Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2015

Một lá thư chân thành của người Việt Nam:

'TQ nên chấp nhận đàm phán Hoàng Sa'


Image copyrightEPA
Image captionTác giả kiến nghị lãnh đạo Trung Quốc chấp nhận 'đàm phán' về vấn đề Hoàng Sa với Việt Nam, một quần đảo mà TQ đã tấn chiếm từ năm 1974 từ tay chính quyền VNCH.
Tôi hân hạnh gửi đến ông Tập Cận Bình lá thư ngỏ này với lòng kính trọng lớn về sự dũng cảm và kiên quyết cùng những thành tựu quan trọng mà ông với tư cách Chủ tịch nước, Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc đã giành được trong công cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ông.
Tuy nhiên, tôi chưa thật tường minh về quan điểm của ông trong quan hệ đối với Việt Nam – một vấn đề hệ trọng của cả hai nước chúng ta – cùng những cách thức mà ông chủ trương để ra khỏi tình trạng hiện nay mà thực tế không phải là “ láng giềng hữu nghị “, với những tranh chấp và xung đột kéo dài, những tuyên truyền cáo buộc và phủ định lẫn nhau.
Vì vậy mà có lá thư này và tôi hy vọng nó sẽ được đặt trên bàn làm việc của ông.
Việt Nam và Trung Quốc là những nước láng giềng; phong tục, văn hóa nhiều điểm tương đồng. Nhưng bởi trong lịch sử đã có nhiều cuộc xâm lược từ phía Bắc xuống nên không ít người cho rằng, có một mối thù truyền kiếp giữa hai nước. Tôi không cho như vậy. Mối thù truyền kiếp (mối thù máu) luôn có nguồn gốc từ mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn tôn giáo, xung đột văn hóa, rất khó hóa giải giữa các quốc gia như chúng ta đều biết.
Nhân dân hai nước Việt Nam và Trung Quốc không có những mâu thuẫn ấy, hàng ngàn năm nay giao lưu, giao thương qua lại bình thường, và do đó làm dầy thêm sự hiểu biết và tương trợ lẫn nhau. Chúng ta thậm chí còn có những quan hệ hơn thế khi không ít dòng tộc Việt Nam đến từ phía Bắc, (ông ngoại tôi cũng đến từ Trung Quốc). Chiến tranh thực tế là do những tham vọng của tầng lớp thống trị, như Chủ tịch Mao Trạch Đông từng nói.
Trung Quốc đã có sự giúp đỡ, ủng hộ to lớn cho Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước trong khoảng 30 năm của lịch sử cận đại. Người Việt Nam đã từng rất quý trọng Trung Quốc. Trong một cuộc khảo sát hẹp ở Hà nội vào năm 1964, có đến hơn 80% người Việt Nam có quan điểm rất tích cực về Trung Quốc. Nhưng nếu nhìn vào những thời điểm cụ thể ấy mà cho rằng dòng chảy quan hệ giữa hai nước trong mấy chục năm qua “cơ bản” là hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau thì không chính xác, cần phải thẳng thắn nhìn nhận như vậy.

Bất chấp phản ứng

Một cuộc thăm dò mới đây của hãng Pew (Hoa Kỳ) đưa ra một kết qủa hoàn toàn ngược lại: hơn 80% người Việt Nam không thích Trung Quốc. Một cuộc thăm dò khác vào năm 2011 cho kết quả tệ hơn: 92% .
Tại sao? Trong rất nhiều nguyên nhân, có một nguyên nhân quan trọng: người Trung Hoa không hiểu văn hóa ứng xử của người Việt. Có lẽ vì là một nước lớn - lớn nhất thế giới - luôn coi mình là trung tâm của vũ trụ, lại đang “trỗi dậy” đứng đầu thiên hạ, người Trung Quốc hành xử quyết đoán, áp đặt, bất chấp; thích gì thì nói, thích gì thì làm, không cần biết điều đó sẽ tạo nên những hiệu ứng/ phản ứng gì.
Tôi xin dẫn ra đây những câu chữ từng đăng tải trên một tờ báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong suốt những năm vừa qua. Tờ báo này từng mỉa mai “cũ nát thế kia mà cũng đòi...” khi một hạm đội nhỏ tàu chiến Việt Nam được mời đến thăm Trung Quốc bảy năm trước đây. Nhưng lại viết “hung hăng muốn kiểm soát Biển Đông” khi hai năm sau đó, Hải quân Việt Nam đặt mua tàu chiến mới. Tờ báo này từng không chỉ một lần đăng tin tức về các kế hoạch đánh chiếm Việt Nam với những phương án tỉ mỉ “đã được lãnh đạo thông qua”, thậm chí với thời điểm cụ thể.
Trong khi đó lại bịa đặt “Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (nêu ra một cái tên không có thực) tuyên bố sẽ đánh thẳng đến Bắc Kinh”.
Sự nhẫn nhịn trong văn hóa ứng xử của người Việt khiến tờ báo này không chỉ một lần viết: “Việt Nam đã nhảy vào lòng Mỹ, Nhật, là kẻ ngông cuồng nhất ở Đông Nam Á chống Trung Quốc...”.
Và khi soi lại lịch sử, họ khinh mạn nói về cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam thế này: “Trung Quốc đã cầm tay dắt Việt Nam từ núi rừng âm u về Thủ đô Hà Nội”, vân vân và nhiều lắm. Chỉ xin dẫn ra một vài. Chắc ở cương vị của ông, ông không có điều kiện biết đến những sự hàm hồ, diễu cợt ngạo mạn ấy.

Sự thực thế nào?

Image copyrightelvis
Image captionTheo tác giả, cố lãnh đạo Trung Quốc, ông Đặng Tiểu Bình từng 'thừa nhận' có sự tranh chấp và nói việc 'đàm phán' nên rời đến thời điểm thích hợp.
Người Trung Quốc sẽ nghĩ thế nào trước sự tuyên truyền như vậy? Có lẽ tờ báo trên (và không ít cơ quan truyền thông khác của Trung Quốc) cho rằng càng làm già Việt Nam càng ngán ngại run sợ. Thật là một sự nhầm lẫn tai hại.
Nhân dịp ông sắp sang thăm Việt Nam, mà tin cho hay có thể chỉ trong một đôi tháng nữa, tôi xin được kiến nghị với ông một vấn đề. Đó là sự cần thiết phải có đàm phán giữa hai nước chúng ta (Việt - Trung) về quần đảo Hoàng Sa.
Cả hai bên Việt Nam và Trung Quốc đều nhiều lần tuyên bố có chủ quyền ở đây và đưa ra các bằng chứng lịch sử hỗ trợ cho tuyên bố của mình. Tuy nhiên, do Trung Quốc đang chiếm giữ quần đảo này, Trung Quốc cự tuyệt đàm phán, tuyên bố không có tranh chấp ở đây.
Sự thực thế nào? Vào năm 1978, Ông Đặng Tiểu Bình từng thừa nhận có sự tranh chấp, bằng cách nói rằng việc đàm phán nên rời đến thời điểm thích hợp, khi Việt Nam đưa ra yêu cầu này.
Sự thực thế nào? Năm 2014, khi có sự kiện giàn khoan Hải Dương - 981 đặt trong vùng nước của quần đảo này (cũng đồng thời đặt trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam), Trung Quốc đã cho lưu hành tại Liên Hợp Quốc - cũng có nghĩa là sự thừa nhận có sự tranh chấp – một tài liệu nêu ra những bằng chứng về chủ quyền của mình.
Sự thực thế nào? Nếu hỏi về tính lịch sử thì hàng ngàn năm nay Hoàng Sa là ngư trường truyền thống, không hề bị tranh chấp của ngư dân Việt Nam cho đến gần đây.
Sự thực thế nào? Trong thế kỷ XIX, triều đình Nhà Nguyễn của Việt Nam đã thiết lập quyền cai trị ở đây bằng cách thành lập các đội dân binh mang tên Hoàng Sa để quản lý và khai thác khu vực này, trong khi Trung Quốc cho đến tận năm 1974 mới thiết lập chủ quyền Hoàng Sa bằng cách dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo từ tay quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Vì sao nên đàm?

Sự thực là như thế nhưng vấn đề là trong những năm gần đây, để khẳng định chủ quyền thuộc về mình, Trung Quốc đã luôn luôn có những hành động lấn lướt và áp bức, bóc lột ngư dân Việt Nam hành nghề trong vùng biển này: xua đuổi, đánh đắm thuyền, tịch thu hải sản và luới cụ của ngư dân, bắt giữ người yêu cầu nộp tiền phạt…
Những hành động ấy hoàn toàn trái với khẩu hiệu hai bên đang giương lên: “láng giềng hữu nghị”, “láng giềng tốt, bạn bè tốt”. Tôi muốn lưu ý là 70% ngư dân miền Trung Việt nam và gia đình họ sinh sống dựa vào nghề biển và cũng chừng ấy phần trăm phụ thuộc vào ngư trường Hoàng Sa.
Chấp nhận đàm phán vấn đề Hoàng Sa có thể đưa đến một điều bất lợi cho Trung Quốc. Chân lý vốn thuộc về mình như Trung Quốc chứng tỏ, chấp nhận đàm phán nghĩa là chấp nhận chân lý “có vấn đề”.
Nhưng có ba điều lợi: Trước thiên hạ, Trung Quốc được hiểu là nước lớn có thiện chí, sẵn sàng thảo luận; Trung Quốc không tránh né và đây là cơ hội để Trung Quốc trình bày tính pháp lý của mình; Trung Quốc luôn có quan hệ tốt, có tình hữu nghị dựa trên rất nhiều sự tương đồng như Trung Quốc vẫn tuyên bố.
Đối với cả hai nước, bước vào đàm phán có nghĩa là giảm căng thẳng, nghĩa là sử dụng các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, tuân thủ Công ước quốc tế về Luật biển mà hai bên thừa nhận, và sẽ được quốc tế ủng hộ.
Đàm phán có thể có bên được bên thua, và cũng có thể dẫn đến cả hai bên cùng thắng bởi vì trong đàm phán còn có thương lượng, mà thương lượng là sự nhân nhượng lẫn nhau trên cơ sở hiểu biết, hợp tình hợp lý, các bên đều có thể chấp nhận.
Được biết ông đang nóng lòng trông đợi chuyến thăm Việt Nam. Tôi cũng vậy, tôi cũng nóng lòng chờ đón chuyến thăm của ông và đặc biệt quyết định của ông.
Bài viết thể hiện văn phong và phản ánh quan điểm riêng của tác giả, nguyên Tổng thư ký, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt - Trung, một nhà nghiên cứu và phân tích chính trị, bang giao Trung - Việt đang sống ở Việt Nam.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

VIỆT NAM CẦN HỌC GÌ TỪ QUÂN SỰ NHẬT?

VIỆT NAM CẦN HỌC GÌ TỪ QUÂN SỰ NHẬT?

Trần Vũ (Texas, Hoa Kỳ)
Đô đốc Togo trên chiến hạm Misaka trong trận Tsushima năm 1903.
Đô đốc Togo trên chiến hạm Misaka trong trận Tsushima năm 1903.
Các sử gia liệt kê bốn nguyên nhân thành công của Nhật Bản là: Quyết tâm canh tân từ thượng tầng; Chiến lược thích ứng; Khả năng tiếp thu và vận dụng kỹ thuật Tây phương và Bản sắc ái quốc, kỷ luật và tính hiếu kỳ của dân tộc Nhật làm điểm tựa cho Minh Trị. Trong bốn nguyên nhân thành công kể trên, dân Việt có thể tự hào sở hữu hai thành tố: Khả năng học tập rồi áp dụng kỹ thuật Tây phương và bản sắc ái quốc cùng tính hiếu kỳ du nhập những đổi mới.
Còn kỷ luật? Kỷ luật hay không là do kỷ cương nhà nước. Muốn một dân tộc kỷ luật thì nhà nước phải kỷ luật. Muốn một dân tộc hùng cường thì nhà nước phải có hùng khí. Yếu kém quyết tâm và yếu kém kỷ cương ở thượng tầng quốc gia Việt Nam là nguyên nhân chính làm chậm phát triển quốc gia này.
Tự cường hay khước từ ý tưởng?
Tể tướng Otto von Bismarck trong những ngày cực thịnh của Đế chế Phổ đã rao giảng đức tin: “Ngoại giao là vũ khí mạnh nhất của quân đội, trong điều kiện quân đội đó phải có thực lực để tiếng nói ngoại giao có trọng lượng, trường hợp quân đội chưa đủ mạnh, thế chiến lược của địa lý phải được khai thác để phủ dụ các tham vọng bằng chính sức mạnh của các tham vọng đối phương.”
Bismarck, bậc thầy của các hiệp ước, đã đi vào lịch sử Đức ở vị thế của một tể tướng giỏi nhất. Đế quốc Phổ là một nền Quân chủ tuyệt đối. Nhật Bản dưới triều Minh Trị cũng là một nền Quân chủ tuyệt đối. Nhật Bản đã sao chép hiến chương quân chủ Phổ mà không phải hiến chương quân chủ Anh.
Các thủ tướng Nhật từ Hirobumi Ito, Kiyotaka Kuroda đến Aritomo Yamagata đã theo sát Bismarck. Vấn đề an ninh đặt ra tức khắc: phải có tấm khiên chắn trước khi lưỡi kiếm samurai được hiện đại hóa có thể vung lên lần nữa.
Đế quốc Anh coi sự lớn mạnh của Phổ là mối lo đã không muốn nhìn thấy hải quân Nga khống chế Thái Bình Dương.
Hải quân Anh đủ sức hủy diệt riêng hải quân Phổ, Pháp, Nga, nhưng không đủ sức vừa phân chia ở Thái Bình dương và Đại Tây dương, vừa đương đầu với liên hiệp các hải quân đế quốc. Nhật Bản trở thành một đối trọng cần thiết ở Viễn Đông. Liên minh với Nhật Bản có nghĩa hãm đường lan ra biển lớn của hải quân Nga từ căn cứ Vladivostok.
Nhật Bản học nhiều từ Otto von Bismarck còn Đại Nam không biết gì hết.
Nhật Bản học nhiều từ Otto von Bismarck còn Đại Nam không biết gì hết.
Vừa kiềm chế hải quân Pháp đã vào Đại Nam, vừa giảm ảnh hưởng của Tây Ban Nha từ Phi Luật Tân và cắm mốc đồng minh Anh trên đất Nhật Bản đối với Hoa Kỳ. Đế chế Phổ chỉ còn lại đầu cầu Thanh Đảo để nhìn ngắm, không đáng lo. Hiệp ước hỗ tương hàng hải và liên minh hải quân Anh-Nhật sẽ là hòn đá tảng trong chiến lược canh tân Nhật Bản. Các đế quốc Pháp, Nga, Phổ, Tây Ban Nha, Hoa Kỳ, tuy chậm trễ, đều nhìn thấy vị trí chiến lược của Nhật. Nhưng để lao vào Nhật Bản, Pháp cần bình định Đại Nam mà ở vào thời điểm 1868-1870 vừa chiếm được lục tỉnh Nam kỳ khiến đại thần Phan Thanh Giản phải quyên sinh đã là hết sức vì trên chiến trường Âu châu đại binh Phổ của thống chế Moltke đã bắt đầu gây chiến. Không thể lao vào Nhật Bản, Pháp bắt buộc phải mua chuộc bằng cách ký các thương ước, thỏa ước, gửi kỹ sư giúp Nhật Bản nhằm giảm “sự thôn tính tinh thần” của Anh, với hy vọng trong tương lai sau khi giải quyết Phổ, có thể tách Nhật ra khỏi quỹ đạo Anh để trở về quỹ đạo Pháp. Hà Lan tự biết sức không thể tranh giành với Anh, Pháp, chọn con đường giao thương bán vũ khí, tàu chiến, thương thuyền để kiếm lợi.
Tây Ban Nha đã kiệt sức. Hoa Kỳ, đứng trước hiệp ước liên minh Anh-Nhật quyết định chọn Phi Luật Tân làm thuộc địa vì giao chiến với Tây Ban Nha vẫn dễ dàng hơn với Hải quân Hoàng gia Anh cực kỳ hùng mạnh.
Phổ, hãy còn dồn hết nỗ lực giành lại Alsace và Lorraine, cố gắng thu phục Nhật bằng cách gửi các phái bộ quân sự cố vấn, tân trang và huấn luyện, trong cùng mục đích với Pháp lôi kéo Nhật Bản thành đồng minh.
Thế giới đã diễn ra như vậy và Nhật Bản đã sáng suốt nhìn thấy để trục lợi từ các tranh giành kình chống giữa các đế quốc. Các minh ước, thương ước, thỏa ước, hiệp ước chồng chéo càng củng cố vị trí trung lập của Nhật Bản cho đến 1894.
Phương châm của Otto von Bismarck: “Khối lượng các hiệp ước phải đem đến sức mạnh thay vì ràng buộc tay chân” đã được các thủ tướng Nhật thực thi.
Vương triều Nguyễn, không biết đến Bismarck, đã đánh mất nhiều cơ hội. Năm 1804, Hoàng gia Anh cử Sir Roberts làm sứ thần mang phẩm vật và quốc thư dâng vua Gia Long xin thiết lập ngoại giao. Năm 1831, Hoa Kỳ xin đề cử Shilluber làm tổng lãnh sự tại Huế. Năm sau, phái đoàn của Edmund Robert và Georges Thompson đến Trà Sơn trình quốc thư, hy vọng ký kết một hiệp ước song phương. Quốc thư không ghi rõ danh hiệu hoàng đế Đại Nam, khiến vua Minh Mạng hạ bút phê: “Bất tất đầu đệ.”, có nghĩa văn thư thiếu chính danh, không cần đệ lên ngự lãm. [Đại Nam Thực lục, Chính biên, dẫn theo sử gia Phạm Văn Sơn, Quân dân Việt Nam chống Tây xâm]. Dưới triều Thiệu Trị vào tháng 10-1847, toàn quyền Anh tại Hương Cảng John Davis, cùng hai chiến hạm đến cửa Hàn trình quốc thư của nữ hoàng Victoria muốn lập thương điếm tại Đà Nẵng, đề nghị liên minh chống Pháp hoàng Louis Philippe ở Á châu.
Cung đình Huế từ chối không cho John Davis diện kiến vua Thiệu Trị. Đến triều Tự Đức, nhà Nguyễn đánh mất những cơ hội cuối cùng khi khước từ các điều trần của các trung thần Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn Điều, Nguyễn Hiệp, Lê Đĩnh, Phan Liêm, Bùi Viện mà ngay từ 1864 các sứ thần này sau khi đi sứ Hương Cảng, Xiêm La, Pháp, Mỹ trở về đã xin mở cửa thông thương và liên hiệp tìm sức mạnh.
Năm 1868, tức niên đại Tự Đức thứ 21, hoàng đế Tự Đức khước từ phê duyệt lá sớ của Đinh Văn Điền quê ở huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, xin cải cách huấn luyện binh sĩ, khai mỏ bạc, làm tàu hỏa, bỏ lệnh cấm nghiên cứu binh thư, thăng thưởng đúng đắn và giảm sưu dịch cho lính tráng.
Không đầy sáu năm sau, Francis Garnier hạ thành Hà Nội. Chiến tranh đã luôn diễn ra bằng các động thái chính trị trước khi tiếp nối bằng vũ lực. Mà vũ lực chỉ xảy đến sau khi một phía thất bại chính trị. Chính phủ Việt Nam hôm nay đã bắt đầu các minh ước với Ấn Độ nhưng hãy còn quá chậm và quá ít, để thực sự xem là đang vận dụng đối sách của Bismarck.
Liên minh với các quốc gia vòng đai Thái Bình Dương và tìm thêm nguồn trang bị quân đội từ Israel và Tây Âu phải là quốc sách trong mục tiêu kềm hãm Trung Hoa. Niên đại Tự Đức thứ 21, tức năm 1868, khi Đinh Văn Điền dâng sớ cũng là lúc Minh Trị đăng quang. Canh tân Nhật Bản diễn ra khác hẳn: Nhiều thế hệ sĩ quan ưu tú như Heihachiro Togo, Isoroku Yamamoto, các thủy sư đô đốc tương lai thắng trận Đối Mã và Trân Châu Cảng, sang tu nghiệp ở Học viện Hải quân Anh. Ngược lại, các đề đốc Douglas rồi Willan sang Nhật mở các trung tâm huấn luyện hoa tiêu và thủy thủ.
Phía Phổ, thống chế Moltke gửi các sĩ quan Phổ qua Nhật để giám sát các khóa đào tạo bộ binh, cũng như nhiều sĩ quan lục quân Nhật theo học tại các học viện Phổ. Liên minh Anh-Nhật đưa đến việc Anh giúp xây phân xưởng Kawasaki và khu công nghiệp Ishikawajima Harima Nhật – Phổ giúp kiến tạo ngành luyện kim do xưởng thép danh tiếng Krupp, chuyên đúc đại bác cho quân đội Phổ, đứng ra quy hoạch và trang bị.
Năm 1870, hải quân công xưởng Mitsubishi ra đời và ngay tức khắc sao chép cách thức chế tạo thủy lôi cùng mìn đại dương. Một trong những đặc điểm của các hợp đồng đầu tư kỹ nghệ này còn nằm trong điều khoản bắt buộc các đối tác, bên cạnh phân xưởng, phải mở lớp đào tạo chuyên viên và các lớp huấn nghệ cho công nhân cũng như thu dụng kỹ sư bản xứ. Một hình thức chuyển giao kỹ thuật tuyệt đối, có thời hạn và trong điều kiện.
Đặc điểm khác: tất cả các công trình đầu tư vốn nước ngoài nếu do ngoại quốc xây cất, Nhật Bản vẫn sở hữu toàn bộ chủ quyền, từ đất đai đến nhà máy, các tập đoàn đầu tư thu lợi duy nhất từ khai thác.
Các đặc điểm này do Hội đồng Trưởng lão Genro kiến nghị chính phủ thi hành, trước khi quốc hội Kokkai ra đời biểu quyết các quốc vụ.
Trong lĩnh vực tài chánh, Nhật Bản vận dụng một công cụ của kinh tế tư bản mà triều đình Huế không biết đến: hệ thống ngân hàng.
Nếu vào năm 1870, hai công trình hỏa xa Tokyo-Yokohama và Kobé-Osaka phải vay mượn từ Âu châu và do chính các ngân hàng Âu châu quản trị chi trả, chưa đầy ba năm sau, ngân hàng Daishi đầu tiên của nước Nhật, thành lập vào năm 1873, sẽ đứng ra đảm trách tất cả vay vốn, chi thu, rồi quản trị thành công luật trái phiếu 1878 bắt toàn dân ký gửi công khố phiếu giúp tài trợ tuyến xe hỏa Tokyo-Kobe. Trong 20 năm, 7200 cây số đường xe lửa sẽ do ngân hàng này triển khai tài chánh.
* Học thuyết gì cho Việt Nam?
Quân đội Nhân dân có công kháng Pháp nhưng phải tự cường và hiện đại hóa trong hoàn cảnh mới.
Quân đội Nhân dân có công kháng Pháp nhưng phải tự cường và hiện đại hóa trong hoàn cảnh mới.
Tuy nhiên, tất cả những thành tựu kể trên chỉ có thể đem đến một nước Nhật hiện đại mà chưa bảo đảm sức mạnh thật sự của Quân đội Thiên hoàng.
Để nắm chắc sức mạnh này, cần một học thuyết chiến tranh mũi nhọn mà Clausewitz đã định nghĩa: “phải song hành với chiến lược kỹ nghệ, thiếu chiến lược này sẽ trở thành một tư duy không thể xác. Kỹ nghệ càng tăng tiến, học thuyết phải càng tinh vi.”
Khi gửi các sĩ quan lục quân sang các học viện chiến tranh Kriegschule, do Scharnhorst sáng lập nhằm quảng bá tư tưởng Clausewitz, theo thỏa thuận ký kết với phái bộ của tướng Jacob Meckel đại diện Moltke, một cách trực tiếp, quân đội Nhật được uốn nắn theo suy nghĩ Clausewitz. Cùng lúc tại các Hàn Lâm viện Hải quân Anh, các sĩ quan hải quân Nhật bám sát các học thuyết của Nelson, mà Đô đốc Horatio Nelson, với uy danh của thủy chiến Trafalgar, từng yêu sách: “Giữa một chiến hạm trọng tải nặng và hai chiến hạm trọng tải kém nặng, hai chiếm hạm chiếm ưu thế, với điều kiện hỏa lực không quá chênh lệch”.
Chiến lược võ trang của Nhật Bản sẽ không ra ngoài nhãn quan của Clausewitz và Nelson. Đi sâu vào chi tiết: khi đặt đóng các tuần dương hạm trong các phân xưởng Anh, dựa trên khuôn mẫu chiến thuyền Anh, Nhật Bản đã thương lượng sửa đổi khá nhiều chi tiết, đặc biệt trong concept, cấu trúc tam giác bọc thép-hỏa lực-vận tốc, làm nên sức mạnh của một chiến hạm.
Có nghĩa, vừa trên khuôn mẫu Anh, vừa theo đơn đặt hàng của Nhật, tức theo nhu cầu và theo học thuyết chiến tranh trên biển của Nhật, theo phương thức “kỹ nghệ song hành chiến thuật” của Moltke kế thừa Clausewitz.
Hải quân Nhật tiêu diệt Nga trong trận chiến 1905.
Hải quân Nhật tiêu diệt Nga trong trận chiến 1905.
Học thuyết Nelson đưa đến Capital ships – đúc tàu trọng tải không quá nặng, do vậy không bọc thép dầy, để tăng vận tốc. Ngược lại, hải quân Phổ ưu tiên che chắn và hỏa lực, đưa đến Panzerschiff – hải vận chậm nhưng là cả một khối thép trên biển mà tiêu biểu là hai thiết giáp hạm Chen-Yuen và Ting-Yuen mà Mãn Thanh mua của Phổ.
Học thuyết Nhật Bản, khi xác định kẻ thù trước mắt là Trung Hoa, đã tìm cách đối phó: đúc và sắm nhiều tuần dương hạm hơn Mãn Thanh rồi dùng các tuần dương hạm này vây hai soái hạm Chen-Yuen và Ting-Yuen mà vì gia tốc chậm không thể triển khai đội hình nhanh bằng Nhật Bản.
Hải quân Nhật giảm thiểu tối đa lớp vỏ bọc thép để tăng đường kính đại bác lên đến 255 ly so với 315 ly của Mãn Thanh. Với trọng tải tuần dương hạm trung bình năm ngàn tấn, kích cỡ đại bác này là một kỷ lục, vì xuấ t hiện trước thời kỳ tàu Dreadnought.
Thủy chiến Hoàng hải chứng minh Panzerschiff khó đánh đắm, vì cả hai thiết giáp hạm Chen-Yuen và Ting-Yuen tuy trúng nhiều đại bác vẫn không chìm. Thủy chiến này đặc biệt chứng minh sự pha trộn hỏa lực của Panzerschiff với vận tốc của Capital ships, trong học thuyết Nhật Bản, chiếm ưu thế: tám tuần dương hạm Mãn Thanh đều bị đánh chìm. Clausewitz, Moltke, rồi Nelson đã trao cho Nhật Bản định lý canh tân quân đội. Anh và Phổ không phải là các đế quốc duy nhất hỗ trợ hiện đại hóa Nhật Bản. Kể từ 1886 đến 1890, Louis Émile Bertin với một ê-kíp trên 300 kỹ sư Pháp xây cất các công xưởng và quân cảng Sasebo, Kure, Yokosuka. Louis Émile Bertin giữ chức cố vấn tối cao của Minh Trị, gần như một thứ trưởng hải quân với quyền hạn quyết định, quy hoạch và tổ chức mọi thứ. Các kỹ sư Pháp, dưới quyền Bertin, sẽ chỉ huy công nhân Nhật đóng những chiến hạm nặng đầu tiên ngay trên đất Nhật. 90 năm sau Gia Long, Minh Trị tìm ra cho mình một Bá Đa Lộc. 90 năm trước Minh Trị, Đại Nam đã có cơ hội này.
Kinh nghiệm Nhật Bản là một la bàn định hướng: Đa dạng hóa nguồn cung cấp vũ khí, không tùy thuộc vào một quốc gia nào để có thể giữ vững độc lập chính trị về sau. Quân đội Nhân dân Việt Nam phải đủ can đảm từng bước thay thế vũ khí Trung Hoa vì không gì nguy hiểm bằng sử dụng vũ khí của kẻ thù khi chính kẻ thù có khả năng chế tạo và cải tiến vũ khí đó. Không chỉ mua vũ khí mà phải sản xuất được vũ khí, qua thuê mướn kỹ sư thế giới, vừa giúp kỹ sư, sinh viên, công nhân Việt Nam học nghề.
Người Nhật đến đền Minh Trị: kỷ nguyên cải tổ vẫn đầy ảnh hưởng tới xã hội Nhật ngày nay.
Người Nhật đến đền Minh Trị: kỷ nguyên cải tổ vẫn đầy ảnh hưởng tới xã hội Nhật ngày nay.
Tập trung vốn vay vào việc xây cất công xưởng trước việc xây cất các đô thị cao cấp. Hy sinh của dân chúng phải được vận dụng thích đáng. Ký tối đa các hiệp ước với các quốc gia hỗ trợ canh tân.
Đặt ra lịch trình công nghiệp nặng phải đạt được trước khi kẻ thù trở nên quá mạnh. Sau nữa, xác định rõ rệt đối thủ quân sự cần kiềm hãm và khu vực phải đương đầu, để học thuyết chiến tranh tương thích. Nếu như ở cuối thế kỷ 19 thiết giáp hạm là vũ khí tuyệt đối, vào đầu thế kỷ 21, một tân không lực chiến thuật tầm xa có thể kiểm soát được Biển Đông. Sau hết và quan trọng nhất là thâu thập tri thức thế giới.
Với công lao mở mang bờ cõi, nhà Nguyễn có thể được giảm khinh vì phương tiện thông tin yếu kém trong thế kỷ 19.
Với công lao kháng Pháp, chính quyền cộng sản sẽ không được giảm khinh nếu không hành động sau bài học nhà Nguyễn và Minh Trị.
Tể tướng Bismarck trong suốt thời gian cầm quyền đã củng cố tối đa quân đội để có thể áp đảo trên bàn đàm phán, ký nhiều hiệp ước chồng chéo mà mỗi một hiệp ước đem đến thêm cho đế chế Phổ thời gian cần thiết để tăng thêm cực thịnh.
Mỗi quốc gia Âu châu đều vừa lo ngại, vừa muốn tựa vào sức mạnh quân sự Phổ. Với mỗi quốc gia Âu châu, Bismarck hứa hẹn hòa bình, bảo vệ, vừa chuẩn bị chiến tranh ngay cả với quốc gia vừa ký kết hiệp ước. Tài năng của Bismarck là đã giữ cho thế chiến không bùng phát, quan hệ không bao giờ đứt với Anh, Áo, Nga, Thổ, các đối thủ tranh giành ảnh hưởng. Không thế chiến, nhưng Bismarck áp đặt lên Âu châu một nhãn quan Phổ, đến mức “Âu châu Bismarck” đã trở thành thành-ngữ.
Hồ Cẩm Đào rồi Tập Cận Bình đang áp dụng triệt để phương pháp Bismarck. Tất cả những công cuộc canh tân và hiện đại hóa quân đội, về lâu dài đều dẫn đến chiến tranh. Trường hợp Nhật Bản là một điển hình, ngay khi sở hữu một hạm đội viễn dương đã khai chiến với Trung Hoa để giành lấy Cao Ly.
Trường hợp Phổ vẫn là một điển hình: sau khi canh tân, quân đội Phổ khai chiến với Pháp để giành lại Alsace và Lorraine, một thứ Lưỡng Quảng của Phổ.
Dân Việt có thể phản chiến hay yêu chuộng hòa bình, nhưng nếu các dân tộc khác không phản chiến và không yêu chuộng hòa bình, dân Việt sẽ rơi vào thảm cảnh bị khuất phục. Trong quá khứ, nhà Nguyễn mỗi một lần cầu hòa là một lần cắt đất. Lịch sử đã diễn ra như vậy.
Tương lai cũng sẽ tiếp tục diễn ra như vậy, tuy có thể không ở hình thức chiến tranh quy ước, mà bằng xâm lấn kinh tế, chính trị và bằng tước đoạt quyền lợi giao thương. Viễn cảnh một đế quốc Việt Nam khai chiến để giành lại Lưỡng Quảng quá xa vời, trong lúc cận ảnh Hán thuộc quá đen tối để cho phép dân Việt phản chiến mà không yêu sách chính quyền canh tân.
Trước câu hỏi: “Bao nhiêu chủ nghĩa dân tộc là đủ?” Câu trả lời giản dị: Không bao giờ đủ. Và cần gọi một cách chính danh là chủ nghĩa quốc gia, thay vì chủ nghĩa dân tộc, khi dung từ “dân tộc” ở đây mang âm hưởng vị kỷ. Không thánh chiến, không kỳ thị, và cũng không lấn áp các dân tộc khác, chủ nghĩa quốc gia Việt Nam xây dựng trên nền tảng của sự tồn vong của chính quốc gia này. Vì lòng ái quốc vẫn là sức mạnh duy nhất của dân tộc này. Dung nạp khái niệm “Phản chiến”, hay “Thế giới Đại đồng”, hoặc “Hòa bình Xanh” sẽ làm suy yếu quốc gia Việt Nam đang cần hiện đại hóa quân đội. Quốc gia này chưa đạt đến khả năng phòng vệ của Tây phương để cho phép an nhiên nhìn ngắm hòa bình.
Lịch sử đã trưng bày đậm nét khả năng bất lực của Hội Quốc Liên, của Liên Hiệp Quốc và tính bất nhất của các nền dân chủ Tây phương. Lịch sử đang lập lại sức bành trướng của Thiên triều. Quốc sách của Việt Nam hôm nay không thể khác quốc sách của Minh Trị: canh tân đất nước để có thể áp đặt sự hiện diện quốc gia trước đối phương và canh tân quân đội để đảm bảo cho sự hiện diện này một uy thế, cũng để có một lá chắn sau cùng sau khi tất cả các phương thức ngoại giao thất bại.
Quân đội trong lịch sử nhân loại đã luôn là điều kiện sống sót của một dân tộc. Lịch sử là kho tàng của canh tân.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ủy viên TƯ Đảng bàn về sự bóc lột và thâu tóm quyền lực


Nếu không ngăn được “nhóm lợi ích”, Đảng chân chính sẽ không còn và Nhà nước sẽ biến chất, dân tộc sẽ bị bóc lột, bị tước đoạt quyền lực và tài sản của cải, xã hội sẽ không có dân chủ và tự do, không có bình đẳng.
LTS: Dưới đây là bài viết của TS. Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương đăng trên Tạp chí Cộng sản. Tuần Việt Nam đăng tải lại và giới thiệu đến bạn đọc.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI của Đảng “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng phải đấu tranh chống “lợi ích nhóm”. Bởi vì, “lợi ích nhóm” (theo nghĩa tiêu cực) sẽ làm cho sự phát triển của đất nước và lợi ích quốc gia, dân tộc suy yếu và tổn thất nghiêm trọng; nhân dân bị tước đoạt quyền lực và lợi ích; thành quả cách mạng và chế độ chính trị - xã hội không được bảo vệ, dẫn đến đổ vỡ.
Lợi ích chính đáng (của một người, một nhóm) là lợi ích phù hợp với lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, góp phần và bổ trợ cho lợi ích chung; không mâu thuẫn, không gây thiệt hại cho lợi ích chung. Lợi ích chính đáng luôn là mục tiêu và động lực đối với hoạt động của con người, cần được tôn trọng, bảo vệ và khuyến khích. Quên điều này, không quan tâm đến lợi ích chính đáng của con người, ngăn cản các lợi ích chính đáng ấy, thì sự lãnh đạo và quản lý xã hội không thể thành công, mà trước sau gì nhất định cũng sẽ thất bại.
Ngược lại, “lợi ích nhóm” (theo nghĩa tiêu cực) thì mâu thuẫn với lợi ích chung của quốc gia, dân tộc; gây hại cho lợi ích chung, cho cộng đồng, làm suy yếu và gây tổn thất nghiêm trọng đối với lợi ích chung. “Lợi ích nhóm” là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc hình thành các “nhóm lợi ích”.
Đặc điểm của các “nhóm lợi ích” là có sự kết hợp cùng mục tiêu lợi ích, cùng hành động, cùng phân chia lợi ích, giữa những người có nhiều tiền với những người có quyền lực trong nhà nước và trong đảng cầm quyền. Có tiền chuyển hóa thành có quyền lực. Có quyền lực chuyển hóa thành có tiền. Người có tiền sẽ có quyền lực và người có quyền lực sẽ có tiền. Họ cùng nhau hành động để có quyền lực và có tiền ngày càng nhiều hơn.
Tư bản thân hữu, lợi ích nhóm, ĐCS, bóc lột, Vũ Ngọc Hoàng
Ảnh minh họa: CafeF
Đồng tiền cộng với quyền lực tạo thành sức mạnh khống chế, lũng đoạn tổ chức và xã hội. Nhận thức sự quan trọng của thông tin, “nhóm lợi ích” còn móc nối, “kết nạp”, kết hợp với một số nhóm truyền thông không lành mạnh để tác động chi phối dư luận theo hướng có lợi cho “nhóm lợi ích” và xuyên tạc vu cáo những người, những doanh nghiệp không cùng nhóm để tranh quyền lực và lợi ích. “Lợi ích nhóm” sẽ kéo theo và song hành với tham vọng quyền lực và tham vọng tiền bạc.
Ở nước ta, trong lãnh đạo, người đầu tiên công khai hóa và nêu lên sự cần thiết phải đấu tranh với “lợi ích nhóm” là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (phát biểu tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XI).
Sau Tổng Bí thư, một vài đồng chí lãnh đạo khác của Đảng và Nhà nước cũng có nói đến, mặc dù chỉ mới thoáng qua và nói chung, chưa có chỉ đạo gì quyết liệt trong việc ngăn ngừa, phòng chống “lợi ích nhóm”.
Trong giới khoa học của Việt Nam đã có một số nghiên cứu, chưa nhiều và mới ở dạng lý thuyết chung, chưa gắn với thực tế tình hình nước ta. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã có nhiều tài liệu nghiên cứu vấn đề này, gắn với quá trình phát triển của một số quốc gia. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI của Đảng Cộng sản Việt Nam “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã xác định nhiệm vụ quan trọng phải đấu tranh chống “lợi ích nhóm”.
Hiện nay, “lợi ích nhóm” và hoạt động của “nhóm lợi ích” ở nước ta đã và đang diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực quan trọng. Đó là trong quản lý doanh nghiệp nhà nước, quản lý dự án đầu tư, nhất là đầu tư công; trong quản lý ngân sách, thuế, quản lý ngân hàng - tín dụng; trong quản lý các nguồn vốn và chương trình đầu tư về xã hội, trong quản lý tài sản, đất đai, bất động sản, tài nguyên khoáng sản, xuất nhập khẩu; trong công tác cán bộ, quản lý biên chế; trong quản lý việc cấp các loại giấy phép; kể cả trong các vụ án, trong tham mưu về chủ trương, chính sách và trong điều hành.
Đi sâu vào nghiên cứu các vụ tiêu cực, tham nhũng có tổ chức, các vụ, việc mà dư luận có nhiều ý kiến thì sẽ có nhiều thông tin cụ thể về tình hình “lợi ích nhóm” ở Việt Nam. Tức là tình hình xấu đã lan rộng, khá phổ biến và khá ngang nhiên, nghiêm trọng đến mức báo động.
“Lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” có tác hại gì? Trước nhất, nó làm cho đất nước bị tổn thất các nguồn lực và giảm hiệu quả đầu tư, bị kìm hãm không thể phát triển nhanh, thậm chí không thể phát triển bình thường, mất sức sống, nền kinh tế sẽ bị khiếm khuyết, dị tật, kinh tế “ngầm”, thị trường “ảo”, chụp giật, hoang dã, khống chế và “thanh toán” lẫn nhau để giành độc quyền, làm hỏng môi trường phát triển lành mạnh và bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp.
 Hầu hết các nước bị “bẫy thu nhập trung bình” kéo dài nhiều thập niên, thậm chí kéo dài hàng thế kỷ, loay hoay mãi, lùng bùng mãi, không làm sao thoát ra được để trở thành một quốc gia phát triển là do “lợi ích nhóm” - nguyên nhân trực tiếp và hàng đầu. Với sự chi phối của các “nhóm lợi ích”, nguồn lực quốc gia bị phân bổ và sử dụng không vì lợi ích chung của quốc gia, mà nhằm hướng phục vụ cho “lợi ích nhóm”; việc bố trí đầu tư, sắp xếp dự án và kể cả ban hành chính sách, điều hành xử lý công việc cũng vậy.
Nước ta sau mấy chục năm công nghiệp hóa, đến nay năng suất lao động xã hội vẫn thấp (vào loại thấp nhất khu vực Đông Á), hiệu quả đầu tư kém, nợ nần nhiều mà chưa rõ trả bằng cách nào, khi mà hiệu quả đầu tư (sử dụng nguồn vay ấy) còn kém; thu nhập thấp, sản phẩm công nghiệp xuất khẩu hầu như không có, các chương trình nội địa hóa không thành công, chủ yếu là làm thuê và cho thuê mặt bằng, nền kinh tế Việt Nam đang rơi vào “bẫy thu nhập trung bình thấp”. Nhìn lại nguyên nhân các nước bị “bẫy thu nhập trung bình” và nhìn lại tình hình nền kinh tế của ta thì thật đáng lo ngại.
Hậu quả thứ hai do “nhóm lợi ích” gây ra là nhất định sẽ chệch hướng khỏi mục tiêu xã hội chủ nghĩa chân chính (và cũng xa lạ với chủ nghĩa tư bản hiện đại), đất nước đi theo một con đường khác, sang “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, đó là con đường không có tiền đồ và rất nguy hiểm, không có tự do và dân chủ (vì bị “nhóm lợi ích” độc quyền về kinh tế và chính trị thâu tóm, lũng đoạn), để lại hậu quả lâu dài mà dân tộc phải gánh chịu. Chúng ta mong muốn xây dựng một xã hội trên nền tảng của các giá trị nhân cách thì “nhóm lợi ích” lại thúc đẩy đồng tiền cộng với quyền lực chiếm địa vị thống trị.
Thực chất “nhóm lợi ích” là đồng tiền (tư bản) chi phối quyền lực, trực tiếp tham gia giành và chiếm giữ quyền lực, làm cho quyền lực không còn là của nhân dân, cũng có nghĩa là chệch khỏi mục tiêu xã hội chủ nghĩa (chân chính).
Tư bản thân hữu, lợi ích nhóm, ĐCS, bóc lột, Vũ Ngọc Hoàng
Ông Vũ Ngọc Hoàng. Ảnh: Lê Anh Dũng
“Lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” có từ rất sớm, ít nhất là từ buổi đầu của thời kỳ phong kiến; nhưng sang thời kỳ tư bản chủ nghĩa thì nó phát triển và diễn biến phức tạp hơn, kể cả trình độ, quy mô và tính chất. Trong Chủ nghĩa tư bản “hoang dã”, “mông muội”, các “nhóm lợi ích” hoạt động phổ biến, công khai, tích lũy và tập trung tư bản bằng mọi thủ đoạn, kể cả bạo lực, giết người.
Nhân đây, trước khi nói đến hậu quả thứ ba do “nhóm lợi ích” gây ra, xin nói rõ hơn về “chủ nghĩa tư bản thân hữu”. Suốt mấy trăm năm nay, qua quá trình cạnh tranh, qua đấu tranh xã hội, chịu sự tác động của các quy luật khách quan về kinh tế và xã hội, chủ nghĩa tư bản buộc phải liên tục điều chỉnh. Ngày nay, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã có những điều chỉnh rất đáng ghi nhận; tạo ra nhiều thành tựu và một số nước đạt trình độ phát triển cao, tính chất xã hội hóa sản xuất cao hơn, đang dần dần từng bước tạo ra các nhân tố mới của xã hội tương lai (xã hội xã hội chủ nghĩa).
Đồng thời với quá trình tiến hóa tự nhiên ấy, trong thực tiễn thế giới tư bản còn xuất hiện một khuynh hướng khác, một khuynh hướng không lành mạnh, không bình thường, một khuynh hướng tha hóa, đó là “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, một loại hình nguy hại cho sự phát triển của các quốc gia.
 Nước nào rơi vào “chủ nghĩa tư bản thân hữu” thì không ngóc đầu lên được. “Chủ nghĩa tư bản thân hữu” thực chất là sự bành trướng, biến dạng, biến tướng, sự thoái hóa cao độ của “nhóm lợi ích” gây ra. Đây là một loại hình rất lạc hậu, khác xa so với chủ nghĩa tư bản hiện đại (chủ nghĩa tư bản hiện đại có nhiều mặt tiến bộ, mà chúng ta cần nghiên cứu để học tập kinh nghiệm) và tất nhiên là càng xa lạ với chủ nghĩa xã hội văn minh.
“Chủ nghĩa tư bản thân hữu” còn có các cách gọi khác nhau, là “chủ nghĩa tư bản lợi ích”, “chủ nghĩa tư bản bè phái”, “chủ nghĩa tư bản bè cánh”, “chủ nghĩa tư bản lũng đoạn”,... “Chủ nghĩa tư bản thân hữu” không phải là một giai đoạn của chủ nghĩa tư bản, mà là một hiện tượng, một khuyết tật, một sự tha hóa của chủ nghĩa tư bản. Đây là loại hình “phát triển” mà trong đó các doanh nghiệp dựa vào ưu thế về mối quan hệ với những người có quyền lực để tạo ra nguồn thu tài chính cho cá nhân và đơn vị mình.
Các doanh nghiệp này tập trung đầu tư vào “quan hệ”, vào “quan chức” để từ đó mà dùng quyền lực tạo ra lợi nhuận siêu ngạch.
Đặc trưng của “chủ nghĩa tư bản thân hữu” là có sự cấu kết, xâm nhập lẫn nhau giữa nhóm đặc quyền kinh tế và nhóm đặc quyền chính trị, người kinh doanh cũng đầu tư vào quyền lực và người có quyền lực cũng tham gia kinh doanh, làm quan chức để làm giàu, họ cùng nhau bóc lột “mềm” toàn xã hội, bóc lột cả dân tộc, họ thâu tóm các nguồn tài chính, của cải và thâu tóm quyền lực chính trị, biến bộ máy nhà nước thành công cụ của một nhóm người (nhân danh nhà nước và đảng cầm quyền) thực hiện độc quyền kinh tế kết hợp với độc quyền chính trị.
Nói họ thực hiện bóc lột “mềm” là vì không có hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh cụ thể để trực tiếp bóc lột giá trị thặng dư của lao động, sự bóc lột của họ tinh vi hơn, nhưng tai hại hơn, gây hậu quả rất nghiêm trọng.
Sự bóc lột ấy thực hiện thông qua các dự án, các chương trình đầu tư; thông qua các cơ chế, chính sách (không phục vụ cho toàn xã hội mà phục vụ cho một nhóm người) và thông qua cách điều hành, cách quản lý mập mờ, không minh bạch, gây tiêu cực, tham nhũng... Họ thu lợi thông qua các công ty “sân sau”, công ty con, công ty cháu, công ty nhánh của gia đình, của “cánh hữu”. Nó ra đời trong (và gắn với) chủ nghĩa tư bản “man rợ”, chủ nghĩa tư bản “dã man”, chứ không phải chủ nghĩa tư bản văn minh.
Rất đáng lưu ý là, “chủ nghĩa tư bản thân hữu” không chỉ có trong xã hội tư bản (yếu kém và tha hóa) mà còn có trong các xã hội khác, ở các nước mới bắt đầu vận hành nền kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường, khi mà ở đó “lợi ích nhóm”, “nhóm lợi ích”, “lợi ích bè phái”, “tính thân hữu vì lợi ích” đang nổi lên và hoành hành; khi mà đảng cầm quyền cùng nhà nước do nó lãnh đạo bị suy thoái về đạo đức, tham nhũng trở nên phổ biến và pháp luật không được tuân thủ trong sự quản lý đất nước, quản lý xã hội (tức là trình độ quản trị quốc gia yếu kém).
Thực tiễn thế giới cho thấy, “chủ nghĩa tư bản thân hữu” kìm hãm sự phát triển của quốc gia, làm cho đất nước rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” hàng thế kỷ không ra được, làm băng hoại đạo đức xã hội (do lệch chuẩn giá trị); làm méo mó, biến dạng các chủ trương, đường lối; gây nên các khuyết tật của nền kinh tế và của xã hội, để hậu quả lâu dài.
 “Chủ nghĩa tư bản thân hữu” xuất phát từ các nguyên nhân, nguồn gốc: “Lợi ích nhóm” tiêu cực, các dạng ma-phi-a, tham nhũng có tổ chức, sự suy thoái đạo đức của cán bộ có chức quyền, không có cơ chế kiểm soát quyền lực, để quyền lực tha hóa và không có cơ chế tốt để nhân dân làm chủ và có quyền lực thật sự, trình độ và năng lực quản trị quốc gia yếu kém, luật pháp còn nhiều kẽ hở và việc chấp hành pháp luật không nghiêm, bảo kê, bao che và dung túng cho các sai phạm.
Ở đâu và khi nào mà “nhóm lợi ích” không bị ngăn chặn có hiệu lực, hiệu quả, mà để nó phát triển mạnh, lan tràn, hoành hành, vai trò của Nhà nước lành mạnh bị vô hiệu hóa, thì ở đó, tất yếu sẽ kéo theo “chủ nghĩa tư bản thân hữu” xuất hiện và tồn tại, không thể tránh được, không thể khác được, dù có muốn hay không.
Lâu nay Đảng ta đã nhiều lần lưu ý nguy cơ chệch hướng. Nếu chệch hướng thì sẽ chệch đi đâu? Chắc không thể trở lại chế độ phong kiến, vì trình độ phát triển đã vượt qua. Cũng không thể chệch sang chủ nghĩa tư bản phát triển văn minh, vì trình độ phát triển của nước ta chưa đạt đến, và nếu vậy thì có ý kiến cho rằng cũng không đáng sợ, bởi chúng ta sẽ gần hơn với chủ nghĩa xã hội. Khả năng lớn nhất, hiện hữu và cũng đáng sợ nhất, nguy hiểm nhất là chệch hướng sang “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, con đường nguy hại cho sự phát triển của quốc gia, dân tộc, đồng thời cũng nguy hại cho chế độ chính trị - xã hội.
Trở lại hậu quả của “nhóm lợi ích”. Hậu quả thứ ba do “nhóm lợi ích” gây ra là sự suy đồi về văn hóa, đạo đức xã hội do hệ giá trị bị đảo lộn (đồng tiền và quyền lực chiếm vị trí trung tâm và cao nhất, trong khi nhân cách bị đẩy sang bên cạnh và xuống hàng thứ yếu) và do tha hóa quyền lực (tác nhân mạnh nhất). Việc phân hóa giàu - nghèo sẽ ngày càng lớn, tạo ra bất bình đẳng và mâu thuẫn xã hội. Hỏng văn hóa và gây ra mâu thuẫn xã hội thì hậu quả khôn lường, thâm sâu và lan tỏa rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, ảnh hưởng đến nền tảng xã hội và sức mạnh nội sinh của dân tộc.
Hậu quả thứ tư do “nhóm lợi ích” gây ra là làm lẫn lộn thật - giả, đúng - sai, khác nhau giữa lời nói và việc làm, đường lối đúng không vào được cuộc sống...; làm mất lòng tin của nhân dân đối với đảng cầm quyền và đối với nhà nước, tức là làm hỏng nền tảng chính trị, dẫn đến mất ổn định chính trị, mất sức mạnh của một quốc gia, và từ đó các thế lực xâm lăng từ bên ngoài có thể lợi dụng thời cơ để xâm lấn, chèn ép, dẫn đến nguy cơ mất độc lập, thậm chí là mất nước.
Hậu quả thứ năm do “nhóm lợi ích” gây ra là chính sách sử dụng cán bộ méo mó, phát triển nạn “chạy chức”, “chạy quyền”, sắp xếp cán bộ trên cơ sở “quan hệ, tiền tệ, hậu duệ”, chứ không phải sử dụng người có tài đức, làm hư hỏng đội ngũ cán bộ; là sự phát triển, sự gia tăng các hoạt động bè phái, mất đoàn kết nội bộ, phá vỡ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của đảng cầm quyền, từ đó dẫn đến đảng cầm quyền mất vai trò lãnh đạo, tan rã hoặc bị “nhóm lợi ích” thâu tóm làm thay đổi hoàn toàn bản chất, không còn là đảng phục vụ nhân dân, và nhà nước cũng hư hỏng, biến chất, không còn là nhà nước của nhân dân, mà thành bộ máy cai trị, tham nhũng và bóc lột nhân dân, từ đó, nòng cốt chính trị đổ vỡ, bất ổn định chính trị từ bên trong.
Tư bản thân hữu, lợi ích nhóm, ĐCS, bóc lột, Vũ Ngọc Hoàng
Phố Xã Đàn, một trong những con đường "đắt nhất hành tinh". Ảnh minh họa: VOV.
Tình hình “nhóm lợi ích” ở Việt Nam đã đến mức độ nào? đang và sẽ đi về đâu? Như chúng ta đã biết, trước đây trong lịch sử nhiều lần các triều đại phong kiến Việt Nam bị sụp đổ, kể cả có lúc đất nước bị chia cắt là do “nhóm lợi ích” gây nên.
Ngày nay, tuy chưa có các công trình nghiên cứu cấp quốc gia một cách thật đầy đủ và khoa học về “lợi ích nhóm ở Việt Nam”, nhưng qua thông tin, qua dư luận xã hội, qua nghiên cứu của một số chuyên gia và cảm nhận của nhiều người, thì tình hình “lợi ích nhóm” đã khá nghiêm trọng, tương đối phổ biến, ở cấp nào cũng có, cấp cao hơn thì mức độ càng nặng hơn, ở lĩnh vực nào cũng có, kể cả ở những nơi mà xưa nay trong tiềm thức xã hội thường cho rằng đó là nơi luôn trang nghiêm, trong sạch.
 “Lợi ích nhóm” cũng chính là một kiểu tham nhũng nghiêm trọng nhất, tham nhũng có tổ chức. Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhưng thực tế xã hội vẫn diễn ra một tình hình rất đáng lo ngại là ở nước ta đang có nguy cơ chuyển biến dần dần sang “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, do hoạt động của “nhóm lợi ích” gây nên. Cũng có ý kiến cho rằng nước ta đã rơi vào “chủ nghĩa tư bản thân hữu” rồi, đã vào sâu lắm rồi (?). Ở các nước, việc quản lý nhà nước và việc điều hành kinh tế tách biệt rành mạch, và ở họ doanh nghiệp nhà nước cũng ít hơn ta.
Còn ở ta, với đặc điểm cơ quan nhà nước vừa quản lý về mặt nhà nước, vừa trực tiếp điều hành kinh tế, doanh nghiệp nhà nước nhiều, lại yếu kém trong quản lý, không ít trường hợp đằng sau cái vỏ doanh nghiệp nhà nước là tư nhân núp bóng, vì vậy, đề phòng “lợi ích nhóm” ở Việt Nam còn phức tạp hơn các nước khác, nếu không đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả. Đây là nguy cơ lớn nhất đang hiện hữu dần, đe dọa sự phát triển lành mạnh của đất nước và sự tồn vong của chế độ theo định hướng xã hội chủ nghĩa (lành mạnh).
Nguy cơ này bao trùm, đáng lo hơn bất kỳ sự đe dọa nào, tác động chi phối chính, làm trầm trọng các nguy cơ khác, tạo điều kiện cho các nguy cơ khác phát triển và gây tác hại. Đây là điểm lớn nhất, cốt lõi nhất của cuộc đấu tranh về quan điểm lập trường; là trọng tâm trong chống “tự diễn biến”.
Nếu Đảng và Nhà nước ta không ngăn chặn được hoạt động của “nhóm lợi ích”, để nó tiếp tục phát triển, dẫn đến lũng đoạn ngày càng lớn hơn thì sự phát triển của đất nước bị nguy khốn và chế độ chính trị cũng biến chất, cũng thay đổi theo hướng xấu, chắc chắn không còn là con đường xã hội chủ nghĩa chân chính nữa, mà sẽ là nơi phát triển “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, mong muốn của hàng triệu đảng viên cộng sản và nhân dân đã chiến đấu, hy sinh xương máu sẽ trở nên xa vời và vô vọng, mong muốn thiết tha của Bác Hồ cũng không thực hiện được, Đảng chân chính sẽ không còn và Nhà nước sẽ biến chất, dân tộc sẽ bị bóc lột, bị tước đoạt quyền lực và tài sản của cải, chế độ xã hội sẽ là một chế độ không có dân chủ và tự do, không có bình đẳng.
Lúc này, hơn lúc nào hết, các cấp ủy và toàn Đảng phải nhận thức rõ nguy cơ và quyết tâm bảo vệ quyền lợi dân tộc, thành quả cách mạng và bảo vệ chính Đảng ta, không để Đảng bị “nhóm lợi ích” và “chủ nghĩa tư bản thân hữu” thao túng, làm hư hỏng, biến chất, dẫn đến đổ vỡ.
Chống “lợi ích nhóm” là công việc hết sức khó khăn, phức tạp, vì không rõ “chiến tuyến”, thường ở trong trạng thái lẫn lộn trắng đen, trong nó có ta và trong ta có nó, vừa là ta lại vừa là nó.
Ngoài việc cần nhận thức đầy đủ và sâu sắc tình hình và nguy cơ, cần thảo luận rộng rãi trong Đảng và trên công luận. Đảng và cả hệ thống chính trị phải kiên quyết đấu tranh chống “lợi ích nhóm”, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, hết sức hệ trọng và cấp bách; tập thể lãnh đạo từ cấp cao nhất cần có quyết tâm chính trị và thật sự gương mẫu trong việc đấu tranh chống “lợi ích nhóm”, sử dụng tất cả các biện pháp có thể; khẩn trương nghiên cứu ban hành bổ sung, điều chỉnh các cơ chế kiểm soát quyền lực (bằng quyền lực nhà nước, quyền lực của nhân dân và công luận);
cơ chế thực thi dân chủ rộng rãi, minh bạch thông tin và quy định rõ trách nhiệm giải trình, điều trần; tạo hành lang pháp lý chặt chẽ cho báo chí vào cuộc, cho nhân dân thực hiện quyền tham chính; đổi mới căn bản công tác cán bộ, thực hiện tranh cử trước nhân dân đối với các chức danh bầu cử và thi tuyển công khai đối với các chức vụ quản lý, đồng thời thực hiện cơ chế giám sát hoạt động, kết quả công việc, thi hành việc bãi miễn và thay đổi vị trí công tác của cán bộ khi xét thấy không có lợi cho cuộc đấu tranh chống “lợi ích nhóm”./.
TS. Vũ Ngọc HoàngỦy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương.
* Theo Tạp chí Cộng sản. Tiêu đề do Tuần Việt Nam đặt.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mọi nguyên thủ nói yêu hòa bình, chiến tranh vẫn xảy ra


Không có một nguyên thủ quốc gia nào trên thế giới không nói yêu hoà bình, vậy mà chiến tranh vẫn đang diễn ra ở nhiều nơi. Đặc biệt là ở vùng trung Đông, Châu Phi... đã làm ảnh hưởng đến nền hòa bình chung của toàn thế giới.
Cách đây 70 năm,  thành phố Hiroshima của Nhật Bản trở thành nạn nhân đầu tiên của bom nguyên tử. Quả bom đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm nghìn người và biến Hiroshima thành một “thành phố chết”. Sau chiến tranh với sức sống mãnh liệt của người dân Hiroshima từ một đống tro tàn đổ nát đã mọc lên một thành phố mới, không ngừng phát triển và khát khao hòa bình.
Cho đến nay Hiroshima không những đã trở thành một trung tâm hành chính lớn có nền kinh tế phát triển mạnh với nhiều loại hình doanh nghiệp như giao thông vận tải, nông lâm nghiệp, tài chính ngân hàng… mà còn là một trong những điểm du lịch nổi tiếng thế giới. Rất nhiều du khách đến thăm quan thành phố Hiroshima vì muốn tận mắt chứng kiến sự vươn lên của Nhật Bản.
Vụ đánh bom ngôi đền Arawan tại BangKok ngày 17/8/2015 vừa qua đã làm 20 người chết và hơn 100 người bị thương cho tất cả chúng ta thấy danh giới giữa hỗn loạn, khủng bố và hòa bình rất mong manh.
Đất nước Việt Nam cũng có hàng ngàn năm lịch sử chống giặc ngoại xâm. Biết bao nhiêu người con đã ngã xuống để giữ gìn sự độc lập của dân tộc. Bản chất của chiến tranh thường là thế, chết chóc và tàn khốc. Cách đây hơn một năm, khi Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào khu vực biển Đông gần quần đảo Hoàng Sa đã làm cho biển Đông thêm một lần nổi sóng. Thời điểm đó, người dân Việt Nam ở khắp mọi miền tổ quốc đều hừng hực khí thế hướng về biển đảo với ý chí bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của dân tộc.
hòa bình, Việt Nam, quốc gia, biển Đông, chủ quyền, lãnh thổ, gia đình
Tổ chức hồi giáo IS với những cuộc hành quyết man rợ. Ảnh: Getty Image
Cách đây ít ngày, bức ảnh thi thể em bé tị nạn Syria 3 tuổi bị chết đuối trôi dạt vào bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ khi cùng gia đình di tản chạy trốn khỏi đất nước loạn lạc vì chiến tranh đã được chia sẻ nhanh chóng trên mạng internet. Sau khi được lan truyền rộng rãi, bức ảnh đã trở thành biểu tượng lột tả sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh. Bom rơi đạn lạc, đất nước khủng hoảng tị nạn, những người dân bản địa phải lần lượt từ bỏ quê hương mang hy vọng được đặt chân đến châu Âu để được sống một cuộc sống bình yên.
Ngay sau bức ảnh chụp thi thể em bé Syria được đăng tải, hầu hết các báo chí cũng lần lượt đều đưa tin chỉ vài tháng trước gia đình em bé này đã bị tổ chức Hồi giáo IS giết chết 11 người thân, góp phần tăng thêm sự phẫn nộ của những người yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới.
Trước đây quan niệm hòa bình là xã hội không có chiến tranh, ngày nay quan niệm hòa bình là không có chiến tranh xảy ra giữa hai hay nhiều tổ chức vũ trang trong một quốc gia. Không có một nguyên thủ quốc gia nào trên thế giới không nói yêu hoà bình, vậy mà chiến tranh vẫn đang diễn ở nhiều nơi. Đặc biệt là ở vùng trung Đông, Châu Phi... đã làm ảnh hưởng đến nền hòa bình chung của toàn thế giới.
Nhìn lại 100 năm qua, thế giới đổi thay rõ rệt như phẳng ra, như nhỏ lại nhờ những thành tựu kỳ diệu của khoa học công nghệ và cuộc sống của con người cũng được cải thiện rất nhiều. Nhân loại khát khao hòa bình, nhưng vì sao vẫn còn xung đột và chiến tranh. Kinh tế phát triển, nhưng vì sao hàng tỷ người vẫn còn nghèo khổ. Khoa học công nghệ tiến bộ vượt bậc, nhưng vì sao vẫn chưa có phương cách ứng phó thật hữu hiệu với thiên tai, dịch bệnh. Vì thế mà không ít người đã phải thốt lên: “Chỉ hòa bình thôi mà sao khó đến thế”.
Bức ảnh Aylan ngủ ngon vào đêm trước ngày gia đình lên thuyền rời khỏi quê hương là bức hình cuối cùng mà người thân còn lưu giữ về em. Bức ảnh em bé Syria 3 tuổi nằm bất động bên bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ ngày 2/9/2015 là bằng chứng của cuộc chiến tranh vẫn còn đang tiếp tục lan tỏa và chạm đến trái tim cả thế giới. Chạm đến quyền được sống, quyền được vui chơi học hành, quyền được hạnh phúc và mơ ước hòa bình của các em.
Ðược sống trong hòa bình là khát vọng của toàn nhân loại. Ngày quốc tế hòa bình mong muốn các nước trên thế giới hãy nói lên tiếng nói của mình, tiếng nói vì hòa bình. Bởi vì giá trị của hòa bình rất mong manh và không thể cân đo đong đếm được mà chúng ta đã phải trả bằng xương máu biết bao nhiêu thế hệ đi trước mới có được.
Hãy trân trọng sự độc lập tự do và niềm tự hào dân tộc và yêu nhiều hơn đất nước mình thì mới có cơ hội thấy được hết giá trị của hòa bình. Ðể thoát khỏi đói nghèo, để phòng tránh thiên tai, ngãn ngừa bệnh dịch và bảo vệ môi trường, tất cả chúng ta phải chung tay. Con đường vì một thế giới hòa bình vẫn còn lắm chông gai, là con đường đang cần toàn nhân loại chung vai.
Nguyễn Thúy Hạnh
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bạn đọc trẻ với việc tiếp nhận văn học mạng



Hoàng Thuy Anh
Nếu đọc sách in, người đọc tập trung, chuyên tâm tham dự vào tác phẩm, thẩm thấu từng con chữ, còn với cư dân mạng, ngoài việc đọc, còn có thể tranh thủ nghe nhạc, chơi facebook, thậm chí xem phim. Nhanh nhạy, tức thời, dễ dàng, song, tâm thế mạng chi phối nên bạn đọc trẻ khó lòng khai thác được vẻ đẹp ngôn từ của tác phẩm. Mặt khác, nếu bạn đọc cần tra cứu, tìm kiếm thông tin, không ai đứng ra bảo đảm độ tin cậy, chính xác từ mạng xã hội cho bạn. Bởi lẽ, văn học mạng như một bức tranh dang dở, chưa hoàn thành. Bạn đọc phải hết sức cẩn thận trước những “dị bản”. Bạn đọc sách như thế nào thì biểu hiện văn hóa của bạn như thế ấy. Văn hóa đọc thể hiện ở kĩ năng chọn, đọc, tiếp thu, lĩnh hội sách của bạn. Các tác giả trẻ thường viết theo thị hiếu, chiều lòng tính giải trí của bạn đọc trẻ nên sản phẩm viết ra thường hời hợt, non về tư tưởng lẫn nghệ thuật, thậm chí chứa đựng nhiều nội dung lệch lạc. Tính chất tự do của văn học mạng cho phép người sáng tạo không phải chịu trách nhiệm trước những sản phẩm do mình viết ra. Tình huống ấy đặt bạn đọc trước vô vàn thử thách trong việc tiếp nhận.

Sự xuất hiện và phát triển của văn học mạng đã góp phần đa dạng diện mạo văn học đương đại. Không thể xem toàn bộ những tác phẩm đăng online là loại văn chương mạng, còn non kém, mà tác phẩm nào in ra sách báo thì mới gọi là văn chương “thật”. Một tác phẩm nghệ thuật tồn tại như thế nào tùy thuộc ở người tiếp nhận. Nếu tác phẩm ấy đạt được giá trị về mặt nội dung lẫn nghệ thuật, thì dù nó được công bố ở trên mạng hay trên sách báo đều được bạn đọc đón nhận. Vấn đề, ở một siêu không gian, văn học mạng tạo ra sự tương tác giữa người viết và người đọc, xóa bỏ mọi giới hạn, cho phép người sáng tạo được thử nghiệm, bộc bạch quan điểm,... do đó, đây không hẳn là nơi hoàn toàn đáng tin cậy.

Thời buổi công nghệ, chỉ cần mang máy tính, chiếc điện thoại,... có hỗ trợ internet, dù ở đâu, trên tàu hay trên xe,... đều có thể lướt web bất cứ lúc nào mà không cần phải tay xách nách mang. Kể ra cũng tiện. Cần thông tin gì cứ gõ google. Văn học mạng Việt Nam phát triển hơn mười năm nay, người viết lẫn người đọc đều thỏa sức thể hiện sự sáng tạo của mình. Sự xuất hiện các trang web như vanchuongviet.org, vanvn.net, vienvanhoc.org.com, ngonngu.net, vanhocquenha.vn, phebinhvanhoc.com.vn,... góp phần thúc đẩy quá trình giao tiếp văn học, mở ra tâm thế đón nhận mới. Ngay các nhà thơ, nhà văn Việt Nam “gạo cội” cũng bước vào sân chơi này. Họ đưa sản phẩm của mình đến với cộng đồng mạng qua hai con đường, đưa lên những bài viết đã in thành sách báo và những bài viết trước khi in ra sách báo thông qua các trang blog, trang web cá nhân,... như Nguyễn Quang Thiều, Đặng Thân, Hoàng Vũ Thuật, Văn Công Hùng, Ngô Minh, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Quang Lập, Mai Văn Phấn,... Thế hệ “mười ngón tay” lại thường hành trình theo con đường từ trang mạng ra sách giấy. Nhiều tác giả trẻ như Nguyễn Thế Hoàng Linh, Gào, Kawi Hồng Phương, Born, Nguyễn Ngọc Thạch, Anh Khang, Leng Keng, Trần Thu Trang, Võ Anh Thơ, Quỳnh Thy, Hân Như, Lê Ngọc Mẫn, Lê Minh Phong, Nguyễn Phong Việt,... đã sớm thành công khi sáng tác trên mạng. Ví như tác giả Nguyễn Phong Việt, anh được xem là “hiện tượng của phát hành”. Tập thơ đầu tay Đi qua thương nhớ, bán được 30 ngàn bản; tập thứ hai Từ yêu đến thương, bán được 20 ngàn bản; tập thơ Như một dòng chảy ngược, sinh ra để cô đơn! vừa ra mắt cuối năm 2014 với 4 ngàn bản in. Theo thống kê của của trang tiki.vn (website bán sách online lớn nhất hiện nay), trong 10 quyển sách bán chạy nhất năm 2014, tác giả trẻ Việt Nam bước ra từ văn học mạng chiếm số lượng áp đảo (Ai rồi cũng khác - Hamlet Trường và Iris Cao, Buồn làm sao buông - Anh Khang, Cafe cùng Tony - Tony Buổi Sáng, Hoa Linh Lan – Gào, Người yêu cũ có người yêu mới - Iris Cao). Dẫn chứng trên cho thấy số lượng tác phẩm văn học mạng của người cầm bút trẻ in thành sách giấy tăng nhanh, có sức thu hút lớn đối với lớp trẻ. Tuy nhiên, từ đời sống mạng chuyển sang đời sống thực, nhiều tác phẩm mạng đã giảm nhiệt không ít bởi sự soi xét gắt gao của độc giả “hàn lâm” và giới phê bình.

Vậy, bạn đọc trẻ phải chọn lựa, sàng lọc như thế nào khi đối diện với văn học mạng? Thực tế trên cho thấy, nếu mạng xã hội thai nghén, sản sinh ra những người viết trẻ thì đồng thời tạo ra không gian xôm trò cho cư dân mạng trực tuyến. Bản thân mỗi văn bản văn học mạng là mỗi văn bản mở, chưa hoàn kết. Nếu văn học giấy (được in ra giấy) hoặc văn học điện tử đặt người đọc trong tâm thế “giấy” (cách gọi của Inrasara), nghĩa là ở tâm thế thụ động, thì văn học mạng lại mang đến tâm thế bình đẳng giữa tác giả và người đọc. Tác giả có thể bổ sung, thêm bớt ở bất kì thời gian, không gian nào. Còn người đọc thì tự do góp ý. Tạo ra sự tương tác dân chủ giữa tác giả và người đọc, văn học mạng buộc tác giả không ngừng phấn đấu để sinh ra những đứa con khỏe mạnh, còn người đọc phải thận trọng trước những tác phẩm dễ dãi, èo uột. Căn cứ vào lượt view (xem), số lượng like (thích), comment (bình luận), đối với mỗi tác phẩm, có thể thấy giới trẻ đã ít nhiều quan tâm đến văn học. Những lời đánh giá, nhận xét thuận chiều hay trái chiều, tích cực hay tiêu cực, một mặt, tự họ thể hiện ý thức trong việc đọc và tiếp nhận tác phẩm, mặt khác, còn tạo ra môi trường đối thoại trực tiếp, dân chủ, bình đẳng, giúp người viết có thể chỉnh sửa, hoàn thiện sản phẩm của mình.

Không chỉ quan tâm đến đời sống văn học trẻ đương đại, cộng đồng mạng còn quan tâm đến những tác phẩm kinh điển, những tên tuổi nổi tiếng,... qua các trang đọc sách online miễn phí hoặc sách điện tử chính thống. Sách điện tử so với sách giấy có nhiều lợi thế hơn về độ gọn nhẹ. Bạn đọc có thể tùy ý chỉnh sửa lại font chữ, cỡ chữ, màu sắc,... để thuận lợi cho việc đọc. Chỉ cần gõ tên tác phẩm muốn đọc, ebook sẽ đáp ứng sở thích của bạn. Bạn có thể tải về máy hoặc đọc online. Vì vậy, đa phần các bạn đọc trẻ thường chọn internet làm cầu nối để tiếp cận văn chương. Ở một góc độ, văn học mạng đã định hướng cách đọc tích cực cho giới trẻ. Sự xuất hiện văn học mạng chứng tỏ văn hóa đọc của các bạn trẻ không hoàn toàn bị lãng quên.

Văn học mạng ra đời, đặt bạn đọc trẻ trong tâm thế mới, và, nó cũng hệ lụy khi còn không ít mặt hạn chế. Thế hệ “mười ngón tay” nhanh chóng thích nghi với việc mua bán, trao đổi trực tuyến vừa đỡ tốn thời gian, công sức vừa giảm chi phí cho việc rong ruổi kiếm tìm sách. Chỉ cần ngồi lướt phím, nhấp chuột, mọi thông tin cần tra cứu, khai thác đều có. Tuy nhiên, nếu đọc sách in, người đọc tập trung, chuyên tâm tham dự vào tác phẩm, thẩm thấu từng con chữ, còn với cư dân mạng, ngoài việc đọc, còn có thể tranh thủ nghe nhạc, chơi facebook, thậm chí xem phim. Nhanh nhạy, tức thời, dễ dàng, song, tâm thế mạng chi phối nên bạn đọc trẻ khó lòng khai thác được vẻ đẹp ngôn từ của tác phẩm. Mặt khác, nếu bạn đọc cần tra cứu, tìm kiếm thông tin, không ai đứng ra bảo đảm độ tin cậy, chính xác từ mạng xã hội cho bạn. Bởi lẽ, văn học mạng như một bức tranh dang dở, chưa hoàn thành. Bạn đọc phải hết sức cẩn thận trước những “dị bản”.

Bạn đọc sách như thế nào thì biểu hiện văn hóa của bạn như thế ấy. Văn hóa đọc thể hiện ở kĩ năng chọn, đọc, tiếp thu, lĩnh hội sách của bạn. Các tác giả trẻ thường viết theo thị hiếu, chiều lòng theo tính giải trí của bạn đọc trẻ nên sản phẩm viết ra thường hời hợt, non về tư tưởng lẫn nghệ thuật, thậm chí chứa đựng nhiều nội dung lệch lạc. Tính chất tự do của văn học mạng cho phép người sáng tạo không phải chịu trách nhiệm trước những sản phẩm do mình viết ra. Tình huống ấy đặt bạn đọc trước vô vàn thử thách trong việc tiếp nhận. Tuy vậy, hiện nay, không phải bạn đọc nào cũng tiếp nhận tác phẩm một cách nghiêm túc, mà rất nhiều người, đọc chỉ để giải trí, thỏa mãn tâm lí, sở thích cá nhân. Sức nóng, sự cuốn hút của truyện ngôn tình với giới đọc trẻ là một minh chứng. Trưa ngày 5-4-2015 vừa qua, không khí nóng nực, chật chội vẫn không thể kìm hãm niềm yêu thích, được gặp gỡ, giao lưu với tác giả Diệp Lạc Vô Tâm của hàng ngàn bạn đọc trẻ tại Nhà triển lãm Thành phố, 92 Lê Thánh Tôn, Phường Bến Nghé, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh. Lòng hâm mộ này thật hiếm xảy ra đối với những nhà thơ, nhà văn nổi tiếng Việt Nam. Thực tế đã cho thấy bão ngôn tình chưa thoái trào, mặc dù được đánh giá là thuộc dòng truyện hay ít dở nhiều, tuổi thọ ngắn. Trước trào lưu truyện ngôn tình, hơn bao giời hết, giới trẻ cần có thái độ nghiêm túc và kĩ năng trong việc đọc. Cần tiếp nhận trên tinh thần đồng sáng tạo, có tầm nhìn bao quát, thái độ khách quan để lọc thải, lựa chọn những tác phẩm nghệ thuật đích thực, sẵn sàng loại trừ, tẩy chay những sản phẩm hời hợt, không có giá trị về mặt nội dung lẫn nghệ thuật giữa bạt ngàn rừng sách. Chỉ có tinh thần lao động khoa học, sức mạnh của bản lĩnh, trí tuệ thì chúng ta mới thu về được khối lượng tri thức cần thiết.

Văn hóa tranh luận cũng là một khía cạnh biểu hiện văn hóa đọc. Sự tự do của văn học mạng không chỉ tạo không gian tự do cho người viết mà còn tạo không gian rôm rả, dân chủ cho người đọc. Trên các trang mạng xã hội, rất nhiều comment thể hiện sự tranh luận nghiêm túc, văn minh nhưng cũng không thiếu những cuộc tranh luận như một cuộc hỗn chiến, có khuynh hướng công kích, tư thù cá nhân. Ẩn giấu bằng những cái tên nặc danh, người đọc tung hết chiêu trò, đôi khi hết sức vô văn hóa. Khen thì khen hết cỡ. Chê thì chê đến tận cùng. Va chạm với những cuộc ẩu đả ngôn từ trên mạng, nếu không tỉnh, vội vã, theo cảm tính, hùa theo số đông, bạn đọc trẻ sẽ khó lòng phân biệt đâu là giá trị đích thực của tác phẩm. Với văn học mạng, mỗi bạn đọc hãy phát huy tính chủ động, trách nhiệm cao trước những phát ngôn của mình. Trước tiên, hãy là một biên tập viên khó tính.

Đọc văn học mạng hay đọc văn học giấy, theo chúng tôi, đều rất quan trọng. Văn học mạng chứa đựng một khối lượng thông tin to lớn, khổng lồ. Vấn đề đặt ra, mỗi bạn đọc phải tìm được, định hướng được phương pháp, cách đọc tốt nhất. Bởi, đọc là việc làm suốt cả cuộc đời con người

Phần nhận xét hiển thị trên trang