắm) đều hiểu từ giai đoạn vừa rồi, văn chương Việt Nam sẽ gần như tuyệt đối chẳng còn lại gì. Không có gì đâu.

Nhưng như vậy là bình thường. Con người là cái gì khác đây, nếu không phải là một nhà máy sản xuất rác khổng lồ? Không tạo ra được cái gì còn lại thì cũng không thành vấn đề lớn lắm. Vấn đề chỉ còn là xác định cho đúng, cái gì sẽ còn lại. Từ giai đoạn vừa rồi, sẽ chỉ còn lại duy nhất một tác phẩm.

Trước khi tiến hành sự nhìn lại này, tôi đã ngờ ngợ, rồi khi đã thực sựlàm, tôi biết chắc là đúng thế. Lựa chọn lại rơi vào tôi rồi, thêm một lần nữa.

Không, tất nhiên không phải tôi muốn nói có cái gì đó tôi viết sẽ còn lại. Tôi ở rất xa toàn bộ câu chuyện này. Mà là: tác phẩm văn chương duy nhất của Việt Nam sẽ còn lại là một cuốn sách từng qua tay tôi, tôi, ở tư cách một editor.

Đó là cuốn tiểu thuyết Tưởng tượng & dấu vết của Uông Triều, đó là đối tượng của post duy nhất tôi từng xóa trên blog này. Tất nhiên, ai cũng sẽ kinh ngạc, vì bản thân tôi cũng thấy kinh ngạc, thấy khó mà tin nổi cơ mà.

Thật ra, tôi chính là người nhận được nhiều bản thảo nhất. Các nhà văn thật ra có flair riêng, họ biết nên giao phó bản thảo cho tôi, chứ không phải ai khác. Toàn bộ câu chuyện này nằm trong cái mà tôi gọi là "hậu trường xuất bản", mà một ý thức về trách nhiệm và ethics đương nhiên ngăn cản tôi nói ra bất kỳ cái gì, mặc dù chỉ cần nói ra thôi thì tôi sẽ cho toàn bộ thế giới thấy được tại sao một số người lại có thái độ hằn học đến như thế với tôi, trong suốt nhiều năm.

Nhưng tôi đâu có cần. Tôi là một editor, nghĩa vụ của tôi là xem các bản thảo gửi đến. Tôi đã từ chối vô số bản thảo (tôi không đứng về phe phá rừng), kể cả những bản thảo từ những người nghĩ rằng một khi họ là bạn tôi thì tôi sẽ phải in sách của họ, tôi đã nói với không ít người là thôi, đừng viết nữa, trong đó một số, sau cơn tức tối ban đầu, hiểu là tôi đúng. Một số người khác thì không hiểu; nhưng trời mới hiểu nổi tại sao họ lại không hiểu.

Ngoài bản thảo của Nguyễn Thúy Hằng (xem ở đây), với văn chương Việt Nam, tôi có những kỷ niệm lớn. Tôi tiếc nuối sâu sắc vì đã không chiến đấu được cho bản thảo duy nhất thực sự thuyết phục được tôi một cách toàn diện, cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Nhật Minh, khi ấy còn học khoa Vật lý ở trường Tổng hợp Hà Nội. Tôi chỉ có một lời bào chữa duy nhất là tôi thực sự đã hết lòng. Thứ hai là Nguyễn Dương Quỳnh: cuốn sáchĐỏ tôi chẳng sửa đến một chữ, chỉ sửa chẳnghạn những chỗ như "chẳnghạn" vừa xong, rồi chọn bừa lấy một truyện nữa trong đống bản thảo (nhiều khủng khiếp) in kèm vào, mục đích là để xỏ mũi đám viết bình luận sách ở Việt Nam, và quả thật sau đó tất cả đã bị xỏ mũi.

Khi Uông Triều gửi bản thảo cho tôi, tôi đã suýt vứt đi ngay mà khỏi cần mở ra đọc. Nó mang một cái nhan đề đúng tinh thần Nguyễn Đình Tú, nó lại còn có khoảng một trăm trích đoạn từ không biết bao nhiêu cao thủ văn chương Việt Nam đã đọc bản thảo và viết bình luận.

Rồi tôi đọc, có lẽ chỉ vì tình cờ, vì một lúc nào đó chẳng có gì làm cho vui. Hiếm khi nào có cái gì viết bằng chữ mà làm tôi hoang mang đến như thế. Tôi phải gặp tác giả, cố tìm hiểu xem Uông Triều có thực sự biết mình đã viết những gì không. Đúng như dự đoán của tôi, Uông Triều hoàn toàn không biết.

Sau khi vứt toẹt đống trích dẫn dài mấy trang kia đi, là đến một công trình biên tập khổ ải, từng chữ và từng chữ. Tôi là một editor biết đối xử với từng bản thảo như thế nào. Đỏ tôi không sửa lấy một chữ, nhưng cuốn tiểu thuyết của Uông Triều tôi sửa từng chữ, đòi sửa rất ghê gớm. Nó cần có một nền móng tối thiểu thì mới bắt đầu có thể đứng được.

Gay cấn nhất là cái tên. Tôi bảo Uông Triều, vứt tên cũ đi (cái tên cũ này giờ tôi cũng quên béng cụ thể là gì rồi), cuốn này cần một cái tên cái gì đó và cái gì đó. Rất may là tác giả, chắc sau rất nhiều đấu tranh nội tâm và không ít bực bội, cũng đồng ý. Cuối cùng, nhan đề hiện nay, Tưởng tượng & dấu vết, cái gì đó ở nửa trước là tôi nghĩ ra, cái gì đó ở nửa sau (hai bên dấu &) là sản phẩm của Uông Triều. Cả đến lúc ấy, tôi vẫn không thực sự tự tin.

Nhưng lại thêm một lần nữa: một tác phẩm văn chương đích thực được hình thành từ sự rối bời, từ một sự lệch lạc, từ một cái gì hết sức thiếu cân bằng. Tưởng tượng & dấu vết là một hiện tượng như thế. Nó như thể được hoài thai trong một kẽ nứt của một cái gì đó vô hình, của tâm trí, kẽ nứt ấy mở ra đúng lúc tác giả đang có mặt ở đó: một sự hiện diện thiết yếu. Uông Triều đã được lựa chọn, đúng hơn là bị lựa chọn.

Cuốn tiểu thuyết này sẽ còn tồn tại rất lâu. Việc cho đến giờ vẫn chẳng có ai hiểu nó lại càng khiến tôi hiểu sâu sắc, nó sẽ còn tồn tại rất lâu.

Nhưng, đồng thời, cái gì cũng có hai mặt: Ân Sủng đi kèm với Đòn Trừng Phạt (grâce & malédiction: không phải tự dưng tôi viết ra hai từ không ăn nhập này đâu). Uông Triều bị lựa chọn phải đi con đường khó nhất của văn chương Việt Nam.

Sẽ là một con đường cực khó, cực cô quạnh, cực kỳ điêu tàn. Năm xưa, tôi tình cờ gặp nhà văn Bảo Ninh khi ông mới đọc xong Những kẻ thiện tâm. Bảo Ninh không nói gì khác, ngoài việc ngậm ngùi cho "cái tay Littell", bị dính một đòn quá khủng khiếp. Trường hợp Uông Triều cũng tương tự.

Những điều tôi nói sau đây tất nhiên xuất phát từ tình bạn, nhưng cũng không hẳn là như thế.

Con đường ấy sẽ dài lắm, sẽ vô cùng khó đấy. Nhưng vẫn có một cách, đó là đọc. Vấn đề không phải là đọc nhiều, đọc nhiều không là gì hết, mà vấn đề là đọc đúng, nhưng đọc đúng vẫn chưa là gì, phải biết đọc quái.

Dostoievski chính là thử thách đấy. Phải biết học cách khinh bỉ ông ấy, nghi ngờ ông ấy, không để cho bất kỳ tầm vóc lớn lao nào che mờ mắt. Phải đọc đi đọc lại ông ấy, phải căm phẫn một cách thành thực, phải biết nhìn nhận ông ấy là một kẻ lừa đảo, một tâm hồn đê tiện. Cứ như thế, liền khoảng hai mươi năm, thì có thể. Ông ấy tồn tại ở đó chính là để cho những việc như vậy mà.

Có thể, có thể lắm, bốn mươi năm nữa.

Những chuyện khác thì không quan trọng lắm đâu, sẽ chẳng làm sao. Mà nếu bí quá thì ngay bên cạnh đã có người để hỏi rồi đấy, mọi thứ gì liên quan đến cuộc đời. Chỉ cần hỏi là sẽ có câu trả lời. Chỉ cần đặt đúng câu hỏi.

Còn tôi, xong việc vừa rồi, tôi bắt đầu đi tới chỗ nút cuối cùng mãi mà vẫn chưa mở được của phê bình văn học Việt Nam: Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Quan tham ngày mặc áo rách, tối ngủ long sàng


Cuộc chiến “đả hổ, đập ruồi” đã hé lộ không ít điều thú vị về quan tham Trung Quốc, từ chuyện ăn chơi, bao gái cho tới chiêu trò cất giấu tiền bạc cực kỳ tinh vi.
Mới đây, tờ “Trung Quốc kỷ kiểm giám sát”, cơ quan ngôn luận của Ủy ban Kiểm tra kỷ luật Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã nêu rõ một số quan chức để hạ cánh an toàn, đã trở thành kẻ ngụy trang siêu giỏi. Trong nhà cất giữ cả trăm triệu Nhân dân tệ tiền mặt, nhưng sáng sáng đạp xe đi làm.
quan tham, tham nhũng, Trung Quốc, tích trữ, hối lộ, hoang phí, tiết kiệm, thanh liêm
Nghê Phát Khoa (giữa) mê ngọc tới điên cuồng
Nhiều quan tham miệng vừa hô hào “thanh liêm giữ mình”, sau đó đã chuồn vào hội sở chè chén nhậu nhẹt. Không ít kẻ ban ngày ưỡn ngực hô “kiên quyết thực hiện”, tối đến bên bàn rượu bàn nhau làm theo ý mình…
Khai man các kiểu, thật giả khó lường
Do yêu cầu về tư tưởng, chính trị, văn hóa ngày càng cao, quy định kỷ luật ngày càng nghiêm, sự giám sát ngày càng chặt, “làm giả” đã trở thành thứ bùa phép để các quan tham trốn tránh sự giám sát. Thủ đoạn và nội dung làm giả thì đủ kiểu, nhưng mục đích đều nhằm bảo toàn bản thân, kiếm nhiều lợi lộc.
quan tham, tham nhũng, Trung Quốc, tích trữ, hối lộ, hoang phí, tiết kiệm, thanh liêm
Vương Mẫn
Tháng 2/2015, Khu ủy Quảng Tây ra thông báo về một cán bộ cấp phòng làm giả hồ sơ nghiêm trọng. Khi từ tỉnh ngoài chuyển đến, ông ta mới ở cấp phó một ban, nhưng đã thay đổi, làm giả hồ sơ lý lịch cả về năm sinh lẫn quá trình công tác để biến thành cấp trưởng phòng.
Việc tuyển lựa đề bạt cán bộ, lãnh đạo lui về tuyến 2 có quy định cụ thể về độ tuổi. Nhiều cán bộ để được đề bạt, kéo dài thời gian giữ chức, đã tìm cách khai bớt tuổi, “trẻ hóa” hồ sơ. Thế nên mới có chuyện buồn cười là có những cán bộ công tác từ khi còn học trung học cơ sở.
Tháng 3/2015, Ban Tổ chức trung ương ra thông tri yêu cầu tăng cường thẩm tra lý lịch tự khai của cán bộ lãnh đạo, nâng tỷ lệ thẩm tra lên 10%, “nếu đề bạt phải thẩm tra”. Thế nhưng một số cán bộ lãnh đạo vẫn không chịu ngưng tay, tiếp tục lừa dối tổ chức, trốn tránh thẩm tra.
quan tham, tham nhũng, Trung Quốc, tích trữ, hối lộ, hoang phí, tiết kiệm, thanh liêm
Vạn Khánh Lương
Mạc Quyên, Bí thư Đảng ủy, Phó giám đốc Sở Dân chính Tân Cương làm giấy tờ giả cho bản thân và con trai, tùy tiện xuất cảnh, che dấu vụ việc của bản thân. Quyên đã bị xử lý vì vi phạm nghiêm trọng kỷ luật chính trị và kỷ luật tổ chức.
Chu Bản Thuận, Bí thư Tỉnh ủy Hà Bắc nổi tiếng về phát biểu mạnh mẽ chống tham nhũng trên các diễn đàn, nhưng phía sau thái độ chống quyết liệt ấy là một quan tham ra sức vơ vét của công, nhận hối lộ.
Vương Mẫn (Ủy viên thường vụ tỉnh ủy Sơn Đông, Bí thư thành ủy Tế Nam), Vạn Khánh Lương (Ủy viên Trung ương dự khuyết, Bí thư thành ủy Quảng Châu)… đều là những “đấu sĩ chống tham nhũng” mọi nơi chốn, nhưng khi họ ngã ngựa, mọi người mới ngã ngửa. Đó đều là những “kẻ hai mặt” giỏi diễn kịch, khéo dùng thái độ để che dấu vấn đề cá nhân, lừa gạt tổ chức.
Tham ô tiền tỉ vẫn nổi tiếng “quan thanh liêm”
Lưu Thiết Nam nguyên là Phó chủ nhiệm Ủy ban Cải cách và phát triển quốc gia. Xuất thân trong gia đình công nhân, Nam có ý chí vươn lên mạnh mẽ và miệt mài làm việc “hàng ngày trừ khi ngủ đều ngồi làm việc”, liên tục được bình chọn, khen thưởng các danh hiệu vinh dự.
quan tham, tham nhũng, Trung Quốc, tích trữ, hối lộ, hoang phí, tiết kiệm, thanh liêm
Lưu Thiết Nam
Tuy nhiên, theo cáo trạng của tòa án, Lưu Thiết Nam đã tham nhũng tiền và vật quy ra 35,58 triệu Nhân dân tệ (124,6 tỷ VND), trong đó con trai Nam là Lưu Đức Thành “nhận hộ” 34 triệu Nhân dân tệ.
Nguyên phó tỉnh trưởng An Huy - Nghê Phát Khoa cũng từ một con công nhân dần dần vươn lên. Khoa luôn được đánh giá là cán bộ “có năng lực, có khả năng thu hút người khác”, nhưng Khoa cũng có thú vui “tao nhã” khác người là chơi ngọc. Theo tờ báo, Nghê Phát Khoa mê ngọc đến mức điên cuồng, không rời tay khỏi ngọc bất kể là đang xem tivi hay đọc sách
Trên cổ Khoa lúc nào cũng đeo miếng ngọc to tướng. Cứ đến cuối tuần là Khoa giở hết đồ ngọc ra ngắm nghía. Trong vòng vài năm, từ người thích ngọc, Khoa trở thành nhà sưu tập ngọc rồi mở triển lãm trưng bày ngọc. Tuy nhiên, nguồn gốc những tác phẩm bằng ngọc quý ấy chẳng “tao nhã chút nào”.
Phần lớn số ngọc được các thương gia, ông chủ “tặng” để đổi lấy được Khoa tạo điều kiện làm ăn. Trước tòa, Khoa khai nhận 49 lần nhận quà biếu là thư họa, đá ngọc và tiền tặng, tổng trị giá trên 13 triệu Nhân dân tệ (45,5 tỷ VND).
quan tham, tham nhũng, Trung Quốc, tích trữ, hối lộ, hoang phí, tiết kiệm, thanh liêm
Ngụy Bằng Viễn
Ngụy Bằng Viễn chỉ là Vụ phó Vụ Than, Cục Năng lượng quốc gia, nhưng về mức tham thì đứng hàng đầu. Tháng 5/2014, khi Viễn bị bắt để điều tra, tổ chuyên án phát hiện thấy trong nhà cất dấu 230 triệu Nhân dân tệ tiền mặt (805 tỷ VND).
Viện Kiểm sát tối cao cho biết đây là quan chức tham nhũng có khoản tiền tang vật lớn nhất kể từ năm 1949 đến nay. Một ngân hàng ở Bắc Kinh phải điều đến 16 máy đếm tiền để kiểm, 4 chiếc bị cháy vì chạy liên tục quá lâu.
Tuy nhiên, điều khôi hài là, để che đậy, Viễn luôn tỏ ra là người tiết kiệm, giản dị. Giàu đến mức ấy, nhưng Viễn luôn ăn mặc xoàng xĩnh, hàng ngày đạp xe từ nhà đến cơ quan làm việc.
------------------------------


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tìm hiểu chủ nghĩa toàn trị và chủ nghĩa chuyên chế

Nguồn: Edward Webb, “Totalitarianism and Authoritarianism”, in John T. Ishiyama and Marijke Breuning (eds), 21st Century Political Science, A Reference Handbook, (Thousand Oaks, CA: SAGE Publications, 2011), pp. 249 – 257.
Biên dịch: Phạm Hồng Anh | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Bước sang thế kỷ 20, một vài di chứng đen tối của thời kỳ cách mạng công nghiệp và chính trị cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 bắt đầu xuất hiện: các nước hùng mạnh tiến hành những cuộc tàn sát bằng phương pháp “được công nghiệp hóa” và khủng bố trên diện rộng nhắm đến chính xã hội của mình. Những sự kiện như cuộc thảm sát người Do Thái (Holocaust), cuộc Đại Thanh Trừng của Stalin (Stalin’s Terror), và cuộc Cách mạng Văn hóa tại Trung Quốc đã thôi thúc các nhà khoa học chính trị lý giải cách thức và nguyên nhân tại sao các nhà nước đó lại vận hành theo cách như vậy. Mặc dù về cuối thế kỷ, một làn sóng dân chủ hóa lan rộng ở nhiều nơi trên thế giới, nhưng các chế độ phi dân chủ dưới nhiều dạng khác nhau, vốn từng phổ biến khắp nơi bên ngoài Tây Âu và Bắc Mỹ, nay tuy đã thu hẹp nhưng vẫn còn duy trì với số lượng lớn. Trong thế kỷ 21, khoa học chính trị phải tiếp tục phân tích những chế độ này, đồng thời đặt ra các câu hỏi đã trở thành thách thức với nghiên cứu hàng thập kỷ qua (ít nhất là kể từ sự trỗi dậy của chủ nghĩ phát xít, chủ nghĩa quốc xã (Nazi), và chủ nghĩa Stalin trong giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới):
  • Làm thế nào để phân loại và phân biệt một cách hữu hiệu nhất các loại chế độ phi dân chủ?
  • Các chế độ đó trỗi dậy như thế nào?
  • Các chế độ này nắm và giữ vững quyền lực bằng cách nào?
  • Trong hoàn cảnh nào thì các chế độ đó sụp đổ?
Chương này sẽ lý giải một số thách thức trong quá trình tìm kiếm định nghĩa và mô tả một cách thỏa đáng các nhóm chế độ phi dân chủ, và giới thiệu những quan điểm và cách tiếp cận mang tính lý thuyết xung quanh vấn đề này. Phần tiếp theo sẽ giải quyết một số vấn đề thực nghiệm về sự trỗi dậy, cách thức hoạt động và sự tàn lụi của các chế độ này ở thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21. Cuối cùng, chương này sẽ đưa ra một vài gợi ý về hướng đi triển vọng cho những nghiên cứu về sau.
Các vấn đề lý thuyết và định nghĩa
Định nghĩa và phân loại
Mặc dù những nguồn gốc lý thuyết về chủ nghĩa chuyên chế hiện đại có thể được tìm thấy trong các tác phẩm cổ điển về tư tưởng chính trị, bao gồm “Nền cộng hòa” (Republic) của Plato, “Thủy quái” (Leviathan) của Hobbes, và “Bàn về Khế ước xã hội” (On the Social Contract) của Rousseau, phần lớn những phân tích khoa học chính trị hiện đại thường (ngầm) dựa vào khái niệm “thẩm quyền chính đáng” (legitimate authority) của Max Weber (1947/1964). Theo Weber,
Thẩm quyền chính đáng được chia làm 3 loại thuần túy. Giá trị của những tuyên bố về tính chính đáng có thể dựa trên: 1. Nền tảng lý trí được xây dựng trên niềm tin vào tính hợp pháp của mô hình gồm những luật lệ quy phạm và quyền của những người lên nắm chính quyền đưa ra mệnh lệnh trong phạm vi những luật lệ đó (legal authority – thẩm quyền pháp lý); 2. Nền tảng truyền thống được xây dựng trên một niềm tin vững chắc vào tính bất khả xâm phạm của những truyền thống xa xưa, và vào tính chính đáng của thẩm quyền thực thi quyền hạn theo những truyền thống đó (traditional authority – thẩm quyền truyền thống); hay cuối cùng, 3. Nền tảng hấp dẫn dựa trên sự hy sinh cho những điều thiêng liêng cụ thể và đặc biệt, nhân cách anh hùng hay tấm gương của một cá nhân, và của những mẫu hình quy phạm về trật tự được khai mở hoặc quy định bởi người đó (charismatic authority – thẩm quyền lôi cuốn) (tr. 328).
Nền dân chủ tự do hiện đại dựa trên nền tảng thẩm quyền pháp lý, hay tính chính đáng được thừa nhận từ kết quả của những cuộc bầu cử tự do và công bằng được tiến hành theo những thủ tục mà tất cả công dân đều tán thành, ít nhất là về mặt khái niệm. Các chế độ hiện đại khác thì dựa vào một danh sách dài hơn gồm những lý lẽ biện hộ cho sự cai trị của mình. Điều này không có nghĩa rằng thẩm quyền các chế độ phi dân chủ được xây dựng chỉ từ hai nguồn: thẩm quyền truyền thống hoặc thẩm quyền lôi cuốn, mặc dù cả hai loại thẩm quyền này đều đã và đang tồn tại trong các chế độ phi dân chủ, ví dụ như một số nước quân chủ ở Trung Đông (những nước này đều là các chủ thể hiện đại vận dụng sự trung thành với truyền thống), hay sức lôi cuốn của Hitler, Franco, hay Peron. Một số nhà khoa học chính trị đã áp dụng khái niệm của Weber về cai trị dựa trên truyền thống nhằm phát triển các phạm trù hiện đại như chế độ tân gia trưởng (neopatrimonialism) hay chế độ quân chủ Hồi giáo (sultanism) trong việc mô tả nhiều chế độ ở khu vực Trung Đông và Châu Phi hạ Sahara, nhưng không phải mọi học giả về chế độ chuyên chế đều dùng các thuật ngữ này.
Phần lớn các chế độ chuyên chế thường dựa trên nền tảng kết hợp tính chính đáng và sự cưỡng chế. Những công cụ có thể được sử dụng bởi một chế độ đang quản lý một quốc gia hiện đại nhằm truyền bá tính chính đáng và đồng thời thực hiện áp bức phong phú hơn so với thời các bạo chúa trong lịch sử, kể cả những quân vương chuyên chế như Vua Louis XIV của Pháp. Các nhà nước hiện đại có khả năng tổ chức toàn thể xã hội thông qua công nghệ truyền thông, bộ máy chính quyền rộng khắp, và hỏa lực tuyệt đối, nếu đó là con đường các quốc gia này chọn lựa.
Những chế độ chuyên chế là những chế độ phi dân chủ. Nói cách khác, chế độ chuyên chế là sự thiếu vắng hoặc hạn chế của hệ thống đa trung tâm quyền lực (polyarchy) (Dahl, 1979) hoặc có sự giới hạn về chính trị ngay trong bản thân chế độ:
Ở các chế độ chuyên chế, chỉ có duy nhất một dạng hạn chế của chính trị, bởi sự tranh giành quyền lực giữa các phe phái trong chế độ độc đảng và những bất đồng trong quân đội hay bộ máy chính quyền không hề giống như chính trị thực sự – chính trị được tiến hành trong bối cảnh một nền văn hóa công dân (a civic culture). (Pye, 1990, tr. 15)
Mặc dù thiếu dân chủ là yếu tố cốt lõi trong định nghĩa về chế độ chuyên chế, chúng ta không thể đơn giản đánh đồng chế độ này với sự thiếu vắng của các cuộc bầu cử.  Bầu cử là một công cụ chính đáng hóa chính quyền được sử dụng bởi hầu hết các chế độ, nhằm đáp lại một nhu cầu phổ biến rằng chính quyền sẽ thay mặt dân chúng điều hành đất nước. Có rất nhiều cách để một cuộc bầu cử hoặc trưng cầu dân ý có thể được thao túng để đạt được kết quả như ý cho các nhà chức trách, hoặc nhằm hạn chế kết quả trong một phạm vi khả năng đă được khoanh vùng. Ở nước Cộng hòa Hồi giáo Iran, ứng viên cho các cơ quan nhà nước ganh đua trong các cuộc bầu cử thực sự mang tính cạnh tranh, nhưng những nhà cầm quyền tôn giáo đã loại bỏ rất nhiều ứng viên tiềm năng ra khỏi cuộc đua. Tại Ai Cập, tổ chức Anh em Hồi Giáo bị cấm hoạt động như một đảng chính trị, điều đó có nghĩa rằng những ứng cử viên từ tổ chức này phải cạnh tranh như những ứng viên độc lập. Hơn nữa, quá trình bỏ phiếu thường bị cản trở bởi nạn gian lận phiếu bầu, đe dọa người bầu cử, hối lộ, và các tệ nạn khác. Đương nhiên ở các chế độ độc đảng, chỉ có ứng cử viên của đảng cầm quyền mới có thể ứng cử. Nhưng không phải mọi cuộc bầu cử trong những trường hợp trên đều vô nghĩa. Điều quan trọng là những nhà chức trách cấp cao đã tìm cách tránh được sự cạnh tranh hiệu quả thông qua hòm phiếu.
Vậy có bao nhiêu loại chế độ? Một sự phân chia rạch ròi giữa dân chủ và phi dân chủ dường như còn khiến chính những lý giải phức tạp hơn. Tuy nhiên, cách thức một sự phân loại chế độ được phát triển và áp dụng nhằm đạt được những tiến triển trong lý luận và phân tích thực nghiệm là một vấn đề chưa đạt được sự đồng thuận giữa các nhà khoa học chính trị và tiếp tục đưa ra những thách thức cho việc phát triển lý luận.  Trong một tranh cãi gần đây về vấn đề phân loại chế độ, Stephen Hanson và Jeffrey Kopstein (2005) đã cảnh báo về việc phát sinh ra “số lượng cách thức phân loại nhiều ngang số lượng các nhà nghiên cứu xã hội” (tr.77).
Một hướng tiếp cận là đưa ra cách phân loại tỉ mỉ, bao gồm nhiều phạm trù riêng biệt. Ví dụ, chế độ độc tài có thể được phân loại thành chế độ độc tài tuyệt đối – autodictatorship (không có bầu cử), chế độ độc tài độc nhất – monodictatorship (bầu cử không có tính cạnh tranh), và chế độ bán độc tài – semidictatorship (bầu cử chỉ có một phần cạnh tranh); và tiếp đó mỗi loại lại có thể được chia nhỏ hơn thành độc tài quân sự, độc tài đảng phái, hoặc độc tài cá nhân. Hoặc chúng ta có thể lựa chọn phân chia theo nấc thang từ phi dân chủ đến dân chủ (Diamond, Linz và Lipset, 1998). Cách tiếp cận này được sử dụng bởi các tổ chức như Freedom House, nơi thường đánh giá mức “điểm dân chủ” của các chế độ trên thế giới. Một hướng tiếp cận khác đưa ra một vài hạng mục lớn, sau đó xác định các mục nhỏ trong các hạng mục lớn đó bằng các tính từ. Đây là một cách tiếp cận được thiết kế để định rõ đặc điểm các chế độ khác nhau đang nổi lên những năm gần đây [đồng thời] duy trì được giá trị về mặt khái niệm bằng cách tránh lạm dụng chính các khái niệm” (Collier và Levitsky, 1997, tr. 448). Cách tiếp cận này “sản sinh” ra những khái niệm như chế độ chuyên chế “mềm” (soft authoritarianism) và nền dân chủ “phi tự do” (illiberal democracy) (xem Chương 31, “Chế độ bán chuyên chế” (Semi-Authoritarianism), và Chương 32, “Các hình mẫu dân chủ” (Models of Democracy) trong quyển sách này).
Cách một người phân chia các chế độ khác nhau sẽ phụ thuộc vào những tính chất mà người đó tin rằng thực sự quan trọng về mặt lý luận. Trong một bài báo năm 2007, Axel Hadenius và Jan Teorell cho rằng các biến số thể chế (institutional variables) là những dấu hiệu quan trọng nhất chỉ ra chế độ chuyên chế nào sẽ có xu hướng tồn tại bền vững, chế độ nào sẽ hướng đến dân chủ hóa. Cách phân loại này trước hết đặt ra một đường phân chia rõ ràng giữa các chế độ dân chủ và các chế độ chuyên quyền, tiếp đó chia chế độ chuyên quyền thành các chế độ: quân chủ, quân đội và bầu cử, cho dù đó là bầu cử vô đảng, độc đảng, hay đa đảng hạn chế. Đối lập với hai nhà nghiên cứu nói trên, Bradley Glasser (1995) đã phát triển một cách phân loại các chế độ ở Trung Đông dựa trên sự tiếp cận các nguồn lực tài nguyên, nhằm giải thích tính lâu bền của một số chế độ chuyên chế ở khu vực này và sự tự do hóa tương đối của một số chế độ khác.
Xác định cách phân loại nào hiệu quả nhất là một phần thách thức cho nghiên cứu tương lai. Sách của Paul Brooker (2000) cung cấp một cái nhìn tổng quát và thảo luận xuất sắc về nghiên cứu phân loại cho đến nay. Có thể sẽ hữu ích khi chúng ta xác định những phân loại tổng quát về chế độ, dựa trên cấu trúc thể chế, trước khi xem xét những vấn đề cụ thể mà khái niệm chủ nghĩa toàn trị (totalitarianism) mang lại.
Chế độ đảng trị (party regimes) là những chế độ mà ở đó chính phủ do một đảng duy nhất hoặc một đảng thống trị nắm quyền. Chế độ độc đảng (single party regimes) có một đảng gắn liền với quốc gia và không cho phép bất kì đảng nào khác hoạt động. Ngay cả trong nhóm chế độ này, có thể tồn tại sự khác biệt đáng kể về hệ tư tưởng mà qua đó đảng biện minh cho sự cầm quyền của mình, bất kể đảng đó có các cấu trúc an ninh hay dân quân riêng hay không, cũng như các yếu tố khác nữa. Chế độ một đảng thống trị (dominant party regime) cho phép các đảng khác cạnh tranh một cách hạn chế. Các chế độ đảng trị có thể theo bất cứ hình thức hệ tư tưởng nào, tuy nhiên hai hệ phổ biến nhất là cánh tả (cộng sản hoặc xã hội chủ nghĩa), và cánh hữu (phát xít hoặc dân tộc chủ nghĩa). Các đảng dân túy (populist) có thể kết hợp các yếu tố liên quan đến cả hai cánh tả và hữu. Có thể nói hệ tư tưởng không phải là nhân tố hữu ích để phân tích những chế độ này bằng việc xem yếu tố đảng phái chủ yếu như là một công cụ để nắm giữ quyền lực.
Một dạng khác của hệ thống phi dân chủ là chế độ quân đội trị (military regime). Ở đây một lần nữa tên gọi này bao gồm một phạm vi rộng các hệ thống khác nhau, cả về mặt lý luận và thực tiễn. Quân đội có thể cai trị trực tiếp, thông qua một độc tài hoặc một hội đồng cai trị. Quân đội cũng có thể cai trị gián tiếp, thông qua liên minh với các chính trị gia được lựa chọn và người cai trị được chỉ định. Sự cai trị cũng có thể được thực hiện thông qua một đảng tiên phong (front party), đảng này đương nhiên sẽ thể hiện bản chất của đảng đó  chế độ quân đội. Một chế độ quân đội có thể đại diện cho cả quân đội hoặc chỉ một bộ phận trong quân đội đó. Nó có thể mong muốn cai trị vĩnh viễn hoặc sử dụng sự can thiệp vào chính trị như một biện pháp tạm thời để giải quyết một vài vấn đề nguy cấp, như sự đe dọa đến an ninh quốc gia hay đe dọa đến lợi ích của quân đội với tư cách một thể chế.
Dạng thứ ba của chế độ phi dân chủ là chế độ cá nhân trị (personalist regime). Đây là chế độ độc tài của riêng một cá nhân và so với hai loại trên, chế độ này có xu hướng dựa vào thẩm quyền truyền thống hay thẩm quyền lôi cuốn hơn là thẩm quyền pháp lý. Một điểm khác biệt then chốt giữa chế độ cá nhân trị với hai loại chế độ đã bàn luận đó là: nền tảng tuyên bố cai trị nằm ở yếu tố cá nhân (những) kẻ thống trị, cho dù quyền lực của họ là kết quả tự nhiên hay thành tích đạt được, hay thông qua việc nối dõi, hoặc những mối liên hệ khác với thẩm quyền được người dân sùng bái.
Một trong những tác phẩm kinh điển về các chế độ chuyên chế là cuốn “Nguồn gốc của chủ nghĩa toàn trị” (The Origins of Totalitarianism) của Hannah Arendt (1951/1973). Đã có nhiều cuộc tranh luận về việc liệu thuật ngữ chủ nghĩa toàn trị có hữu ích cho việc phân tích trong vai trò một khái niệm tách biệt so với khái niệm rộng hơn – chế độ chuyên chế – hay không. Được viết sau thảm kịch Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, tác phẩm của Arendt trước hết là một nỗ lực giải thích biến động lớn đã khiến châu Âu đầu hàng chế độ Quốc xã. Con đường phát triển của nhân loại đã đi trật bánh thảm hại như thế nào? Ít nhất một phần câu trả lời nằm ở khả năng vô tiền khoáng hậu của các quốc gia và phong trào hiện đại nhằm thống trị hoàn toàn xã hội và con người: “Chủ nghĩa toàn trị đã khám phá ra một phương thức thống trị và khủng bố nhân loại từ bên trong” (Arendt, 1951/1973, tr.325). Một vế khác của câu trả lời chính là sự nổi dậy của chính trị quần chúng; của luật lệ theo số đông và sự thất bại trong việc bảo vệ các quyền thiểu số và cá nhân; và của nỗ lực nhằm đồng hóa con người trở thành một tập thể hoàn toàn thống nhất.
Một tác phẩm kinh điển khác ủng hộ đặc điểm khác biệt của chế độ toàn trị là cuốn “Chủ nghĩa độc tài toàn trị và chế độ chuyên quyền” (Totalitarian Dictatorship and Autocracy) của Carl Friedrich và Zbigniew Brzezinski (1965). Các tác giả lập luận rằng tất cả các chế độ độc tài toàn trị mang những tính chất sau:
1. Một hệ tư tưởng phức tạp, được cấu thành bởi một học thuyết chính thức bao quát mọi mặt thiết yếu của sự tồn tại mà mọi người trong xã hội phải gắn liền với… 2. Một đảng đại chúng điển hình được lãnh đạo bởi một người, kẻ độc tài, và bao gồm một phần trăm rất nhỏ dân chúng… 3. Một hệ thống khủng bố, tấn công cả thể xác lẫn tinh thần, chịu ảnh hưởng của đảng lãnh đạo và cảnh sát mật… 4. Một sự độc quyền kiểm soát về kỹ thuật và gần như tuyệt đối với tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng, nằm trong tay đảng và chính phủ… 5. Một sự độc quyền kiểm soát về kỹ thuật và gần như tuyệt đối với việc sử dụng hiệu quả tất cả các vũ khí dùng cho chiến đấu vũ trang. 6. Một sự kiểm soát và định hướng cho toàn bộ nền kinh tế xuất phát từ trung ương. (tr. 22)
Họ không trình bày hết mọi khía cạnh của 6 đặc tính này nhưng tranh luận rằng chúng đã “được xem rộng rãi như những nét đặc trưng của chế độ độc tài toàn trị” (tr.23).
Chế độ toàn trị là một chế độ kiểm soát thành công mọi mặt của xã hội, xóa bỏ sự khác biệt giữa nhà nước và tư nhân, thậm chí tham vọng kiểm soát được cả những mặt riêng tư nhất của đời sống và suy nghĩ từng cá nhân. Những bức chân dung lột tả chân thực và mạnh mẽ về những chế độ như vậy có thể tìm thấy trong các cuốn sách “1984” của Orwell, “Thế giới mới can đảm” (Brave New World) của Aldous Huxley, bộ phim “Brazil” của Terry Gilliam, và các tác phẩm khác. Những người phản đối việc sử dụng phạm trù này trong khoa học chính trị tranh luận rằng những xã hội như vậy chưa từng tồn tại trong lịch sử, kể cả khi chế độ đó có tham vọng đạt được sự kiểm soát ở mức cao như thế. Nếu chế độ toàn trị đã từng tồn tại, thuật ngữ này có thể áp dụng gần nhất với Đệ tam đế chế (Đức Quốc Xã), Liên Xô dưới thời Stalin, Iraq dưới thời Saddam Hussein (còn tranh cãi), và có thể là Triều Tiên. Phát xít Ý không nên được liệt vào danh sách này:
Chủ nghĩa phát xít có tham vọng “toàn trị”; trên thực tế Mussolini đã đặt ra thuật ngữ này. Nhưng… sự kiểm soát của Mussolini với xã hội nước Ý không cứng rắn, triệt để như Hitler hay Stalin, ảnh hưởng của ông ta cũng không rộng khắp đến vậy. Phát xít Ý vẫn còn để trống nhiều lĩnh vực xã hội rộng lớn. (Lyttelton, 1987, tr.1)
Một vài người đặt câu hỏi rằng dù có bộ máy tuyên truyền rộng rãi và chiến dịch khủng bố nhà nước, ngay cả các chế độ của Hitler hay Stalin có thực sự không bỏ sót bất cứ lĩnh vực quan trọng nào của đời sống xã hội không? Chế độ Saddam với tệ sùng bá lãnh đạo cũng có ham muốn xâm phạm tất cả các lĩnh vực đời sống, làm cho con cái chống lại cha mẹ, biến tất cả mọi người thành mật thám, và thực sự đã thành công đến một mức đáng kể (al-Khalil, 1990). Và thật khó để đưa ra một đánh giá chắc chắn về Triều Tiên bởi nước này vẫn là một “vương quốc cô lập” – một xã hội khép kín được cai trị bởi một “triều đại tự huyễn hoặc” (paranoid dynasty) thông qua nhiều công cụ được sử dụng bởi các chế độ khác, nhưng rất khó để cho người ngoài nghiên cứu và đánh giá (bộ phim tài liệu “A State of Mind” của đạo diễn Daniel Gordon là một cơ hội hiếm hoi hé lộ về những công cụ quản lý xã hội của chính quyền đầy bí ẩn này).
Một số người phản đối đã coi thuật ngữ chủ nghĩa toàn trị là trống rỗng về mặt lý luận bởi, ví dụ như, nó đơn giản chỉ là một nhánh cụ thể của chế độ chuyên chế (Barber, 1969). Tuy vậy nhiều người khác vẫn muốn áp dụng thuật ngữ này rộng rãi trong việc xác nhận tham vọng của nhiều chế độ chuyên chế hiện đại, ngay cả khi các chế độ này thất bại trong việc quản lý toàn diện xã hội (Friedrich, 1969). Nhưng một trong những đóng góp quan trọng cho lĩnh vực này của Juan Linz (1975) là đưa ra sự phân biệt giữa ba chế độ: toàn trị, chuyên chế và dân chủ (loại bỏ những biến thể như chế độ chuyên quyền Hồi giáo), và lý luận rằng chế độ toàn trị và chế độ chuyên chế là những thể loại khác biệt thuộc chế độ phi dân chủ, thay vì chỉ là những ví dụ của cùng một hệ trục. Theo Linz, chế độ chuyên chế có những đặc trưng riêng phân biệt với chế độ toàn trị, đó là sự hạn chế về đa nguyên chính trị, sự rã đám, không vận động quần chúng (demobilization), hoặc sự vận động quần chúng bị hạn chế hoặc bị kiểm soát.
Các cách tiếp cận trên lý thuyết
Brooker đã tranh luận rằng không thể có một lý thuyết về bản thân chế độ chuyên chế. Thay vào đó, chúng ta có thể nghiên cứu các dạng khác nhau của chế độ này và cố gắng lý giải các mặt khác nhau của chúng – làm thế nào chế độ tồn tại, giữ vững quyền lực và điều gì có thể khiến nó sụp đổ. Tuy nhiên, cho tới nay, trong những nỗ lực giải thích những khía cạnh khác nhau này, chúng ta có thể nhận thấy một vài hướng tiếp cận lớn, bắt nguồn từ tâm lý học, từ việc phân tích các quan niệm và tư tưởng, và từ cấu trúc và thể chế.
Một cách tiếp cận cũ hơn dựa trên tâm lý học, đặc biệt liên quan với Trường phái Frankfurt, pha trộn các nhân tố tư tưởng Freud và Marx. Một tác phẩm kinh điển theo hướng này là cuốn “Tính cách chuyên chế” (The Authoritarian Personality) của Theodor Adorno và các cộng sự (1950). Cách tiếp cận này coi bản thân các nét tính cách cá nhân, vốn là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội trong cuộc sống hiện đại, chính là điều kiện tác động đến sự nổi lên của các phong trào quần chúng. Wilhelm Reich (1970) ủng hộ quan điểm này:
“Chủ nghĩa Phát xít” chỉ là biểu hiện chính trị có tổ chức của kết cấu tính cách của một người bình thường… thái độ cảm xúc cơ bản của một người bị đàn áp bởi nền văn minh máy móc chuyên chế, cùng với những quan niệm thần bí mang tính máy móc về cuộc sống. Chính tính cách thần bí mang tính máy móc của con người hiện đại đã cho ra đời các đảng phát xít, chứ không phải điều ngược lại. (tr. xiii)
Có một hướng tiếp cận khác theo cách diễn giải, sử dụng chính các ý niệm và tư tưởng làm công cụ giải thích. Mặc dù là một tác phẩm xã hội học và lịch sử, cuốn sách của Arendt (1951/1973) vẫn dành sự quan tâm nhất định đến khía cạnh này. Gần đây hơn, Lisa Wedeen (1999) đã áp dụng cái nhìn diễn giải đối với sự sùng bái lãnh đạo ở Syria và rút ra những kết luận đáng chú ý về việc tôn sùng tưởng chừng rất vô lý và khó tin kia đã trở thành một công cụ quyền lực ngăn cản sự tiến bộ của một xã hội dân sự như thế nào.
Được đúc kết từ Marx và Weber, cách tiếp cận theo hướng lịch sử-thể chế, hay xã hội học lịch sử, đã đóng góp khá nhiều công trình khả quan trong lĩnh vực này. Tác phẩm của Skocpol về cách mạng xã hội là một minh chứng rất thuyết phục cho hướng tiếp cận này. Tác phẩm của Skocpol về các cuộc cách mạng xã hội là một ví dụ nhiều ảnh hưởng của cách tiếp cận này, nhưng bên cạnh đó còn rất nhiều nhà khoa học khác, như Linz và Guillermo O’Donnell. Một vài ví dụ gần đây bao gồm những đóng góp của họ cho số đặc biệt của tạp chí Comparative Politics tháng 1/2004 bàn về “Chế độ chuyên chế dai dẳng: Bài học từ Trung Đông cho Lý thuyết So Sánh” (Enduring Authoritarianism: Lessons From the Middle East for Comparative Theory) và công trình của Jason Brownlee (2007), người nghiên cứu về các đảng cầm quyền.
Brooker (2000) đã đề xuất hướng tiếp cận mang tính mổ xẻ nguyên nhân (forensic) đối với nghiên cứu sự nổi lên, duy trì và sụp đổ của các chế độ phi dân chủ; nói cách khác, khi phân tích phải xem xét các động cơ, phương tiện và cơ hội. Đây là một cách tiếp cận so sánh lịch sử khá rộng, người nghiên cứu không bắt buộc phải đặt ưu tiên trước cho một yếu tố nào, ví dụ như đơn vị so với cấu trúc hay ngược lại. Cách tiếp cận này cũng cho phép so sánh trên diện rộng giữa các chế độ phi dân chủ với nhau và giữa chúng với các chế độ dân chủ. Đây là một khuôn khổ mở hữu ích, tạo điều kiện để có thể xem xét nhiều vấn đề cụ thể hơn.
Những vấn đề thực nghiệm
Nguồn gốc của các chế độ toàn trị và chế độ chuyên chế
Nhiều chế độ chuyên chế hiện đại là kết quả của các cuộc cách mạng, khởi đầu với thời kỳ Khủng bố (the Terror) xảy ra sau cuộc Cách mạng Pháp, và bao gồm Cách mạng Bolshevik năm 1917 tại Nga và cuộc cách mạng tại Trung Quốc do Mao Trạch Đông lãnh đạo. Cuộc cách mạng của Mao đã thiết lập một chế độ chuyên chế tồn tại vững chắc đến thế kỷ 21 ở quốc gia đông dân nhất thế giới. Cách mạng Iran từ 1977 đến 1979 đánh dấu sự bắt đầu của một dạng chính quyền bán dân chủ đặc biệt – đó là Cộng hòa Hồi giáo.
Theda Skocpol (1979) đã lập một khung nghiên cứu về lịch sử cấu trúc và so sánh để phân tích những cuộc cách mạng trong cuốn “Nhà nước và Cách mạng xã hội” (States and Social Revolutions), một trong những tác phẩm cần đọc trong lĩnh vực này. Bà đã kết luận rằng lời phỏng đoán kinh điển của chủ nghĩa Marx về mâu thuẫn giai cấp dẫn đến biến chuyển cách mạng đã không cân nhắc đầy đủ vai trò quyền lực nhà nước, và đã không “giải thích thỏa đáng quyền lực tự trị, dù hay dù dở, của nhà nước trong vai trò bộ máy hành chính và cưỡng chế được gắn vào một hệ thống nhà nước quốc tế được quân sự hóa” (tr. 292). Cách mạng được tiến hành rộng rãi do khả năng suy giảm của nhà nước trong việc độc quyền sử dụng vũ lực hợp pháp, nguyên nhân thường xuyên là do sự kết hợp đồng thời giữa áp lực quốc tế – trên tất cả là chiến tranh – và sức ép về kinh tế xã hội trong nước. Bà cũng tranh luận rằng, đối lập với tiên đoán của chủ nghĩa Marx về sự tàn lụi của nhà nước sau một cuộc cách mạng thành công, thì “những nhà nước với chế độ mới ra đời ở Pháp, Nga và tương tự là Trung Hoa thậm chí còn hùng mạnh hơn và tự trị hơn trong lòng xã hội” (tr. 285). Mặc dù hình thái tư tưởng và kinh tế-xã hội của ba chế độ hậu cách mạng này tương đối khác nhau, nhưng sự lớn mạnh của nhà nước là một kết quả đồng nhất cho cả ba trường hợp. Ở hai trường hợp sau, như trong nhiều ví dụ về chế độ chuyên chế ở thế kỷ 20, thẩm quyền của nhà nước được xem như một công cụ cần thiết để giải quyết vấn đề “đuổi kịp” các nước có nền kinh tế phát triển hơn.
Cách mạng ở Iran đặt ra một thách thức với việc nghiên cứu cách mạng xã hội, như Skocpol (1982) thừa nhận trong một bài luận xuất bản không lâu sau tác phẩm năm 1979 của bà. Trái ngược với những đánh giá của mình về các cuộc cách mạng trước, bà buộc phải công nhận các ý niệm và tư tưởng đóng một vai trò nguyên nhân độc lập lớn hơn, và nhấn mạnh vai trò của cơ quan tổ chức lên trên yếu tố cơ hội. Cách mạng  Iran nổ ra không phải trong hoàn cảnh nhà nước suy yếu vì chiến tranh, mà vào thời điểm chế độ Shah (hay quốc vương Iran) được Mỹ chống lưng, tập trung trong tay nguồn binh lính, cảnh sát và tình báo dồi dào. Cuộc cách mạng này không chỉ đơn giản “nổ ra” mà chắc chắn đã được “tạo nên” bởi một liên minh các lực lượng xã hội bất mãn với chế độ.
Giành chính quyền, sau đó sử dụng các thể chế như là công cụ để thay đổi và hướng đến một xã hội tốt đẹp hơn là những mục tiêu chung của các cuộc cách mạng, bất kể những chi tiết cụ thể của tư tưởng vận động quần chúng như thế nào. Thay vì tập trung vào hệ tư tưởng – hay sau đó là “động cơ” theo cách tiếp cận của Brooker – có lẽ sẽ hữu ích hơn nếu chúng ta nghiên cứu những vấn đề về phương tiện và cơ hội.
Cơ hội thường đến từ sự tan rã của trật tự chính trị và xã hội hiện hành, bởi chiến tranh, nền kinh tế đứt mạch, và thất bại của các thể chế, như đã xảy ra ở Ý và Cộng hòa Weimar của Đức giữa hai cuộc Chiến tranh Thế giới. Trong những trường hợp này, cuộc cách mạng có thể hoàn toàn mang tính xã hội theo nghĩa rằng nó được thúc đẩy bởi một phong trào rộng lớn của quần chúng nhằm giành lấy quyền lực, mặc dù thông thường chỉ là một nhóm nhỏ tận dụng được thời cơ lật đổ chính quyền cũ. Nhưng trong nửa cuối thế kỷ 20, động lực này đã thay đổi bởi các thể chế nhà nước, và trên tất cả, các công cụ cưỡng chế nhà nước đã trở nên mạnh mẽ hơn trước. Chuyển đổi chế độ có xu hướng bị áp đặt qua lực lượng quân đội, từ bên trong hoặc bên ngoài: “Một khi quá trình phi thực dân hóa kết thúc, với những lực lượng quân đội hiện đại được thiết lập, các cuộc cách mạng xã hội có xu hướng giảm dần – trong khi những cuộc đảo chính quân sự ở nhiều dạng khác nhau vẫn xảy ra khá thường xuyên” (Skocpol, 1979, tr. 290). Các nhà nước đã tăng cường khả năng giữ vững trật tự, ngăn chặn những cuộc vận động quần chúng chống lại mình, nhờ vào những tiến bộ khoa học kĩ thuật. Viễn cảnh cho các cuộc cách mạng xã hội theo đó cũng nhạt nhòa dần, bởi vậy một số phân tích gần đây ít nhiều loại bỏ vai trò nổi trội của dân chúng trong sự hình thành các chế độ chuyên chế, thay vào đó nhìn nhận chế độ này là sản phẩm từ những quyết định của giới tinh hoa lãnh đạo, mà quần chúng là những người ngoài cuộc vô tội chỉ mong mỏi một nền dân chủ (ví dụ, Bermeo, 2003).
….
Chế độ toàn trị và chế độ chuyên chế cai trị và tồn tại như thế nào?
Chế độ chuyên chế trong thời đại dân chủ hóa
Hướng đi cho nghiên cứu tương lai
Kết luận
- See more at: http://nghiencuuquocte.org/2014/01/21/cn-toan-tri-va-cn-chuyen-che/#sthash.0ftRaIHf.dpuf

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chịu thiệt, cái cục khó nhằn này mà thành thơ được, phục bác Thông quá cơ!

Thế sự du du nại lão hà


Rùa đã chết rồi, có tiếc thương thì cũng thế thôi
Cũng có thể do ô nhiễm môi trường hoặc đói ăn, nhưng già thì phải chết
Chưa năm nào rét như năm nay, lo cho đám trâu bò trên vùng cao Việt Bắc
Hoa đào miệt Quảng Bá, Nhật Tân run rẩy đợi xuân về.

Hơn nghìn rưởi ông bà kiêu hãnh chui vào phòng điều hòa bàn chuyện giời chuyện đất
Hết đại hội này tiếp đại hội kia chưa tìm ra lối thoát cuối đường hầm
Đổi mới mấy chục năm, giờ vẫn gào đổi mới
Thí nghiệm học thuyết búa liềm trên mồ hôi nước mắt nhân dân

Nên dễ hiểu vì sao dân chúng hò reo khoái ông Bùi Quang Vinh đến thế
Bởi ông ấy nói ra điều họ ấm ức bấy lâu
Hỡi lão cầm cờ kia, hãy lắng nghe dân hỏi:
Bao giờ thì ném vào sọt rác cái bánh vẽ chủ nghĩa xã hội đã ngả màu

Tàu giặc, giàn khoan đang rập rình ngoài kia, gần Cồn Cỏ
Ngồi đó mà bàn Mác-Lênin, sao chẳng thẹn với người
Hãy thò bàn chân xuống ruộng cày đang nước đồng buốt giá
Sẽ nếm được vị mặn mòi từ hạt gạo dân nuôi.

Nguyễn Thông


Phần nhận xét hiển thị trên trang