Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2015

Chắc các vị muốn lấy lòng dân đây? Nhà iem nghĩ vậy không biết có trúng không?

Đà Nẵng chi gần 20 tỉ đồng cho toàn TP liên hoan mừng 40 năm giải phóng

HẢI CHÂU
Infonet - Lãnh đạo Đà Nẵng quyết định chi từ ngân sách TP gần 20 tỉ đồng hỗ trợ mỗi tổ dân phố 3 triệu đồng, mỗi thôn 12 triệu đồng để tổ chức liên hoan mừng 40 năm giải phóng TP.

Ngày 25/3, tin từ Văn phòng UBND TP Đà Nẵng cho hay, lãnh đạo TP đã quyết định hỗ trợ kinh phí từ ngân sách TP cho các tổ dân phố, thôn để tổ chức các hoạt động nhân kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Đà Nẵng (29/3/1975 – 29/3/2015). Theo đó, mức hỗ trợ cho mỗi tổ dân phố là 3.000.000 đồng và mỗi thôn là 12.000.000 đồng.

Giải thích về việc này, ông Trần Thọ, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND TP Đà Nẵng cho biết thêm, trong niềm vui kỷ niệm 40 năm giải phóng Đà Nẵng, đồng thời thu ngân sách của TP “khá khá một tí, có đồng ra đồng vào” nên dịp Tết Nguyên đán Ất Mùi 2015 vừa qua TP đã có chính sách chăm lo cho các đối tượng gia đình chính sách, gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công với Cách mạng đảm bảo “ăn cái Tết cũng tương đối”.

“Bây giờ kỷ niệm 40 năm giải phóng, có người hôm nay tóc đã bạc hoa râm, các buổi gặp mặt truyền thống trong mấy ngày vừa rồi rất xúc động. Nhưng mà như thế cũng phải có cái họp mặt cho nó vui vẻ. Đà Nẵng có năm nghìn mấy trăm tổ dân phố và một trăm mười mấy thôn. Lãnh đạo TP thống nhất hỗ trợ mỗi thôn là 12 triệu, mỗi tổ dân phố 3 triệu. Để làm cái gì? Để chúng ta gặp mặt, liên hoan trong tổ mừng 40 năm giải phóng” – ông Trần Thọ nói.

Ông cũng cho biết, vừa qua ông kiểm tra thử thì thấy đa số các thôn, tổ đã lên phương án, đã nhận tiền và chuẩn bị liên hoan. Tổ viên là cán bộ công chức, doanh nghiệp làm “mạnh thường quân” đóng góp thêm vào cho vui. Nhưng cũng có nơi lấy 3 triệu kể trên để làm quỹ của tổ, có nơi để dành số tiền đó bữa sau làm việc khác…

“Cái việc khác có rồi, còn cái này chỉ có một mục đích duy nhất, tôi nói đi nói lại, chỉ một mục đích duy nhất là nhân kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Đà Nẵng, bà con ở trong tổ dân phố đó hoặc trong khu dân cư tổ chức gặp mặt liên hoan cho vui vẻ, tạo không khí phấn khởi để chúng ta bước vào cuộc chiến đấu mới, xây dựng Đà Nẵng cho hoành tráng hơn, vui vẻ hơn!” – ông Trần Thọ nhấn mạnh.

Theo số liệu được đăng tải trên website của Sở Nội vụ Đà Nẵng, hiện toàn TP có 5.848 tổ dân phố và 119 thôn. Như vậy, tổng kinh phí mà ngân sách TP chi cho chương trình liên hoan mừng 40 năm giải phóng là 18,972 tỉ đồng. Được biết quý 1/2015 Đà Nẵng thu ngân sách 2.505 tỉ đồng, đạt 27% kế hoạch năm.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Kẻ sĩ Sài Gòn


“Kẻ sĩ” là chữ ông Hai Chí (Võ Trần Chí, cố Bí thư Thành ủy TP.HCM), nhận xét về các thành viên nhóm Thứ Sáu, trong đó có chuyên viên kinh tế Huỳnh Bửu Sơn.
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt dự sinh nhật lần thứ 15 của nhóm Thứ Sáu. Luật gia Nguyễn Ngọc Bích (ngồi), cùng ông Phan Chánh Dưỡng (đứng bìa trái), ông Huỳnh Bửu Sơn (bìa phải). Ảnh T.L 
Trước sự kiện lịch sử 30.4.1975 chừng tuần lễ, một người bạn nói với ông Sơn rằng “tình hình rất nghiêm trọng, nếu mày muốn đi thì đi cùng tao, nhưng chỉ mình mày thôi vì chỉ còn hai chỗ”. Gia đình giữ chân ông ở lại. Cha mẹ. Anh em. Vợ trẻ. Con thơ. Thâm tâm, ông chỉ mong không có đổ máu như những tin đồn. Rồi mọi việc sẽ trở lại bình thường. Chiến tranh kết thúc. Lẽ tự nhiên, đất nước vào cuộc kiến thiết. “Tôi sẵn sàng là một bàn tay nhỏ nhoi của hàng chục triệu cánh tay Việt Nam làm việc đó”, ông Sơn hồi tưởng. Chung tay góp sức không dễ. Ðấy là một quá trình bền bỉ, đòi hỏi sự kham nhẫn.
Sau khi được tạm cho về trong đợt cải tạo tập trung  vào cuối tháng 5.1975, ông quay lại nhiệm sở là ngân hàng Quốc gia Việt Nam và được học tập cải tạo ngắn hạn tại đó. Lương 63 đồng. Cuộc sống thiếu thốn. Tù túng. Ði làm cũng như không. Ông không được giao việc. Ngày trôi tuột qua ngày. Vô nghĩa. Ðầu giờ sáng, ông ghé chỗ làm ký tên điểm danh rồi bỏ ra sân quần vợt. Ðánh tới trưa. Có khi thông sang chiều. Như tự thiêu đốt mình. Mưa cũng không bỏ. Tháng ngày dầm dãi khiến ông đổ bệnh. Trận cúm “rút” của ông 13kg.
“Tôi đánh giá cao những ý kiến đóng góp của anh em về nhiều lãnh vực trong suốt những năm qua, không phải vì tất cả ý kiến đó đều mới mẻ, đứng đắn, khả thi. Có ý kiến, xét trên quan điểm tổng thể tầm quốc gia, chưa thực sự phù hợp với điều kiện, tình hình nước ta... nhưng tất cả đều xuất phát từ mong mỏi khát khao đưa đất nước vượt lên. Hơn nữa, đều là kết quả của công trình lao động trí tuệ công quả, trong khi cuộc sống và công việc thường nhật của anh em còn không ít khó khăn” (trích thư cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt gửi nhóm Thứ Sáu ngày 1.11.2001).
Thứ Sáu thực ra không phải tên nhóm. Tiền thân của nó là nhóm nghiên cứu chuyên đề quận 5 của công ty Cholimex, chủ yếu là trí thức từng làm việc dưới chế độ cũ. Sau này mở rộng ra không phân biệt trí thức cũ mới gì hết, rồi thường họp vào chiều thứ sáu hằng tuần nên “chết“ tên luôn. Không giấy phép. Không tổ chức. Không nội quy. Không trụ sở. Không ai lãnh đạo ai. Không hưởng lương. Không ràng buộc - ai đến thì đến, ai đi thì đi. Những cái không mang lại nhiều cái có. Có anh em. Có gặp gỡ hằng tuần. Có bàn bạc về những vấn đề của đất nước. Có cùng tâm tư, băn khoăn, trăn trở, lo âu cho vận mệnh và tương lai đất nước. “Chúng tôi mỗi người mỗi ý, cãi nhau không khác gì Ðào Cốc Lục Tiên, sáu anh em ngộ nghĩnh, trong Tiếu ngạo giang hồ của Kim Dung” - ông Sơn nói về “chỗ dựa tinh thần”. Tư tưởng tự do bay nhảy. Chẳng ai độc quyền chân lý. Nhờ vậy, tri thức lan tỏa, thẩm thấu. Ông Phan Chánh Dưỡng thừa nhận nhóm Thứ Sáu là “trường kinh tế học đặc biệt nhất”, nơi ông tiếp cận những khái niệm đầu tiên về kinh tế. Văn phòng của Cholimex - công ty mà ông Dưỡng được bổ nhiệm làm phó giám đốc - cũng chính là cái nôi quần anh náu mình. Bữa xôm, hơn hai chục người tham gia, không đủ ghế ngồi. Thỉnh thoảng, một số chức sắc cũng ghé lại, như ông Hai Chí, ông Trần Bạch Ðằng, ông Năm Nghị (Phạm Chánh Trực), ông Tư Sang (Trương Tấn Sang), ông Ba Châu (Lữ Minh Châu - nguyên tổng giám đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam)... Lúc quạnh, chỉ vài ba người. “Nhớ nhất là anh Phan Tường Vân, tiến sĩ kinh tế, đạp xe lọc cọc mười mấy cây số, đội mưa đến họp mà cả phòng chỉ có anh, anh Lâm Võ Hoàng và tôi. Tội chị bếp Cholimex nấu bữa cơm thịnh soạn cho mười mấy người”, ông Sơn kể.
Cố giáo sư Ðặng Phong, tác giả cuốn Tư duy kinh tế Việt Nam: 1975-1989 dùng từ “vỡ trận” khi đề cập đến cuộc cải cách giá - lương - tiền năm 1985. Nền kinh tế rơi vào vòng xoáy hỗn loạn. Sang năm 1986, lạm phát ba con số (774%). Kinh tế chỉ huy bất lực mở ra cơ hội cho trí thức cất lên tiếng nói. Lãnh đạo thành ủy đề nghị nhóm Thứ Sáu góp ý giải pháp. Nhóm nghiên cứu được thành lập. Ông Sơn làm chủ nhiệm đề tài. Tháng 3.1987, cùng với hai thành viên khác của nhóm là Phan Chánh Dưỡng và Trần Bá Tước, ông Sơn bay ra Hà Nội, trình bày đề cương khắc phục những hậu quả nặng nề từ cuộc cải cách giá - lương - tiền. Ðấy cũng là lần đầu tiên ông Sơn diện kiến ông Sáu Dân (cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt), lúc ấy giữ cương vị phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Sau phần mở đầu không thật sự trôi chảy vì xúc động, ông lấy lại bình tĩnh, đầu óc sáng suốt, trình bày mạch lạc. Dồn. Nén. Nổ. Xả. Như muốn trút hết những nỗi niềm tâm sự tích chứa bấy lâu. Bài thuyết trình nhận được sự đồng cảm của nhiều chuyên viên Bắc hà. Ông nói trúng những điều họ nghĩ. Chỉ có điều họ chưa mạnh dạn nói ra. Rủi ro “chệch hướng” có lẽ đã đi vào tiềm thức.
Lần thứ hai trở lại Hà Nội, ông Sơn mang theo bản dự thảo pháp lệnh Ngân hàng, làm cơ sở để hai nhóm chuyên gia nghiên cứu, thảo luận. Nhóm một do ông Phan Văn Tiệm, chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước chủ trì. Nhóm hai là ngân hàng Nhà nước, phụ trách là ông Cao Sĩ Kiêm. Bản dự thảo được lấy ý kiến của nhiều ngành, nhiều giới, có cả sự tham vấn của ngân hàng nước ngoài và quỹ Tiền tệ Quốc tế trước khi ban hành.
Hai pháp lệnh là văn bản pháp quy, tạo xung lực quyết định cho sự phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam từ đó đến nay. Xây dựng hệ thống ngân hàng hai cấp. Ngân hàng Nhà nước sử dụng công cụ dự trữ tối thiểu bắt buộc và tái chiết khấu để điều chỉnh khối tiền tệ thay cho biện pháp quản lý tiền mặt thô sơ và cứng nhắc trước đây. Mở rộng hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần, cho phép chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động. Tổ chức thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Tổ chức thanh tra ngân hàng, phát triển hợp tác xã tín dụng. Thay đổi danh xưng người đứng đầu ngân hàng Nhà nước và mạnh dạn thành lập hội đồng quản trị ngân hàng Nhà nước. Những đổi mới pháp lý có ý nghĩa đột phá mạnh mẽ tạo nên những thay đổi tiến bộ cho ngành ngân hàng Việt Nam, tương hợp với hệ thống ngân hàng trên toàn thế giới.
So với bản dự thảo ban đầu, nội dung pháp lệnh rất khác, cả từ ngữ, lẫn nội dung cho phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ông Sơn thừa nhận nội dung văn bản pháp luật này chưa đáp ứng được kỳ vọng của đông đảo chuyên gia ngân hàng cũng như cá nhân ông. Ngân hàng Nhà nước cần được giao quyền chủ động nhiều hơn trong việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ, nhưng phải giảm bớt can thiệp vào tổ chức nhân sự và điều hành vào các ngân hàng quốc doanh, điều kiện quan trọng để xây dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa hai khối quốc doanh và thương mại cổ phần... thậm chí nên đổi tên thành ngân hàng Trung ương Việt Nam, hay ngân hàng Quốc gia Việt Nam nhằm khẳng định vị trí của nó đối với nền kinh tế. Một người bạn thâm giao nhiều năm sát cánh cùng ông Sơn là chuyên gia kinh tế Lâm Võ Hoàng tự trào rằng những người soạn thảo mong ước sinh ra đứa con thông minh, lớn lên làm kỹ sư, bác sĩ. Mộng chưa thành. Tạm hài lòng vì dù sao cũng đẻ được đứa con trai nối dõi.
Thời bao cấp trước Ðổi mới: xếp hàng, chợ trời, tem phiếu...  Ảnh T.L 
Là người chấp bút dự thảo ban đầu nhưng với ông Sơn, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt mới chính là cha đẻ của hai pháp lệnh ngân hàng đầu tiên. “Không có ông sẽ không có đổi mới ngân hàng, không có pháp lệnh”, ông khẳng định.
Ông Sơn không quá lời. Thiếu sự tiếp sức của cánh tay quyền lực, kẻ sĩ cũng đành thúc thủ. Nhìn lại lịch sử xã hội phong kiến, cơ hội để người hiền thi thố là khi gặp được minh quân. Ðêm trước Ðổi mới, nền kinh tế bên bờ vực sụp đổ đặt những nhà lãnh đạo đất nước vào tình thế buộc phải lựa chọn. Bắt trúng bệnh. Kê sẵn toa. “Nói thật những gì mình biết, còn có được nghe hay không, được thực hiện hay không thì tùy duyên. Trung ngôn thường nghịch nhĩ. Người lãnh đạo biết nghe lời thẳng không có nhiều”, ông Sơn nói về nguyên tắc hành động của nhóm Thứ Sáu.
Giai đoạn 1987-1997 là khoảng thời gian ông Sơn sung sức nhất, đóng góp được nhiều nhất. Ðây cũng chính là thập niên ông Sáu Dân giữ trọng trách, từ Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đến Thủ tướng. Ông Sơn cũng là thành viên tổ tư vấn của người đứng đầu Chính phủ về cải cách hành chính và cải cách kinh tế. Nhà báo Trần Trọng Thức nhận xét: “Sơn làm việc như xả thân”. Trong bài giới thiệu tập sách 25 năm theo dòng kinh tế Việt Nam, ông Thức ghi lại lời bộc bạch của tác giả: “Tôi bị ông thu hút bởi đức độ, một trái tim bao dung nhân hậu, lòng yêu nước yêu dân sâu đậm và một sự minh triết đáng kinh ngạc”.
Ba thập niên kể từ cuộc Ðổi mới lần thứ nhất, đâu đó đã có ý kiến đòi hỏi một cuộc Ðổi mới lần hai. Những trục trặc của nền kinh tế phơi lộ dần kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008. Huỳnh Bửu Sơn vẫn không nguôi trăn trở về thời cuộc, nhưng dường như chỉ có thân hữu ở một vài tòa soạn thuyết phục được ông viết bài. Tâm thế rất khác so với cái thời “có nhu cầu phải viết thì viết, giống như con gà mắc đẻ thì phải đẻ trứng. Ðẻ được trứng là tốt rồi, còn đẻ ở đâu cũng không hay. Trứng đẻ ra bị mai một trong bờ bụi hay được mang đi ấp, bỏ vào nồi luộc ăn cũng chẳng màng hay tiếc gì”, ông Sơn mượn lời một người bạn.
Ngô Tường Anh
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Xem ra di họa còn dài…



Nghề y là một nghề khắc nghiệt, vì những sai lầm của nó nhiều khi là vô phương cứu vãn, không thể sửa chữa được. Chương trình đào tạo y khoa, nếu so với các trường đại học khác, có thể gấp hai đến ba lần, nếu chỉ tính theo thời lượng và khối lượng kiến thức phải hấp thu: sáng thực tập bệnh viện, chiều lên giảng đường nghe giảng, tối phải thức trắng đêm trực bệnh viện. Đó là chưa kể, kiến thức y khoa tiến bộ như vũ bão, tính trung bình sẽ tăng gấp đôi cứ mỗi 50 năm. Một thầy thuốc thiếu mẫn tiệp và dư lười nhác sẽ mau chóng lạc hậu, thậm chí trở thành nguy hiểm, nếu không chịu rèn luyện thói quen cập nhật kiến thức chuyên ngành của mình trong một rừng những khuyến cáo, cập nhật về chẩn đoán, điều trị.
Hiểu như vậy, không ai ngạc nhiên nếu thấy cuộc sàng lọc để có một ghế sinh viên trường thuốc là vô cùng cam go và khắc nghiệt. Cuộc sàng lọc này chỉ dành chỗ cho những học sinh ưu tú nhất, xuất sắc nhất về trí lực và thể lực để có thể kham nổi một chương trình học cực kỳ nặng nề. Nhiều sinh viên y khoa đã phải đánh mất những thú vui rất thường tình của tuổi trẻ để ép mình kham khổ như nhà tu trong những năm tháng dùi mài ở trường y.
Cũng dễ hiểu không kém, khi người ta thấy đa phần những sinh viên y khoa ưu tú, đều có lai lịch na ná giống nhau. Hoặc xuất thân từ những địa phương có truyền thống học hành. Hoặc lớn lên trong một gia đình khoa bảng, trí thức. Quan trọng hơn hết, họ phải là những người xuất sắc nhất, là người có chỉ số thông minh không tồi, đoạt được số điểm cao nhất trong kỳ thi vượt vũ môn vào trường y, cũng khó khăn vào hạng nhất này.
Những cái nhất đó là việc thường tình ở thời Đại Học Y khoa Sài gòn cũ, hay ở rất nhiều quốc gia khác.
Trừ xứ mình!
Vâng, trừ xứ mình với những chính sách tuyển sinh không giống ai, thậm chí quái gở!
Rất nhiều người vẫn chưa quên chính sách tuyển sinh theo lý lịch ở những năm đầu sau 1975. Theo đó, một cậu học sinh có lý lịch tốt, nhóm 1- sẽ dễ dàng đoạt được một suất vào trường y với điểm 9 cho tổng cộng ba môn thi. Ngược lại, một em cháu nào đó kém may mắn, có cha anh là “sĩ quan ngụy”, đành ôm hận về sửa xe đạp vỉa hè cho dù điểm thi là 23-24 điểm.
Chính sách tuyển sinh ngày ấy đã góp phần “mang Việt Nam ra toàn thế giới”, bằng cách gián tiếp đẩy khá nhiều thanh niên Việt Nam ưu tú nhưng thất thời lên thuyền vượt biên, chỉ với một mục tiêu đơn giản: tìm một ghế trên giảng đường đại học, thay cho những cánh cửa đã đóng chặt trên chính quê hương mình. Nhiều người trong họ bỏ xác trên biển, nhưng cũng nhiều người thành danh, làm rạng rỡ quê hương trên xứ người.
Vì kiến thức y khoa không phải là hoa trái tự rụng vào đầu, vì học y hoàn toàn không dễ như lấy đồ trong túi, không ai ngạc nhiên khi thấy các sĩ tử 3-môn-9-điểm hoàn thành chương trình bác sĩ vô cùng chật vật. Lưu ban, thi lại, đậu vớt… cũng chẳng hề gì. Vì ở xứ mình, vào được là ra được! Trường nào cũng thế, cứ gì trường y?
Nhưng sự ưu tiên không dừng lại ở đó. Sau khi ra trường, với lý lịch dày dặn và những quan hệ sẵn có, những “hạt giống” này dễ dàng kiếm được một chỗ làm tốt trong những bệnh viện lớn. Các học bổng đào tạo sau Đại học cũng dành rất nhiều ưu ái cho họ. Ngoảnh đi ngoảnh lại, ta thấy họ đã là giáo sư, tiến sĩ, chủ nhiệm bộ môn, đầu ngành… với rất nhiều học vị mà dân trong nghề khi nghe đến chỉ biết lắc đầu cười nhẹ.
Chuyện xưa kể lại, tưởng đã không còn, lại giật mình kinh hãi khi đọc báo thấy vẫn y nguyên. Người ta gọi đó là “chính sách đào tạo theo hợp đồng”. Theo đó, người ta dành 50% (300 trên 600 thí sinh) để đào tạo bác sĩ y khoa cho một số tỉnh XYZ nào đó.
Dĩ nhiên, những thí sinh này sẽ được một số điểm ưu tiên, đến nỗi phải đánh rớt những học sinh ưu tú đạt 26 điểm nhưng vẫn không đậu vì ngoài diện ưu ái nói trên.
Dĩ nhiên, không có sự ưu tiên nào là miễn phí!
Dĩ nhiên, con cái dân đen không phải là đối tượng ưu tiên!
Dĩ nhiên, không phải nhờ ưu tiên mà người ta có thể trở thành một bác sĩ tử tế! Mặc dù có thể trở thành những “chuyên gia đầu ngành” như việc đã xảy ra với các ưu tiên lý lịch nhóm 1 năm nào.
Cái họa áo trắng bắt nguồn từ chủ nghĩa lý lịch năm xưa, chưa biết khi nào mới giải quyết hết. Nay thầy được ưu tiên lý lịch, trò được ưu tiên địa phương-hợp đồng. Quả là một “cặp đôi hoàn hảo” mà sản phẩm đầu ra như thế nào, không nói thì ai ai cũng biết!
Xem ra di họa còn dài…
Lại phải thêm một câu cũ rích vào cuối bài: Không phải tất cả! Vẫn có một thiểu số, tuy là GS- TS, nhưng xứng đáng được đồng nghiệp và bệnh nhân kính trọng về sự uyên bác, thông thái và đức độ của họ.
____________
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bố Già Ngọc Thứ Lang

Năm 1951 tôi rời Hà Nội vào Sài Gòn. Sáng mùa xuân, phi trường Gia Lâm trắng mưa xuân — mưa bụi, loại mưa đặc biệt chỉ mùa xuân ở Bắc Việt mới có. Hạt mưa thật nhỏ, chỉ những thiếu nữ Hà Nội mặc áo nhung mới có làn mưa trăng trắng bám trên hai cánh tay áo. Áo nhung, chỉ áo nhung mới có làn mưa bụi trắng ấy, những loại hàng khác thấm nước mưa nên không có làn mưa trắng mỏng này.



Cảnh "Choác" trong một tiệm cà phê nghèo của Sài Gòn. Nước Sái Thưốc Phiện được chích vào gân máu ở cánh tay. Một ống chích một mũi kim dùng cho cả trăm người.
Tôi xa Hà Nội năm tôi mười tám khi vừa biết yêu. Năm ấy tôi  mang theo cây đàn lên phi cơ nhưng số tôi không khá về mặt đàn địch — “không khá” không đúng, phải nói là “Dzêrô Ghi-ta” — ba lần tôi học đàn nhưng rồi tôi cũng bỏ cuộc, không chơi nổi được lấy một bài tủ cho ra hồn, như bài La Vie en Rose tôi rất thích. Năm 1950 tôi học đàn thầy Tạ Tấn ở Hà Nội, năm 1951 tôi học đàn thầy Vĩnh Lợi ở Sài Gòn, năm 1959 tôi học đàn thầy Lâm Tuyền ở Sài Gòn. Ba lần học, thầy dậy đàng hoàng,  tôi vẫn không đàn được. Quá tam ba bận. Không được là không được.
Năm 1952 tôi làm phóng viên nhật báo Ánh Sáng, tòa soạn ở đường Bonard, gần tiệm ăn Kim Hoa cạnh rạp xi-nê-ma Casino de Saigon. Những năm 1970 nhà này là Tiệm Kem Kim Ðiệp. Thời ấy — một nửa thế kỷ trôi qua – Sài Gòn an tĩnh, đời sống ở Sài Gòn tương đối thanh bình, chiến tranh Việt Pháp diễn ra dữ dội ở miền Bắc, miền Trung, những tờ nhật báo Sài Gòn không có nhiều tin giựt gân — kể cả những tin không giật gân, tin xe cán chó — để đăng. Một hôm có chiếc xe buýt chạy đường Phú Nhuận—Sài Gòn lạc tay lái đâm vào cổng Dinh Gia Long, vài người bị thương nhẹ — Năm ấy Cao Ủy Pháp ở trong tòa nhà về sau ta gọi là Dinh Ðộc Lập, chính phủ ta, Thủ Tướng Trần Văn Hữu, ở Dinh Gia Long. Tôi đến nơi xẩy ra tai nạn lấy tin. Ðang đứng láng cháng hỏi và ghi chép tôi nghe tiếng người hỏi:
— Báo nào thế?
Người hỏi là Nguyễn Ngọc Tú, tức Ngọc Thứ Lang, người những năm 1965, 1970 là dịch giả tiểu thuyết Bố Già dịch từ The Godfather của Mario Puzo. Lúc tôi đến đấy, tình cờ Tú cũng đến đấy. Ðấy là lần đầu tiên tôi gập Tú. Tú trạc tuổi tôi, công tử Bắc kỳ — những năm đầu thập niên 1950 chúng tôi mới hai mươi tuổi. Tôi vào Sài Gòn đã sớm, Tú còn vào Sài Gòn sớm hơn tôi. Chắc vì là con thứ nên Tú lấy bút hiệu là Ngọc Thứ Lang. Gập nhau chúng tôi thân nhau ngay. Tú nói anh từng là nhân viên tòa báo của ông Hiền Sĩ. Dường như là tờ Phục Hưng. Ðây là tờ nhật báo Việt đầu tiên ra đời ở Sài Gòn sau khi người Pháp trở lại Ðông Dương năm 1945. Nghe nói Phục Hưng là tờ nhật báo do Sở Thông Tin Pháp tài trợ để tuyên truyền cho Pháp. Do đó Phục Hưng bị coi là “báo Việt Gian.” Báo có mặt ở Sài Gòn chừng hai, ba năm thì Sở Thông Tin Pháp cho đình bản. Trong tòa soạn báo Phục Hưng  có anh Trường Sơn Nguyễn Huy Thái, một ký giả có tài của làng báo Sài Gòn trước năm 1954. Một bút hiệu khác của anh Thái là Huy Thanh. Anh qua đời khoảng năm 1990 ở Sài Gòn. Năm 1952 khi tôi gập Tú và thân với Tú tờ báo của ông Hiền Sĩ đã đóng cửa từ lâu, ông Hiền Sĩ đã về Chợ Gạo, Mỹ Tho làm Cai Tổng. Có lần tôi thấy ông đến tòa soạn báo Sàigònmới thăm ông bà Bút Trà. Lên Sài Gòn ông Hiền Sĩ vẫn ăn bận đúng kiểu Cai Tổng Nam kỳ lục tỉnh: đội mũ nỉ, miệng ngậm ông vố, tay cầm ba-toong, mặc bộ đồ sá xẩu, chân đi giép, răng vàng, nói cười rổn rảng.
Về chuyện Tú là nhân viên tờ báo của ông Hiền Sĩ tôi phải viết thêm: đấy là chuyện Tú kể với tôi. Mới đây khi nhắc đến Tú, một ông bạn nói Tú du học ở Paris đến năm 1954 mới về nước. Tôi hỏi ai nói, ông bạn nói Tú nói. Tôi biết Tú không có đi Tây, đi Tầu chi hết, kể cả Tây Ninh Tú cũng chưa bao giờ đi. Thành ra chuyện Tú nói với tôi  anh từng là nhân viên nhật báo Phục Hưng của ông Hiền Sĩ tôi sợ cũng chỉ là chuyện Tú nói.

Hoàng Thân Souvana Phouma, Thủ Tướng Ai Lao năm 1960, nhân vật 50 năm xưa được nhắc đến trong bài Viết ở Rừng Phong này.
Tú bằng tuổi tôi, học hành lem nhem như tôi, chúng tôi cùng bỏ học sớm, cùng biết tí đỉnh Pháp văn, Anh văn. Tú thông minh hơn tôi, Tú sắc xảo nước đời hơn tôi, ít tuổi nhưng hay chơi trội: mới hai mươi tuổi đã  vào Nhà Cercle Sòng Bạc Kim Chung đánh roulette, hút thuốc phiện. Năm 1955 Tú kiếm được nhiều tiền. Anh in và bán quyển “Tại sao tôi di cư ?”cho Bộ Thông Tin Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa — thời Bộ trưởng Cao Ðài Phạm Xuân Thái. Nghe nói ông Bàng Bá Lân là tác giả quyển sách nhỏ ấy. Sách ra đúng thời điểm, đúng nhu cầu. Ông Bàng Bá Lân viết sách, Tú mang sách vào bán cho Bộ Thông Tin. Không bán bản quyền mà tác giả in sách, sách tuyên truyền, chừng 100 trang, Bộ Thông Tin mua cả chục ngàn quyển. Nhờ việc chia tiền lời với ông Bàng Bá Lân, Tú có cả trăm ngàn đồng, số tiền thật lớn thời đó. Anh ăn diện: sơ-mi Valisère hàng nylon mới từ Paris sang bán ở tiệm đồ đàn ông mode nhất, đắt nhất thời đó trên đường Tự Do, dùng đồng hồ vuông mặt đen, mũ Mossant, cặp da nâu bệ vệ như cặp của Bộ trưởng Phạm Xuân Thái, máy chữ portatif, quạt máy Marelli, hút thuốc lá Mỹ Phillip Morris Vàng Kingsize, bật lửa Dupont, ăn cơm Tây, rượu chát vv..
Và Tú gập tình yêu. Nàng là cô giáo người Bắc, nhà ở gần ngay nhà Tú — đường Genibrel, từ sau 1956 là đường Huyền Quang, Tân Ðịnh — cô giáo có chồng. Chồng nàng ra bưng kháng chiến. Nàng ở Sài Gòn dậy học, sống với đứa con nhỏ và bà mẹ, chờ đợi chồng trở về. Cô giáo trung thành với chồng. Chiến tranh chấm dứt, đất nước chia đôi, tháng 12 năm 1954 chồng nàng từ Ðồng Tháp Mười tập kết lên tầu Ba Lan ra Bắc. Thấy chồng không chịu trở về, cô giáo thất vọng. Nàng trao trái tim nàng cho Tú. Cuộc tình của họ gập trắc trở. Dường như bà mẹ của cô giáo không bằng lòng. Cô giáo tự tử chết, bỏ lại mẹ già, con thơ. Thật tội. Ðời Tú, từ cái chết bi thảm của cô giáo, bắt đầu xuống dốc không phanh. Anh nằm luôn trong một nhà bán thuốc phiện ở hẻm Monceaux, Tân Ðịnh, sau 1956 là đường Huỳnh Tịnh Của nối dài. Anh ăn, hút, ngủ trong nhà đó luôn, bán dần đồng hồ, máy chữ, cặp da  trả tiền hút. Tú ra khỏi nhà đó hai tay không với bệnh nghiện hút nặng.
Từ sau năm 1954 đất nước chia đôi nguồn cung cấp á phiện cho miền Nam Việt nam, nay là Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa, không đến từ Bắc Việt nữa mà đến từ vùng Xiêng Khoảng nước bạn Ai lao, hoặc vùng gọi là Tam Giác Vàng. Hàng – á phiện – từ Lào về Sài Gòn bằng đường hàng không. Năm 1960, 1961 Ai Lao có nạn binh biến, đảo chính xẩy ra chí chạt: Ðại úy Nhẩy Dù Lèo Khong Le làm đảo chính, đuổi Thủ Tướng, rồi hai ông Hoàng Lèo Phoumi, Phouma tranh quyền Thủ Tướng đánh nhau liên miên. Trong một lần hai ông Hoàng Lèo tranh quyền, Vientiane bị giới nghiêm, phi trường Vientiane đóng cửa nhiều ngày. Phi cơ không bay, á phiện Lèo không về được Sài Gòn. Tình hình giới HítTôPhê Việt Nam Cộng Hòa thập phần nguy kịch. Ðệ tử của Cô Ba Phù Dung có thể nhịn ăn nhiều ngày nhưng khônng thể nhịn hút dù chỉ là nửa ngày. Ðệ tử Cô Ba Phù Dung có thể thiếu cơm — thực ra là mấy ổng Tiên Ông Phi Yến Thu Lâm săng phú cơm, săng phú luôn cả thịt cá, rau dưa — nhưng mấy ổng không thể nửa ngày không có thoóc. Thời ấy trong giới Hít Tốp có câu nói:
—  Phu Mi, Phu Ma đánh nhau, PhuMơ chết!
PhuMơ: fumeur, tiếng gọi khác là phum, dân phum, tức dân hút thuốc phiện.
Mà PhuMơ Mít chết thật. Hàng không về, thuốc tăng giá. Những nhà còn thuốc giữ lại không bán ra. Gần như có tiền và chịu giá đắt mấy cũng không mua được thuốc. Mà lính của Cô Ba thì tuyệt đại đa số là đọi, tức tiên khồng. Chít mất. Chít là cái chắc! Nô thoóc! Không có thoóc! Làm sao bi giờ? Trong cơn nguy cấp ấy không biết  ông Con Trai Bà Cả Ðọi Hít Tô Phơ thông minh nào có óc khoa học vật lý hóa kiêm bào chế sư nẩy ra sáng kiến thần sầu cứu nguy cho thân mình và đồng bạn bằng cách: lấy sái thuốc phiện nấu lên với nước, lọc đại khái cho nước thuốc không có cặn, rút vào ống chích, chích thẳng vào gân máu. Sáng kiến này dựa trên sự phân tích khoa học: hút khói thuốc phiện vào phổi, phổi đưa chất thuốc vào máu. Tiến trình này mất thì giờ và tốn thuốc, mười phần thuốc được dùng thì chất vào máu chỉ được hai, ba phần. Tại sao không  nấu cho sái tan  ra nước — thuốc phiện chưa hút cháy thành sái lại không dùng được trong trò chích choác này — lấy nước sái chích thẳng vào mạch máu? Chích như vậy là thuốc vào máu đủ chăm phần chăm, ép-phê liền tù tì tút suỵt, chưa rút mũi kim chích ra  thuốc đã vào đến  tim, lại không bị tiêu hao, phí phạm môt ly ông cụ nào.
Thế là từ đó thế giới Ma Túy Việt Nam Cộng Hòa có thêm trò chích choác. Rồi màn kịch vô duyên mấy trự Gà Lèo không bôi mặt cũng đá nhau sặc mắm ngóe rồi cũng phải ngừng, á phiện lại từ Lèo bay về Sài Gòn đều đều, nhưng dân nghiện Sài Gòn đã có thêm trò chích choác. Dân nghiện ma túy Âu Mỹ chích cocaine, heroine, gọi chung là bạch phiến, chất trắng, là tinh chất của á phiện. Dân nghiền Việt chích bằng nước sái thuốc phiện, chất nước mầu nâu sẫm hay vàng nhạt, đậm hay đặc, tùy theo số sái và số nước nhiều hay ít. Người đã choác khó có thể bỏ choác để trở lại hít, tức hút. Vì choác quá nặng. Ðang hút 100 đồng người nghiện chỉ cần choác 10 đồng là phê khủng khiếp, choác phê hơn hít nhiều. Và Choác  tàn phá con người nặng, mạnh và nhanh hơn Hít rất nhiều. Cai thuốc phiện khó hơn lên trời, nhưng người nghiện hút may ra còn có thể cai được — Cai: bỏ hút — còn Choác thì vô phương. Choác một năm cơ thể bị tàn phá bằng Hít mười năm.

Ðại Úy Nhẩy Dù Khong Le, người sĩ quan Quân Ðội Ai Lao từng làm binh biến ở Vientiane những năm 1960. Năm xưa ấy người Sài Gòn có câu phê bình: "Ðại Úy Không Le mà rất Có Le.."
Tú Lé — Tú bị lé một mắt nên chúng tôi gọi anh là Tú Lé — từ Hít sang Choác. Những năm 1965  Tú chuyên mặc sơ-mi dài tay. Những gân máu trên hai cánh tay anh bị chích nhiều quá thành chai cứng, đen sì, trũng xuống như lòng máng nước. Tú viết cho Tuần San Thứ Tư của Nguyễn Ðức Nhuận và lai rai cho nhiều báo khác, anh lấy bút hiệu Ngọc Thứ Lang. Nhuận đưa The Godfather  cho Tú dịch. Tú chọn tên Bố Già và bản dịch Bố Già của Ngọc Thứ Lang là một bestseller của tiểu thuyết Sài Gòn những năm 1968, 1972.
Năm 1976 Tú và tôi đến dự cái gọi là Khoá Bồi Dưỡng Chính Trị cho văn nghệ sĩ Sài Gòn do Hội Văn Nghệ Giải Phóng Thành Phố Hồ chí Minh tổ chức. Cùng dự khóa này với chúng tôi có Phan Nghị, Nguyễn đình Toàn, An Khê, Lê Minh Ngọc, Cao nguyên Lang, Nguyễn Ước, Phan Kim Thịnh, Nguyễn Mộng Giác..vv. Hai mươi mốt ngày “học tập,”  học viên được Thành Ủy cấp mỗi ngày một đồng tiền công tác phí. Ngày học viên được mua nhu yếu phẩm, được phát đúng hơn, tiền mua số nhu yếu phẩm này lấy từ trong số 21 đồng tiền công tác phí: hai hộp sữa, hai gói thuốc điếu Vàm Cỏ, một ký đường, hai gói mì, một cây kem đánh răng, nửa ký  bột giặt, hai trăm gam bột ngọt vv.. Lãnh nhu yếu phẩm xong học viên Nguyễn Ngọc Tú, tức Ngọc Thứ Lang, tác giả Bố Già, biến mất liền trong hai ngày không đến lớp. Chúng tôi nói với nhau: “…Ngọc Thứ Lang mang nhu yếu phẩm đi hưởng bồi dưỡng rồi..” Anh đổi số nhu yếu phẩm ấy lấy thuốc chích.
Cuối năm 1976 ký giả Hồ Ông — hiện ở Sydney, Úc, làm báo — cho tôi hay: “Anh Tú bị bắt đi phục hồi nhân phẩm trên Bình Triệu. Anh ấy nhắn về bảo anh lên thăm.” Một sáng Hồ Ông và tôi trên hai xế đạp lên Bình Triệu thăm Tú. Trung Tâm cai ma túy của thành phố được đặt trong tòa nhà Tu Viện Fatima. Tu viện vừa xây cất xong, chưa khai trương thì bị chiếm. Phòng ốc rộng rãi, mát mẻ, sạch sẽ, thênh thang, thừa tiện nghi, bể xi-măng chưá nước máy lớn ở vườn sau, tha hồ tắm. Mỗi phòng  dự định dành cho một tu sĩ nay có ba, bốn anh nghiện ở, phòng không có đồ đạc, bàn ghế gì cả, chỉ có mấy cái chiếu trải trên sàn. Ða số là dân choác, bị công an hốt đi từ những động choác. Rất ít người được gia đình tiếp tế.  Anh em vào đây chỉ với một bộ quần áo đang mặc trên người.
Khi tôi đến gập Tú anh đã khoẻ, đi lại, ăn uống được. Những vết chích trên da thịt anh bị lở loét nhưng không sao, rồi sẽ lành. Nhiều người cai choác bị lở như vậy. Tú dẫn tôi đến xem tờ bích báo của Trung Tâm Phục Hồi Nhân Phẩm. Báo có 7 bài, một mình Tú viết 5 bài. Nghề của chàng. Tú kể chuyện có nữ ký giả ngoại quốc đến thăm Trung Tâm, Tú nói được tiếng Pháp, tiếng Anh nên ban quản đốc đưa anh ra nói chuyện với khách. Nữ ký giả ngạc nhiên khi nghe nói Tú là dịch giả The Godfather của Mario Puzo. Chắc cô nghĩ, theo những tiêu chuẩn kinh tế thị trường Âu Mỹ, đã là dịch giả The Godfather thì đâu có thể thân tàn, ma dại quá đến như Ngọc Thứ Lang. Cô nhà báo không tin. Tú được phép của trại về Sài Gòn lấy quyển Bố Già đem lên Trung Tâm cho nữ ký giả thấy là thật.
Tú nói sau thời gian cai nghiện ở Trung Tâm Bình Triệu đệ tử của Cô Ba sẽ phải đi nông trường cải tạo ít nhất là hai năm, nhưng vì Tú có khả năng ban quản đốc sẽ giữ Tú lại làm việc ở Trung Tâm. Tốt thôi. Ðấy là lần cuối cùng tôi gập Tú. Từ lần chúng tôi gập nhau đầu tiên năm 1952 đến lần gập nhau lần cuối năm 1976, 24 mùa lá rụng đã qua cuộc đời chúng tôi.
Năm 1977 tôi bị bắt lần thứ nhất. Hai năm tôi sống trong Nhà Giam Số 4 Phan Ðăng Lưu. Năm 1979  trở về mái nhà xưa tôi được tin Tú đã chết ở Trại Cải Tạo Phú Khánh. Trại này nằm giữa hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa. Tôi nhớ Tú nói anh sẽ được giữ lại Trung Tâm Bình Triệu, tại sao anh lại phải đi Trại Phú Khánh? Tôi hỏi và được biết nguyên nhân như sau: một hôm Trung Tâm cần in  một số tài liệu. In ronéo. Vì Tú từng làm báo, biết về việc in và nhà in, nên ban quản đốc giao tiền cho Tú, và hai chú phục hồi đã khoẻ mạnh, mang tài liệu về Sài Gòn in.  Ðến nhà in Tú đặt in, để hai chú bạn ngồi lại, đem tiền in đi luôn. Tú đi choác. Hai chú bạn ngồi va-ly đói dài, tiền ăn cơm trưa không có, tiền lấy đồ in cũng không luôn. Tú biến mất vài ngày rồi cũng trở lại Trung Tâm. Ban quản đốc thấy không thể giữ Tú lại nên cho Tú đi trại. Nghe nói một sáng trời lạnh ở Trại Tù Khổ Sai Phú Khánh, Tú rít điếu thuốc lào, đứng tim, ngã ra chết.
Tú có một bà chị. Năm 1955, khi đất nước ta, bị cắt đứt ở khúc  Bình Ðịnh — Quảng Ngãi, sau 9 năm chiến tranh mới liền một giải từ sông Bến Hải đến Mũi Cà Mâu; thời ông Phạm Xuân Thái làm Bộ Trưởng Bộ Thông Tin, Tú và tôi đi một chuyến miền Trung. Tú đi với tư cách ủy viên Bộ Thông Tin, tôi là phóng viên nhật báo Sàigònmới. Tú đưa tôi đến thăm gia đình bà chị Tú ở Lăng Cô, trên đường Huế—Ðà Nẵng. Ông anh rể Tú năm ấy là Trung úy Bác sĩ Quân Y. Anh rất đàng hoàng — danh từ thời đó làréglo — bà chị của Tú hiền hậu. Sau đó, đến những năm 1960 tôi nghe nói ông anh rể của Tú làm giám đốc một quân y viện ở Ðàlạt. Tú lên chơi, vào phòng thuốc của quân y viện, đòi chìa khóa, mở tủ thuốc cấm, lấy cocaine, morphine chích loạn cào cào. Nhân viên thấy Tú là em vợ của bác sĩ giám đốc nên không dám ngăn. Khi bác sĩ biết, ông  cấm cửa không cho Tú đến nhà nữa.
Những năm về sau Tú sống trong nhà anh Thạch Thái Phúc, đường Bùi thị Xuân, Sài Gòn. Anh Phúc là ký giả pháp đình, tức tòa án. Anh có dáng người bệ vệ, kính trắng, ria mép, lúc nào cũng comlê, cavát, cặp da, ô đen. Không ai dám chứa một ông chích choác không phải là con cháu mình ở trong nhà, anh chị Phúc đã chứa Tú. Nghe nói bà mẹ của anh Phúc và bà mẹ của Tú là hai bà bạn thân. Bà mẹ của Tú ở lại Hà nội. Năm 1954 khi gia đình anh Phúc di cư vào Nam, bà mẹ của Tú có lời nhờ bà mẹ anh Phúc trông nom, săn sóc Tú. Anh chị Phúc làm theo ý bà mẹ, cưu mang Tú mãi. Anh chị cho Tú ăn ở trong nhà, chỉ có tiền choác là không chi. Anh Phúc  thông gia với Minh Vồ Con Ong. Minh đã qua đời năm 1993. Anh Phúc còn sống ở Sài Gòn.
Năm 1986 theo Liên Xô, theo Trung Cộng, Tổng Bí thư Ðảng Cộng Sản Nguyễn văn Linh ban hành chính sách “đổi mới,” tuyên bố “cởi trói cho văn nghệ”. Cùng với hằng hà sa số những tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam Cộng Hòa từng bị lên án là đồi trụy, phản động, tuyên truyền cho thực dân Mỹ, bị tịch thu, bị hủy hoại, tiểu thuyết Bố Già của Ngọc Thứ Lang được in lại. Hai nhà xuất bản tranh nhau in Bố Già: Nhà Xuất Bản Trẻ Thành Hồ và Nhà Xuất Bản Văn Hóa Hà Nội.
Bố Già của Ngọc Thứ Lang được in lại ở Hoa Kỳ. Mario Puzo, tác giả The Godfather, tiểu thuyết bestseller từng bán đến 21 triệu cuốn, qua đời ở nhà riêng trong thành phố  Bay Shore, bang NewYork, ngày Một Tháng Bẩy năm 1999, thọ 78 tuổi, có năm con, chín cháu. Ngọc Thứ Lang, tác giả Bố Già, qua đời ở Trại Lao Cải Phú Khánh năm 1979, chưa đầy 50 tuổi, không vợ, không con.
CÔNG TỬ HÀ ÐÔNG
——————————————————–
Viết thêm Ngày 1 Tháng 8, 2011: Hai nhà xuất bản trong nước, một nhà xuất bản ở Hoa Kỳ, in lại BỐ GIÀ của Ngọc Thứ Lang, đều có trả tiền bản quyền.
Tôi không tin  Google có ảnh các ông Phouma, Khong Le Lèo, nhưng tôi vẫn tìm. Không ngờ có ảnh hai ông. Chỉ những Khưá Lão năm nay tuổi đời trên dưới Tám Bó mới biết những ông Phoumi, Phouma, Khong Le ngày xưaTrên NET không có ảnh Ngọc Thứ Lang. CTHÐ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sử thi về sự tan rã

Photo by Dr Nikonian

DrNikonian: Ngày Tết đọc tin online, chỉ thấy đủ điều
chướng tai gai mắt, thấy không phải con lợn làng Ném Thượng là vật (duy nhất) đáng chém. Nhưng đã có một tờ báo đăng bài viết tuyệt vời, thanh nhã này của nhà văn Nguyên Ngọc, người mà cái tên nghe đồn bị cấm xuất hiện trên truyền thông (?).
Câu chuyện đẹp như cổ tích, nhưng kết thúc quá buồn với cái chết oan khuất của một người trí thức tao nhã, hiền lành rất mực. Ai đã tuyệt diệt tầng lớp ưu tú này của đất nước? Đến nỗi tự hỏi không biết khi nào nước Nam này mới có một thế hệ kẻ sĩ đọc sách ưu tú, thanh cao đến thế?


Hỏi, tức là đã trả lời! Khi “trí, phú, địa, hào” bị “đào tận gốc, trốc tận rễ” thì dung mạo của đất nước ngày càng xấu xí, man rợ như chúng ta đang thấy.
Cảm ơn tờ Người Đô Thị đã rung một tiếng chuông, tuy khẽ khàng nhưng lay động nhân tâm. Cuộc đời và số phận của người quí tộc, kẻ sĩ, người đọc sách trong câu chuyện này là một mảng đau đớn trong “sử thi về sự tan rã” của dân tộc (chữ của nhà văn quá cố Bùi Ngọc Tấn)
Chuyện này đến nay có lẽ chỉ còn mình tôi biết. tôi muốn kể lại, trước hết vì Hội An của tôi, để Hội An hiểu thêm rằng mình từng lạ và “hay” đến thế nào. Đặng mà cố giữ nó.
Một thành phố chỉ có thể thật sự là “thành phố văn hóa”, như Hội An, khi nó có, từng có, và biết giữ một lớp tinh hoa cấp cao, một lớp quý tộc văn hoá như thế, có thể nhỏ thôi, có thể nghèo, nhưng là quý tộc, sang trọng, như là cái lõi vàng ròng của đời sống tinh thần và văn hóa chung
Năm ấy hình như tôi khoảng 12 tuổi, cũng có thể chỉ mới 11 vì đến cách mạng tháng Tám 1945 tôi vừa 13, mà theo tôi nhớ thì ông Nguyễn Tuân tới Hội An trước Cách mạng đâu khoảng vài ba năm.
Ba tôi, bấy giờ gọi là “thầy thông bưu chính’’, tức đã có đến bằng diplome, hồi ấy thế cũng là trí thức bậc trung. Hình như ông định biến con trai mình thành một nhà bác học, hay tệ nhất cũng là một nhà văn lừng danh. Ông có lối dạy con rất đặc biệt: ông bắt tôi đọc hầu như toàn bộ văn học Việt Nam đương thời, từ Tự Lực văn đoàn cho đến Tiểu thuyết Thứ bảy, rồi Phổ thông bán nguyệt san, đọc hết luôn tủ sách Văn mới của Hàn Thuyên, các tạp chí Thanh Nghị, Tri Tân, tất nhiên không thể thiếu báo Ngày nay…, cả Tây sương ký và Trang Tử Nam hoa kinh qua bản dịch của Nhượng Tống
… Còn sách Tây thì tôi phải đọc trước chương trình quy định ở lớp một, có khi đến hai năm. Ngốn toàn bộ Những người khốn khổ và Nhà thờ Đức Bà Paris của Victor Hugo, tra từ điển Larousse đến mờ mắt để lần cho ra cái đoạn lê thê ông nhà văn lắm lời này tả các cánh cửa rậm rạp của nhà thờ Đức Bà… Tôi biết ơn ba tôi đã biến tôi thành một con mọt sách suốt đời.
Bây giờ nhớ lại, cứ như ngày ấy tôi vì say sách mà đã thành kẻ mộng du, mới 11 hay 12 tuổi mà đêm nào cũng lang thang một mình trên các đường phố Hội, thường rất khuya, chỉ đi một mình thôi – anh ấy dặn vậy, tìm đến một ngôi nhà cổ bé tí và sâu hun hút. Nhà ấy có hai mặt đường như tất cả các nhà trong phố cổ Hội An, một mặt quay ra Rue du pont japonnais (đường Chùa Nhật Bản) nay là Trần Phú, mặt kia trổ ra Rue Cantonnais (đường Quảng Đông) nay là Nguyễn Thái Học. Đấy là nhà của một vị nho học nổi tiếng có cái tên rất lạ: Châu Phi Cơ. Lúc nào cũng thơm nồng mùi thuốc bắc, về đêm càng sực nức. Khuya, tôi gõ cửa rất khẽ, đúng ra là chỉ cần chạm nhẹ vào cái khuy đồng ở cửa, lập tức “hạt vừng’’ từ từ mở ra. Anh Châu Tường Anh, mới nghe tên đã biết tất phải là người rất sang trọng, rất quý tộc, hình như đêm nào anh cũng sẵn chờ tôi sau cánh cửa dày và nặng, trong đêm đẹp như một bức sơn mài ấy. Vâng, một nhà quý tộc trẻ. Thanh mảnh, hơi gầy và cao, lúc nào cũng mặc áo dài hai lớp, áo dài trắng bên trong áo lương đen mỏng tan. Hội An ngày ấy có một lớp “quý tộc’’ như vậy của mình. Một lớp quý tộc chập chờn giữa hai thời đại. Còn nho nhã phương Đông, nhưng đọc rành Tây và thường nói chuyện với nhau bằng tiếng Tây. Một lớp quý tộc nghèo mà sang. Những La Hối, Lê Trọng Nguyễn, Dương Minh Ninh, Dương Minh Hòa, Lưu Nghi… tất nhiên cả gia đình họ Nguyễn Tường, những người đã mang tinh hoa phố Hội quê hương tự trong máu của mình ra trộn với tài hoa Cẩm Giàng Hải Dương để làm nên Tự Lực văn đoàn, cả một thời đại trong văn chương xứ Việt như Hoài Thanh từng nói… Và anh Châu Tường Anh nữa, bạn vong niên của tôi. Anh lớn hơn tôi đâu chỉ ba hay bốn tuổi, ở tuổi đó cách nhau chừng ấy đã gần cả một thế hệ rồi, vậy mà anh kết nạp tôi vào thế hệ anh. Vì anh biết tôi cùng mê sách. Những người mê sách thì bình đẳng trước văn hóa và vĩnh cửu, và không có tuổi.
Nhà tôi cũng có một tủ sách, tất nhiên, dày cộp. Nhưng làm sao dám sánh với sách của anh Châu Tường Anh, dù anh có cuốn nào tôi cũng có đúng cuốn ấy, không sót. Nhưng sách của tôi là sách “thường’’, tầm thường, bán đại trà, cứ ra phố là mua được, mua hàng lô cũng còn được nữa là, những cuốn sách “vô danh’’, cũng còn có thể gọi là “vô chủ’’ nghĩa là ai có cũng được, không đặc biệt là của riêng ai hết, có thể trôi nổi, nay vào tay người này mai vào tay người kia. Lại nữa, không từ đâu đến, không ai trao cho mình cả, mình có tiền mình đi mua, có thể nơi một quầy vô danh bất kỳ ở một hiệu sách vô danh bất kỳ. Theo một nghĩa nào đó, một cuốn sách như thế không có “cá tính’’, không phải là riêng nó, chỉ riêng nó, không có hai, duy nhất, đơn nhất, như một người bạn, người thân, người yêu, của riêng mình… Có một dấu hiệu cho loại sách đó: mép sách được, hay bị, xén bằng dao kim loại, xoẹt một cái phẳng lì, tăm tắp, chắc cũng có thể với máy móc hiện đại xoẹt một cái xén phẳng sạch bong hàng chục cuốn…
Tôi để ý: trên bàn của anh Châu Tường Anh tuyệt không có một con dao kim loại nào. Thư phòng của anh ở trên gác, nhỏ thôi, tường gỗ, bốn mặt tường đều là sách. Và tuyệt không có cuốn sách nào bị xén “công nghiệp’’. Trên bàn có một con dao bằng ngà, trắng nhờ. Bởi vì ở đây chỉ có toàn những cuốn sách được in hai tờ, hay bốn tờ, dính vào nhau, phải rọc ra. Con dao ngà kia là để rọc.
Ngày ấy sách được in như thế này: ở những nhà xuất bản lớn, những cuốn sách hay của những tác giả tên tuổi, bao giờ ở trang giáp cuối cũng có ghi: “… ngoài những bản thường, có 50 (hay 100) bản đặc biệt, in trên giấy dó (hay giấy Lafuma), được đánh số từ A1 đến …, có chữ ký của tác giả và không bán”. Không bán, vì nó vô giá. Bây giờ đến lúc tôi khoe với các bạn rồi đây: 11 hay 12 tuổi, tôi đã có được một người bạn vong niên, anh Châu Tường Anh, của Hội An tôi, là chủ nhân của một tủ sách gồm toàn những cuốn như thế. Và đêm đêm, gần suốt tuổi thơ, như một kẻ mộng du, tôi bỏ nhà lang thang trên các đường phố Hội vắng tanh, một mình tìm đến ngôi nhà cổ nhỏ xíu trên đường Chùa cầu Nhật Bản, chỉ chạm nhẹ vào cánh cửa nặng trịch thì vừng liền mở ra, và anh bạn vong niên của tôi, áo dài trắng bên trong áo lương đen, không nói một lời dắt tôi lên thư phòng của anh. Tôi ngồi yên trên một chiếc ghế nhỏ, nhìn anh chậm rãi lấy từ giá xuống một cuốn sách mới, không bao giờ tôi biết từ đâu mà anh có được, tôi không bao giờ dám hỏi. Tôi ngồi yên, sững sờ ngắm anh thực hiện cái nghi lễ thiêng liêng của người mê sách. Đôi bàn tay các ngón đẹp như của một nghệ sĩ dương cầm, cầm con dao ngà, rất chậm, rất nhẹ, như sợ làm đau giấy, rọc từng trang sách, mép giấy dó nhẹ nhàng xơ ra, một chút bụi giấy vàng mong manh bay lên và rơi xuống lấm tấm li ti trên mặt bàn. Tôi những muốn được đưa ngón tay chấm nhẹ một hạt bụi ấy, mà không dám… Vậy đó mỗi đêm, một cuộc thôi miên… Tôi không đọc sách ở nhà anh Châu Tường Anh, những cuốn sách ấy ở nhà tôi cũng có, bản in phàm, bán đại trà, ba tôi mua. Tôi đến nhà anh Châu Tường Anh, đêm đêm, mộng du, là để chiêm ngưỡng những cuốn sách vô giá của anh, được ngửi mùi thơm vừa thoảng vừa ngậy đặc trưng của giấy dó và của mùi bụi giấy lấm tấm bay ra khi anh rọc sách bằng con dao ngà màu trắng đục. Tôi cứ ngỡ bụi “phấn thông vàng” của Xuân Diệu cũng đẹp như thế, thơm nhẹ và sâu như thế, tuy mãi mấy mươi năm sau tôi mới được biết phấn thông vàng thực ở Tây Nguyên. Cũng có hôm anh Châu Tường Anh cho tôi được tự tay dở vài trang sách. Rất lạ, những trang ấy tôi đã đọc ở nhà rồi, có khi đến thuộc lòng, vậy mà ở đây mỗi con chữ đều long lanh, và vang lên một cách khác… Nói thế nào nhỉ, chúng trở nên quý tộc hơn, sang trọng hơn, và bổng như trở nên bí mật hơn… Vâng, mỗi đêm tôi được hưởng một nghi lễ như vậy của cái đẹp…
Cho tới một bữa, vừa bước lên gác tôi đã nhận ra mùi hương trầm. Anh Châu Tường Anh, không nói một lời, lặng lẽ chỉ cho tôi ngồi xuống ghế, và ra hiệu cho tôi phải để hai bàn tay xuống bên dưới mặt bàn. Nghĩa là tuyệt đối không được sờ đến bất cứ thứ gì. Và ngồi đó chờ… Rất lâu. Rồi anh nhẹ nhàng nhấc từ trên giá xuống một cuốn sách mới tinh. Sách đã rọc. Các mép giấy dó xơ ra, còn giữ nguyên từng sợi vàng óng. Chỉ những người chuyên chơi sách mới biết: sách đẹp chính là ở những xơ giấy dó được giữ quý như vàng đó. Tôi nhìn trân trân. Cuốn Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân. Anh Châu Tường Anh dùng mũi dao ngà khẽ lật trang bìa, rất chậm rãi, đến trang lót, rồi càng chậm rãi, đến trang thứ ba. Và tôi sững sờ: lời đề tặng của chính ông Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân ngày ấy là huyền thoại của chúng tôi. Tự tay ông viết, cái ông Nguyễn Tuân tài hoa, phiêu bạt và ngang tàng ấy, tự chính tay ông viết, như múa, không phải “Tặng anh Châu Tường Anh”, cũng không phải “Kính tặng anh Châu Tường Anh”, mà là ”Kính tặng Tường Anh Châu công tử”… Và bên dưới, chữ ký bay lên, như khói. Có người bảo: đấy là hình tượng một cánh buồm lộng gió.
Ôi ông Nguyễn Tuân, chỉ có ông mới nghĩ ra được như vậy, mới viết được như vậy. Tôi có hỏi kỹ một anh bạn chuyên nghiên cứu văn bản học, anh ấy khẳng định trước Cách mạng tháng tám Nguyễn Tuân đến Hội An chỉ một lần, năm 1941, và viết tùy bút Cửa Đại nổi tiếng. Năm đó tôi đúng 11 tuổi. Anh Châu Tường Anh của tôi lớn hơn tôi đâu bốn hay năm tuổi, tức khoảng 15 hay 16. Mà đã “Châu công tử”, kỳ lạ không, đã có thể kết bạn với ông Nguyễn Tuân, đã được chính ông Nguyễn Tuân huyền thoại kết bạn tâm đắc đến mức tự tay trân trọng tặng Châu công tử một cuốn Vang bóng một thời in giấy dó vàng ươm!
Vâng, Hội An của tôi là vậy đó. Cho phép tôi nói điều này: một thành phố chỉ có thể thật sự là “thành phố văn hóa”, như Hội An, khi nó có, từng có, và biết giữ một lớp tinh hoa cấp cao, một lớp quý tộc văn hóa như thế, có thể nhỏ thôi, có thể nghèo, nhưng là quý tộc, sang trọng, như là cái lõi vàng ròng của đời sống tinh thần và văn hóa chung.
Chắc tôi phải nói thêm chút nữa về người bạn vong niên kỳ lạ của ông Nguyễn Tuân ở Hội An, anh Châu Tường Anh quý tộc nghèo của tôi. Anh mất vào những ngày đầu kháng chiến chống Pháp cuối năm 1946. Không ai biết thật rõ về cái chết của anh. Chỉ nghe đồn đâu đó ở cửa sông Thu Bồn. Anh quen biết, và hẳn gắn bó nhiều với gia đình Nguyễn Tường của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Ta biết, họ là Quốc dân đảng. Trong những ngày cực kỳ rối ren, sôi nổi, hào hùng và thảm khốc của một cuộc chiến tranh ác liệt đang bắt đầu.
Lịch sử mà…
Nguyên Ngọc

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TRÍCH DẪN

"Xét lịch sử xưa, dân nào khôn ngoan biết lo tự cường tự lập, mua lấy sự ích lợi chung của mình thì càng ngày càng bước tới con đường vui vẻ. 

Còn dân thì ngu dại, cứ ngồi yên mà nhờ trời, mà mong đợi trông cậy ở vua ở quan, giao phó tất cả quyền lợi của mình vào trong tay một người, hay một chính phủ muốn làm sao thì làm, mà mình không hành động, không bàn luận, không kiểm xét, thì dân ấy phải khốn khổ mọi đường.
Anh chị em đồng bào ta đã hiểu thấu các lẽ, thì phải mau mau góp sức lo toan việc nước mới mong có ngày cất đầu lên nổi. "
Phan Chu Trinh (1872 - 1926)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NGƯỜI KHÔN XẤU MẶT
                      QUANG ĐẠI


                            PHIÊN TRÙ BỊ ĐẠI HỘI VI - HỘI VHNT BG - BÊN DƯỚI LÀ TÁC GIẢ QUANG ĐẠI TRONG CUỘC THẢO LUẬN NỘI BỘ

Hai ngày 25 và 26/12 , tức là hôm qua và hôm kia. Mình là đại biểu chính thức tham dự đại hội ấy. Một đại hội diễn ra theo trình tự sắp đặt mà mình đã được biết nó thành công mỹ mãn từ… vài tháng nay. Nhiều đại biểu phàn nàn sao không thấy mời các nhà văn như Đỗ Chu, Trần Ninh Hồ, Nguyễn Phan Hách... vốn là những người có công khởi dựng hội từ những ngày đầu? Chắc chẳng phải vì ban tổ chức thiếu tiền để mời các bác ấy một bữa đâu! Hẳn là quên hay trong lúc"bối rối" không nghĩ ra thôi...
Hôm 25/12 diễn ra phiên họp nội bộ thì chỉ là phiên bầu cử. Một cuộc bầu cử bình thường như bao cuộc bầu cử dân chủ mà chúng ta đã biết. Mình đã cầm hơn hai chục lá phiếu lên bỏ vào thùng hộ cả các bác già…
Không thể ngờ là hôm 26/12 , Đại hội chính thức trước quan khách của trung ương và các ban ngành trong tỉnh đã diễn ra một màn “hề” ê ẩm. Mặt nhiều hội viên là đại biểu chính thức đã méo đi, ngắn lại vì tiết mục chào mừng của “ Bác Hồ giả Văn Tân”.
Thú thật mình chưa một lần xem cho hết một buổi Văn Tân đóng Bác Hồ. Nay buộc phải xem trực diện thấy nó sái xẩm và tởm lợm quá chừng. Thực ra, Văn Tân đúng là đã bôi nhọ hình ảnh của lãnh tụ. Với một mặt nạ hình nộm hóa trang sơ sài, cẩu thả không có trình độ chuyên môn khiến cái mặt nạ mà Văn Tân đeo vào lại giống một kẻ đần độn hơn là giống Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Khi Văn Tân giơ tay lên giả vờ làm Bác Hồ vẫy vẫy thì cánh tay ấy chỉ như ngọ nguậy ngo ngoe trông yếu đuối, thật yểu và thảm hại làm sao. Tôi đã nhìn hình ảnh "Bác Hồ thật" trên phim tài liệu thấy Bác Hồ khỏe khoắn, tươi tắn,nhanh nhẹn và hoạt bát thần thái sang trọng, trí tuệ chứ đâu ủ rũ, cứng nhắc, vụng về, ngờ ngệch và thộn như người nộm Văn Tân? Giọng nói Bác Hồ do Văn Tân giả giọng cũng the thé và nghẹt trong họng, rụt rà rụt rè như giọng một hoạn quan…
Vậy mà cả hai chi hội hùa theo diễn cùng Văn Tân. Cả chủ tịch hội cũng tươi cười hớn hở đứng lên nhập trò diễn vô cùng lố bịch ấy.
Mình thấy rất nhiều hội viên nhăn mặt, chun mũi và cảm thấy xấu hổ tột độ, xấu hổ đến tê người khi xem cái màn này! 
Ôi! Nghệ thuật thật sự thì muôn năm không thể là trò hề. 
Đúng là: "đứa dại để l... người khôn xấu mặt"

Qủa như nhà thơ Tùng Bách( Hội viên hội nhà văn VN) bạn tôi đã nói: "Trời ạ ! Chả hiểu cái gọi là"Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam" nhắm nhót thế nào ? Cứ theo như choa thì chỉ riêng Cái tội nhại cụ Hồ như Văn Tân suốt 30 năm đáng đánh trăm roi nhân với 1.700 lần ! “



Phần nhận xét hiển thị trên trang