Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 26 tháng 5, 2015

Nhà văn Nguyên Ngọc: “Chúng tôi không coi văn học và nhà văn là công cụ của ai hết”


Nhà văn Nguyên Ngọc

  

QTXM-Chúng tôi coi những ý kiến của nhà văn Nguyên Ngọc là những vấn đề cần suy nghĩ đối với mỗi nhà văn và với việc lãnh đạo văn hóa, văn nghệ hiện nay, nên in lại bài này để bạn đọc cùng tham khảo, cùng bàn luận để đi đến những kết luận cho riêng mình.

Liêu Thái thực hiện 

Thưa nhà văn, là một người thuộc vào hàng “công thần khai quốc” của Hội Nhà Văn Việt Nam, đồng thời cũng là chủ khảo của nhiều giải văn học của Hội Nhà Văn Việt Nam (HNVVN), có thể nói là bề dày cống hiến của ông với HNVVN rất dày. Nhưng ông vừa có quyết định từ bỏ HNVVN, ông vui lòng cho biết nguyên nhân và lý do dẫn đến quyết định này? Và HNVVN đã có phản ứng gì với quyết định cùa ông?
Tôi có dự đại hội thành lập HNVVN năm 1957. Tất cả những người dự đại hội đó đều được coi đương nhiên là “hội viên sáng lập”. Tôi là một kiểu “công thần khai quốc” như thế đấy thôi! Hồi đó tôi còn rất trẻ, từ tỉnh lẻ xa xôi mới ngơ ngác về Hà Nội và vừa có tác phẩm đầu tay. Được vào Hội là thích lắm rồi. Về sau mới dần dần hiểu ra và nghĩ khác.
Năm 1979, tôi có lần nói với ông Lê Đức Thọ, bấy giờ là người có vị trí rất cao trong Đảng Cộng sản Việt Nam: Theo tôi quy luật tự nhiên của đời sống văn học là những người cầm bút chơi với nhau, tập họp nhau thành từng nhóm, hoặc vì cùng khuynh hướng nghệ thuật, hoặc vì nhu cầu giúp đỡ nhau thế nào đó, hoặc cũng có thể đơn giản vì thích tính nhau, gần gũi nhau sao đó… Trong từng nhóm như vậy, họ trao đổi với nhau về nghề nghiệp, về xã hội, về mọi thứ…, nhắc nhở, động viên, an ủi nhau trong công việc khó khăn nhất, tuyệt đối độc đảm, chẳng ai thay thế hay làm giùm ai được, là viết, đối mặt với trang giấy trắng; rồi ra sách, đưa sáng tác của mình đến công chúng; giúp nhau trong đời sống, bảo vệ nhau về nghề nghiệp và về xã hội. Một nền văn học phát triển một cách tự nhiên và lành mạnh là từ những nhóm như vậy. Ở ta trước đây và ở hầu khắp thế giới xưa nay đều như thế, tạo nên một đời sống văn học nhẹ nhõm mà đa dạng, giàu có. Từ sau 1945 ta lùa tất cả vào một hội, lại là hội của nhà nước, là phi tự nhiên, chỉ chật chội và làm nghèo văn học. Trong chiến tranh, còn chừng nào chấp nhận được; trong hòa bình rất không nên… Tôi nói với ông Lê Đức Thọ rằng trước sau đời sống văn học cũng sẽ đi theo con đường đó, nếu Đảng muốn lãnh đạo thì Đảng nên chuẩn bị để thích ứng với tình hình đó. Vả chăng, theo tôi, cũng chẳng nên lãnh đạo. Nếu xã hội cần văn học, ấy là cần tiếng nói riêng, khác biệt, độc đáo của từng nhà văn, góc nhìn, cách nhìn riêng của họ, từng người, từng nhân cách và từng tài năng, bằng cách chỉ có văn học làm được, không ai giống ai. Dồn hết họ vào một hội, để chỉ đạo thống nhất, buộc họ nghĩ giống nhau, tức triệt tiêu mất cái riêng họ có, riêng nhà văn mới có để đóng góp, khiến họ chỉ có thể là công cụ tầm thường, vô dụng, còn tai hại nữa, vì khi đó họ chỉ có thể nói theo, nói dối… Rất lạ là ông Lê Đức Thọ bảo: “Nghe cũng phải, để xem…”. Nhưng rồi về sau không thấy ông nói gì, làm gì nữa. Chắc ông còn những lo toan khác, nghiêm trọng hơn, ở chốn cung đình. Mà về phần tôi, tôi cũng không chờ đợi gì ở ông. Nếu đến một lúc nào đó chúng ta có một đời sống văn học thực sự, bình thường, tự nhiên, thì đó cũng do chính những người cầm bút làm ra. Chứ không phải chờ ai cho. Như vậy cái lúc đó nay đã đến. Việc từ bỏ HNVVN hôm nay của chúng tôi là một bước tất yếu theo con đường đó.
Nhắc lại như vậy để nói rằng, ít ra từ 30 năm trước, tôi đã thấy không nên có một hội nhà văn như HNVVN bây giờ, và tôi nên ra khỏi hội đó. Chưa ra ngay vì còn đôi cân nhắc. Năm 1989 tôi được đại hội HNVVN lần thứ tư bầu vào Ban Chấp hành gồm 9 người. Tôi đã nói với các anh chị đã bầu tôi rằng tôi đang đứng trước một lựa chọn: hoặc ở lại làm, hoặc từ chức ngay. Vì tôi biết, với cơ cấu đó, thể chế đó, sẽ có những việc tôi muốn làm, thấy cần làm, cần bảo vệ nhưng tôi sẽ không thể làm được, không bảo vệ được; có những việc tôi biết là xấu, có hại, nhưng tôi sẽ không ngăn được. Cuối cùng tôi đã quyết định ở lại, vì nghĩ bằng cố gắng hết sức may ra có thể làm được đôi việc có ích, và ngăn được đôi điều có hại. Kết quả cũng có lần thành công: Như năm 1991 tổ chức được giải thưởng HNVVN hay nhất trước nay, trao cho ba tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranhMảnh đất lắm người nhiều ma và Bến không chồng. Nhưng đến năm tiếp sau thì người ta đã rút kinh nghiệm để không cho một giải thưởng “sai lầm nghiêm trọng” kiểu đó lặp lại. Còn thì nhiều thất bại: chẳng hạn đã không ngăn chặn được HNVVN vùi dập tập thơChân dung nhà văn của Xuân Sách…
Trong các đại hội tiếp sau đó, cho đến đại hội lần thứ 9 đang được chuẩn bị hiện nay, HNVVN ngày càng tự khẳng định trước hết là “đoàn thể chính trị” (đương nhiên là của Đảng Cộng sản Việt Nam), rồi sau đó mới đến “xã hội”, cuối cùng mới là “nghề nghiệp”. Tôi nghĩ, đơn giản: Vậy thì hãy cứ lập một HNV của Đảng Cộng sản Việt Nam đi. Còn thì để cho những người cầm bút nghĩ khác lập những hội, nhóm khác. Sẽ phong phú, đa dạng hơn, vui hơn.
Thực ra từ hơn 10 năm nay tôi đã không còn dính dáng gì đến HNVVN, không dự sinh hoạt nào, không nhận gì của hội đó. Tôi kính trọng nhiều anh chị đang ở trong hội và tôn trọng sự lựa chọn của từng người. Riêng tôi, ngày tôi càng thấy HNVVN với cơ chế và một ban lãnh đạo như hiện nay không còn có ích gì cho nền văn học Việt Nam, cho người cầm bút, trái lại đang là công cụ đắc lực và không thể khác của một guồng máy phản dân chủ gây hại ngày càng nghiêm trọng cho mọi sáng tạo chân chính, cho cả nền văn học. Một HNVVN như hiện nay thực chất chỉ là cách để Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước kiểm soát văn học.
Trước đây tôi chưa ra vì không muốn gây ồn ào. Việc lãnh đạo HNVVN chủ trương gạch tên những người có ý kiến khác mình trong bầu cử đại biểu cho đại hội của HNVVN vừa rồi chỉ là giọt nước cuối cùng tràn ly của một việc, theo tôi, trước sau cũng sẽ đến. Cũng là dịp để chúng tôi cùng quyết định một lần.
Cho đến nay tôi chưa thấy HNVVN có phản ứng gì đối với quyết định của tôi. Chỉ có việc buồn cười: Nghe nói trong đại hội của chi hội HNVVN quanh cơ quan hội ở Hà Nội vừa rồi lại có quyết định cử tôi làm đại biểu chính thức đi dự đại hội HNVVN sắp tới. Cứ như trò hề! Cũng nghe tin ông Đỗ Hàn nào đó ở cơ quan hội nói rằng lãnh đạo hội chưa nhận được đơn xin ra hội của chúng tôi, đến khi nhận được sẽ xử lý theo điều lệ. Xin nói rõ: Chúng tôi tuyên bố từ bỏ một hội đã suy thoái không phương cứu chữa, không xin phép ai đâu!
Có thể nói rằng với tư cách một nhà văn, ông là một nghệ sĩ rất nặng lòng với dân tộc, với công cuộc giáo dục Việt Nam, và đứng trên phương diện một trí thức, ông có phản ứng rất mạnh mẽ với những vấn đề liên quan đến sự tồn vong của quốc gia, dân tộc. Liệu tâm thế này có mối liên hệ nào với quyết định rời bỏ HNVVN của ông?
Để trả lời câu hỏi này của anh, tôi muốn dẫn lại ở đây một câu của Bernard Frank viết về cuốn sách De Gaulle của François Mauriac mà Frank rất chê, đăng trên báo Le Nouvel Observateur cách đây vừa đúng 50 năm: “Không có bất cứ một nhà chính trị nào trên thế giới đáng cho một nhà văn bẻ gãy ngòi bút của mình vì ông ta. Vai trò của chúng ta (nhà văn) – có cần nhắc lại không nhỉ? – đối với chính quyền nào cũng vậy, là không mệt mỏi đặt lại vấn đề, là thể hiện cái tinh thần phủ nhận, mà ông tướng ấy [tức De Gaulle] đã có lần phàn nàn…”. Vậy đó, tôi cũng hiểu về văn học và nhà văn đúng như vậy. Cũng có thể diễn đạt: Sở dĩ xã hội cần nhà văn, là vì anh ta nói tiếng nói khác, nhiệm vụ của anh ta là gây sự hoài nghi, anh ta khiến những điều đã tưởng là như thế chưa chắc đã là như thế. Văn học đề nghị với con người một cách nhìn khác về mọi sự vật. Tôi hiểu như vậy, sống như vậy, nên không có khác biệt cơ bản nào giữa những việc tôi can dự theo trách nhiệm công dân của mình, về xã hội, về chính trị, về văn hóa, về giáo dục… mấy mươi năm nay, với việc tôi cầm bút và thái độ của tôi đối với HNVVN hôm nay.
Là người chủ xướng xây dựng Văn đoàn Độc lập, ông vui lòng cho độc giả biết đôi nét về Văn đoàn Độc lập?
Trước hết chúng tôi muốn chấm dứt tình trạng dồn nhau hết vào trong một HNV của nhà nước, nằm chung trong cái gọi là “hệ thống chính trị” của Đảng và nhà nước, đương nhiên là công cụ của họ. Chúng tôi không coi văn học và nhà văn là công cụ của ai hết.
Chúng tôi muốn gặp nhau trong một hội đoàn gồm những người cầm bút độc lập, sống, viết một cách độc lập và chịu trách nhiệm về cái viết của mình trước cuộc sống, trước đất nước và công chúng của mình.
Chúng tôi là nhóm họp của những người cầm bút độc lập đầu tiên. Mong sẽ là mở đầu cho những nhóm họp đa dạng, phong phú nữa về sau.
Sau năm 1975, tôi nghĩ nhiều đến một cuộc phục hưng dân tộc sau một giai đoạn lịch sử kéo dài, một thế kỷ nô lệ, tiếp liền một thế kỷ chiến tranh không chỉ vô cùng ác liệt mà còn vô cùng phức tạp (đến mức tới hôm nay còn tranh cãi chưa xong chiến tranh ấy thực sự là chiến tranh gì!). Trong công cuộc to lớn đó, nền tảng là phục hưng văn hóa. Theo tôi, một công cuộc cần thiết và căn bản như vậy đã không được nhận thức đúng mức, thậm chí hầu như không hề được nhận thức. Ngược lại phổ biến tâm lý, từ trên tầng cao nhất, coi mọi sự là đã xong rồi. Trong khi công cuộc xây dựng, xây dựng lại dân tộc đáng ra cần bắt đầu, chỉ có thể bắt đầu, chứ không phải đã kết thúc. Chính vì thế mà cuộc đi tới của dất nước và xã hội 40 năm nay rất loạng choạng. Văn hóa xuống cấp như chưa từng thấy, xã hội mất ổn định nặng nề… Văn học không thể làm ngơ trước tình hình và nhiệm vụ này. Chúng tôi mong muốn góp phần xây dựng một nền văn học có thể giữ được vai trò xứng đáng của mình trong cuộc phục hưng căn bản và sống còn đó.
Theo ông, khi mà các dòng chảy văn hóa/văn chương cũng như các trào lưu tiến bộ trên thế giới đang từng ngày thâm nhập vào Việt Nam, liệu với cơ chế hoạt động hiện tại, HNVVN sẽ đi đến đâu?
Theo tôi, ở phía Bắc, do những điều kiện khách quan và chủ quan – mà chủ quan là chính – đã bị cắt đứt với dòng chảy văn hóa/văn chương thế giới trong hơn nửa thế kỷ. (Đúng ra chỉ có thông thương với thế giới xô viết và các nước gọi là xã hội chủ nghĩa, một thế giới cũng khá khép kín). Trong khi đó, ở miền Nam dòng chảy này thông thoáng, mạnh mẽ, tương đối cập nhật và liên tục hơn nhiều. Cho nên nối kết trở lại được với di sản của văn học miền Nam trong suốt thời 1954-75, cũng là một trong những cửa mở thông thương với các trào lưu thế giới phong phú và đa dạng. Và là góp phần khôi phục lại dòng chảy bình thường, lành mạnh cho đời sống văn học nước nhà. Chính trên nhận thức như vậy mà chúng tôi đã cố gắng mở mục “Văn học miền Nam 1954-1975” trên trang mạng Văn Việt của Ban Vận động Văn đoàn Độc lập. Thừa kế tốt di sản gần của văn học miền Nam 1954-1975 cũng là một trong những điều kiện quan trọng để văn học làm được vai trò cần có của nó hôm nay.
Một cơ chế đầy kiêng kỵ ý thức hệ như của HNVVN hiện nay đương nhiên ngăn cản việc mở cửa ở hướng này. Chỉ mới nói riêng về mặt này thôi, ở một việc này thôi, đã cho thấy cơ chế của HNVVN, dù muốn dù không, về cơ bản là một cơ chế đóng kín. Cơ chế đó tất cũng sẽ đóng kín với mọi trào lưu tiến bộ trên thế giới, sẽ khiến sự phát triển văn học chật hẹp lại rất nhiều, bất chấp những cái gọi là hoạt động quốc tế ồn ào, hình thức, tốn kém của hội.
Cũng là một cái cớ nữa để mà khó chấp nhận một hội như thế.
Liệu việc từ bỏ HNVVN cũng như dám đứng ra bày tỏ thái độ yêu nước, kêu gọi chống họa ngoại xâm có làm khó cho ông trong công việc hằng ngày cũng như trong hoạt động sáng tác?
Vừa có vừa không, anh ạ.
Tôi đi biểu tình chống Trung Quốc xâm lược, đã bị đài truyền hình Hà Nội đưa hình lên khi nói về “bọn phản động bị các thế lực thù địch ngoài nước xúi giục” rồi. Sau khi lập Ban Vận động Văn đoàn Độc lập thì có chỉ thị cho các báo và các phương tiện truyền thông khác trong nước không được đăng bài vở của tôi, cũng như của tất cả những người tham gia Ban Vận động Văn đoàn Độc lập, cũng không được nhắc đến tên tuổi chúng tôi nữa. Hội thảo về Nguyễn Đổng Chi vừa rồi cũng bị cấm không được mời tôi, tham luận của tôi gửi đến từ trước bị loại ra khỏi kỷ yếu hội thảo… Về những chuyện này có hai điều cần nói: một số báo vẫn xé rào đăng bài của tôi, đưa tin về tôi. Nghĩa là họ thấy cái chỉ thị kia thật lố bịch. Và theo tôi biết tất cả cấm đoán đó đều chỉ được truyền từ trên xuống bằng miệng, qua điện thoại hay tin nhắn. Một đảng, một nhà nước kỳ lạ. Đánh người toàn bằng đánh trộm, thụi ngầm và phi tang. Nghĩa là người ra lệnh cũng tự biết việc làm của mình ám muội thế nào.
Tuy nhiên tất cả những chuyện đó về cơ bản không gây sứt mẻ gì đối với tôi. Bị quấy nhiễu, tôi đã quen. Còn khi cầm bút, tôi vẫn thanh thản. Sợ nhất là tâm không yên để mà viết, và viết cho hay. Mà cái đó thì là tự trong lòng mình, tự mối liên hệ riêng của bên trong mình với cuộc sống; quấy nhiễu chỉ là ở ngoài, chẳng làm rối được tâm mình.
Là một người có tác phẩm trong chương trình giảng văn, theo ông, vấn đề dạy và học văn hiện tại có phù hợp với nhu cầu cũng như môi trường văn chương đương đại?
Phải nói dạy và học văn trong nhà trường hiện nay đang ở tình trạng tai họa. Nói chi đến chuyện “phù hợp với nhu cầu cũng như môi trường văn chương đương đại”, sẽ là quá sang. Theo tôi, ở môn này hiện nay, người dạy chân chính đang rất gặp khó, người học thì chán ghét. Cũng phải thôi, vì văn – có lẽ cùng với môn sử – là môn bị chính trị hóa nặng nề và thô thiển nhất. Tôi nghĩ không thể nói sự suy thoái của môn văn trong nhà trường không liên quan gì đến sự xuống cấp nghiêm trọng của đạo đức xã hội. Nhân đây cũng xin nói một điều: Trong chuyện văn chương, cũng như chuyện dạy và học văn, ở ta vẫn quen coi trọng đúng sai, hơn là hay dở. Trong khi, trong văn chương, “đúng” sẽ chẳng là gì cả, chẳng để làm gì cả, nếu dở. Và văn chương dở thì cực kỳ tai hại. Nó phổ cập, truyền nhiễm cái tầm thường, khiến người ta quen với sự tầm thường, đẩy người ta vào môi trường thường trực của sự tầm thường, cũng như quen ở dơ vậy, lại là cái dơ về tinh thần. Mà tầm thường, dơ bẩn về tinh thần là môi trường của cái xấu, cái ác.
Sự suy thoái của môn văn trong nhà trường hiện nay là đáng báo động, không chỉ về văn học, cho văn học, mà là báo động xã hội.
Cơ chế hoạt động hằng năm của HNVVN dựa vào nguồn kinh phí nào và theo ông cơ chế này có phù hợp với sinh quyển sáng tác, phù hợp với nhu cầu sáng tạo của người nghệ sĩ trong hiện tại?
Dĩ nhiên, kinh phí của nhà nước. Cho nên, tất yếu, “sinh quyển”, như anh gọi, cũng là sinh quyển văn chương nhà nước! Cũng là công bằng thôi: Anh nhận tiền của người ta thì anh phải viết cho người ta chứ, gian lận sao được! Hình như chị Ngô Thị Kim Cúc có nói với anh rồi: ở Ban Vận động Văn đoàn Độc lập chúng tôi đều nghèo, nhưng chúng tôi chắt chiu góp tiền túi với nhau để làm mọi việc, cũng còn ít oi. Ngó vậy thôi, mà đây cũng là chuyện nhân phẩm và nguyên tắc của người cầm bút.
Ông có dự tính gì mới trong các hoạt động sắp tới của Văn đoàn Độc lập? Tiêu chuẩn để trở thành thành viên Văn đoàn Độc lập?
Hiện nay chúng tôi đang tập trung vào trang Văn Việt.
Tôi xin tâm sự với anh điều này, khi làm mục “Văn học miền Nam 1954-1975”, đọc lại một phần văn chương miền Nam thời ấy, tôi nhận ra một chỗ khác biệt với văn chương miền Bắc cùng thời: văn chương miền Nam thời ấy có triết học, văn chương miền Bắc thì không. Tất nhiên văn chương không phải là triết học, nhưng một nền văn chương không có triết học thì nguy. Có lẽ một trong những điều chúng tôi sẽ cố gắng sắp tới là giúp nhau đọc nhiều hơn, đông tây kim cổ, nhất là những tìm tòi mới về tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật…, để cho văn chương nghĩ về nhân tình thế thái đỡ cạn cợt, nói về con người và xã hội thấu đáo hơn. Chắc phải bằng nhiều cách, trên trang Văn Việt cũng cần tìm cách đi thêm về hướng này.
Có lần tôi nói với anh Trần Độ về mong muốn đến lúc nào đó trong văn chương ta xuất hiện được một hay vài đỉnh cao mới. Anh ấy bảo: “Mình cũng mong thế, nhưng mình nghĩ trong nghệ thuật muốn có đỉnh cao mới thì phải có trường phái mới…”. Đời sống văn hóa của chúng ta, giáo dục chúng ta, sinh hoạt văn chương của chúng ta không khuyến khích trường phái, nhất là không tạo nền tảng cho những trường phái mới xuất hiện. Có lẽ đã đến lúc nghĩ đến điều này một cách nghiêm túc. Tổ chức của chúng tôi còn nhỏ, nhiều khó khăn, nhưng chúng tôi có tham vọng. Đây cũng là một hướng chúng tôi đang nghĩ tới.
Về cụ thể, chúng tôi cũng đang tính đến một số hình thức hoạt động, như các cuộc thảo luận, đa dạng và cởi mở, một kiểu giải thưởng sao đó… Trong nghệ thuật hình như có hiện tượng: cái hay, và chỉ có cái hay mới gọi được cái hay, cái mới lại kích thích cái mới. Những giải thưởng của Tự lực Văn đoàn ngày trước là vậy, chính qua đó mà văn đoàn này có thể nói đã có công gầy dựng được cả một lớp nhà văn kế tiếp đặc sắc …
Về thành viên Văn đoàn, chắc chỉ có hai “tiêu chuẩn”: Chúng tôi mong muốn được đón tiếp những cây bút tài năng. Và là người tự nguyện phấn đấu cho tôn chỉ “Vì một nền văn học đích thực, tự do, nhân bản”.
Dự đoán của ông về tương lai văn học trong những thập niên tới?
Tôi không dám làm thầy bói. Chỉ xin nói hai hiện tượng theo tôi là đáng chú ý:
Tôi thấy đang xuất hiện một lớp người viết trẻ, chưa nhiều nhưng cũng không quá ít, có tài, và đặc biệt rất khác chúng tôi, về cảm nhận thế giới, và cả về tư duy và ngôn ngữ nghệ thuật. Tôi thường nghĩ thế này: Trong đám người chen chúc, hỗn loạn, trùng điệp đến vô diện mạo trên các đường phố Sài Gòn ta có thể thấy bất cứ giờ nào hôm nay, giá như ta có thể tách ra được từng người, có thể lắng nghe được tận sâu kín bên trong của họ, từng người, làm sao trong họ, ít ra ở một số người và từng lúc, lại không có, không nuôi những khát khao và hy vọng về một thế giới tinh khiết, trong trẻo, an lành, thật tốt đẹp… Có thể mong manh lắm, nhưng có… Hình như những người cầm bút trẻ tôi vừa nói trên, đến lượt họ, sẽ nói về cái phần lắng đọng đó, về thế giới mong ước xa xôi đó… Có thể tin.
Cạnh đó, cũng đã thấy một số bạn trẻ rất tài năng, đang đi vào con đường nghiên cứu văn hóa uyên thâm, cập nhật với những vấn đề và suy tưởng mới nhất, và từ đó đang trở lại suy gẫm về văn hóa, văn chương của chúng ta. Có thể chăng họ đang tạo một cái nền cần thiết cho chuyển động văn học mới. Họ làm việc thường lặng lẽ mà ráo riết. Tiếng nói của họ không ồn ào. Chúng tôi đang chăm chú lắng nghe. Và thiết tha chờ đợi.
Xin cám ơn ông, kính chúc ông mạnh khỏe, an lạc!
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ tịch Hội nhà văn TPHCM – Lê Quang Trang - tỏ ra nao núng trước góp ý của hội viên trước Đại hội...


Lê Thiếu Nhơn Theo blog Lê Thiếu NhơnChủ tịch Hội nhà văn TPHCM – Lê Quang Trang - tỏ ra nao núng trước góp ý của hội viên trước Đại hội mà phát pháo đầu tiên là những lời chân thành và sâu sát của nhà thơ Lê Tú Lệ, nên đã lấy tư cách thay mặt ban thường vụ, để giở giọng bề trên: 
“Nhân phê phán Hội Nhà văn thành phố, chị Lê Tú Lệ nêu việc Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 xâm phạm vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế và quyền tài phán của Việt Nam ở biển Đông, yêu cầu mọi người phải biểu thị thái độ và lòng yêu nước theo cách “biểu dương lực lượng” chị nêu ra. Chị bảo Hội Nhà văn không làm như thế là “thụ động yêu nước”, không thể “thể tất”! Quả thật, đó là một suy nhận định nông nổi, chưa hiểu thấu công việc đối ngoại “vừa hợp tác vừa đấu tranh”, cần sự kiên quyết và tinh tế, theo đúng tinh thần chỉ đạo của Đảng và Nhà nước. Chúng tôi khẳng định Hội Nhà văn hoàn toàn không “bình chân như vại” như chị nhận xét…”


Không chỉ là tấm lòng chung chung

Tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 352 ra ngày 7.5.2015, có đăng bài viết “Hội Nhà văn thành phố cần lắm những tấm lòng” của tác giả Lê Tú Lệ (Hội viên Hội Nhà văn thành phố). Nghĩ rằng “trên tinh thần thẳng thắn, xây dựng”, như lời mở đầu chuyên mục, Ban Thường vụ Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh hoan nghênh và cảm ơn những góp ý của hội viên, với mong muốn có thêm nhiều điều bổ ích cho việc phát triển Hội. Tuy nhiên, sau khi đọc bài báo, chúng tôi thấy có một số nhận định thiếu khách quan, không thoả đáng, vì vậy xin trao đổi lại vài điều:

1. Nhân phê phán Hội Nhà văn thành phố, chị Lệ nêu việc Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 xâm phạm vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế và quyền tài phán của Việt Nam ở biển Đông, yêu cầu mọi người phải biểu thị thái độ và lòng yêu nước theo cách “biểu dương lực lượng” chị nêu ra. Chị bảo Hội Nhà văn không làm như thế là “thụ động yêu nước”, không thể “thể tất”! 

Quả thật, đó là một suy nhận định nông nổi, chưa hiểu thấu công việc đối ngoại “vừa hợp tác vừa đấu tranh”, cần sự kiên quyết và tinh tế, theo đúng tinh thần chỉ đạo của Đảng và Nhà nước. Chúng tôi khẳng định Hội Nhà văn hoàn toàn không “bình chân như vại” như chị nhận xét mà có nhiều hoạt động tích cực trong sự kiện này, như cử hội viên tham gia các đoàn đi Trường Sa để viết về biển đảo, tổ chức để hội viên viết bài kiên quyết phê phán hành động sai trái của nhà cầm quyền Trung Quốc, trích tiền lương đóng góp vào quỹ “Vì Trường Sa thân yêu”, đồng thời cũng phê phán những hành động cực đoan sai trái mượn cớ “biểu tình yêu nước” để phá hoại tình hữu nghị và chính sách đối ngoại, đầu tư, mà chúng ta đã phải chấn chỉnh, như thực tiễn đã xảy ra trên địa bàn thành phố và một vài tỉnh lân cận. Chúng tôi cho rằng đây không chỉ là nhận định, quy kết không chính xác, thiếu tôn trọng tổ chức mà còn là sự xúc phạm tới những hội viên khác không hành động như kiểu chị muốn áp đặt!

2. Về công trình “Một thế kỷ văn học yêu nước, cách mạng TP. Hồ Chí Minh” chị nhận xét rằng “Hội Nhà văn thành phố” chỉ là đơn vị “thêm vào cho phù hợp” (!). Sự thật là, ngay sau khi xuất hiện ý tưởng, từ bước sơ khởi, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc học và Chủ tịch Hội Nhà văn đã bàn bạc nhiều lần về nội dung, cấu trúc công trình, tiêu chí tuyển chọn, dự thảo Đề cương, căn cứ theo sở trường của từng đơn vị để phân công nhiệm vụ, rồi mới thống nhất làm tờ trình lãnh đạo thành phố, đại diện lúc đó là đồng chí Nguyễn Thị Quyết Tâm, Trưởng Ban Tuyên giáo ký giao kết. Điều này không chỉ Hội Nhà văn mà Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc học là Giáo sư Mai Quốc Liên đều biết rất rõ. 

Cũng cần nói thêm Hội Nhà văn thành phố làm việc này vì tình yêu lớn với thành phố, những suy nghĩ sâu sắc tri ân các thế hệ hy sinh cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng đời sống tinh thần cho công chúng thành phố, nhân 40 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, chứ hoàn toàn không đơn giản là để “phù hợp về thủ tục” như chị nông cạn nhận định. Lê Tú Lệ lúc đó ở Phòng văn hoá văn nghệ của Ban Tuyên giáo, là “cầu nối” giữa bên A và bên B, tưởng chị biết khá rành, thế mà không biết vì mục đích gì lại xiên xẹo đi như vậy?

3. Qua lập luận, chị còn cổ vũ cho những nhóm văn chương gọi là “ngoài luồng” và dẫn chứng “riêng trong nhân sự Ban chấp hành nhiệm kỳ trước đã có 02 người tự lập ra nhóm văn chương của mình”. Đây không phải là lúc bàn đến những nhóm văn học khác, nhưng với tư cách là một tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp thì nhiệm vụ trước hết của Hội nhà văn phải là đoàn kết, xiết chặt đội ngũ, nỗ lực sáng tạo để có được nhiều tác phẩm có giá trị cao, chứ không phải chia nhỏ để phân liệt. Là người trong tổ chức, chắc chị biết về nguyên tắc, quy chế thành lập hội, cần tự do mà phải chặt chẽ, nếu không sẽ là nguyên cớ hình thành những hội đoàn đi chệch tôn chỉ, chức năng, nảy sinh những kiểu như một vài tổ chức “độc lập” gần đây là rất nguy hại.

4. Chị Lệ có nói “thực lòng không thiết viết ra những dòng (của bài báo) này” và “vẫn còn coi mình là hội viên của Hội”, thì xem ra tình cảm và suy nghĩ với việc Hội lạnh nhạt thờ ơ và không tâm huyết gì. Từng là người có trách nhiệm với hoạt động Hội (khi ở Phòng văn hoá văn nghệ của Ban Tuyên giáo Thành uỷ), sao trước đây chị không góp ý, báo cáo lên cấp có thẩm quyền chỉ đạo uốn nắn kịp thời, nay lại công bố một bài báo như vậy. Chị Lệ có ý nhắc Hội nhà văn “cần lắm những tấm lòng”, điều đó chỉ đúng một phần, vì ở đây ngoài “tấm lòng” còn cần trí tuệ, ý thức chính trị, tính trung thực khoa học và sự nhạy cảm của người cầm bút nữa.

5. Cũng như nhiều hội chuyên ngành khác, Hội nhà văn thành phố đang trong quá trình tiến đến Đại hội lần thứ VII. Ban chấp hành Hội nhà văn khoá VI đã có các văn bản Báo cáo nhiệm kỳ vừa qua trình Đại hội. Những ưu điểm và khuyết điểm đều được soi rọi bởi cách nhìn nghiêm khắc, trung thực, không né tránh sự thật.

Chúng tôi cũng muốn nói thêm, người viết có thể sai, nhưng người biên tập, người chịu trách nhiệm cao nhất của tờ báo thì phải thận trọng, kỹ lưỡng. Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh là cơ quan ngôn luận của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật thành phố mà Hội Nhà văn thành phố là một thành viên, cùng chung một Đảng đoàn, sát tầng nhau trong một số nhà, chẳng lẽ không nắm được tình hình, lại cho đăng một bài báo như thế, mà trong thời điểm nhạy cảm sắp bước vào Đại hội, chắc chắn sẽ gây rắc rối phức tạp không đáng có. Rất mong Ban biên tập và các Cơ quan lãnh đạo xem lại và chấn chỉnh góp phần cho Hội nhà văn làm tốt nhiệm vụ của mình.

T/M BAN THƯỜNG VỤ
HỘI NHÀ VĂN TP. HỒ CHÍ MINH
Chủ tịch Hội
LÊ QUANG TRANG

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2015

Nhóm tin tặc theo dõi nhiều nhà báo Việt Nam suốt 10 năm



VNExpress
Thứ hai, 25/5/2015 | 19:16 GMT+7 


Công ty bảo mật FireEye cho biết họ nhận thấy một số dấu hiệu chứng tỏ nhóm tin tặc này được đặt tại Trung Quốc và do một chính phủ hậu thuẫn.

Tin tặc Trung Quốc theo dõi các nước Đông Nam Á suốt 10 năm

Cách đây một tháng, công ty bảo mật FireEye của Mỹ gây xôn xao khi tuyên bố đã phát hiện ra một nhóm tin tặc, được gọi là APT30, sử dụng phần mềm chứa mã độc để tiếp cận hàng loạt máy tính "chứa các thông tin tình báo quan trọng về chính trị, kinh tế, quân sự" ở các nước châu Á, trong đó đáng chú ý là Việt Nam, Thái Lan, Hàn Quốc, Ấn Độ và Malaysia.

Trong họp báo ngày 25/5 tại Hà Nội, ông Wias Issa, Giám đốc cấp cao của FireEye, cho hay APT30 quan tâm đến những tài liệu chính trị, kinh tế, quân sự quan trọng có thể giúp một chính phủ nhanh chóng phân tích, nhận định các sự kiện để phản ứng nhanh và hạn chế những bất lợi cho chính phủ đó trong tương lai.

Trong số này, nhà báo cũng trở thành mục tiêu tấn công của tin tặc.FireEye đã liệt kê sáu nhóm nhà báo mà APT30 nhắm tới, đó là những người chuyên tìm hiểu và đưa tin về tình trạng nền kinh tế Trung Quốc, lĩnh vực công nghệ cao (hi-tech), tham nhũng, nhân quyền, vấn đề biển Đông và quân sự, quốc phòng.

Việt Nam nằm trong số các nước đã và đang bị tấn công.
.
Theo FireEye, các nhà báo chuyên viết về 6 mảng đề tài này có nguy cơ 
trở thành mục tiêu của APT30.

Bắt đầu tiến hành các cuộc tấn công trên không gian mạng ít nhất từ năm 2005, APT30 là một trong những nhóm có thời gian hoạt động lâu năm nhất mà FireEye theo dõi. Nhóm này duy trì một cách nhất quán hầu hết các mục tiêu ở Đông Nam Á và Ấn Độ. Bên cạnh đó, công cụ tấn công, chiến thuật và cách thức hành động của APT30 cũng được duy trì không thay đổi kể từ ngày đầu. Đây là điều rất hiếm thấy vì hầu hết các nhóm tấn công trình độ cao có chủ đích thường thay đổi đều đặn công cụ, chiến thuật và cách thức hành động để tránh bị phát hiện. 


"Một giải thích thỏa đáng là nhóm APT30 thấy rằng chẳng có lý do gì họ phải thay đổi sang cơ sở hạng tầng mới, vì họ chưa bị phát hiện. Từ đó cho thấy nhiều tổ chức không hề hay biết về các cuộc tấn công trình độ cao này", ông Issa nhận định. "Các cơ quan chính phủ và các tổ chức tại Việt Nam sẽ phải đối mặt với những nhóm tin tặc được trang bị tốt với chiến thuật dai dẳng, đeo bám đến khi thành công".

Một hình thức tấn công của nhóm là gửi các e-mail chứa tệp đính kèm và dụ người nhận tải file. Ngay khi mở file, tin tặc sẽ chiếm quyền kiểm soát máy tính. Hiện có tới 200 mẫu mã độc của APT30 được phát hiện trong quá trình theo dõi đã và đang tấn công vào các tổ chức quan trọng ở Việt Nam.

Dù chưa có bằng chứng rõ ràng cho thấy mối liên hệ giữa APT30 và chính phủ Trung Quốc, FireEye nhận định có khả năng Bắc Kinh đứng đằng sau tổ chức này bởi nhóm tin tặc này nhắm đến những mục tiêu cụ thể, phần mềm sử dụng bàn phím tiếng Trung...

Trong khi đó, chính phủ Trung Quốc luôn phủ nhận mối quan hệ với hacker, thậm chí khẳng định chính Trung Quốc mới là nạn nhân của nhiều vụ tấn công mạng, chủ yếu xuất phát từ Mỹ. "Chúng tôi nghiêm cấm và sẽ ngăn chặn mọi hình thức tấn công của tin tặc", Hồng Lỗi, phát ngôn viên của Bộ ngoại giao Trung Quốc, khẳng định sau báo cáo của FireEye hồi tháng 4.
Châu An
___________

Tễu Blog cung cấp thêm thông tin:

Bảo hiểm xã hội dùng phần mềm kê khai của Trung Quốc! Hay là Chính phủ Trung Quốc còn hậu thuẫn cho tin tặc nắm cả lĩnh vực bảo hiểm của Việt Nam?

Có khi nào nó quản lý nhân khẩu mình luôn không nhỉ?
  
Phát hiện của Fb Nhị Đà Giang

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CẦN NGĂN CHẶN VÀ HỦY NGAY CUỐN SÁCH ĐỘC HẠI NÀY - Bài 1


'Đạo mộ bút ký' - Sách lược 'tái tạo hình dung lịch sử' của Trung Quốc 
Khải Mông
25/05/2015, 06:20 (GMT+7) 

Ngụ ý của “Đạo mộ bút ký” nhằm đưa dần thông tin vào tâm trí người xem, ngầm mặc định rằng từ đời Minh, đời Tống người Trung Quốc đã có nhiều hoạt động quản lý vùng biển này....

Cuốn sách “Đạo mộ bút ký” và bộ phim cùng tên được chuyển thể từ sách, với những hư cấu không có thật ‎về tìm kiếm mộ cổ trên đảo Vĩnh Hưng (tức đảo Phú Lâm của Việt Nam) và vùng biển Tây Sa (tức quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) ngụ ý đưa dần thông tin vào tâm trí người xem, ngầm mặc định rằng từ đời Minh, đời Tống người Trung Quốc đã có nhiều hoạt động quản lý vùng biển này, thậm chí xây dựng công trình lớn ở đây. 

Bìa sách “Đạo mộ bút ký” 

Sách lược “tái tạo hình dung mới” của Trung Quốc 

TS. Trương Huy Vũ (Đại học Quốc gia TP. HCM) tại một hội thảo khoa học về biển đảo, đã cảnh báo về sách lược “tái tạo hình dung lịch sử” của Trung Quốc với các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. 

Theo TS Vũ, Trung Quốc đang thực hiện “tái tạo nhận thức” về lịch sử chủ quyền của quốc gia này trên biển Đông. 

Điều này Trung Quốc đang cố “chính danh hóa” bằng quyền lực mềm qua việc tác động vào nhận thức nhân dân Trung Quốc để biện hộ những hành động phi pháp của nước này tại các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam. 

Ví dụ đầu tiên có thể dẫn ra là từ năm 2012, thông qua các sản phẩm đã đạt ngưỡng toàn cầu hóa là Wechat, chính quyền nước này đã nỗ lực tuyên truyền về chủ quyền, chính sách của Trung Quốc. 

Vì thế, cũng như mọi người dùng trên thế giới, hơn 1 triệu người dùng Việt Nam hồ hởi đón nhận Wechat với một cái kích chuột xác nhận mà không để ý tới điều khoản “đồng ý mọi thông tin trên Wechat là sự thật”. 

“Sự thật” ở đây là tấm bản đồ “đường lưỡi bò” ghi nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền Trung Quốc. 

Ví dụ trên đây chỉ là một minh họa cho một trong bốn trụ cột của chiến tranh truyền thông Trung Quốc đưa ra. 

PGS.TS Nguyễn Hồng Thao (Học viện Ngoại giao), nhà nghiên cứu biển Đông của Việt Nam có nhiều công trình được đăng tải trên các tạp chí quốc tế, cảnh báo: Thông tin giả, chứng cứ giả được đưa dần dần thông qua sức hút quyến rũ của phim ảnh, game… sẽ góp phần uốn nắn các niềm tin trong công chúng, thay đổi nhận thức theo thời gian, ru ngủ kiểu mưa lâu thấm dần. 

Đạo mộ bút ký - “Đạo mộ thời đại” 

Một trong số sản phẩm đó đã xuất hiện ở Việt Nam là cuốn “Đạo mộ bút ký”.
 “Sau “Đạo mộ bút ký” (bộ phim cùng tên sẽ được phát sóng trên truyền hình Trung Quốc ngày 18/6), sẽ chẳng có gì ngăn cản một bộ phim về Trịnh Hòa được bấm máy để tiêm nhiễm cho công chúng lịch sử không thật, không được kiểm chứng về quản lý Tây Sa, Nam Sa?” (PGS.TS Nguyễn Hồng Thao). 
Bản dịch tiếng Việt tác phẩm này do Cty Bách Việt và NXB Thời đại ấn hành, đến nay đã phát hành được 2 tập (tập 1 phát hành năm 2013, tái bản năm 2014, tập 2 phát hành quý 1/2015). Tập 3 của bộ sách dự định phát hành trong vài tháng tới. 

Sẽ không có gì đáng nói nếu một trong những bối cảnh của “Đạo mộ bút ký” với những hư cấu không có thật ‎về tìm kiếm mộ cổ trên đảo Vĩnh Hưng (tức đảo Phú Lâm của Việt Nam) và vùng biển Tây Sa (tức quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam). 

Chỉ ngay trong tập 1 đã có hàng loạt các địa danh mạo nhận các đảo Việt Nam. 

Cụ thể, trang 267, sách tái bản năm 2014, của NXB Thời đại và Cty Bách Việt đã viết: “Kế hoạch của bọn họ là bắt đầu tìm kiếm từ khu vực đảo Tiên Nữ ở gần nhất, rồi đến đảo Hà Giải bổ sung vật tư; tiếp đến ba khu vực ở gần cụm đảo Thất Liên… Còn về phương pháp tìm kiếm, nước biển ở (cụm đảo) Tề Ân cực kỳ trong…”. 

“Đảo Tiên Nữ” và “cụm đảo Thất Liên” trùng với tên các địa danh có thật. “Tiên Nữ” là tên một đảo nhỏ thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, còn “Thất Liên” là tên Trung Quốc đặt cho 7 đảo thuộc nhóm An Vĩnh ở quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. 
Trao đổi với NNVN qua điện thoại, ông Lê Thanh Huy, đại diện Cty Bách Việt cho biết, ngày 25/5, Cục Xuất bản, NXB Thời đại và Cty Bách Việt sẽ có cuộc họp cụ thể để làm rõ các vấn đề liên quan. 
PGS.TS Nguyễn Hồng Thao phân tích và cảnh báo: Ngụ ý của “Đạo mộ bút ký” nhằm đưa dần thông tin vào tâm trí người xem, ngầm mặc định rằng từ đời Minh, đời Tống người Trung Quốc đã có nhiều hoạt động quản lý vùng biển này, thậm chí xây dựng công trình lớn ở Tây Sa. 

Trong thời đại thông tin hiện nay, lựa chọn một bộ phim, một tác phẩm, một trò chơi game là quyền lựa của công chúng. 

Đồng thời, hư cấu là một phần của đời sống văn học nghệ thuật và làm đẹp thêm cho văn học nghệ thuật. Song hư cấu không phải là tự do tuyệt đối khi nó đụng chạm đến các vấn đề pháp l‎ý, tình cảm, văn hóa và tinh thần dân tộc. 

“Đã bao giờ trước máy tính, bạn đặt câu hỏi nội dung hư cấu của một bộ phim, một trò chơi sao cứ nhất thiết phải gắn với biển Đông, với Tây Sa, Nam Sa?”, PGS.TS Nguyễn Hồng Thao đặt câu hỏi. 

Theo thạc sĩ Trần Quang Đức, “Đạo mộ bút ký” không phải trường hợp hy hữu trong việc các nhà văn Trung Quốc lồng các quan điểm về cương vực, lãnh thổ vào các tác phẩm văn học của mình. Và dù có đổi tên các đảo, "Đạo mộ bút ký" vẫn phần nào gửi gắm thông điệp sai trái về sự xuất hiện sớm và hiện diện liên tục của người Trung Quốc tại biển Đông”....

Khải Mông
Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHÀ BÁO TRƯƠNG DUY NHẤT TRỞ LẠI NHÀ xem ra có phần rắn rỏi hơn xưa!


Nhà báo, Blogger Trương Duy Nhất hăm hở ngày nhập kho. Ảnh tư liệu của báo Tuổi trẻ

NHÀ BÁO TRƯƠNG DUY NHẤT RA TÙ

Phạm Xuân Nguyên

Hôm nay (26/5/2015) đúng hai năm bị bắt và bị án tù, nhà báo Trương Duy Nhất hết hạn giam, ra tù. Vợ con Nhất từ Đà Nẵng đã bay ra Vinh hôm qua. Sáng nay hai mẹ con cùng mấy người bạn đến Trại giam số 6 (Bộ công an) ở Thanh Chương (Nghệ An) lúc 6h30 và ngồi chờ trước cổng. Hỏi trại thì được báo 9h Nhất làm xong thủ tục mới được ra. Nhưng một lúc sau thì nhà báo TDN đã "được" thả ra theo cách bị đưa lên một chiếc ô tô lao nhanh từ trong trại ra chạy trên đường HCM và đẩy Nhất xuống đường khi cách trại khoảng bốn cây số. Xe của gia đình vợ con Nhất phải chạy theo để đón anh. 

Trong ảnh là cảnh gia đình ngồi chờ, cảnh Nhất đang phản ứng với cách thả anh và cảnh Nhất trong giờ phút tự do đầu tiên sau hai năm bị mất tự do. Bây giờ Nhất đang cùng vợ con về lại Vinh và sẽ bay chuyến 11h về Đà Nẵng cho kịp chịu tang bà nội bên vợ.

Trần Vũ Hải: Hôm nay 26/5/2015, blogger Trương Duy Nhất, thân chủ và đã trở thành bạn của tôi, được tự do sau 2 năm bị bắt và kết án theo điều 258 BLHS. Chúc anh và gia đình (với người vợ và con gái đều giỏi giang, tuyệt vời và tự hào vì anh) hạnh phúc, sức khoẻ và bình an. Mong anh sẽ sớm xuất hiện lại với tư cách một cây bút nhiều sung lực và sắc sảo. 

.



11h00: Tễu Blog vừa liên hệ và nói chuyện ĐT trực tiếp với anh Trương Duy Nhất, anh gửi lời hỏi thăm Chị Thị Minh Hà Lê - vợ anh Ba Sàm. Anh cũng gửi lời thăm gia đình Anh Trịnh Bá Khiêm, người chung buồng giam với anh Nhất, nói gia đình và bà con yên tâm, tháng sau anh Khiêm sẽ về.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Xung đột Trung-Mỹ: Định mệnh không lối thoát?

 26/ 5/2015: Nhìn trên bàn cờ lớn, các diễn biến trên Biển Đông hiện nay cho thấy đây không còn là vấn đề an ninh khu vực thuần túy, mà là vấn đề an ninh toàn cầu. Ấn dưới các “hành động lên gân” là những dấu hiệu cho thấy quan hệ Trung-Mỹ đang tiến rất gần đến “ngưỡng nguy hiểm”.


Cái bẫy Thucydides (Thucydies Trap)
Thế giới chúng ta đang sống là một thế giới phức tạp với những mặt hay, dở; trái, ngược cùng song hành tồn tại.
Trong suốt chiều dài lịch sử, bên cạnh việc hình thành các nền văn minh vĩ đại, tính nhân văn cao cả, thì nhân loại cũng chứng kiến những cuộc cuộc “quần hùng, tranh bá” gây ra bao bất ổn, bi thương cho nhân loại.
Cách nay trên 2.400 năm, sử gia và nhà khoa học chính trị Hy Lạp Thucydides (460-400 trước CN) đã viết cuốn Lịch sử chiến tranh Peloponnsus - quyển sách khoa học chính trị đầu tiên với những phân tích, đánh giá khoa học về sự cạnh tranh quyền lực giữa các quốc gia.
Trong cuốn sách này, Thucydides mô tả cuộc chiến Thế kỷ thứ 5 trước CN (từ 431 đến 404) giữa quốc gia mới nổi là Athens thách thức vị trí bá quyền của Sparta. Thucydies cho rằng “Điều làm cho chiến tranh trở thành tất yếu chính là sức mạnh của Athens ngày càng lớn và nỗi sợ hãi về hệ quả của sức mạnh này ở Sparta”.
Graham Allison, Giáo sư chính trị học của Harvard, gọi hiện tượng này là “Cái bẫy Thucydides” và thuật ngữ này hiện được dùng khá phổ biến trong giới nghiên nghiên cứu chính trị.
Graham nghiên cứu lịch sử thế giới trong 500 năm qua và thấy rằng trong 16 trường hợp khi một cường quốc mới trỗi dậy tìm cách “soán ngôi” của một cường quốc khác và thay đổi trật tự đã được thiết lập, thì 12 trường hợp đưa đến kết cục là chiến tranh.
Từ góc độ lịch sử, Graham có lý do để không lạc quan về chiều hướng phát triển của quan hệ Trung-Mỹ, đồng thời liên tục cảnh báo hai quốc gia này không rơi vào “Cái bẫy Thucydides”.
“Định mệnh”
Cách đây không lâu, giới phân tích chính trị quốc tế khá lạc quan về quan hệ Trung-Mỹ. Nhiều người cho rằng xu hướng chỉ là xu hướng chứ không phải định mệnh và quan hệ Trung-Mỹ “khác xa” quan hệ giữa các nước lớn trong lịch sử. Lấy quan hệ Mỹ-Xô thời kỳ Chiến tranh lạnh để so sánh, họ cho rằng quan hệ Trung-Mỹ khác xa về mức độ tương tác và sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế.
Chẳng hạn, con số 2.000 tỷ USD là tổng đầu tư trực tiếp từ Mỹ, quan hệ thương mại hai chiều và toàn bộ trái phiếu chính phủ Mỹ mà Trung Quốc đang sở hữu. Rồi mỗi ngày có khoảng 100 chuyến bay chở 30.000 công dân Trung Quốc đến các thành phố khác nhau của Mỹ, và khoảng 10.000 công dân Mỹ đến Trung Quốc làm ăn, du lịch.
Bên cạnh đó, cả Trung Quốc và Mỹ đều là thành viên thường trực Hội đồng bảo an LHQ, rất cần nhau trong việc giải quyết những hồ sơ toàn cầu quan trọng như chống khủng bố, chống phổ biến vũ khí, biến đổi khí hậu, vấn đề hạt nhân của CHDC nhân dân Triều Tiên.
Biển Đông, Quan hệ Trung - Mỹ, Đảo nhân tạo, bá quyền, Hoàng Sa, Trường Sa
Hình ảnh TQ xây dựng trái phép tại phía trái đảo Gạc Ma do phóng viên VietNamNet chụp. Ảnh: Huy Phong
Đó là chưa nói đến việc cả Trung Quốc và Mỹ đều là những cường quốc quân sự, cường quốc hạt nhân và cả hai sẽ bị “sứt đầu, mẻ trán” nghiêm trọng nếu xảy ra bất kỳ đụng độ quân sự nào.
Theo đó, trong bất kể trường hợp nào cả Trung Quốc và Mỹ đều cố gắng tránh xung đột, tuy rằng trong một số trường hợp họ có nhu cầu đẩy căng thẳng lên để “làm giá” rồi sau đó tìm cách thỏa hiệp với nhau và thỏa hiệp trên lưng các nước khác.
Tuy nhiên, quan hệ Trung-Mỹ hiện đang có những chuyển biến rất nhanh. Chưa bao giờ kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc đến nay lại có nhiều báo cáo từ các Viện, các trung tâm nghiên cứu có uy tín của Mỹ như CNAS (Trung tâm nghiên cứu an ninh Mỹ mới), CSIS (Trung tâm nghiên cứu an ninh và chiến lược), CFR (Hội đồng Đối ngoại); sách, bài trên các tạp chí tên tuổi như Foreign Affairs, Foreign Policy, the National Interests…; các cuộc điều trần tại Quốc Hội Mỹ xuất hiện với tần suất dày đặc như hiện nay bàn về Trung Quốc và quan hệ Trung-Mỹ mặc dù Biển Đông có ảnh hưởng và liên quan trực tiếp đến lợi ích của nhiều quốc gia khác.
Nội dung chủ yếu bàn về sự quyết đoán trong chính sách an ninh-đối ngoại của Trung Quốc, các thách thức an ninh của Trung Quốc đặt ra đối với Mỹ, sự thất bại trong chính sách can dự của Mỹ, những căng thẳng khó tránh trong quan hệ Trung-Mỹ, cùng những đòi hỏi Mỹ phải có cách tiếp cận mới, cứng rắn hơn đối với Trung Quốc. 
Còn về phía Trung Quốc, các phản ứng thể hiện rõ sự ngờ vực chiến lược đối với Mỹ, quyết tâm thực hiện “Giấc mơ phục hưng Trung Hoa”, đưa Trung Quốc trở thành cường quốc biển, cường quốc thế giới. Các tuyên bố và cách làm của Trung Quốc không còn úp mở, mà thể hiện rõ: “nguyên trạng” khu vực hiện không còn “nguyên” nữa, mà đang thay đổi; Trung Quốc chính là nguyên nhân, là động lực, là trung tâm của sự thay đổi đó; Mỹ và các quốc gia ở khu vực phải chấp nhận và điều chỉnh theo thực tế đó.
Cả Mỹ và Trung Quốc đều nhận thấy “Cái bẫy Thucydides” nguy hiểm đang rình rập và tìm mọi cách thoát ra. Tuy nhiên, khi không có một cái hãm đủ mạnh, khi so sánh lực lượng hai bên đang tiến tới chỗ ngang bằng thì việc cố gắng “quẫy ra” lại vô hình trung làm cho họ tiến nhanh, tiến gần hơn “Cái bẫy Thucydides” định mệnh. Phải chăng các cố gắng thiết lập thêm các kênh đối thoại Trung-Mỹ (hiện lên tới trên 100) là những nỗ lực vô vọng hòng “bịt” các lỗ hổng thiếu lòng tin chiến lược?
Phải chăng các nỗ lực xây dựng “Quan hệ nước lớn kiểu mới”cũng là những nỗ lực vô vọng làm “trì hoãn” các xung đột, các mâu thuẫn mang tính cơ cấu ngày càng trở nên khó điều hòa?   
Biển Đông: Tâm điểm của “Cái bẫy Thucydides”
Không nghi ngờ gì nữa, tâm điểm cạnh tranh Trung-Mỹ hiện nay chính là Biển Đông, mặc dù Biển Đông có ảnh hưởng và liên quan trực tiếp đến lợi ích của nhiều quốc gia khác.
Biển Đông, Quan hệ Trung - Mỹ, Đảo nhân tạo, bá quyền, Hoàng Sa, Trường Sa
Ảnh vệ tinh chụp bãi đá Châu Viên vào tháng 11/2014. Ảnh: CSIS
Việc cả Trung Quốc và Mỹ đều cứng rắn, không nhân nhượng lẫn nhau, nổi bật nhất là việc Trung Quốc tôn tạo đảo nhân tạo và tìm cách giải thích luật quốc tế theo cách riêng của mình, cho thấy rõ: Đối với Trung Quốc, Biển Đông là biển quan trọng nhất trong Tứ Hải của Bắc Kinh và việc kiểm soát, khống chế Biển Đông mang ý nghĩa sống còn trong việc đưa Trung Quốc trở thành siêu cường thế giới. 
Đối với Mỹ, việc “mất” Biển Đông, tức để Trung Quốc kiểm soát và khống chế vùng biển quan trọng này, thì vị trí siêu cường số 1 thế giới của Mỹ bị lung lay nghiêm trọng, do nảy sinh thách thức đối với: (i) sự an toàn của 40% tổng thương mại, 50% nguồn năng lượng nhập khẩu thế giới đi qua khu vực Biển Đông; (ii) nguyên tắc tối thượng về tự do hàng hải – nguyên tắc mà nhờ đó Mỹ đã phát triển và duy trì vị thế siêu cường;
(iii) Các diễn giải luật quốc tế theo cách riêng của Trung Quốc về quy chế đối với đảo không người ở, thành quy chế đảo có người ở và nếu không bị “ngăn chặn” thì có thể đưa đến các diễn giải khác nữa về luật quốc tế; (iv) Cam kết của Mỹ đối với đảm bảo an ninh quốc tế.    
Rõ ràng, các lợi ích quốc gia, lợi ích sống còn của cả Trung Quốc và Mỹ ở Biển Đông là quá lớn và hai bên có rất ít dư địa để thỏa hiệp. Tuy nhiên, việc “chiến” hay “hòa”, hay hình thức quản lý xung đột lợi ích ở khu vực này ra sao thì không chỉ do Trung-Mỹ quyết định.
Hoàng Anh Tuấn (Viện trưởng viện nghiên cứu chiến lược ngoại giao, Bộ Ngoại giao)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc tiếp tục viện trợ cho Campuchia


Trung Quốc lại vừa gửi thêm một đợt thiết bị quân sự bao gồm cả xe gắn bệ phóng hỏa tiễn cho quân đội Campuchia. Truyền thông hai nước nói đợt viện trợ quân sự này nhằm giúp Campuchia làm công tác huấn luyện bộ binh. Trong số hàng viện trợ có các loại xe và phụ tùng.

Đợt viện trợ mới nhằm giúp huấn luyện bộ binh Campuchia. 
Lễ trao viện trợ đã diễn ra hôm thứ Bảy tuần rồi tại Học viện Bộ binh ở tỉnh Kampong Speu với sự hiện diện của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Campuchia Tea Banh. Ông Tea Banh được dẫn lời nói việc viện trợ cho thấy Trung Quốc sẵn lòng giúp phát triển nhân lực cho lực lượng vũ trang của Campuchia.

Cho tới nay Trung Quốc đã khẳng định vị trí của mình là nước viện trợ quân sự lớn nhất cho Campuchia.

Xe chở hỏa tiễn


Trong số 44 xe quân sự được cấp cho Campuchia có một số xe chở bệ phóng hỏa tiễn và xe pháo phòng không.

Trung Quốc còn hứa sẽ thiết lập một trung tâm huấn luyện nhỏ cho bộ binh Campuchia.

Bắc Kinh trong những năm gần đây đã tăng cường viện trợ quân sự cho Campuchia. Tháng 1/2013, chính phủ Trung Quốc đã đồng ý về nguyên tắc tăng cường hỗ trợ huấn luyện và trang thiết bị cho quân đội quốc gia Đông Nam Á.

Năm đó, Campuchia được vay 195 triệu đôla lãi suất thấp từ Trung Quốc để mua 12 trực thăng Z-9.


Trung Quốc cũng ngày càng tích cực trong các hoạt động tại Campuchia.

Năm 2012, Bắc Kinh cam kết đầu tư 8 tỷ đôla vào nước này, một lượng tương đương 2/3 toàn bộ nền kinh tế xứ Chùa tháp
BB
Phần nhận xét hiển thị trên trang