Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

Sự thật về thân thế loài cây "hơi thở của quỷ"


(Đông y) - Những nhà nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam cho rằng cây hoa loa kèn ở Đà Lạt mang nhiều độc tính gây ảo giác. 
Cảnh báo ‘Hơi thở của quỷ’ đã xuất hiện tại Việt Nam? 
Nhiều người dân đang hoang mang trước thông tin cây hoa loa kèn ở Đà Lạt thực chất là loại cây được tội phạm Colombia sử dụng để gây mê hay tạo ảo giác khi có ý định cướp bóc, hãm hiếp. Ở Colombia, loài cây này có tên Borrachero, còn gọi cây "thôi miên" hay hoa "hơi thở của quỷ".
Các loại hoa loa kèn có độc. Ảnh: M.H.

Giáo sư - tiến sĩ Võ Văn Chi, tác giả cuốn "Từ điển cây thuốc Việt Nam", khẳng định Borrachero chính là cây cà độc dược cảnh ở Việt Nam, một số địa phương gọi là hoa loa kèn. Cây có tên khoa học Brumansia Suaveolens (Wild), thuộc họ cà Solanaceae.
Trong "Từ điển cây thuốc Việt Nam", giáo sư Chi mô tả về Brumansia Suaveolens là cây nhỡ khỏe, cao 4-5 cm, hóa gỗ có vỏ xám, cành lá thường thòng xuống. Lá mọc so le, phiến có dạng như lá thuốc lá. Hoa mọc thòng xuống, to, đơn độc hay xếp thành từng đôi, màu trắng, dài 25-30 cm, đường kính 1-1,5 cm, nhị đính trên ống tràng có bao phấn dính nhau. Cây này gốc ở Mexico và Peru, được nhập về trồng ở Đà Lạt, Kỳ An (Nghệ An).
Giáo sư, tiến sĩ Võ Văn Chi, tác giả cuốn "Từ điển cây thuốc Việt Nam" khẳng định Borrachero chính là cây cà độc dược cảnh, một số vùng miền gơi là hoa loa kèn. Ảnh: Thi Ngoan.
Năm 2014, dược sĩ Phan Minh Hiển, Đại học Y Dược TP HCM, từng thực hiện một công trình nghiên cứu để tìm hiểu về thành phần hóa học của hoa loa kèn. Loại hoa được chọn điển hình là loa kèn màu vàng tại Đà Lạt có tên khoa học là Brugmansia aurea Lagerh. Kết quả phân tích, chiết xuất cho thấy trong hoa loa kèn có chứa chất gây ảo giác Scopolamine. Chỉ cần uống một giọt độc dược chiết xuất từ chất Scopolamine của hoa loa kèn, nạn nhân có thể bị mất trí nhớ và mất tri giác tạm thời.
Theo dược sĩ Hiển, ở Nam Mỹ cây này được dùng làm thuốc hoặc để tạo ảo giác trong các nghi lễ tôn giáo. Các chế phẩm thô của Brumansia (dưới tên thông thường là Borrachero, Devil's breath) hoặc alkaloid tinh khiết (chủ yếu là Scopolamine) được sử dụng như một loại "thuốc sự thật" để lấy lời khai tù nhân, phạm nhân hoặc làm mất tri giác tạm thời. Bọn tội phạm sử dụng cây này làm thuốc thôi miên nhằm cướp của, giết người, lấy cắp nội tạng, buôn người. Tác dụng này được cho là do Scopolamine tác động trực tiếp lên hệ thần kinh trung ương.
Từ kết quả nghiên cứu này, dược sĩ Hiển đề nghị: "Hoa loa kèn là một loại cây có độc tính cao nên cần tuyên truyền trong nhân dân để phòng tránh các trường hợp ngộ độc hoặc lợi dụng thành phần cây này để thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật".
Tiến sĩ Võ Văn Năm, Phó trưởng Bộ môn Dược Liệu, Đại học Y Dược TP HCM, cho biết thêm hoa loa kèn độc có nhiều màu sắc khác nhau: Đỏ, cam, vàng, trắng. Loại cây này được sử dụng để bào chế các loại thuốc có tác dụng giảm đau, chống say tàu xe, tiền mê, trị hen suyễn... Nó được xếp vào bảng có độc tính cao nên chỉ được dùng để bào chế thuốc với một lượng rất nhỏ, tính bằng miligram.
"Chỉ cần hấp thụ một lượng nhỏ Scopolamine có thể gây ngộ độc. Vì thế mọi người không nên tùy ý hái bất kỳ bộ phận nào của cây loa kèn để sắc thành thức uống. Khi bị ngộ độc, nhẹ thì cảm thấy khô miệng, khó nuốt, giảm tiết dịch ở phế quản, giãn đồng tử, nặng có thể bị lú lẫn, hoang tưởng, dễ bị kích thích", tiến sĩ Năm khuyến cáo.
Cây loa kèn trồng thành hàng rào nhà dân ở Đà Lạt. Ảnh: Q.D.
Hoa loa kèn hiện trồng rất nhiều ở Đà Lạt với 3 loại phổ biến. Loại hoa màu trắng ngà xuất hiện khoảng 30-40 năm trước. Loại hoa màu vàng và màu hồng có 7-10 năm trở lại đây. Chúng rất giống nhau về hình dáng, cây cao 3-5 m, chiều dài hoa khoảng 25 cm, lá có vị đắng và lợ, hình dáng rất giống với lá của cây thuốc lá.
Hoa loa kèn màu trắng ngà khi nở không chúi hẳn xuống đất như hoa màu vàng và hồng mà có độ nghiêng nhất định, mùi cũng nhẹ hơn. Hoa màu vàng và màu hồng có mùi rất hăng, khó chịu, nhất là vào buổi chiều tối hay những lúc trời chuyển mưa độ ẩm cao. Tất cả chúng đều rất dễ trồng, có thể nhân giống bằng cách giâm cành. Một số tuyến phố cây được trồng thành dãy ven đường. Rất nhiều hộ gia đình trồng làm cảnh vì hoa khá đẹp và nở quanh năm trong điều kiện chăm tưới nước.
Theo ông Dũng, tháng 10/2013 đã có 4 trường hợp ở Đà Lạt bị ngộ độc do ăn lẩu nấu với hoa loa kèn. Các nạn nhân ngộ độc lúc đó cho biết 5 người ngồi chung bàn ăn, một người không dùng món lẩu có hoa loa kèn thì không bị ngộ độc. Những người ăn lẩu sau 10 phút xuất hiện các triệu chứng chóng mặt, nôn ói, mất kiểm soát, đều phải nhập viện điều trị.
Theo VNexpress/ 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hoàng Sa - nơi tôi đã sống


TT - Cách đây đúng 38 năm, tháng 1-1974, đúng vào dịp tết, Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc xâm chiếm. Từ đó đến nay, chưa bao giờ quần đảo Hoàng Sa bị lãng quên trong lòng người dân Việt.
Kỳ 1: Quãng đời đặc biệt
 
Ông Nguyễn Văn Thành - nhân viên thông tin truyền thông trên đảo Hoàng Sa - Ảnh tư liệu
Mãi đến nay, đã gần 40 năm qua mà trong ký ức tôi vẫn còn nhớ như in những kỷ niệm vui buồn tại đảo Hoàng Sa. Bởi đó là quãng đời đặc biệt mà tôi đã từng sống và làm việc. Tôi đã từng sống trên đảo hai đợt, mỗi đợt hơn ba tháng.
Ký ức chuyến ra đảo đầu tiên làm tôi nhớ mãi. Phải thú thật là lúc nhận được lệnh đi đảo Hoàng Sa, tôi cũng lo sợ. Mặc dù trước đó có rất nhiều người đã đi, nhưng lần đầu tiên phải xa vợ con trong thời gian dài và không biết cuộc sống trên đảo thế nào.
Tôi còn nhớ thành phần ra đảo lúc đi khá đông, khoảng hơn 20 người kể cả bốn nhân viên khí tượng. Chúng tôi đến từ những vùng quê khác nhau của VN.
Chúng tôi tập trung tại Hội An, đi mua sắm vật dụng cá nhân cho mình, mua lương thực thực phẩm phục vụ cho đoàn cũng như một số vật nuôi, con giống để ra đảo tăng gia sản xuất như heo, gà, vịt, hạt rau muống, hạt đậu xanh...
Sau khi chuẩn bị xong, xe đưa chúng tôi ra Đà Nẵng để lên tàu và xuất phát ra đảo từ đó. Khi được lệnh lên tàu và khởi hành, anh em trên tàu mỗi người mỗi tâm trạng. Nhưng rồi ai cũng có cảm giác hân hoan vì lần đầu được lênh đênh trên mặt biển, để khám phá vùng đất thuộc lãnh hải của Tổ quốc mà mình chưa biết.
Theo kinh nghiệm, nếu thời tiết tốt thì thời gian ra đến đảo mất khoảng 21 tiếng. Tàu của chúng tôi khởi hành khoảng 14 giờ hoặc 15 giờ hôm trước thì hôm sau khoảng 10 giờ hoặc 11 giờ đến. Dù thủy triều cao hay thấp thì trong tàu luôn trang bị xuồng cao su để đưa người và vật dụng lên bờ.
Tại đảo có một chiếc cầu, tạm gọi là cầu cảng. Từ đầu cầu vào nhà ở khoảng 400-500m. Nếu nhớ không lầm thì ở phía bên phải của cầu có một chiếc tàu sắt đã gỉ sét. Nghe những người đi trước kể lại, đó là tàu của bà Ngô Đình Nhu ra đảo chở phân chim bị hỏng và bỏ lại.
Khi bước chân lên đảo tôi thấy ở cầu cảng có đường ray (hẹp hơn đường ray tàu hỏa) và năm chiếc xe rùa, không biết ai đã xây dựng và để lại nơi này. Tất cả anh em dùng những chiếc xe rùa này để di chuyển vật dụng, thức ăn, nước uống vào nhà. Hai bên đường vào nhà toàn là đá vôi, cây phốt phát, cây nhàu và một số cây lạ khác.
Nhà chúng tôi ở trên đảo được xây dựng rất kiên cố, bề dài khoảng 30-40m, bề ngang khoảng 20m. Nhà được ngăn thành bốn phòng: phía bên phải có một phòng để dùng làm nhà kho, một phòng cho binh sĩ ở, phía bên trái một phòng dành cho đảo trưởng và lính truyền tin, còn căn phòng rộng nhất dùng để sinh hoạt. Nhà rất kiên cố nhưng tất cả cửa lớn nhỏ đều đã hư hỏng vì thời gian nên mỗi khi có mưa gió rất cực khổ. Phía dưới nền nhà được đúc suốt dùng làm hầm chứa nước để dự trữ.
Phía trên trần nhà cũng đúc bêtông và được đặt hai khẩu súng đại liên 50 li, một khẩu đã hỏng và một khẩu còn dùng được. Tất cả vật dụng cũng như súng ống và đạn dược thì đảo trưởng cho lau chùi sạch sẽ vô dầu mỡ và cất vào kho. Ngoại trừ có ít lựu đạn đảo trưởng cất giữ để đánh bắt cá. Đây thật ra cũng là chủ ý của đảo trưởng, sợ anh em khi có xích mích, nóng giận mà sử dụng thì rất nguy hiểm.
Trước mặt nhà ở khoảng 150m có một nhà thờ Thiên Chúa giáo, trong có treo một cây thánh giá và tượng chúa Giêsu, thường những anh em có đạo hay đến cầu nguyện. Trước nhà thờ khoảng 50m có một cái giếng dùng được, bên cạnh có một cây dừa. Phía sau nhà ở có một con đường mòn nhỏ mà anh em thường ra đi dạo và đánh bắt cá. Phía bên phải có một cái miếu ở trong cũng thờ tự và cạnh bên có những ngôi mộ phần nhiều là vô danh.
Cạnh nhà chúng tôi ở khoảng 50m là nhà ở của anh em quan trắc khí tượng. Chúng tôi rất mến nhau, thường chia sẻ cho nhau những mẻ cá và anh em có gì ngon cũng đem cho chúng tôi.
Ấn tượng nhớ nhất của tôi là lần đầu dạo quanh đảo, khi đến cầu cảng nhìn xuống biển thấy rất nhiều cá bơi lội, tôi vội ném xuống một quả lựu đạn. Sau tiếng nổ, cả một vùng nước chuyển sang một màu đen sì, ba chúng tôi nhảy xuống bơi lặn mãi mà cũng chẳng tìm thấy con cá nào. Lúc đó tôi có phần run sợ, lạnh nổi cả da gà vì rõ ràng cá bung lên mặt nước rất nhiều. Sau này mới rõ đó là đàn mực đang bơi. Mực không có bong bóng nên không chết tức do tiếng nổ gây nên.
Với tôi, cuộc sống trên đảo khá nhàn rỗi. Ngoài giờ ấn định phải điện để liên lạc hằng ngày với tiểu khu Quảng Nam thì tôi, đảo trưởng cũng như những binh sĩ khác thường xuyên đi đánh bắt cá. Việc đánh bắt cá không chỉ để phục vụ các bữa ăn mà còn phơi khô để lúc về đất liền dùng làm quà. Khi đi ra đảo chúng tôi cũng có chuẩn bị lưới đánh cá. Lúc nước biển bắt đầu cạn, chúng tôi dùng lưới giăng ngang mí sóng (khúc cạn gần bờ) rồi từ trong bờ hè nhau đuổi ra là có cá bắt được. Nhưng khi gặp cá nhám thì chúng sẽ xé tung lưới mà đi.
Những lúc nước xuống nhiều thì chúng tôi lội đi bắt ốc gân, nhiều con rất lớn, có thể bằng chiếc nón. Chúng tôi dùng lưỡi lê xẻ ngay tại chỗ, chỉ lấy cái gân (phần của ốc dùng để khép và mở miệng) đem về xẻ ra phơi khô (còn ngon hơn khô mực) để mang về làm quà. Những lúc không làm gì thì chúng tôi tưới cây, những hạt giống mang theo gieo rất tốt, đậu xanh, rau muống, bí đỏ. Có những quả bí chỉ mới trồng khoảng ba tháng mà rất lớn, một người bê rất khó.
Thức ăn trên đảo qua những ngày đầu nào thịt gà, vịt, heo, đến lúc hết thì chỉ cá và rau cỏ trồng. Nhớ những lúc rau muống chưa kịp lên thì dùng cá nấu với lá ớt làm canh. Ban đêm chúng tôi chia từng tốp dạo quanh đảo tìm những con rùa biển (còn gọi là con vích) lên bãi cát để đẻ. Khi bắt được, chúng tôi lật ngửa nó ra để sáng hôm sau xẻ thịt. Thịt của nó rất ngon, cái thì ăn cái thì phơi khô, riêng trứng thì tròng đỏ đổ (chiên) làm chả, không thể luộc được vì tròng trắng của nó không bao giờ chín. Lúc chẳng biết làm gì thì người đánh đàn, kẻ đánh bài ăn thua nhau bằng thuốc lá hoặc khô cá.
Cuộc sống nhàn rỗi trên đảo khiến anh em buồn và nhớ nhà, thỉnh thoảng lại có một binh sĩ khóc suốt cả đêm liền.
Ký ức của tôi chỉ tạm tái hiện phần nào. Bởi lẽ hơn 40 năm rồi tôi không thể diễn tả hết những gì mình đã nhớ trong quãng thời gian sống trên đảo. Tôi mong sao Chính phủ đấu tranh để giành lại quần đảo Hoàng Sa, giành lấy chủ quyền lãnh hải của Tổ quốc.

NGUYỄN VĂN THÀNH

Kỳ 2: Mấy mươi năm nghẹn ngào
6/01/2012 09:40 GMT+7 
TT - Lần đầu tiên tôi được ra công tác tại quần đảo Hoàng Sa là giữa mùa thu năm 1971.
Phóng to
Quân đội Sài Gòn phòng thủ tại Hoàng Sa trước năm 1974 - Ảnh tư liệu
Năm ấy tôi 19 tuổi. Chúng tôi lên tàu ở cảng Tiên Sa, Đà Nẵng. Khoảng 16g chiều hôm trước - tàu chạy luôn đêm, đến Hoàng Sa vào 6-7 giờ sáng hôm sau. Những người lên đảo đợt đó có lẽ tôi là người trẻ nhất. Có mặt ở nơi đây, tôi nhớ mãi đó là đợt 45.
Tôi ra đảo để đổi cho đợt 44 đã hết nhiệm vụ. Người đầu tiên tôi gặp là anh Tạ Song - y tá của đợt 44. Cũng như bao người khác mỗi lần công tác là ba tháng, nhưng có đợt hơn thế nữa vì biển động mạnh tàu không ra được để đổi. Tôi ra đảo với nhiệm vụ là y tá, chữa và cấp thuốc cho anh em gặp phải những chứng bệnh thông thường, còn bệnh nặng báo với đảo trưởng xin tàu chở về đất liền.
Phải nói rằng được công tác tại quần đảo Hoàng Sa là một vinh dự lớn đối với những người lính chúng tôi. Song cũng có ít nhiều lo lắng và băn khoăn. Không biết đến Hoàng Sa sẽ ra sao? Vì Hoàng Sa cách đất liền hàng trăm cây số mênh mông biển nước và ở đó những ba tháng.
Tàu đến quần đảo Hoàng Sa hạ neo ngoài khơi. Chúng tôi di chuyển vào đảo bằng thuyền cao su (bơm hơi) có gắn máy nổ. Khi thuyền cao su cập bến, đặt chân lên cầu tàu để đi vào đảo, tôi thật sững sờ khi thấy đường vào đảo hai bên san hô chất cao hơn đầu người, cộng vào đó dây leo bao che kín như vào một hang động. Tôi đứng lặng hồi lâu. Đến khi anh Tạ Song hỏi: ai là y tá đi theo tôi nhận bàn giao? Lúc ấy tôi mới lần bước theo anh.
Ngày đầu tiên sống trên đảo thấy thời gian trôi thật chậm. Nhớ gia đình, nhớ bạn bè, đất liền lắm vì hồi đó tôi quá trẻ. Sau thời gian ngắn cuộc sống vui vẻ và thoải mái hơn vì quen rồi.
Mỗi buổi sáng chúng tôi dậy rất sớm, rủ nhau đi tập thể dục. Nói cho oai vậy thôi chứ tập gì. Đi bộ quanh đảo để tìm những chiếc phao thủy tinh mà tàu đánh cá nước ngoài bị đứt trôi dạt vào đảo. Chúng tôi hay gọi là trái bóng, lấy cất sau này đem về đất liền cắt ra làm chậu nuôi cá cảnh. Hoặc tìm đường đi của mấy chú vích (rùa biển) để đêm lấy trứng về cải thiện bữa ăn.
Phóng to
Bia chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa trước năm 1974 - Ảnh tư liệu
Anh Hai Song về đất liền có để lại cho tôi một ít dụng cụ câu cá. Ban đêm thì câu ở cầu tàu, ban ngày lội ra bãi san hô câu. Với đồ nghề câu anh Hai Song để lại, tôi đã câu được con cá khế khoảng 15kg. Cá, ốc ở Hoàng Sa rất nhiều.
Hoàng Sa không có núi nên cây cối cũng không lớn lắm. Ngoài dừa, dương liễu, nhãn thì chẳng có cây nào lớn hơn thế. Vậy mà không nắng nóng lắm, chắc nhờ gió biển. Cũng ở đợt này năm ấy có cơn bão lớn đi ngang qua đảo, biển động mạnh, sóng cao như mái nhà.
Sau hai lần công tác ở đảo, điều mà tôi không quên được đó là hai lần công tác tôi đều gặp được ông Võ Vĩnh Hiệp - ông là người của nha khí tượng Sài Gòn đưa ra để làm công tác khí tượng. Ông là người bị dị tật bẩm sinh cả tay và chân, thế mà ông chơi rất hay nhiều loại đàn.
Ông đã dạy đàn cho tôi hai đợt như vậy. Sau khi bị Trung Quốc bắt ông được trao trả sau năm ngày, tôi đã nhờ ông báo tin cho gia đình tôi là tôi vẫn còn sống và bị giam giữ tại Trung Quốc.
Nếu như thống kê thì ông Hiệp đã sống và làm việc tại Hoàng Sa hơn 30 lần.
Khu đồn trú của lính địa phương quân VN trên đảo Hoàng Sa (ảnh chụp năm 1959) - Ảnh tư liệu
Lần thứ hai tôi được ra đảo khoảng tháng 10-1973. Đợt ấy là đợt 54. Lần đi này tôi đã có kinh nghiệm hơn vì đã sống ở đây ba tháng rồi. Nên cuộc sống vui vẻ thoải mái hơn nhiều. Lẽ ra sau đợt công tác này tôi về sẽ cưới vợ, còn khoảng một tuần nữa là về thì bị Trung Quốc đem tàu chiến, binh lính đến chiếm đảo. Lúc ấy có cả đoàn giám sát thiết lập phi trường trên đảo bị kẹt lại, trong đó có một người Mỹ.
Mặc dù chúng tôi đã phân chia nhiệm vụ chiến đấu và giữ lấy đảo vì đảo là chủ quyền của chúng ta. Nhưng lính Trung Quốc đông quá cùng tàu chiến nhiều. Cuối cùng họ cũng chiếm được Hoàng Sa.
Tôi cùng 32 người khác bị bắt về đảo Hải Nam. Sang tàu khác thì có thêm 21 người lính hải quân bị bắt ở đảo khác. Họ đưa chúng tôi về cảng Quảng Châu, Trung Quốc, sau đó đưa chúng tôi về trại thu dung tù binh ở Quảng Châu bằng ôtô.
Ở đây khoảng một tháng, chúng tôi được trao trả cho Hồng thập tự quốc tế ở biên giới Thâm Quyến và Hong Kong. Và Hồng Thập tự quốc tế giao trả chúng tôi cho chính quyền Sài Gòn.
Lâu quá rồi tôi cũng không còn nhớ nhiều về Hoàng Sa, về quang cảnh trên đảo. Nhưng ngôi nhà nguyện, miễu Bà, cầu tàu, giếng nước... luôn ở trong tôi. Và đặc biệt là khu nghĩa trang với khoảng 50-60 ngôi mộ của những người đã sống và bảo vệ đảo, bảo vệ chủ quyền cho đất nước.
Mới đó mà đã gần 40 năm - từ ngày chúng tôi bị bắt đến nay - không có người VN nào được đặt chân lên đảo Hoàng Sa nữa. Nghĩ mà thấy nghẹn ngào...

LÊ LAN 

Kỳ 3: Những ngày tháng không bao giờ quên
17/01/2012 09:14 GMT+7
TT - Cứ đến tháng giêng hằng năm là tôi không sao xua được cảm giác thẫn thờ mất mát, bởi những ký ức về vẻ đẹp hoang sơ của Hoàng Sa cũng như ký ức đau buồn khi chứng kiến Hoàng Sa bị rơi vào tay hải quân Trung Quốc vào ngày 19-1-1974. 
Mảng ký ức đó cứ lởn vởn trong đầu, như chỉ xảy ra vào hôm qua.
Phóng to
Ông Nguyễn Văn Cúc (trái) và đồng đội ở Hoàng Sa năm 1973 - Ảnh tư liệu gia đình ông Cúc
Tôi có duyên với biển cả, với đại dương và cả với Hoàng Sa. Sinh ra trong một gia đình làm nghề đánh bắt cá, tuổi thơ của tôi gắn liền với biển. Nhưng khi lớn lên, tôi chọn một nghề không liên quan tới biển, vậy mà cuộc đời đưa đẩy tôi lại công tác tại quần đảo Hoàng Sa. Giờ nghĩ lại, tôi thấy mình may mắn được làm việc, được cống hiến sức trẻ tại mảnh đất thiêng liêng ấy và tôi muốn chia sẻ để mọi người được biết, để con cháu thế hệ mai sau luôn biết rằng Hoàng Sa vô cùng tươi đẹp là một phần của Tổ quốc Việt Nam, hãy ghi nhớ Hoàng Sa là của Việt Nam và hãy giành lại chủ quyền Hoàng Sa. Ước vọng lớn nhất của đời tôi là một lần nữa được đặt chân đến Hoàng Sa để lại được sống trong không khí mát lành của biển cả, xua tan cảm giác nhớ mong.
Tôi được điều đi Hoàng Sa để khảo sát, sửa chữa và xây thêm bể ngầm chứa nước mưa, lấy nước ngọt phục vụ cả quần đảo. Cả thảy tôi ra Hoàng Sa được ba lần. Lần đầu là đầu năm 1973. Lúc đó tôi chỉ ra hai ngày để khảo sát tình hình các bể chứa nước cũ, ước lượng nguyên vật liệu cần thiết để lần sau mang ra đảo. Lúc tàu gần đến đảo, tôi có cảm giác lâng lâng khó tả vì sắp đặt chân lên vùng đất thiêng liêng.
Ở trên đảo một ngày, tôi cùng năm người nữa đi tham quan đảo chim. Đây là cảnh tượng làm tôi thích thú và ngạc nhiên nhất khi ở Hoàng Sa. Trên đảo có vô số chim và con vích đẻ trứng, đặc biệt chúng không sợ sự xuất hiện của chúng tôi. Cảnh tượng hoang sơ với những hốc đá và nhiều chim biển làm chúng tôi cảm thấy thích thú.
Lần thứ hai tôi ra đảo là bắt tay vào sửa chữa, xây dựng các bể ngầm chứa nước ngọt. Các bể này xây từ thời Pháp thuộc. Khoảng 20 bể, mỗi bể chứa khoảng 1.000m3 nước, được xây ngầm xung quanh ngôi nhà để chứa nước mưa từ trên trần nhà đổ xuống. Đây là khoảng thời gian lâu nhất tôi ở Hoàng Sa. Ở trên đảo, một ngày trôi qua rất bình dị, sáng dậy tập thể dục sau đó ăn cơm rồi bắt tay vào làm việc. Công việc được phân chia cụ thể, rõ ràng cho từng người nên ai làm việc nấy, tới giờ ăn trưa, đi ngủ rồi làm tiếp. Buổi chiều khi công việc đã xong, tôi thường lang thang đi dạo xung quanh đảo và hay đến cầu tàu ngồi hóng gió. Đó là những lúc tôi nhớ nhà nhất. Khi tôi ở ngoài đảo thì vợ tôi mang thai đứa con thứ hai. Để quên đi nỗi nhớ nhà, thỉnh thoảng tôi cùng anh em chơi đá bóng hay đi câu cá, bắt ốc. Đó là thú vui chính của chúng tôi.
Phóng to
Đào giếng nước ngọt trên đảo Hoàng Sa năm 1938 - Ảnh tư liệu
Tôi không nghĩ lần thứ ba ra đảo để lấy mẫu đất, khảo sát thực địa, làm sân bay cũng là lần ra đảo cuối cùng. Khi đã lấy được mẫu đất, khảo sát xong thực địa chúng tôi lên tàu rời khỏi đảo về đất liền. Đang lênh đênh trên biển thì gặp tàu chiến của Trung Quốc. Họ áp sát tàu chúng tôi, buộc quay về lại đảo. Cảm giác bàng hoàng khi trực tiếp chứng kiến Hoàng Sa bị chiếm. Cảm giác đau đớn và xót xa khi thấy mảnh đất của Việt Nam rơi vào tay kẻ khác.
Sau một ngày bị bắt giữ trên đảo, lính Trung Quốc cho tàu nhỏ chở chúng tôi về đảo Hải Nam. Sau đó đưa chúng tôi lên tàu lớn về Quảng Châu - Quảng Đông (Trung Quốc). Chúng tôi ở đó cả tháng trời. Đó là lần đầu tiên tôi đón tết ở nơi đất lạ, cảm giác hờn tủi đau đớn khi ăn tết xa quê hương, vợ con, bên cạnh đó lại mang nỗi niềm chua xót khi Hoàng Sa bị chiếm giữ. Trung Quốc trao trả chúng tôi cho Hồng thập tự quốc tế tại Hong Kong. Tôi là một trong năm người đầu tiên được trao trả. Chúng tôi lên máy bay về sân bay Tân Sơn Nhất. Rồi về Đà Nẵng. Niềm vui được đoàn tụ cùng gia đình, được quay về quê hương đất nước cũng không thể xua tan nỗi buồn mất Hoàng Sa.
Tôi có đôi lời nhắn nhủ con cháu cũng như các thế hệ mai sau là cần phải hiểu rõ lịch sử của Hoàng Sa, về sự gian khổ, khó khăn đi khai phá giữ gìn Hoàng Sa của cha ông từ thời chúa Nguyễn. Luôn ghi nhớ Hoàng Sa là của Việt Nam. Bằng mọi giá phải lấy lại chủ quyền Hoàng Sa cho Việt Nam.
Vùng đất này chỉ trồng dương liễu và cây nhàu, rất khó có thể trồng được loại rau quả nào. Bên bãi trồng cây dương liễu có một cái miếu, có tượng đồng đen và xung quanh có khoảng 25 ngôi mộ được đắp bằng đất. Người trên đảo nói miếu đó rất linh thiêng. Nghe đâu năm 1968 có ông thuyền trưởng định đưa tượng đồng đen về chùa ở Đà Nẵng để thờ, nhưng khi chuẩn bị vào cúng thì chiếc thuyền cứ xoay vòng, không thể tiến về bến cảng. Ông thuyền trưởng thấy vậy đem tượng trở lại miếu. Tôi ăn tết ở ngoài đảo nên mồng 1 tết tôi có ra miếu để thắp hương.
Ở ngoài đảo sợ nhất là cảnh thiếu nước, chúng tôi sử dụng nước mưa, được chứa ở các bể ngầm xung quanh nhà khí tượng. Tôi đã chứng kiến ba lần bị thiếu nước, mỗi lần kéo dài khoảng 10 ngày. Khát quá nên chúng tôi lấy nước giếng lên để dùng, nhưng nước giếng chỉ uống được khi còn nóng, để nguội rất khó uống. Uống nước giếng này liên tục ba ngày sẽ bị đau bụng, nhưng thuốc men lại không có. Anh em lúc đó chia sẻ với nhau từng thìa đường, miếng sữa. Những lúc đó mới thấm được tình cảm của anh em xa nhà như thế nào.
__________
NGUYỄN VĂN CÚC

Kỳ cuối: Tiếng chim cuốc Hoàng Sa
18/01/2012 07:02 GMT+7
TT - 38 năm đã trôi qua. 38 năm làm thay đổi bao nhiêu là sự việc. Nhưng trong tôi 38 năm như chỉ mới hôm qua. 
Những phụ nữ Việt Nam trên đảo Hoàng Sa (1940) - Ảnh tư liệu
Khoảng tháng 10-1973, tôi cầm sự vụ lệnh về tiểu khu để nhận thuốc men đi đảo Hoàng Sa.
Tôi lúc đó tuổi đôi mươi. Không vướng bận vợ con, chút máu lãng tử trong người trỗi dậy. Hơn nữa nghe truyền thuyết kể rằng: “Ngày xưa triều đình lập đội Hoàng Sa. Khi đưa tiễn và đi giữ biển đảo quê hương, họ được xem như những anh hùng, một đi không trở lại”. Còn mình hôm nay tàu to, súng lớn có gì mà e sợ.
Chiều hôm đó chúng tôi có mặt tại cảng Tiên Sa. Chiếc tàu “Hương Giang 404” sừng sững uy nghi đang sẵn sàng vượt trùng khơi.
Tập kết lương thực, súng ống xuống tàu xong, tàu nhổ neo. Tạm biệt đất liền chúng tôi vượt biển đến Hoàng Sa.
Sau một đêm vật vã vì biển động mạnh, sáng hôm sau tàu đến đảo. Hải đảo Hoàng Sa như một dải cát vàng trải dài trong nắng sớm. Nước quanh đảo xanh như mạ non. Từng đợt sóng lăn tăn đuổi nhau vào bờ, tạo nên một không gian thanh bình yên ả.
Tôi thật sự choáng ngợp. Quê hương ta đẹp biết bao!
Bàn giao giữa hai toán quân xong, chúng tôi ở lại, anh em đợt trước về đất liền.
Mặt trời lặn xuống biển. Hoàng hôn vừa trùm lên đảo. Bỗng tiếng con chim cuốc trong rừng bàng kêu lên từng hồi, tạo cho cảnh kẻ ở người về buồn man mác. Tiếng cuốc kêu sao da diết nhớ thương.
Rồi thời gian cũng qua đi, chúng tôi thích nghi dần với cuộc sống của một cư dân trên đảo.
Chúng tôi chia thành năm tổ, mỗi tổ bảy người. Nhà ở thì có một tòa nhà đúc bêtông, có sân thượng và một vọng gác, trên đó có một khẩu súng 12,7 li, dưới nền nhà là hầm chứa nước mưa để uống. Kế bên tòa nhà của lính là đài khí tượng. Ngoài biển vào có một cầu tàu có đường ray để vận chuyển vào đảo và từ đảo ra tàu nhưng nay đã hư hoàn toàn.
Trên đảo cũng có nhà thờ và chùa nhưng đã hoang phế, chỉ có ngôi miếu là còn tươm tất. Đặc biệt trên đảo Hoàng Sa có một giếng nước ngọt mà các đảo khác không có.

Phóng to
Bia chủ quyền Việt Nam do người Pháp dựng ở Hoàng Sa năm 1938. Trên bia có ghi rõ: Vương quốc Đại Nam 1816 - năm vua Gia Long bắt đầu thực thi chủ quyền của Việt Nam tại các đảo Hoàng Sa - Ảnh tư liệu
Biển đảo hiền hòa và hào phóng. Cung cấp hải sản không thiếu một thứ gì! Nhưng cũng có lúc nổi cơn giận dữ, biển thét gào với những trận cuồng phong. Những đợt sóng cao như trái núi lừ lừ tiến vào đảo trông thật kinh hoàng, nhưng điều may mắn là Hoàng Sa chưa bao giờ ngập trong sóng biển.
Có một lần biển động, bão đến bất ngờ. Một tàu cá Trung Quốc không kịp vào bờ tránh bão nên đã tấp vào đảo ngay trong đêm. Bão mạnh dần, chiếc tàu cá bị đánh dạt mất giữa biển khơi.
Phương tiện không còn, gia đình ngư dân Trung Quốc kia lại trở thành cư dân bất đắc dĩ của đảo.
Mặc dù lương thực sử dụng đã được tính toán chi li, nhưng tình người trong cơn hoạn nạn, ai nỡ ăn no để nhìn người khác đang đói. Vậy là toàn đảo sẻ chia, cưu mang gia đình Trung Quốc kia cho đến ngày họ xin được tàu về lại quê hương.
Ngày chia tay họ cũng ôm hôn anh em trên đảo, ngôn ngữ bất đồng nhưng trong đôi mắt hiện lên bao sự quyến luyến và biết ơn những người Việt Nam.
Thế rồi những ngày tiếp theo đó, tàu Trung Quốc đến đánh bắt cá tại vùng biển đảo Hoàng Sa càng nhiều hơn. Khi tàu hải quân Việt Nam tuần tra thì họ chạy ra hải phận quốc tế, khi tàu hải quân đi rồi thì họ lại buông neo thả lưới quanh đảo.
Anh em trên đảo chỉ có nhiệm vụ giữ đảo, còn đẩy đuổi ngư dân nước ngoài xâm phạm lãnh hải thì phương tiện không có.
Ba tháng rồi cũng trôi qua, chiếc tàu “Chí Linh 11” đón chúng tôi về lại đất liền, buổi chiều di chuyển ra tàu, con chim cuốc trong rừng bàng lại kêu từng hồi, như nhắn nhủ hãy nhớ về lại với Hoàng Sa.
Tàu nhổ neo, chạy một vòng quanh đảo để chào từ biệt. Đâu biết rằng lần chia tay đó Hoàng Sa chỉ còn trong tưởng nhớ không nguôi. Nhớ đêm chia tay, anh em rủ nhau đốt lửa, thức cùng Hoàng Sa. Tiếng hạ uy cầm của chú Võ Vĩnh Hiệp bên đài khí tượng hòa cùng tiếng hát bên ánh lửa bập bùng. Giữa muôn trùng sóng gió tiếng hát vẫn cất cao như miệt mài, như nhắc nhủ: “Một ngàn năm... một trăm năm...”.
Chiều nay đi giữa quê lại nghe tiếng chim cuốc kêu. Bỗng bồi hồi nhớ đến con chim cuốc ngày nào trên đảo Hoàng
Sa. Chắc bây giờ chiều chiều nó vẫn gióng lên tiếng kêu thương khắc khoải hướng về đất liền với bao nỗi chờ mong.
Riêng tôi, khi nào Hoàng Sa còn nằm trong tay kẻ cậy mạnh hiếp yếu, thì tiếng con chim cuốc trong ta sẽ còn mãi kêu lên dù cho nhỏ đến giọt máu cuối cùng, hầu nhắc thế hệ mai sau rằng: “Ta phải về Hoàng Sa”.
Tháng 10-1969 nhận được sự vụ lệnh của đơn vị, tôi ra làm đảo trưởng Hoàng Sa cùng 35 người lính và bốn nhân viên khí tượng, với nhiệm vụ giữ an ninh đảo và bảo vệ chủ quyền đảo Hoàng Sa. Đồng thời liên lạc báo cáo tin tức về an ninh, thời tiết khí tượng về đất liền.
Mổ heo cúng đảo xong, sáng hôm sau tôi đi quan sát một vòng trên đảo. Không khí rất ấm áp và dễ chịu với những bãi cát mịn trắng phau. Khi ra bờ biển nhìn xung quanh, tôi thấy những đảo nhỏ phía xa xa. Và ngay tại bờ biển tôi thấy có một nghĩa địa chôn những người đã mất khi làm nhiệm vụ trên đảo. Kế nghĩa địa là miếu Bà. Trong miếu thờ Phật Quan Âm.
Trung tâm đảo có một tòa nhà chính và kế bên là nhà khí tượng. Tòa nhà chính do Pháp xây cất lúc nào trên đảo chúng tôi không biết. Nhưng tòa nhà rất chắc chắn với tường dày đến 2m để chống chọi lại những cơn bão. Khi trở về, tôi đã ghi lại trên đường theo thứ tự của những đợt ra quân giữ gìn đảo từ đợt 1 đến đợt 36 và tôi là đợt 37 (tháng 10-1969).
Mặc dù tháng 10 nhưng thời tiết ngoài đảo rất ấm áp. Mỗi ngày chúng tôi đi quan sát xung quanh đảo và báo cáo tin tức an ninh cùng thời tiết khí tượng về đất liền.
Sau hơn ba tháng trên đảo, đã đến ngày chúng tôi và bốn nhân viên khí tượng trở về đất liền để đợt mới ra thay.
Chúng tôi náo nức trở về đất liền và mang theo những luyến tiếc, những kỷ niệm vui buồn cùng Hoàng Sa - một quần đảo thân yêu của đất nước mà nhiệm vụ của chúng ta bây giờ là phải tranh đấu mãi mãi.
NGUYỄN VĂN ĐỨC (nguyên đảo trưởng Hoàng Sa)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ông Ba Bị, Mẹ Mìn và


Ba bị chín quai
Ba bị chín quai mười hai con mắt, hay bắt trẻ con, gọi tắt là ông Ba Bị, là một câu nói kiểu đồng dao, thường dùng để dọa trẻ con.
Mười hai con mắt = 6 người = 1 tiểu đội (bây giờ).
Ba bị mà có chín quai = mỗi bị ba quai.
Đây chính là cách hành quân thần tốc của Tây Sơn. Mỗi tiểu đội quân chính quy (thân binh) có 6 người, chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm 3 người. Mỗi nhóm có một cái bị to, có ba quai. Thiết bị, lương thực, nước uống của cả tiểu đội quăng vào cái bị ấy. Rồi cứ thế mà đi bộ ra Thăng Long. (Có thể họ đeo súng trên vai, các đồ khác mới cho vào bị, ba quai xỏ vào 2 đòn gánh loại ngắn hình chữ lambda λ, đi thành hình tam giác nhọn, một người đi trước, hai người đi sau).
Ngày xưa đường không như bây giờ, ngoài việc là đường đất thì còn phải vượt qua rất nhiều sông ngòi đầm lầy, đi bộ kiểu này là nhanh nhất. Quân Tây Sơn là quân đội phương nam (không có mùa đông), quân trang nhẹ và ít, nai nịt gọn gàng, ăn nghỉ rất khắc khổ. Khi chiếm đóng Thăng Long lần thứ nhất, người Bắc Hà rất ngạc nhiên khi quân Tây Sơn ngủ ngoài trời, trên mặt đất.
Trong chiến dịch đại phá quân Thanh, quân Tây Sơn vừa hành quân vừa bắt lính ở các làng mình đi qua rất dã man. Già cũng bắt, thiếu niên cũng bắt. Ai còn khỏe và là lính thì xung quân, còn không thì làm dân công. Thanh niên ở vùng từ Hà Tĩnh đổ ra bị bắt nhiều nhất, nên dân sợ chết khiếp, từ đó hình thành câu đồng dao này (gốc gác của câu đồng dao này có thể là từ vùng Hà Tĩnh). Dần dần Ông Ba Bị thành hình ảnh đe dọa trẻ con.
Ông Ba Bị dùng bạo lực bắt người, khác với Mẹ Mìn là dụ dỗ lừa người. Mẹ Mìn  xuất hiện ở nông thôn Miền Bắc thời kỳ Pháp mộ phu đi Sài Gòn, đi Tân Thế Giới này nọ. Mẹ Mìn dụ dỗ thanh thiếu niên lên Hà Nội rồi bắt bán cho bọn buôn người, rồi bọn này bán cho các sở mộ phu. Các bọn lừa phụ nữ bán sang Trung Quốc bây giờ chính là “mẹ mìn” hiện đại. Nguồn gốc của việc buôn người, có thể có từ thời Trần. Vào thời Trần có thể đã hình thành một thị trường buôn nô lệ, bao gồm buôn bán tù binh Chăm .

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện Chu Lệ Vương

Chu Lệ vương (? - 828 TCN) bạo ngược kiêu ngạo, người trong nước đều chỉ trích vua. Thiệu công can gián nói: “Dân không chịu nổi chính lệnh nữa rồi”. Vua nổi giận, tìm được thầy mo nước Vệ, sai giám sát những kẻ chỉ trích, đem bẩm lại để giết. Người chỉ trích ít đi, chư hầu không tới chầu. Năm thứ ba mươi tư, vua ngày càng hà khắc, người trong nước không ai dám nói, đi đường chỉ dùng ánh mắt nhìn nhau. Lệ vương vui mừng, bảo Thiệu công rằng: “Ta có thể cấm tuyệt lời chỉ trích rồi, không ai dám nói nữa”. Thiệu công nói: “Ấy là bịt miệng vậy. Đề phòng miệng dân còn hơn phòng lũ. Đê ngăn mà vỡ, thương tổn ắt nhiều, dân cũng như vậy. Thế nên người trị thủy phải cho sông được khơi thông, người trị dân phải cho dân được bày tỏ. Vậy nên thiên tử xử lý chính sự, phải sai công khanh cho tới liệt sĩ dâng thơ, nhạc quan dâng khúc hát, sử quan dâng sách, thái sư dâng bài trâm, kẻ mù dâng bài phú, kẻ thong manh dâng bài tụng, trăm quan can gián, dân chúng truyền lời, cận thần khuyên nhủ, thân thích góp ý, nhạc – sử bảo ban, bô lão chỉnh sửa, rồi vua cân nhắc. Vậy nên chính sự thi hành mới không trái đạo. Dân có miệng cũng như đất có núi sông vậy, của cải từ ấy mà ra; cũng như đất có chỗ phẳng trũng cao thấp, cái ăn cái mặc từ ấy mà ra. Qua lời truyền miệng, thành bại từ ấy rõ rệt. Làm việc tốt, ngừa việc xấu, ấy là cách tạo ra của cải, ăn mặc vậy. Dân suy nghĩ trong lòng mà phát lời ở miệng, chín chắn rồi làm. Nếu bịt miệng họ, liệu được bao lâu?” Vua không nghe. Thế rồi cả nước chẳng ai dám nói lời nào, ba năm sau theo nhau tạo phản, tấn công Lệ vương. Lệ vương bỏ chạy đến đất Trệ.

(Sử ký của Tư Mã Thiên, Trần Quang Đức dịch)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2015

Bất chấp "cảnh báo", Myanmar đã kiểm soát Kokang, báo Trung Quốc đòi đánh




(GDVN) - Mặc dù Trung Quốc muốn can thiệp, nhưng Myanmar đã có đủ quân bài, kiên quyết tấn công phiến quân, đã kiểm soát Kokang, yêu cầu phiến quân hạ vũ khí.
Binh sĩ Quân đội Myanmar tại Laukkai - thủ phủ Kokang
Quân đội Myanmar đã kiểm soát Kokang, yêu cầu phiến quân hạ vũ khí
Mạng Tân Hoa dẫn tờ "Union Daily" - tờ báo đảng cầm quyền Myanmar ngày 26 tháng 3 đưa tin, trải qua hơn 1 tháng chiến sự, Quân đội Myanmar đã kiểm soát toàn bộ khu vực Kokang.
Theo bài báo, quân đội Myanmar đã đưa ra mệnh lệnh chung ở khu vực Kokang, thúc giục lực lượng vũ trang địa phương hạ vũ khí và cam kết bảo đảm an ninh cho họ.
Người đứng đầu quân sự Laukkai - thủ phủ Kokang, Myanmar nói với phóng viên Tân Hoa xã rằng, đến tối ngày 24 tháng 3, tất cả các điểm cao chiến lược chủ yếu của khu vực Kokang đều đã được Quân đội Myanmar kiểm soát, tình hình Laukkai tương đối ổn định, một số cửa hàng đã mở cửa kinh doanh.
Theo Tân Hoa xã, ngày 9 tháng 2, Quân đội Myanmar và phiến quân địa phương đã nổ ra chiến sự ở khu vực Kokang. Chiến sự kéo dài tới nay, đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới an ninh, ổn định của khu vực biên giới. Theo thống kê chính thức của Myanmar, hai bên giao chiến có hơn 400 người bị thương vong.
Báo Trung Quốc đòi dùng vũ lực đối với Myanmar
Mạng sina Trung Quốc ngày 25 tháng 3 tiếp tục đăng bài viết đe dọa Myanmar với tiêu đề “Myanmar coi thường sự cảnh báo của Trung Quốc, cần tiến hành ngăn chặn đối với Quân đội Myanmar”.
Theo bài viết, sau khi Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc Phạm Trường Long ra “tối hậu thư” cho Tổng tư lệnh Quân đội Myanmar Min Aung Hlaing, đứng trước sức ép mạnh mẽ của Trung Quốc, diễn biến tình hình Myanmar chủ yếu có 3 cấp độ:
Quân đội Trung Quốc tập kết ở khu vực biên giới với Myanmar
Một là, các bên ở Myanmar thực sự ngồi xuống đàm phán, do Trung Quốc gây sức ép, do nhân tố bất lợi của chiến sự miền bắc Myanmar và do thời gian bầu cử ở Myanmar đến gần. Do đó, đàm phán Thỏa thuận ngừng bắn toàn quốc diễn ra từ ngày 17 đến ngày 22 tháng 3 năm 2015. Tuy nhiên, do lợi ích các bên không thể điều hòa, nhất là chính quyền Myanmar vẫn không cho phép phiến quân Kokang tham gia đàm phán, chiến sự miền bắc Myanmar vẫn không có khả năng dừng lại, thỏa thuận ngừng bắn đương nhiên khó đạt được ý kiến thống nhất.
Hai là, chiến sự ở miền bắc Myanmar không hề dừng lại, mức độ gay gắt tăng lên. Trong 1 tuần qua, Quân đội Myanmar đã phát động nhiều đợt tiến công quy mô lớn đối với phiến quân Kokang.
Mặc dù máy bay Myanmar không liên tục cất cánh ném bom như trước, nhưng ngày 20 tháng 3 vẫn có máy bay quân sự Myanmar cất cánh và ném bom, hơn nữa còn ném loại bom uy lực mạnh 250 kg do Trung Quốc sản xuất, đó là bom CSBBF-1, tuy không ném vào lãnh thổ Trung Quốc, nhưng vẫn gây ảnh hưởng. Do đó, bài báo ra mặt cho rằng, Myanmar hoàn toàn không “bớt phóng túng” thực sự, chỉ thận trọng hơn một chút.
Ba là, Chính phủ Myanmar hoàn toàn không thực sự để tâm tới sự cảnh cáo và đề nghị của Trung Quốc, cũng hoàn toàn không coi trọng thực sự đối với chiến lược “nước lớn” của Trung Quốc. Điều này có thể nhìn thấy từ những trình bày nêu trên và từ trả lời phỏng vấn BBC của Tổng thống Myanmar U Thein Sein. Khi đó, ông U Thein Sein đã đánh vào thể diện của Trung Quốc trong việc “điều tiết” tình hình Myanmar, cho rằng, xung đột Kokang là công việc nội bộ của Myanmar, cần giải quyết nội bộ, Trung Quốc không thể giải quyết.
Còn về việc máy bay quân sự Myanmar ném bom làm thương vong dân thường Trung Quốc do báo chí Trung Quốc tuyên truyền, người phát ngôn Chính phủ Myanmar trực tiếp tuyên bố không thừa nhận, đến nay, chính quyền Myanmar cũng không thừa nhận họ đã ném bom, hơn nữa “đổ lỗi” cho phiến quân Kokang. Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã bác lại quan điểm này.
Phân tích như trên, bài báo cho rằng, có thể nhìn ra thái độ và ý đồ của chính quyền Myanmar: Thứ nhất, rõ ràng phản đối Trung Quốc tiến hành hòa giải, muốn giải quyết nội bộ, đến nay không có ý định để cho phiến quân Kokang được ngồi vào bàn đàm phán. Thứ hai, căn bản không thừa nhận “vượt biên ném bom”, cũng không thừa nhận “ném chết dân biên giới Trung Quốc”, vừa không “bồi thường” vừa không “xin lỗi”. Thứ ba, Myanmar phát động tấn công quy mô lớn nhất đối với phiến quân Kokang, tìm cách thông qua giành thắng lợi trên chiến trường để có được chủ động trên bàn đàm phán.
Theo báo Trung Quốc, thái độ này của chính quyền Myanmar cho thấy: Một là, Myanmar hoàn toàn không quan tâm đến “chiến lược nước lớn” của Trung Quốc, cũng sẽ không quan tâm tới lập trường công khai của Trung Quốc trong sự kiện này, thậm chí để gây sức ép với Trung Quốc, còn tiến hành “đầu cơ chính trị” đối với Trung Quốc, muốn lôi kéo phương Tây làm “ngọn cờ lớn” nhằm vào Trung Quốc.
Bài báo trịnh thượng cho rằng, mặc dù Trung Quốc “tận tình khuyên bảo – hết nước hết cái”, để họ ngồi xuống đàm phán, giải quyết hòa bình, nhưng chính quyền Myanmar hoàn toàn không “cảm kích”. Ông U Thein Sein trả lời phỏng vấn BBC, hàm nghĩa chính là “lợi dụng phương Tây để ép Trung Quốc nhượng bộ”. Thái độ của Chính phủ và Quân đội Myanmar cho thấy, Myanmar muốn tiếp tục “đánh bạc” với Trung Quốc – cho rằng, Trung Quốc không dám ra tay thực sự (dùng vũ lực đối với Myanmar).
Hai là, muốn thông qua giành lấy ưu thế trên chiến trường miền bắc để có thể mạnh trên bàn đàm phán. Họ đã mở rộng chiến tranh ở miền bắc. Trong 2 ngày gần đây, Quân đội Myanmar đã tập kết vũ khí hạng nặng quy mô lớn ở miền bắc Myanmar. Ngày 27 tháng 3 là ngày thành lập quân đội Myanmar, đây là lúc Quân đội Myanmar muốn giành thắng lợi áp đảo trước ngày thành lập quân đội để xác định, khi tái khởi động đàm phán vào ngày 30 tháng 3, Chính phủ Myanmar lấy thái độ như thế nào để tiến hành đàm phán.
Trung Quốc sẽ tấn công Myanmar?
Theo mạng sina, Chính phủ và Quân đội Myanmar sở dĩ bỏ ngoài tai sự cảnh cáo và đề nghị (trịnh thượng) của Trung Quốc, nguyên nhân căn bản ở chỗ, Chính phủ Myanmar cho rằng, trong tay họ có “con bài Trung Quốc”, chẳng hạn Trung Quốc có đường ống dầu khí ở Myanmar, Myanmar là đường ra biển quan trọng ở Ấn Độ Dương của Trung Quốc, Myanmar nằm ở mắt xích quan trọng kết nối “một vành đai, một con đường”.
Hơn nữa, trong mấy năm qua, do quan hệ giữa Myanmar và phương Tây không ngừng cải thiện, đối với Myanmar, họ đã không nhất định lệ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc như trước đây, mà có thể “chơi cân bằng” giữa Trung-Mỹ để giành lấy lợi ích lớn hơn.
Theo mạng sina, nói trắng ra, chính là muốn dựa vào sức mạnh Mỹ để ngăn chặn Trung Quốc, có ý đồ cản trở Trung Quốc, từ đó thừa cơ giải quyết phiến quân miền bắc Myanmar.
Nhưng, theo tuyên truyền bôi nhọ của bài báo, đối với Trung Quốc, một khi Chính phủ Myanmar giải quyết phiến quân miền bắc và quan hệ với phương Tây tiếp tục được cải thiện, với đặc điểm “lòng tham, mạo hiểm và đầu cơ” của nhân vật phe thực quyền Myanmar, họ hoàn toàn có thể ngả vào phương Tây, trở thành một “quân cờ” ngăn chặn Trung Quốc, từ đó, từ một mắt xích của “một vành đai, một con đường” biến thành một mắt xích chống lại chiến lược “một vành đai, một con đường”.
Trong giai đoạn hiện nay, Myanmar còn chưa hoàn toàn thực hiện hòa giải thực sự với phương Tây, ông U Thein Sein đã dám mượn dư luận của BBC để gây sức ép với Trung Quốc, thăm dò một khi giải quyết xong phiến quân miền bắc Myanmar, Myanmar sẽ lại “làm gì” với Trung Quốc – báo Trung Quốc cảm thấy thực sự lo ngại.
Và bài báo vu vạ cho rằng, trên thực tế, (Myanmar) đã coi Trung Quốc là kẻ thù, đã coi chiến lược "một vành đai, một con đường" của Trung Quốc là "trò đùa". Không những vậy, chính quyền Myanmar gần đây còn cho rằng phiến quân Kokang thu nhận quân nhân giải ngũ của Trung Quốc, bài báo coi đó là hành động "hắt nước bẩn" vào Trung Quốc, từ đó dựa vào dư luận để gây sức ép lớn hơn đối với Trung Quốc.
Đứng trước những vấn đề này, Trung Quốc làm thế nào? Căn cứ vào thông tin công khai, Trung Quốc đã điều động rất nhiều lực lượng và vũ khí hạng nặng tới biên giới, bài báo thậm chí cho rằng, "tối hậu thư" của Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc "đương nhiên không phải là trò đùa nói năng tùy tiện".
Trung Quốc chắc chắn sẽ tiến hành chuẩn bị đầy đủ, bởi vì nếu tiếp tục có vượt biên ném bom hoặc đạn pháo lạc vào lãnh thổ Trung Quốc gây ra thương vong, Trung Quốc chắc chắn sẽ đáp trả, không có sự lựa chọn khác, nếu không “làm sao ăn nói với người dân” - báo Trung Quốc dọa nạt.
Bài báo cho rằng, Trung Quốc nhất định phải tiến hành "ngăn chặn" đối với Quân đội Myanmar, phải tránh để xảy ra bất cứ hoạt động ném bom nhầm, làm thương vong nhầm nào đối với Trung Quốc.
Nhưng, theo bài báo, chỉ như vậy vẫn còn "chưa đủ", còn chưa thể thúc đẩy thực hiện “chiến lược” của Trung Quốc ở Myanmar. Trong giai đoạn hiện nay, Trung Quốc nếu để phe cứng rắn Myanmar trỗi dậy, chiến lược của Trung Quốc ở Myanmar trong tương lai sẽ rất khó thực hiện.
Vì vậy, trên chiến trường, đòi hỏi phiến quân Kokang và các lực lượng vũ trang khác ở miền bắc Myanmar phải thực sự có thể "đánh thắng" trong giao chiến với Quân đội Myanmar, cần phải để cho Quân đội Myanmar chịu tổn thất lớn mới có thể thực sự có một cuộc đàm phán bình đẳng, đàm phán dự tính mới có thể thực sự đạt được nhất trí.
Trên cơ sở đó, hành vi “đầu cơ mạo hiểm” của Trung Quốc đối với Myanmar cần thiết đưa ra biện pháp mạnh mẽ hơn, tránh để tình hình tiếp tục xấu đi hoặc tiếp tục xảy ra "ngoài ý muốn". Đồng thời, Trung Quốc cũng cần xem xét tiếp tục thúc đẩy "chiến lược nước lớn", tránh để sau khi tiếp tục cải cách trong tương lai, Chính phủ Myanmar thực sự trở thành chính quyền thân phương Tây, chuyển sang ngăn chặn Trung Quốc. Nhìn vào phong cách làm việc của thế lực mới nổi ở Myanmar, khả năng và rủi ro này hoàn toàn tồn tại
Điều đặc biệt đáng chú ý là, nhìn vào tình hình hiện nay, trong tương lai một khi ông Than Shwe qua đời, không thể loại trừ thế lực mới nổi của Quân đội Myanmar và bà Aung san Suu kyi đạt được hòa giải chính trị. Nếu họ hòa giải thì Myanmar sẽ chuyển sang trở thành nước ngăn chặn Trung Quốc. Đối với rủi ro này, Trung Quốc cần tiến hành đánh giá cụ thể và đưa ra sách lược ứng phó. nhận xét hiển thị trên trang

Dấu chân khổng lồ ở Nam Phi: Người khổng lồ từng ngự trị trên Trái đất? (Video)


Trong video quay cận cảnh dưới đây, Michael Tellinger ghi lại hình ảnh một dấu chân khổng lồ khắc vào đá granit ở Nam Phi. Video này đã được lan truyền trên mạng Internet trong vài năm nay, và mặc cho tất cả nỗ lực nhằm lật tẩy nó, điều bạn nhìn thấy trong video này là điều chân thực.
Dấu chân khổng lồ ở Nam Phi. (Ảnh chụp từ video)
Khó có thể cho rằng (gần như không thể) tảng đá granit này có thể tạo thành hình dạng như vậy thông qua quá trình xói mòn thông thường. Thậm chí nếu bạn có chút hoài nghi, ít ra bạn cũng sẽ cảm thấy rất thú vị.
Michael Tellinger là ai?
Ông là một tác giả – chính trị gia nổi tiếng, từng có một số khám phá mang tính đột phá về những nền văn minh cổ đại bị thất lạc mà trước đây từng xuất hiện trên Trái đất. Nghiên cứu của ông đã được thu hẹp trọng tâm vào khu vực mũi phía nam của Nam Phi.
Cách tiếp cận mang tính khoa học và phân tích của ông đã thu hút được rất nhiều người. Ông đã từng thuyết giảng ở nhiều nơi trên thế giới và đã đưa ra những bằng chứng đáng kinh ngạc khiến chúng ta phải xem xét lại nguồn gốc thực sự của nhân loại và lịch sử cổ đại của con người.
Ông hiện được coi là một người có uy tín trên trường quốc tế về lĩnh vực nguồn gốc của nhân loại và các nền văn minh thất lạc ở phía nam Châu Phi. Độc giả có thể tìm hiểu thêm về Michael và các công trình của ông bằng cách ghé thăm trang web này.
Mặc dù đoạn video này đã được đăng tải lên mạng vài năm trước, nhưng nó cực kỳ thú vị nên nên chúng tôi muốn đưa nó ra cho những ai chưa từng xem qua nó. (Bạn có thể bật phụ đề và chọn ngôn ngữ tiếng Việt để xem)
Một lượng lớn thông tin và bằng chứng về người khổng lồ đã từng tồn tại
Ngay cả nếu bạn không cảm thấy ấn tượng với video bên trên, thì sẽ vẫn rất khó để bác bỏ quan điểm cho rằng người khổng lồ đã từng ngự trị trên hành tinh của chúng ta, chính vì số lượng các bằng chứng là ngoài sức tưởng tượng.
Người khổng lồ ngự trị trên Trái Đất đã là một chủ đề có trong văn tự của nhiều nền văn minh cổ đại, cũng như nhiều kinh sách tôn giáo xuyên suốt lịch sử con người. Một ví dụ điển hình là Nephilim trong Kinh Thánh. Cái nữa là kinh Vệ-Đà trong Bà Là Môn giáo ở Ấn Độ, trong đó người khổng lồ được liên tục đề cập đến trong rất nhiều thiên sử thi. Những ví dụ có thể tìm thấy trong các tư liệu, văn chương, kinh sách quả thật bất tận. Ngày nay khoa học hiện đại đang không ngừng phát triển tới trình độ kỹ thuật mà đã được rất nhiều nền văn minh cổ đại nhắc tới, điều này làm mọi người phải thốt lên kinh ngạc.
Ngoài dấu chân bạn nhìn thấy bên trên, còn có rất nhiều các ví dụ về bằng chứng vật lý về người khổng lồ. Một ví dụ như vậy là một mảnh xương đùi kèm khớp háng của một người khổng lồ mà khi đứng thẳng có thể cao đến 3,5m. Mảnh xương này đã nằm trong kho lưu trữ của trường y thuộc Đại học WITS, Johannesburg, Nam Phi từ đầu những năm 1960, sau khi được những người thợ mở phát hiện trong một mỏ tại phía bắc Namibia. Đây là một trong những mẫu vật hiếm có và quý giá nhất ngày nay, qua đó đã minh chứng rõ ràng cho sự tồn tại của chủng người khổng lồ ở Nam Phi hơn 40.000 năm trước.
Dưới đây là video của Giáo sư Francis Thackeray, Giám đốc Viện Tiến hóa Nhân chủng thuộc trường Đại học The Witwatersrand, Johannesburg, đang cho ông Michael Tellinger (từ video bên trên) xem mảnh xương thực.

“Đôi mắt của chủng loại người khổng lồ đã tuyệt chủng đó, với xương của họ đã chất đống thành những gò đất của Mỹ quốc, hiện đang hướng cái nhìn về thác nước Niagara, cũng giống như chúng ta bây giờ.”

- Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln năm 1848
Một ví dụ tuyệt vời khác về người khổng lồ là từ năm 1883, khi Smithsonian (một tổ chức chỉ huy bởi chính phủ/quân đội Hoa Kỳ) phái một đội khảo cổ đến Gò South Charleston. Báo cáo sau chuyến đi cho thấy đội khảo cổ này đã phát hiện được rất nhiều xương người khổng lồ từ 2,1 đến 2,9 m. Chúng được đeo các vòng tay nặng bằng đồng và các vật phẩm mang tính chất tôn giáo/văn hóa khác. Báo cũng nói rằng một trong số họ có hộp sọ “dạng đè nén hoặc đầu bẹt”. Những đặc điểm này cũng tương tự như trên các bộ xương ở Nam Mỹ và Ai Cập.
Một ví dụ khác có từ năm 1774, khi đó những người khai hoang ở Mỹ đã tìm thấy cái họ gọi là “Thị trấn Khổng lồ”, trong đó chứa một số bộ xương cỡ đại, một trong số đó là của một người đàn ông cao 2,4 m.
Ngoài các mảnh xương và tư liệu lịch sử về người khổng lồ từ thời kỳ cổ đại của chúng ta, điều đáng đề cập đến là có rất nhiều các công trình khổng lồ trên Trái đất mà hiện vẫn đang làm các nhà khảo cổ học và khoa học bối rối, những công trình chưa có lời giải về cách chúng được xây dựng, và ai là người tạo ra chúng.
Một ví dụ điển hình như vậy là đền thờ thung lũng Khafre, ở Ai Cập. Kiến trúc cốt lõi của nó đã được xây dựng hoàn toàn bằng những khối đá vôi khổng lồ, mỗi khối có chiều dài khoảng 5,4 m, chiều cao 3 m, và chiều rộng 2,4 m. Một số có kích cỡ lên đến 9m chiều dài, 3,6 m chiều rộng, và 3 m chiều cao. Với mỗi khối đá nặng hơn 200 tấn trong một công trình được tạo thành từ hàng trăm khối đá như vậy, thật khó có thể biết được những tòa kiến trúc này đã được xây dựng như thế nào, đặc biệt nếu bạn để ý đến tính chính xác trong cách sắp đặt và bố cục của những khối đá.
Quần thể đền thờ và kim tự tháp pharaong Khafre. (Ảnh: static.panoramio.com)
Kích cỡ đồ sộ của những khối đá xây đền thờ Khafre và cách thức sắp xếp chính xác vị trí của chúng với công cụ ‘lạc hậu’ của người cổ đại hiện vẫn đang là một ẩn đố chưa có lời giải. (Ảnh: astarte.com.au)
Những khối đá này được nâng lên hơn 12m . Vậy ai đã làm điều này? (Ảnh: brianholihan.com)
Trong quá trình thi công, những khối đá này cần phải được nâng lên độ cao hơn 12 m. Hãy dành một giây để nghĩ về điểm này.
“Hiện tại chỉ có hai cần trục trên thế giới có khả năng nâng hạ những khối lượng cỡ đại như vậy. Với trình độ hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ xây dựng, hai cần trục này đều là những cỗ máy lớn, công nghiệp hóa, với cần trục có thể kéo dài hơn 67 m trong không khí, và cần vật đối trọng lên đến 160 tấn để ngăn chúng không bị lật nghiêng. Thời gian chuẩn bị cho một lần cẩu là khoảng sáu tuần và cần đến một nhóm chuyên gia lên đến 20 người,” - Graham Hancock [1]
Nếu đề cập đến người khổng lồ và những công trình cổ đại không tưởng, bạn có thể lấp đầy cả một tòa nhà với hàng xấp tư liệu nghiên cứu và bằng chứng. Những thông tin trong bài viết này thậm chí còn không thể sánh được với một phần nhỏ kho tư liệu hiện nay, nó chỉ là một bài giới thiệu đơn thuần để thức tỉnh những độc giả của chúng tôi trước thực tế là có rất nhiều các thông tin đằng sau những hiện tượng này. Nếu bạn cảm thấy hứng thú, chúng tôi hy vọng rằng điều này có thể tạo bước đầu cho nghiên cứu của chính bạn trong lĩnh vực không tưởng này.
Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy rẫy các điều bí ẩn, nơi thông tin bị che giấu để bảo vệ tình trạng hiện tại và cái chúng ta vẫn thường tin là sự thật về bản thân và Trái đất. Vì vậy, có lẽ những phát hiện được che đậy trước đây trong và ngoài hành tinh của chúng ta không nên bị đặt sang một bên và bác bỏ như là một loại thuyết âm mưu đơn thuần.
Chú thích:
[1] Hancock, Graham. Dấu vân tay của Chúa: Canada: Nhà xuất bản Anchor Canada, năm 2005
Đăng tải với sự cho phép từ Collective Education. Đọc bản gốc ở đây.
























































































































































































































Phần nhận xét hiển thị trên trang