Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2015

"...ai đã giáo dục chúng tôi thành những thằng điên?”

Cuốn “Mao Trạch Đông ngàn năm công tội” do nhà xuất bản Thư Tác Phường ấn hành, ra mắt tại Hồng Công tháng 7-2007 và tới bạn đọc tháng 6-2008, là một trong những cuốn sách đang được dư luận Trung Quốc hết sức quan tâm, với những luồng ý kiến nhận xét trái ngược nhau, từ hoan nghênh đến bất đồng, thậm chí phản đối gay gắt.
Tác gia Tân Tử Lăng nguyên là cán bộ nghiên cứu và giảng dạy tại Học viện quân sự cấp cao, Đại học Quân chính, Đại học Quốc phòng Trung Quốc. Ông nhập ngũ năm 1950, từng tham gia các phong trào chính trị do Mao phát động, về hưu năm 1994 với quân hàm Đại tá.
Chúng tôi xin trích một số đoạn trong tác phẩm trên để bạn đọc thấy rõ “thiên đường......" như sau :
“Kinh điển để Mao cải tạo xã hội chủ yếu là “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”. Tư tường chủ nghĩa xã hội không tưởng của “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” kết hợp với quan điểm “đại đồng” của Trung Quốc hình thành mô hình chủ nghĩa xã hội không tưởng Mao Trạch Đông. Sự phát triển của nó là Mác + Tần Thuỷ Hoàng (lời Mao Trạch Đông), thêm thắt nhiều thứ mang tính chất phong kiến, cuối cùng biến chất thành chủ nghĩa xã hội phong kiến
“Chương 9
Địa ngục văn chương lớn nhất trong lịch sử loài người” :
“Đến khi Lý phản ánh ý kiến của La Long Cơ rằng ở Trung Quốc hiện nay “tiểu trí thức của chủ nghĩa Mác-Lenin lãnh đạo đại trí thức của giai cấp tiểu tư sản, người mù chỉđường người sáng mắt”, thì Mao nổi giận dữ dội.”
“Theo thống kê chính thức, trong cuộc đấu tranh này, có 552.877 trí thức bị qui là phái hữu, bị đầy đoạ trong 20 năm trời. Đến khi sửa sai (1980), chỉ có 96 người thật sự là phái hữu, chiếm 1,8 phần vạn, nghĩa là trong 1 vạn người chưa đến 2 người.”
“Mao nói: “Phải chuyên chế. Không thể chỉ nói đến dân chủ. Phải kết hợp giữa Các Mác và Tần Thuỷ Hoàng”
“Chương 18
Địa ngục trần gian” :
“Trong 4 năm sau khi Mao tuyên bố thực hiện một số lý tưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng (tháng 9-1959) Trung Quốc đã xảy ra thảm kịch làm 37,55 triệu người chết đói (số liệu chính thức được giải mật theo quyết định của Bộ chính trị ĐCSTQ tháng 9-2005), nhiều hơn cả số người chết trong Chiến tranh thế giới II. Đây là cuộc thử nghiệm chủ nghĩa xã hội không tưởng thời gian dài nhất, quy mô lớn nhât, thiệt hại thảm khốc nhất trong lịch sử loài người. Thiên đường cộng sản chủ nghĩa do chính Mao thiết kế và lãnh đạo xây dựng đã biến thành địa ngục trần gian.”
“Khi chân lý trong tay, Mao có thể bao dung các đối thủ, đoàn kết phe phản đối. Thường khi Mao đuối lý, phát hiện mình sai rồi, thì ông ta không thể bao dung phái phản đối, mà quyết tâm đẩy họ vào chỗ chết, để trừ hậu hoạ. Đó là lý do vì sao Mao tàn bạo đến tận cùng đối với những người bạn cũ như Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài, Hạ Long, Bành Chân, Đào Chú…”
“Chưa một nhà thống trị nào có thể lợi dụng học sinh làm điều xấu. Chỉ có Mao Trạch Đông làm nổi việc này. Mao đã lợi dụng học sinh làm rối loạn cả xã hội, lật đổ cơ quan đảng và chính quyền các cấp, mượn bàn tay học sinh để giày vò các bạn chiến đấu hôm qua, đối thủ chính trị hôm nay.”
“Khởi đầu bằng việc đập phá tượng Thích ca mâu ni trên Phật Hương Các ở Di Hoà Viên, Hồng vệ binh đã phá hoại 4.922 trong số 6.843 di tích cổở Bắc Kinh. Theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước có 10 triệu nhà bị lục soát, trong đó Bắc Kinh 11,4 vạn, Thượng Hải 10 vạn. Nhà riêng nguyên Bộ trưởng Giao thông Chương Bá Quân bị Hồng vệ binh chiếm làm trụ sở, hàng vạn cuốn sách ông lưu trữ bị chúng đốt suốt ngày đêm để sưởi ấm. Hơn 200 sinh viên Đại học Sưphạm Bắc Kinh kéo về Sơn Đông “san bằng” mộ Khổng Tử. Lăng mộ của nhiều nhân vật lịch sử hoặc danh nhân như lăng Viêm đế, mộ Hạng Vũ, Gia Cát Lượng. Thành Cát Tư Hãn, Chu Nguyên Chương, Ngô Thừa Ân, Từ Bi Hồng… bị đập phá.”
“Mao còn tạo ra cuộc khủng bố đỏ, cho Hồng vệ binh nông dân thả sức giết hại “kẻ xấu” (địa chủ, phú nông, phản cách mạng, phái hữu, nhà tư bản, xã hội đen) để áp chế sự phản kháng của nhân dân. Chỉ riêng hạ tuần tháng 8-1966, nội thành Bắc Kinh đã có hàng ngàn người bị đập chết tươi.”
“Nhiều người khi ấy đã được chứng kiến những cuộc tắm máu, những kiểu giết người cực kỳ man rợ như thời trung cổ. Ôn lại chuyện trên, cựu Hồng vệ binh Trần Hướng Dương sau này viết:
“Vì sao những đứa trẻ mười mấy tuổi đầu lại dã man giết người không chớp mắt như vậy? Vì từ nhỏ đã được giáo dục hận thù. Thù địa chủ, thù nhà tư bản, thù Quốc Dân Đảng: Trả thù bằng thủ đoạn tàn nhẫn là thiên kinh địa nghĩa, vấn đề duy nhất là không biết chĩa vào đâu. Kè thù bên cạnh đã bị các bậc tiền bối quét sạch rồi, còn lại Tưởng Giới Thạch và đế quốc lại ở quá xa, không với tới được. Đại cách mạng văn hoá vừa nổ ra, mới đột nhiên biết quanh mình còn ẩn náu nhiều kẻ thù, chúng tôi vui mừng đến phát cuồng, bao nhiêu sức lực dồn nén dều bung ra. Sự cuồng loạn ấy chẳng những hiện nay không mấy ai tin, mà ngay bản thân chúng tôi nhớ lại cũng không dám tin nữa. Những việc làm xấu xa của Hồng vệ binh thật đáng nguyền rủa, nhưng chúng tôi cũng có đủ tư cách lớn tiếng hỏi lại: ai đã giáo dục chúng tôi thành những thằng điên?”
“Băc Kinh “nêu gương”, những vụ tàn sát lan ra cả nước. Huyện Đạo ở Hồ Nam là một trong những điển hình. Khắp nơi là những bố cáo giết người của “toà án tối cao bần nông và trung nông lớp dưới”, những khẩu hiệu kêu gọi giết sạch 4 loại người, (địa chủ, phú nông, phản cách mạng, phái hữu, trí thức, nhà văn, nghệ sĩ…).”
“Trong hai tháng 7 và 8 năm 1967, Quan Hữu Chí, Trưởng ban vũ trang khu Thanh Đường đã chỉ huy dân quân dùng cuốc xẻng, súng bắn chim, gậy gộc giết hại 207 người, kể cả trẻ em. Do công lao trên, y được bầu là “phần tử tích cực học tập và vận dụng tư tường Mao” cấp tỉnh năm 1967. Viên Phủ Lễ, Khu trưởng Lâm Phô tổ chức 120 dân quân nòng cốt trong ba ngày giết 569 người.”
“Trần Đăng Nghĩa, Chủ tịch Hội Bần nông Đại đội sản xuất Hạ Tưởng là thủ phạm chính trong một vụ giết người, cưỡng dâm tập thể. Thấy vợ mới cưới của con em địa chủ Trần Cao Tiêu xinh đẹp, y sinh lòng ghen ghét và sớm có ý đồ bất lương, thì nay thời cơ đến. Tối 26-8-1967. Nghĩa cho gọi Tiêu đến trụ sở đại đội và trói nghiến lại. Y cầm giáo đâm một nhát vào dùi anh Tiêu, rồi khoát tay ra hiệu. 7,8 dân quân xông vào dùng gậy đập anh Tiêu chết tươi. Để chứng tỏ mình “kiên quyết cách mạng”, y dùng mã tấu cắt đầu anh Tiêu, cùng hai con em địa chủ, phú nông khác cũng vừa bị đánh chết. Chị Tiêu (xuất thân bần nông) sợ quá trốn về nhà mẹ đẻở làng khác, Nghĩa cho dân quân bắt chị trở lại, y tuyên bố các nơi khác vợ địa chủ đều phải “phục vụ tập thể bần nông”.
“Sau khi cơm no, rượu say, Chủ tịch Hội Bần nông và dân quân, tất cả 12 tên, luân phiên cưỡng hiếp chị Tiêu khi ấy đang mang thai 3 tháng. Xong xuôi. Nghĩa không quên thực hiện “chính sách của ĐCSTQ”: cho dân quân khiêng nạn nhân đã ngất xỉu đến nhà bần nông Trần Nguyệt Cao, buộc chị làm vợ người nông dân già độc thân này.”
“Tối 17-10-1969, Lưu Thiếu Kỳ hơi thở thoi thóp, mũi cắm ống xông, họng gần ống hút đờm, phủ một tấm chăn, được cáng lên máy bay quân sự, bí mật đưa đến Khai Phong. Nơi cuối cùng giam giữ Lưu Thiếu Kỳ này nguyên là kho bạc của một ngân hàng từ trước năm 1949, các cánh cửa là những tấm thép dày, chấn song cửa sổ to đùng. Hai trung đội được cử canh giữ ngày đêm, với 4 khẩu súng máy đặt trên các nóc nhà xung quanh đề phòng bất trắc.”
“6 giờ 40 phút sáng 12-11-1969, ngày thứ 27 sau khi bị đưa đến lưu đày ở Khai Phong, Lưu Thiếu Kỳ qua đời trong tinh trạng không được cấp cứu. Khi Lý Thái Hoà, vệ sĩ của ông năm xưa đến nhận xác, thi hài vị Chủ tịch nước đặt trên nền đất dưới gian hầm, chân tay khẳng khiu, đầu tóc rối bời, miệng mũi méo xệch, máu ứ bên khoé mép. Người vệ sĩ dùng kéo xén bớt mái tóc bạc dài gần hai gang tay, sửa sang chòm râu, mặc quần áo, xỏ giày cho ông. Nhân viên chuyên án chụp ảnh để mang về trình Mao, Giang. Sau đó, họ đặt thi hài Lưu Thiếu Kỳ trên xe quân sự nhỏ, chân thò ra ngoài, bí mật đưa đi hoả táng, dưới cái tên “Lưu Vệ Hoàng, không nghề nghiệp”.”
“Gần 3 năm sau, ngày 16-8-1972, mấy người con của Lưu Thiếu Kỳ xin thăm cha mẹ, Mao Trạch Đông phê vào báo cáo của Tổ chuyên án: “Bố đã chết, có thể thăm mẹ”.”
“Lịch sử phải ghi bằng dòng chữ to đậm: Mao Trạch Đông chà đạp Hiến pháp nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, giam cầm trái phép Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ và hàng trăm hàng ngàn cán bộ cao cấp khác, hàng vạn, hàng chục vạn đảng viên quần chúng vô tội) và bức hại Người và các đồng chí khác của Người một cách man rợcho đến chết.”
“sai lầm của Mao làm chết đói 37,55 triệu người. Một lãnh tụ đảng luôn miệng nói giải phóng nhân dân, phục vụ nhân dân, mang lại hạnh phúc cho nhân dân phạm tội ác lớn như vậy, mà lại cự tuyệt nhận sai lầm, không từ chức, lại phát động Đại cách mạng văn hoá, cách chức, đánh đổ, thậm chí dồn vào chỗ chết khoảng trên 80% đảng viên cộng sản chính trực”
“37,55 triệu người chết đói là sự thật lịch sử không gì bác nổi chứng minh rằng lý luận và thực tiễn chủ nghĩa xã hội không tưởng của Mao là chủ nghĩa xã hội giả hiệu phản động nhất, tàn khốc nhất trong lịch sử loài người. Mỗi khi nghĩ đến điều này, Mao rùng mình ớn lạnh.”
“những lý luận của Mao như phòng, chống xét lại, ngăn chặn chủ nghĩa tư bản phục hồi, tiếp tục cách mạng dưới nền chuyên chính vô sản… đều trởthành dối trá, bịp bợm.”
“Mao Trạch Đông những năm cuối đời tâm địa tối tăm, giả dối, xảo trá, vừa không từ bất cứ việc làm xấu xa nào, lại muốn để lại tiếng thơm muôn thuở”
“Ngồi trên đỉnh kim tự tháp tác oai tác quái, bức hại cán bộ lãnh đạo các cấp, lừa bịp toàn đảng, toàn quân, toàn dân, không chỉ là tứ nhân bang” (lũ bốn tên), mà là “ngũ nhân bang”, do Mao Trạch Đông làm bang chủ.”
“Ba năm Đại tiến vọt, cả nước có 37,55 triệu người chết đói tồn thất khoảng 120 tỉ NDT. Mười năm Đại
cách mạng văn hoá, theo Diệp Kiếm Anh tiết lộ tại lễ bế mạc Hội nghị công tác Trung ương ngày 13-12-1978, có 20 triệu người chết, 100 triệu người bị đấu tố, lãng phí 800 tỉ NDT.”
“Nhân dân đã thức tỉnh. Việc tiếp tục treo ảnh Mao trên Thiên an môn, tiếp tục để thi hài Mao ở nhà kỷ niệm là lạc hậu so với quần chúng rồi, cần xử lý thỏa đáng đất nước ta triệt để bóng đen Mao Trạch Đông”
Nhà báo kiêm nhà sử học Dương Kế Thằng (Yang Jisheng) đã bỏ ra 15 năm trời thu thập chứng cứ để viết ra tác phẩm « Bia mộ », tài liệu đầy đủ nhất từ trước đến nay về nạn đói khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại. Sách đã được tái bản đến lần thứ tư tại Hồng Kông.
« Cuốn sách này là bia mộ cho cha tôi, bị chết đói vào năm 1959, bia mộ cho 36 triệu người dân Trung Quốc nạn nhân của trận đói, bia mộ cho chế độ đã gây ra thảm kịch này ». Tác giả đã viết như trên trong lời nói đầu của bản dịch tiếng Pháp vừa được nhà xuất bản Seuil phát hành tại Paris ngày 13/09/2012.
Sinh năm 1940, Dương Kế Thằng từng là phóng viên kỳ cựu của Tân Hoa Xã, và hiện nay là Phó tổng biên tập tạp chí Viêm Hoàng Xuân Thu (Yanhuang Chunqiu). Mười lăm năm điều tra trên thực địa, với hàng ngàn trang tài liệu tìm được ở địa phương và rất nhiều nhân chứng, tác giả đã thuật lại sự điên cuồng của việc cưỡng bức tập thể hóa, lên án Mao Trạch Đông là bạo chúa tàn ác nhất, vô nhân đạo nhất trong lịch sử Trung Quôc và lích sử thế giới, vượt xa các bạo chúa khác như Tần Thủy Hoàng, Thành Cát tư hãn, Stalin, Hit le…
Viết đến đây, chúng tôi ngậm ngùi thương đất nước mình, dân tộc mình hình như trong quá khứ đầu thế kỷ hai mươi đến nay không còn người thông tuệ, sáng suốt đưa dân tộc, đất nước thoát khỏi ..gây nên hàng triệu cái chết cho đồng bào, gây đau khổ tang tóc vô cùng tận cho quê hương ta. 
Người viết bài này xin trích lời của Tân Tử Lăng- tác giả sách vừa dẫn để kết thúc bài viết :
“Phải tiến hành một cuộc chuyển đổi ý thức hệ sâu sắc, tuyên bố công khai và rõ ràng trước toàn đảng, toàn dân: từ bỏ những giáo điều “tả” khuynh từ Mác, Ăng-ghen, Lenin, Stalin đến Mao Trạch Đông – những lý luận đã mấy chục năm đưa Trung Quốc vào con đường sai lầm, đem lại cho Trung Quốc nghèo nàn, rối loạn và chuyên chế, đến nay vẫn cản trở và phủ định công cuộc cải cách-mở cửa…Đổi tên ĐCSTQ thành Đảng Dân chủ Xã hội, tham gia Quốc tế xã hội, để kế tục cội nguồn lịch sử của Đảng Dân chủ Xã hội…”
Đảng cộng sản Trung Quốc trong đại hội lần thứ 18 vừa qua, đã thực hiện mơ ước của Tân Tử Lăng là vĩnh biệt ba ông tổ : Marx-Lê-Mao. Có lẽ đến đại hội thứ 19, đảng cộng sản Trung Quốc mới đổi tên là Đảng Dân chủ xã hội như mơ ước của Tân Tử Lăng chăng ?
......................
.........................................................
Sài Gòn 24-11-2012
TMH

Phần nhận xét hiển thị trên trang

THƯA ÔNG (Võ Công Hàm), CHÚNG TÔI MỜI ÔNG RA THỦ ĐÔ LÀM BÍ THƯ THÀNH ỦY HN

Hà Tĩnh: 

Lãnh đạo huyện Đức Thọ từ chối
bán 40 cây xà cừ trăm tuổi

Báo Người đưa tin
14:39 PM, 24-03-2015

Cuối năm 2012, Bộ Giao thông – Vận tải đã phê duyệt dự án, nâng cấp, mở rộng QL8A. Điều đó đồng nghĩa với việc, 40 cây xà cừ hơn 100 năm tuổi đoạn qua phía Đông của thị trấn Đức Thọ (Hà Tĩnh) buộc phải bị đào bỏ hoặc di dời.

Sau khi nhận được thông tin trên, rất nhiều đầu nậu địa phương và thương lái từ Trung Quốc đã liên hệ với UBND huyện Đức Thọ xin đấu thầu mua lại toàn bộ số cây trên. Tham khảo ý kiến nhân dân, Huyện ủy và UBND huyện Đức Thọ quyết định, không bán mà bỏ tiền ra thuê di dời toàn bộ số cây bị ảnh hưởng vào hành lang an toàn.




Hàng xà cừ cổ thụ được di dời vào đầu năm 2013


Đầu năm 2013, hàng chục cây xà cừ cổ thụ trên QL8A đã được UBND huyện này thuê công nhân của Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ Thắng Trung di dời với giá từ 10 – 20 triệu đồng/cây. Thời điểm trồng lại những cây cổ thụ này được thực hiện vào đúng đợt phát động trồng cây theo lời Bác. Cho đến nay, những cây xà cừ trên đã sống khỏe mạnh, cành lá xanh tốt.


Việc di dời, trồng lại hàng cây xà cừ trên QL8A nhận được sự đồng thuận của người dân


40 cây xà cừ cổ thụ tại thị trấn Đức Thọ vốn được xem là biểu tượng đẹp của con đường 8A nối QL1A với nước bạn Lào. Ông Võ Công Hàm, Bí thư Huyện ủy Đức Thọ lý giải về quyết tâm của huyện: “Đó là lá phổi xanh của cả thị trấn. Chúng tôi bằng mọi giá phải giữ lại nó. Chúng tôi giữ những cây này lại để nhắc nhở con cháu mình phải biết trân trọng, nâng niu những cây xanh hữu ích cho đời”.


Xuân Hồng

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hiện trường vụ máy bay rơi trên đảo Phú Quý


 - Hình ảnh tại hiện trường vụ máy bay quân sự rơi ở đảo Phú Quý (Bình Thuận) PV VietNamNet vừa chuyển về.
Theo thông tin ban đầu, máy bay đang lượn vòng chuẩn bị đáp xuống đảo thì bất ngờ rơi xuống sân bay quân sự.
máy bay; Phú Quý; Bình Thuận
máy bay; Phú Quý; Bình Thuận
máy bay; Phú Quý; Bình Thuận
máy bay; Phú Quý; Bình Thuận
Hiện trường vụ máy bay rơi
máy bay; Phú Quý; Bình Thuận
máy bay; Phú Quý; Bình Thuận
máy bay; Phú Quý; Bình Thuận
Chiếc máy bay đã bị gãy đôi
máy bay; Phú Quý; Bình Thuận

máy bay; Phú Quý; Bình Thuận

máy bay; Phú Quý; Bình Thuận
máy bay; Phú Quý; Bình Thuận
Vụ việc gây xôn xao người dân địa phương
máy bay; Phú Quý; Bình Thuận
máy bay; Phú Quý; Bình Thuận
Những bộ phận trên máy bay văng ra xa
máy bay; Phú Quý; Bình Thuận
máy bay; Phú Quý; Bình Thuận
máy bay; Phú Quý; Bình Thuận
Một số nhà dân bị ảnh hưởng nhẹ sau sự cố này
máy bay; Phú Quý; Bình Thuận
Hiện nguyên nhân vụ máy bay rơi đang được điều tra, làm rõ
Lê Huân - Anh Duy


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cây khèn của Vàng Sênh Chu


Doduc
1-
Cứ đến chợ phiên ở Pờ Vần Chải là người ta lại gặp một chàng trai Mông. Chàng mang cây khèn cũ ngồi ngay bên hàng bán khèn…tiếng khèn của chàng lúc lúc lại cất lên, rộn ràng một góc chợ.
Tưởng đó là người quảng cáo cho việc bán khèn, nhưng hóa ra không phải. Ông già bán khèn và người trai trẻ chơi khèn kia chẳng hề quen nhau.
Bao nhiêu năm nay, người đến chợ Pờ Vần Chải này tìm mua khèn tất thảy đều biết mặt chàng trai. Tất cả đều từng được nghe tiếng khèn của chàng. Tiếng khèn khi ngân dàì như sợi tơ vàng khâu níu tình những người nghe lại với nhau. Nhiều năm nay, kể cả người hay ghen tị nhất ở Sủng Chà nơi làm ra nhiều cây khèn hay nhất vùng núi cao này cũng không tìm ra được lời để chê cây khèn này. Không phải sợ gì mà không dám chê. Chỉ bởi càng dỏng tai thì càng thấy tiếng khèn hay hơn, thế thôi!
2-
Nghe được tiếng khèn, lại thấm được cái hay của nó là khó vô cùng. Thường chỉ người Mông nghe mới biết tiếng khèn hay ở chỗ nào. Cây khèn 5 ống hơi cho năm cung bậc, tinh âm thoát ra từ các ống khèn cao thấp luôn quện vào nhau, luôn đi đôi đi ba mà không chen lấn, không che mặt nhau. Độ chênh từ ống to đến ống nhỏ cứ hợp nhau lên bổng xuống chìm như sóng lượn.Cũng có lúc nó nấc lên như đi ngược dốc, lúc lại thầm thì như đang đi xuôi. Lúc thì bay lượn những tiếng tâm tình, quyện vào nhau, xoắn xuýt vào nhau. …
Đã không dưới dăm chục người trả giá cho cây khèn cũ của chàng trai. Ai cũng muốn làm chủ mới của nó, nhưng không ai được toại nguyện , kẻ cả người có nhiều đồng bạc trắng hoa xòe nhất vùng này.
3-
Ai cũng biết đó là cây khèn gia truyền của dòng họ Vàng Sềnh. Cha được giữ cây khèn từ khi ông nội không còn sức chơi nữa ..và bây giờ đến lượt chàng. Chàng trai chỉ biết có vậy, còn trước đó và những người bề trên, ai làm ra cây khèn thì chàng cũng không biết!
Cây khèn gia truyền đương nhiên là giá trị bản mệnh của dòng họ Vàng mà gia đình chàng trai đứng đầu ngành phải cất giữ. Nó còn là giá trị kiêu hãnh của bản Tả Xeng Cheo. Người ta kháo nhau: chỉ ở Tà xẻng Cheo mới có cây khèn quí như thế. Cây khèn lại còn trở thành niềm tự hào của cả chợ huyện này nữa nữa. Bởi từ đời cha đời ông chàng trai cũng thường mang khèn ra chơi ở chỗ bán khèn như là một sự khẳng định không còn tiếng của khèn nào hay hơn.
Mấy chục năm trôi qua rồi. Người thanh niên ấy bây giờ mắt đã mờ, gối đã mòn , bước đã liêu xiêu, nhưng cái tai vẫn thính ,cái đầu vẫn tinh, đó là Vàng Sênh Chu hôm nay đó!
4-
Đã có ai một vài lần xem đấu khèn. Bây giờ vào ngày hội, đôi khi có các chàng trai Mông cũng lên sân khấu biểu diễn đấu khèn. Già bản Vàng Sênh Chu lắc đầu bảo:đó là đám trai hoi, chúng có biết gì về khèn. Chúng chỉ quen xoay vòng kiểu con gà trống le đuổi con mái, nhạt lắm. Lại còn bọn văn công biểu diễn nữa. Chúng múa may, mặc áo phanh ngực thêu xanh đỏ làm gì. Chỉ rối mắt để quên đi việc cần nghe sâu vào tiếng khèn. Người ta đang làm hỏng điệu khèn và làm mất giá trị cây khèn. Tại cái tai chúng nghe được mà vẫn điếc, cái đầu nó tối không nghĩ ra được gì khiến cái mắt hóa mù.
Chúng biết gì về đấu khèn đâu. Chơi khèn mà tiếng khèn vỡ vụn ra như bột mèn mén. Thời ta, tiếng khèn dẻo như hạt dền đỏ được đồ lên nghiền nát, dai như cối xôi giã để vắt bánh dày ngày tết. Tiếng khèn còn dài như tiếng gió chui qua hang núi, miên man như sợi dây mây dây song luồn suốt trong rừng cây, qua đồi này đồi khác. Tiếng khèn còn dội xa như tiếng thác nước trong đêm sâu, nỉ non trầm bổng như gió ngàn trong ngày rừng động.
5-
Thời của ta: đấu khèn đâu đơn giản chỉ biết đi xéo, ngoáy mông vặn người vài cái sang phải sang trái như chăn trâu đuổi bò bây giờ. Thời ta chơi khèn biết trồng cây chuối một vai dính đất mà không bị cắn vào lưỡi, không bị ống khèn chọc vào họng khi chân đưa lên trời , nhảy đập hai chân, đi lò cò mà tiếng khèn không bao giờ đứt, tiếng khèn cứ thế vi vu dài cả buổi sáng, dài như dây diều của người kinh đó.
Thời ta có Lồ Vản Pù chơi khèn trên thớt gốc cây cưa phẳng. Nó xoay ngược xoay xuôi đập chân đá hất múa lộn dưới nắng, kéo dài bốn giờ đồng hồ mà tiếng khèn không đứt lần nào. Khéo hơn cả bọn thanh niên ngày nay chơi cái trò mà người ta gọi là hip hop thấy trên ti vi.
6-
Tin cái tai ta đi, chỉ cơn gió phây phây lách qua chùm lá móc, ta còn nghe được tiếng xào xạc bèn bẹt. Ta là giám khảo sinh ra chỉ để nghe tiếng khèn trong các cuộc thi, ta là giám khảo Lồ Vản Pù. Tiếng đàn của Lồ vản Pù trong vắt như sợi chỉ tơ treo dưới nắng luôn luôn tròn trịa. Tiếng khèn của Pồ uốn lượn dập dờn như nhịp núi trong dãy Bát Đại Sơn quê ta. Tiếng khèn có lúc trong như sắc nắng xuân, vàng ươm vỏ cam chín khi hoàng hôn. Có lúc lại xanh ngắt như lá rừng, hoặc đỏ khé lên như hoa chuối mọc ken trong vách đá. Có lúc khèn lao xao đủ màu đủ sắc như hoa tam giác mạch. Tiếng khèn bền bỉ như ngựa đường trường, có lúc ì ạch như đang bò trên triền dốc, có lúc tươi như hoa trong ban mai vẫy gió, hoặc như bụi nước bám trên mạng nhện bắt nắng long lanh giống thủy tinh pha lê…Tiếng khèn cuối cùng dài như sợi lanh không dứt trong cuộc đời mỗi người Mông. Lồ Vản Pù đã chơi khèn như thế, tiếng khèn dài bốn giờ đồng hồ khi mệt quá nó chủ động ngừng thì lúc ấy tiếng khèn mới tắt…
Lồ Vản Pù chơi khèn mà khiến con Thào Mỉ người đẹp nhất trong cả trăm bản trong dãy Thập Vạn Đại Sơn phải tự đến theo nó, nói lời mật ong rừng với nó để được nó yêu. Thào Mỉ dính với nó như nhựa cây Hăm Pa. Nhựa cây ấy dính là không gỡ ra, dính dai hơn kẹo kéo, bết hơn nhựa sung nhựa mít, gắn chặt với nó hơn cả keo đầu chó của người Kinh dưới xuôi dùng hàn bát đĩa.
.6-
Ta cũng giỏi chơi khèn nhưng không bằng Vản Pù, nhưng ta biết nghe tiếng khèn lạ khèn hay. Tiếng khèn của Vản Pù lúc ngọt sắc như mật mía lúc lại mặn như muối biển, có lúc thơm mùi thảo quả, có lúc nóng lên như hạt dổi rang trên chảo và bỏng rát như ớt Mường Khương xay thành bột mịn. Tiếng khèn của nó có lúc làm mềm môi như rượu ngô Bắc Hà lại cũng có khi chát như quả sung. Đúng là tiếng đàn của Lồ Vản Pù chứa đủ cay đắng ngọt bùi, trong tiếng khèn của Pù có nước có lửa có gió có cả mây mưa sấm chớp, có mùi có vị.
Thời nay chúng mày không biết tại sao tiếng khèn lại hay đến thế. Chúng mày tưởng tiếng khèn hay là để tìm gái. Chúng mày nông quá, chẳng khác gì con suối trong mùa cạn nứơc.
Tiếng khèn này là lòng người Mông đối với cha mẹ đó , tiếng khèn hay vì nó là lời đưa tiễn cuối cùng của các con, lời vĩnh biệt người sinh ra mình. Lời của nỗi lòng sâu thẳm. Nó là cây khèn dành cho đám ma nên biết nói tình người.
7-
Ta lại phải kể cho nghe câu chuyện cổ tích về cây khèn này. Cây khèn có 6 ống hơi,một ống to và năm ống nhỏ khác dài ngắn khác nhau được bó lại và xuyên qua bầu khèn. Đấy là hình ảnh một gia đình người Mông ta đó.
Năm cha mất, 6 anh em trong nhà bàng hoàng như trời sập trên nóc nước dâng dưới chân. Trước nỗi đau kinh hoàng, cả sáu anh em thương cha than khóc nước mắt chảy thành suối thành sông. Khi cả sáu anh em khóc gần mất giọng, tiếng khóc chỉ còn bé như tơ nhện thì người anh lớn chợt tỉnh ra bảo với các em: chúng ta từng người một thay nhau khóc cha, Nếu cùng khóc thì cùng chết mất, còn ai chăm sóc cho vong hồn cha nữa.
8-
Cây khèn này do T’xơ-Nghia, một ông quan chuyên lo về lễ nhạc của Miêu Vương làm ra, do ông biết câu chuyện hiếu nghĩa của sáu người con gia đình nọ. Cây khèn được làm ra sau khi những người con kia đã lần lượt qua đời, nhưng cây khèn sáu ống đó vẫn còn giữ tên từng người con trong gia đình nọ. Từ trên xuống dưới, từ phải qua trái ống thứ nhất có tênlà Luar, ông thứ hai có tên là Luar K’răz, ống thứ ba là N’Tal, ống thứ tư là P’Lung, ống thứ năm có tên là Pux và ống cuối cùng, đứa em út là Tuk.
Sáu ống khèn bó lại thành một cây khèn để mãi mãi anh em họ được ở bên nhau. Sáu ống hơi được gọi là B’hêl K’rênh. Còn cây khèn thì có tên là K’rênh .
Cây khèn làm xong thổi lên, sáu ống khèn cho sáu giọng người con. Tiếng khèn nối nhau, hòa vào nhau thổ lộ sự đau buồn sâu sắc của con người
9-
Cây khèn ra đời từ đấy. Nó luôn có mặt để cất tiếng khóc trong các đámma đưa tiễn người thân. Đó là những tiếng khóc của những nỗi lòng…
Tiếng khóc báo hiếu tri ân công cha nghĩa mẹ.Tiếng khèn kéo mọi người trong làng trong bản đến để cùng nghe chia buồn, cùng nhớ về cuộc sống sum họp thời thơ bé, thưở bước vào đời cực nhọc, thưở lấy vợ xây tổ ấm, những cuộc sum họp , những buổi chia li, vui và buồn, giận và hờn và thương và xót. Tiếng khèn kể về lòng người, nói về dòng đời,
Khi tiếng khèn cất lên, người chơi khèn lò cò miết chân quanh quẩn vòng tròn, thậm chí ở nguyên một chỗ với hàng trăm động tác tay và chân khéo léo là hình ảnh họ đang đi quanh nơi quàn xác người thân.
10-
Cây khèn cất tiếng lên như một bản trường ca về cuộc sống đường đời. Nên khi trổ tài đấu khèn dù động tác có khó mấy người chơi khèn cũng phải giữ bằng được thăng bằng và bình tĩnh để tiếng khèn không mẻ không gẫy, bền bỉ như một dòng chảy thông suốt dù có qua bao khúc quành…
Đó là tiếng khèn tình yêu huyết thống, tiếng khèn tri ân, tiếng khèn luôn song hành với dân tộc họ trăm năm ngàn năm,như dòng đời vĩnh cửu.
11-
Tiếng khèn còn cầm chịch cho nhịp trống đám ma, mô tả cuộc chiến đấu của người Mông đánh giặc. Mỗi người chơi khèn là một đạo quân.
Ba ngày ba đêm trong đám ma, chiếc khèn không thể được nghỉ ngơi. Tiếng khèn vang lên lời oán trách căm giận chúa ngọc hoàng. Người Mông trách Nhux Vax sao lại đem cái chết chóc vô lí xuống trần gian? Tiếng khèn nguyền rủa bọn ngoại tộc độc ác sao không chết đi để người hiền lành vô tội phải bỏ thân.
Bài khèn đứng số một trong đám ma là bài khèn chỉ đường cho người chết về với tổ tiên. Bài khèn này có vần có điệu nội dung kể về sự hình thành trời và đất, nguồn gốc ra đời của người Mông, cuộc đấu tranh dai dẳng chống lại chúa Ngọc hoàng NhuxVax để người Mông còn đến hôm nay.
12
Thổi xong bài chỉ đường cho người chết, khi tiếng khèn ngưng, người thổi khèn dặn người chết rằng:Tao hát xong rồi, mày tự đi lấy nhé, khi về đến nơi tổ tiên có hỏi ai đưa đường thì nhớ bảo rằng; không biết tên họ người đó,không biết nó là ai, chỉ biết mắt nó to bằng chén uống nước, tai to bằng quạt,mũi to bằng chày, mặt như thớt lớn. Nó đưa xuống đây bằng đường bộ, lúc về nó đi đường thủy, nó đi nhanh lắm, ngựa phi không đuổi kịp, không thuyền nào đuổi nổi, vĩnh biệt mày nhá.
Trả lời như vậy để ma nó ngán , không nghĩ đến chuyện về bản bắt người , phá hoại cuộc sống dân bản.
13-
Đó là lí do người ta thường thấy có hai thứ gần như gắn chặt với người con trai Mông là Cây súng kíp bảo vệ mình và cây khèn là cái gốc muôn đời..
Thế mà đã bao nhiêu sự nhầm lẫn về cây khèn người Mông đã xảy ra từ trước đến nay.
người ta đã coi thường giá trị cây khèn , coi nó chỉ một thứ khèn vui chơi, để cho trai gái yêu nhau, để tỏ tình với nhau.
Người ta không nhớ hay người ta không biết người con gái Mông nói lời yêu bằng đàn môi. L’hnja đá ( dạng máng- có gờ nhỏ) và T’ Laiv play ( dạng vuông). Khi bên nhau rồi thì đôi trai gái cùng dùng đàn môi tâm sự, dùng đàn môi tỏ tình…Còn người trai Mông thì dùng kèn lá, ống tiêu cây sáo để gọi. Có bao giờ dung khèn gọi đâu
Ta phải nói cho mọi người biết và nhớ cây khèn của người Mông chúng ta chính là bảo vật của dân tộc mình. Giống như vải lanh, cây khèn cũng là một tín hiệu văn hóa để người Mông nhận biết nhau, đẻ trò chuyện với tổ tiên. Cây khèn này chỉ có ở người Mông , không dân tộc nào có. Đó là chưa kể còn hẳn một câu chuyện cổ tích dành riêng cho cây khèn!
2013
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bí ẩn Phạm Nhật Vượng


FB Vu Kim Hanh
Chặt lia chặt lịa, chỉ mấy ngày họ đã đẩy người Hà Nội vào cơn ác mộng kinh hoàng khi nhiều con phố đã ngỗn ngang đất, trơ trụi trời. Và họ đã đạt con số hạ chặt được 500 cây. Giải thích: là do nhà tài trợ thúc hối quá. Nhà tài trợ là ai mà sai được cả đội ngũ những người “đầy tớ” đang sống bằng tiền thuế của dân phải răm rắp làm theo ý họ? Đây, danh sách các nhà tài trợ, theo tư liệu từ FB, báo cáo của Sở Xây Dựng Hà Nội: Tập đoàn Vincom, Ngân hàng VP bank, CT CP TM Công nghệ Bình Minh, CT CP TV ĐT XD Hà Thành, CATP Hà Nội…

Đứng đầu danh sách, dĩ nhiên, số tiền tài trợ chắc phải đáng kể nhất trong 70 tỉ là Vincom. Tôi nhớ đến Phạm Nhật Vượng. Và cũng nhớ đến một đoạn trả lời phỏng vấn của ông Vượng, đăng trên vnexpress.net đầu tháng 3-2013:” Tôi mơ ước biến đường phố Hà Nội và Sài Gòn giống như Singapore hay Hong Kong (Trung Quốc). Nếu có thể thực hiện, thì kể cả có mất tiền tỷ, tôi vẫn cảm thấy hạnh phúc. Tôi muốn để lại thứ gì đó cho thế hệ sau. Còn tiền thì dù sao cũng chẳng thể mang theo khi đã chết”.

Thật là oan nghiệt khi giấc mơ ấy bây giờ được hiện thực hóa bằng hành động thúc giục xóa sạch cảnh quan thiên nhiên Hà Nội. Để làm cho đường phố Hà Nội được giống như đường sá Singapore?

Chỉ là một sự đối nghịch khủng khiếp từ hình thức đến nội dung. Ai đã đến Singapore đều thấy ngay từ cảnh quan của phi trường đã là một vườn cây xanh khổng lồ. Đi qua mọi con đường, qua phố xá, vào ngay trung tâm thành phố , đều là cây xanh thống lĩnh, Singapore thực sự là thành phố vườn.


Singapore được vậy không từ những ước mơ bay bổng. Đọc chiến lược phủ xanh thành phố, qui hoạch thành phố của người Sing, tôi phục người Sing sát đất về sự sáng suốt, tầm nhìn ngay từ những thập niện 60, những ngày đầu khởi dựng đất nước của họ. Phải xây dựng những lá phổi xanh bao quanh hàng loạt công trình kính và bê tông . Thành phố xanh cũng thể hiện bản sắc và giá trị của một đô thị văn minh đúng chuẩn thời đại. Và giải pháp chính là đề cao vai trò của công đồng, luật hóa nhiều giải pháp đảm bảo cho cộng đồng tham gia cùng nhà nước quản lý, bảo vệ cây xanh.

Dẫu sao, ông Vượng cũng chỉ là một nhà kinh doanh. Nhà kinh doanh thì mục đích chính của người ta là lợi nhuận. Nhiều khi bỏ vài chục tỉ, người ta đã cân đo chán chê với món lợi hàng trăm, hàng nghìn tỉ lấy lại. Và không ít khi, lợi ích của họ là đối kháng với cộng đồng. Ai, cái gì đối thoại với họ? Bây giờ, họ chỉ hài long thấy môi trường đầu tư thật tốt đẹp vì ý muốn nào của họ cũng được chính quyền đáp ứng.

Cái đau của mình là họ tha hồ “chém gió” muốn biến đường phố Hà Nội, Sài Gòn thành ra giống như đường phố Singapore, và họ hành động hoàn toàn ngược lại mà không có luật pháp, đạo đức nào ngăn cản được họ, thâm chí, còn luôn sẵn có những cánh tay nối dài của nhà nước chạy theo chiều chuộng họ.


Lại nhớ câu hỏi của một doanh nhân khi chúng tôi ngồi ở cà phê Continental Đồng Khởi , ông Vượng nói với Forbes: sau khi bán tòa nhà Vincom Center A ở trung tâm TPHCM giá 9.823 tỉ, với phương châm, hễ xây xong, được giá là tôi bán, để có thêm lợi nhuận lại tiếp tục xây dựng những công trình khác, vậy thì liệu một ngày không xa, các đại gia Trung Quốc dư tiền, mua thật hời, mua hết mọi công trình của Vingroup? Sao không nhỉ? Và chẳng bao lâu, đường xá, phố phường của chúng ta đều trong tay con cháu “ông Tập” hết, thì mọi thành phố sẽ ra sao và dân mình đi đâu?

Thời buổi kinh tế thị trường, đó là một thực tế chẳng ai làm gì được, ngay cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” cũng chẳng làm gì được. Mấy ngày nay, tràn ngập chuyện chặt cây trên FB, ta thấy hàng trăm câu hỏi, giữa Thủ đô họ còn chặt sạch bách nhiều tuyến phố, đốn trụi hàng loạt cổ thụ vậy thì ở tận những cánh rừng đầu nguồn xa xôi, ai cản được họ?

Thật vậy, đồng tiền có vẻ đang ngày càng chứng tỏ sức mạnh vô địch vô song của nó. Khi mà luật pháp và đạo đức không có vai trò thực sự thì thật là đáng lo khi mỗi ngày cứ xuất hiện những chuyện động trời: Chặt sạch cổ thụ Hà Nội chưa xong thì đã đến lấp sông Đồng Nai làm khu đô thị!


Phần nhận xét hiển thị trên trang

'Một phần máu thịt Tổ quốc còn nằm trong tay ngoại bang'

- "Sau 40 năm đất nước thống nhất, một phần đất thiêng liêng Hoàng Sa của Tổ quốc vẫn còn nằm trong tay của ngoại bang. Đó là nỗi đau mất mát mà các thế hệ con cháu phải ghi nhớ và có trách nhiệm kiên trì đấu tranh để đòi cho bằng được chủ quyền”.

Phó bí thư Thành ủy Đà Nẵng Võ Công Trí  phát biểu tại hội thảo “Chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông trên báo Đảng” tổ chức sáng nay ở Đà Nẵng.
TQ, Hải Dương 981, chủ quyền, Đà Nẵng, Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa
Phó bí thư Thành ủy Đà Nẵng Võ Công Trí
Dự hội thảo có Phó ban thường trực Ban Tuyên giáo TƯ Vũ Ngọc Hoàng; Cục trưởng Cục Báo chí, Bộ TT&TT Hoàng Hữu Lượng; Phó chủ tịch Hội Nhà báo VN Phạm Quốc Toàn; Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội Hồ Quang Lợi cùng lãnh đạo 19 báo Đảng khu vực miền Trung - Tây Nguyên và 26 báo Đảng các tỉnh, thành trên cả nước.

Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo TƯ Vũ Ngọc Hoàng cho rằng người làm báo phải nhận sứ mệnh thiêng liêng và đi tiên phong trong công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Tổng biên tập báo Đà Nẵng Mai Đức Lộc nhấn mạnh, báo chí cách mạng Việt Nam đã có tiếng nói mạnh mẽ bằng nhiều hình thức khác nhau, góp phần quan trọng vào công cuộc bảo vệ chủ quyền đất nước nói chung và chủ quyền biển, đảo của Việt Nam nói riêng trên Biển Đông. Đây là sứ mệnh thiêng liêng của những chiến sĩ trên mặt trận truyền thông.
TQ, Hải Dương 981, chủ quyền, Đà Nẵng, Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa
Toàn cảnh hội thảo
Phó bí thư thường trực Thành ủy Đà Nẵng Võ Công Trí khẳng định: “40 năm đất nước thống nhất nhưng một phần đất máu thịt của Tổ quốc Hoàng Sa vẫn nằm trong tay ngoại bang. Đó là nỗi đau mất mát lớn của dân tộc...
Chừng nào còn có người Việt Nam nghĩ đến Hoàng Sa, chừng đó Hoàng Sa vẫn còn là của Việt Nam. Báo chí nói chung và báo Đảng nói riêng phải chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến mọi tầng lớp nhân dân, khẳng định chủ quyền biển, đảo Việt Nam ở Biển Đông đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa", ông Trí nói.
Trao đổi tại hội thảo, đại diện các báo Đảng khu vực miền Trung - Tây Nguyên đã có nhiều tham luận, trong đó đề xuất nhiều giải pháp quan trọng nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông trên báo Đảng.
Các cơ quan báo Đảng tại các địa phương đề nghị cần chú trọng đến công tác thông tin đối ngoại, chuyển tải kịp thời, chính xác các quan điểm, lập trường của Việt Nam về vấn đề Biển Đông tới cộng đồng quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Việc tuyên truyền về bảo vệ chủ quyền biển, đảo cần có chiến lược thông tin lâu dài, phải đẩy mạnh công tác thông tin - tuyên truyền, đảm bảo tính khách quan, chính xác, kịp thời, hiệu quả.
Vũ Trung

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đại sứ Nga lên tiếng việc Mỹ nới lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam


HỒNG THỦY

(GDVN) - "Chúng tôi thừa nhận quyền của Việt Nam để đa dạng hóa các quan hệ quân sự - công nghệ của mình", Đại sứ Nga tại Việt Nam trả lời.
Đại sứ Nga tại Việt Nam Konstantin Vnukov, ảnh: Tuoitrenews.
Tờ Russia Beyond the Headlines ngày 26/3 dẫn nguồn tin Interfax cho biết, Đại sứ Nga tại Việt Nam Konstantin Vnukov khẳng định, Nga là một đối tác ưu tiên phát triển hợp tác công nghệ quân sự của Việt Nam, nhưng người Việt cũng có quyền phát triển quan hệ hượp tác với các nước khác.
"Liên bang Nga xem mình là đối tác ưu tiên hợp pháp trong lĩnh vực hợp tác quân sự - công nghệ của Việt Nam. Các nhà lãnh đạo Bộ Quốc phòng Việt Nam thường đánh giá cao hợp tác với đất nước chúng tôi trong lĩnh vực này, họ nhiều lần tuyên bố như vậy", ông Vnukov nói với Interfax.

"Đồng thời chúng tôi thừa nhận quyền của Việt Nam để đa dạng hóa các quan hệ quân sự - công nghệ của mình", Đại sứ Nga tại Việt Nam trả lời khi được hỏi về bình luận của Moscow trước thông tin, Hoa Kỳ cuối năm 2014 đồng ý nới lỏng lệnh cấm vũ khí sát thương cho Việt Nam, và liệu cạnh tranh giữa Nga và Mỹ có tăng lên trong việc cung cấp vũ khí cho Việt Nam hay không.
"Những người bạn Việt Nam của chúng tôi hoàn toàn hiểu và đánh giá cao thiện chí của Nga trong việc tiếp tục tăng cường và mở rộng hợp tác quân sự - kỹ thuật với Việt Nam mà không bị chi phối bởi bất kỳ thỏa thuận chính trị nào, mục tiêu nhằm nâng cao khả năng phòng thủ của Việt Nam mà không nhằm vào bất kỳ bên thứ 3 nào", ông Vnukov nói.






















































Phần nhận xét hiển thị trên trang