Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 11 tháng 1, 2016

Một “tổng quyết toán”gian của Trung Quốc?

“Lợi ích chung của hai nước Việt-Trung lớn hơn bất đồng”- 

Phạm Viết Đào.

Về các giá trị quyết toán của “Tài khoản quan hệ chính trị” Việt-Trung:  

-Không chỉ khi bất đồng mà trong nhiều giao thương chính trị-kinh tế- an ninh… giữa Trung Quốc với Việt Nam phần thủ lợi thường nghiêng về phía Trung Quốc, Việt Nam thì thường thua thiệt…
-Việt Nam từ trước đến nay may còn một thứ may chưa bị Hán hóa triệt để đó là văn hóa; cái này do dân thủ giữ…;
-Còn chính trị, chính trường thì nhiều phen bị Hán hóa tệ hại, đau đớn, nhục nhã ?!

Cái bắt tay của 2 ông " Chủ tài khoản quan hệ chính trị"...

Xem thêm:

Tập Cận Bình- Vương Hộ Ninh sao chép “chủ thuyết tập quyền” của Vệ Ưởng-Tần Thủy Hoàng-Lý Tư…


Khai mở

Trong các văn kiện ký tá chính thức cũng như phát ngôn trong các cuộc gặp gỡ Việt-Trung, nhiều lần chúng ta nghe phía Trung Quốc “ quyết toán” với Việt Nam các mối quan hệ đối ứng “NỢ-CÓ” của cái “Tài khoản quan hệ chính trị” giữa 2 nước, theo bản “ quyết toán” này thì: “Lợi ích chung của hai nước lớn hơn bất đồng”?
Bản “tổng quyết toán” do Trung Quốc lập lên này có minh bạch, sòng phẳng không ? Có gian không ? Để minh bạch điều này cần thiết có một cuộc kiểm toán độc lập
Về kết quả của bản “tổng quyết toán” này, ông Tập Cận Bình đắc chí:“ chúng ta hoàn toàn có kinh nghiệm và năng lực kiểm soát tốt bất đồng, giải quyết tốt các vấn đề…”
Ông Tập Cận Bình nói đúng với điều kiện phạm trù “chúng ta” tức chỉ riêng phía Trung Quốc (không liên quan tới Việt Nam):  “hoàn toàn có kinh nghiệm và năng lực kiểm soát tốt bất đồng, giải quyết tốt các vấn đề…”
Ai làm nghề tài chính thì sẽ biết hệ thống sổ sách của nhiều quốc gia đang được bút toán trong một mẫu biểu sơ đồ hình chữ T để ghi, cân đối cái hoạt động kinh tế, tài chính, mua bán, kinh doanh; Mẫu biểu chữ T này được phân ra hai khu vực, một bên được ghi là T-NỢ và một bên là T-CÓ…

Xin tạm mượn một tài khoản Tài khoản của hệ thống bút toán tài chính Tài khoản T 154: Tài khoản sản xuất kinh doanh dở dang để áp thử bút toán này. Cán bộ nghiệp vụ tài chính hàng ngày có nhiệm vụ ghi giá trị hàng vào bên NỢ và ghi hàng xuất ra bên T-CÓ của TK hoạt động sản xuất kinh doanh dở dang T 164…
Ghi chép hàng ngày như vậy để kết quả cuối năm hiệu quả kinh doanh cuối cùng cộng lại phần T-CÓ lớn hơn T-NỢ thi coi như kinh doanh có lãi; Có thể T-CÓ tháng này thấp hơn T-NỢ nhưng cân đối tài khoản toàn quý, toàn năm có được T-CÓ to hơn T-NỢ là có thể trích quỹ ra chia thưởng, bù khú với nhau…
Xin tạm quy ước ghi phần “ BẤT ĐỒNG” trong quan hệ 2 nước vào cái khu T-NỢ; còn cái “ LỢI ÍCH CHUNG HAI NƯỚC” vào phần T-CÓ để xem cái T. nào to hơn cái T. nào; Để xem quan hệ giao thương về chính trị-văn hóa-kinh tế- an ninh thì ai đang NỢ ai  và ai CÓ nhiều hơn; Mỗi khi bên này CÓ nhiều hơn thì bên kia dĩ nhiên là phải gánh NỢ vào thân…

Nguyên lý bút toán tài khoản: T-CÓ này lại đối ứng với cái T-NỢ khác…

Ví dụ Chủ nghĩa Mao là một loại hàng hóa có thể xếp vào loại sản phẩm kinh doanh dở dang; xin tạm hạch toán vào Tài khoản 154; Ông Mao có thể là thiên tài, lãnh tụ vĩ đại của Trung Quốc nhưng khi xuất, nhập vào Việt Nam thì nó không mang lại những giá trị đối ứng như ở chính quốc mà lại mang tai vạ cho Việt Nam ví như cuộc cải cách ruộng đất;
Bên Trung Quốc có thể gặp hái rất nhiều về cái gọi là ngọn cờ hồng của tư tưởng Mao Trạch Đông. trong mặt trận hợp tác hóa nông nghiệp; thế nhưng cái mặt hàng sản xuất dở dang này khi ghi CÓ vào Tài khoản 154 thì lại phát sinh ra biết bào của NỢ khốn nạn..
Người nông dân bị bần cung, giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam bị xé xác, trí thức thì đi nhặt phân bò…
Như vậy: cái món hàng “ tư tưởng Mao Trạch Đông” khi nhập vào Việt Nam đã thành Của NỢ khốn nạn…
Việc Trung Quốc xâm lấn Biển Đông, đây có thể bút toán vào cái Tài khoản BẤT ĐỒNG”, nghĩa là chưa cân đối được; Phía Trung Quốc cho xây đảo, xua đánh bà con đánh cá của Việt Nam thì T-CÓ của Việt Nam là âm, còn Trung Quốc thì cứ là NỢ nhưng các ông lãi thu to, các ông có mất gì đâu…
Ở đây cái bút toàn này không thể đối ứng được vì Việt Nam mất biển, mất cá , uy hiếp về an ninh, còn các ông thì thêm phạm vi ảnh hưởng; Các ông lấy gì đối ứng cho những mất mát phía Việt Nam phải chịu đựng ngoài thứ vàng 16 trên các bức hoành phi…
Rõ ràng khi Trung Quốc “ tổng quyết toán”: “Lợi ích chung của hai nước lớn hơn bất đồng” là một trò bịp của các chủ tài khoản ở Trung Nam Hải; Đúng ra Trung Quốc hoàn toàn có kinh nghiệm còn Việt Nam là “ âm” kinh nghiệm nên hay bị lường gạt.. trong việc thanh khoản những bút toán “ KHOẢN BẤT ĐỒNG”..
Bất đồng về biên giới lãnh thổ thì thấy Trung Quốc toàn lấn chiếm đất biên giới của Việt Nam chứ chúng tôi có lấn của Trung Quốc hay được Trung Quốc thanh khoản cho các giá trị ĐỐI ỨNG đâu…
Thực chất là của phía Trung Quốc có bề dãy kinh nghiệm bịp lãnh đạo Việt Nam; Còn phía lãnh đạo Việt Nam nhiều khi biết bị thua thiệt nhưng vẫn ngậm đắng nuốt cay phi vụ ký Hiệp định Giơnevơ 1954; Rất nhiều phi vụ phía Việt Nam tưởng là được lãi trong quan hệ thanh khoản các món làm ăn với nhau được hầm bà làng trong cái gọi là TÀI KHOẢN CHÍNH TRỊ quan hệ 2 nước !
Trên đây người viết tạm khai mở; ngôn ngữ tài chính gọi là “khái toán” một vài phi vụ lẻ tẻ. Để có được một bản Tổng quyết toán sòng phẳng, minh bạch, người viết sẽ lần lượt đi sâu vài từng bút toán cụ thể của những phi vụ làm ăn giữa 2 nước từ kể từ khi Việt Nam và Trung Quốc có Đảng CS lãnh đạo…
Để có được một tổng quyết toán về quan hệ giao thương Việt-Trung, rất mong nhận được sự tham gia của các nhà kế toán-tài chính chuyên nghiệp tham gia với chủ blog, “kiểm toán” lại từng bút toán cụ thể…
Là một nhà văn, hoàn toàn không được đào tạo về nghiệp vụ tài chính-kế toán, nhưng do có thời làn nghề thanh tra nên buộc lòng phải tự học, học mót cách hạch toán sổ sách nên võ vẽ có biết chút ít, nhưng chắc chắn không rành thuộc như một chuyên gia kế toán thứ thiệt; rất mong nhận được sự góp ý, điều chỉnh, tham gia…

( Còn nữa… )


Bút toán 1: Đảng CS Việt Nam có nợ Đảng CS Trung Quốc khi mượn đất Trung Quốc để thành lập…
Phần nhận xét hiển thị trên trang

TPP: Công đoàn độc lập – Cam kết quan trọng nhất của Việt Nam – Kỳ 2


Đức Việt
Khái niệm “công đoàn độc lập” được nhắc tới nhiều trên truyền thông và mạng xã hội khi Việt Nam đặt bút ký kết TPP. Không ít người đã coi đây là thành quả lớn nhất, “nhãn tiền” mà người lao động đạt được với TPP.
Quyền có công đoàn độc lập đại diện cho mình – bên cạnh tổ chức công đoàn thuộc hệ thống Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam vẫn tồn tại bấy nay – tại sao lại quan trọng đối với người lao động? Công đoàn có phải là chuyện xa vời đối với giới công nhân, hoặc hàm chứa những rủi ro đối với chính quyền? Đó là một số câu hỏi mà bài viết này muốn đề cập tới.
Quyền công đoàn có “xa rời quần chúng”?
Nhiều trí thức, nhà quan sát công khai bày tỏ sự vui mừng khi Việt Nam ký kết Hiệp định TPP, nhưng giới lao động thì dường như ít quan tâm tới sự kiện này. TPP có lẽ quá xa xỉ với họ, khi đòi hỏi cơm, áo, gạo, tiền quá đè nặng đời sống người công nhân. Cho dù, bên trong cái hiệp ước vĩ mô và dài dòng đó, Việt Nam đã chấp nhận một cam kết quan trọng: chấp nhận việc thành lập các tổ chức đại diện cho người lao động ở cấp cơ sở, độc lập với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (VGCL).
Nói một cách khác, TPP đã đặt nền móng cho tương lai của “đa nguyên” trong lĩnh vực công đoàn [1], cho sự hiện diện của công đoàn độc lập tại Việt Nam. Nếu TPP được thực thi trọn vẹn, và công đoàn độc lập được thành lập tại Việt Nam, quyền lợi của người công nhân Việt Nam sẽ được bảo đảm hơn, tạo điều kiện để đời sống của họ được cải thiện đáng kể.
Nhận định trên có phần nói quá hay không? Rốt cuộc thì người công nhân không thể đổi quyền – một khái niệm có vẻ trừu tượng – để đổi lấy những thứ cụ thể như miếng cơm, manh áo, vé về quê trong dịp Tết… Như vậy, phải chăng công đoàn độc lập cũng là một thứ xa xỉ, “xa rời quần chúng” đối với người công nhân?
Pou-Yuen 1
Công nhân Pouyuen Việt Nam đình công để phản đối quy định mới về Bảo hiểm xã hội gần đây.
Có một lầm tưởng phổ biến ở Việt Nam là công đoàn chỉ xuất hiện khi người công nhân cần đấu tranh chính trị với giới chủ. Khái niệm công đoàn thường được hiểu và gắn với các cuộc biểu tình, bãi công, lãn công, những vụ đập phá máy móc… Sau khi Liên Xô và khối Đông Âu sụp đổ, công đoàn còn được nhiều người xem như một tổ chức chính trị, một chính đảng tranh giành quyền lực.[2]
Một phần từ nhận thức đó mà chính quyền Việt Nam từ lâu cố gắng “đồng bộ hóa” tổ chức công đoàn của người công nhân dưới sự lãnh đạo của VGCL, một tổ chức đặt dưới quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam[3] và được ngân sách Nhà nước hỗ trợ kinh phí. Chưa ai thực sự đánh giá một cách khách quan và toàn diện về hiệu quả hoạt động của hệ thống công đoàn đó, nhưng trong thực tế, VGCL mang dáng dấp của một cơ quan nhà nước nhiều hơn là hình ảnh một tổ chức đại diện cho người lao động.
Trong các vụ biểu tình, đình công đòi quyền lợi liên quan đến bảo hiểm xã hội hay đền bù khi doanh nghiệp đóng cửa, chúng ta thấy thiếu vắng sự tham gia của tổ chức công đoàn, cả ở cấp cơ sở lẫn cấp quận, những tổ chức đáng lý phải đứng về phía người lao động. Trong vụ việc 2.000 công nhân tụ tập tại cổng Công ty Yupoong khi doanh nghiệp Hàn Quốc quyết định tạm ngừng kinh doanh, đại diện công đoàn của BQL KCN Đồng Nai lại đứng lên giải thích về quyết định này của doanh nghiệp, nhằm xoa dịu công nhân [4]. Mục đích của những cán bộ công đoàn ấy có thể là tốt, nhưng hình ảnh này dễ dàng khiến người lao động nghĩ rằng người đối thoại với họ thực ra đang bảo vệ cho doanh nghiệp, chứ không phải cho công nhân.
Không thể phủ nhận rằng vai trò của VGCL trong một số hoạt động của doanh nghiệp là đáng kể, như khi xử lý kỷ luật người lao động, hay thông qua nội quy lao động tại cơ sở. Nhưng do thiếu tính đại diện cho người lao động nên hoạt động của tổ chức này bị hạn chế. Xét cho cùng, các cán bộ của VGCL từ cấp quận trở lên đều là công chức nhà nước chứ không phải là công nhân.
Chính vì thế, một công đoàn độc lập, có tính đại diện, không liên kết, chính là điều mà người công nhân cần. Những quyền năng dân sự của họ đúng là không thể đánh đổi được bánh mì hay vé Tết về quê, nhưng nó sẽ đem lại một tương lai rõ ràng và chủ động hơn cho người lao động.
Công đoàn như một nhu cầu tự thân
Nhìn lại lịch sử, tổ chức công đoàn không nhất thiết xuất phát từ một nhu cầu chính trị của công nhân, mà nó xuất phát từ nhu cầu dân sự, quyền được liên kết với nhau vì mục đích chung. Mục đích đó có thể đơn giản mang tính phòng vệ, như việc bảo vệ người công nhân khỏi bị giới chủ sa thải hay kỷ luật lao động một cách vô cớ.
Công đoàn cũng có thể xuất phát từ nhu cầu mang tính chủ động, như việc thương lượng thỏa ước lao động tập thể với giới chủ, hay mang tính tấn công, như bãi công, biểu tình đòi quyền lợi. Phải nhìn nhận nhu cầu công đoàn là một nhu cầu dân sự, xuất phát từ những đòi hỏi rất gần gũi với đời sống công nhân, chứ không phải để phục vụ cho một mục đích chính trị nào.
Như đã kết luận ở kỳ trước, người viết tin rằng quyền của người dân nói chung và của công nhân nói riêng quan trọng hơn các lo ngại về sự mất ổn định khi các quyền này bị lợi dụng. Đúng là quyền công đoàn, cũng như bất kỳ quyền chính trị, dân sự, xã hội, văn hóa, kinh tế nào khác đều có nguy cơ bị lạm dụng gây ảnh hưởng xấu. Tuy nhien, một Nhà nước minh bạch – như những gì TPP đòi hỏi – phải là một Nhà nước biết định hướng và dung hòa sao để có thể thực thi quyền đó ở tối đa, chứ không phải là hạn chế nó hay định nghĩa nó theo cách khác đi.
Nếu hiểu như vậy thì quyền công đoàn sẽ không còn là một chủ đề nhạy cảm ở những quốc gia như Việt Nam nữa.
Có lẽ cũng xuất phát từ nhận thức như trên mà Việt Nam đã chấp nhận đề xuất của Mỹ trong việc cho phép công đoàn độc lập được phép hoạt động ở Việt Nam trong tương lai gần, song song với VGCL.
Quyền công đoàn – cam kết quan trọng nhất của Việt Nam
Cần phải nói rõ rằng thỏa thuận về công đoàn độc lập không nằm trong Chương 19 của TPP. Chương 19 của TPP chỉ ghi nhận các quyền chung và có tính cách lặp lại công ước của ILO, đó là các quốc gia thành viên phải tôn trọng quyền tự do liên kết của công nhân.[5]
Cam kết về quyền công đoàn nằm khá tách biệt trong Bản Kế Hoạch Đẩy Mạnh Quan Hệ Thương Mại và Lao Động, được xem như một hiệp định biên của TPP, trong đó, các cam kết về công đoàn của Việt Nam chiếm vị trí ưu tiên hàng đầu. Bản Kế Hoạch giữa Việt Nam và Hoa Kỳ cũng đưa ra năm nguyên tắc mà Việt Nam phải tuân thủ khi sửa đổi hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo quyền tự do công đoàn:
  • Nguyên tắc số 1: Công nhân được tự do tham gia các tổ chức công đoàn theo lựa chọn của họ.
  • Nguyên tắc số 2: Các tổ chức công đoàn phải được tự quản.
  • Nguyên tắc số 3: Tự chủ trong việc nhận đại diện của công đoàn trong các đơn vị không có công đoàn.
  • Nguyên tắc số 4: Tính đại diện trong việc lựa chọn cán bộ công đoàn.
  • Nguyên tắc số 5: Ngăn chặn việc can thiệp của giới chủ vào hoạt động của công đoàn.
Bản Kế Hoạch thực chất là một lộ trình để Việt Nam xây dựng pháp luật nhằm cụ thể hóa các tiêu chuẩn lao động đã cam kết. Như vậy, từ kết quả của TPP, chúng ta có thể chờ đợi vào một sự thay đổi lớn trong hệ thống pháp luật lao động và pháp luật về hội của Việt Nam trong thời gian không xa.
Có lẽ chưa bao giờ Việt Nam nhận được nhiều sự chú ý đến thế từ truyền thông quốc tế như khi Việt Nam chấp nhận cam kết về công đoàn độc lập trong khuôn khổ TPP. Ký TPP, Việt Nam được đánh giá là “bên thắng cuộc” khi rất nhiều rào cản thuế quan ở những thị trường lớn sẽ được dỡ bỏ.[6]
Nhưng TPP không phải là một bữa ăn miễn phí, và Việt Nam phải tuân thủ những gì thuộc về chuẩn mực quốc tế khi tham gia sân chơi này. Và điều này vừa tốt cho đất nước, vừa tốt cho công nhân. Nói như ông Lê Đình Quang, phó Bộ phận quan hệ lao động thuộc VGCL, khi trả lời phỏng vấn New York Times hồi tháng 11/2015: “Đây là một thách thức rất lớn cho chúng tôi [VGCL], nhưng vì lợi ích quốc gia, sự hội nhập quốc tế và quyền và lợi ích của người lao động, chúng tôi cần phải tìm giải pháp. Chúng tôi hiểu rằng cam kết này rất tốt cho công nhân Việt Nam.”[7]
Tất cả giờ đây chờ đợi những bước đi tiếp theo của Hà Nội để trao cho công nhân một quyền công đoàn đúng nghĩa, một lần và mãi mãi, vì một tương lai khả quan hơn cho tầng lớp lao động vất vả này.
Kỳ tới: Năm Nguyên Tắc của Quyền Công Đoàn Đối Với Việt Nam Trong TPP
[2] Điều này xuất phát từ sự thành công trong phong trào dân sự của Công Đoàn Đoàn Kết (Solidarność) của Ba Lan.
[3] Điều 1, Luật Công Đoàn
[5] Từ rất lâu, việc tham gia VGCL được xem như là thực thi quyền tự do liên kết tại Việt Nam. ILO có một công ước khá quan trọng năm 1948 là Công ước về Tự do Liên Kết và Bảo Vệ Quyền Hiệp Hội (gọi tắt là Công ước 87) ở đó quy định rõ công nhân có quyền thành lập tổ chức của mình mà không chịu sự can thiệp của Nhà nước và được phép tham gia bất kỳ liên đoàn lao động nào. Điều lý thú là hai quốc gia duy nhất của TPP chưa phê chuẩn Công ước 87 lại là Hoa Kỳ và Việt Nam.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TPP: Bảo vệ người lao động vì một nền thương mại công bằng – Kỳ 1


Đức Việt
Có lẽ không nội dung nào của TPP nhận được nhiều sự quan tâm bằng Chương 19 về Lao Động. Sự hào hứng thể hiện rõ trong phát biểu của Đại Diện Thương Mại Hoa Kỳ Michael Froman khi ông cho rằng TPP là một “thời khắc lịch sử” cho những quốc gia như Việt Nam vì nếu được thi hành trọn vẹn, các quốc gia thành viên sẽ phải có những “thay đổi rõ rệt” trong hệ thống của họ[1].
“Thời khắc lịch sử”
Nhiều hãng thông tấn, báo chí trên thế giới cũng dành sự quan tâm đặc biệt đến Chương 19 hơn so với các nội dung khác của TPP.
Vì sao lại như vậy? Một cách tóm tắt, Chương 19 của TPP đụng chạm đến rất nhiều vấn đề mang tính “nhạy cảm” liên quan đến quyền của người lao động như thời giờ làm việc, lương tối thiểu, quyền công đoàn, phân biệt đối xử trong công việc, an toàn lao động v.v… Đây là những nội dung không mới và luật lao động của các quốc gia thành viên đều ghi nhận những quyền này.
Một ví dụ khác liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động, khi tiêu chuẩn này của Mỹ sẽ cao hơn tiêu chuẩn trong luật Malaysia. Chính vì có sự khác nhau trong cách hiểu đó mà tham vọng của TPP chính là nhằm xây dựng một quan điểm chung mang tính quốc tế giữa các thành viên. Ngoài ra, các cam kết trong TPP còn hướng đến việc “khắc phục thực trạng” về lao động chứ không chỉ giới hạn trong việc xây dựng pháp luật. Chẳng hạn như trường hợp của Malaysia. Để tham gia TPP, Malaysia đã cam kết khắc phục tình trạng lao động trẻ em tại quốc gia Hồi giáo này.
Hoa Kỳ cho rằng TPP là một bước ngoặt vì chưa bao giờ có một hiệp định thương mại nào mà chương về Lao động được xây dựng tinh vi, chặt chẽ với nhiều mục tiêu đàm phán đạt được đến như vậy. Nếu được thực thi một cách nghiêm túc và hoàn chỉnh, chúng ta có thể sẽ được chứng kiến những thay đổi sâu rộng và căn bản trong thể chế và pháp luật lao động tại nhiều quốc gia, với hy vọng rằng từ đó cuộc sống của tầng lớp công nhân cũng sẽ được cải thiện một cách đáng kể.
Bình đẳng tiêu chuẩn lao động là bình đẳng thương mại
Những người phản đối Chương 19 của TPP cho rằng đây là một thủ đoạn chính trị của Hoa Kỳ nhằm can thiệp vào nội bộ xã hội của những quốc gia thành viên, đặc biệt là đánh động đến quyền lợi của tầng lớp công nhân. Lập luận này dựa trên một định kiến có từ lâu đó là cam kết kinh tế luôn đi kèm với quyền lợi chính trị. Điều này có lẽ là đúng, nhưng không hoàn toàn. TPP không được tạo ra riêng bởi Hoa Kỳ mà là sự thống nhất ý chí của rất nhiều quốc gia, trong đó có những thành viên mà vị thế chính trị không nổi bật như Chile.
Vietnam_Factory_rtr_img
Công nhân tại một nhà máy may của Việt Nam. Ảnh: Thenations.
Xét về mặt tự do và bình đẳng thương mại, sự thống nhất về tiêu chuẩn lao động không phải không có lý do của nó. Trong thương mại, luật pháp được tạo ra để đảm bảo sự công bằng giữa những thương nhân. Công bằng ở đây không có nghĩa là cào bằng về mặt xuất phát điểm mà chỉ hàm ý bảo vệ quy luật cung – cầu, bàn tay vô hình của thị trường. Lập luận của những người ủng hộ Chương 19 TPP đó chính là tiêu chuẩn lao động được đảm bảo sẽ dẫn đến thương mại bình đẳng.
Chúng ta cần hình dung rằng trong một nền thương mại tự do, giá cả đóng vai trò rất quan trọng để quyết định hàng hóa của ai có lợi thế hơn trên thị trường. Giá cả hàng hóa được cấu thành từ nhiều yếu tố và một trong số đó là giá thành lao động. Trong một quốc gia không quy định về lương tối thiểu, nơi mà thương nhân bằng quyền lực kinh tế có thể ép giá nhân công xuống mức thấp nhất, giá thành sản phẩm sẽ rẻ hơn nhiều so với quốc gia có lương tối thiểu. Hay một ví dụ khác, nếu Malaysia tiếp tục dung thứ cho nạn lao động trẻ em, hàng hóa của họ sẽ rẻ hơn vì lao động trẻ em không chỉ rẻ hơn so với lao động người lớn mà còn cung cấp tổng lao động nhiều hơn, khiến giá thành của “mặt hàng” này giảm đi.
Chính vì thế, nếu Malaysia thẳng tay với lao động trẻ em, giá thành hàng hóa của họ sẽ tăng và người được hưởng lợi sẽ là một quốc gia có điều kiện tương tự Malaysia là Việt Nam, nơi nạn lao động trẻ em không phổ biến. Nếu nhìn nhận vấn đề ở góc độ như vậy thì sẽ thấy rằng việc đưa nội dung Lao động vào một hiệp định thương mại như TPP là việc làm có lý lẽ. Việc thực thi chương 19 của TPP không chỉ là một sự nhượng bộ của các quốc gia bị “chỉ mặt điểm tên” như Việt Nam, Malaysia hay Brunei mà còn có thể là một lợi thế tiềm ẩn cho các quốc gia này. Nó còn là một cơ hội để các quốc gia nâng cao đời sống, chất lượng làm việc của công nhân nước mình.
Cơ hội của tương lai
Rất nhiều các hiệp định thương mại khác như NAFTA, WTO đều có quy định về những tiêu chuẩn lao động này. Điểm khác nhau có lẽ chỉ nằm ở mức độ thực thi và chế tài đối với vi phạm.[2] Các quyền năng được cam kết trong TPP không mới mà đó là những quyền đã được Tổ chức Lao Động Quốc tế (ILO) ghi nhận và tất cả các quốc gia đều là thành viên (tuy rằng mức độ tham gia các công ước con có khác nhau). Vì nhiều lý do, đa số nằm ở quyền năng của ILO, mà những cam kết của các quốc gia trong ILO chưa được thực thi đúng và đầy đủ. Chính vì thế, TPP như một cơ hội để các quốc gia cố gắng thực hiện những gì họ đã cam kết vì một thị trường lao động trong sạch.
Một cách tự nhiên, các quốc gia khi phải tham gia xây dựng cách hiểu chung về tiêu chuẩn lao động thường có xu hướng xem tiêu chuẩn của nước mình là lý tưởng. Đây là hiện tượng “cuộc đua đến đáy” (race to the bottom) mà nhiều cộng đồng kinh tế đã phải gánh chịu, như EU liên quan đến tiêu chuẩn thành lập doanh nghiệp của các quốc gia thành viên. Tuy nhiên, giới công đoàn nhận ra rằng nếu như chấp nhận một “cuộc đua đến đáy” trong lĩnh vực lao động thì người chịu thiệt hại cuối cùng sẽ là công nhân. Hiểu được điều đó, chương 19 của TPP không phải là một “cuộc đua đến đáy” mà trái lại là một hành trình tiến đến chuẩn mực lao động quốc tế. Trên thực tế, bất chấp những lo sợ rằng quyền của công nhân sẽ bị chính trị hóa, không quốc gia nào có thể phủ nhận rằng những quyền của công nhân trong TPP là tốt đẹp và nếu được thi hành sẽ giúp cho công nhân có một cuộc sống thoải mái hơn. Do vậy, thay vì lo lắng cho sự trường tồn của thể chế chính trị khi công nhân thực thi quyền của mình, các quốc gia có lẽ nên tìm cách thích ứng với sự thay đổi đáng trân trọng này. Lao động giá rẻ luôn là một lợi thế, nhưng lao động có tay nghề và được bảo vệ mới chính là tài sản quý giá nhất trong nền kinh tế của tương lai.
Kỳ tới: TPP và Công đoàn độc lập – Cam kết quan trọng nhất của Việt Nam
Chú giải của tác giả
[2] Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO không có chức năng nhận khiếu nại về lao động, trong khi NAFTA có một ủy ban khiếu nại về lao động, còn TPP vừa xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp, cơ chế khiếu nại, lẫn cơ chế tham vấn của cộng đồng đối với các đạo luật liên quan đến quyền lao động.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Giáo sư Carl Thayer bình luận về quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ sau Đại hội 12 và đánh giá về khả năng giành chiến thắng của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

VIỆT NAM CHƯA AI ĐI "QUAN LỘ PUTIN"

Image copyrightGetty
Image captionGiáo sư Carl Thayer cho rằng nếu ông Nguyễn Tấn Dũnggiành chiến thắng, điều này chưa từng có trong tiền lệ
Giáo sư Carl Thayer bình luận về quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ sau Đại hội 12 và đánh giá về khả năng giành chiến thắng của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Hôm 9/1, nhà quan sát chính trị Việt Nam lâu năm viết: “Ông Dũng đã ngồi ghế thủ tướng hai nhiệm kỳ và hơn 65 tuổi. Ông là một ứng viên nặng ký cho ghế tổng bí thư. Nếu ông giành chiến thắng, điều này chưa từng có trong tiền lệ.

"Từ trước đến nay, chính trường Việt Nam chưa có trường hợp nào như Vladimir Putin, người từng làm thủ tướng rồi sau đó thành tổng thống.
"Nếu thắng, ông Dũng sẽ là Tổng Bí thư đầu tiên có nhiều kinh nghiệm đối ngoại, xử lý các vấn đề kinh tế quốc tế và được các nhà lãnh đạo chính phủ khác biết đến.
Giáo sư Thayer nhận xét ông Dũng được cho là người thúc đẩy Việt Nam theo hướng "quốc gia hiện đại và công nghiệp hóa" năm 2020. Ông có thể được mô tả như là người có tham vọng muốn phát huy vai trò của các tập đoàn kinh tế lớn có khả năng cạnh tranh quốc tế trong lĩnh vực kinh tế có đặc thù.
Nhà quan sát người Úc nói ông tin rằng ông Dũng sẽ đặt mục tiêu Việt Nam đáp ứng được những đòi hỏi của TPP.
"Mô hình nhà nước độc đảng của Việt Nam không phải là hệ thống "một người quyết hết".
"Nếu ông Dũng trở thành Tổng Bí thư đảng thì sẽ có thương lượng gay gắt về quyền lực ở các vị trí cấp cao nhất.
"Cuộc đua chủ chốt sẽ là ghế thủ tướng tới và liệu người ngồi ghế đó có phải là đàn em của ông Dũng hay không," ông Thayer viết.
Bất luận ai sẽ trở thành Tổng Bí thư, Giáo sư Thayer cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách ‘đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế’ và ‘chủ động hội nhập quốc tế’.
Việt Nam sẽ cố gắng duy trì sự cân bằng trong quan hệ với các cường quốc Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga và Liên minh châu Âu.
Trong bối cảnh này, các nhà lãnh đạo mới của Việt Nam được dự báo sẽ thúc đẩy quan hệ với Hoa Kỳ và các đối tác TPP khác để giảm bớt sự phụ thuộc kinh tế và thâm hụt thương mại lớn với Trung Quốc.
Việt Nam sẽ phát triển quan hệ an ninh gần gũi hơn với Hoa Kỳ để tăng cường khả năng đối phó với áp lực của Trung Quốc ở Biển Đông. Cả Hoa Kỳ và Việt Nam đã có chỉ dấu tăng cường hợp tác để hình thành lực lượng cảnh sát biển Việt Nam.
Hiện tại, Hoa Kỳ vẫn chưa dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương với Việt Nam mà chỉ nới lỏng một phần.
Có khả năng là năm 2016, Việt Nam muốn tiếp cận công nghệ viễn thông và trinh sát hiện đại để cải thiện năng lực hàng hải ở Biển Đông. Có tin là Việt Nam đang cân nhắc mua một máy bay trinh thám hàng hải như P3 Orion. Bên cạnh đó, Việt Nam sẽ tiếp tục mua vũ khí từ Nga để tăng cường quốc phòng.
Đồng thời, Việt Nam sẽ tìm cách chia tách vấn đề tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông trong quan hệ với Trung Quốc”.
Giáo sư Thayer nhận định, lâu nay Việt Nam luôn đòi Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương. Phe bảo thủ trong Đảng Cộng sản Việt Nam cho đây là vấn đề phân biệt đối xử.

'Cách mạng màu'

Image copyrightAP
Image captionViệt Nam sẽ phát triển quan hệ an ninh gần gũi hơn với Hoa Kỳ để tăng cường khả năng đối phó với áp lực của Trung Quốc ở Biển Đông
Những người muốn thúc đẩy quan hệ gần gũi hơn với Hoa Kỳ đều bị phe bảo thủ đặt câu hỏi thách thức: "Hoa Kỳ đã làm cho Việt Nam?". Họ đưa ra dẫn chứng là lệnh cấm vận vũ khí và hệ quả chất da cam và bom mìn sau chiến tranh. Dù Hoa Kỳ đang có thiện chí giải quyết các vấn đề này, phe bảo thủ luôn đòi Hoa Kỳ trợ giúp thêm.
Lệnh cấm vận vũ khí sát thương của Hoa Kỳ liên quan đến nhân quyền và tự do tôn giáo. TPP cũng đặt ra yêu cầu công nhân có quyền thành lập công đoàn độc lập.
Nếu Thượng viện Hoa Kỳ thông qua TPP, Việt Nam có thể được Hoa Kỳ giúp triển khai. Mối quan hệ kinh tế Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ chặt chẽ hơn, tạo điều kiện cho các doanh nhân và nhà đầu tư Mỹ đóng góp vào tương lai của Việt Nam.
Nhân quyền và tự do tôn giáo vẫn là vấn đề nóng ở Việt Nam vì phe bảo thủ trong đảng lập luận rằng Hoa Kỳ đang thúc đẩy ‘diễn biến hoà bình’ hoặc một ‘cuộc cách mạng màu’ ở Việt Nam để lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam.
Những lo ngại này đã được giải quyết phần nào khi Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hội đàm tại Nhà Trắng năm ngoái. Họ đã đưa ra một tuyên bố cam kết tôn trọng hệ thống chính trị của nhau.
Từ tháng 5/2014, thời điểm Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào hải phận Việt Nam, 8/14 ủy viên Bộ Chính trị đã đến thăm Hoa Kỳ, kể cả những người được cho là thuộc phe bảo thủ.
Trong quá khứ, mỗi khi Việt Nam muốn nhận được điều gì từ Hoa Kỳ, chẳng hạn như việc trở thành thành viên WTO, họ không ngại đáp ứng yêu cầu về nhân quyền từ phía Hoa Kỳ.
Có dự báo là sau Đại hội Đảng 12, Việt Nam sẽ phải bớt trấn áp các nhà bất đồng chính kiến nếu muốn thành tích nhân quyền của họ được xem là có cải thiện.
Nguồn BBC

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chút tình của Đào Tiến Thi:

Đào Tiến Thi: ANH BA SÀM NGUYỄN HỮU VINH - CON NGƯỜI ĐÁNG QUÝ




ANH BA SÀM NGUYỄN HỮU VINH,  
CON NGƯỜI ĐÁNG QUÝ 

Đào Tiến Thi 

Kể từ khi biết đến mạng xã hội vào năm 2009, suốt những năm 2009 – nửa đầu năm 2012, tôi luôn nghĩ Ba Sàm là một nhân vật không có thật, hoặc là một con người có hành tung bí ẩn, và có lẽ là sống ở nước ngoài. Nếu không thì làm sao trang Ba Sàm có thể tung hoành như ở một nước không có tự do báo chí? 


Thế nhưng cho đến cuộc biểu tình ngày 1-7-2012 thì tôi nghe nói đến Ba Sàm có đi. Chả là sáng hôm ấy trời mưa rất to và mưa liên tục khiến cho hai bố con tôi lúc ra đến Bờ Hồ, chỗ trước trước tượng đài Lý Thái Tổ, vẫn không thấy có biểu tình gì cả. Hai bố con còn đang quan sát động tĩnh xem “quân ta” ở đâu thì gặp GS. Hoàng Xuân Phú đi tới. Anh Phú nói vừa gặp Ba Sàm đằng kia. Tôi hết sức ngạc nhiên và thú vị. Thì hóa ra Ba Sàm là một con người bằng xương bằng thịt lại sống ngay tại Hà Nội này sao? Tôi nói với anh Phú, rằng lát nữa gặp thì nhờ anh giới thiệu để tôi biết. Thế nhưng vừa nói xong đã thấy một nhóm người phất cờ trước tượng đài Lý Thái Tổ, hai bố con tôi cùng anh Hoàng Xuân Phú vội băng qua đường, nhập vào đoàn biểu tình. Rồi sau đó mải mê biểu tình, quên tìm gặp anh Ba Sàm.

Cho đến khoảng tháng 11-2012, tôi cùng anh em đi thăm Văn Giang theo lời mời của bà con đối với trí thức Hà Nội, trên đường đi, tôi tình cờ gặp anh Ba Sàm. Anh cũng đã nghe ít nhiều về tôi nên anh em gặp nhau mừng vui, quý nhau hết sức. Anh chào tôi theo kiểu nghi thức của những người yêu nước tham gia biểu tình chống Trung Cộng gặp nhau, ấy là ôm nhau và vỗ vào lưng nhau vài cái. Tên chính thức của anh là Nguyễn Hữu Vinh, bút danh Ba Sàm, tôi thường gọi luôn là anh Ba Sàm hay anh Ba. Và từ đó thỉnh thoảng tôi có gửi bài đăng trên blog Ba Sàm. Anh nhận bài bao giờ cũng hồi âm rất nhanh và bao giờ cũng có câu “Cảm ơn em”. Bài thường được anh biên tập sao cho câu chữ, trình bày chuẩn xác hơn, cũng đôi khi theo cách riêng của anh.

Nhớ nhất hôm 17-3-2013, chúng tôi, khoảng hơn hai chục anh em, con cháu đi tưởng niệm đồng bào, chiến sỹ hy sinh hồi biên giới 1979, nhân kỷ niệm 34 năm ngày Trung Cộng thua trận, rút hết quân về biên kia biên giới (18-3-1979 – 18-3-2013). Chúng tôi tập kết ở một điểm hẹn, để từ đó kéo nhau ra bờ sông Hồng, quãng gần cầu Nhật Tân. Anh Nguyễn Tường Thụy trước lúc đi bị bọn “côn đồ đỏ” đe dọa, nhưng anh vẫn đi, thế là bị chúng tông xe, ngã khá đau. Cho nên từ điểm tập kết đi ra bờ sông tôi bảo cháu Sỹ lai bác Thụy để bố đi xe bác Ba Sàm. Ngồi sau xe, tôi mới nhận ra anh Ba Sàm vô cùng gầy. Người anh là một bộ xương, nhưng xem ra anh khỏe mạnh, tinh nhanh lắm. Đường ra bờ sông hầm hố, lại mới mưa trơn, xe anh là loại xe “cà tàng, thế mà anh lái rất chính xác.

Anh Ba Sàm đi với mục đích làm truyền thông, nhưng anh cũng xăng xái sắp đặt lễ vật, vòng hoa, thắp nhang. Anh cởi giày, xắn quần, lội hẳn xuống sông để kéo hoa sao cho thành hình thật đẹp. Sau khi làm lễ trưởng niệm, mọi người tranh nhau chụp ảnh chung với anh. Nhiều người hôm ấy cũng bất ngờ như tôi năm trước: Ba Sàm hóa ra chẳng phải huyền thoại. Ba Sàm là con người bằng xương bằng thịt và rất đời thường, rất giản dị. Sau khi tưởng niệm, chị Trần Thanh Vân mời tất cả anh em đi ăn trưa, duy anh Ba Sàm không dự, vì anh còn nhiều việc phải làm ngay. Rõ khổ. Có lẽ vì chú tâm làm hơn là ăn uống mà anh luôn gầy?

Hôm 19-1-2014 (kỷ niệm 40 năm ngày mất Hoàng Sa về tay Trung Cộng (19-1-1974 – 19-1-2014), anh Ba Sàm đi làm truyền thông bằng cả một máy quay kềnh càng, có chân cao lênh khênh. Tuy nhiên hôm ấy chúng tôi vừa bị bọn “thợ cắt đá” đang “thi công” trong khu vực công viên gây khói bụi mù mịt, vừa bị trùng trùng điệp điệp công an và côn đồ ngăn cản, cho nên đành phải ngậm ngùi ra về.

Tôi gặp anh Ba Sàm lần cuối cùng trước khi anh bị bắt vào hôm chúng tôi đi tưởng niệm nhà chí sỹ Lê Hiếu Đằng tại chùa Tảo Sách bên bờ Hồ Tây vào một ngày cuối tháng 1-2014, do Kiến trúc sư Trần Thanh Vân tổ chức. Trước đó ít hôm, tôi với anh có cuộc tranh luận nảy lửa về quan điểm. Bắt đầu bằng các comment trên mạng, sau đó bằng tin nhắn điện thoại và cuối cùng bằng cuộc đối thoại qua di động. Lời lẽ cả hai bên mỗi ngày một gay gắt. Anh giữ quan điểm của anh, tôi giữ quan điểm của tôi, không ai chịu ai hết. Cuối cùng anh tắt máy, không nói nữa. Hoá ra anh cũng khá nóng tính ghê! Thế nhưng hôm gặp nhau ở chùa Tảo Sách, anh lại bắt tay vui vẻ. Anh còn hỏi han, an ủi tôi về “tai nạn an ninh” vừa xảy ra mấy hôm trước do bài tường thuật cuộc tưởng niệm không thành hôm 18-1 nói trên.

Khi đã biết anh Ba Sàm bằng xương bằng thịt (chứ không phải huyền thoại), tôi vẫn không hết ngạc nhiên về anh. Anh là “con nhà nòi, sinh ra, lớn lên giữa lầu son gác tía, con đường thăng tiến luôn mở ra vô tận, nhưng anh đã chọn con đường riêng của anh. Bắt đầu, anh bỏ ngang để lập công ty thám tử tư, kiếm sống bằng kinh doanh trên nền tri thức chuyên môn của mình. Rồi khi nhận thấy “Dọc ngang trời đất rực vẻ văn minh, Tức tối nước nhà cam đường hủ bại”[i], tuy là sỹ quan an ninh, anh đã chấp nhận dấn thân cho “lề trái”, “lề dân”. Bằng truyền thông xã hội, anh là một trong mấy người mở đầu công cuộc khai trí lần thứ hai[ii] cho người Việt Nam khi bước vào thế kỷ XXI. Đặc biệt từ khi Trung Cộng gây hấn, ngang nhiên chiếm biển, chiếm đảo, bắn giết ngư dân Việt Nam, trang Ba Sàm do anh điều hành luôn đưa thông tin kịp thời, phong phú. Nhờ đó mà thức tỉnh dân tộc Việt Nam trước một hiểm hoạ vô cùng lớn: hiểm họa chủ nghĩa đế quốc Đại Hán núp dưới sắc màu chủ nghĩa cộng sản thời hiện đại. Anh bị bắt ngay sau khi Trung Cộng đưa giàn khoan ra vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đó là một thiệt thòi lớn cho phong trào bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, việc anh bị giam hơn 1 năm 7 tháng vừa qua mà vẫn giữ chí khí kiên cường, bất khuất, và cùng với anh, là người đồng chí của anh – chị Nguyễn Thị Minh Thúy, cũng bất khuất như vậy – lại là một nguồn lực tinh thần vô cùng to lớn tiếp sức cho phong trào.

Ngày 19-1-2016 tới đây, nhà cầm quyền sẽ đưa anh ra toà, sau khi đã không còn lý do gì để tạm giam. Chúng tôi tin tưởng rằng tinh thần bất khuất và sáng ngời chính nghĩa của anh càng có điều kiện toả sáng. Anh là một trong những trí thức hàng đầu mà trong giai đoạn bi đát này của dân tộc, mỗi người Việt Nam yêu nước, yêu tự do có thể nhìn vào để tin tưởng.

ĐTT 
(Đêm 10-1-2016) 
___________
.
[i] Phan Bội Châu, Văn tế Phan Châu Trinh
[ii] Cuộc khai trí lần thứ nhất do các sỹ phu Nho học đầu thế kỷ XX như Nguyễn Thượng Hiền, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hùnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế,… khởi xướng. 
 
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ ANH BA SÀM NGÀY 18-3-2013 TẠI BỜ SÔNG HỒNG, 
NGÀY TƯỞNG NIỆM CHIẾN SỸ, ĐỒNG BÀO HY SINH TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN 
CHỐNG TRUNG CỘNG XÂM LƯỢC






Phần nhận xét hiển thị trên trang