Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015

Thắt lưng buộc bụng khẩn cấp đi là vừa















-ARE O

Nếu tính xa ra một chút cho năm 2016 và 2017 thì liệu bức tranh sẽ là thế nào?

Về dầu mỏ, một mặt hàng chủ lực mang lại đóng góp to lớn cho ngân sách quốc gia thì khả năng sẽ phải chịu đựng nặng nề hơn nữa khi giá dầu mỏ có thể xuống tới 50USD/thùng, thậm chí dưới 40USD/thùng. Người ta phải nghĩ đến điều này, bởi vì nếu tới đây Iran xuất khẩu dầu sau khi được Mỹ dỡ bỏ cấm vận thì đó là điều không đùa được.

Văn Miếu ở Vĩnh Phúc
Mỹ từ một nước nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới đã trở thành một nước có thể xuất khẩu dầu.

Iran từ bị cấm vận, nay đã “sổ lồng tung cánh”.

Kinh tế Trung Quốc lao đao vì chứng khoán và cũng sẽ ảnh hưởng tới tiêu thụ dầu, vậy là cuối năm 2015 sang 2016 và 2017, sản lượng dầu của thế giới sẽ dư thừa rất nhiều và cái gì thừa thì giá rẻ là lẽ đương nhiên.

Vậy kịch bản nào cho nền kinh tế nước ta vào năm 2016-2017 đây khi mà nông nghiệp xuất khẩu gạo nhiều nhưng rẻ, tiền xuất khẩu gạo chỉ để nhập nguyên liệu về làm thức ăn chăn nuôi gia súc. Xuất khẩu thủy sản cũng bị giảm sút. “Đỏ tươi” nhất hình như chỉ có mấy quả vải đang vươn được ra nước ngoài một chút, nhưng chắc cũng chỉ làm khá lên cho mấy hộ nông dân ở mấy vùng Lục Ngạn, Hải Dương… Vậy làm thế nào để đối phó với những kịch bản xấu mà tạm nêu ra như ở trên.

Chắc chắn Đảng, Chính phủ sẽ có nhiều quyết sách lớn và đã xây dựng kịch bản đối phó với tình hình này.

Nhưng thiết nghĩ có một cách mà từ mỗi gia đình, mỗi làng xóm đơn vị kinh tế, mỗi cấp chính quyền phải làm ngay đó là: “Thắt lưng buộc bụng” và tuyệt đối không được coi ngân sách Nhà nước như con bò sữa - Thằng nào vắt được cứ vắt! Đồng thời hãy bỏ ngay câu nói: “Đây là nguồn đóng góp xã hội hóa”. Trong lúc này chúng ta còn rất nhiều địa phương mà tỉ lệ đói nghèo còn cao, nhiều trường học, bệnh viện còn đang xập xệ, thiếu thốn trang bị, nhìn đâu cũng thấy khó khăn. Ấy vậy mà người ta vẫn đổ tiền ra xây chùa, xây tượng Phật cao ngất ngưởng; xây Văn Miếu để thờ Khổng Tử tận bên Tàu và rồi người ta đẻ ra không biết bao nhiêu thứ lễ hội và đủ các trò mua vui. Thật là phi lý.

Rồi thậm chí trong các lễ mừng công, mừng năm chẵn của tỉnh nọ tỉnh kia, tôn vinh doanh nhân… người ta cũng tổ chức tiệc tùng linh đình tốn kém. Hình như câu thơ “ngàn vàng mua lấy trận cười như không” của cụ Nguyễn Du từ cách đây hàng trăm năm đến nay vẫn có ý nghĩa thời sự.

Từ bao lâu nay, người Việt có câu “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn” thế nhưng khoảng 10 năm trở lại đây, khi nước ta phát triển mạnh thì người ta quên đi mất câu này. Sự tiêu xài lãng phí trong đủ mọi lĩnh vực thực sự là rất đáng báo động. Một quốc gia nghèo như ở Việt Nam thì suốt ngày tự hào về sản lượng bia, rượu; rồi nhập khẩu đủ loại ôtô sang trọng về, vậy đó là cái gì, thử hỏi xem bao nhiêu đại gia đi xe sang vẫn đang trốn thuế, quỵt tiền bảo hiểm người lao động, vẫn đang nợ nần chồng chất… Cho nên nếu như chúng ta vẫn giữ mức độ ăn tiêu như hiện nay và theo kiểu “ném tiền qua cửa sổ” thì rõ ràng sẽ đến lúc phải trả giá đắt và nói một cách ngoa ngoắt rằng “không có tiền mà mua quan tài” đâu.

Đảng và Chính phủ cũng đã có nhiều biện pháp để buộc các doanh nghiệp Nhà nước phải tiết kiệm nhưng đã đến lúc phải nhìn lại phong trào tiết kiệm mà các nơi đang thực hiện có nặng về tính hình thức hay không? Căn bệnh lãng phí của chúng ta đang rất lớn, và không biết một năm lãng phí bao tiền đổ vào các công trình tâm linh, các công trình mang tính hình thức phù phiếm?

Cho nên xin các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách hãy nghĩ một kịch bản rất xấu cho nền kinh tế nước ta vào năm 2017 thậm chí sang cả 2018, làm gì hãy nghĩ đến rủi ro trước, nghĩ đến hậu quả của sự thất bại, chứ đừng nghĩ như kiểu “đếm cua trong lỗ” và chỉ tính một chiều lợi. Còn mong rằng từ mỗi gia đình hãy biết thắt lưng buộc bụng ngay từ bây giờ.

Theo Petrotimes
Phần nhận xét hiển thị trên trang

không hiểu nổi về vụ Giang Kim Đạt và họ đặt ra rất nhiều câu hỏi. Sau đây là một số câu.



Nhiều người nói: không hiểu nổi về vụ Giang Kim Đạt và họ đặt ra rất nhiều câu hỏi. Sau đây là một số câu.

1. Về vụ Giang Kim Đạt


Một anh trưởng phòng quèn ở Vinasin, chỉ có làm trưởng phòng 14 tháng mà đã tham ô biển thủ đến 19 triệu USD, thử hỏi những người có chức quyền lớn hơn thì số tiền này nếu biển thủ thì lớn đến mức độ nào nữa? Có thể người ta biện minh này nọ nhưng đến một nông dân như tôi cũng biết rằng, những dự án cỡ tiền ấy trưởng phòng không tự ký được. Quê tôi, chỉ làm một đoạn đường làng theo chương trình nông thôn mới mà biết bao giấy tờ, bao cấp xét duyệt mới có tiền. Liệu đây có là một mắt xích, hay là chỉ một con chuột?

Mấy năm Vinasin hoạt động đã có đến 11 cuộc thanh tra cao cấp, không có cuộc thanh tra nào cho biết rằng Vinasin có vấn đề, mà ngược lại rất nhiều lời khen tạo công ăn việc làm, đáp ứng yêu cầu chính trị, tạo điều kiện ổn định chính trị. Bây giờ ai chịu trách nhiệm về lỗ hổng quản lý này?

Bị can Đạt từng nhanh chạy cao bay khi vụ Vinasin bùng nổ. Nhẽ ra phải truy nã anh và đồng bọn ngay. Nhưng cơ quan chức năng quá chậm. Đạt và đồng bọ có đủ thời gian tẩu tán hoặc hợp pháp hóa của cải tham những được. Năm 2014 Việt Nam mới tiến hành khởi tố Giang Kim Đạt, tháng 1 năm 2015 mới phát lệnh truy nã quốc tế. Vậy trong thời gian dài cơ quan chức năng đã làm gì? sao không tiến hành ngay khi vụ việc xảy ra?

Việc Đạt lẩn trốn ở nước ngoài, du hí khắp nơi cơ quan điều tra đã biết (như báo đưa tin, khá cụ thể) vậy chờ đến lúc này, thời kỳ nhạy cảm nhất trước sự kiện chính trị lớn Đại hội Đảng) trong nước mới mạnh tay đưa ra tòa. Đây là một việc làm có tính toán kĩ lưỡng, hay là ngẫu nhiên hay trùng hợp.

Theo ông Đỗ Dũng, Phó Tổng Giám đốc Vinashinlines: tài liệu lưu giữ lại cho biết, Giang Kim Đạt làm việc tại công ty này từ ngày 12/5/2006 với vị trí nhân viên phòng khai thác tàu biển. Ba tháng sau, công ty lập phòng kinh doanh, Đạt được đề cử làm quyền trưởng phòng. Hơn 1 năm sau, vào tháng 10/2007, anh này nộp đơn thôi việc. Tháng 4 năm 2008, Đạt bất ngờ quay lại công ty với vị trí cố vấn cấp cao của Tổng Giám đốc Vinashinlines Trần Văn Liêm. Hợp đồng lao động ký 1 tháng, nhưng Đạt chỉ làm việc 1 tuần rồi rời công ty. Tháng 5, Đạt lại quay lại Vinashinlines và tiếp tục giữ vị trí quyền trưởng phòng kinh doanh. Đạt cũng chỉ tiếp tục làm việc 1 tháng rồi rời đi hẳn; hầu hết nhân viên đều không biết Đạt đi đâu.

Nếu là nhân viên công ty muốn lên vị trí trưởng phòng phải bầu bán nhưng Đạt là trường hợp tuyển ngoài do tổng giám đốc tự tuyển. Dù là Phó TGĐ phụ trách nội chính, nhưng ông Dũng ít khi làm việc với Đạt. “Đạt thường làm việc trực tiếp với tổng giám đốc, chúng tôi không được biết nhiều về công việc của Đạt".

Ông Dũng cũng cho biết, Vinashinlines không có cơ chế cắt hoa hồng cho cán bộ công nhân viên khi mua hoặc cho thuê tàu; việc mua tàu đều thực hiện theo nghị định của Chính phủ. Tuy nhiên, việc một vị trí trưởng phòng như Đạt có thể tham ô đến 18,6 triệu USD, chính ông Dũng cũng lấy làm khó hiểu. Ông Dũng xác nhận, các tàu đều mua thông qua đơn vị tư vấn; không qua đấu thầu.

Vinashinlines là một doanh nghiệp nhà nước, việc tuyển dụng, quản lý cán bộ, quản lý kinh doanh kiểu gì vậy?

2. Về vụ Nguyễn Xuân Sơn


Ông Nguyễn Xuân Sơn vừa trở lại vị trí của mình là người đứng đầu ngành dầu khí Việt Nam để điều hành công việc thì bất ngờ bị buộc thôi việc, rồi bị khởi tố, bị bắt. 

Ai mà dám nghĩ rằng, người đi tháp tùng cho Tổng Bí thư trong một chuyến công cán quan trọng bậc nhất của lịch sử lại có thể bị còng tay và trở thành kẻ tội phạm sau đó ít ngày? Câu chuyện sắp xếp nhân sự chuyến đi có vấn đề gì không? Đừng nói là "điệu hổ ly sơn" nhé. Vì rằng, chuyện ông Sơn sai phạm chỉ là trong nội bộ, còn chuyện chuyến đi của Tổng Bí thư là chuyện đối ngoại quốc gia.

Dẫu rằng, theo như thông tin công khai, ông Sơn bị bắt giam và khởi tố vì 2 tội. Chủ yếu là lạm dụng chức quyền gây sai phạm kinh tế nghiêm trọng. Lỗi chủ yếu là liên quan đến lĩnh vực ngân hàng, liên quan đến vụ án Hà Văn Thắm, mà vụ Hà Văn Thắm thì lâu rồi. Vậy quy trình bổ nhiệm cán bộ ở ngành dầu khí nói riêng và cán bộ quản lý cao cấp nói chung có đúng không? Nếu đối chiếu với các tiêu chuẩn quy hoạch cán bộ, quy trình bổ nhiệm thì không thể xảy ra những trường hợp nóng bỏng như thế được.

Hiện nay, xem ra dư luận về những vấn đề hệ tư tưởng, chế độ chính trị, dân chủ, nhân quyền không còn nóng như vấn đề tham nhũng. Liệu trước thềm Đại hội Đảng công cuộc chống tham nhũng có được đẩy lên? 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

KHỔ THÂN ANH NHƯ PHONG


Ảnh: Anh Như Phong làm việc với anh Sơn cho kế hoạch tầm đến năm 2020 cho tờ Năng lượng mới.Nguồn: PVN

Trong làng báo của Việt Nam mình phục hai anh, anh Xuân Ba và anh Như Phong. Các bài viết của các anh hay, từ mảng phóng sự cho đến ký du hành hải ngoại đi theo các VIP. Đặc biệt là các bài viết về các VIP thì đặc biệt hay, đọc say ngất nghểu như say thuốc lào.

Nhưng dường như con người cũng có vận hạn. Anh Xuân Ba thì hợp với bác Dũng Thủ tướng, anh Như Phong hợp với tầm bộ trưởng như anh Thăng.

Chuyến đi của bác Tổng bí thư sang Mỹ giá như, giá như anh Xuân Ba mà đi cùng thì chắc có nhiều bài vang như cồng chiêng. Đáng tiếc là bên bác Tổng gạt thẳng anh Xuân Ba. Thôi, đành chịu vậy.

Nhớ mãi lần anh Thăng cũng bác Chủ tịch Triết đi Nam Mỹ thăm Venezyela...có anh Như Phong đi cùng. 

Úi giời, anh Như Phong viết mấy bài ca ngợi anh Thăng, ca ngợi chủ tịch hai nước đằm thắm tình hữu nghị đồng chí.

Anh Thăng thấy anh Như Phong được việc, triệu về làm Tổng biên tập báo ngành.

Tuy chuyên môn về ngành không có, nhưng anh Như Phong cho nổ mấy bài ra mắt. Toàn loạt bài theo định hướng như anh Huynh bên Tuyên giáo. 

Bọn thù địch sợ hãi khẩu khí của Tờ Năng lượng mới.

Bọn chuyên ngành dầu khí cũng sợ. Họ sợ là tờ báo ngành theo cách đó chắc phải chuyển về Trung ương quản lý mất.

Thế rồi thời thế thay đổi. Anh Thăng sang Giao thông. Anh Như Phong chả nhẽ lại bỏ Dầu khí mà sang Giao thông? Vô lý lắm. Mà bên Dầu khí thì thu nhập cũng rất cao. Nhưng viết gì đây cho ngành? Cái này anh không thạo. Thôi thì lại đưa chuyện cũ thời anh còn làm với anh Hữu Ước ra đăng vậy...

Hết chuyện cũ thì đưa chuyện khiếu kiện với tướng Thành vậy. 

Nhưng chuyện tướng Thành có vẻ không ăn khách. Anh lại lôi chuyện hội nhà văn ra chê bai, chê bai chuyện đại hội...

Đùng một cái, anh Sơn sếp sòng của anh bị nhập kho. Anh lúng túng mấy hôm nay. Các báo thì đua nhau đưa tin về anh Sơn, về chuyện vi phạm luật pháp tày trời.

Nhưng báo của anh Như Phong im lặng. Không bàn, mà thậm chí là chả đưa.

Đau quá! Sếp lớn chỗ dựa vật chất cũng như tinh thần của anh mà nhập kho thì biết viết, biết nói sao đây?

Trò đời, người ta thường nói, ăn cây nào rào cây đó.

Nhẽ nào vừa ăn quả của cây xong, nay lại vác rìu bổ cây sao đặng...

Thôi, im lặng là vàng.

Nhẽ ra tuổi tác còn trẻ thì có khi anh còn nhòm xem nơi nào kha khá hơn không để còn nhảy. Nhưng mà tuổi cũng lớn rồi...

Thôi, im lặng mà thôi.

Dân Choa

(FB Dân Choa)

Theo TTHN

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Một sự bình thường mang màu trơ trẽn!


Một giảng viên đại học, một ông bí thư, một thằng bán cà rem hay một ả lượm rác... đều rất bình thường khi có ước muốn chuyển nơi ở từ ngoại ô của mình vào trung tâm thành phố!

Trong giao dịch xưa nay hay "kinh tế thị trường" hiện nay, muốn trao đổi thành công người ta luôn nắm rõ khái niệm "vật ngang giá". Vật ngang giá có thể là vàng, là tiền, là đất, là trình độ, là tình dục, là "gia đình chính sách", là chức vụ của ông bố, bà mẹ...

Nhưng với cái khát khao của một đô thị đang hướng tới văn minh hiện đại, với cái thương hiệu được bơm thổi liên tục là "đáng sống" thì khái niệm công bằng phải được hiểu theo nghĩa đen, tức là "cô muốn miếng đất ở trung tâm đó, cô cứ bỏ tiền ra mua, nếu đúng giá, được giá tôi sẽ bán". Nhưng lấp liếm thay, khái niệm công bằng này lại được theo nghĩa tùy tiện, nghĩa bóng. Vì thế, chỉ vài "cái đơn", một miếng đất vườn thành đất xây dựng, chỉ vài "cái đơn" miếng đất xây dựng kia thành đất phân lô tái định cư, rồi cũng vài "cái đơn" đất phân lô tái định cư kia thành đất vàng trung tâm thành phố...

Làm gì mà sai được khi cấp dưới muốn nhận định về cấp trên, làm gì mà sai được khi mà "kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đó" không bao giờ nhận mình là sai...

Vì thế nó rất bình thường, nó bình thường như câu phát ngôn của vị lãnh đạo kia, cái bình thường mà trong cái thành phố gần triệu dân này chỉ có vài người như cô con rượu của ông mới làm được. Nó bình thường đến nổi chỉ vài cái đơn, một "vật ngang giá" vài trăm triệu đã được "hợp thức hóa" thành "vật ngang giá" gần chục tỉ đồng.

Đúng vậy! Chính vì cái cảm giác rất bình thường kia mà mấy chục năm nay, hàng hàng lớp người kéo nhau lăn lê bò lết từ địa phương ra đến trung ương khiếu kiến, mất nhà cửa, mất công ăn việc làm, mất cả tương lai...

Đất không chân mà đất cũng biết đi "nhầm". Đất rõ ràng như vậy mà cũng bị ém, mà "ém" toàn đất vàng, và cuối cùng "ém" để... bố trí cho ai, để "bán" cho ai???

Một sự bình thường mang màu trơ trẽn!

MP


Xem thêm:
Những ai đứng đằng sau Giang Kim Đạt?
Đà Nẵng họp nóng vì vụ việc 'đất vàng cho con Bí thư Thành ủy'
Việc bố trí đất cho con gái Bí thư thành ủy Đà Nẵng: Có ưu ái nhưng không bất thường

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tránh vỏ dưa sẽ gặp vỏ dừa


Nguyễn Vũ
(TBKTSG) - LTS: Những bài học rút ra qua sự kiện thị trường chứng khoán (TTCK) Trung Quốc lao dốc vừa qua rất có giá trị cho TTCK Việt Nam nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung.

Nhiều chuyên gia kinh tế thế giới chia sẻ cùng một nhận định: vấn đề của chứng khoán Trung Quốc không phải khoản tiền khổng lồ lên đến 3.500 tỉ đô la bị bốc hơi trong thời gian ngắn, vấn đề là qua cách ứng xử với cú sụt giảm giá cổ phiếu lần này, Trung Quốc đã đánh mất niềm tin của giới đầu tư vào tính minh bạch, tôn trọng quy luật thị trường và thậm chí mô hình phát triển của nước này.

Theo thông tin tổng hợp từ các báo, để ngăn chặn đà giảm sút của giá cổ phiếu, chính quyền Trung Quốc đã áp dụng những biện pháp chưa từng có. Tuần trước 17 ngân hàng cùng nhau cam kết cho công ty tài chính chứng khoán China Securities Finance (CSF) vay đến 1.300 tỉ nhân dân tệ (gần 210 tỉ đô la) để nơi này có tiền bơm cho người dân vay mà chơi chứng khoán theo kiểu đòn bẩy trong khi chính kiểu chơi chứng khoán này là một trong những nguyên nhân gây ra đợt bong bóng này.

Nếu một người có 100 đồng, mở tài khoản và được vay thêm 100 đồng để mua bán chứng khoán - cách giao dịch này gọi là giao dịch ký quỹ (margin trading), sẽ khuếch đại lời cũng như lỗ của người chơi lên nhiều lần. Trước đây vay tiền để làm đòn bẩy như thế bị cấm ở Trung Quốc nhưng được nới lỏng dần từ năm 2010. Thế là dân Trung Quốc đua nhau vay nợ để chơi chứng khoán - nợ ký quỹ như thế đã tăng ba lần từ tháng 6-2014, theo tờ Wall Street Journal. Vay nợ để chơi chứng khoán thì nước nào cũng có nhưng ở Mỹ, tỷ lệ này chỉ chừng 2-3% còn ở Trung Quốc đã tăng vọt lên 8,5% trong một thời gian ngắn. Điều quan trọng hơn là không một ngân hàng trung ương nước nào lại đứng ra tuyên bố sẵn sàng rót tiền cho công ty chứng khoán nhà nước (ở đây là CSF) để hỗ trợ chuyện giao dịch ký quỹ như ở Trung Quốc. Mười bảy ngân hàng cho CSF vay cũng là dưới sự chỉ đạo của ngân hàng trung ương nước này, tạo ra một nguy cơ rủi ro cho các ngân hàng này nếu thị trường có một cuộc sụp đổ trong tương lai.

Những biện pháp khác để vực dậy thị trường bao gồm chuyện tạm ngưng các vụ phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng; cho hơn một nửa công ty đang niêm yết tạm ngưng giao dịch; buộc các cổ đông lớn (có trên 5% cổ phần), giới điều hành và hội đồng quản trị các công ty niêm yết không được bán cổ phiếu trong vòng sáu tháng; buộc các công ty mua lại cổ phiếu của chính họ... Căng nhất là cho cảnh sát điều tra các vụ bán khống, các vụ bị cáo buộc là thao túng giá. Quy mô lớn nhất là việc các quỹ hưu trí sẵn sàng rót tiền vào chứng khoán.

Một số biện pháp này trông rất phản cảm đối với những nhà đầu tư quốc tế vì một lẽ rất đơn giản, không chính phủ nước nào lại đứng ra cấm người này bán cổ phiếu, bắt người kia phải mua hay dùng tiền thuế của dân để rót vào canh bạc chứng khoán cả. Chắc chắn với những biện pháp quyết liệt như thế, thị trường sẽ phục hồi, thậm chí tăng mạnh như cũ nhưng tâm lý ngán ngại của nhà đầu tư nước ngoài xem như đã định hình. Cũng may cho Trung Quốc là tỷ lệ cổ phiếu nước này do người nước ngoài nắm giữ còn rất thấp - dưới 1%.

Với nhà đầu tư nội địa, các biện pháp can thiệp ắt sẽ được hoan nghênh vì ai mà không muốn thấy giá cổ phiếu mình đang nắm giữ tăng giá. Nhưng uy tín của chính quyền lúc đó sẽ gắn với giá cổ phiếu - giả thử sau này khi cần để thị trường tự điều chỉnh vì bong bóng quá căng thì không ai dám để giá tụt như vừa qua. Xem như thị trường chứng khoán không còn đóng vai trò phân bổ vốn hiệu quả nhất cho những doanh nghiệp cần vốn và xứng đáng nhận vốn; nó không còn là hàn thử biểu đo lường sức khỏe của nền kinh tế nữa mà trở thành thước đo uy tín của chính quyền - một điều hoàn toàn phi thị trường.

Hình ảnh Trung Quốc cố gắng xây dựng trong hai năm qua như thúc đẩy hoàn thiện cơ chế thị trường, giảm bớt các can thiệp của nhà nước vào sự vận hành của nền kinh tế đã bị phá hủy trong chốc lát. Tạp chí Vox kết luận: “Thế hệ sắp tới của giới điều hành, doanh gia và nhà đầu tư Trung Quốc sẽ ít dùng thời gian vào việc cố gắng làm cho doanh nghiệp mình đạt năng suất cao hơn, cải tiến nhiều hơn mà sẽ dành nhiều thời gian nghĩ cách làm hài lòng chính quyền Bắc Kinh”.

Thật ra sự bùng nổ giá chứng khoán ở Trung Quốc trước những tuần lễ sụt giá vừa qua cũng do các biện pháp trước đó của chính quyền như nới lỏng việc cho vay làm đòn bẩy, giảm lãi suất, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng... Lúc đó Trung Quốc muốn dùng thị trường chứng khoán để huy động nguồn lực của người dân vào việc cân đối lại các khoản thua lỗ lớn của doanh nghiệp tích tụ trong nhiều năm qua. Nói một cách ngắn gọn, khi con đường gia tăng xuất khẩu để làm động lực tăng trưởng kinh tế không còn hiệu quả do sức mua các nước sụt giảm sau khủng hoảng kinh tế, Trung Quốc xoay qua kích cầu nội địa. Khắp nơi vay nợ để xây cầu, đường, địa ốc, sân bay, bến cảng trong khi hiệu quả không được tính đến. Lúc đó họ mới tính đến việc huy động các khoản tiết kiệm của người dân thông qua con đường chơi chứng khoán để giảm nợ, kích thích nhu cầu nội địa. Ở góc cạnh này thì Trung Quốc đã thành công khi đến 85% nhà đầu tư là cá nhân chứ không phải nhà đầu tư tổ chức như ở các nước khác. Người dân bị cuốn vào cơn sốt chứng khoán đến nỗi có câu nói nửa đùa nửa thật: không ai thật sự làm việc cho đến sau 3 giờ chiều (giờ thị trường đóng cửa).

Cái khơi mào cho đợt sụt giảm chứng khoán vừa qua cũng đến từ các chính sách siết lại khi thị trường quá nóng. Dù thị trường đã giảm tổng cộng một phần ba giá trị so với đỉnh cao hồi tháng 6 năm nay, chỉ số chứng khoán Trung Quốc vẫn còn cao hơn cùng kỳ năm ngoái đến 80%.

Vì thế, một nhận định khác cũng được nhiều người chia sẻ: Trung Quốc đã đổi một vấn đề này lấy một vấn đề khác, có thể sẽ nhức đầu hơn trong tương lai.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Một vụ án khác nữa


Mỗi người một vụ án
(Trần Dần)

Ai từng đọc Thomas Bernhard, đọc thật kỹ, sẽ biết tuy rằng Bernhard không mấy khi bình luận văn chương của người khác, nhưng những lần ít ỏi làm việc ấy, Bernhard rất dữ dội. Trong Auslöschung, cuốn tiểu thuyết lớn viết cuối đời, Thomas Bernhard như thể muốn mở một phiên tòa cho toàn thể văn chương Đức. Bản án rất nặng nề: với Bernhard, toàn bộ văn chương Đức (văn chương viết bằng tiếng Đức thì đúng hơn, bao gồm cả các tác giả Đức, Áo và Thụy Sĩ), gần như toàn bộ văn chương Đức, là "văn chương cặp tài liệu", nghĩa là thứ văn chương văn phòng, bàn giấy, nghĩa là hạ cấp. Goethe cũng thế, không phải một ngoại lệ. Không những thế, văn chương Đức lại còn sặc mùi tiểu tư sản: văn chương Đức sặc mùi tiểu tư sản công chức. "Dưới mắt chúng ta là một thứ văn chương tiểu tư sản của tụi công chức, khi nào ta có ở dưới mắt văn chương Đức [...] Thomas Mann, phải, cả Musil nữa, người mà tuy nhiên tôi xếp ở hạng cao nhất trong số tất tật những kẻ sản xuất ra thứ văn chương công chức này [...] Thomas Mann nhà tư sản lớn đã viết ra một thứ văn chương tiểu tư sản, từ đầu đến cuối". Vụ án văn chương Đức dưới sự chủ tọa của Thomas Bernhard này không hề dễ chịu.

Nhưng, Musil không phải ngoại lệ, Goethe không phải ngoại lệ, nhưng trong mắt Bernhard vẫn có một ngoại lệ: đó là Franz Kafka. "Ngoại trừ Kafka, ông ấy từng thực sự là một người làm công ăn lương, nhưng lại là người duy nhất không viết một thứ văn chương công chức và nhân viên, còn tất tật những người khác chẳng viết gì khác, bởi vì họ tuyệt đối không có khả năng làm một cái gì khác. Nhân viên Kafka là người duy nhất không viết một thứ văn chương nhân viên và công chức, mà viết văn chương lớn". Cuốn tiểu thuyết Auslöschung, cuốn sách về sự kết thúc, tắt lịm, dập vùi, được Thomas Bernhard xuất bản năm 1986.

Kafka luôn luôn là một ngoại lệ, kể cả trong một phiên tòa khắc nghiệt phi thường như phiên tòa của Thomas Bernhard. Lúc nào Kafka cũng là một ngoại lệ. Đến cả các nhà mác-xít cũng không coi ông là kẻ thù. Từ vụ án này qua vụ án khác, Kafka vẫn lành lặn như thể không cái áo nào, dù là tôn giáo, chính trị hay ý thức hệ có thể chụp được lên ông một cách lâu dài. "Vụ án Kafka" vẫn còn nguyên.

Và ở ngọn nguồn là một vụ án: thật ra ta hiểu gì về cuốn tiểu thuyết Vụ án? Josef K. muốn nói gì với chúng ta, muốn làm chúng ta hiểu điều gì? Dẫu có là gì, thì cho đến giờ tiếng nói của Josef K. vẫn cứ tiếp tục vang lên. Chẳng một ai thực sự thành người mà không trải qua ít nhất một vụ án khốc liệt. Mà một vụ án đồng nghĩa với tra xét, đứng trước ánh mắt của đám đông, là cảm giác về sự nhục nhã thiết thân của con người. Nhưng cùng lúc, Vụ án lại như thể chẳng nói gì về tất tật những thứ ấy, nó chỉ nói rằng có một người tên là Josef K. một sáng thức dậy trong căn phòng của mình thì thấy có hai tay đến tìm, thông báo cho biết anh đang mắc vào một vụ án, hai tay ấy ăn bữa sáng của Josef nhưng cũng không thực sự làm gì thô lỗ hay bạo lực lắm (chính hai tay này sau đó còn bị đánh đòn). Rồi Josef K. phải vào căn phòng của cô hàng xóm để gặp giám thị, rồi có ba nhân viên cùng làm ở ngân hàng cứ theo sát Josef, nhưng cũng không thực sự làm gì; Josef sẽ đến dự cuộc họp ở trụ sở tòa án (trụ sở tòa án nằm ở tầng áp mái các tòa nhà trong thành phố), gặp luật sư vân vân và vân vân.

Trong thập niên 60 của thế kỷ 20, lần đầu tiên những bức thư Kafka gửi Felice Bauer được in, những bức thư này được viết vào đúng quãng thời gian Kafka viết Vụ án. Elias Canetti đã viết một cuốn sách phân tích những bức thư này, lý giải những liên hệ giữa thư gửi Felice và cuốn tiểu thuyết Vụ án; cuốn sách ấy mang tên Vụ án khác của Kafka, chỉ ra rằng trước Vụ án (cuốn tiểu thuyết) đã có một "vụ án" khác, nhất là một "phiên tòa" khác, tức là buổi gặp ở Berlin vào tháng Bảy năm 1914 với kết quả là hủy bỏ hôn ước giữa Kafka và Bauer. Lý giải này của Elias Canetti, buộc chặt quá trình viết Vụ án với câu chuyện Kafka-Bauer, chỉ sau một lúc cũng trở nên lung lay, thiếu vững chắc như mọi cách lý giải khác về Kafka, dẫu cho là cách lý giải nhấn mạnh vào khía cạnh tôn giáo ở tác phẩm của Kafka, cách lý giải nhấn mạnh vào một khía cạnh khác nào đó, hay bất kỳ cách lý giải nào khác nữa.

Nhưng dường như Elias Canetti đã đúng ở điểm này: luôn luôn, ở Kafka, có một "vụ án", đồng thời lại có một "vụ án" khác nữa. Hơn thế nữa, hai (hay nhiều) vụ án liên quan đến Kafka lại gây ra thực tế là phán quyết của phiên tòa này lại phủ nhận phán quyết phiên tòa kia. Một sự quy tội mang tên "bi quan" lại gặp rất nhiều phản chứng dưới cái tên chung "yêu đời", chẳng hạn vậy, và cứ thế tiếp diễn mãi không thôi. Các cầu thang trong tác phẩm của Kafka khi nào cũng có nhiều ngả rẽ bất ngờ, hoặc có thể mở vào một căn phòng nào đó, như tình cảnh mà Karl Rossmann rơi vào trên con tàu cập bến cảng New York trong Amerika.

Khi những cơn bão như "phi lý", "hiện sinh", "huyền ảo" đã ào ạt đi qua rồi yếu dần, nhiều thứ biến mất đi, nhưng vẫn còn lại Kafka, hình như vẫn nguyên vẹn không hề hấn gì, ở ngọn nguồn mọi sự hình như vẫn còn một "vụ án" chưa hề giải quyết xong xuôi. Tôi nghĩ, sau bao nhiêu chà xát của thời gian, "tam vị của văn chương hiện đại", nghĩa là Proust, Kafka và Joyce, dần dà cũng thay đổi, dần dà ở Joyce chỉ còn trơ khấc ra sự dị hợm. Chỉ còn lại Kafka và Proust vẫn tiếp tục dồi dào, càng ngày càng dồi dào hơn.

Đọc Kafka, chẳng hạn như Vụ án, ta hay có cảm giác sắp nắm bắt được điều gì đó. Ví dụ như khi Josef K. đi đến trụ sở tòa án ở tầng áp mái ở một khu nhà trong thành phố, trèo cầu thang lên rồi không biết đi đâu nữa, đến chân một cầu thang thì Josef nghĩ, bởi vì pháp luật luôn bị tội lỗi thu hút, cho nên mình phải đi lên cầu thang này; hoặc giả có những lúc ta có cảm tưởng như đang đứng trước gương, điều mà Kafka đang nói hiển ngôn bằng ngôn ngữ phải hiểu chính xác ngược lại; nhưng rồi cũng lại chẳng đi đến đâu, mọi con đường đều nhanh chóng bị chặn lại. Nhưng, điều này mới đặc biệt, chính trong lúc chẳng biết đi đâu nữa, thì cái cảm giác ấy đến, thật to lớn, rằng chính xác vào lúc đang không biết nghĩ gì, nghĩa là lúc suy nghĩ của ta bị khựng lại, trống rỗng, thì cũng lúc ấy, ta tiếp nhận được nguyên vẹn một điều gì đó rất đặc biệt, mà chỉ Kafka mới có thể đem tới.

NB. sắp có bản tiếng Việt mới của Vụ án

Nhị Linh
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vương Trí Nhàn viết về Tố hữu:

Trước mắt tôi là sưu tập Văn Nghệ số 40 ra 3-1953. Lúc này cơ quan Hội văn nghệ đang đóng ở rừng Việt Bắc. Nhân cái chết của Stalin, tạp chí của Hội ra một số đặc biệt, không chỉ Tố Hữu mà nhiều tác giả khác có bài liên quan tới sự kiện này.


Về thơ 
Chế Lan Viên có Stalin không chết, mở đầu bằng mấy câu
Stalin mất rồi
Đồng chí Stalin đã mất!
Thế giới không cha nặng tiếng thở dài 

Ở đoạn dưới
Mẹ hiền ta ơi 
Em bé ta ơi
Đồng chí Stalin không bao giờ chết

Triệu triệu mẹ già em dại
Đều là súng Stalin để lại ( VTN gạch dưới)*
Giữ lấy hòa bình thế giới
Tiếng nổ ca vang dội thấu mặt trời

Các bài tiếp theo:
Trước bài Đời đời nhớ Ông của Tố Hữu là bài Nhớ đồng chí Sta lin của Huy Cận
Tiếp đó các bài của Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn.
Xuân Diệu có bài Thương tiếc Đại nguyên soái Stalin:
Nghe tin mất mới thấy lòng quyến luyến
Từ bao lâu yêu Người tận tủy xương
Tiếng khóc đây là tất cả can trường 
Thấy Người thật là bát cơm miếng bánh 
Người gắn với chúng con trong vận mệnh

Về phần văn xuôi.
Phan Khôi có bài Một vị học giả mác-xít thiên tài. Trước khi viết kỹ về cuốn Chủ nghĩa Mác và vấn đề ngôn ngữ, Phan Khôi có đoạn dạo đầu ngắn:

Đối với cái chết của Đại nguyên soái Stalin, vấn đề đề ra trước mắt những người đang sống là: Chúng ta phải học tập Stalin, học tập đạo đức cách mạng và trí tuệ của ông, được cả càng hay, không thì được phần nào cũng hay phần ấy, đó là một đảm bảo vững chắc cho cuộc thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, của Chủ nghĩa tân dân chủ.
Lê Đạt thì xuất hiện như một phóng viên, ghi lại không khí một nhà máy trong rừng khi nghe tin Stalin mất. Bài viết khoảng 3.000 chữ này kể chuyện cái chết của Stalin đã gợi lên niềm xúc động to lớn, từ đó đánh thức tinh thần lao động sáng tạo của cả một tập thể công nhân gang thép.

Xin phép mở một dấu ngoặc.
Ngoài các bài Liễu, Bài thơ tình ở Hàng Châu, Tế Hanh còn có bài thơ ngắn sau đây, viết trong đợt thăm Trung quốc 1962. Tôi vẫn thường nhẩm lại mỗi khi nhớ tới đời sống tinh thần của chúng tôi những năm 1965 về trước.
Hồ Nam xe chạy không dừng bước 
Dãy núi cao liền dãy núi cao
Quê hương lãnh tụ mây thêu nắng
Thấy mặt trời lên nhớ bác Mao
Tôi muốn thầm nói với Tế Hanh: Anh không việc gì phải xấu hổ cả. Hồi ấy, bao nhiêu người nghĩ thế, chứ đâu phải riêng anh!

Trở lại chuyện Tố Hữu.
Nếu có ai hỏi tôi thích bài nào của Tố Hữu nhất, tôi sẽ nói rằng đó là cụm mấy bài ông làm hồi đi tù, in trong phần Xiềng xích của tập Từ ấy.
Bài Nhớ đồng
Gì sâu bằng những trưa thương nhớ 
Hiu quạnh bên trong một tiếng hò
Bài Tiếng hát đi đầy
Hỡi những anh đầu đi trước đó
Biết chăng còn lắm bạn đi đầy
Những bài thơ này có cái giọng mà sau này không bao giờ Tố Hữu có nữa. Nhà thơ bơ vơ trong cảnh đơn độc ở núi rừng. Phải làm thơ, phải lấy thơ để tự khẳng định, thơ cất lên không để cho ai mà trước tiên để cho mình .
Những bài thơ viết khi người ta không biết mình sẽ sống hay chết như thế này,
tôi còn gặp một lần nữa trong thơ VN về sau, đó là tập Ánh sáng và phù sa.
Khi soạn tập thơ (1960), Chế Lan Viên chưa chuyển sang giai đoạn lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa , như Xuân Sách sẽ viết .

Sinh thời, Tố Hữu hay nói, đại ý hãy coi ông là nhà cách mạng, sau đó mới là nhà thơ.
Như thế tức là ông cũng đã biết chỗ đứng của mình trong lịch sử.
Có điều không phải luôn luôn người ta làm được đúng như những điều người ta tự xác định.
Là một người hết sức nhạy cảm và sẵn có cả chất mệ của quê hương, ông thừa biết nhiều khi dân văn nghệ ca ngợi thơ ông vì ông là quan chức phụ trách người ta, nắm sinh mệnh của người ta.
Song nếu đủ sáng suốt để từ chối những lời nịnh bợ thường trực thì ông đã không còn là ông nữa.
Lẽ đời là vậy, lúc được được quá cái đáng được, thì lúc mất cũng mất quá cái đáng mất.
Nhưng về phần chúng ta, mỗi lần đả động đến ông, tôi nghĩ nên phân biệt đang nói về ông như một quan chức cao cấp hay nói về ông như một nhà thơ.

Khoảng năm 1973, Hà Nội có một triển lãm điêu khắc với ngôn ngữ khá hiện đại của Nguyễn Hải và Lê Công Thành. Chính Tố Hữu cũng rất thích -- sang Hội nhà văn nghe ngóng về, Nguyễn Khải báo cho tôi biết tin vui đó. Nhưng rồi hóa ra chúng tôi mừng hụt. Mấy vị to hơn tới xem cho là không được. Và người ta lại thấy Tố Hữu cho truyền đi nhận định không thể tìm tòi kiểu ấy, mà hãy trở lại với thứ điêu khắc mô phỏng đời thường, kiểu Trần Văn Lắm!
Tức là cũng như chúng ta, Tố Hữu cũng có lúc phải làm ngược điều mình nghĩ.
Trước đó năm 1965, Nguyễn Thành Long bị nạn với bút ký Cái gốc. Bài ký cũng chẳng có chuyện gì đen tối lắm, chỉ tả phụ nữ trong chiến tranh quá nhếch nhác, nên bị Đảng đoàn Hội phụ nữ kêu.Theo chỗ tôi nhớ, lúc đầu Nguyễn Thành Long rất tự tin, vì Tố Hữu đã nhắn xuống tỏ ý bênh, “họ có Đảng đoàn thì mình cũng có Đảng đoàn chứ “( ý nói Đảng đoàn phụ nữ và Đảng đoàn văn nghệ-- hai cấp tương đương nhau ). Thế nhưng bên phụ nữ kiện lên trên và cuối cùng văn nghệ thua, Cái gốc chung số phận với Tình rừng.

Nguyễn Khải kể khoảng năm 1963, có lần được dự một cuộc họp cùng bí thư tỉnh ủy các tỉnh đồng bằng do Tố Hữu chủ trì, chắc là bàn về công tác tuyên huấn. Trong lúc nghe mọi người thảo luận, bỗng Nguyễn Khải thấy Tố Hữu đang đi quanh thì dừng lại, ghé vào tai mình nói nhỏ:
-- Chăc nhà văn nhìn cảnh này như một trò hề?!
Rồi ông lảng ngay, lên bàn chủ tịch, tiếp tục lo nốt các việc đang làm dở.

Cái lạ của các nhà văn sau 1945 là khi tính viết con người thời nay, chỉ hay viết về nhân vật quần chúng công nông. Còn những người kéo quần chúng đi, vẽ ra cái mẫu điển hình để quần chúng sống theo và nói chung chỉ có vai trò đơn giản là…lèo lái toàn bộ đời sống – những nhân vật quan chức nhân vật cán bộ kiểu ấy lại chả ai viết bao giờ.

Tôi đã phác qua một vài nét về Tố Hữu hồi ở Việt Bắc trong ghi chép về Nguyễn Đình Nghi. 
Nhị Ca kể với tôi cái tình tiết sau đây: trong rừng, cạnh cơ quan, thường có những quán cà phê, anh em hay ra đấy đấu láo. Đang vui thì Tố Hữu đến. Thế là mọi người không ai bảo ai rút lui hết. Chỉ còn một người bao giờ cũng ngồi với Tố Hữu đến cùng. Là Hoài Thanh.
Cái công của Tố Hữu hồi ấy là giữ cho được anh em đi theo kháng chiến đến cùng không để họ trở về thành.

Những năm chiến tranh, thỉnh thoảng một số anh em viết trẻ chúng tôi cũng được gọi đi nghe Tố Hữu nói chuyện. Có một câu ông nói khiến tôi nhớ nhất và phải nói thực sợ nhất, đó là cái ý ông bảo sang nước ngoài thấy đời sống họ lạnh lùng lắm, về nước thấy đồng bào mình sống với nhau, ấm cúng hơn hẳn.
Ông cũng thường nói là nổi tiếng ở nước ngoài thì dễ, nổi tiếng ở trong nước mới khó .
Lại có lần khuyến khích lớp trẻ, ông bảo phải biết đấu tranh cho chân lý, khi cần phải cắn xé(!). May mà bọn tôi đã nghe nhiều về tính đồng bóng của ông, nên chẳng mấy cảm động, nhớ đâu hình như chính Xuân Quỳnh bảo rằng có mà ông cho ghè gẫy răng.

Tố Hữu quản cán bộ cấp dưới thế nào? Nguyễn Khải nhận xét có vẻ như càng những người bất tài và có khuyết điểm ông lại càng thích dùng. Những ông A ông B từng bị Tố Hữu mắng như tát nước vào mặt lại rất vững vàng trong vị trí của mình. Vì ông thừa biết loại đó bảo thế nào họ cũng phải nghe.
Bảo Định Giang, người phụ trách Hội liên hiệp những năm ấy thường kể với mọi người ông Lành dọa sẽ lấy đầu nếu BĐG để một vài văn nghệ sĩ tiêu biểu lơ mơ ở Hà Nội rồi dính bom đạn.

Một lần, khoảng những năm trước 1980, tôi ngồi với Nguyễn Khải, Xuân Sách, cùng giở một số báo Tết. Khi ấy Tố Hữu đã đi phụ trách kinh tế, nhưng các số báo tết vẫn có bài của ông. Nguyễn Khải sát hạch tôi:
-- Thằng Nhàn hãy thử bình một câu xem nào.
Tôi lúc đầu cũng chỉ biết nói như mọi người:
-- Thế là được một nhà kinh tế mà mất một nhà thơ.
Nguyễn Khải gạt phắt đi:
-- Không được.
Trong cơn bí, tôi phụt ra một ý mà trước đó tôi không hề nghĩ:
-- Người làm ra những bài thơ như thế này thì chắc làm kinh tế cũng không ra gì!
Bấy giờ Nguyễn Khải mới cười, bảo ra tôi cũng bắt đầu biết rồi đấy.

Kim Lân có lần rủ rỉ bảo tôi chính Tố Hữu đã kể với tác giả Vợ nhặt rằng hồi nhỏ ông mắc bệnh mộng du. Có lần chui lên cả bàn thờ họ mà làm một giấc ngủ trưa

Tố Hữu & một nền văn nghệ phục vụ cách mạng
Bài viết trên Thể thao& văn hóa,
ngày Tố Hữu mất 

Trước nay đã vậy mà vào dịp Tố Hữu qua đời cũng vậy, tác giả Từ ấy thường được biết tới như một tiếng thơ hùng tráng, nhà thơ mang tiếng nói của cách mạng, người mà sinh thời, mọi sáng tác được truyền tụng rộng rãi đến mức chưa một nhà thơ nào trong lịch sử dân tộc biết tới.
Nhưng trên cái nền rộng rãi của lịch sử đất nước nửa cuối thế kỷ XX, Tố Hữu còn nổi bật trong một vai trò lớn lao khác: ông chính là một thứ tổng công trình sư đảm nhiệm vai trò thiết kế, một thứ tổng đạo diễn, suốt đời gắn bó với mọi hoạt động của nền văn nghệ mới.

Hà Nội đầu 1946. Cách mạng thành công đã được mấy tháng, nhưng nhiều văn nghệ sĩ còn đứng ngoài, một người như Nguyễn Tuân sau này cũng kể là ông còn “ ngủng ngoẳng chưa thật sự muốn theo Việt Minh “. Một lần, nghe Hoài Thanh nói rằng có một nhà thơ cách mạng muốn gặp, ông “ nắn gân “ bằng cách hẹn ngay ở Thuỷ Tạ Bờ Hồ ( lúc bấy giờ là một nơi ăn chơi phức tạp ! ). Nhưng nhà thơ kém Nguyễn Tuân đúng chục tuổi kia không ngán, mà vẫn tới, thuyết phục Nguyễn Tuân tham gia đoàn văn nghệ sĩ đi mặt trận. Nhà thơ đó là Tố Hữu.
Hạ Hoà, Phú Thọ, mùa đông 1948. Hội văn nghệ Việt Nam đã được thành lập, song còn lúng túng trong phương hướng sáng tác, nói theo chữ của Xuân Diệu là các ông còn “ mơ màng tìm kiếm những sáng choang bóng lộn thơm phức tận đâu đâu...” Một lần, trên mặt trận đưa về một bài thơ là bài Viếng bạn của Hoàng Lộc. Đọc xong, Xuân Diệu phát biểu thành thật “ Chẳng thấy hay”. Lúc ấy có một nhà thơ khác “đã rất bầu bạn làm trạng sư cho bài thơ “. Theo chính lời kể của Xuân Diệu, “ anh chăm chăm bình lại từng đoạn một, giúp tôi cảm xúc cái tình cảm của bài thơ đặng cho tôi thành bà con rồi ruột thịt của nó. Từ đêm hôm ấy, tôi vỡ lẽ ra dần, dần dần chuyển cách thức ăn nếm của mình “. Nhà thơ đó cũng là Tố Hữu.
Hai mẩu chuyện trên đây đã tóm tắt khá đầy đủ hai phương diện còn ít được nói tới trong đóng góp của Tố Hữu đối với lịch sử văn học. Đó là, một mặt tập hợp đội ngũ sáng tác, tổ chức họ thành một binh đoàn hùng mạnh trong lực lượng cách mạng; mặt khác, dần dần từng chút một, làm thay đổi cả cách hiểu cũ về văn học, hình thành nên một cảm quan văn chương mới và thông qua các phương tiện truyền thông, nhất là thông qua hệ thống nhà trường được phổ cập rộng rãi, nhân rộng mãi nó ra, biến nó thành cảm quan của thời đại.
Những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp phát hiện cho người ta thấy hình ảnh một Tố Hữu như là một nhà cách mạng bẩm sinh : ông dám bắt đầu một công việc từ chỗ gần như chỉ có hai bàn tay trắng.Thành công của ông giữa núi rừng Việt Bắc là thu hút được những tên tuổi nổi tiếng (từng được xem như niềm tự hào của kháng chiến ) từ Ngô Tất Tố tới Phan Khôi, từ Nguyễn Tuân tới Thế Lữ, từ Hoài Thanh tới Đoàn Phú Tứ... trong một tổ chức gọn gàng là Hội văn nghệ, quản lý họ, lôi cuốn họ vào công việc, cùng với họ ra báo dịch sách và đưa họ đi tham gia các chiến dịch cho đến ngày theo chân các đoàn quân về giải phóng thủ đô 10 / 1954.
Mặc dù về sau còn được giao phó nhiều trọng trách khác trên các lĩnh vực tư tưởng và có khi cả kinh tế, song không bao giờ Tố Hữu rời bỏ công tác văn nghệ, mảnh đất đã giúp ông xây dựng sự nghiệp chính trị. Với ông những câu “ văn nghệ phục vụ chính trị “ hoặc “ văn nghệ cũng là một mặt trận “ không chỉ là khẩu hiệu mà là quan niệm có thể và cần phải được hiện thực hoá hàng ngày.
Sau kháng chiến chống Pháp, ông kiên định trong việc chỉ đạo từ vụ Nhân văn giai phẩm tới các cuộc chống xét lại cũng như giáo điều trước chiến tranh, để rồi tiếp tục huy động một cách rất thành công sự đóng góp của giới văn nghệ trong những năm chống Mỹ.
Tình thương mến, tình nghĩa, thuỷ chung... là những điều thường được ông nhắc lại nhiều hơn cả khi tiếp xúc với những con người làm việc trên lĩnh vực nhạy cảm này. Ông hiểu rất rõ chỗ mạnh chỗ yếu của họ. Khi nâng niu trân trọng lúc yêu cầu se sắt gắt gao, ông biết cách làm cho mỗi người trong họ có được kết quả cụ thể trong công việc.
Với sự nhạy cảm tuyệt vời của một nghệ sĩ, ông hình thành được một đội ngũ những người cộng sự trung thành, từ Nguyễn Đình Thi tới Chế Lan Viên, từ Hà Xuân Trường tới Bảo Định Giang... và nhờ thế có tiếng nói quyết định trong các vấn đề trọng yếu của văn nghệ ngay cả khi đã quá bận bịu vì những công việc to lớn khác.
Tinh thần cách mạng, tinh thần sáng nghiệp sử ( khai phá một con đường đi mới dám làm những việc xưa nay chưa ai từng làm ) cũng được Tố Hữu quán xuyến trong khâu xây dựng một quan niệm mới về văn nghệ. Cách mạng cần động viên tinh thần chiến đấu của công nhân nông dân ? Thì ông lo đào tạo những người sáng tác xuất thân từ công nông và nhất là lo có những tác phẩm giản dị, tự nhiên mà công nông có thể hiểu được. Những chuẩn mực của nền văn nghệ cũ tỏ ra không thích hợp với yêu cầu cấp bách của cách mạng ? Thì chúng phải bị gạt bỏ để thay thế bằng những chuẩn mực mới. Điểm xuất phát của những chuẩn mực vừa hình thành này là dễ làm nhiều người có thể làm, dễ hiểu và không ai có thể hiểu sai, bởi đây là một nền văn nghệ thuộc về nhân dân lao động.
Câu chuyện về thị hiếu về cái gout mà trên đây Xuân Diệu đã kể nhân bài thơ Viếng bạn của Hoàng Lộc mang một tinh thần như vậy. Có thể nói Tố Hữu đã làm những việc này với một niềm tin kỳ lạ. Ông không truy tìm những công việc có ý nghĩa lý luận thuần tuý. Những đúc kết của ông là đơn giản thiết thực dễ kiểm tra dễ theo dõi xem nó đã được quán triệt đến đâu, do đó nhanh chóng đi vào thực tiễn.
Những chuẩn mực mới này cố nhiên cũng là điều được Tố Hữu theo đuổi trong sáng tác thơ ( một việc mà gần như không bao giờ ông có điều kiện dành toàn bộ công sức song cũng không bao giờ xao nhãng ). Ở đây có thể nói tới một sự gặp gỡ tự nhiên giữa kiểu tài năng thơ ở ông và những gì ông tin theo và muốn mọi người cùng tin theo.
(Tôi vẫn nhớ một ý của Lê Đình Kỵ đánh giá Ba mươi năm đời ta có Đảng: Đó là một kiệt tác của thể diễn ca)*
Một điều có thể chắc chắn, chẳng những thơ Tố Hữu mãi mãi là bằng chứng của một thời đại trong văn nghệ mà cái cơ chế văn nghệ do ông thiết kế còn tồn tại dai dẳng và những tư tưởng lý luận của ông còn tiếp tục chi phối đời sống văn nghệ trong những năm sau khi ông đã qua đời.Chúng ta có thể chán nó, chê trách nó, muốn thoát khỏi nó, nhưng không thể phủ nhận là đã có nó, nó có lúc là một bộ phận trong gia tài tinh thần của mỗi người làm văn chương nghệ thuật thời nay.
Theo nghĩa ấy, tất cả chúng tôi không ít thì nhiều đều là trong bàn tay nhào nặn của Tố Hữu. Và đến lượt mình, chính ông cũng chỉ là một công cụ của lịch sử.*

Viết lần đầu 12-2002
 *Những doạn nhấn mạnh mới bổ sung 4-10-2010


HAI BÀI THƠ TỐ HỮU 

Sau đây là hai bài thơ Tố Hữu viết về Triều Tiên, bọn học sinh cấp II ( trung học cơ sở ) chúng tôi được học trong chương trình chính khóa mấy năm 1956-57 ở Hà Nội, nhưng lại không thấy in trong các tập thơ của tác giả. Tôi ghi theo trí nhớ, nên có thể có khiếm khuyết, mong được lượng thứ. 


Em bé Triều Tiên
Em bé Triều Tiên ơi
Mẹ của em đâu rồi ?

Có ai đây mà hỏi
Giặc bốn bề lửa khói 

Mẹ của em đấy ư ?
Cái thân trắng lắc lư 
Đầu dây treo lủng lẳng

Cha của em đấy ư?
Cái đầu lâu rũ tóc 
Máu chảy dài thân cọc

Không, không phải em ơi
Mẹ của em đây rồi 
Mẹ em đây 
Người dân công tải đạn
Mẹ em đây người nữ cứu thương 

Cha em đây giữa chiến trường 
Mặt đen khói đạn chặn đường giặc lui.

Anh Chí nguyện 
Con Bác Mao đã đến 
Anh đã đến
Với cha em giết hết loài man rợ 
Cho mẹ em xây lại tổ mềm
Cho em sướng cho em ca múa
Trên đồng hoa bãi lúa
Nhịp sống vui muôn thuở của Triều Tiên

Bé em ơi, giữa súng rền
Ngày mai tươi mát hát trên đất Triều!

Việt Nam – Triều Tiên
Việt Nam với Triều Tiên
Ta là hai anh em
Sinh đôi cùng một mẹ
Thương nhau từ thuở bé
Nay đều khỏe lớn lên

Việt Nam với Triều Tiên 
Ta thành hai đồng chí 
Ta thành hai anh hùng 
Ta thành hai chiến lũy
Cùng bảo vệ hòa bình 
Kim Nhật Thành—Hồ Chí Minh
Hai chúng ta là một
Qua Trung Hoa ta như liền khúc ruột
Với Liên xô ta chung một mái nhà

Bây giờ ta đến thăm ta
Nhìn nhau khóe mắt mầu da thân tình

Cây thông xanh Triều Tiên cháy xém 
Thương cây tre Việt Nam giặc chém
Cây thông xanh nhựa chẩy ròng ròng 
Thương cây tre đứt ruột đứt lòng

Nhưng chúng ta quyết không khuất phục
Chúng ta không một lúc cúi đầu

Chúng ta chiến đấu bên nhau
Tâm giao một tổ trước sau một đường

Ta quyết giữ quê hương Triều Việt 
Cho chúng ta cho cả loài người
Quang vinh Việt Bắc Tháp Mười
Quang vinh Trường Bạch đỉnh đồi Thượng Cam 

Triều Tiên với Việt Nam anh dũng 
Đất nước ta dù im tiếng súng 
Đường bạn còn đi tới Tế Châu
Đường chúng tôi còn tới Cà Mâu 
Ta lại bước bên nhau lại bước
Như giông tố không thể nào ngăn được.

Bây giờ ta với ta đây 
Triều Tiên với Việt Nam anh dũng 
Hôm nay hãy hôn đôi bàn tay
Hôm nay hãy hôn đôi nòng súng 
Giữ hòa bình Tổ quốc chúng ta 
Và ngàn năm Triều Việt một nhà.


Phần nhận xét hiển thị trên trang