Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 11 tháng 1, 2016

Một phần của thế giới hiện tại:

Vũ khí nguyên tử, chiến lược lợi hại của Bắc Triều Tiên

Người dân Bình Nhưỡng vui mừng nhảy múa tại quảng trường Kim Il Sung trước tin thử thành công bom khinh khí, 08/01/2016.

Le Monde hôm nay 11/01/2016 dành đến hai trang báo khổ lớn cho Bắc Triều Tiên, với hàng tựa « Nguyên tử, Chén Thánh của dòng họ Kim ». Khởi đầu do Liên Xô dẫn dắt và được nuôi dưỡng bởi những sai lầm của chính sách Mỹ, Bắc Triều Tiên rốt cuộc sở hữu được vũ khí hạt nhân, mặc cho cộng đồng quốc tế phản đối. Đối với Bình Nhưỡng đang bị cô lập, nguyên tử chính là bảo đảm cho sự sống sót của chế độ.
Quyết định chế tạo vũ khí hạt nhân của Bình Nhưỡng là kết quả của một quá trình chuẩn bị lâu dài. Nhờ sự giúp đỡ của Liên Xô trong thập niên 50, Bắc Triều Tiên đã tự hoàn chỉnh được kỹ thuật nguyên tử, lén lút trang bị được kỹ năng và các thiết bị cần thiết trong thập niên 60 và 70, trước khi thiết lập được chương trình hạt nhân quân sự trong thập niên 80 và 90 kế tiếp. Trở nên quốc gia tự chiết xuất được plutonium, Bình Nhưỡng đã tiến hành vụ thử nguyên tử đầu tiên vào năm 2006.


Ngay từ năm 1952, trong thời gian diễn ra cuộc chiến tranh Triều Tiên, Viện hàn lâm Khoa học Bắc Triều Tiên đã lao vào nghiên cứu việc khai thác các mỏ uranium mà đất nước này khá giàu có, cùng với vật lý nguyên tử. Ba năm sau, Bình Nhưỡng thành lập Viện nghiên cứu Nguyên tử.

Năm 1956, Matxcơva ký kết với Bình Nhưỡng một hiệp định hỗ trợ và ba năm sau đó là thỏa thuận hợp tác kỹ thuật, xây dựng một trung tâm nguyên tử thử nghiệm ở Bắc Triều Tiên. Đang xung đột với Bắc Kinh, điện Kremli hy vọng sẽ lôi kéo được Bình Nhưỡng về phe mình. Công việc xây dựng được khởi đầu tại Yongbyon, cách Bình Nhưỡng 90 km về phía bắc, năm 1962, năm mà Hoa Kỳ trang bị cho Hàn Quốc và Việt Nam Cộng Hòa các lò phản ứng thử nghiệm.

Lò phản ứng do Liên Xô xây giúp ở Yongbyon đi vào hoạt động từ năm 1965, và mỗi đợt nhiên liệu được giao đều đi kèm với lời hứa của Bình Nhưỡng không sử dụng vào mục đích quân sự. Nhưng các tài liệu lưu trữ của Liên Xô và các nước Đông Âu cho thấy ngay từ thời kỳ đó, Bình Nhưỡng đã rất quan tâm đến vũ khí nguyên tử, liên tục hỏi xin các thông tin kỹ thuật, nhưng Matxcơva tỏ ra cảnh giác với Kim Il Sung, ít trung thành và khó kiểm soát.

Kremli đã nhượng bộ khi xảy ra « cuộc khủng hoảng hỏa tiễn » ở Cuba năm 1962, việc Hoa Kỳ triển khai vũ khí nguyên tử tại Hàn Quốc từ năm 1958 và vụ đảo chính của tướng Park Chung Hee năm 1961. Liên Xô muốn Bắc Triều Tiên trở thành một « pháo đài bất khả xâm phạm » qua việc quân sự hóa tối đa. Còn Kim Il Sung bí mật tự tiến hành chương trình nguyên tử quân sự, và kể từ đầu thập niên 70, các chuyên gia nguyên tử Liên Xô không còn được Bắc Triều Tiên mời đến.

Chương trình nguyên tử trong suốt một thời gian dài đã trở thành lá bài quan trọng trong chính sách ngoại giao của Bắc Triều Tiên để đạt được những nhượng bộ. Chuyên gia Claude Helper cho rằng trước sau gì cũng phải nhìn nhận trên thực tế Bắc Triều Tiên đã là một Nhà nước nguyên tử. Hậu quả là việc đặt ra điều kiện tiên quyết để ngồi vào bàn thương lượng là phải từ bỏ vũ khí nguyên tử, đã trở thành siêu thực. Mục tiêu thực tế nhất chỉ có thể là giảm thiểu nguy cơ chuyển giao công nghệ hay thiết bị cho Bình Nhưỡng.

Hoa Xuân Oánh nói Bắc Kinh không biết gì về việc Bình Nhưỡng thử bom H.
Trung Quốc ở thế lưỡng nan

« Thế lưỡng nan của Trung Quốc trước thử thách vũ khí nguyên tử của Bắc Triều Tiên », đó là tựa đề bài phân tích của thông tín viên Le Figaro tại Thượng Hải. Như thường lệ, sau mỗi vụ khiêu khích của Bình Nhưỡng, các chiến lược gia ở Washington chờ đợi Bắc Kinh cuối cùng sẽ ra tay để cắt đứt nguồn tiếp tế cho nước láng giềng khó trị.

Với vụ thử bom hạt nhân lần thứ tư, « Lãnh tụ tối cao » của nước Bắc Triều Tiên nhỏ bé đã phá vỡ đà tiến tích cực từ hiệp định lịch sử với Iran, thắng lợi chính yếu của vị Tổng thống Mỹ vốn đã hứa hẹn « một thế giới không vũ khí nguyên tử ». Việc các chuyên gia nghi ngờ đây không phải là một quả bom khinh khí không quan trọng mấy, vấn đề là « cái ác » đã xảy ra. Không còn cách nào khác, Washington phải quay sang trách móc Bắc Kinh.

Theo tờ báo, Trung Quốc đã bị mất mặt hơn bao giờ hết với cú thử bom nguyên tử này, khi bất lực trước đàn em cứng đầu. Vào lúc Bắc Kinh đang dấn tới trên Biển Đông, Bình Nhưỡng tặng cho Washington một cái cớ bằng vàng để tăng cường sự hiện diện quân sự tại châu Á. Tuy nhiên khó có khả năng Bắc Kinh ra tay can thiệp, vì sự sụp đổ của Bắc Triều Tiên sẽ gây hậu quả nghiêm trọng hơn, với nguy cơ làn sóng người tị nạn sẽ tràn sang và sự hiện diện của quân đội Mỹ ngay sát biên giới.

Châu Âu sẽ coi Trung Quốc là nền kinh tế thị trường ?

Cũng liên quan đến Trung Quốc nhưng trên lãnh vực kinh tế, Les Echos cho biết « Châu Âu đang nghĩ đến việc hạ thấp các rào cản thương mại cho hàng Trung Quốc ». Ủy ban Châu Âu thứ Tư tới sẽ thảo luận việc coi Trung Quốc là một nền kinh tế thị trường.

Phía sau tên gọi « nền kinh tế thị trường », là thử thách quan trọng cho các nhà sản xuất châu Âu. Năm 2001, sau khi được gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Trung Quốc được cho thời hạn 15 năm để trở thành một nền kinh tế thị trường.

Do chưa được công nhận, mức thuế quan bổ sung của châu Âu đánh vào hàng hóa Trung Quốc khá cao. Một khi tình trạng này thay đổi, phương pháp tính toán về phá giá cũng sẽ thay đổi theo, và như vậy, sẽ rất khó kiện các nhà sản xuất Trung Quốc ra trước Tổ chức Thương mại Thế giới.

Trong khi đó Bruxelles dường như có xu hướng sẽ chấp thuận yêu cầu của Bắc Kinh. Một nghiên cứu được đặt hàng gần đây cũng giảm thiểu số lượng công ăn việc làm sẽ bị mất đi nếu Trung Quốc được coi là nền kinh tế thị trường, dù các nhà kỹ nghệ châu Âu ước tính sẽ có đến 3,5 triệu người tại châu Âu bị mất việc.

Viễn cảnh này làm cho họ lo sợ, và hiệp hội AEGIS tập hợp 25 lãnh vực công nghiệp đã gởi thư cho Chủ tịch Ủy ban Châu Âu Jean-Claude Juncker để cảnh báo về những hậu quả nghiêm trọng sắp tới. Theo nhà tư vấn Mogens Peter Carl, Bắc Kinh vẫn chưa thực hiện những cải cách đã hứa hẹn hồi năm 2001 như hủy bỏ tài trợ quy mô cho công nghiệp trong nước, nên châu Âu không thể xử sự như những người lịch sự ngây thơ.

Biểu tình chống nhập cư tại Köln ngày 09/01/2016.
Đức : Người nhập cư tấn công tình dục phụ nữ gây phẫn nộ

Ở châu Âu, xì-căng đan tấn công tình dục tại Đức đang làm dấy động dư luận đối với người nhập cư từ các nước Hồi giáo. « Tại Cologne, chỉ trong vòng 200 mét, họ đã sờ soạng tôi đến 100 lần », theo lời kể của một phụ nữ Đức, được Libération dùng làm tựa đề cho bài phóng sự của đặc phái viên tờ báo tại bang Köln (gọi theo tiếng Pháp là Cologne).

Clara, một cô gái tóc vàng 28 tuổi kể lại, lực lượng an ninh đêm giao thừa hôm ấy đã bất lực không bảo vệ được các phụ nữ nạn nhân. Cô vừa bước xuống sân ga ở Köln, đi chưa được bao xa thì đã bị những bàn tay đàn ông thô bạo sờ nắn mông và ngực cả trăm lần. Một hiện tượng chưa từng xảy ra tại Đức ! Kể các cô đi với bạn trai cũng bị tấn công.

Xì-căng-đan này ngày càng gây xúc động mạnh tại Đức khi đã có trên 500 phụ nữ đưa đơn kiện tại Köln, trong đó 40% vì bị quấy nhiễu tình dục. Tất cả đã bị « bao vây bởi những nhóm đàn ông Ả Rập hay Bắc Phi » khi ra khỏi các chuyến tàu từ nửa đêm đến bốn giờ sáng. Theo tờ Die Welt, đa số những người bị kiểm tra hôm 31/12/2015 tại Köln là người Syria. Không chỉ tại Köln, hiện tượng này còn xảy ra tại Hambourg, Stuttgart, Frankfurt, thậm chí ở Zurich (Thụy Sĩ), Salzbourg (Áo), Phần Lan.

Ảnh một thanh niên ở Madaya chỉ còn da bọc xương ghi nhận được trên mạng xã hội.
Syria : Bị bao vây, dân Madaya đang phải ăn cỏ và thịt chó mèo

Nhìn sang Syria, cụ thể là tại Madaya, thành phố 40.000 dân đang bị quân chính phủ Assad vây hãm từ sáu tháng qua, Libération kêu gọi để phá vòng vây, cứu người dân tại đây khỏi chết đói, phương Tây nên thả dù lương thực cho họ.

Theo tờ báo, nạn đói đang trở thành vũ khí tại Syria, trước hết là của chế độ Damas để hạn chế thiệt hại từ phe nổi dậy tại những vùng chiến lược. Tại Madaya, dân cư sống sót bằng cách nấu chín cây cỏ, hay bằng thịt của những con mèo, con chó đi lạc còn sót lại. Họ đang chết đói dần mòn trước sự dửng dưng của thế giới. Bi kịch này diễn ra chỉ cách biên giới Liban hơn một chục cây số, tức chỉ một phút bay của các phi cơ Hercules để thả dù thực phẩm.

Việc thả dù lương thực đã được thực hiện vào mùa hè 2014 trên đỉnh núi Sinjar ở miền bắc Irak, nơi hàng chục ngàn người tị nạn Yezidi chạy trốn tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) bị kẹt lại. Nhưng nay vấn đề này hiện không nằm trong kế hoạch của Mỹ hay Pháp, Anh, những nước tích cực nhất trong chiến dịch không kích đánh vào IS.

Tưởng niệm các nạn nhân khủng bố tại quảng trường République, Paris ngày 10/01/2016.
Việc làm, bầu cử sơ bộ, chống khủng bố : Tựa chính báo Pháp

Thời sự nước Pháp chiếm lĩnh trang nhất các báo Paris hôm nay. Le Monde đặt câu hỏi :« Bà Christiane Taubira sẽ dấn lên đến đâu ? », khi bà Bộ trưởng Tư pháp lại khẳng định phản đối biện pháp tước quốc tịch đối với những kẻ khủng bố song tịch, tuy chính bà phải làm nhiệm vụ bảo vệ dự luật này trước Quốc hội.

Trang bìa của tờ báo thiên tả Libération được dành cho lời kêu gọi tổ chức bầu cử sơ bộ để chọn lựa ứng cử viên tổng thống cho cánh tả Pháp, được nhiều trí thức đưa ra. Còn tờ báo thiên hữu Le Figaro chạy tựa : « Bầu cử sơ bộ cánh hữu : Ông Alain Juppé vượt lên hẳn » : Thị trưởng Bordeaux được đến 38% người ủng hộ, qua mặt cựu Tổng thống Nicolas Sarkozy, bị giảm còn 29%.

La Croix đăng ảnh bức tượng Marianne tượng trưng cho nước Pháp chìm trong bóng đêm với hàng tựa « Không để lãng quên ». Nhắc đến sự kiện lễ tưởng niệm những nạn nhân của các vụ khủng bố tại nước Pháp trong năm 2015 tại quảng trường République hôm qua, tờ báo đặt câu hỏi, tinh thần hôm 11 tháng Giêng còn lại gì, giữa ý muốn tương trợ và yêu cầu an ninh ? Tương tự, L’Humanité nhấn mạnh trên trang bìa « Tự do, Bình đẳng, Bác ái ».

Nhật báo kinh tế Les Echos quan tâm đến vấn đề « Việc làm : Tổng thống Hollande và Thủ tướng Valls đặt cược vào đây ». Kế hoạch đào tạo thêm nửa triệu người thất nghiệp đang gây tranh cãi, và hôm nay đại diện giới chủ và các nghiệp đoàn được chính phủ tiếp để nghe những đề nghị liên quan.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

GIẢI OAN TRIỆU ĐÀ.




Nỗi oan thứ nhất: Triệu Đà là người phương Bắc. Nỗi oan thứ hai: Triệu Đà dẫn quân Tần xâm lược nước Việt. Nỗi oan thứ ba: Triệu Đà lừa lấy nỏ thần và diệt An Dương Vương. Nỗi oan thứ tư: Triệu Đà trị vì 70 năm, thọ 121 tuổi.


Bài viết mang tính chất tham khảo, thể hiện góc nhìn riêng của tác giả.

Trong sử Việt có lẽ không có vị đế vương nào lại phải chịu tiếng oan ức như Triệu Đà. Oan không phải vì những gì Triệu Đà đã làm, mà vì các sử gia Việt mắt mờ, bị sử Tàu đánh tráo khái niệm, đánh tráo thời gian, biến một vị đế vương oai hùng đầu tiên của nước Nam người Việt thành một người Tàu xâm lược, thâm độc…


Nỗi oan thứ nhất: Triệu Đà là người phương Bắc

Sử ký Tư Mã Thiên chép: Vua Nam Việt họ Triệu tên là Đà người huyện Chân Định, trước làm quan úy. Thông tin thư tịch chỉ có vậy, thế mà không biết căn cứ vào đâu sách vở lại chú thích huyện Chân Định đời Tần “nay là” huyện Chính Định, Hà Bắc, Trung Quốc??? Triệu Đà bị biến thành người nước Triệu thời Chiến Quốc, quê gốc Hà Bắc.

Xem thêm:

>> Không thể chối bỏ Triệu Đà và nước Nam Việt?

>> Tranh cãi lịch sử về tính chính danh của Triệu Đà và nhà Triệu

>> Kho báu trong lăng mộ 2.000 năm của hoàng đế Nam Việt

>> Nàng Mỵ Châu có phải chịu trách nhiệm về sự sụp đổ của Âu Lạc?

Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 33 Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải, cho những người bị đày đến đấy canh giữ. Ở phía Tây Bắc đánh đuổi Hung Nô từ Du Trung dọc theo sông Hoàng Hà đi về đông đến Âm Sơn tất cả 34 huyện, xây thành trên sông Hoàng Hà để làm giới hạn. Lại sai Mông Điềm vượt sông Hoàng Hà lấy đất Cao Khuyết, Đào Sơn, Bắc Giã xây đình và thành lũy ở đấy để đuổi người Nhung và đưa người bị đày đến đấy để ở và lần đầu những nơi này trở thành huyện.


Cùng năm Tần đánh Việt thì Mông Điềm mới vượt sông Hoàng Hà đánh Hung Nô và người Nhung, lập các huyện mới. Vậy đất Hà Bắc, tức là Bắc sông Hoàng Hà, tới lúc này mới lọt vào tay Tần, lấy đâu ra ông Triệu Đà người Hà Bắc lại cùng năm đó làm tướng Tần đánh Việt được?

Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép: Bấy giờ nhà Tần đã chiếm cả thiên hạ, cướp lấy đất Dương Việt, đặt ra các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận. Như vậy thời kỳ này đất Giao Chỉ đã nằm trong đất nhà Tần. Huyện Chân Định hoàn toàn có thể nằm ở chính Giao Chỉ chứ không đâu xa. Sự thật thì huyện Chân Định thời Tần là ở đất Thái Bình ngày nay. Chân Định là tên cũ của huyện Kiến Xương, mãi tới thời Thành Thái (1889) mới đổi là huyện Trực Định phủ Kiến Xương tỉnh Thái Bình.

Huyện Kiến Xương nay còn di tích là đền Đồng Xâm tại xã Hồng Thái thờ Triệu Vũ Đế, là bằng chứng rõ ràng rằng Chân Định của Triệu Đà là ở đất Thái Bình chứ không hề ở Hà Bắc, Trung Quốc. Tại Đồng Xâm Triệu Vũ Đế lấy vợ là Hoàng hậu Trình Thị. Như vậy Triệu Đà là người Việt chính gốc, chứ chẳng phải Tần hay Triệu nào ở tận Bắc Hoàng Hà.

Nỗi oan thứ hai: Triệu Đà dẫn quân Tần xâm lược nước Việt.

Nỗi oan giời thấu thứ hai là Triệu Đà bị coi là kẻ xâm lược, đã cầm đầu quân Tần đánh Việt. Gọi là oan vì lần tìm hết các thư tịch cũ đều không hề có sách nào cho biết Triệu Đà đã cầm đầu quân Tần. Chỉ có trong Hoài Nam Tử có đoạn: [Nhà Tần] sai Úy Đà Đồ Thư đem lâu thuyền xuống Nam đánh Bách Việt. Cụm từ “Úy Đà” ở đây bị hiểu thành Triệu Đà. Hóa thành Triệu Đà cùng Đồ Thư đã dẫn quân xuống phương Nam.

Úy Đà là chức vụ của tướng Đồ Thư, với nghĩa như Đô Úy, tức là tướng thống lĩnh quân đội. Úy Đà biến thành tên riêng Triệu Đà dẫn đến nỗi oan chữ nghĩa khó giải của Triệu Vũ Đế.
Nam Việt Úy Đà liệt truyện chỉ chép: Thời Tần, Đà được làm lệnh ở huyện Long Xuyên, thuộc quận Nam Hải. Nếu Triệu Đà là tướng cùng Đồ Thư dẫn mấy chục vạn quân đánh Việt thì sao lại chỉ được làm một huyện lệnh nhỏ nhoi ở Nam Hải?

Huyện Long Xuyên nay là Long Biên, nơi còn đình đền thờ Triệu Vũ Đế tại xã Xuân Quan (Văn Giang, Hưng Yên). Theo sự tích ở đình Xuân Quan thì Triệu Vũ Đế khi đi qua bến sông này đã thấy rồng bay lên nên sau nhân đó đặt tên là … Thăng Long. Đình Xuân Quan được xây trên hành cung cũ của Triệu Vũ Đế, có tên là điện Long Hưng.

Thiên Nam ngữ lục thì chép về Triệu Đà:

Hiệu xưng là Triệu Vũ Hoàng
Chín lần xem trị bốn phương đẹp lòng
Long Biên thành hiệu Thăng Long
Vì xưa rồng dậy dưới sông Nhị Hà.

Triệu Vũ Đế lấy vợ ở đất Chân Định (Kiến Xương – Thái Bình), khởi nghĩa kháng Tần từ đất Long Biên (Thăng Long), hoàn toàn không phải kẻ xâm lược, dẫn quân Tần đánh Việt.


Nỗi oan thứ ba: Triệu Đà lừa lấy nỏ thần và diệt An Dương Vương.

Triệu Đà bị coi là kẻ thâm độc, xâm lược nước ta vì truyền thuyết Việt kể Triệu Đà sau khi đánh An Dương Vương không được, phải giả vờ xin hòa, cho con là Trọng Thủy xin cưới công chúa Mỵ Châu của An Dương Vương và xin ở rể. Trọng Thủy nhân cơ hội đánh tráo lẫy nỏ thần của nước Âu Lạc, rồi tìm cách về nước, dẫn quân sang, đuổi An Dương Vương cùng đường mà phải chém Mỵ Châu và đi vào biển…

Một lần nữa các sử gia Việt đã lấy truyền thuyết ghép nối vào lịch sử, nhưng ghép theo kiểu râu ông nọ cắm cằm bà kia. Thư tịch Trung Hoa không hề có chỗ nào ghi Triệu Đà đánh An Dương Vương cả. Nam Việt Úy Đà liệt truyện chỉ ghi: Cao Hậu mất,… Đà nhân đó dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc mình.

Nếu Triệu Đà là người cầm quân Tần đánh Việt từ năm Tần Thủy Hoàng thứ 33 (214 TCN), lập ra quận huyện đầy đủ rồi, thì làm gì còn An Dương Vương và nước Âu Lạc nào sau đó nữa để mà Triệu Đà phải dụng tâm, khổ kể như vậy?

Các sử gia cho rằng Triệu Đà đã dùng phương sách “Hòa tập Bách Việt”, lấy vợ Việt, cho con trai mình lấy con gái vua Việt để dễ bề cai trị người Việt. Nhưng tất cả chỉ là chuyện kể trong truyền thuyết mà không có sử liệu nào cho biết rằng Triệu Đà đã đánh diệt An Dương Vương. Thậm chí truyền thuyết của người Choang ở Quảng Tây lại kể Trọng Thủy là hoàng tử của nước Tây Âu, cầm gươm “Hòa tập Bách Việt” sang nước Lạc Việt… Trọng Thủy ở đây không phải con của Triệu Đà.

Chuyện Trọng Thủy của nước Tây Âu đánh Lạc Việt đúng ra là chuyện Tần đánh Việt năm 257 TCN. Tây Âu ở đây là Tần. Trọng Thủy là con vua Tần. Nhà Tần còn mang họ Triệu như Tần Thủy Hoàng có tên Triệu Chính, lấy theo họ mẹ là Triệu Cơ. Sự trùng hợp này đã dẫn đến sự hiểu nhầm oan ức rằng Triệu Đà đã phái con sang do thám nước Việt và diệt An Dương Vương.

Bài thơ Khối tình con của Tản Đà nói đến chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy:

Một đôi kẻ Việt người Tần
Nửa phần ân ái nửa phần oán thương.

Mỵ Châu là Việt thì Trọng Thủy là Tần, chứ không phải Triệu. Không phải Triệu Đà đã đánh An Dương Vương, mà là Tần Triệu đã thực hiện chính sách “hòa tập Bách Việt”, lập quận huyện ở trên đất Việt, di dời hàng vạn hộ dân xuống nơi đây.

Nỗi oan thứ tư: Triệu Đà trị vì 70 năm, thọ 121 tuổi.

Chính vì “Hội nhà sử” ngày nay quá tin vào những chú dẫn “đểu” của sử Tàu mà không suy xét nên Triệu Đà mới thọ đến 121 tuổi, làm vua 70 năm (từ năm 207 TCN đến năm 137 TCN). Chỉ với tuổi thọ này cũng đủ thấy “nỗi oan” của Triệu Đà to như cái đình mà vẫn được các “học giả” tin sái cổ.

Khi đọc kỹ Sử ký Tư Mã Thiên sẽ thấy có 2 lần Triệu Đà xưng vương. Lần thứ nhất là vào năm Tần Nhị Thế thứ hai (207 TCN) Triệu Đà chiếm lại 3 quận mà Tần lập ra trên đất Việt trước đó (Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải) và tự lập làm Nam Việt Vũ Vương. Lần thứ hai là sau khi Cao Hậu (Lữ Hậu) mất năm 180 TCN Đà uy hiếp Mân Việt và Tây Âu, tự tôn là Nam Việt Vũ Đế.

Theo vậy hóa ra Tây Âu Lạc thì không nằm trong 3 quận mà Tần đã chiếm (Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải)? Điều này vô lý vì sách Hoài Nam tử cho biết: Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống đã bị Giám Lộc, Đồ Thư giết thì sao mãi tới thời Tây Hán vẫn còn Tây Âu?

Tuổi thọ “xưa nay”… không có của Triệu Đà cùng với 2 lần xưng vương và sự vô lý về vị trí nước Tây Âu cho thấy, từ năm 207 TCN đến 137 TCN ít nhất phải có 2 nhân vật, cùng được gọi là Triệu Đà. Triệu Đà thứ nhất là người đã lãnh đạo nhân dân Việt kháng Tần, giành lại đất đai của người Việt mà Tần lập quận huyện trước đó vào năm Tần Nhị Thế thứ ba (207 TCN). Còn Triệu Đà thứ hai nổi lên sau sự kiện Lữ Hậu mất (180 TCN), “mua chuộc” Mân Việt và Tây Âu theo mình. Nói cách khác một Triệu Đà chống Tần, còn một Triệu Đà chống Hán.

Câu đối ở điện Long Hưng, Xuân Quan nơi thờ Triệu Vũ Đế:
一指已無秦萬里開先閩貉絶
两立何難漢億年倡始帝王基
Nhất chỉ dĩ vô Tần, vạn lý khai tiên Mân Lạc tuyệt
Lưỡng lập hà nan Hán, ức niên xương thủy đế vương cơ.

Dịch:
Một vùng vắng bóng Tần, vạn dặm mở ra vời xa Mân Lạc
Hai ngôi sánh cùng Hán, ngàn năm gây nền vững vàng đế vương.

Triệu Đà thứ hai là cháu Triệu Đà thứ nhất và có “mồ mả cha mẹ” ở phương Bắc đúng như Sử ký đã chép. Triệu Đà thứ hai có tên… Triệu Hồ, bởi vì Triệu Hồ không phải Triệu Văn Đế như sử vẫn chép. Chứng cứ rõ ràng là ngôi mộ vua Triệu mới phát hiện ở Quảng Đông vào những năm 1980. Trong mộ có ghi tên Triệu Mạt (hay Muội) và ấn vàng Văn đế hành tỉ (文帝行璽 ), nhưng lại còn có ấn vàng Thái tử (泰子). Như vậy người được chôn ở trong mộ là Văn Đế nước Nam Việt nhưng không phải Triệu Hồ vì Triệu Hồ là hàng cháu của Triệu Đà, không thể có chức Thái tử.

Với bằng chứng khảo cổ và minh văn phát hiện trong mộ Triệu Văn Đế ở Quảng Đông thế thứ nhà Triệu Nam Việt trở nên rành mạch:

- 207 TCN đến 180 TCN: Vũ Vương Triệu Đà
- 180 TCN đến 137 TCN: Vũ Đế Triệu Hồ
- 137 TCN đến 124 TCN: Văn Đế Triệu Muội
- 124 TCN đến 113 TCN: Minh Vương Triệu Anh Tề
- 113 TCN đến 112 TCN: Ai Vương Triệu Hưng
- 112 TCN đến 111 TCN: Vệ Dương Vương Triệu Kiến Đức.

“Nỗi oan” 121 tuổi, 70 năm trị vì của Triệu Đà nay coi như được giải với 2 đời vua Triệu Vũ Hoàng kế tiếp nhau. Nhưng còn những nỗi oan vì sự vô lý của các sử gia đối với sử Việt thì chắc phải chờ thời gian soi xét…
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thôi, hãy bỏ đi bác Đào ợ - Dù sao tốt xấu, hay dở cũng là chuyện đã qua rùi!


Vì sao tôi bị bắt và bị kết án 15 tháng tù…
Phạm Viết Đào.
Đây là câu hỏi mà nhiều bạn bè đặt ra với tôi trong đó có vài hãng thông tấn nước ngoài nhưng tôi chưa có một câu trả lời rành rẽ trước câu hỏi này, mặc dù tôi đã đưa lên mạng Kết luận điều tra, Cáo trạng và Bản án sơ thẩm và phúc thẩm của 2 tòa Hà Nội và tối cáo trên mạng còn được lưu giữ tại một số trang…
Về tội danh của tôi thì các văn bản trên đã đưa các số liệu cụ thể tôi không muốn liệt kê lại, tựu trung: đăng một số bài, viết một số bài đả kích nói xấu một số vị lãnh đạo Đảng và nhà nước như ông Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Xuân Phúc, một số Bộ trưởng và một số cơ quan nhà nước…
Về những bài viết buộc tội là xâm phạm lợi ích thì phần lớn tôi lấy từ các trang mạng khác trong đó có những trang chính danh như BBC, VOA; còn bài tôi viết chủ yếu trong chùm bài góp ý sửa đổi hiến pháp 2013: bị khép tội lợi dụng chủ trương góp ý sửa đổi hiến pháp để đả kích vào sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước; Ra tòa Tòa có hỏi là có nhận tiền của ai để viết blog không…
Trước khi tôi bị bắt, tôi có nghe phong thanh nói tôi lọt trong tầm ngắm của cơ quan điều tra nhưng tôi chủ quan nghĩ: những bài viết của tôi so trong mặt bằng chung của giới blog chưa phải là “ máu lửa “ nhất; trang của tôi không hề đưa một thông tin thất thiệt nào chỉ có một số câu, bài bình luận theo ngôn ngữ vỉa hè, đường phố cho hợp khẩu vị; ví dụ khi góp ý sửa đổi Hiến pháp thì tôi có sử dụng từ “ bóp d…” để nói một điều luật quy định về chể độ sở hữu nhà ở của công dân…
Sau khi ra tù, tôi mới tìm đọc Hiến pháp 2013 thì thấy những điều góp ý của mình được coi là gai góc thấy đều sửa ví như Lời nói đầu không đưa “kim chỉ nam” Chủ nghĩa Mác Lenin; Về chế độ đối với thương binh liệt sĩ đã không dùng khái niệm “ xã hội hóa” tràn lan các chính sách đãi ngộ đối với người có công…
Nếu căn cứ vào kết luận điều tra thì cuối văn bản đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với tôi, và tội danh của tôi được xếp khoản 1 tức từ 6 tháng đến 36 tháng…
Căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành, khi cơ quan Điều tra kết luận đưa vào khoản 1 và đề nghị giảm nhẹ hình phạt do nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, lại thành khẩn thì mức án nặng lắm từ 6-8 tháng là cùng…
Khi làm việc với cán bộ điều tra tôi nhận ra họ lần đầu biết đến blog của tôi, đến mạng “lề dân”, còn trước đó họ cũng chỉ biết tới các trang mạng chính thống vì họ cũng không rành tin học lắm…
Vì nhận biết “ đối thủ” của mình như vậy nên tôi cũng tìm cách tranh thủ họ tức là thuyết phục để họ hiểu rằng nếu nặng lắm thì tôi chỉ ở mức phạm lỗi hành chính chứ chưa tới mức tội hình sự…Mà lỗi hành chính trong nghề viết lách thì đầy mặt báo chính thống…
Về chuyện đúng sai của hành vị của tôi mà bản án đã đưa tôi đã có lần trình bày chính kiến của mình trong loạt bài “ Vòng Kim cô vô hình”, bây giờ tôi xin được bạch hóa chính kiến chủ quan của mình vì sao khi ra tòa tôi bị khép tội nâng khung hình phạt từ khoản 1 lên khoản 2; vì nếu khoản 1 thì không thể để mức án 15 tháng mà phải đẩy lên khoản 2 thì mới đẩy lên mức khởi điểm là 2 năm và chiếu cố giảm nhẹ hình phạt bằng cách giảm cho 9 tháng…
Tại phiên tòa tôi đã tự bào chữa điều bất hợp lý và tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát tối cao cũng không tán thành việc Tòa đẩy khung hình phạt của tôi từ khoản 1 lên khoản 2 nếu chỉ căn cứ vào các hành vi được kết luận trong kết luận điều tra và Cáo trạng của Viện Kiểm sát ND thành phố Hà Nội…
Vậy thì có loại hậu quả nào do hành vi của tôi gây ra, tuy không đưa đưa vào cáo trạng, kết luận điều tra nhưng tòa lại căn cứ vào đó để định mức hình phạt cho tôi.
Theo tôi có mấy hậu quả sau:
1/ Những bài viết đụng đến quan hệ với Trung Quốc
Trong cáo trạng và bản án chỉ có một dòng viết tôi có lập một trang nói về cuộc chiến Việt-Trung ở Vị Xuyên-Hà Giang, không kết tội gì ?!
-Tôi chính thức lập và viết blog bắt đầu từ sự kiện dự án bauxite Tây Nguyên; blog đầu tay này tôi nhờ nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo lập giúp để phát biểu suy nghĩ của mình về sự án nguy hiểm này;
Tôi còn nhớ, người đầu tiên đưa lên mạng chứng minh Dự án bauxite Tây Nguyên vi phạm Luật Tài nguyên-Môi trường vì Luật này quy định: một dự án như bauxite Tây Nguyên muốn triển khai, theo Luật tài nguyên trước hết đã phải được Quốc hội phê duyệt trong Quy hoạch…Quốc hội chưa phê duyệt “ Quy hoạch “ mà đã triển khai là vi phạm luật…
Sau khi tôi đưa ý kiến này lên, LS Cù Huy Hà Vũ đã triển khai tiếp tục bằng một lá đơn kiện Thủ tướng; Tôi không tham gia kiện mà chỉ nêu chính kiến của mình lên blog…Vụ này sau đó diễn ra thế nào thì mọi người đã biết…
-Vụ thứ 2 liên quan tới Trung Quốc đó là Dự án đường sắt cao tốc bắc nam,tôi là một trong những blog quyết liệt phản đối dự án này;
-Vụ thứ 3: Những thông tin từ Nhật Bản về những tổn thất của các chiến ở biên giới phía bắc
Vụ này khởi nguồn từ một bài viết trên blog của tôi kể việc việc tôi được nhà ngoại cảm Bích Hằng chỉ cho cách đưa được linh hồn em trai tôi, một liệt sĩ đã hy sinh trong trận 12/7/1984 đánh cao điểm 772 về được quê hương…
Sau bài viết này, một blogger Nhật có tên Hà Minh Thành đã liên hệ qua email với tôi cho biết: anh đã đọc bài viết của tôi; Hà Minh Thành đã dịch giới thiệu cho tôi một tài liệu trên trang Quốc phòng Trung Quốc viết bằng tiếng Anh cho biết: trận này phía Trung Quốc đã tiêu diệt của Việt Nam 3700 bộ đội, qua lời kể của một trung tá pháo binh Trung Quốc; Và cũng theo viên trung tá này thì sở dĩ Việt Nam thất bại là do toàn bộ kế hoạch tác chiến của trận đáng mang Mật danh MB 84 của phía Việt Nam đã bị một sĩ quan quân báo cao cấp bán cho Trung Quốc;
Cùng với bài viết của mạng Quốc phòng Trung Quốc, Hà Minh Thành còn cung cấp cho tôi, tức dịch toàn bộ bản kế hoạch mang mật danh MB 84, một dạng tài liệu mật của Bộ Quốc phòng được blog của tôi công bố…Nhiều CCB tham gia trận đánh 12/7/1974 cho biết: Bản kế hoạch mang Mật danh MB 84 do tôi công bố tình tiết, giờ giấc, mũi hướng tần sông và tên tuổi các đơn vị tấn công của Việt Nam là gần sát đúng…
Liên quan tới quan hệ với chuyện chiến tranh biên giới Trung Quốc,Hà Minh Thành còn cung cấp cho tôi 1 tài liệu được giảng dạy trong các trường quân chính Nhật Bản về cuộc chiến biên giới Việt-Trung. Nhật Bản đánh giá đây là cuộc chiến bộ binh lớn nhất sau Thế chiến thứ 2 xảy ra ở khu vực châu Á…
-Ngoài chuyện này, Hà Minh Thành còn giới thiệu với tôi một đạo diễn người Trung Quốc đạo diễn cho một hãng truyền hình Nhật Bản tên là Bành Trung Nghĩa, ông này có một người em là lính Trung Quốc đã chết trong trận đánh ở Lão Sơn, là danh xưng phía Trung Quốc đặt tên cho những trận đánhở khu vực Thanh Thủy Vị Xuyên, Hà Giang…
Ông này muốn làm một bộ phim tài liệu về cuộc chiến này mà nhân vật chính sẽ là một đạo diễn Nhật người Trung Quốc với một nhà văn Việt Nam bàn, phân tích về cuộc chiến này…
Tôi đã nhận lời với Hà Minh Thành với điều kiện phía Nhật cung cấp kịch bản được cơ quan chức trách chấp thuận…
Dự án này sau đó đã không thành vì theo Hà Minh Thành thfi phía cơ quan chức năng Việt Nam không đồng ý, còn phía Trung Quốc đã đồng ý…
Đoàn làm phim Nhật đã qua Trung Quốc thuê máy bay trực thăng bay vòng trên Cao điểm 1509, Hà Minh Thành đã gửi cho tôi nhiều ảnh của chuyến đi quay ở Lão Sơn với tư cách làm phiên dịch cho đoàn làm phim Nhật, về phía bên Trung Quốc do có một số đồng bào người Dao nói tiếng Việt…
Vụ này sau này đã xảy ra một cuộc “ đấu nhau” trên mạng do Blog Giao tố cáo Hà Minh Thành là người mạo danh, bịa chuyện…và Phạm Viết Đào háo danh tung tin giả…
Hà Minh Thành sau này còn liên quan tới Cậu chuyện cậu bé người Nhật 9 tuổi không nhận suất ăn trong trận động đất lịch sử và Blog Phạm Viết Đào đã trở thành đối tượng đấu tố của TTXVN và Trang Quân sử Việt Nam bị khép cho cái mũ vọng ngoại để về nói xấu Việt Nam…
Chuyện này mọi người đã chứng kiến và blog Phạm Viết Đào chủ động khép lại vụ này bằng bức thư của Hà Minh Thành gửi cho nhà văn Phạm Viết Đào…
Theo chủ quan của chủ blog thì vụ này chừng mực nào vụ này có liên quan tới mức án 15 tháng sau này; Chuyện này sẽ viết riêng về quan hệ giữa Phạm Viết Đào và Hà Minh Thành đã có lúc cơ quan chức năng nghi sau Hà Minh Thành là Việt Tân móc nối phá quan hệ Việt-Trung ?
-Cùng song song kết bạn với Hà Minh Thành, chủ blog còn nhận được email của một blog Trung Quốc đề nghị giao lưu; anh này cho biết vốn là người Hoa ở Hải Phòng, sang Trung Quốc trong dịp nạn kiều 1978, có tham gia đánh nhau với bộ đội Việt Nam ở Lạng Sơn và bây giờ giải ngũ tập hợp bạn bè lập một trang mạng để trao đổi thông tin về những ký ức chiến tranh.
Anh này cho biết: trong nhóm của anh cũng có một CCB từng là dũng sĩ diệt Mỹ ở chiến trường Quảng Trị năm 1972, về Trung Quốc có tham gia các trận đánh lại đồng đội cũ ở Lão Sơn…
Thấy một nguồn tin hấp dẫn, tôi đã trao đi đổi lại nhiều email với CCB này những rất không moi được thông tin gì đáng giá…
Sau một thời gian, chủ blog nhận được một gợi ý gần với sự đặt hàng: Đề nghị cho biết cảm nghĩ về ông Lê Duẩn như thế nào, theo anh ta ông Lê Duẩn là thế này…có 4, 5 điều gì đó, một sự “ mớm bóng” và mong nhận được bài viết của tôi để đăng trên mạng Trung Quốc.
Theo anh này thì CCB Trung Quốc rất quan tâm tới blog của tôi và anh này đã dịch nhiều bài của tôi giới thiệu cho mạng Trung Quốc; sau đó anh ta còn gợi ý tôi nên sang tham dự một hội chợ gì đó ở Quảng Tây…
Khi nhận được email này tôi bắt đầu ngửi thấy vấn đề, và để bạch hóa vấn đề, ngăn ngừa hậu họa, tôi đã chính thức cói văn bản báo cáo với 1 cơ quan chức năng của Bộ Công an để đề phòng bị “ sập bẫy “ gì đó…
Phía cơ quan chức năng đã hoan nghênh báo cáo của tôi, cử người sang làm việc với tôi tại Bộ Văn hóa, lúc đó tôi đang làm việc. Tôi đã sao chụp toàn bộ thư từ, hộp thư, email và cả mật khẩu hộp thư giao dich mà tôi đã sử dụng và đề nghị cho biết: tôi có nên tiếp tục giao dịch với anh bạn CCB Trung Quốc không ?
Phía cơ quan chức năng cho ý kiến: cứ tiếp tục nhưng sau đó thì trang mạng của tôi bị sập cùng hộp thư và mất tăm luôn ông bạn CCB Trung Quốc ẩn chứa nhiều thông tin hay…
P.V.Đ.
( Còn nữa… )
Cùng CCB E 876, F 356 Hà thăm lại Cao điểm 685, phía sau bên phải;
bên trái phía sau là 772
Phần nhận xét hiển thị trên trang

chưa thấy công an ở đâu dã man, tàn bạo và thâm thù người VN như công an TQ ở Quảng Đông.

SỰ TÀN BẠO VÔ NHÂN TÍNH
CỦA CÔNG AN QUẢNG ĐÔNG- TRUNG QUỐC
Thời gain gần đây. Việc người Việt Nam sang TQ làm ăn ngày càng nhiều.Nhất là ở tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), nơi giáp giới với Việt Nam. Nhiềuchủ kinh doanh TQ đã mướn người lao động VN sang làm cho mình mà không cần hộ chiếu hay giấy tờ hợp pháp khác (có lẽ để trốn thuế cùa nhà nước TQ. Đây là trường hợp vi phạm pháp luật thông thường vốn thường xảy ra ở các nước có chung đường biên giới hoặc không. Trường hợp này đúng ra người lao động nước ngoài sẽ bị trục xuất, chủ thuê bị phạt. Người lao đông bất hợp pháp bị bắt tạm giam trước khi phải trục xuất.
Các nước và vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Công cũng có tình trạng người lao động bất hợp pháp vi phạm pháp luật của nước sở tại.
Việc bắt tạm giam những người lao động bất hợp pháp ở Hồng Công hay nhiều nơi khác nói chung không có vấn đề gì đáng nói.Công an Hồng Công và nhà giam Hồng Công là nơi mà “đạo đức tư bản chủ nghĩa” hoành hành đã đối xử rất nhân đạo với người lầm lỡ. Họ được đối xử tử tế. Ăn uống và sinh hoạt tốt. Khi trao trả cho đại diện nước ta, họ còn được cấp một khoản tiền để về nước. Chỉ chủ thuê lao động là bị phạt nặng.
Trường hợp tương tự ở lục địa TQ sẽ ra sao?
Một người lao động bất hợp pháp tại Quảng Đông đã kể về việc công an TQ đã đối xử với anh ta và những người VN cùng bị bắt : không bằng con chó.
Anh ta kể:
có lẽ do chỉ điểm nên khi đang ở một quán ăn, 15 người VN chúng cháu và chủ TQ bị đúng 16 công an TQ ập đến bắt. Họ dùng 8 cái còng để còng tay 2 người một còng. Loại còng tay của TQ rất đặc biệt Cứ càng cựa quậy là nó càng thít lại đau điếng.
Chúng cháu bị giam tại một trại giam ở Quảng Đông. Trại giam này có phòng dành để giam cả người TQ và VN. Mỗi phòng giam 40 người. Tất cả đều bị lột hết áo, mặc quần đùi. Điện thoại di động và tất cả các vật trong người cũng như tiền nong đều bị tịch thu không trả lại. Phòng giam có một sạp ghép gỗ bẩn thỉu ,hẹp. 40 người chen chúc trên đó. Người nào muốn nằm ngửa thì phải giữ yên tư thế như thế suốt đêm. Nếu giở mình nằm ngiêng là cả đêm sẽ phải như vậy. Phòng không có chiếu, chăn, màn. Do muỗi nhiều nên khi muỗi no máu đậu đen trên tường. Chỉ cần đập tay lên tường là in cả một bàn tay máu đỏ lòm do muỗi bị đập vỡ bụng máu.
Một ngày người ta đưa cơm qua lỗ nhỏ chừng 30x20cm. Họ vất những cục cơm mỗi người chỉ được một cục nhỏ hơn nắm tay. Họ như vất như cho chó ăn. Hầu như cơm rơi xuống đất, tù phải nhặt lên ăn. Họ không cho chúng cháu ăn hạt muối nào. Thức ăn thì một ngày 40 người chỉ được quẳng vào 37 hay 35 quả trứng vịt luộc. Nghĩa là mỗi người không đủ 1 quả. Cũng không có muối. Khi đầu gấu ăn mất hai quả thì mỗi người chỉ còn nửa quả. Có người không được ăn. Cũng có khi họ cho ăn canh.Nhưng cả 40 người ăn xong cũng không biết đó là canh gì, chỉ trong như nước lã không có chút cái nào. Có lẽ cân rau họ nấu cho hơn 100 người ăn nên chỉ người ăn đáy nồi mới biết đó là bầu hay rau cải.
Công an TQ thường xuyên đánh đập, hành hạ người bị giam. Họ dùng cực hình tàn bạo với người bị giam mặc dù tội danh đã rõ ràng, không cần tra hỏi. Họ thường dùng gậy đánh hành trăm gậy vào dóng chân, khớp gối ngang đùi người bị giam cho đến khi người ấy bầm tím khắp người mới thôi.
Chúng cháu thường được người dân TQ ở bên thương tình vất muối và bật lửa vào cho. Tuy nhiên, bật lửa phải dấu vào trong hậu môn mới tránh được khám xét. Nếu công an thấy được sẽ đánh đập rất tàn bạo.
Do hai người bị còng chung nên việc đi lại hay đại tiện, tiểu tiện đều cả hai cùng đi. Đại tiện ngay tại một cái hố trong phòng không có tự hoại, mùi hôi thối sặc sụa.
Người VN có thể bị giam như vậy tới nửa năm và hơn. Nếu chủ thuê làm phải nộp tiền chuộc mới được thả ra. Lần ấy, 9 người chúng cháu công an TQ bắt chủ nộp 30 vạn tệ( khoảng hơn một tỷ tiền Việt) nên chủ không thể cứu được chúng cháu. Chủ chỉ bảo người nhà nộp 15 vạn tệ cứu chủ thôi.
Công an TQ tàn bạo nhưng người dân lại tốt. Nhiều người thương tình vứt muối vào cho chúng cháu. Có người còn mua cả kiện quần áo gửi vào cho người bị giam.
Khi thả về Việt Nam thì công an TQ cũng không thả một cách bình thường. Họ tiếp tục hành hạ bằng cách thả vào khu vực biên giới hẻo lánh, giữa rừng rậm không người, không đường đi, lối lại. Bị bắt ở gần Móng Cái thì họ đem lên biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn để thả. Người bị bắt không tiền, không phương tiện phải chui rừng rậm mà tìm về.
Trên đường đến biên giới thì 12 giờ họ mới dừng xe cho phạm nhân đi vệ sinh…
Người kể bảo: Cháu chưa thấy công an ở đâu dã man, tàn bạo và thâm thù người VN như công an TQ ở Quảng Đông.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHÀ KHÁCH TÂY GIAO Ở THƯỢNG HẢI

Cung điện hoan lạc xa hoa của Mao Trạch Đông tại Thượng Hải

Mao Trạch Đông (Ảnh: Internet)
Mao Trạch Đông (Ảnh: Internet)

Có thể xếp ông Mao Trạch Đông trong danh sách những kẻ tàn bạo nhất trong lịch sử nhân loại. Trong hai mươi tám năm ông ta thống trị Trung Quốc đã có tám mươi triệu người mất mạng oan vì hệ thống chính trị do Mao dựng lên, sức sống của đất nước rơi vào thảm cảnh hoàn toàn kiệt quệ.
Trong lịch sử Trung Quốc ghi dấu ấn nhiều bạo quân, tiêu biểu là Ân Trụ Vương (1105 – 1046 TrCN), nhưng người này cũng không thể so sánh được với ông Mao Trạch Đông. Điều kinh khủng là độ tàn bạo của Mao không thể hiện ra ngoài, trong khi đa số bạo quân dùng dao giết người thì Mao chỉ cần dùng miệng. Khi nói Mao thường cười tủm, phong thái ung dung và giọng điệu êm ái nhưng toàn ngôn từ chính trị vô cùng độc địa, bất cứ ai cũng có thể bị chụp mũ biến thành phần tử đối lập hoặc phạm phải tội lỗi tày trời, bất ngờ bị biến thành đối tượng toàn dân phải giết.
Nhiều người dù chết vẫn tiếp tục còn là kẻ thù của nhân dân, nếu chết không hết tội thì còn bị roi vọt thi thể, liên lụy đến cả dòng họ. Mao chỉ thích làm cho nhân dân tàn sát lẫn nhau để mình ung dung ngồi thưởng thức màn kịch giết người. Có thể nói, vô số sinh mạng bị vùi dập trong những màn kịch dã man do Mao dựng lên.
Độ dã man của Mao không biết phải dùng từ gì để diễn tả được, những thảm cảnh mà Mao gây ra cho người dân vô tội không thể kể xiết, thế nhưng Mao lại được cỗ máy tuyên truyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) xem là “Mặt Trời phương Đông”, “vị cứu tinh của nhân dân”... Nhiều người ngây thơ đã xem Mao như thần thánh, tung hô “vạn tuế”. Loại tuyên truyền lừa dối này đã làm ảnh hưởng đến bao nhiêu thế hệ, đầu độc cho đến tận ngày nay. Cho dù sau này vị trí thần thánh của Mao không còn, nhưng ĐCSTQ vẫn luôn xem Mao như vị tổ sư của mình và tìm mọi cách che giấu những tội lỗi tày trời của ông ta.
Nhưng có một người từng âm thầm ở bên cạnh làm bạn với Mao suốt 22 năm cho đến tận khi Mao đi xuống nấm mồ đã kể lại toàn bộ sự thật về Mao. Người đó chính là ông Lý Chí Tuy (李志绥) với cuốn «Hồi ức bác sĩ riêng của Mao Trạch Đông» được viết sau khi ông thoát khỏi cái lồng xã hội u tối dưới sự cai trị của ĐCSTQ.
Cuốn sách này là một bằng chứng quan trọng của lịch sử, bác sĩ Lý Chí Tuy đã ghi lại tất cả những gì ông trông thấy, vẽ thành bức tranh sinh động về Mao Trạch Đông trưng bày trước thế nhân. Chiếc mặt nạ của Mao đã bị lột ra, vầng hào quang giả tạo chiếu quanh Mao đã tắt lịm, hình tượng của Mao hiện nguyên hình là một bạo chúa lưu manh cực độ. Trong cái cung sâu thăm thẳm và bị bao phủ quầng sáng làm chói mắt, mọi người khó mà hình dung được cuộc sống thực sự của ông ta.
Cho dù hình ảnh về Mao như bạo quân một thời đại đã đóng đinh trên cây cột ô nhục của dòng lịch sử, nhưng với những ai chưa tìm hiểu về đời sống sinh động thực sự của Mao thì tất cả vẫn chỉ hiện ra như một khái niệm mơ hồ. Bác sĩ riêng của Mao Trạch Đông là ông Lý Chí Tuy đã lấp vào khoảng trống này. Có lẽ trời xanh đã an bài cho ông Lý Chí Tuy hoàn thành sứ mệnh lịch sử để xóa tan sự hoang tưởng của nhiều người do bị ĐCSTQ tuyên truyền dối trá.
Nghe nói nhiều quan chức cao cấp của ĐCSTQ sau khi đọc cuốn sách này đã lảo đảo đấm ngực dậm chân như có tang cha mẹ chết, như mộ tổ bị người ta đào lên. Họ hiểu cuốn sách cũng chính là bản án kết liễu hình ảnh của ĐCSTQ, vì thế họ hận ông Lý Chí Tuy thấu xương, chửi ông là tên phản bội. Họ tập hợp những người làm việc thân cận với Mao để cùng viết phản bác lại, tố cáo ông Lý Chí Tuy bịa đặt vu khống, sau đó còn tụ tập đám văn nô chuyên viết ca công lập đức cho Mao Trạch Đông ra trận, tô vẽ thêm những tác phẩm ngợi ca để tẩy trắng cho Mao, tiêu biểu như «Hồng tường nội ngoại», «Mao Trạch Đông trong cuộc sống»…

Kỳ thực mọi việc làm của họ đều trở nên tầm thường vô ích. Chính vì thế cuối cùng ĐCSTQ đã phải dùng thủ đoạn lưu manh là cử đặc vụ ám sát ông Lý Chí Tuy để nhằm diệt khẩu. Qua vô số hành vi quá khích của họ đã minh chứng ĐCSTQ hận và sợ hãi ông Lý Chí Tuy đến nhường nào. Tác phẩm của ông Lý Chí Tuy là đòn hiểm đánh trúng vào chỗ đau của ĐCSTQ.
Trong sách, ông Lý Chí Tuy cũng nhắc đến một số địa điểm hưởng lạc của ông Mao Trạch Đông, như Lưu Trang ở Tây Hồ, Trích Thủy Động ở Thiệu Sơn, nhà khách Đông Hồ ở Vũ Hán, nhà khách Tây Giao ở Thượng Hải… Theo sách thì Mao Trạch Đông có mười lăm điểm hành lạc. Ở đây chỉ giới thiệu qua về nhà khách Tây Giao ở Thượng Hải.

NHÀ KHÁCH TÂY GIAO Ở THƯỢNG HẢI

Nhà khách Tây Giao nằm trong khu rừng cây kín đáo phía tây Thượng Hải, được xây dựng khoảng cuối thập niên 50, đầu 60. Diện tích khu rừng rậm này khá lớn, có đến hàng chục ngàn mẫu, là khu vực hiếm có ở vùng bình nguyên Giang Nam, được mệnh danh là lá phổi của Thượng Hải vì giúp điều hòa khí hậu và làm sạch không khí cho Thượng Hải. Trước đây mỗi lần Mao đến Thượng Hải đều trú tại nhà khách Cáp Đồng (哈同). Vì nơi này ở khu vực ồn ào, hơn nữa đội ngũ nhân viên lại phức tạp nên Mao thấy bất tiện, những thông tin Mao tiếp đãi bạn gái dễ dàng bị truyền ra ngoài làm Mao cảm thấy không vui. Thế rồi đến một lần Mao quyết định ở lại trên xe riêng chứ không chịu xuống làm cho vị Bí thư Thượng Hải là ông Kha Khánh Thi (Ke Qingshi – 柯庆施) cảm thấy bất an.
Kha vốn là tâm phúc của Mao, là người rất có vị thế trong Đảng. Ông Kha quyết định xây dựng riêng cho Mao một hành cung riêng. Kha nói: “Mao Chủ tịch là vị thủ lĩnh vĩ đại của chúng ta. Ông hay đến Thượng Hải thị sát công việc là thể hiện sự quan tâm với chúng ta, trân trọng chúng ta, cũng là niềm kiêu hãnh của toàn dân Thượng Hải. Thế nhưng chúng ta lại chưa có chỗ nghỉ ngơi hợp lý cho ông. Sự tắc trách này là lỗi của chúng ta, có lỗi với ông là chúng ta có lỗi với nhân dân cả nước, vì thế chúng ta phải mau giải quyết vấn đề này.
Đề nghị của Kha lập tức được Mao đồng ý và được Trung ương phê chuẩn, vậy là hành cung xây dựng cho Mao trở thành công trình trọng điểm của Thượng Hải, vì là nhiệm vụ chính trị tối mật nên cũng nhanh chóng hoàn thành sau quá trình ngày đêm thi công. Khi đó Trung Quốc đang ở thời kỳ nạn đói bao vây khắp nơi, cuộc sống nhân dân vô cùng thê thảm…
Hành cung của Mao ở bên ngoài không thể nhìn thấy được, vì toàn nhà trệt và ẩn trong khu rừng cây dày đặc. Toàn khu nhà được bố trí khoa học, không gian khoáng đãng, phong thái trang trọng, vật liệu chủ yếu do Hồng Kông cung cấp. Toàn bộ tường của khu nhà là tường cách âm; cửa kính dùng kính chống đạn; chỉ có bên trong nhìn ra được bên ngoài.
Trong nhà có hồ bơi, phòng mát xa và chiếu phim riêng cho Mao Trạch Đông. Khu ngoài là thảm cỏ lớn và hồ nước, vì Mao không thích lâm viên kiểu Trung Quốc nên ngoại cảnh trang trí theo kiểu cách Tây phương, phối toàn cảnh là sự kết hợp kiểu cách cả Đông lẫn Tây. Hành cung được bảo vệ nghiêm mật, là khu vực cấm, người ngoài không được đi vào. Vòng canh gác ngoài cùng nằm ở ngoài khu rừng cây, các giao lộ trong khu vực đều có trạm gác có kéo dây thép gai, cứ cách một đoạn đường là có một trạm gác; những trạm gác phía trong rừng cây có hàng rào điện; hành cung của Mao ở trung tâm, xung quanh được canh phòng nghiêm mật.
Thông vào trong hành cung chỉ có con đường độc nhất và được làm quanh co xuyên dần vào trong, giữa đường có nhiều trạm kiểm soát. Tính tổng số cảnh vệ của toàn khu vực có khoảng từ sáu đến bảy trăm người. Sau khi hành cung xây dựng xong không lâu thì Mao Trạch Đông đến Thượng Hải, vào khoảng năm 1961. Bí thư Kha Khánh Thi thận trọng hầu Mao đi tham quan khu hành cung, hy vọng được Mao khen tặng. Nhưng không ngờ Mao chỉ lạnh lùng nói: “Trồng cỏ thế này để làm gì?….”
Câu nói của Mao làm Kha vô cùng căng thẳng. Ông ta lập tức cho gọi chuyên gia phụ trách quy hoạch khu lâm viên để bàn bạc tìm cách làm yên lòng Mao. Ban đầu họ tính trồng cây lương thực, nhưng nghĩ lại thấy mất nhiều thời gian, vì phải gieo hạt, hiệu quả quá chậm, thế rồi họ quyết định trồng rau thay chỗ cho bãi cỏ. Tuy nhiên để không làm phiền đến Mao, mọi người không được làm ban ngày mà phải làm ban đêm. Điều lệ quy định không được ai làm ồn ào để ảnh hưởng đến giấc ngủ của Mao, ai vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc.
Vậy là ban đêm ông Bí thư đích thân canh chừng công việc, mọi người thấy biểu hiện căng thẳng như vậy thì không ai dám chểnh mảng. Sau cả đêm bận rộn, cuối cùng cũng hoàn thành xong cái vườn rau thay cho bãi cỏ, ông Bí thư làm xong việc thì mệt mỏi rã rời. Khi Mặt Trời lên cao tới đỉnh đầu Mao mới tỉnh dậy. Vừa nhìn ra ngoài, Mao giật mình khi thấy thảm cỏ bị biến đâu mất, thay vào là một vườn rau. Mao chợt hiểu liền nhìn Kha tươi cười rồi gật đầu khen ngợi.
Câu chuyện này phản ánh sâu sắc sự hống hách bá đạo của Mao và tính tôn ti trong nội bộ ĐCSTQ. Kha là Ủy viên Bộ Chính trị, vừa là nguyên lão trong Đảng, cũng là chư hầu một phương, oai phong khắp một vùng trời, ấy vậy mà trước mặt Mao lại biến thành tên nô tài hèn mọn kính cẩn như thế!
Hành cung này là nơi Mao thường đến ở, Giang Thanh cũng từng đến ở. Nơi đây thậm chí ngay cả ông Chu Ân Lai cũng không được phép đến. Cứ cách vài năm thì Mao đến ở một lần, mỗi lần như vậy khoảng hai tháng, vậy mà phải mất hàng trăm người canh phòng quanh năm, có thể thấy kinh phí cho nó tốn kém lãng phí như thế nào. Sau khi Mao chết, nơi này dường như bị bỏ không, chỉ có ông Trần Vân và ông Lý Tiên Niệm từng đến ở vài ngày. Vào thập niên 80 thế kỷ XX, một lần ông Đặng Tiểu Bình đến Thượng Hải đã ghé thăm nhà khách Tây Giao. Sau khi biết tình hình, ông Đặng Tiểu Bình cảm thấy quá lãng phí, liền ra lệnh cho phép nơi này được đón khách quý bên ngoài, bấy giờ nhà khách này mới được sử dụng trở lại. Sau đó nhà khách được xây dựng mở rộng thêm, tiếng tăm ngày càng lan xa.
Trong hai mươi tám năm Mao cai trị Trung Quốc, rất ít khi ông ta sống ở Bắc Kinh mà chủ yếu trú tại nhiều hành cung khác nhau trên khắp cả nước, cuộc sống hoan lạc không thua gì vua chúa. Trong cảnh lạc thú cõi trần như thế, Mao làm sao biết đời sống khổ cực của nhân dân thế nào. Những việc quốc sự phiền toái Mao càng không muốn để ý. Thứ duy nhất Mao quan tâm là giữ vững địa vị của mình, vì thế những toan tính của Mao chỉ là làm thế nào thanh lý những đối tượng khả nghi, làm sao để mọi người quỳ gối dưới quyền lực của ông ta. Đây mới là bức tranh chân thực về ông Mao Trạch Đông.
Theo Secretchina
Tinh Vệ biên dịch
Xem thêm:
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Một “tổng quyết toán”gian của Trung Quốc? ( Phần 2)

“Lợi ích chung của hai nước Việt-Trung lớn hơn bất đồng”- 

“Bút toán” các giá trị đối ứng NỢ-CÓ của quan hệ Trung Quốc-Việt Nam qua 2 cuộc chiến tranh…

Phạm Viết Đào.


Mỗi khi nói đến lịch sử quan hệ 2 nước, lãnh đạo 2 nước thường nhắc tới những sự giúp đỡ to lớn của phía Trung Quốc đối với Việt Nam về vũ khí, trang thiết bị và nhu yếu phẩm trong 2 cuộc chiến tranh ?

Vậy những sự viện trợ đó có là bao nhiêu, đúng là vô tư, vô điều kiện và một chiều hay không; ở đây người viết xin chưa đề cập tới những lợi ích chính trị mà phí Trung Quốc gặp hái được khi liên minh với Việt Nam, đứng sau Việt Nam để đánh Nhật, Pháp và Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng…

Xin “ hạch toán “ số liệu của các khoản viện trợ mà Trung Quốc đã dành cho Việt Nam trong 2 cuộc chiến tranh…

Theo số liệu của WikiPedia mà chúng tôi tìm thấy: “Trong 20 năm, Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa đã viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổng khối lượng hàng hóa là 2.362.581 tấn; quy đổi thành tiền là hơn 7 tỉ rúp (tương đương 6,8 tỉ USD), trong đó hơn một nửa là viện trợ quân sự, còn lại là viện trợ kinh tế.[4]””

Như vậy: con số 6,8 tỷ USD nếu cộng cả trong chiến tranh chống Pháp cứ coi Trung Quốc chiếm ½ con số trên: 3,5 tỷ USD; theo thông lệ quốc tế những viện trợ về quân sự không được hạch toán vào Dư NỢ, nhưng ta cứ cộng tất cả cho phía Trung Quốc; hạch toán toàn bộ khoản tiền Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam; Phía Việt Nam chấp hạch toán vào phần Dư CÓ, đối ứng với phần Dư NỢ của phía Trung Quốc…

Nói trắng ra tạm tính: Việt vay nợ Trung Quốc 3,5 tỷ USD để mua sắm trang vũ khí và các nhu yếu phẩm dân sinh khác trong cả 2 cuộc chiến tranh…

Vậy cái khoản Dư NỢ 3,5 tỷ USD mà Trung Quốc xuất sang Việt Nam ấy hạch toán vào Tài khoản 154: chi phí sản xuất dở dang có đúng do Chính phủ  phải Trung Quốc bòn rút, chắt bóp từ hạt gạo củ khoai của nhân dân Trung Quốc làm ra không ?

Người viết bài này đảm bảo số tiền 3,5 tỷ USD này Việt Nam chưa đụng đến củ khoai và hạt gạo của nhân dân Trung Quốc.

Người viết bài này đã tìm ra một khoản Dư CÓ liên quan tới khoản Dư NỢ này của phía Trung Quốc có nguồn “ nguyên liệu” kết chuyển từ Việt Nam.

Xin tạm ví nó giống với tài khoản TK 621 là tài khoản mà ngôn ngữ Tài chính gọi là Tài khoản tổng hợp chi phí trực tiếp; Từ Dư CÓ của Tài khoản 621 này đã kết chuyến sảng Dư NỢ của 154 để đối ứng với Dư CÓ kết chuyển cho phía Việt Nam theo sơ đồ dưới đây: 

( sơ đồ )


Theo người viết bài này: Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946) ký giữa Chính phủ Pháp và chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa 6/3/1946 có thể kết toàn, một dạng giống với Tài khoản tổng hợp chi phí trực tiếp, tức TK 621

Chính phần Dư CÓ của tài khoản 621 của phía Trung Quốc bắt nguồn, được kết chuyển từ phần Dư NỢ mà phía Việt Nam kết chuyển cho Dư CÓ của Tài khoản 621 tính cho phía Trung Quốc ?

Để hiểu rõ “ bút toán “ này, xin trích nguyên văn
 “Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt là một hiệp định được ký ngày 6 tháng 3 năm 1946 giữa Pháp  Việt Nam Dân chủ Cộng hòa , Hiệp ước Hoa – Pháp ký ngày 28 tháng 2 năm 1946 giữa chính phủ Pháp và Chính phủ Trung Hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch( Bách khoa toàn thư mở Wikipedia )
2 hiệp định này được xem là một nước cờ chính trị của cả 3 bên: Pháp, Trung Hoa dân quốc và ViệtNam dân chủ cộng hòa nhằm mưu đồ lợi ích riêng.
Nguyên nhân ( Nguồn đối ứng )
Sau cuộc đảo chính của Nhật ngày 9 tháng 3 năm 1945, thực dân Pháp mất quyền cai trị Liên bang Đông Dương. Tuy nhiên, sau khi Nhật đầu hàng khối Đồng Minh, Việt Minh chớp thời cơ giành chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim được Đế quốc Nhật Bản bảo hộ, nhanh chóng kiểm soát đất nước, và thành lập chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2 tháng 9 năm 1945.
Theo thỏa thuận của các nước Đồng Minh, quân đội Trung Hoa Quốc dân đảng tiến vào miền Bắc Việt Nam để làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Đế quốc Nhật Bản. Ở miền Nam Việt Nam, quân Anh tiến vào với nhiệm vụ tương tự. Tuy người Việt Nam đã tự thành lập chính quyền và tuyên bố độc lập, chính phủ Pháp vẫn quyết tâm tái lập quyền cai trị Đông Dương. Tưởng Giới Thạch nhanh chóng nhận thức rằng vai trò cường quốc của Trung Quốc trong việc đưa quân vào Đông Dương sẽ giúp ông ép Pháp phải chấp nhận các điều kiện do ông đưa ra để giải quyết những xung đột lợi ích giữa Trung Quốc và Pháp nếu Pháp muốn quay lại thuộc địa cũ của mình[1].
Rạng ngày 23 tháng 9 năm 1945, người Pháp, dưới sự giúp đỡ của quân đội Anh, đã dùng vũ lực buộc Lâm ủy Nam Bộ phải giải tán, giao lại chính quyền cho người Pháp. Tuy nhiên, chính quyền người Việt đã thực hiện cuộc chiến tranh du kích để chống lại.
Ở miền Bắc, quân đội Trung Hoa Quốc dân đảng vẫn công nhận chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho mưu đồ chính trị của họ. Tuy nhiên, người Pháp cũng đã thương lượng với chính phủ Trung Hoa Quốc dân đảng để đưa quân đội xâm nhập Bắc Việt Nam.
Ngày 28 tháng 2 năm 1946, Hiệp ước Hoa – Pháp được ký kết, với 2 điểm chính:
·                    Pháp trả lại các tô giới và nhượng địa của Pháp trên đất Trung Quốc như Quảng Châu Loan và nhượng cho Trung Hoa một số quyền lợi tại miền Bắc Việt Nam như cho họ khai thác một đặc khu tại hải cảng Hải Phòng, miễn thuế cho hàng hóa của Trung Hoa vận chuyển sang miền Bắc Việt Nam.
·                    Ngược lại chính phủ Trung Hoa Quốc dân đảng đồng ý cho Pháp thay thế quân Trung Hoa giải giáp quân Nhật tại miền Bắc Việt Nam.
Về cơ bản, hiệp ước này cho phép quân đội Pháp trở lại Bắc Việt Nam thay thế cho quân Trung Hoa Quốc dân đảng để làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Đổi lại, Pháp cũng đã trả lại các tô giới của mình trên đất Trung Quốc cho chính phủ Trung Hoa Quốc dân quốc.
Diễn giải nôm na: 2 hiệp ước ký vào năm 1946 thực chất là một cuộc đổi chác giữa 3 chính phủ Pháp-Trung Hoa dân quốc và Việt Nam dân chủ Cộng hòa; Pháp được lợi: được đưa quân Pháp vào miền bắc, quân đội Tưởng chịu rút ra trao quyền kiểm soát lãnh thổ cho Pháp; Phía Pháp nhượng bộ cho Quốc dân Đảng quyền khai thác một số tô giới thuộc quyền khai thác của Pháp nay nhượng lại cho chính quyền Tưởng Giới Thạch trên đất Trung Hoa và Việt Nam; còn phía Việt Nam đã tránh một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, đuổi được tàn quân Quốc dân Đảng ra khỏi Việt Nam…
Về vụ ký 2 hiệp ước này, một trong những khoản lợi tức mà Trung hoa dân quốc được hưởng, sau 1949, đã rơi vào tay Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tiếp quản đó là tuyến đường sắt Côn Minh-Hải Phòng do Pháp ký với triều đình Mãn Thanh.
Đây là tuyến đường sắt Pháp bỏ toàn bộ tiền ra đầu tư xây dựng dưới dạng BOT, khai thác trong vòng 100 năm… Tuyến đường sắt này hoàn thành năm 1910 và nếu đúng thỏa thuận đã ký thì Pháp phải khai thác tới năm 2010; nhưng từ năm 1946, tuyến đường sắt đã thuộc về Trung Hoa dân quốc và sau năm 1949 lợi nhuận đã về tay Cộng hòa nhân dân Trung Hoa do 3 bên ký với nhau năm 1946…
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã không phải bỏ tiền ra xây dựng tuyến đướng sắt cứ tính từ cửa khẩu Lao Cai tới Côn Minh, thu không 60 năm thử hỏi là bao nhiêu ?
Nếu hạch toán sòng phẳng khoản lợi tức mà phía Trung Quốc thu được trong 60 năm khi khai thác tuyến đường sắt Lào Cai-Côn Minh ấy đem đối ứng phải khoản tiền 3,5 tỷ USD mà Trung Quốc luôn to mồm nói là vô tư giúp Việt Nam xem ai nợ ai ?
Bài sau chúng tôi sẽ giới thiệu những số liệu đang lưu giữ tại kho tư liệu quốc gia của Việt Nam để biết giá thành, lợi nhuận hàng năm mà người Pháp đã thu được về tuyến đường sắt này để thấy Việt Nam nợ Trung Quốc hay thực chất Trung Quốc đang Nợ Việt Nam tiền và xương máu…
P.V.Đ.

( Còn nữa… )
Phần nhận xét hiển thị trên trang