Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 18 tháng 12, 2015

HAI NGƯỜI TÌNH



Truyện ngắn của H.G.

Chiếc xe Pho màu cà phê sữa chạy chậm lại rồi đỗ ngay trước chỗ bà Éng ngồi bán đậu ngoài cổng chợ. Một người đàn ông cao lớn, chạc trung niên bước ra khỏi xe. Ông ta đưa mắt nhìn quanh một lượt..
Chỗ này là trung tâm thị tứ, đối diện với tấm biển “Nơi giao dịch” vùng này.
Hình như ông ta đang tìm người, nhưng chưa biết là ai? Đứng, hay ngồi chỗ nào?
Bà Éng đeo khẩu trang, kính dâm choán hết nửa khuôn mặt, tự dưng cảm thấy nôn nao, nóng ruột, linh tính có điều gì đó can hệ đến mình.
Chả biết giữa bà với con người và chiếc xe kia có mối quan hệ gì không, mà từ lúc ông ấy xuống xe bà cứ thấy bàng hoàng cả người?
Bà đoán có nhẽ đấy là người quen, ông ta không nhận ra bà vì cách ăn mặc, đeo kính, khẩu trang của mình. Còn bà chỉ nhận thấy có nét gì đó quen quen, nhưng không nhớ là ai? Bà đâu có quen biết người nào sang trọng, ăn vận như thế kia chứ? Từ bé đến giờ những người thân của bà, bạn bè quen biết chỉ toàn người “hoàn cảnh” cả. Người lịch sự nhất cũng chỉ áo bỏ trong quần, chân đi dép da loại rẻ tiền, đâu như người này?
Ngờ ngợ thì ngờ ngợ, bà “cứ để yên xem sao”? Có lẽ bà đeo kính, mang khẩu trang nên người kia không nhận ra bà cũng nên?
Gần rằm tháng bảy âm rồi mà vẫn chưa có lấy một trận mưa nào. Người ta bảo có thể năm nay không có Ngâu?
Mọi năm thì mồng ba, mồng bảy đã mấy trận mưa Ngâu. “Vào mồng ba, ra mồng bảy”, năm nào chả thế?
Nhưng năm nay nắng nóng nhiều, hôm nay sang mồng chín rồi, mống mây đằng đông vẫn chưa xuất hiện. Ngưu Lang, Chức Nữ bận gì mà quên mất cả chuyện mỗi năm chỉ được gặp nhau mỗi một lần vào dịp này? Mối tình sầu hận ngàn năm, chỉ cơ hội duy nhất chan chứa hòa với gió mưa, cho vơi đi bao tháng ngóng, ngày mong!
Tiếp đến chiều nào trời cũng kéo mây vần vũ, gần tối lại chớp loe loé phía tây, phía bắc.. mà mưa vẫn chưa thấy đâu?
Trời làm oi bức, hàng cá hàng thịt ế lê, ế lệt, nhưng hàng đậu của bà lại đắt hàng. Mỗi buổi sáng phải làm những hai mẻ mới đủ bán cho khách quen. Tuy vậy bà không lấy thế làm mừng.
Đành là nắng nôi, người ta ưa mua đậu phụ về nấu canh ăn cho mát ruột, chả ai thích cá thịt vào những hôm như thế này.
Một mình mình đắt hàng thì lấy gì làm hay? Buôn có bạn, bán có phường chả ai mong thiên hạ gặp khó khăn để sống lấy một mình.
Kinh nghiệm là “đắt hàng tôi mới trôi hàng bà”. Chợ búa thời nào cũng vậy, đều có mối liên hệ, ràng buộc xa gần với nhau. Đắt riêng một hàng là điều đáng ngại chứ chẳng có gì hay. “Văn hóa thương nghiệp” bà không rõ lắm khi nghe người ta nói, nhưng cảm nghĩ như vừa rồi của bà là có thật, kinh nghiệm nhiều năm ngồi bán hàng ở đây bà học được như thế, bằng trải nghiệm bản thân.
Chợ sớm mà vắng như chợ chiều, chả có người. Dấu hiệu không vui lắm của cả vùng. Người ta nói quả không sai: “Cứ đến thăm chợ của khu vực nào là biết kinh tế nơi đó phát triển ra sao”.
Như lối nói ngày trước: “Xa thì trông tre, gần nghe chó sủa”. Làng nào mà tre mọc loi thoi, cằn cọc là y như rằng làng ấy đất đai cằn cỗi, cảnh nghèo xác xơ.
Chó xóm nào sủa lách nhách chẳng ra hơi là xóm ấy chả có mấy nhà khá giả.
Vùng bà chưa đến nỗi, tre vẫn xanh um, chó vẫn sủa ồm ồm, nhưng dấu hiệu chợ thưa, người vắng không phải là điều không đáng để yên tâm, tuy rằng nó mới chỉ lấp ló, thấp thoáng, manh nha.

Ngoài đường nắng gay gắt. Lúc lúc xe cộ các loại cuốn bụi phun mù mịt. Không mang khẩu trao, đeo kính chắc bà cũng không đủ kiên nhẫn để ngồi được lâu ở chỗ này. Còn mẻ đậu đã có tấm vải trắng ướt nước che đậy, bà chỉ mở ra khi có người hỏi mua.
Bà định hết mẻ này sẽ về lấy thêm mẻ nữa. Buổi chiều nắng quá có khi nghỉ. Giàu thì đã giàu rồi, có cố cũng chẳng được hơn. Mà sự giàu có chưa hẳn đã là hạnh phúc. Với bà bây giờ sự thanh thản trong lòng cần hơn, sau cả thời thanh xuân vất vả. Bà bằng lòng với cuộc sống hiện tại và có phần cảm thấy vui, thích thú đối với nó.

Lão “Thắng dây” của bà chắc giờ này cũng đã xong mẻ đậu mới rồi.
Thời bây giờ làm đậu phụ nhàn tênh, đâu có vất vả như hồi xưa? Đỗ ngâm rồi đã có máy xay chạy bằng điện, bấm một cái, mươi phút là xong. Một mình lão vừa “ngâm thơ”, vừa chạy máy, nấu,.. rồi khuôn đậu, nhoáy cái là đâu ra đấy. Lại có thể tranh thủ “sáng tác” nữa. Đâu có như ngày xưa tướt cò bợ kéo cái cối đá đại, xay cả hàng tiếng đồng hồ mới xong một mẻ! Phải là người khỏe mới kéo được, sức lẻo khẻo của lão có mà..
Thay đổi ở đâu không nói, ngay cách thức làm ăn nhà mình nhờ có điện lưới đã thấy khác đi bao nhiêu rồi..Lão ấy mới có thể “Phối kết hợp”, vừa làm đậu, làm thơ, lại làm vườn được như thế chứ!
Dạo này lão Thắng ra nhập “Câu lạc bộ thơ” của thị trấn, kiêm luôn cái chân thư ký câu lạc bộ, nên cứ hở ra lúc nào là “sáng tác” lúc ấy. Được cái may lão không rượu, không thuốc, không thích “buôn dưa lê” nên bà kệ, chả phàn nàn.
Gì chứ thơ ca, nó có cái hay riêng của nó. Bà không hiểu nhiều về chuyện này, nhưng bà biết phần nhiều các vị yêu thơ phú đều là người tử tế, lương thiện, dù rằng đôi lúc tính khí bốc đồng, chả được chu đáo như người ta, nhưng mà tốt tính, tốt nết.  Không như mấy ông mê số đề, cờ tướng, lại nát rượu, suốt ngày gầm vợ gừ con. Lão lại có hoa tay truyền thần, tô tượng được nhiều người mến mộ. Là  thợ cả cứng của đoàn thợ xây một thời, đóng góp không nhỏ về diện mạo nhà cửa vùng này. Nhà xây xong, nếu gia chủ có ý muốn vẽ bức tranh thờ phật, hay tô lại tượng là có lão OK ngay, khỏi phải tìm thợ khác đâu xa!
Mấy năm nay trong vùng dân chuộng lối kiến trúc mới. Người ta ưa kiểu Thái chứ không theo lối Gootic bằng biện, vuông vắn kiểu cổ. Đoàn thợ của lão không còn đắt khách, mỗi người một nơi, theo các đoàn thợ mới.
Lão cũng đã có tuổi, nghề thợ nề đã đến lúc không còn thích hợp. Công trình trọn gói như xưa lão không theo nữa. Nếu ai có nhu cầu các việc xây trát, tu sửa lặt vặt lão vẫn làm. Chỉ coi như việc làm thêm. Việc chính lão làm bây giờ là làm quanh nhà, chăm đàn lợn, ngó vườn cây hay nấu đậu chẳng hạn..
Ngoài nấu đậu, thơ phú ra, thời giờ còn lại của lão là tất cả ngoài vườn.

Năm ngoái năm kia cũng nhờ cái vườn cây cảnh của lão mà xây được ngôi nhà mới. Năm nay cây cảnh không có khách, lão xoay sang nghề chiết ghép cây giống.
Cả vùng đang sôi sùng sục lên bởi các loại giống cây ăn quả, lão cũng kiếm được tiền.
Tuy vậy, lão vẫn bàn với vợ nên duy trì nghề nấu đậu. Ở đâu không nói, đậu phụ chế theo công thức của lão, người khác có muốn bắt chước cũng còn lâu! Một nghề thủa khó khăn bà Éng vào nghề và được lão “nâng cấp kỹ thuật”, giữ đến bây giờ.
“Giời có cho bát ăn, bát để cũng đừng quên thủa hàn vi của mình”, lão Thắng dây chồng bà nói như vậy và bà thấy rất có lí..

Bà nghĩ đến đây thì trong chợ đi ra một cô tre trẻ, tay cầm chùm nhãn vừa đi vừa ăn. Ông khách sang tiến lại gần hỏi cô gái:
- Cháu cho chú hỏi thăm chút, bà Éng bán đậu ngồi chỗ nào?
Cô gái nhoẻn cười:
- Cháu ở trong làng, không phải người ở đây, nhưng bà Éng thì cháu biết.. Bà ấy ngồi ngay kia, chú không nhìn thấy à?
Khách lúng túng:
- Chú có ngờ ngợ, nhưng bà ấy ăn mặc thế kia nên không nhận ra!
Bà Éng thấy không thể im lặng, làm như không hay, đành lên tiếng:
- Tôi đây, ông là ai? Hỏi tôi có việc gì không?
- Chết thật, người quen mà không nhận ra – Giọng của ông khách có phần trách móc.
Bà Éng vội vàng xin lỗi:
- Thì ra ông Quân. Ông thay đổi nhiều quá, lại đi xe đẹp, oách thế kia! Tôi có ngờ ngợ nhưng không dám nhận. Có gì sai ông bỏ quá cho nhé! – Giọng bà cũng pha chút hờn hờn, man mát trách lại.
Giọng khách ngùi ngùi:
- Tôi đâu dám trách, lỗi ở tại tôi..mà cũng hơn hai chục năm rồi, có không nhận ra nhau cũng phải.
- Ông ra khi nào? Nghe đồn ông ở trong ấy bây giờ giàu có lắm rồi? Có khi chả muốn ra ngoài này nữa cũng nên?
- Bà đừng nói vậy! Người ta dù đi bốn phương trời, thành hay bại, giàu có hay nghèo khó cũng không ai quên được quê hương. Kỳ này tôi ra muốn gặp lại bà có chút chuyện..Nhưng bà đang bận bán hàng thế này có phiền gì không?
- Không, mời ông ghé chơi nhà uống nước.. Ông nhà em cũng đang ở nhà. Hàng cũng đã hết rồi..
Khách quay xe, mời bà Éng lên nhưng bà bảo:
- Em còn vướng cái xe đạp, ông cứ mặc kệ em.
Bà Éng đạp cái xe cu cũ đi trước, chiếc xe Pho màu cà phê sữa chầm chậm phía sau.
Hàng phố trố mắt nhìn. Họ xì xầm với nhau: “ Bà Éng có người nhà sang trọng, ở đâu mà mãi tới bây giờ mới tìm đến?”


**
Một người đàn bà, hai người đàn ông ngồi theo thế chân vạc. Một con “gà mò” nửa rán, nửa luộc, một bình rượu ngon mà câu chuyện xem ra vẫn chưa thực sự thoải mái, tự nhiên.
Và bao giờ cũng vậy, câu chuyện thường bắt đầu bằng những chuyện vu vơ, chả dính gì đến chuyện chung, riêng của họ..
- Thứ này là rượu nếp chính hãng, ngâm với “Pín cẩu ngọc”, ông có biết nó là gì không?
- …
- Ông nói chuyện đó làm gì? Pín nọ pín kia báo đài nói đầy ra rồi. Tốt được đến đâu thì chưa biết, nhưng cứ lợi cho sức khỏe là được. Giờ em xin phép cả hai ông nói câu chuyện cho rõ ràng. Kẻo rồi hồ hồ nghi nghi, khổ cho cả đôi, ba bên – Bà Éng mở đầu câu chuyện – Ông Quân đây là người tình cũ của em. “Người yêu đầu đời” như bọn trẻ bây giờ hay nói. Chính ông ấy là bố cái Hơn nhà mình. Cũng là do duyên số, chả lấy được nhau, gần đến ngày cưới, ông ấy bỏ đi biệt tăm.. Cho đến hôm nay mới gặp. Còn người tình thứ hai chính là ông đây - bà chỉ ông Thắng – Em gặp trong lúc xa cơ, nhờ có ông ấy cưu mang, em mới có ngày hôm nay. Em phải nói rõ thế để hai bên khỏi hiểu nhầm nhau..
- Tôi xin phép cả hai ông bà phải nói rõ ra thế này, nếu không tôi là kẻ bạc tình, sở khanh sao? Không phải tự dưng tự lành, tôi bỏ cửa bỏ nhà mà đi, bỏ lại giọt máu của mình cho người mình yêu phải mang cái hận trong lòng.. Chuyện nói ra thì dài, nhưng không thể không nói..
”Nhà Éng thời bấy giờ nghèo lắm. Ngoài cái cối xay đậu ra chả có gì đáng giá. Chỉ có mảnh vườn con con, ruộng nương cũng không vì là dân di cư tự do, không theo kế hoạch, còn đang chờ xem xét liệu có được cấp đất hay không. Tôi yêu em không vì cái gì cả, phải nói rõ như thế. Nếu không nói người ta cũng biết, nhưng chuyện phải có đầu có cuối. Tôi yêu em chỉ vì nết siêng năng chăm chỉ, đấy là cách tôi nói với bố mẹ tôi và mọi người. Thực ra vì Éng đẹp, điều này tôi không nói với ai. Nói ra chả hóa ra mình là kẻ háo sắc à? Tôi đâu có dại? Ông bố nàng lúc đấy đã yếu rồi, cả nhà sinh sống nhờ bà mẹ nàng và mấy chị em nàng đi làm thuê quanh vùng. Thời bấy giờ thuê mướn người ta đâu có trả công như bây giờ? Làm cả ngày công người lớn mới được đấu gạo, còn trẻ con chỉ bằng nửa đấu. Mà có sẵn đâu? Một hôm có chiếc thuyền buôn cối đá đậu ở bến, ông bố đổi được bằng mấy đồng bạc trắng tình cờ nhặt được khi làm cỏ sau nhà. Chỉ là cối nhỏ, dưới hạng trung. Nhưng thế là đã may, đã đổi đời rồi. Cả vùng không nhà nào có. Muốn ăn đậu phụ phải ra tận tỉnh mới mua được. Đường thì xa, mua được tí đậu về đã chua loe chua loét..”

- Tôi hiểu rồi, hồi đó đâu có điện, có đường như bây giờ, vất vả lắm, khó chung chứ đâu mình ai? – Ông Thắng có vẻ sốt ruột – Ông cứ đi thẳng vào vấn đề ngay đi..
- Ờ thì từ từ khoai khác nhừ, đi đâu mà vội?
”Éng cũng thương tôi, bao nhiêu người đến với cô ấy  cũng gạt phăng hết. Chả phải tại tôi có nghề đục đá, thó cối giúp đâu.  Mà là vì cái gì đó cả tôi với cô ấy cũng chưa thực hiểu ra là cái gì lúc bấy giờ. ( Cái hồi ấy hay đáo để. Có những việc không làm không được. Thí dụ ..thó cối chẳng hạn. Ông có biết thó cối là gì không? Là lấy cái chạm bằng sắt, đục lại các đường dăm của cối, cho nó “sâu sắc” thêm. Cứ để thế là “cối đá cùn”, xay thế chó nào được? ) – Chiều nào tôi cũng đến, cũng đòi thó lại cối cho Éng. Đến nỗi Éng phải kêu lên: “Lâu lâu mới thó, chứ anh làm luôn như này chả mấy mà thủng cối nhà em”.
Chuyện. Lửa gần rơm, lâu ngày cũng bén. Éng bảo với tôi: “Em bị rồi anh ạ”. Tôi có hơi giật mình, nhưng miệng vẫn bảo: “ Thì cưới chứ lo gì?”.
Nói thì nói vậy, trong bụng tôi vẫn lo: “Chắc gì bố mẹ và gia đình nhà mình đã đồng ý cho hai đứa lấy nhau?”.
Ông cụ tôi mất rồi, nhưng sinh thời cụ tôi nghiêm lắm.
Cụ bảo “Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem họ”. Tôi có nói xa gần về chuyện gia đình và bản thân Éng, bố tôi gạt đi:” Anh lấy ai cũng được, nhưng con gái nhà ấy thì không”!
Tôi hỏi, bố tôi bảo:”Nhà ấy lại lịch không rõ ràng, có làm sao mới bỏ làng lên đây. Ông bố tại vì rượu mới thân tàn ma dại như vậy. Đám con chả đứa nào ăn học đến nới đến chốn, thông gia với nhà mình không tiện”.
Tôi không dám cãi, chỉ ấp úng thưa:” Đất nước bao năm chiến loạn, mấy ai không có “vấn đề” về lai lịch? Đến như nhà mình, chân chì, hạt bột mà cũng có lúc là “thành phần” nọ kia. Con lấy con người ta chứ có lấy bố mẹ đâu mà sợ ảnh hưởng?”. Bố tôi quát:” Anh đừng có láo. Nhà mình “thành phần” là người ta quy sai, người ta đã sửa, tôi có vì thế mà bỏ làng đi đâu? Nói anh không nghe thì tùy”..
Người tình thứ hai có vẻ tò mò:
- Chắc vì các cụ không bằng lòng nên ông đã bỏ đi từ đấy đến giờ?
Người tình đầu tiên:
- Không hẳn như vậy. Cứ để yên tôi nói. Đã bảo tính tôi nó vậy, cái gì cũng phải có đầu có đuôi..
” Giữa lúc như vậy, trong làng xảy ra một chuyện đúng ra chả liên quan gì đến tôi. Mãi sau này tôi có hơi ngờ ngợ, hình như bố tôi muốn mượn cớ này để tách hai đứa chúng tôi. Các cụ nghĩ người ta xa mặt cách lòng, có nhẽ là vậy. Điều này tôi chỉ giữ kín trong lòng, không dám nói ra miệng. Ngộ nhỡ không phải mình có tội với người đã khuất. Hơn nữa đấy lại là bố mình!
Chuyện là có buổi chiếu phim ở trung tâm xã. Xem phim hồi đó không như bây giờ. Nó thực sự là một ngày hội vì cả tháng, có khi cả năm mới có một vài lần, hiếm lắm! Không như bây giờ nhà nào cũng có ti vi, thỏa thích muốn xem phim nào thì xem.
Mỗi lần như thế có khi hàng trăm, có khi hàng ngàn người cùng xem một phim, toàn phim chiến đấu của Liên Xô, Trung Quốc, phim Việt mình chỉ thỉnh thoảng mới có. Phim hay hay không, không cần biết, cứ tối nào có phim là già trẻ, nhớn bé lũ lượt kéo nhau đi. Mà đông người quá thường hay có chuyện phức tạp. Một phần điện chạy máy nổ, ánh sáng có hạn, tối lom lom, phần sân bãi chật hẹp.
Tối hôm xảy ra sự việc tôi không đi, nhưng bị trong diện tình nghi là hung thủ của vụ án mạng xảy ra cuối buổi chiếu phim. Bố tôi bảo: “Anh Tín con ông cả Vọng nói với tao là sắp tới người ta sẽ gọi đến mày đấy. Người ta đang “khoanh vùng, sàng lọc đối tượng”..Tao thấy mày nên lánh đi thời gian” Tôi bảo tôi không làm, không sợ. Bố tôi bảo: “Anh nhớn người nhưng tính vẫn trẻ con. Người ta cứ nhốt anh vào đấy, nếu không tìm ra được hung thủ sẽ thế nào? Có phải chưa khỏi vạ, má đã xưng không? Ba mươi sáu chước, tạm lánh một thời gian, khi nào rõ ngô rõ khoai lại về, có ai cấm?”.
Ngay đêm ấy bố tôi bí mật nhờ người bơi thuyền để tôi về xuôi..”
- Và ông đã đi từ đó đến nay?
- Thì đúng là như vậy. Lúc đi chỉ nghĩ đôi ba tháng rồi về. Không ngờ đến tận bây giờ! Lúc đi tiền bạc bố tôi lo, lượt về thì không có.
Chân ướt chân ráo vào nơi xứ lạ, quê người kiếm miếng ăn, đồng tiền không phải dễ.

Đến năm thứ hai gom được đủ tiền để về, lại nghe tin ở nhà Éng đã lấy chồng! Tôi hỏi ông ở vào hoàn cảnh ấy ông có còn muốn về làng nữa không?
- Vầng, ở đời mỗi người có cách xử trí khác nhau, không ai giống ai, nhưng là tôi, tôi vẫn cứ về..
- Thế đã không có chuyện. Để tôi kể tiếp cho mà nghe. Cái nghề đục đá, nung vôi của tôi đã cứu tôi qua cơn hoạn nạn. Có một nghệ nhân chuyên làm tượng đá mướn tôi phụ giúp. Ông có mỗi cô con gái, thấy tôi chịu khó ông nhắm gả cho tôi. Người ta gọi tôi là “nhà điêu khắc” nhưng quả thực tôi có học trường nào đâu? Tôi chỉ học mỗi trường đời thôi. Cũng nhờ nghề tạc tượng của nhạc phụ tôi mà tôi có được cơ nghiệp như bây giờ. Xã hội thay đổi, đi lên, đời sống tâm linh được chú trọng nên xưởng đá của tôi làm không xuể. Trong nam, ngoài bắc chỗ nào cũng có nhu cầu làm mới, tu bổ đền đài, sửa sang tô tượng.. Nhưng làm gì thì làm, thâm tâm tôi vẫn đau đáu với giọt máu để lại nơi quê nhà.. Tôi về chuyến này là vì chuyện ấy, mong ông bà thông cảm.. Phải quấy gì thì tất cả đã là dĩ vãng. Chúng ta chấp nhận và giải quyết hiện tại sao cho đúng là cái mà tất cả nên làm..

Rõ ra là rượu ngâm “Pín cẩu ngọc” đã phát huy tác dụng, người tình thứ hai đã bớt chút e dè giữ ý lúc ban đầu:
- Ông nói vậy tôi đã hiểu. Ý ông muốn nhận lại đứa con chứ gì?
Người tình thứ nhất gật đầu. Im lặng.
Ông thứ hai nói:
- Máu chảy đến đâu ruồi bâu đến đó. Ông có công đẻ, còn tôi, tôi có công nuôi..
Ông không thể hình dung ra được đâu! Cô Éng bụng mang dạ chửa chịu bao nhiêu lời ra tiếng vào..
” Đoàn thợ xây chúng tôi thuê đò qua sông lúc ấy đã hơn chín giờ tối rồi. Hẳn cô ấy đã nghĩ quẩn không lối thoát mới quyết nhảy xuống sông vào mùa giá lạnh như thế. Tôi cho anh em lên bờ, nhờ tiếp bác lái đò đưa cô ấy về bệnh viện tỉnh. Bụng mang dạ chửa ngâm nước lạnh lâu, may mà có người phát hiện ra, không vào viện chắc không cứu được cả mẹ lẫn con. Không gặp tôi hôm ấy liệu có ngày hôm nay không?”
Ông thứ nhất vội sụp xuống chắp tay, vái:
- Ông thực sự là đại ân nhân mà suốt đời tôi phải ghi nhớ. Ông mới là thứ nhất..Tôi chỉ là. Là ..à mà không, tôi chả là gi cả. Người như tôi đúng ra chả có thứ hạng gì..Được nhận lại cháu thế này ông muốn cái gì tôi cũng xin đáp ứng..
- Sao ông lại nói thế. Thứ bậc quan trọng gì nào? Cả sự đền đáp của ông nữa..Tôi biết ông có tiền. Nhưng ông tưởng tính bằng tiền là xong thôi hả? – Thắng dây cứng cỏi, điều mà từ hồi ở với nhau bà Éng chưa thấy bao giờ.
Bà đoán chắc ông ấy nghĩ mình sẽ “quay đầu” về vời người cũ năm xưa. Người đời chả nói: “Tình cũ không rủ mà đến” đó sao?
Nhưng Bà sẽ không làm vậy..
Nói gì thì nói, giờ ván đã đóng thuyền, ai cũng có chỗ, có phận của người đó rồi, khó mà thay đổi.
Mối tình đầu của bà mãi mãi chỉ là một kỷ niệm vừa đẹp đẽ lại vừa đắng cay. Nó mang lại cho bà đau khổ nhiều hơn hạnh phúc.
 Với ông Thắng người đàn ông lớn tuổi hơn bà, bao năm ông bị bà vợ cũ phụ tình. Ông ấy tìm đến bà, vừa là ân nhân vừa là sự chia sẻ của người cùng cảnh ngộ.
Hơn tất cả, ông còn là ân nhân, không có ông ấy liệu mẹ con bà còn có ngày hôm nay?
Bà sẽ phải chọn cách nào cho phải, điều này không khó. Nhưng liệu đứa con chung của hai người nó sẽ nghĩ sao?
“Máu chảy tới đâu..” chắc bà sẽ không phải quá lo lắng về chuyện này..
- Thôi cả hai ông uống rượu rồi ăn tý cơm. Chuyện mãi nguội hết cả rồi.
Ông Quân cười:
- Lâu lắm tôi mới lại được ăn bữa cơm theo lối miền bắc, vừa ăn vừa chuyện. Trong kia bữa là cứ ăn, ăn xong nói gì mới nói.
Câu này đúng là câu lạc đề, chả ăn nhập gì trong hoàn cảnh này, nhưng ông Thắng vẫn Bảo:
- Ăn xong bà gọi điện cho con Hơn về ngay, “nhà có việc”. Chỉ cần nói vắn tắt thế thôi, không nó hoang mang. Có gì về nhà hẵng nói
Quay sang ông Quân, ông Thắng bảo:
- Hai ta đều là chân làm đẹp cho đời, dễ hiểu và dễ nói chuyện với nhau, ông nhỉ?
Ông Quân gật gật đầu.
Lâu lắm rồi không biết từ đâu “xuất” ra một đàn ong mật. Chúng đang líu tíu trên vòm mái ông Thắng dây tô vẽ khá cầu kỳ.
Có nhẽ, nó nhầm mấy bông hoa vẽ trong vòm, ngỡ là hoa thật chăng?

=========================


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 17 tháng 12, 2015

Sự thật về con số 45.000 giáo viên dư thừa


(GDVN) - Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết nghi ngờ con số trên; Tiến sĩ Nguyễn Tùng Lâm nêu lên nguyên nhân..

.
Nhiều năm gần đây, các ngành đào tạo giáo viên ở nhiều trường Đại học, Cao đẳng luôn có chỉ tiêu khá cao. Mới đây, Báo Dân Việt cho biết, theo thống kê của Bộ GD&ĐT, cả nước có hơn 35.000 giáo viên phổ thông dư thừa và  khoảng 10.000 sinh viên sư phạm sắp ra trường không có việc làm.

Mặc dù Bộ GD&ĐT cũng đã cảnh báo thừa nhân lực ngành này từ năm 2013 và yêu cầu giảm chỉ tiêu tuyển sinh, tuy nhiên, việc tự nguyện cắt giảm chỉ tiêu của các trường chẳng được là bao so với thực tế dôi dư ở ngành này.

“Nghịch cảnh” này đang khiến dư luận lo ngại về khả năng lãng phí nguồn nhân lực, tốn kém thời gian, tiền của, công sức của xã hội. 
Cả nước có hơn 35.000 giáo viên phổ thông dư thừa và khoảng 10.000 sinh viên sư phạm sắp ra trường không có việc làm. (Minh họa của vietnamnet.vn)
Nhìn nhận từ thực tế, có thể thấy hầu như các tỉnh thành trong cả nước đều có cơ sở đào tạo ngành nghề sư phạm từ bậc mầm non, tiểu học đến THCS.
Do ngành sư phạm nhận được nhiều ưu đãi hơn so với các ngành học khác trong đó có việc miễn học phí nên số lượng sinh viên, đặc biệt con em vùng nông thôn, theo học rất nhiều. Chính vì thế, lượng cử nhân ngành sư phạm ngày càng đông khiến con số thống kê của Bộ GD&ĐT rất đáng báo động.

Thực tế sinh viên tốt nghiệp ngành sư phạm không xin được việc làm đã diễn ra nhiều năm nay. Nhu cầu tuyển mới để đáp ứng số lượng học sinh tăng hằng năm, bù đắp số lượng giáo viên về hưu không nhiều.
Đối mặt với thực tế này, từ năm 2013 lần đầu tiên Bộ GD&ĐT đã yêu cầu giảm chỉ tiêu đào tạo hệ sư phạm chính quy.

Tháng 8 năm 2014, Bộ GD&ĐT có Quyết định số 2833 về việc tạm dừng tuyển sinh đào tạo từ xa đối với các ngành đào tạo giáo viên.

Đặc biệt, trong yêu cầu đăng ký chỉ tiêu tuyển sinh Cao đẳng, Đại học 2015, Bộ GD&ĐT tiếp tục yêu cầu các trường thực hiện lộ trình giảm chỉ tiêu các ngành sư phạm chính quy năm 2015 so với năm 2014.
Đồng thời có kế hoạch tạm dừng tuyển sinh có thời hạn đào tạo giáo viên trung học. Trong đó, 2 trường Đại học sư phạm lớn trên cả nước được lên kế hoạch giảm 5% chỉ tiêu, các trường khác giảm 10%.

Tuy nhiên, trao đổi với Báo điện tử Giáo dục Việt Nam, dưới góc nhìn của một nhà chuyên môn, GS Nguyễn Minh Thuyết - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội đặt ra câu hỏi: Có thật giáo viên dư thừa nhiều đến như vậy không? Làm thế nào để tránh tình trạng đào tạo dư thừa?

Chất lượng giáo dục Đại học và vẫn chuyện cử nhân ngồi chơi xơi nước

(GDVN) - Rõ ràng việc đào tạo không đáp ứng được nhu cầu thị trường, nhà tuyển dụng luôn yêu cầu kinh nghiệm trong khi các tân cử nhân còn quá “tân” về khoản này.
GS Nguyễn Minh Thuyết chỉ ra rằng, nếu căn cứ vào tổng biên chế giáo viên thì hiện tượng dư thừa là có thật; nhưng căn cứ vào nhu cầu thực tế thì giáo viên chưa chắc đã thừa.

Theo quy định của Bộ GD&ĐT, sĩ số mỗi lớp tối đa chỉ từ 35 đến 40 học sinh. Ở các nước phát triển và ngay ở một số nước Đông Nam Á, mỗi lớp chỉ có từ 20 đến 25 học sinh.

Tuy nhiên, tại TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội một lớp học thường phải ghép đến 50 - 60 học sinh. Nếu chúng ta có đủ trường lớp và có đủ tiền để trả lương cho giáo viên theo chuẩn quốc tế 20 - 25 học sinh/lớp, thậm chí theo chuẩn Việt Nam 35 - 40 học sinh/lớp thì ở các thành phố lớn đang thiếu giáo viên, chứ không phải thừa.

Tình trạng thiếu giáo viên, nhất là giáo viên giàu kinh nghiệm, cũng xảy ra ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.

Trước hết, vì không có nhiều người sẵn sàng về dạy học ở những vùng này, mà nếu có về thì họ cũng không ở lại nhiều năm.

Thứ hai là ở nhiều nơi, giáo viên thường phải dạy lớp ghép, tức là những lớp có học sinh lớp 1, lớp 3, lớp 4… cùng học với nhau. Nếu quỹ biên chế không quá nhỏ và không cào bằng giữa các vùng có điều kiện khác nhau, chắc chắn chúng ta không phải để giáo viên dạy những lớp ghép như vậy, mà ngược lại, phải gửi thêm nhiều giáo viên đến những vùng này.

Tuy nhiên, theo GS Nguyễn Minh Thuyết chuyện thừa thiếu giáo viên hoàn toàn có thể được giải quyết nếu cơ quan dự báo về nguồn nhân lực có mối liên kết chặt chẽ với cơ quan chịu trách nhiệm đào tạo.

Bởi lẽ, hằng năm chúng ta có bao nhiêu giáo viên, dạy ở đâu, dạy ở bậc học nào, lớp nào và có bao nhiêu trẻ em sinh ra mỗi năm, mỗi năm cần bố trí thêm bao nhiêu chỗ học, bao nhiêu giáo viên, các cơ quan này đều nắm được cả.

Những số liệu đã nêu sẽ là căn cứ giúp Bộ GD&ĐT và các trường sư phạm biết mình cần đào tạo bao nhiêu giáo viên cho mỗi môn học. Các lĩnh vực khác thì tôi không nói nhưng riêng nhân lực trong lĩnh vực giáo dục thì hoàn toàn có thể tính toán được” – Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội nhấn mạnh. 

Thạc sỹ, cử nhân thất nghiệp – Vì đâu nên nỗi?

(GDVN) - Đã đến lúc các bậc phụ huynh và các thầy cô trực tiếp giảng dạy phải định hướng rằng, Đại học bây giờ chưa phải là con đường tối ưu nhất cho tương lai.
Nhìn nhận con số lớn 45.000 giáo viên, giáo sinh dư thừa, TS. Nguyễn Tùng Lâm - Chủ tịch Hội Tâm lý giáo dục Hà Nội chỉ ra nguyên nhân rằng:

Thứ nhất, đào tạo của chúng ta không có kế hoạch. Đáng lẽ nhu cầu xã hội phát triển đến đâu thì đào tạo đến đó nhưng chúng ta không đi theo hướng như vậy mà các trường sư phạm đua nhau mở ngày càng nhiều, đào tạo ồ ạt nên mới dẫn đến thừa hàng loạt.

Thứ hai, chúng ta vẫn thiếu những giáo viên có chất lượng. Các trường hiện nay cứ đua nhau chạy theo số lượng mà chưa quan tâm tới chất lượng.

TS. Nguyễn Tùng Lâm nhấn mạnh: “Việc chúng ta căn chuẩn dựa vào tấm bằng Đại học hay Cao đẳng là không đúng vì chất lượng giáo viên có đạt chuẩn hay không mới thực sự quan trọng chứ không phải tấm bằng đó. Vì hiện nay, chúng ta đang cấp bằng một cách bừa bãi nên không đánh giá được chất lượng”.

Muốn giảm thiểu con số này thì trước tiên các trường sư phạm cần giảm số lượng đào tạo, quan tâm nhiều hơn tới chất lượng thậm chí có thể tiến hành đào tạo lại những giáo viên chưa đạt chuẩn. 
Thùy Linh

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Giải mã chiến lược quân sự của Tập Cận Bình


Quan điểm về chiến tranh thông tin của Trung Quốc đứng từ góc nhìn của quốc gia yếu thế hơn, chứ không phải là quốc gia áp đảo hơn về công nghệ. Điều này dẫn tới sự nguy hiểm.
Tháng trước, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vừa loan báo đề cương cải cách quân đội. Theo đó, nước này sẽ cấp tập đột phá trong công cuộc xây dựng quân đội (PLA), hoàn thành trước năm 2020. Những phân tích dưới đây nhằm
Bài viết của tác giả Nguyễn Thế Phương là nghiên cứu viên thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS), Đại học KHXH&NV, ĐHQG TP. HCM sẽ giúp độc giả thấy được phần nào chiến lược của ông Tập Cận Bình.
Chiến tranh thông tin “mang đặc sắc Trung Quốc”
Từ đầu những năm 2000, các sĩ quan và quan chức cấp cao Trung Quốc đã thúc đẩy khái niệm “cuộc cách mạng trong các vấn đề quân sự” (RMA) như là một định hướng xây dựng và hiện đại hoá quân đội Trung Quốc (PLA). Mặc dù chưa bao giờ được định nghĩa rõ ràng, các tính chất của “RMA mang đặc sắc Trung Quốc” được thể hiện thông qua Sách trắng quốc phòng các năm.
Sách trắng quốc phòng Trung Quốc năm 2013 có đề cập tới hai điểm quan trọng giúp định hướng quá trình hiện đại hoá PLA. Thứ nhất là sự trỗi dậy của các mối đe doạ an ninh hàng hải hướng biển; và thứ hai là sự nổi lên của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông (một trong những thành tố quan trọng nhất của RMA). Từ hai điểm này, Trung Quốc đưa ra khái niệm “chiến thắng một cuộc chiến tranh thông tin hoá ở mức độ khu vực”.
Các tranh luận nội bộ PLA về RMA và vai trò của công nghệ thông tin nổi lên mạnh mẽ từ sau chiến dịch “Bão táp sa mạc” tại Iraq, trong đó Mỹ đã tận dụng rất hiệu quả vai trò của tác chiến điện tử.
Chiến trường thông tin hoá như đã được đề cập đã làm lu mờ các khái niệm cũ. Ví dụ, trong chiến tranh thông tin, không có “hậu phương” hay “tiền tuyến”, mà là không gian chiến trường “đa chiều”, tổng hoà của điều kiện tác chiến trên không, trên bộ, trên biển, trong không gian, và tác chiến điện tử trở thành bộ phần không thể thiếu.
Sự thành bại trên chiến trường không chỉ phụ thuộc vào bên nào sở hữu hoả lực mạnh hơn, mà là bên nào phát hiện được đối phương trước, phản ứng nhanh hơn và tấn công chính xác hơn. Hai bên sẽ cạnh tranh nhau về khả năng tình báo cũng như khả năng chỉ huy và kiểm soát.
Cần lưu ý rằng, không giống như Mỹ, quan điểm về chiến tranh thông tin của Trung Quốc đứng từ góc nhìn của quốc gia yếu thế hơn, chứ không phải là quốc gia áp đảo hơn về công nghệ. Điều này dẫn tới sự nguy hiểm của chiến tranh thông tin cấp độ khu vực của Trung Quốc. Lúc này, nó được sử dụng như một đòn tấn công phủ đầu nhắm vào tất cả các căn cứ của đối thủ tại một khu vực tác chiến cụ thể.
Chiến tranh mạng trên Biển Đông
PLA xây dựng học thuyết chiến tranh mạng dựa trên khái niệm có tên gọi là “mạng tác chiến điện tử hỗn hợp” (INEW). Đây là sự kết hợp giữa ba yếu tố bao gồm mạng lưới máy tính (CNOs); tác chiến điện tử (EW) và tấn công quy ước nhằm vô hiệu hoá hệ thống mạng lưới thông tin của đối phương, và tạo ra “điểm mù” trong khả năng chỉ huy kiểm soát, thông tin liên lạc, máy tính, tình báo, trinh sát và giám sát (gọi tắt là C4ISR) của đối thủ. Hoạt động này được tiến hành trên mọi mặt trận, mà quan trọng hơn cả là mặt trận trên môi trường mạng máy tính.
Một cuộc tấn công mạng nhắm vào lực lượng đối phương sẽ được tiến hành trong khoảng thời gian đầu của cuộc chiến. Đánh phủ đầu sẽ khiến cho các loại vũ khí công nghệ cao, cũng như mạng lưới C4ISR của đối thủ bị đứt quãng hay thậm chí là bị phá huỷ. Đạt được sự thống trị về mặt thông tin sẽ giúp cho PLA triển khai nhanh chóng và chiếm chế thượng phong về không quân và hải quân.
Các đơn vị chiến tranh mạng còn thực hiện các nhiệm vụ do thám và thu thập thông tin trong thời bình, với mục đích đa dạng.
Tại Biển Đông, các tranh luận về chiến tranh mạng dường như chưa được chú ý bằng sự phát triển của không quân và hải quân Trung Quốc. Trong trường hợp thực sự có xung đột xảy ra, việc Trung Quốc áp đảo trên môi trường không gian mạng là việc có thể lường trước được.
Cơ sở hạ tầng an ninh mạng của các nước ASEAN vẫn còn yếu và thiếu. Các quốc gia Đông Nam Á có liên quan tới tranh chấp Biển Đông, cũng như các công ty tư nhân đang hoạt động ở khu vực đều là nạn nhân của các cuộc tấn công mạng từ Trung Quốc. Các đơn vị tác chiến mạng của Trung Quốc đã xâm nhập thành công hệ thống mạng khu vực, chủ yếu nhắm vào các cơ quan nhà nước ở Việt Nam hay Philippines thông qua hình thức từ chối dịch vụ (DoS).
Thực tiễn kiểm nghiệm rằng, vũ khí càng hiện đại thì càng dễ bị phong toả. Vai trò của thông tin và tác chiến mạng là quan trọng trong bối cảnh Việt Nam và các nước khác đang tiến hành hiện đại hoá không - hải quân.
Theo VIETNAMNET
Phần nhận xét hiển thị trên trang

ÂM BẢN

Truyện ngắn của Doãn Hồng Giang

Đúng ra chưa qua “bảy bảy bốn mươi chín ngày”, vong còn chưa tụ sau sự biến kinh hoàng “hồn siêu phách lạc”. Vong chưa thể siêu thoát, rong ruổi đi đâu, xuống địa ngục hay lên cõi niết bàn.
May nhờ có những đợt gió heo may nên X mới có thể tới đây. Khi còn ở cõi thế, ngoài việc giúp đỡ người này người khác, chướng nghiệp hầu như X tạo nên không quá nặng nề. Nhờ vậy mới có cuộc trở lại đất này vào một đêm tối trời như đêm nay. Lúc bấy giờ dọc sông gió hun hút thổi, cảnh vật yên ắng. Duy nhất khu nhà của anh đèn đuốc vẫn sáng trưng, tiếng nhạc tưng bừng. Có chuyện chi lạ vậy?
Khi người ta đã về cõi khác, mọi khái niệm về cuộc sống cũ đều thay đổi. Có thể vui biến ra buồn hay ngược lại giống như âm bản hồi ở dương thế X còn võ vẽ biết về nghề ảnh.
Thực tình lúc này anh không hiểu đang xảy ra chuyện gì?
X kéo lại vạt và cài lại khuy cổ áo véc làm bằng giấy bồi màu đen như thuốc súng cho đỡ lạnh. Cơ thể trong suốt còn yếu ớt của anh vẫn run lên. Nhất là khi gặp ánh đèn lade chiếu lên từ mặt đất, hoặc tiếng xe gắn máy bọn trai trẻ nghịch ngợm tháo bỏ ống pô rú rít. Anh định thần nhìn về ngôi nhà một thời mình sinh sống. Qua tán lá lòa xòa X nhìn thấy người đi lại nhộn nhịp, nói cười rầm rĩ. Thoáng có chút tự ái: Không lẽ sự ra đi của mình khiến đám người đó dửng dưng, vô tình và sung sướng đến thế sao?
Đã là vong thì không còn nước mắt, chỉ thấy nhói buốt ở trong lòng..
X nhìn thấy nàng. Nàng vẫn chẳng khác xưa bao nhiêu. Vẫn tay cầm điếu thuốc ve vẩy điệu bộ ra dáng bà chủ. Vẫn khuôn mặt có gò má cao, cặp môi dày thâm thâm và cặp mắt tròn vo vo nằm dưới đôi long mày xênh xếc. Tự nhiên anh có ý nghĩ rất lạ lùng: Còn người này có nét gì gọi là nữ tính đâu? Có gì hấp dẫn đâu mà ngày ấy mình rời bỏ quê nhà lên sống với nàng hơn hai chục năm trời? Hai chục năm ấy ngoài cái nghề thợ mộc bất đắc dĩ, khổ cực, mình chẳng có mấy ngày thảnh thơi. Anh đã có với nàng hai đứa con trai. Thằng lớn thấp dùn dụt, đầu bút thép, đít xê xệ như gà mái vỡ bọng trứng. Thằng bé cao ráo giống mình, nhưng mặt lại không giống. Mặt nó lưỡi cày, mắt dã trắng, môi cong. Chính vì hai đứa này mình không nỡ rời, ở với nàng cho đến khi vết thương cũ tái phát, vợ cũ dưới quê lên đón mình mới trở về nơi chôn rau cắt rốn. Trước đó anh đã kịp lo vợ cho thằng anh.. Có lẽ đám ồn ào này là lo nốt cho thằng em? Không phải thế chứ? Bố chết chưa đủ trăm ngày đã lấy vợ còn gì là đạo hiếu? Hay tôn ti trật tự của dương thế bây giờ đã thay đổi, không còn như trước?
Lòng bàng hoàng kinh hãi và lo sợ cho người thời nay. X chưa vội đáp xuống sân nhà mình. Mà ồn ào thế kia, đèn sáng như vậy có muốn xuống vào lúc này cũng không thể xuống được. X ngả mình lên một cành cây. Một cành cây không hiểu vì sao lại có dáng cong cong như hình cái cáng cứu thương năm nào khi người ta đưa anh từ mặt trận về..
Anh định chờ cho bên dưới yên ắng sẽ bay xuống, tìm hiểu xem sự nhẽ dưới đó hư thực ra sao.
Đêm cuối năm trời không có lấy một vì sao. Gió ngăn ngắt lạnh. Y hệt cái lạnh đêm tiểu đội đặc biệt của anh mò rừng trinh sát trận địa quân địch. Pháo lớn từ MalePo cứ cách mười lăm phút lại như trận mưa lửa xé rách bầu trời. Cuộc đấu pháo hàng năm trời giữa hai bên chưa phân ngã ngũ. Hỏa tiễn Cachiusa của cả hai bên như giàn nỏ thần khổng lồ điểm vào sau mỗi trận đấu pháo làm rung chuyển cả bầu trời và mặt đất. Có cảm tưởng như không còn bất cứ sinh vật nào sống sót được dưới trận mưa thép và lửa. Từng mi li mét một, không chừa một chỗ nào không có sự hiện diện của những mảnh thép chết chóc kinh hoàng gieo rắc khắp nơi.
Vậy mà tiểu đội của anh vẫn tồn tại. Họ sống bằng mì tôm khô, mắm tép cô đặc và khí trời nồng nặc mùi thuốc súng.
Ta và địch chỉ cách nhau trong gang tấc. Nghe cả tiếng ầm ồ, léo nhéo của chúng vang từ vách hầm cách đấy vài ba mét.
Chiến tranh hiện đại bỏ qua những khái niệm, quy chuẩn thông thường. Không hẳn trội về số quân, về binh lực, hỏa lực mà có thể nuốt chửng đối phương như cái đầu nóng, ngu xuẩn và điên rồ của một số kẻ từng nghĩ. Chiến thuật biển người xem ra không mấy kết quả. Quân càng đông thương vong càng nhiều. Ăn nhau ở sự tinh nhuệ về con người và vũ khí. Ăn nhau ở lòng quả cảm và sự thông minh của mỗi chiến binh và quan trọng nhất là ở mưu lược của người chỉ huy, người chịu trách nhiệm với từng tấc đất biên thùy, sinh mệnh của chiến sĩ.
Bây giờ nhớ lại, vong X như thấy vừa mới đây thôi.
Cuộc đời vốn không dài, những chuyện như thế dễ gì quên được?
**
“Tôi sốt li bì. Vết thương bên hông nóng như áp lửa. Thỉnh thoảng một cơn đau lóe lên từ chỗ ấy, cảm giác đau buốt chạy dọc sống lưng nhói đến đỉnh đầu. Cả ngày nửa phần thân thể tôi để trần để dễ thay băng gạc và lau rửa vết thương. Có thể là một mảnh đạn cối hay mìn lá cắm vào chỗ đấy. Người ta đã lấy mảnh đạn đó ra rồi nhưng ngờ rằng nó có chất hóa học nên vết thương chậm lành.
Người tôi như kiệt hết nước, chỉ còn da bọc lấy xương. Có cảm giác nếu châm vào lửa, thân thể này sẽ bùng cháy như vỏ một cây thông. Thứ thông đuôi ngựa mọc hoang dại gần chốt đã cụt ngọn, long gốc nằm chềnh ềnh ngay trước miệng hầm. Lúc đầu chúng tôi định đẩy nó ra xa để dễ ra vào. Một tay lính trẻ măng người Thanh Nghệ bảo cứ để đó, nó tác dụng như một tấm chắn miệng hầm. ( Tôi nhớ hồi đó lính giữ chốt phần nhiều là người Thanh- Nghệ - Tĩnh. Có nhiều lời bàn về chuyện này lắm, nhưng không hiểu vì sao mãi sau này tôi mới rõ ?).
Sau trận đánh bị một tên quân báo phản bội, đơn vị tôi tổn thất khá nhiều. Những đứa bị thương nặng đã chuyển sâu về tuyến sau. Tôi nhẹ hơn nên được chuyển về đây. Lúc đó tôi chưa thông thạo vùng này. Chỉ nghe bảo đó là một làng phần đông người dân tộc, nằm bên một con sông có đến mấy cái tên. Về việc này tôi không hiểu. Sau này ở lâu mới biết con sông nước lúc nào nước cũng đục ngầu, đỏ xậm như đang mùa lũ bởi pháo dội. Nó qua địa danh nào thì gọi tên theo địa danh ấy. Và nữa, nó vốn xanh trong từ ngàn vạn năm rồi, lần đầu tiên bây giờ mới đục ngầu, nước đỏ pha máu như thế..

Đoàn cứu thương tiền phương sau khi lấy mảnh đạn và băng bó cho chúng tôi xong gấp rút chuyển về tuyến trên. Chỉ để lại một hai người cùng dân làng hàng ngày chăm sóc chúng tôi.
Nàng là một trong số các cô gái của đội dân công hỏa tuyến tại chỗ của cái xã heo hút này.
Hàng ngày nàng lau rửa vết thương, tiêm thuốc kháng sinh và nhắc tôi uống thuốc. Kiêm cả việc giặt rũ và nấu nướng phục vụ thương binh.
Nàng không đẹp, quá lứa, nhưng rất tận tình. Tóc nàng búi cao, ban đầu tôi cứ ngỡ nàng là đàn ông. Ngay cả tiếng nói cũng rất giống nam giới.
Tôi hết sốt nóng lại sốt rét. Ký sinh trùng sốt rét thường nhằm khi cơ thể kém sức đề kháng mà hoành hành.
Những lúc như thế, có bao nhiêu mùng mền, bao nhiêu chăn nàng đắp hết cho tôi. Lúc cơn rét cao trào người tôi run lên bần bật. Nàng không biết làm thế nào, quên cả việc ý tứ ôm chặt lấy tôi để tôi đỡ lạnh. Kỳ lạ thay hơi ấm đàn bà, dù đàn bà không đẹp cũng có hiệu nghiệm kì lạ. Cơn sốt từ từ lui đi. Chiếc áo tôi đẫm mồ hôi, thấm cả sang mặt, sang ngực nàng. ( Có người sau này giải thích hiện tượng kì lạ ấy là bởi xuất hiện xung điện do dòng điện sinh học tạo ra ). Nàng có vẻ lúng túng sau những phút như thế. Hai gò má cao của nàng ửng đỏ. Tuy sức còn yếu, không hiểu tại sao lúc đó tôi có cảm giác rất lạ. Thấy nàng gần gũi như một phần thân thể mình. Khái niệm về cái đẹp cũng rất kì quái, thấy nàng đáng yêu, đáng mến làm sao!
Thực ra nàng chỉ làm theo bổn phận của mình. Tôi lại nghĩ khác. Nàng có cần tận tụy, lo lắng đến thế không?
Nàng cẩn thận đút cho tôi từng thìa cháo. Y như hồi tôi còn bé mẹ tôi thường ép mỗi khi tôi ươn người. Tôi cảm động và biết ơn, Còn nàng bước qua một khoảng cách vì vết thương tai quái của tôi khó mà giữ ý tứ mãi được.
Vết thương của tôi kín miệng. Tôi định xin phép nghỉ ít ngày về thăm nhà. Người vợ mới cưới của tôi trước khi lên chốt không hiểu vì sao không thấy lên thăm? Có lẽ đường lên biên giới xe cộ khó khăn. Những người không có nhiệm vụ cần thiết không được vào vùng chiến sự. Cũng có thể người ta giữ kín chuyện này. Bí mật quân sự không phải lúc nào cũng có thể thông báo cho thân nhân nếu không thực sự cần thiết.
Cũng có thể.. Biết bao nhiêu phỏng đoán làm lòng dạ tôi rối bời, xôn xao..
Nàng khuyên tôi ở lại thêm ít ngày cho sức khỏe hồi phục đã. Đi lại lúc này đến người lành lặn còn khó khăn, đừng nói vừa bị thương như tôi. Nghe rất có lý.
Để tôi khuây khỏa, nàng đưa tôi về nhà nàng cách đấy mấy cây số. Nơi mà bây giờ, tôi ngồi đây, trên ngọn cây này trong đêm khuya khoắt mà dưới kia rực sáng ánh đèn..”

***     
“ Một trăm ngày trước. Tại thế. X cảm thụ cuộc sống không như bây giờ. Lúc đó anh gần như phát điên lên.
Dương bản hàng ngày làm anh ngán đến tận cổ. Chao ôi mục tiêu ban đầu thời trai trẻ với cái kết cục hiện tại không thể chấp nhận được.
 Không biết tự lúc nào X bị lôi kéo vào nạn đỏ đen. Ngôi nhà gỗ năm gian chính anh làm thợ cả phải gán vào tay người khác. Ngôi nhà tạm mới được mấy tháng, tự nhiên tự lành nửa ngày bốc cháy đùng đùng. Người ta nghi ngờ là có kẻ phá hoại? Nào mình có ăn ở ác với ai đâu? Hay sự hiện diện của mình ở đất này làm gai mắt một kẻ nào đó?
X đã định về HH, vùng quê ven biển, nơi cha sinh mẹ đẻ ra mình. Lại sợ thiên hạ cho mình là thằng hèn, thấy lúc vợ con khốn khó tìm nước tháo lui. Tuy rằng chả có sự nào ràng buộc, X cũng không thể tùy tiện ra đi. Tuy chẳng đăng ký đăng kèo, cưới xin gì thì nàng cũng đã có hai đứa con với mình. Điều đó còn sâu sắc quan trọng hơn nhiều mọi thủ tục lễ nghi. Rồi những ngày nàng chăm sóc, lo lắng cho mình không dễ gì quên đi hay bạc bẽo cho được..
Sau hội nghị Thành Đô, biên thùy im tiếng súng. Đáng lý ra quân, X về với người vợ cũ. Những tin tức anh nắm được về ả, đã khiến X không muốn trở về. Nghe đâu suốt thời gian chiến sự, ả cặp kè với một gã thủy thủ tàu viễn dương..
 Thập kỷ tám mươi là thập kỉ khốn nạn với nhiều gia đình. Nhưng là khó khăn chung chứ đâu chỉ là nỗi khổ của riêng ả? Từng nghe có gia đình không còn hạt ăn sống người bèn rang mớ ngô tẩm thuốc trừ sâu để “sống chết có nhau, vẹn nghĩa, trọn tình”.

Vậy là X chọn cách ở lại bên bờ sông này sống với người đàn bà quá lứa nhỡ thì là nàng bây giờ.
Con người có thể tránh được con đường không muốn đi, ngôi nhà không muốn ở, nhưng không thể tránh được số phận dành cho mình..
Ở lại cuối cùng không phải là lựa chọn hay.
Có sống gần, ở lâu mới biết lòng người.
Tổ ấm mới nào đã hay?
Nghề thợ mộc cắm cổ đục đẽo suốt ngày không lại được. Cái xóm “con cò” nằm bên bờ suối y thể “xứ u tì quốc”. Buồn và hoang vắng không sao chịu nổi. Không có trò gì giải khuây ngoài trò cờ bạc. Ban đầu X rất dị ứng, nhưng rồi phải theo “phong trào” nếu không muốn bị cô lập.

Một trăm ngày trước.. Một buổi chiều có tốp người lạ mặt ập đến nhà. Nàng đang ghi số đề cho mấy người xã trên. Họ rút thẻ và lập biên bản tại chỗ. Hôm ấy vết thương cũ của X tái phát. ( Đó là vết thương có thêm khi lần thứ hai X quay trở lên “chốt”). Khi tỉnh lại thằng con thứ hai bảo: “ Họ đưa mẹ về công an huyện rồi bố ạ!”. Hôm sau X xuống CA huyện tìm người quen. Không biết họ đi vắng thật hay tránh mặt? Không gặp ai.
Nửa tháng sau thì phiên tòa mở.. Cũng là lúc vợ cũ ở quê và đứa con gái lên đón anh về. Vàng vọt, xanh xao, đi không nổi.. thôi thì cáo chết ba năm quay đầu về núi.
Phần kết của dương bản ấy đến bây giờ X vẫn chưa hiểu nó diễn tiến như thế nào?
Nàng và hai đứa con làm thế nào để qua cầu thoát nạn? Theo như kết luận của tòa với ba năm tù giam, nàng lúc này không thể có mặt ở nhà để lo cưới vợ cho con! Cách nào nhỉ? Lo lót hay được ân xá?  Đúng là cuộc đời nhìn qua âm bản thì không sao có thể biết được. Mọi cái cứ tỏ tỏ, mờ mờ!”
Mới nghĩ được bấy nhiêu điều, vong X đã choáng váng. Đã là vong ít có thói quen nghĩ ngợi, chỉ trông vào sự tinh anh. Nghĩ nữa linh khí sẽ tan hòa vào đám sương đêm lạnh lẽo.
X quyết định không chờ thêm nữa, nhao xuống.
Rạp đám cưới tự nhiên tắt điện. Tiếng la hét hoảng loạn khi có làn gió lạnh ào tới.
Ba bề tối thui. Có giọng khàn khàn như giọng đàn ông:
- Biết rồi, ở đâu cứ ở nguyên đấy!
Một bóng khệnh nệnh bước ra giữa sân quay ra phía ngọn cây gạo chỗ vong vừa đậu. Người đó rì rầm khấn vái hồi lâu. Điện sáng trở lại. Nhưng từ đấy loa đài hỏng không sao chữa được nữa.

Ngày hôm sau cũng vậy.
Có người nói vu vơ:
- Nhà đang có tang, dẫu làm đám cưới cũng không nên bật nhạc, như vậy mới phải phép!

X đã trở lại ngọn cây, nhưng đang là ban ngày nên anh không nghe rõ điều này. Trước mặt, sau lưng anh đang là một âm bản mênh mang. Nếu cựa mạnh, anh sẽ tan như hơi nước đang dập rờn trên đám cỏ bờ sông kia.
Chỉ có tiếng pháo nổ lúc này may ra mới cảm thấy được. Tiếng nổ luôn là nỗi ám ảnh cả mấy kiếp người, nó luôn áp đảo tiếng của con người, tiếng của chim muông hay bất kì thứ tiếng nào khác!

===========






Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhà báo Nguyễn Công Khế, như tôi đã biết



    Hôm trước, có người hỏi mà cũng như trách tôi rằng sao với trường hợp phóng viên Nguyễn Hoài Nam bị báo Thanh Niên sa thải, tôi không có lấy một lời. Đúng là tôi từng làm ở báo Thanh Niên, từng biết Nguyễn Hoài Nam là phóng viên rất giỏi của báo, nhưng thực ra với vụ việc lùm xùm ấy, tôi lại không tường tận, nhất là chính tôi đã nghỉ việc ở đó gần cả năm nay rồi. Cùng cơ quan với nhau nhưng mỗi người mỗi phận, ở bộ phận khác nhau, ít có cơ hội tìm hiểu về nhau, chỉ ráng làm sao đối xử với nhau tốt cũng là mừng lắm. Tôi có nghe chuyện Nam bị trù dập, rất thương anh ấy, nhưng bảo rằng tôi phải lên tiếng thì hơi khó, bởi mình có nắm được mô tê thực chất gì đâu mà bày tỏ này nọ. Nếu Nam đọc được những điều này, tôi nghĩ Nam hiểu tôi nói thực.
    Vào báo Thanh Niên năm 1996, ra khỏi báo đầu năm 2015, tôi có gần 20 năm gắn bó với tờ báo này. Với khả năng, trình độ có hạn, lại cộng thêm bản tính “hung hăng chẳng chừa ai”, tôi suốt đời chỉ làm lính. Phận làm thuê cho nhà nước (báo Thanh Niên là tờ báo của nhà nước), làm được thì làm, không làm được thì nghỉ, ai đối xử thế nào mặc họ, tôi chả lăn tăn. Có lẽ cũng chính vì thế mà dù suốt 20 năm ấy tôi biết ơn báo Thanh Niên đã cho tôi công ăn việc làm, tay làm hàm nhai, có chút thu nhập nuôi sống gia đình, nhưng may mắn là không phải chịu ơn bất cứ cá nhân nào. Nếu được nâng đỡ thế này thế khác như người ta, bây giờ lại khó ăn khó nói. Thiên hạ vẫn nhắc nhở “chả ai cho không ai cái gì”.

    Tháng 5.1996, sau khi trúng tuyển vào báo, tôi được nhận về Ban Văn nghệ, anh Phan Bá Chức làm trưởng ban. Giữa năm 1997, có lẽ ai đó nhận ra sự cẩn thận, chỉn chu của mình, tôi được về Ban Thư ký tòa soạn, do anh Nguyễn Khắc Nhượng đóng chức trưởng ban, anh Nguyễn Quang Thông làm Phó ban. Kể từ đó, tôi miệt mài như anh thợ cạo giấy, làm biên tập viên tới khi đủ tuổi và nhận quyết định nghỉ việc. Gần hai thập niên làm lính, qua hai trào Tổng biên tập là anh Nguyễn Công Khế và anh Nguyễn Quang Thông, chưa kể có một thời gian ngắn “không có vua” chỉ do anh Đặng Thanh Tịnh “Phó tổng biên tập phụ trách”, tôi là kẻ có cũng được mà không có cũng chẳng sao.


    Những ngày qua, trên mạng internet xuất hiện nhiều thông tin về anh Nguyễn Công Khế. Nhiều ý kiến trái chiều, khen chê đủ cả. Dư luận đang đánh giá rất khác nhau về một con người. Điều nguy hiểm là có những thông tin không chính xác (theo như tôi biết) nhưng lại được phổ biến rộng rãi, gây đúng sai, trắng đen lẫn lộn. Và đáng nói nữa là rất nhiều người đã từng hiểu, từng nắm rõ thực chất vấn đề, kể cả từng “chịu ơn” Nguyễn Công Khế (những người dạng này ở báo Thanh Niên hiện nhiều lắm) lại nín thinh, không hề lên tiếng nói ra sự thực khách quan, ngoại trừ anh Nguyễn Quốc Phong, từng là Phó tổng biên tập phụ trách tòa soạn Hà Nội, người đã sát cánh với ông Nguyễn Công Khế nhiều năm trời. Tôi chả dám chê ai, biết đâu người ta có cái lý của riêng mình để ngậm miệng, nhưng thấy buồn cho nhân tình thế thái. Các cụ xưa chả nói rồi “Khi vui thì vỗ tay vào/Đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai”, hình như khá đúng trong vụ này.

    Như trên đã nói, tôi những năm làm công ăn lương ở Thanh Niên chả phải chịu ơn ai, kể cả anh Khế tổng biên tập. Giờ tôi có viết gì đi chăng nữa cũng chả phải để trả ơn bởi có ơn đâu mà trả. Với một người phận lính lác quá bình thường như tôi, anh Khế cũng không cần tôi phải này nọ. Người ta bảo “phù thịnh chứ không phù suy”, tôi không phù ai, chỉ nói ra những điều mình biết. Biết thế nào, nói thế ấy, không thêm thắt, bịa đặt.

    Những bài “đánh” nhà báo Nguyễn Công Khế trên mạng, tôi có đọc, thậm chí đọc kỹ. Họ bảo rằng ông Nguyễn Công Khế làm giàu từ mồ hôi nước mắt cán bộ công nhân viên, phóng viên báo Thanh Niên, lừa “táng tận lương tâm” với đội ngũ của tờ báo này. Nghe rất kinh. Ai không biết, thì có thể tin đó là thật hoặc có thể hồ nghi. Là người ở báo Thanh Niên suốt thời ông Khế làm Tổng biên tập, tôi dám chắc đó là nói lấy được với ý đồ xấu. Nhân vô thập toàn, ông Khế không phải người toàn diện, được ai cũng yêu cũng quý. Có người ghét, thậm chí thù ông bởi ông đụng chạm đến quyền lợi của họ (tôi xin phép không kể tên ra đây), nhưng nếu nói ông cựu tổng biên tập ấy “táng tận lương tâm” với tập thể dưới quyền, có khó gì đâu mà không kiểm chứng được. Bây giờ ông Khế đối với những người đã và đang làm ở báo Thanh Niên không còn quyền hành gì nữa, họ đâu có ngại hoặc sợ nếu phải nói về ông ấy. Cũng như tôi, chẳng bị ràng buộc gì. Tôi tin một cách rất chủ quan nhưng có cơ sở rằng, nếu hỏi những con người “bị đối xử tàn tệ” ấy nghĩ về ông Khế thế nào, hầu hết đều sẽ nói biết ơn ông ấy. Chính tôi nữa, trong cái ơn chung này, cũng giống như mọi người, chịu ơn ông Khế. Chả có lý gì để ai đó nói xấu về con người đã từng tốt với mình, chăm lo cho mình bằng công ăn việc làm, chỉ trừ trường hợp mình là kẻ vô ơn.

    Hồi tôi vào báo Thanh Niên, nhân sự lúc đó tất tần tật kể từ tổng biên tập đến chị Hồng, chị Nhụy lao công cũng chỉ vỏn vẹn hơn 50 người, tính luôn cả các văn phòng địa phương. Rồi cứ nhiều dần lên, tới lúc ông Khế rời báo là khoảng 450 người, gấp 9 lần. Lo chèo chống, nuôi cả bộ máy ngày càng đông đảo, chừng ấy con người (và tất nhiên còn bao nhiêu miệng ăn kèm theo ở gia đình họ nữa) chả phải chuyện thường. Tất nhiên không phải công lao chỉ mình ông Khế, nhưng tôi dám chắc mỗi người ở báo được như bây giờ có công rất lớn của ông. Những người viết bài đánh ông họ chả dại gì mà đi hỏi nhân chứng ở báo Thanh Niên.

    Ngay cả vụ Dự án khu nhà ở của cán bộ, phóng viên, nhân viên báo Thanh Niên do Ban biên tập mà đứng đầu là ông Khế chủ trương, những bài “đánh” kia có vẻ dựa vào điều này thứ nọ để bảo rằng ông Khế chiếm đoạt, cướp đoạt tiền của người đóng góp mua suất đất. Tôi lúc ấy không được xét mua đất bởi đã có nhà rồi, nhưng những người bạn tôi, chị Trương Nguyễn Mỹ Hạnh, chị Võ Thị Tạo chẳng hạn, có tên trong danh sách, đã đóng tiền mấy lần, từng rất bực bội, khó chịu do dự án kéo dài, nhưng rồi cuối cùng ai cũng được trả tiền và đền bù thỏa đáng. Chả ai hỏi những người ấy bị thiệt thòi gì, thiệt thòi bao nhiêu, dại gì mà hỏi bởi không ai thiệt cả.

    Việc lập ra Công ty cổ phần Truyền thông Thanh Niên, lúc đầu sôi nổi thế nào, ai ở báo Thanh Niên cũng rõ. Sau do quá trình làm ăn, do quan hệ lỏng dần, báo Thanh Niên rút dần và mở công ty riêng khác. Đó là chuyện bình thường. Nhưng bảo ông Khế chiếm đoạt Công ty tập đoàn truyền thông Thanh Niên, chiếm đoạt vốn liếng của cổ đông, thì không dễ thế đâu. Ban Biên tập báo Thanh Niên bây giờ, cả những cán bộ phóng viên bây giờ, họ có nể ông Khế mấy đi chăng nữa, cũng dễ gì để ông ấy chiếm. Không làm ăn được với nhau thì thôi, chứ làm sao chiếm được của nhau. Ngay chính tôi, hồi công ty mới mở cũng hào hứng vay tiền mua cổ phần. Tôi nghỉ việc, giờ cổ phần của tôi vẫn còn đó, cổ phiếu vẫn của tôi, lãi hằng năm vẫn có, nếu tôi muốn bán cổ phần vẫn có người mua, chả ai chiếm đoạt cả.

    Cách đối xử của ông Nguyễn Công Khế với cấp dưới, mỗi người mỗi kiểu. Ở báo Thanh Niên, nhiều, rất nhiều người được ông quan tâm, nâng đỡ, bồi dưỡng, sắp đặt vào vị trí này nọ. Tôi nói không ngoa, hầu hết bộ máy lãnh đạo báo Thanh Niên bây giờ phải chịu ơn ông Khế về chuyện đó. Tất nhiên không phải tất cả, thậm chí có người mai phục kiểu Câu Tiễn chờ ngày quật ông, có những người bị ông ấy trừng trị thì ghét ra mặt. Nhiều người trong số ấy bây giờ ăn nên làm ra, phú quý giàu sang, địa vị… nhưng họ quên ông Khế hoặc cố tình lờ đi.

    Hồi ông còn đương chức, chắc khá nhiều cán bộ phóng viên của báo không đồng tình với việc ông quá trọng dụng anh Hoàng Hải Vân. Nói cho công bằng, anh Sánh (HHV) là nhà báo có tài, rất giỏi Theo tôi, báo Thanh niên có 3 người giỏi nghề nhất, là anh Sánh, Đỗ Hùng, và ông Khế), nhưng ông Khế tin quá, giao cho quyền nhiều quá, mà cái gì thái quá cũng đều không hay, dẫn đến những tai hại. Tôi nghĩ có lẽ ông Khế ngẫm nghĩ nhiều về trường hợp này.

    Hồi nhà báo Nguyễn Việt Chiến viết về vụ PMU 18, khi thấy nguy cơ Chiến có thể bị bắt, ông Khế rất thương Chiến nhưng biết không thể cứu được. Tôi nhớ hồi tháng 3.2008, Chiến vào Sài Gòn, tôi là người gặp đầu tiên. Hai đứa ngồi trò chuyện ngoài hành lang lầu 3, Chiến (hơn anh Khế mấy tuổi) bảo Khế nó biết thế nào tao cũng bị bắt nên nó mua vé máy bay cho tao vào, cho đi đây đi đó Đà Lạt, Phan Thiết thỏa thích cho đỡ buồn, kẻo mai vào tù chả biết khi nào ra. Chiến còn nói, đó là cách cư xử của tay hảo hán, tao chịu Khế chỗ đó, mày ạ (ai không tin cứ hỏi nhà thơ Nguyễn Việt Chiến).

    Với tôi, ông Khế chỉ coi như mọi tên lính khác, tôi cũng chả hề muốn ông phải để ý gì cá nhân mình. Tính tôi thẳng, gặp cái gì không nên không phải là bộp luôn. Trong một buổi họp toàn cơ quan cuối năm 2006, giữa văn võ bá quan, tôi chê thẳng thừng báo cáo của Ban Biên tập là tô hồng, giáo điều, chưa đi vào thực chất, nói như thế thì ai chả nói được. Có người sầm mặt xuống, còn ông Khế đứng lên cảm ơn tôi, nói “chúng tôi chân thành cảm ơn anh Thông đã góp ý, chúng tôi sẽ sửa chữa, rút kinh nghiệm để làm tốt hơn”. Giờ giải lao, ông còn ra hành lang bắt tay tôi và bảo “cơ quan rất cần những người thẳng thắn như ông”.

    Tôi hay viết blog, đụng chạm này nọ. Cấp chủ quản (Trung ương Đoàn) phàn nàn, không ít vị lãnh đạo đe nẹt, thậm chí bực bội. Anh Đặng Thanh Tịnh chỉ cười “chúng nó bắt mày có ngày”. Riêng ông Khế lần nào gặp tôi cũng bảo “Tôi tôn trọng những suy nghĩ, quan điểm cá nhân của ông, tôi không cấm ông, ông cứ viết thế nào cho phải thì thôi. Cá nhân tôi sẽ bảo vệ ông”. Vì vậy tôi cứ viết. Khi ông Khế bị mất chức Tổng biên tập được một thời gian thì tôi cũng buộc phải đóng blog bởi chỉ có 2 lựa chọn: hoặc làm thì đừng viết, hoặc viết thì thôi làm. Không ai trong lãnh đạo cơ quan ra mặt cấm nhưng lệnh từ cấp trên là vậy. Không còn ai bảo vệ tôi nữa.

    Một người như ông Khế, đương nhiên là lắm kẻ thù, ganh ghét. Nhưng những gì tôi biết, chiêm quan, tận mục, tôi cho rằng người yêu ông, biết ơn ông, nể trọng ông vẫn nhiều hơn.

Nguyễn Thông

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Quan chức cấp cao Trung Quốc bị bắn chết ở Tân Cương




(Tin tức 24h) - Một quan chức cấp cao ở Trung Quốc đã thiệt mạng trong một cuộc bố ráp vào “hang ổ của những kẻ khủng bố” tại khu vực Tân Cương

Theo Nhân dân Nhật báo của Trung Quốc hôm 12/12, ông Maimaitijiang Tuohuniyazi, người Duy Ngô Nhĩ, phó cảnh sát vùng Aksu thuộc tỉnh Tân Cương gần với biên giới với Cộng hòa Kyrgyzstan, đã bị giết chết khi đang làm nhiệm vụ.
“Để cứu một người dân bị bọn khủng bố bắt cóc, ông Tuohuniyaz lao mình vào hang ổ của chúng và đã hy sinh” - tờ báo viết.
Ông Meng Jianzhu, giám đốc an ninh quốc gia Trung Quốc đang ở thủ phủ Urumqi, đã chia buồn cùng vợ ông Tuohuniyaz và khen ngợi ông Tuohuniyaz là một người dũng cảm quên mình. Ông Meng nói rằng trong năm qua, các lực lượng an ninh đã thành công trong việc trấn áp khủng bố và ngăn chặn “hơn 98% âm mưu khủng bố”.
Liên quan đến tình hình Tân Cương, cách đây không lâu, ngày 20/11, Trung Quốc tuyên bố lực lượng an ninh nước này đã tiêu diệt 28 thành viên một nhóm “khủng bố” thực hiện cuộc tấn công làm chết 16 người tại mỏ than hồi tháng 9/2015 sau 56 ngày truy lùng.
  Quan chuc cap cao Trung Quoc bi ban chet o Tan Cuong
 Lực lượng an ninh Trung Quốc tại khu vực Tân Cương. Ảnh: Reuters
  
Tờ báo chính thức của quân đội Trung Quốc PLA Daily cho biết một đội cảnh sát đặc nhiệm trang bị vũ khí đã theo dõi và dồn những kẻ tấn công vào ngọn núi “như đại bàng phát hiện con mồi”.
PLA Daily dẫn lời một quan chức cao cấp kể rằng lực lượng đặc biệt đã sử dụng lựu đạn làm mù đối phương tạm thời và hơi cay để buộc những kẻ tấn công rời khỏi chỗ ẩn nấp nhưng không thành. Cuối cùng, họ đã “sử dụng súng phun lửa” - loại vũ khí có tính sát thương cao. Theo tờ báo, hơn 10 kẻ tấn công trang bị nhiều dao trên người chạy ra và cuối cùng đã bị “tiêu diệt hoàn toàn”.
Chính phủ Trung Quốc tuyên bố họ đang đối mặt mối đe dọa nghiêm trọng từ các chiến binh Hồi giáo cực đoan và ly khai ở khu vực Tân Cương giàu năng lượng cận kề Trung Á, nơi hàng trăm người chết vì bạo lực trong những năm gần đây.
Trong khi đó, các tổ chức nhân quyền tố Bắc Kinh chưa bao giờ đưa ra được bằng chứng thuyết phục về sự tồn tại của nhóm chiến binh câu kết chống chính phủ. Theo lập luận của những nhà nhân quyền, phần lớn sự bất ổn ở Trung Quốc bắt nguồn từ sự đàn áp của chính quyền đối với nền văn hóa và tôn giáo của người Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ sống ở Tân Cương.
Bắc Kinh đã kịch liệt phủ nhận những cáo buộc trên. Tuy nhiên, việc kiểm tra độc lập về tình hình ở Tân Cương rất khó do chính phủ kiểm soát chặt chẽ các chuyến thăm của phóng viên nước ngoài.
Reuters bình luận các quan chức cấp cao ở Trung Quốc đang ngày càng tỏ ra thách thức an ninh ở Tân Cương và biến nơi đây thành mặt trận trong cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố. Tuy nhiên, các nước phương Tây tỏ vẻ không hề muốn hợp tác trong chiến dịch “chống khủng bố” của Bắc Kinh và lo ngại vi phạm nhân quyền.
100 kẻ bịt mặt tấn công cơ quan chính quyền Nội Mông
Theo Đài phát thanh quốc tế CRI của Trung Quốc, vụ việc xảy ra tại trạm kiểm soát an ninh Malianjing, huyện Ejin Banner, Nội Mông lúc 15h30 chiều 6/12.
Chen Tiejun, phó trưởng huyện Ejin Banner, cho biết nhóm người này đeo mặt nạ, mang theo gậy gộc và đá. Chúng xông vào trạm an ninh, cắt đứt nguồn điện, phá hủy nhiều thiết bị và phun hơi cay vào cảnh sát.
Băng nhóm còn bắt cóc một số nhân viên an ninh, trói tay và bỏ họ lại trên sa mạc Gobi trong nhiệt độ dưới 0 độ C. Sau đó, chúng quay lại trạm để lấy điện thoại, quần áo và tiền. Khi rời trạm, chúng cắt đứt mạng lưới thông tin liên lạc, sử dụng hai xe tải để đi phá hủy các phương tiện, xe của cảnh sát trong trạm và các khu cảnh sát gần đó.
13 người bị thương và 11 chiếc xe cảnh sát bị phá hủy sau vụ việc. Cảnh sát đang truy lùng các nghi phạm.
Tú Nhi/ Đất Việt (Tổng hợp)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

THEO THỜI BÁO HOÀN CẦU, TRANG DAILY NK MỚI ĐÂY ĐƯA TIN CHÍNH PHỦ TRIỀU TIÊN ĐÃ BẮT GIỮ HƠN 100 HOA KIỀU SỐNG TẠI BÌNH NHƯỠNG VÀ CÁC NƠI KHÁC VỚI CÁO BUỘC "HOẠT ĐỘNG GIÁN ĐIỆP".


Thông tin này được tờ Kukmin Ilbo, đài truyền hình MBN cùng nhiều phương tiện truyền thông Hàn Quốc đăng tải hôm qua (15/12), 3 ngày sau vụ ban nhạc nữ Triều Tiên Moranbong hủy diễn ở Trung Quốc và bỏ về bất ngờ.
Đây là lần thứ hai trong vòng 3 tháng qua những thông tin tương tự xuất hiện trên báo chí. Lần gần đây nhất thông tin Triều Tiên bắt Hoa kiều được tung ra là sau khi Tổng thống Hàn Quốc Park Geun Hye tới dự lễ duyệt binh của Trung Quốc hồi tháng 9.
Khi đó, hãng thông tấn Hàn Quốc Yonhap, đài truyền hình KBS, kênh News1... cũng dẫn lại thông tin trên tờ Tuần san Á Châu của Hồng Kông nói rằng hơn 100 Hoa kiều bị Bình Nhưỡng bắt giữ do làm gián điệp, làm lộ hình ảnh ra nước ngoài, chuyển tiền phi pháp...
Một nguồn tin giấu tên từ Triều Tiên nói với Thời báo Hoàn Cầu rằng đó là những thông tin thất thiệt, không thể xảy ra.

Ban nhạc nữ Triều Tiên Moranbong tại Bắc Kinh hôm 10/12 để chuẩn bị cho các buổi biểu diễn, nhưng đã bất ngờ về nước 2 ngày sau đó.
Ban nhạc nữ Triều Tiên Moranbong tại Bắc Kinh hôm 10/12 để chuẩn bị cho các buổi biểu diễn, nhưng đã bất ngờ về nước 2 ngày sau đó.
Theo tờ Chosun Ilbo (Hàn Quốc), trang Daily NK dẫn lời "nguồn tin giấu tên ở tỉnh Pyongan Nam, Triều Tiên" tiết lộ Bộ bảo vệ an ninh quốc gia nước này đã triển khai kiểm tra đối với Hoa kiều trên toàn quốc và bắt giữ hơn 100 người để thẩm vấn.
Theo nguồn tin, những người bị bắt có họ hàng, con cháu ở Trung Quốc và bị cơ quan an ninh Triều Tiên bí mật theo dõi liên lạc giữa đôi bên cũng như kiểm tra thư tín.
Nguồn tin trên nói với Daily NK rằng những người bị bắt rất có khả năng là "gián điệp hai mang".
Cũng theo Daily NK, "một nguồn tin giấu tên khác ở Triều Tiên" nói rằng ý kiến được lan truyền nhiều thời gian qua là "cơ quan an ninh Triều Tiên bắt giữ Hoa kiều nhằm trả đũa việc quan hệ Trung-Hàn lên cao".
Thậm chí, còn có thông tin nói rằng "Triều Tiên tiến hành giám sát, theo dõi Đại sứ Trung Quốc và bị Bắc Kinh phát hiện".
Trước những thông tin trên, nhà nghiên cứu Lữ Siêu thuộc Viện khoa học xã hội Liêu Ninh, Trung Quốc bình luận trên tờ Hoàn Cầu rằng các thông tin của trang Daily NK không có căn cứ thực tế nào.
Theo ông Lữ, đây là trang mạng chuyên về tình hình Triều Tiên của những người Triều Tiên tị nạn tại Hàn Quốc và đa phần là các thông tin "mang tính truyền tai, vỉa hè", không có những báo cáo khách quan, chủ yếu nhằm mục đích làm xấu hình ảnh của Bình Nhưỡng.
Lữ Siêu cho biết: "Tổng số Hoa kiều sống tại Triều Tiên vào khoảng hơn 10.000, nhiều người hoạt động kinh doanh buôn bán, qua lại thường xuyên giữa Trung-Triều.
Việc bắt giữ 100 người, nếu có thực, thì là tỷ lệ tương đối lớn. Một hành động nhằm vào cộng đồng người Hoa như vậy khó có khả năng xảy ra."
Một học giả Trung Quốc giấu tên trả lời phỏng vấn của Hoàn Cầu cũng nhận định các thông tin mà truyền thông Hàn Quốc đăng tải là tin giả, không đáng tin cậy.
Theo học giả này: "Nhiều khả năng có thế lực muốn nhân vụ Moranbong bỏ diễn ở Trung Quốc để 'thêm mắm thêm muối' vào vấn đề quan hệ Trung-Triều."

Ủy viên thường vụ Bộ chính trị Trung Quốc Lưu Vân Sơn (trái) cùng lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un dự lễ duyệt binh ở Bình Nhưỡng ngày 10/10, bước đầu cải thiện quan hệ Trung-Triều. Ảnh: AP
Ủy viên thường vụ Bộ chính trị Trung Quốc Lưu Vân Sơn (trái) cùng lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un dự lễ duyệt binh ở Bình Nhưỡng ngày 10/10, bước đầu cải thiện quan hệ Trung-Triều. Ảnh: AP
Hướng giải quyết cho vấn đề Trung-Triều
Hôm 12/12 vừa qua, ban nhạc Moranbong đã bất ngờ ra sân bay trở về Triều Tiên, khi chỉ còn 4 tiếng là tới chương trình biểu diễn trong 3 ngày (12-14/12) tại Đại kịch viện quốc gia Bắc Kinh, Trung Quốc.
Vụ việc một lần nữa dấy lên mối nghi ngờ về mức độ rạn nứt trong quan hệ Trung-Triều thời gian qua, đặc biệt sau khi nhà lãnh đạo Kim Jong Un bỏ qua lập trường của Bắc Kinh và tuyên bố "sẵn sàng sử dụng bom khinh khí để bảo vệ an ninh và tôn nghiêm quốc gia".
Phát biểu của ông Kim cùng vụ Moranbong thậm chí được một số chuyên gia Trung Quốc bình luận là "cắt đứt con đường cải thiện quan hệ với Bắc Kinh".
Dù vậy, đứng từ góc độ của Trung Quốc, nước này vẫn cần Triều Tiên đóng vai trò gây sức ép lên Mỹ-Nhật-Hàn tại Đông Bắc Á để đối phó với chiến lược "xoay trục châu Á" của Washington.
Tuy nhiên, theo các học giả Trung Quốc, "bậc thang" để cải thiện quan hệ song phương bắt buộc phải do Bình Nhưỡng đưa ra và lựa chọn tốt nhất trong giai đoạn phức tạp hiện tại chính là việc nhà lãnh đạo Kim đích thân thực hiện chuyến công du Trung Quốc.

Phần nhận xét hiển thị trên trang