Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2015

NGUYÊN KHÍ (KỲ 13 – KỲ CUỐI)


Hoàng Minh Tường
18. THỌT BỈ NHÂN
Lãm huy nghi học minh dương phượng
Viễn hại chung vi tị dặc hồng…
( Muốn học chim Phượng, thấy ánh sáng, hót khi mặt trời mọc
Cuối cùng phải làm chim Hồng tránh mũi tên để khỏi bị hại.)
(Hoạ hương tiên sinh vận giản chư đồng chí - Ức Trai thi tập - Nguyễn Trãi)
Chủ trang Web “Thọt bỉ nhân” Bùi La Việt có một số phận khá đặc biệt. Cha anh là người Việt, họ Bùi, mẹ anh người Lào. Tên Việt của anh, viết đầy đủ phải là Bùi Lào Việt. Và, tên Lào của anh, Phôn Xikhăm, mang họ mẹ.
Mẹ anh, Phôn Seoly là một thiếu nữ xinh đẹp quê ở Sầm Nưa, con một cán bộ của Mật trận Lào yêu nước. Phôn Seoly được gửi sang học văn hoá ở trường Hữu Nghị đóng ở Sơn Tây, một trường dành riêng cho con em các bộ tộc Lào, nguồn cán bộ cho lực lượng cách mạng. Tốt nghiệp phổ thông trường Hữu Nghị, Phôn Seoly được tuyển vào Đại học Tổng hợp Hà Nội, khoa ngôn ngữ.
Cuối năm 1967, một chiến sỹ quân tình nguyện Việt Nam ở mặt trận Cánh Đồng Chum tên là Bùi Quốc Luận được điều về bổ túc tiếng Lào để tăng cường cho chiến trường Trung Lào đang thời kỳ ác liệt.
Người phụ giảng môn ngôn ngữ Lào cho Bùi Quốc Luận, chính là Phôn Seoly. Đôi trai tài gái sắc Việt – Lào đã bùng nổ mối tình sét đánh. Họ dự định báo cáo tổ chức và hai gia đình để làm lễ cưới. Nhưng cuộc chiến ác liệt đã không cho họ kịp thực hiện dự định. Bùi Quốc Luận có lệnh khẩn cấp phải lên đường trở về chiến trường Trung Lào để giúp bạn thực hiện một nhiệm vụ bí mật trong vùng hậu phương địch. Năm tháng sau, anh đã hy sinh trên đường từ Xiêng Khoảng đi Xavanakhet.
Bùi Quốc Luận mãi mãi không thể biết, khi anh nằm xuống trên nước bạn Lào, thì cậu bé Phôn Xikhăm – Bùi La Việt, tình yêu của anh và Phôn Seoly, chào đời.
Mang dòng máu Việt – Lào, chú bé Phôn Xikhăm có nhiều tố chất thông minh vượt trội. Mười hai năm học phổ thông, cậu đều đứng đầu lớp. Đặc biệt, ngay từ nhỏ cậu đã biết thành thạo tiếng Lào, tiếng Việt và giỏi cả tiếng Trung. Phôn Xikhăm mơ ước sau này trở thành một nhà Trung Quốc học.
Thế rồi, nguyện vọng của Phôn Xikhăm đã trở thành hiện thực: Năm 1987, khi bà Phôn Seoly theo chồng là ngài Xôm Bun sang công tác dài hạn tại Bắc Kinh, Phôn Xi khăm, quốc tịch Lào, là một trong mười hai sinh viên Lào và là sinh viên có bố là người Việt duy nhất được vào học tại Trường Đại học Bắc Kinh.
Những năm đó, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc hầu như bị gián đoạn. Tất cả lưu học sinh Việt Nam, từ năm 1966, đã bị buộc phải về nước do cuộc Đại Cách mạng Văn hoá. Sau cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, quan hệ giữa hai nước ngày càng căng thẳng, các cơ quan, tổ chức văn hoá và kinh tế, thương mại của Việt Nam rút hết về nước. Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh, như một ốc đảo, số nhân viên rút xuống con số tối giản, chỉ có ý nghĩa tượng trưng.
Tuy lấy quốc tịch Lào để được sang Bắc Kinh học, nhưng trong tâm hồn, suy nghĩ, tình cảm của Phôn Xikhăm vẫn thấm đẫm bản sắc Việt. Bởi suốt những năm học phổ thông ở Việt Nam, anh vẫn thường xuyên về thăm bà nội và chú bác họ hàng quê nội ở Suối Yến, Chùa Hương. Bọ Bùi của cha anh, liệt sỹ Bùi Quốc Luận, có cụ tổ là quan Thái bảo Bùi Quốc Hưng thời Lê sơ, đã chính thức nhận Việt, ghi tên Bùi La Việt trong gia phả, ngay từ khi Việt tròn một tuổi được mẹ Phôn Seoly đưa về nhận quê quán, họ hàng.
Người bạn Việt duy nhất của Phôn Xikhăm ở Bắc Kinh lúc đó là Hoàng Nguyên, đại diện cho cơ quan báo chí, văn hoá Việt Nam, nằm trong khu Sứ quán. Hoàng Nguyên vừa là người bạn vong niên vừa là người thầy tiếng Việt và tiếng Hán. Những ngày chủ nhật, ngày lễ, hầu như Phôn Xikhăm đều đến chỗ Hoàng Nguyên, đọc các tin tức trong nước và xem phim. Hầu hết các phim kinh điển nổi tiếng thế giới do các bạn bên Đại sứ quán Liên Xô cho mượn, anh đều xem hết, có phim xem mấy lần.
Phôn Xikhăm thực sự tự hào về Đại học Bắc Kinh, ngôi trường anh theo học. Đây là trường Đại học lớn nhất Trung Hoa, được thành lập từ năm 1898, nơi nhà văn vĩ đại Lỗ Tấn và các nhà văn Lâm Ngữ Đường, Vương Tiểu Ba, Mao Thuẫn…từng giảng dạy, nơi mà truyền thống nhân văn và các giáo lý Phương Đông từng thắp lên những ước mơ hoài bão, hun đúc nên bao nhiêu hiền tài, nguyên khí không chỉ của nước Trung Hoa vĩ đại mà của nhiều nước trên thế giới. Phôn Xikhăm mơ ước lĩnh hội được những tinh hoa học vấn ở đây để sau này cống hiến cho nước Lào, nước Việt.
Rồi, giống như cha mẹ anh, ngay từ đầu năm thứ hai ở Viện nghiên cứu nhân văn, thuộc Đại học Bắc Kinh, Phôn Xikhăm đã có cuộc tình sét đánh với cô nữ sinh cùng lớp Vương Tiểu Mẫn. Cha mẹ nàng là người Hán,vốn sống ở Bắc Kinh. Hồi cách mạng văn hoá, bị quy là trí thức phái hữu, bị đi cải tạo tại vùng đất tận cùng tây nam của tỉnh Vân Nam. Họ đến đó hai năm thì sinh ra nàng. Vì thế nàng trở thành người Lan Thương, nói thành thạo tiếng Thái, tiếng Lào, dễ dàng nói chuyện với Phôn Xikhăm như người đồng hương.
Vương Tiểu Mẫn bảo, cái thị trấn Xisoang Banna ở thượng nguồn sông Lan Thương, tức sông Mê Kông, đoạn bắt nguồn từ Trung Quốc, là một chốn thần tiên đẹp nhất địa cầu. Nàng bảo, nếu thả một chiếc lá, như một lá thư tình, từ bến sông Lan Thương, mấy ngày sau, nếu Phôn Xikhăm đứng ở bờ sông Mê Kông ngoại ô thủ đô Viên Chăn, hoặc mấy ngày sau nữa, nếu anh ở Châu Đốc, chỗ ngã ba sông Tiền, sông Hậu của Việt Nam, anh sẽ nhận được. Nàng hứa, mùa hè tới, nàng sẽ đưa anh về Xisoang Banna thăm bố mẹ, sẽ đi thuyền độc mộc trên sông Lan Thương và ăn món xôi nếp ngải tần thơm nhất trên đời.
Thế rồi xảy ra sự kiện Thiên An Môn, mùa hè năm 1989.
Bây giờ nhớ lại, Bùi La Việt vẫn tưởng như trong mơ. Suốt những ngày hè năm ấy, khi hàng vạn sinh viên Bắc Kinh tham gia lễ tang Tổng Bí thư Hồ Diệu Bang, Bùi La Việt đã theo Vương Tiểu Mẫn có mặt ở quảng trường Thiên An Môn. Ban đầu chỉ là những hoạt động hoàn toàn tự phát, a dua theo phong trào, hay nói đúng hơn là bị dẫn dụ bởi tình yêu của nàng Vương Tiểu Mẫn, nhưng rồi dần dần anh nhận ra mình đã bị cuốn hút bởi những tư tưởng dân chủ do tầng lớp trí thức và giới trẻ Trung Hoa thổi bùng lên. Giữa bạt ngàn những lều vải, lán trại, băng rôn, biểu ngữ chật kín quảng trường Thiên An Môn mênh mông, hàng vạn sinh viên hô vang những khẩu hiệu chống tham nhũng, đòi cải cách, mở cửa, đòi tự do báo chí, tự do lập hội, truyền cho nhau ý thức về tự do, dân chủ, về sứ mạng của trí thức trong thời đại mới, thời đại của nước Trung Hoa vĩ đại hoà đồng trong thế giới hiện đại và thời đại công nghệ toàn cầu. Bùi La Việt sẽ nhớ mãi hình ảnh Tổng Bí thư Triệu Tử Dương, người thay Hồ Diệu Bang, thần tượng của các sinh viên Trung Quốc, cùng Chánh văn phòng Trung ương Đảng, sau này là Thủ tướng Ôn Gia Bảo, cầm loa đi khắp quảng trường đề nghị sinh viên dừng tuyệt thực, cổ vũ sinh viên, khuyên nhủ họ trở về nhà, hứa hẹn với họ sẽ tiến hành những cải cách chính trị cho một nước Trung Hoa mới, có một nền kinh tế thị trường và một nền dân chủ đại nghị.
Sau này, mãi hai mươi năm sau, qua hệ thống internet, Bùi La Việt mới biết rằng, trong mười lăm năm Triệu Tử Dương bị giam lỏng tại gia, người thư ký của ông là Bào Đồng đã bí mật ghi lại những điều ông nói vào một máy ghi âm nhỏ, rồi chuyển ra nước ngoài, in thành một cuốn hồi ký có tựa đề: “ Prisoner of the State” (Người tù của nhà nước). Trong cuốn sách này, độc giả sẽ hiểu, chính Triệu Tử Dương mới là kiến trúc sư cho cải cách kinh tế ở Trung Quốc chứ không phải Đặng Tiểu Bình. Những năm 1970, khi còn là lãnh đạo ở Tứ Xuyên, Triệu Tử Dương đã tiến hành những bước cải cách kinh tế đầu tiên, là mô hình mở cửa cho cả nước Trung Hoa sau này. Ông hoàn toàn đứng về quan điểm cho rằng Trung Quốc cần một chế độ đại nghị như các nước phương Tây. Ông cảnh báo, nếu không cải tổ, Trung Quốc sẽ thành một quốc gia do sự liên kết bè phái giữa Đảng Cộng sản, các nhóm quyền lợi kinh tế và một số trí thức thượng lưu làm chủ. Họ sẽ không chỉ lũng đoạn nền chính trị mà sẽ luôn đặt quyền lợi của tập đoàn lên trên số phận của dân tộc Trung Hoa. Trong bài: “Vì một Chủ nghĩa Xã hội Trung Hoa có bộ mặt người”, ông viết: “ Nếu một quốc gia muốn hiện đại hoá, nó không chỉ phải áp dụng nền kinh tế thị trường, mà nhất thiết phải áp dụng nền dân chủ đại nghị cho hệ thống chính trị. Nếu không, dân tộc đó sẽ không thể nào có được một nền kinh tế thị trường lành mạnh, và cũng không thể trở thành một xã hội hiện đại với nhà nước pháp quyền. Trái lại, nó sẽ rơi vào cảnh của nhiều nước đang phát triển, gồm cả Trung Hoa: Quyền lực bị thương mại hoá, tham nhũng lan tràn, một xã hội phân rẽ giữa người giàu và dân nghèo”.
Chao ôi, con người vĩ đại đó, với những tư tưởng đi trước thời đại, đã bị cầm tù ngay trong những ngày cuộc thảm sát Thiên An Môn xảy ra. Và Phôn Xikhăm – Bùi La Việt cùng Vương Tiểu Mẫn và hàng nghìn sinh viên đã bị xe tăng càn lướt giữa kinh đô của nước Trung Hoa nghìn năm văn hiến. Ngày 4 tháng 6 năm 1989, những chiếc xe tăng của hai quân đoàn 27 và 28 như những hung thần bằng thép đã nghiền nát phong trào dân chủ sinh viên lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Bùi La Việt bị một cú đập như trời giáng vào đầu, bị một vật cứng bẻ gãy cổ chân trái. Anh ngất đi trước khi nghe thấy tiếng thét thất kinh của Vương Tiểu Mẫn và thân hình mảnh mai của nàng bị chiếc xe tăng nghiền nát…
Hơn một năm trời điều trị ở mấy bệnh viện Hà Nội, rồi được một lương y danh tiếng chữa trị, Bùi La Việt mới trở lại được đời thường. Chân trái anh bị tật, đi cà nhắc. Và thật lạ, sau cú va đập“ lịch sử” tưởng vỡ toác đầu ở quảng trường Thiên An Môn ấy, Bùi La Việt bỗng có khả năng nói chuyện với người âm. Anh gặp và trò chuyện với Vương Tiểu Mẫn hằng ngày. Nàng đưa anh về Xisoang Banna tươi đẹp như chốn thần tiên, bơi thuyền độc mộc trên dòng Lan Thương và ăn xôi nếp thơm lừng hương ngải tần. Anh trở thành một nhà ngoại cảm, là thành viên của Dự án “Khảo sát tiềm năng con người”.
***
Sự kiện xảy ra ở đài liệt sỹ đường Bắc Sơn đã tạo cơ hội cho Bùi La Việt nhìn thấy một đoàn người kỳ lạ. Ấy là khi vừa bị bắt lên xe bus, anh bỗng nhìn thấy mấy trăm người, đeo gông, bị dây xích sắt trói thành một xâu dài chắn ngang đầu xe, khiến ông tài xế bấm còi inh ỏi mà xe vẫn không tiến lên được. Bùi La Việt vội lấy điện thoại bấm gọi cho ông Huỳnh Đạo:
- A lô, bác đang ở đâu? Cháu vừa gặp cụ Nguyễn Trãi và cụ Nguyễn Thị Lộ. Họ vừa qua cuộc hành hình…Pháp trường chắc ở gần đây… Đợt này bác cháu mình nhất định sẽ được hầu chuyện hai cụ…
Đang nói thì có ai đó giật chiếc máy điện thoại. Ở đầu máy bên kia, ông Huỳnh Đạo nhìn như hút vào chiếc máy, không hiểu có chuyện gì xảy ra với “Thọt bỉ nhân”.
Đêm ấy, một giấc mơ kinh hoàng bỗng làm nhà sử học Huỳnh Đạo kêu thét lên, vục dậy khỏi giường.
Ông mơ thấy một đoàn đông tới hơn trăm người, ai cũng bị cụt đầu, máu phun thành bọt ở cổ, máu nhuộm đỏ bầm những bộ quần áo vốn màu trắng tinh khiết. Họ dựa vào nhau xiêu vẹo, dắt díu nhau đi ngang qua kinh thành. Từ đám đông hai bên đường họ đi, những tiếng hô, tiếng thét khản đặc: “ Triều đình dã man. Ức Trai Tiên sinh và Lễ nghi Học sĩ vô tội”.
Ông Huỳnh Đạo ôm mặt, khóc hu hu. Ông tưởng như người ta vừa mới hành hình Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ.
Kỳ lạ, sao giấc mơ giống hệt những điều Bùi La Việt báo qua điện thoại cho ông hôm qua. Từ ngày tham gia “Nguyễn Trãi Club”, ông Huỳnh Đạo hay mơ thấy Ức Trai tiên sinh. Nhưng là một Nguyễn Trãi đội mũ cánh chuồn, mặc triều phục, đi hia, như bức tranh người xưa truyền lại còn lưu giữ ở nhà thờ Nhị Khê. Hồi ông tổ chức xây đền và dựng tượng Đức bà Nguyễn Thị Lộ ở làng Hới, Hưng Hà, Thái Bình, ông mơ thấy có người nói bên tai: Tượng cao 2,71 mét, bệ tượng cao 1,8 mét nhé. Và ông nói với nhà điêu khắc làm tượng theo đúng kích cỡ ấy. Từ ngày quen biết Bùi La Việt, lại biết khả năng ngoại cảm của anh, nhiều lần, ông cùng Việt và bạn bè cất công đi tìm mộ Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ. Nhưng đều vô vọng. Bùi La Việt gặp và nói chuyện với rất nhiều người âm, nhưng phần lớn là những liệt sỹ chống Pháp, chống Mỹ và đã giúp nhiều gia đình tìm thấy hài cốt của họ, nhưng riêng với Ức Trai và bà Lộ, thì chưa bao giờ anh được hầu chuyện, ngoài một giấc mơ gặp Nguyễn Trãi ở cầu Vân gần làng Nhị Khê. Gần đây một nhà ngoại cảm nữ cho biết: Sau khi bị xử trảm, toàn gia Nguyễn Trãi đều bị chôn chung một hố, ngay sau pháp trường. Địa điểm pháp trường thời Lê Sơ, có thể nằm ở khu vực Ô Chợ Dừa ngày nay. Tất nhiên ngôi mộ tập thể ấy bây giờ đã bị phố xá nhà cửa xây trùm lấp. Riêng hai bộ thủ cấp của hai cụ bị Thái hậu Nguyễn Thị Anh cho cắm lên cọc tre, bêu trước cổng thành phía nam để uy hiếp dân chúng. Các môn sinh của Nguyễn Trãi cầu xin được đem thủ cấp thầy đi chôn. Có nguồn tin, hai bộ thủ cấp được cho vào một túi vải, bí mật mang về chôn ở gốc cây vải tổ trong Lệ Chi Viên.
Ý định phải tổ chức một lễ Bạt độ cầu siêu cho vợ chồng Ức Trai Tiên sinh và ba họ đến bây giờ là không thể chậm trễ hơn được. Chủ nhiệm Huỳnh Đạo bấm máy, gọi cho Đỗ Chí Cao:
- Hôm qua các cậu sang Lộc Hà có được việc không?
Tiếng Cao vang lên trong máy:
- Dạ, em và Ngô Tháp cùng mấy chục anh em kéo nhau lên đứng chật cổng trại. Họ không có lý do gì để giam giữ người yêu nước. Lần lượt mọi người được thả. Nhưng riêng Bùi La Việt thì phải đến chiều tối mới được ra. Họ bảo, trang Web “Thọt bỉ nhân” nếu đưa tin này lên mạng thì sẽ bị đóng cửa.
- Thôi, “Thọt bỉ nhân” vẫn chưa bị “ nhập kho”, thế là tốt rồi. Tôi sẽ gọi cho Việt ngay bây giờ. Kế hoạch chúng ta đã bàn, không có gì thay đổi. Trưa nay tôi xuống Trại Vải trước để cùng các vị dưới đó chuẩn bị hành lễ. Mai hai chú lấy xe đưa Bùi La Việt xuống nhé.
Lễ cầu siêu bạt độ là một đại lễ siêu thoát cho hương linh. Đạo Phật quan niệm, khi chết đi linh hồn con người vẫn quẩn quanh nơi họ sống. Người càng nhiều tội lỗi, hay người bị nhiều oan ức, nếu không cầu Địa Tạng vương Bồ tát và các đồng môn của đức Phật tẩy trần và dẫn độ, sẽ không đi qua được âm phủ, không được siêu thoát, không tới được cõi Niết bàn. Giấc mơ của ông Huỳnh Đạo càng cho ông khẳng định nỗi oan tày trời suốt gần sáu trăm năm qua của hai cụ Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ. Cho nên, một lễ Bạt độ tổ chức quy mô, bài bản, do mười hai vị đại đức chư tăng tên tuổi từ Huế, Đà Nẵng ra, từ Chùa Hương, Yên Tử đến, khiến ông chủ nhiệm “Nguyễn Trãi Club” phần nào thanh thản về mặt tâm linh.
Nhưng để chính những người trong cuộc nói về nỗi oan khuất, về sự thật của vụ thảm án Lệ Chi Viên, thì không ai có khả năng đối thoại với những người âm, ngoài “Thọt bỉ nhân” Bùi La Việt. Sau vụ giúp họ Bùi và làng gốm Chu Đậu tìm thấy mộ và thân thế sự nghiệp tượng nhân Bùi Thị Hý, uy tín của Bùi La Việt trong giới ngoại cảm càng tăng. Vả lại, chính Bùi La Việt vừa nhìn thấy hai cụ và họ hàng kéo nhau qua kinh thành, tức là khả năng có cuộc gặp sắp tới là rất cao. Ông Huỳnh Đạo, và nhất là hai nhà văn hoá Ngô Tháp và Đỗ Chí Cao, cùng các vị trong Ban chủ nhiêm “Nguyễn Trãi Club” hy vọng cuộc gọi hồn này, nếu thành công sẽ được viết riêng thành một chương phụ lục để in trong cuốn “Long Thành tạp ký” sắp xuất bản.
***
Đêm ấy là một đêm Liêu Trai.
Khu đền thờ quan Lễ nghi Học sĩ tại Lệ Chi Viên nằm giữa cánh đồng, lưng dựa vào triền đê sông Đuống, tức sông Thiên Đức ngày xưa, sáng trưng đèn nến, nghi ngút khói hương. Đền mới được nhân dân địa phương cùng các nhà hảo tâm và “Nguyễn Trãi Club” xây dựng trên nền hành cung thời Lý, Trần, Lê. Tại gian chính điện được phối thờ hai ngài: Ức Trai tiên sinh và Lễ nghi Học sĩ. Trước đền là một sân rộng, phía bên phải, trên gò đất cao, pho tượng Đức Bà bằng đá trắng dưới vòm cây cổ thụ, phía bên trái là Giọt lệ Lệ Chi Viên bằng đá đỏ nguyên khối, như đang rỉ máu.
Cuộc lễ hầu đồng đặc biệt, kết hợp mời đồng và ngoại cảm tâm linh, được tiến hành tại chính điện thờ Đức bà Nguyễn Thị Lộ, ngay sau lễ cầu siêu bạt độ.
Kính cẩn trước ban thờ Ức Trai tiên sinh và Lễ nghi Học sĩ, “Thọt bỉ nhân” Bùi La Việt, áo dài the lam, quần trắng, khăn xếp đen, đứng vai chủ lễ. Từ ba ngày nay, Bùi La Việt tắt nguồn điện thoại, sửa mình, ăn chay, toàn tâm cho cuộc lễ tối linh này. Từ ngày biết mình có khả năng ngoại cảm, anh luôn thành tâm muốn được kiến diện hai danh nhân văn hoá vĩ đại của nước Việt. Trợ giúp anh tối nay là hai Thanh đồng, hội viên Hiệp hội UNESCO vùng Đông Bắc, Nguyễn Bích Hà và Đào Cảnh.
Khung cảnh diễn xướng lễ hội, chen không khí tâm linh với khói hương nghi ngút, cờ quạt, mũ áo rực rỡ. Dàn nhạc cung văn bỗng rộn rã. Điệu chầu văn trong vắt vút lên:
“ Triền sông gió cuốn rung cây
Sóng im cá lặn chim bay về ngàn
Canh khuya nguyệt lặn sao tàn
Lệ Chi Viên chốn linh đàn là đây
Hồn thiêng còn tỉnh hay say
Í i ì…….. i a à a a…
Hồn thiêng còn tỉnh hay say
Bể đời oan trái biết ngày nào vơi
Thỉnh cầu Thánh mẫu cao vời…
Giá đồng thứ nhất.
Thanh đồng Nguyễn Bích Hà trong bộ lễ phục màu trắng, áo dài cổ cao, thêu hoa văn kim tuyến, đầu đội mũ vành dây màu trắng, có giắt kim thoa, trâm ngọc.
Bùi La Việt thắp hương, dâng sớ khấn mời quan Lễ nghi Học sĩ Nguyễn Thị Lộ về nhập đồng.
Thanh đồng Nguyễn Bích Hà được hai hầu dâng, cũng quần áo trắng, ngồi hầu hai bên, giúp trùm khăn phủ diện nhiễu đỏ. Thanh đồng lảo đảo chờ đồng giáng, một tay cầm hương, một tay cầm quạt, bước những vũ điệu đầu tiên trong tiếng đàn đáy, tiếng nhị, tiếng trống, phách, sinh tiền rộn rã. Những vũ điệu ban đầu khoan thai, mê hoặc, rồi nhanh dần, bốc lửa, dồn dập.
“Thỉnh cầu Thánh mẫu cao vời…
Lễ nghi Học sĩ một đời thanh cao
Vì chưng vướng nạn ba đào
Bị loài ma quỉ ghép vào khi quân
Nỗi oan thấu tận trời xanh…”
Hết điệu chầu văn tiếp dẫn, thanh đồng lảo đảo vì nhảy múa quá sức. Vẫn không có tín hiệu Lễ nghi Học sĩ giáng đồng.
Giá đồng thứ hai.
Thanh đồng Đào Cảnh trong bộ lễ phục màu vàng, áo hoàng bào, hoa văn thêu kim tuyến, đầu vấn khăn xếp vàng, ngồi đồng.
Bùi La Việt thắp hương, dâng sớ khấn mời quan Thừa chỉ Hành khiển Nguyễn Trãi về nhập đồng.
Chiếc khăn phủ diện nhiễu đỏ được hai hầu dâng trùm qua đầu thanh đồng Đào Cảnh.
Lại những điệu múa cờ, múa bút uyển chuyển theo lời hát. Rồi mỗi lúc một dồn dập, bốc lửa.
Nhưng vẫn không có tín hiệu Ức Trai tiên sinh về nhập đồng.
***
Trong khi lễ hầu đồng vẫn tiếp diễn với các giá đông chúa Mẫu thượng ngàn, ông Hoàng Bẩy, Hoàng Mười… thì Ngô Tháp và Đỗ Chí Cao kéo ông Huỳnh Đạo, ông “Bôxít”, ông “ Lỗi hệ thống”, ông “Tiên Lãng”… ra ngoài khu tượng đài Đức Bà. Đó là một pho tượng toàn thân bằng đá hoa cương trắng, tạc quan Lễ nghi Học sĩ ngồi trên đài hoa, tay phải cầm bút, tay trái đặt trên lòng, cầm quyển sách mở, dáng bà thanh cao đài các toát lên vẻ đẹp đôn hậu, tài đức vẹn toàn.
Mấy người cùng thắp hương cầu khấn hồi lâu. Ông “Quá độ” nói:
- Có thể do chúng ta làm chưa nghiêm cẩn, nên Ức Trai tiên sinh và Lễ nghi Học sĩ không về giáng đồng.
Ông Cao trầm ngâm:
- Tôi rất chịu khó nghiên cứu tâm linh, nhưng chưa thấy cụ Nguyễn Trãi nhà mình hiển linh bao giờ. Có lẽ nỗi oan quá lớn. Cụ quá hận…
Ông “ Bôxit” nói:
- Cũng có thể hai cụ không thể về khi mà thân xác còn bị chia lìa nhiều nơi…Những người chết không toàn thây, khi liệm, người nhà phải tìm bằng được các bộ phận đã tách rời.
Ông Huỳnh Đạo tư lự :
- Hồi tìm thấy cái cũi gỗ lim dưới ao thôn Khuyến Lương, chúng tôi cứ nghĩ xác hai cụ đã được dân mang về chôn ở trang Cổ Mai…Nhưng sau có nguồn tin lại nói thủ cấp hai cụ được môn sinh đem về chôn giấu ở Lệ Chi Viên…
Ông “Tiên Lãng” tỏ ra là một chuyên gia về đất đai:
- Sáu trăm năm…tất cả đều thành cát bụi, thành các hạt sóng. Chôn ở đâu thì cũng bay tứ tán trong không trung…
- “Thọt bỉ nhân” có vẻ rất mệt mỏi - Ông “ Lỗi hệ thống” nói - Cậu ta làm việc nhiều quá, mất khả năng ngoại cảm. Có khi mất sóng vì vụ nhập trại Lộc Hà. Các vị nên để Việt nghỉ cho lại sức.
Cả Cao và Thấp cùng đồng tình. Thấp mở bao ba số mời mọi người.
- Phải đấy. Ta đành đợi dịp khác. Bây giờ con đề nghị bố chủ nhiệm vào tuyên bố với hội hầu đồng, rồi ta giải tán. Em và bác Cao sẽ tháp tùng các bố và đoàn hầu đồng về khách sạn phố huyện. Phải đánh một giấc cho lại sức các bố ạ.
***
Quá nửa đêm. Lệ Chi Viên lại trở về với sự u tịch thâm nghiêm thường ngày.Tiếng côn trùng cùng đồng thanh tấu lên bản nhạc muôn thuở. Gió sông Đuống thổi phần phật ngọn cờ đại giữa sân, chạy lao xao trên mái ngói, rì rào trên ngọn bồ đề, trên những vòm vải đang mùa thay lá.
Bùi La Việt vừa đặt mình đã chìm vào giấc ngủ sâu. Một giấc ngủ đủ lấy lại sinh lực sau mấy ngày đầy biến cố. Phía tấm phản bên cạnh, ông Huỳnh Đạo ngáy như sấm, hệt như một ông thợ cày sau một buổi làm đồng.
Có một bàn tay mịn mát đặt nhẹ lên vai Việt. Rồi hương thơm thoang thoảng toả ra từ mái tóc con gái phả vào mặt anh, mùi hương của hoa ngải tần không thể lẫn được.
- Em đây. Vương Tiểu Mẫn đây…
- Anh đã nhận ra mùi hương ngải tần…
- Em rất hạnh phúc khi anh vẫn yêu em như ngày ấy… Này, hình như có ai đang muốn gặp anh ở ngoài kia…
- Vương Tiểu Mẫn…em đừng đi. Anh muốn chỉ có hai đứa mình …
Việt chới với nắm lấy bàn tay nàng.
Và anh choàng mở mắt. Bàng hoàng.
Như một thông điệp ngầm, mỗi lần mơ thấy Vương Tiểu Mẫn, là một lần nàng mách bảo anh một điều gì. Việt nhẹ nhàng vòng sau tấm phản để khỏi ảnh hưởng giấc ngủ của ông Huỳnh Đạo, rồi đi theo mùi hương ngải tần dẫn dụ. Tiểu Mẫn muốn đưa anh ra chỗ tượng Đức Bà.
Như có phản xạ tâm linh mách bảo, sau khi thắp hương cầu khấn trước tượng Đức Bà, Bùi La Việt đi lại chỗ miếu thổ thần, dưới gốc xà cừ. Anh ngồi thế kiết già, nhắm mắt, hoàn toàn chìm vào vô thức.
Chếch phía tay trái, chỗ gò đất cao, một ông già thấp nhỏ, râu thưa, đầu đội mũ cánh chuồn bằng sa đen, vận bộ lễ phục gấm lục đã cũ, chân dận hài cỏ, lững thững đi lại.
Hình như tiếng gió đánh thức “Thọt bỉ nhân”. Anh vừa đặt mình đã chìm vào giấc ngủ sâu. Một giấc ngủ đủ lấy lại sinh lực sau mấy ngày đầy biến cố.
Việt trở dậy, cố nhẹ nhàng để khỏi ảnh hưởng giấc ngủ của ông Huỳnh Đạo. Anh vươn vai hít một hơi thở sâu và đi ra chỗ tượng đài Đức Bà.
Rõ ràng, lúc xe chở Bùi La Việt trên đường sang Lộc Hà, anh đã nhìn thấy hai cụ Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ cùng đoàn tử tù. Từ hôm ấy, Việt luôn hướng dòng tìm kiếm hai cụ, mà sao vẫn bặt vô âm tín.
Như có phản xạ tâm linh mach bảo, sau khi thắp hương tượng Đức Bà, Bùi La Việt đi lại chỗ miếu thổ thần, dưới gốc xà cừ. Anh thắp hương và ngồi thế kiết già, nhắm mắt, hoàn toàn chìm vào vô thức.
Từ chếch phía tay trái, chỗ gò đất cao, Bùi La Việt nhận ra một ông già thấp nhỏ, râu thưa, đầu đội mũ cánh chuồn bằng sa đen, vận bộ lễ phục gấm lục đã cũ, chân dận hài cỏ.
Bùi La Việt chắp hai tay trước ngực, cung kính:
- Bẩm, ngài là Thổ thần Lệ Chi Viên?
- Đúng vậy. Ta là Phạm Mỗ…, quan sở tại trông coi hành cung này từ thời đức vua Lê Thái Tổ…
- Vậy thì chúng con đã tìm đúng người rồi. Thưa Thổ quan. Con là Bùi La Việt, biệt danh là “Thọt bỉ nhân”, cùng mọi người có mặt hôm nay, là những con dân nước Việt vô cùng kính yêu và ngưỡng vọng Ức Trai tiên sinh và quan Lễ nghi Học sĩ Nguyễn Thị Lộ. Vì cái chết oan khuất của hai cụ và lương dân ba họ, chúng con tổ chức lễ cầu siêu và muốn được giải nỗi oan cho người xưa. Nay được vinh hạnh hầu chuyện quan Thổ địa, người cai quản hành cung Lệ Chi Viên, và từng chứng kiến cái chết bí ẩn của vua Lê Thái Tông cùng nỗi oan khuất tày trời của Lễ nghi Học sỹ. Nay ngài cho chúng con hỏi: Có phải thủ cấp hai quan ngài đã được các môn đệ mang về an táng tại nơi đây?
- Nhầm rồi. Ta chưa hề có vinh hạnh được gặp hai quan ngài tại bản sở của ta kể từ vụ đức vua Thái Tông băng hà.
- Vậy ngài chắc biết rõ cái chết của nhà vua? Xin ngài hãy kể lại cho hậu thế nghe…
- Chuyện dài lắm…Đức vua chết trẻ, nên ngài rất thiêng. Thỉnh thoảng ngài vẫn dẫn quan binh rầm rập về đây, đòi xử tội đứa đã giết vua…
- Chắc không phải là quan Lễ nghi Học sĩ, thưa Thổ quan.
- Không đời nào có chuyện đó. Hoàng hậu vu hoạ cho Đức Bà… Ta biết cả, nhưng cứ phải ngậm bồ hòn suốt mấy trăm năm, bây giờ thì ta nói hết. Các vị có biết Quốc cữu Nguyễn Phù Lỗ không? Ông ta cùng với Lương Đăng, Tạ Thanh theo lệnh Hoàng hậu bày đặt ra cuộc mưu sát này. Nghe nói ban đầu Hoàng hậu chỉ muốn ngăn không cho quan Thừa chỉ Hành khiển về triều thôi. Nhưng đến khi nhà vua về Côn Sơn, gặp Nguyễn Trãi và quyết mời bằng được ngài về triều vào ngày giỗ vua Lê Thái Tổ, thì tình thế hoàn toàn thay đổi. Nhà vua đã biết chắc chắn Bang Cơ không phải là con của ngài. Trước đó các vị có biết nhà vua đi duyệt thuỷ quân ở bến đò Rừng và ngài đã gặp Tiệp dư Ngọc Dao và Hoàng tử Lê Tư Thành không? Cuộc gặp đó mới thật nguy hiểm, đẩy quan Thừa chỉ và quan Lễ nghi Học sĩ đến chỗ chết. Khi Tạ Thanh cho người phi ngựa lưu tinh về triều mật báo với Hoàng hậu cuộc gặp gỡ ở bến đò Rừng ấy, Nguyễn Thị Anh lập tức quyết định hạ độc cả ba người: đức vua và vợ chồng ngài Nguyễn Trãi. Nếu để nhà vua sống, chắc chắn ngài sẽ giết Hoàng hậu và Bang Cơ. Vì Bang Cơ, theo những chứng cứ của tẩm cung và lời đồn đại trong dân chúng, không phải là con ngài. Sổ sách ghi chép ngày giờ nhà vua ngự dâm với Hoàng hậu, hai hoạn quan Đinh Thắng, Đinh Phúc đã viết rành rành. Trong thời gian hai quan hoạn họ Đinh theo vua đi kinh lý Chí Linh, Hoàng hậu đã cho thám tử đột nhập phòng hai ông và lấy được quyển sổ ghi chép ấy. Hoàng hậu biết, chỉ sau đợt kinh lý miền Đông và đợi Nguyễn Trãi về triều, đức vua sẽ xử tội mẹ con bà, rất có thể sẽ tàn bạo hơn đã xử với mẹ con bà Dương Thị Bí, Nghi Dân.
- Dạ thưa Thổ quan, vậy sao sử thần Ngô Sỹ Liên lại viết trong “Đại Việt sử ký toàn thư” là “ Vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng…”?
- Đó là cái chỗ hèn của sử gia và dã tâm thâm độc của Thái hậu. Các vị có nhìn thấy dãy hành cung đằng kia không? Đấy, chỗ bây giờ đặt bức tượng Giọt lệ ấy. Bên cạnh tẩm điện nhà vua là phòng nghỉ của Tổng quản Hành quân Thái uý Trịnh Khả. Vua đi đâu, ngồi đâu, quan Thái uý không dời một bước. Vậy mà khi Nguyễn Phù Lỗ đến tiền trạm, ông ta đã tự ý thay phòng nghỉ của quan Thái uý, tự ý xếp quan Lễ nghi Học sĩ vào nghỉ tại phòng đó. Sắp xếp như thế vừa có dã tâm đẩy quan Tổng quản Hành quân ra xa vua để dễ bề tiến độc, vừa buộc Đức Bà phải gần vua để dễ bề vu cáo. Ta nhớ rất rõ, khi quan Lễ nghi Học sĩ đã khéo léo từ chối không ở biệt phòng đó, mà cứ nằng nặc đòi được ở chung với các cung nữ, thì cả hai vị Nguyễn Phù Lỗ, Tạ Thanh đều nói rằng, đó là ân điển của Vua ban. Tưởng quan Thừa chỉ Hành khiển cùng về dịp này, nên Viện nội mật đã bố trí biệt phòng cạnh vua cho hai người. Chớ nên thay đổi mà phật ý Hoàng thượng. Biết ý định ấy, nhà vua còn khen Tạ Thanh: “ Các ngươi biết nghĩ vậy ta cũng thấy mát dạ. Tối nay ta cũng có câu chuyện muốn đàm đạo với quan Lễ nghi Học sĩ”.
- Thưa Thổ quan, nghe nói đức vua bị cảm mạo từ buổi trưa, lúc thuyền ngự vào sông Thiên Đức?
- Đúng là đức vua khó ở và gai sốt từ lúc thuyền ngự qua mộ Bạch Sư ở cầu Bông. Suốt một tuần kinh lý, duyệt đại quân, rồi thống lĩnh ba quân tập thuỷ trận ở cửa Bạch Đằng, ngọc thể nhà vua có phần giảm sút. Người gắng vui và còn dự tiệc mừng của bản dân sở tại, ban ngự tửu cho quan quân. Tối ấy, bốn thượng quan ngự y của triều đình và hàng chục cung tần do Quốc cữu phái xuống thay nhau thuốc thang, túc trực. Riêng Thái uý Trịnh Khả thì hầu như không dời Hoàng thượng lúc nào…
- Dạ, ngài tin là lúc nào quan Thái uý cũng ở bên đức vua?
- Sao ta lại nhầm lẫn được? Nhưng có điều này, ta thấy nghi ngờ. Ấy là khi quan ngự y cho nhà vua uống thuốc xong, ngài bỗng nôn thốc nôn tháo, đi không vững. Chính quan Thái uý phải dìu ngài ra phòng hậu tẩm. Rồi ngài kêu mệt, nằm thiếp trên long sàng. Khi ấy chỉ có hai viên ngự y, sáu thị nữ và quan Tổng quản Hành quân đứng túc trực…
- Và cả quan Lễ nghi Học sĩ nữa?
- Không. Lúc ấy Đức Bà đã về phòng mình. Có lẽ ngài đã chuẩn bị đi ngủ. Chợt ta thấy bóng Tạ Thanh và Nguyễn Phù Lỗ. Hai ông thì thầm với nhau một lúc, rồi thấy Tạ Thanh rón rén đi vào bẩm với nhà vua điều gì. Vua gật đầu, gượng dậy đi ra võng nằm. Nội quan vội sang gõ cửa phòng Đức Bà. Một lúc, thì ngài choàng áo đi sang. Thấy Đức Bà, gương mặt nhà vua bừng sáng lên. Nhà vua gắng gượng ngồi trên võng, ra hiệu cho mọi người lui, rồi hỏi chuyện quan Lễ nghi Học sĩ. Đức Bà kéo ghế ngồi bên võng hầu chuyện vua. Ta thấy nhà vua chăm chú lắng nghe, như một đứa trẻ nằm nghe mẹ kể chuyện cổ tích. Rồi ngài thiếp đi lúc nào… Đến khi Đức Bà hỏi lại, thấy nhà vua im lặng, thì hoảng sợ quá, kêu thất thanh…
- Thưa Thổ quan. Ngài có biết nhà vua và bà Lộ nói những câu chuyện gì?
- Ta nghe loáng thoáng về chuyện quan Thừa chỉ Hành khiển sắp về triều. Về bộ “Quôc triều Hình luật” mà Nguyễn Trãi mới soạn xong. Và có điều này, lúc ấy hai người nói nhỏ lắm, nhưng ta nghe rất rõ. Nhà vua hỏi: Có chuyện này ta vẫn nghi ngờ từ lâu, quan Lễ nghi Học sĩ chớ có giấu ta. Có đúng là Bang Cơ không phải con của ta không? Đức Bà biến sắc mặt, nói lảng sang chuyện khác. Ta thấy vua đấm ngực kêu đau… Rồi bất ngờ nhà vua gọi Mẹ, hỏi quan Lễ nghi Học sĩ về mẹ ngài là Cung từ Hoàng thái hậu Phạm Thị Ngọc Trần, về cái chết của bà…Quan Lễ nghi Học sĩ kể đến đó thì nhà vua ôm mặt khóc nấc lên: “Mẹ ơi!”… Thế rồi suốt từ đấy, đức vua lặng đi, không bao giờ nói nữa…
- Những điều ngài nói thực vô cùng hệ trọng. Lần đầu tiên, sau gần sáu trăm năm, sự thật lịch sử này mới được hé lộ. Lớp hậu sinh chúng con xin vô cùng cảm ơn ngài. Nhưng có điều này xin được mạn phép thỉnh cầu. Ngài đã giúp chúng con thì giúp cho chót…
- Còn điều gì nữa ông cứ nói. Chính ta mới phải cám ơn hậu thế các vị... Ta mang tiếng là kẻ công bộc trông coi đất này mà suốt mấy trăm năm như kẻ vô tích sự, như lão già lẩm cẩm bị lãng quên. Giờ được hỏi han đến, ta như được sống lại.
- Dạ, phiền Thổ quan thỉnh cầu cho chúng con được kiến diện đức vua Lê Thái Tông…
- Ồ, sao không nói từ nãy? Đức vua là một người trẻ tuổi, anh minh. Ngài vừa đi ngang qua đây. Để ta thỉnh ngài cho các vị gặp nhé.
***
Ông Huỳnh Đạo nhìn quanh, không thấy “Thọt bỉ nhân” đâu, hoảng quá, định kêu lên. Nhưng rồi mùi hương trầm thơm ngát từ phía miếu Thổ thần, khiến ông định thần nhìn ra. “Thọt bỉ nhân” như một đạo sĩ đang ngồi bất động. Ông biết, Việt đã tiếp cận được với người âm.
Chính lúc ấy, vua Lê Thái Tông đang đi về phía “Thọt bỉ nhân”.
Ngài khoan thai, thanh thoát, đôi mắt tinh anh sáng rực, tiếng ngân như chuông:
- Ta chờ đợi ngày này lâu lắm rồi. Chính ta mới là người bị oan ức nhất. Oan mà không ai hiểu cho ta. Không ai nói và viết giúp ta, thanh minh cho ta.
“Thọt bỉ nhân” khoanh tay, kính cẩn:
- Thưa Hoàng thượng, Người oan ức gì? Có phải Người bị tiến độc?
- Vậy ta chết vì nỗi gì? Ta đường đường là một đấng thiên tử, vào tuổi hai mươi sức trẻ tràn đầy, vừa ba lần cầm quân đi tiễu bọn man di quấy nhiễu biên viễn,vừa tập thuỷ trận trên cửa Bạch Đằng, sao ta lại có thể chết bất đắc kỳ tử được? Sao các ngươi lại tin vào ba dòng chữ vớ vẩn của tên thư lại bồi bút Ngô Sỹ Liên? Hắn vu cho ta chết trên bụng quan Lễ nghi Học sĩ, tức là ta ngủ với bà và bị phạm phòng? Ha ha ha…Đồ đểu. Đồ vô liêm sỉ. Mang danh kẻ sĩ, học chữ thánh hiến, sao lại có thể viết càn rỡ đến như thế?
- Xin Hoàng thượng bớt giận. Hình như trong “Tam triều bản kỷ” Tiến sĩ Ngô Sỹ Liên viết khác? Cuốn sách này có thể đã bị triều đình kiểm duyệt phế bỏ, hoặc bị chính tác giả tự tiêu huỷ? Có lẽ sử gia Ngô Sỹ Liên quá bị áp lực của Thái hậu mà phải bẻ cong ngòi bút? Kẻ sĩ thực khó mà giữ được ngay thẳng trong một chế độ độc tài.
- Ngươi nói chí lý. Bọn tiến sĩ khai khoa mấy chục tên đi theo ta xuống Côn Sơn khi ấy đều sợ hãi, khiếp đảm, mặt xanh như đít nhái, có kẻ khi bị Thái hậu hỏi đến sợ vãi đái ra quần. Đến như Tổng quản Hành quân Thái uý Trịnh Khả, võ quan đầu triều, thân tín số một của ta, định tâu rằng ta bị ngộ độc, liền bị ả ta cho tay chân là bọn Lương Đăng, Tạ Thanh, Nguyễn Phù Lỗ, bày trò cách ly thẩm vấn ông ta trong cung Hoa Dương, rồi doạ vu cho ông ta đã thông đồng với Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ, gây ra cái chết của ta. Một người dọc ngang trời đất, cưỡi voi tả xung hữu đột giữa vạn quân Ngô, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, vậy mà trước Nguyễn Thị Anh đành phải khuất phục. Bịt được miệng Trịnh Khả, Trịnh Khắc Phục, thì bọn kẻ sĩ Long Thành chỉ là tôm tép, dòi bọ.Thị Anh giả vờ thương tiếc ta để thoả sức giết người diệt khẩu. Anh em Đinh Thắng, Đinh Phúc bị chết sau án tru di của Nguyễn Trãi 23 ngày…
- Thưa đức vua, hậu thế vẫn chưa biết gì về Thái hậu Nguyễn Thị Anh…
- Ta chưa thấy trên đời có người đàn bà nào quái kiệt như ả…Đát Kỷ, Võ Tắc Thiên bên Tàu cũng chỉ đến thế là cùng. Ngay lần gặp đầu tiên ta đã bị Nguyễn Thị Anh hút hết hồn vía. Ta trở thành tôi đòi của ái tình. Ả ta xoá nhoà hết bọn Huệ phi Nhật Lệ, Hoàng hậu Dương Thị Bí, Tiệp dư Ngọc Dao và hàng trăm mỹ nữ cung tần. Ả ta là nàng tiên và con quỷ trên long sàng. Mỗi lần ngự dâm với ả là một lần ta đến một cõi thiên thai khác lạ. Ta mê muội ả đến mức, khi ả ngỏ ý đòi cho Bang Cơ lên ngôi Đông cung Thái tử, ta liền phế truất ngôi của Dương Thị Bí và Nghi Dân ngay không cần suy tính…Mụ như phù thuỷ, sai khiến ta bất cứ việc gì.
- Và nhà vua đã mắc mưu gian…
- Ta thật là đáng thương… Thấp mưu thua trí đàn bà… Biết chuyện hoang thai, trò gian dâm sắp bị lộ, Nguyễn Thị Anh đã không chần chừ, quyết ra tay hạ độc ta. Ác độc hơn, ả giết ta nhưng lại mượn cái chết của ta để giết luôn cả Ức Trai tiên sinh và Lễ nghi Học sĩ. Đây là tội ác khủng khiếp với cả trăm họ. Bôi đen lịch sử, thoá mạ lịch sử, mức độ tàn ác ấy còn tăng gấp nhiều lần. Nó ngấm ngầm huỷ hoại hậu thế. Với quan Lễ nghi Học sĩ, người vợ yêu của Ức Trai tiên sinh, thì đây là sự sỉ nhục tàn độc nhất. Quan Thừa chỉ Hành Khiển là người thầy vĩ đại của ta, điều này hiển nhiên rồi. Quan Lễ nghi Học sĩ cũng là sư phụ đáng kính của ta, người mà trong thâm tâm ta lúc nào cũng coi như mẹ đẻ của mình. Xúc phạm đến bà là xúc phạm đến mẹ ta, đến tất cả những người mẹ Việt. Còn ta, sử quan các ngươi còn nợ ta một lời xin lỗi. Ta đường đường là một vị vua trẻ tuổi, được đức Tiên đế cha ta giao cho những đại sư phụ bậc nhất nước Việt, về võ thì có các đại tướng Nguyễn Xí, Trịnh Khả, Đinh Liệt…, về văn thì có Ức Trai tiên sinh, Chuyết Am tiên sinh, Cúc Pha tiên sinh, Mặc Hiên tiên sinh…(1), những võ tướng, danh thần tiếng tăm lừng lấy, chỉ nhắc đến, giặc Minh đã kinh hồn khiếp đảm.
Tuổi ấu thơ ta được nuông chiều, ta chơi bời, lêu lổng, dại dột, nhưng càng lớn ta càng biết nghĩ, biết liêm sỉ, chứ đâu phải phường dê chó để mà bị phạm phòng trên bụng người đáng tuổi mẹ mình? Vậy mà bọn văn sĩ các ngươi nhiều kẻ còn khoái trá, bệnh hoạn, khai thác cái đêm cuối cùng của ta, viết về cái chết của ta như một cuộc hoan lạc bẩn thỉu và bỉ ổi nhất. Chao ôi, các ngươi thừa biết ta có hàng trăm mỹ nữ cung tần. Mới chớm tuổi mười sáu, triều đình đã ép ta lấy vợ, rồi lấy liền trong ba năm tới bẩy cô nường. Ha ha…Ta có thể lấy nữa, thậm chí cả trăm vợ. Ta thiếu gì đàn bà để tiêu khiển, hà cớ gì tên sử nô kia lại vu cho ta ngủ với một người đáng kính như quan Lễ nghi Học sĩ, vợ của đại sư phụ ta, ở một hành cung sơ sài, trước hàng nghìn con mắt của văn võ bá quan triều đình đang dõi nhìn vào? Hả? Ai dựng lên câu chuyện tày đình này? Ai bịa tạc ra câu chuyện rắn báo oán, vu cho quan Lễ nghi Học sĩ là xà tinh, vì thù Nguyễn Phi Khanh mà hãm hại Ức Trai? Chính Nguyễn Thị Anh mới là con rắn độc. Chỉ cần ta sống thêm vài ngày nữa, ta sẽ xử con rắn độc đó với sự trừng phạt khủng khiếp nhất. Sau này Nghi Dân nói: “Diên Ninh tự biết mình không phải là con của tiên đế”(2), tức Bang Cơ không phải con ta, là đúng đấy. Ta đã có đầy đủ chứng cớ do bọn Đinh Thắng, Đinh Phúc và vợ chồng quan Đại Tư mã Đinh Liệt cung cấp. Sau cuộc gặp mẹ con nàng Ngọc Dao ở bến Đò Rừng, thấy Tư Thành đúng là con trai ta, đúng là tiên đồng giáng sinh như trong mộng, có tướng mạo của bậc đế vương thì lòng ta đã quyết. Ta muốn mời Ức Trai về triều xem ta xử mẹ con kẻ lăng loàn, nghịch tử, rồi ta đón Tiệp dư Ngọc Dao và con trai tiên đồng Lê Tư Thành của ta về triều tôn vinh ngôi Đông cungThái tử. Hỡi ôi, không ngờ mệnh của ta có hạn. Kế sách của ta bị lộ. Con rắn độc Nguyễn Thị Anh đã ra tay trước…
- Thưa Hoàng thượng, nhưng người ta có quyền nghi ngờ ngài. Sao đến phút cuối cùng, vào lúc đêm khuya, ngài lại cho gọi quan Lễ nghi Học sĩ? Và câu chuyện giữa hai người có bí mật đến mức suốt gần sáu trăm năm qua hậu thế vẫn không thể đoán ra?
- Ta đã nói gì với quan Lễ nghi Học sĩ vào lúc đêm khuya ấy ư? Lũ tim đen thì làm sao hiểu nổi? Đó là giờ phút linh thiêng nhất, khi ta kịp nhận ra ta đã bị tiến độc. Sau khi Tạ Thanh sai quan Ngự y dâng lên chén thuốc thứ ba, ta bỗng thấy toàn thân rã rời. Cổ họng bỏng rát. Ta rời long sàng ra võng nằm, người mệt lả muốn thiếp đi. Nhưng các ngươi biết không, nỗi đau vì bị lừa dối, phản bội, nỗi nhục của kẻ bị cắm sừng, làm trái tim ta nhức nhối, quằn quại. Vua bị phản bội. Vua bị cắm sừng. Nhục nhã quá. Chưa bao giờ ta đau đến thế. Con đĩ Nguyễn Thị Anh đã truy sát ta đến cùng. Hình ảnh hai mẹ con ả chập chờn trước mặt ta như yêu tinh. Đúng lúc ấy thì ta nghĩ đến Mẹ. Chao ơi, suốt bao năm sống không có mẹ, ta tưởng đã quen rồi. Vậy mà đột nhiên lúc ấy ta nhớ Mẹ vô cùng. Ta gọi: “Mẹ ơi, đến với con!”. Thấy ta kêu hốt hoảng, Tạ Thanh liền chạy vào và nói: “ Hoàng thượng vừa gọi Mẹ. Người bị mê sảng. Hay là để thần gọi quan Lễ nghi Học sĩ sang hầu người”. Ta vội nói: “Phải lắm. Ta muốn được nói chuyện với quan Lễ nghi Học sĩ ”. Thế rồi “Mệ Lộ” đã kể cho ta nghe những thời khắc cuối cùng của mẹ ta. Bà bảo rằng, khi ấy Ức Trai tiên sinh cùng bà đứng trong quân ngũ của cha ta đã mấy năm. Bà và mẹ ta chạc tuổi nhau, thân tình như chị em ruột. Đúng cái ngày mẹ ta, Phạm Thị Ngọc Trần, tình nguyện hiến tế cho thần Phổ hộ Trào Khẩu thì “Mệ Lộ” cùng các nhũ mẫu phải bày đủ cách để dỗ cho ta nín. Bà bảo, sau khi cha ta làm lễ tế trời đất và cầu khấn thần Phổ hộ Trào Khẩu, đồng ý nhường người thiếp yêu là mẹ ta cho thần, để thần phù hộ cho cha ta đánh tan giặc Ngô, thì mẹ ta vận bộ đồ trắng, đi hài xảo trắng, trang điểm như một nữ đồng trinh, tự nguyện xuống nằm trong một thuyền giấy đặt trên bè chuối rải đầy hoa rừng, cho mọi người lấy vải quấn chặt vào bè. Trước đó quan lang Mường đã cho mẹ ta uống một bát lá ngón, để khi mẹ nằm xuống bè, trôi khỏi thác chừng vài trăm thước là hôn mê. Làm như thế, mẹ ta sẽ không đau đớn, sẽ lầm tưởng như mình được thần Phổ hộ rước về thuỷ cung…
- Quả là một liệt nữ…
- Còn hơn cả một Liệt nữ. Mẹ ta là nữ lưu Anh hùng. Những lời kể của “Mệ Lộ” bỗng làm ta nhớ lại… Năm ấy ta mới ba tuổi. Ta có thể quên hết mọi chuyện, nhưng cái giây phút cuối cùng khi chiếc bè chuối chở mẹ ta xuôi theo dòng nước thì ta không thể quên được. Ta khóc thét lên, chân tay khua đạp tứ tung. Ta muốn nhảy xuống sông với mẹ. Bóng mẹ xa dần, nhoà dần trong đôi mắt đẫm lệ của ta, rồi chỉ còn là một đốm trắng. Bỗng lúc ấy, từ dưới sông, vang lên tiếng Mẹ: “ Xin Chúa công hãy nhớ lời hứa với thiếp. Hãy cho con thiếp làm Vua…”.
Vua Lê Thái Tông vừa khóc vừa nói:
- Câu chuyện của quan Lễ nghi Học sĩ khiến ta vô cùng tự hào và hãnh diện về Mẹ, ta hạnh phúc và sung sướng không kể sao cho xiết. Giọng kể của “Mệ Lộ” như lời ru của mẹ ta thuở ấu thơ. Ta thấy mình như trôi trên dòng sông cùng Mẹ... Ta quên hết những ghen tuông, đau khổ, những mưu mô, toan tính... Ta ra đi từ Lệ Chi Viên như vậy đó…
Chú thích:
(1) Tên hiệu của Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Nguyễn Mộng Tuân, Phan Phu Tiên, những văn thần thành đạt từ thời Trần, theo Lê Lợi khởi nghiệp.
(2)Đại Việt sử ký toàn thư. Diên Ninh chỉ Bang Cơ, tức vua Lê Nhân Tông.
LỜI CUỐI SÁCH
Đúng ngày 16 tháng tám âm, ngày giỗ Ức Trai tiên sinh và quan Lễ Nghi Học sĩ, cũng là ngày giỗ trận họ Nguyễn Nhị Khê, Chi Ngải, họ Nguyễn Hải Triều cùng các họ Trần, họ Phùng, họ Lê…thì tác phẩm “ Long thành tạp ký” của “Đoàn gia văn phái” do giáo sư Hoàng Nguyên và Thọt bỉ nhân Bùi La Việt dịch và chuyển âm xong. Người mừng nhất, mừng hơn cả hai nhà văn hoá Đỗ Chí Cao và Ngô Tháp, chính là chủ nhiệm Huỳnh Đạo. Ông thức hai ngày hai đêm liền soạn email rồi lần lượt gửi thư điện tử cho các đại diện “Nguyễn Trãi Club” trong nước và các châu lục.
Kế hoạch xuất bản và quảng bá, hội thảo, đã được lên phương án chi tiết, chính xác từng ngày.
Bỗng từ làng Động, một tin động trời: Đêm rằm Trung thu, kẻ trộm đã dỡ ngói, chui từ trên trời xuống, đột nhập hậu cung điện thờ đình làng, lấy đi hộp sắc cổ mang từ chùa Thái Cực về, trong đó có năm quyển sách chữ nho, bản gốc của bộ “Long thành tạp ký”.
Rụng rời, choáng váng, hốt hoảng, rồi suy sụp trông thấy là hai ông Thấp ông Cao, chuyên viên văn hoá. Không phải hai ông sợ cánh buôn sách cổ Sài Gòn đòi lại tiền. Mà nguy nhất là hai ông sợ đi tù. Chứ sao nữa? Nguỵ tạo ra “Long thành tạp ký”, nguỵ tạo ra lịch sử, tội danh ghi rành rành trong bộ luật hình sự. Các cơ quan chức năng bảo vệ văn hoá sẽ không để các ông yên. Các ông cố tình nguỵ tạo ra một văn bản cổ, nguỵ tạo một trường phái văn chương “ Đoàn gia văn phái” với những tác giả Đoàn Khâm, Đoàn Sinh, Đoàn Lương, Đoàn Thiện Phổ….vô danh để viết lại lịch sử, bóp méo lịch sử. Rồi lại mời những kẻ nhân thân không rõ ràng như “Thọt bỉ nhân”, Hoàng Nguyên…, để chuyển âm, dịch nghĩa, hiệu đính. Rồi bói toán, lên đồng, gọi hồn nữa chứ…Chà chà…cả một loạt vấn đề rắc rối.
Để thật chắc ăn và tránh gặp chuyện rầy rà, ông Cao ông Thấp một mặt đề nghị hai dịch giả Hoàng Nguyên và Bùi La Việt tập trung hoàn chỉnh thật tốt lại bản dịch, một mặt cùng trung tá Philip và ông Huỳnh Đạo về làng Động. Trung tá Philip giờ đã chuyển về P90, cơ quan chuyên bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể. Một chuyên án mang mã số LTTK- 01 được thành lập. Với vốn kinh nghiệm lâu năm, và đặc biệt là tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, trung tá Philip tin rằng cơ quan chức năng sẽ sớm tìm ra thủ phạm vụ trộm di sản văn hoá vô giá này.
Công việc tìm kiếm còn khó hơn mò kim đáy biển. Nhưng chúng ta vẫn có quyền hy vọng rằng bản gốc “Long thành tạp ký” có ngày sẽ trở về làng Động.
Rất may, bản photo “Long thành tạp ký” vẫn có giá trị như một kỳ thư. Nhờ sự bảo trợ của các cơ quan Văn hoá, của “Nguyễn Trãi Club”, đặc biệt là sự tận tình, giám chịu trách nhiệm của Nhà Xuất bản X. cuối cùng “ Long thành tạp ký”, phần cốt lõi của tiểu thuyết “Nguyên Khí”, với những chương, những đoạn in nghiêng trong tác phẩm, đã đến tay bạn đọc.
Khởi thảo tại TP Hồ Chí Minh, 16 tháng 8 Nhâm thìn, ( 1.10.2012)
Hoàn thành tại Hà Nội tháng 7, Quý tỵ,( 8. 2013)
HMT

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ngẫu nhiên của lão sắp bị điên!

Ngẫu hứng Trần Tiến 6



Mường Then lại gọi là Mường Thanh. Đúng là bọn người Kinh dở hơi, chả biết gì, mới đọc chệch ra như thế, mới chui rúc trong đô thị, huênh hoang với cái văn minh đầy bệnh tật như thế.
Then là trời, nơi Người nhà Trời đáp xuống, bác Võ Nguyên đại thắng là vậy. Khẩu súng của Bác hợp với lòng Then, lòng trời.
Bọn người Kinh lại ngu thêm một lần nữa. Gái Thái bước ra từ hoa ban mà đến ở chơi với trần gian, đứa nào máu dê tưởng dễ chơi, làm một “choác” rồi “phắn”. Cả đời sẽ khốn nạn. Then phạt là cái chắc.
Vậy mà cái đất này cũng mường “thanh” thật. Khí của xứ nhà trời, có khác. Thể dục buổi sáng ở đây là nhất quả đất. Đi bộ nơi tiên cảnh, chẳng còn muốn về viết cho em nữa, Lập à.
Anh có ý mời những người bạn trên này về Hà Nội, về Sài Gòn chơi cho biết. Họ chỉ cười cười lịch thiệp. Cũng đúng thôi, đi cho biết, chứ dại gì ở nơi ngột ngạt, bẩn thỉu và lắm chuyện lừa đảo của người Kinh.
Lại nhớ kẻ chịu chơi Alecxi Zorba của Hi Lạp. Nếu hắn có phúc được đến đây, thế nào cũng sưu tầm ship gái hoa ban, ăn gạo nhà trời, uống rượu chít,  rượu ong đất và ngụp lặn dưới dòng suối trong veo Nậm Rốm.
Ừ mà thôi, ở đâu quen đó. Uống rượu với người bản xứ thật thà và hiếu khách lắm lúc cũng thấy mệt. Cứ uống một chung rượu là một cái bắt tay, bắt tay xong là nắm xôi mời. Rõ ràng thấy người chuốc rượu vừa ở toa lét ra, chưa rửa tay. Chung rượu thì bé xíu, một chục chung mới bằng một tách uống trà dưới xuôi. Uống và rót, và bắt tay cả buổi, đâu có nói được với nhau câu gì. Hì…
Nói vậy cho vui, nhưng anh cũng thèm một mẩu đất nơi này lắm. Đưa vợ con lên lánh nạn hồng thuỷ. Đất Điện Biên cao ngót 500 mét cơ mà, nước dâng đâu tới.
Hai năm nữa thôi, một vệt sao chổi lướt qua bầu trời. Các nhà thơ chưa kịp mơ thì ngôi sao dừng lại, làm một mặt trời thứ hai, màu xanh dương.
Âm dương nằm ngang, ngũ hành nằm dọc
Em chưa biết đọc, em nằm nghiêng
Em vẫn nằm nghiêng đón mặt trời xanh
Em đợi anh….
( Bài hát Ra ngõ tụng kinh của anh)
Chưa kịp ngắm màu xanh dương huyền hoặc thì nước biển đã chạy ngược lên tận chân dãy Hi Mã Lạp Sơn. Đất nhà trời vẫn yên bình. Các nàng tiên lại chui từ hoa ban ra, cười cười, phạt bọn chơi gái xong dám quất ngựa truy phong.
Ca li pho nhia chìm trước, Nhật bản - Philipin chìm theo. Mình vẫn còn thời gian để phóng xe lên đây trốn con sóng hồng hoang.
Thôi đành, lại uống, lại rót, lại bắt tay. Thôi đành lại bắt tay, lại uống, lại rót.
Cái chung rượu thì bé xíu…

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đi mãi mỏi chân, nghe mãi mỏi tai. Có khi chưa hiểu rõ chữ "tầm". "Tầm " là cái gì nhỉ nếu không phải cái "Tìm". Cứ sẵn những điều chỉ bảo, thuyết giáo nhẵn bóng, có chịu đi TÌM đâu mà tầm với chả tang?

Tầm chưa lớn, sao tác phẩm lớn được!


Đã mang tiếng nhà văn, trách nhiệm ý nghĩa nhất là phải tập trung sáng tác, phải thai nghén “mang nặng đẻ đau” những tác phẩm “lớn” cho đời, trừ khi “tầm vóc” năng lực của mình không đủ, không tới mà thôi…

Cà phê buổi sáng, anh nhà báo đương đại hỏi anh nhà văn đương đại:

- Hội nhà văn năm nào cũng rộn ràng “phát hiện” kết nạp những “hạt nhân” mới, thế  mà vẫn “bế tắt” mãi, …chưa thấy, không thấy một tác phẩm nào được cho là lớn, …chưa thấy, không thấy một cây bút nào được cho là nổi bật xuất thần trên văn đàn?
Anh nhà văn cười thật to và hỏi ngược lại:

- Vậy cánh nhà báo các anh thì sao, lực lượng đông gấp mấy chục lần chúng tôi, mà có được bao nhiêu bài viết là thật sự nghiêm túc, là nên hồn nên dáng?

Anh nhà báo nhăn mặt quanh co:

- Thì anh biết rõ rồi còn gì, vấn đề ở báo chí là viết là phải lách, muốn tự do sáng tạo thì cũng phải trong khuôn khổ, muốn đi đến tận cùng sự thật cũng phải trong khuôn khổ…

Anh nhà văn nghe xong ôm bụng cười lăn cười lóc:

- Đấy, vấn đề cũng nằm ở chổ đấy ấy mà, thế anh còn hỏi “khó” bọn nhà văn tụi tôi làm gì nữa?

Thật  ra, hai anh nhà báo, nhà văn trong câu chuyện đề cập ở trên đang “đổ thừa” cho “nguyên tắc” định hướng, định hướng văn chương, định hướng báo chí. Lý do đó có nhiều phần đúng, một tác phẩm báo chí bị cắt xén nhiều quá sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến cái chất riêng, đến nội dung tâm tư của người viết muốn truyền tải đến bạn đọc. Một tác phẩm văn chương dù hay đến mấy nhưng đi đến đâu cũng bị nhà xuất bản lắc đầu, không cấp giấy phép… thì nó khó có thể tiếp cận, phổ cập đến công chúng.
Nhưng trong thời đại truyền thông mạng hiện nay, vấn đề tưởng chừng như khó khăn kia có thể được giải quyết một cách nhanh chóng dễ dàng, hãy “ném” đứa con tinh thần của mình lên internet nếu như những người cầm bút ấy thật sự muốn tác phẩm của mình đến với bạn đọc. Và hãy chờ, thời gian và bạn đọc sẽ khách quan công bằng “định đoạt” nó…

Xin không đề cập sâu đến lĩnh vực báo chí, xét riêng về văn học, một tác phẩm văn học lớn, xuất chúng sẽ trường tồn mãi theo thời gian và có sức ảnh hưởng lan tỏa lâu dài tiếp nối đến từng thế hệ người đọc. Nó phản ánh, tác động lớn đến xu hướng quan điểm xã hội đương đại hoặc là dự báo, dự đoán những viễn cảnh của… tương lai.
Để cho ra những tác phẩm để đời phụ thuộc chủ yếu vào cái “tôi”, cái “tầm” của người viết, nhưng để đánh giá cho đúng cái “tôi”, cái “tầm” ấy lại phải dựa vào chính tác phẩm của họ và sự chọn lọc có tính liên tục của thời gian.

Nhớ lại trước đây, khi còn ngồi ghế giảng đường, người viết được nghe một vị giáo sư giảng rằng “Một nhà văn, nhà thơ lớn thì yếu tố năng khiếu bẫm sinh, sự trau dồi, trải nghiệm là chưa đủ, điều quan trọng nhất là trong cuộc sống của họ có một nổi đau lớn, và chính nổi đau ấy ám ảnh, thôi thúc, làm động lực, làm nguồn cảm xúc vô tận… trong từng tuyệt tác của họ”. Nói đến đây, các bạn sinh viên vội hỏi lại “Thế thầy thì sao?”, vị giáo sư cười và lắc đầu “Cuộc đời của thầy bình yên quá, hạnh phúc quá các em ạ!

Cuộc sống thực tế luôn mách bảo chúng ta là không nên khẳng định bất cứ một điều gì hết, nhưng hãy cứ coi lời của vị giáo sư ở trên như là một tư liệu để đối chiếu, tham khảo…

Giải thưởng văn học thì năm nào cũng có, từ trung ương đến địa phương, cơ sở. Trại sáng tác năm nào cũng có, quy tụ rất nhiều những cây bút già, trẻ, gái, trai… khắp nơi trong cả nước. Nhưng cái chưa có, chưa xuất hiện là những “tác phẩm lớn”, vậy thì những tác phẩm đó đang nằm ở đâu?

Trong blog của mình, nhà văn Nguyễn Quang Lập mới đây có một lời kính báo “làm anh nhà văn luôn mồm nói về nhân nghĩa, về cái tâm, về sống vì dân viết vì dân vân vân và vân vân… vô lẽ lại đắp tai cài trốc trước lời kêu gọi khẩn thiết của tiền nhân? Thế thì hèn quá! Thế thì thà vứt bút đi về nhà ôm… vợ còn hơn suốt ngày ngửa mặt ngóng chờ giải thưởng nọ danh hiệu kia, không thèm biết đến dân tình khốn nạn thế nào, đất nước điêu đứng ra sao. Sống thế khác gì an phận làm con chó giữ nhà cho chủ, mong chờ chủ xón ra giải thưởng nọ danh hiệu kia để vui sướng vẫy đuôi liếm lấp”.

Tôn trọng quan điểm riêng tác giả, nhưng cái “trách nhiệm khai dân trí” ở trên hình như đâu chỉ dành riêng cho nhà văn, nó là trách nhiệm của mọi công dân, mọi thành phần trong xã hội. Còn đã mang tiếng nhà văn, trách nhiệm ý nghĩa nhất là phải tập trung sáng tác, phải thai nghén “mang nặng đẻ đau” nhưng tác phẩm “lớn” cho đời, trừ khi “tầm vóc” năng lực của mình không đủ, không tới mà thôi…

Cũng trong lời kính báo ở trên, người viết rất tâm đắc khi nhà văn Nguyễn Quang Lập trích dẫn câu nói của Cao Hạnh Kiện “sáng tạo văn học là một hoạt động đơn độc mà không một phong trào nào, một phe nhóm nào có thể giúp được, ngược lại nó rất dễ bị những thứ đó giết chết. Chỉ khi nhà văn là một cá nhân biệt lập, không thuộc về phe nhóm, trào lưu chính trị nào đó thì hắn mới tự do hoàn toàn

Như vậy, nếu ai đó tin rằng nền văn học nước nhà hiện nay chưa có được những “tác phẩm lớn” thì có  thể dùng những nguyên nhân ở trên để giải thích. Đó là vì nền văn chương định hướng, vì nhà văn chưa đủ tầm, vì nhà văn sung sướng hạnh phúc quá, vì nhà văn lo việc nước, khai dân trí, vì nhà văn ham giải thưởng, vì nhà văn tham gia phe nhóm, chính trị…

Riêng người viết thì có niềm tin rằng, biết đâu,  những “tác phẩm lớn” đã và đang âm thầm ra đời từ những người thật sự yêu văn, yêu thích viết văn, họ có thể là những người không chuyên, những người vô danh, họ sáng tác vì cái tôi, vì niềm đam mê riêng, nổi niềm riêng của họ. Không cần phải báo chí, không cần phải hội đoàn, không cần phải nhà xuất bản, và nếu muốn, internet sẽ nối kết những tác phẩm của họ đến với công chúng. Rồi thời gian và công chúng sẽ là thước đo chính xác cho tác phẩm của họ.

Điều quan trọng nhất vẫn là không ngừng tư duy, không ngừng sáng tạo và hãy viết chúng ra…

MP



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khi người ta xây phố trên sông

Tâm Lan


(TBKTSG Online) - Dư luận những ngày này đang quan tâm đến dự án lấp một phần sông Đồng Nai để cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị. Dự án này cũng khiến người ta nhớ đến hai bài học đến nay vẫn còn giá trị.

Ngày nay, du khách đến Thủ đô Seoul Hàn Quốc thường không thể bỏ qua địa điểm du lịch nổi tiếng tại nơi này, đó là con suối Cheonggyecheon, vốn đã bị lấp đi vào năm 1968 để làm đường cao tốc và sau đó phải tốn nhiều công sức để khôi phục từ năm 2003.

Phải mất hai năm để Seoul hoàn thành dự án khôi phục dòng suối với tổng chi phí ước tính khoảng 900 triệu đô la Mỹ, tương đương hơn 19.000 tỷ đồng. Đó là một phần cái giá mà Hàn Quốc đánh đổi để hồi sinh một dòng suối sau khoảng thời gian chạy đua theo con đường hiện đại hóa.

Câu chuyện tương tự cũng đang diễn ra tại TPHCM khi gần đây, Thành phố dự kiến chi 2.000 tỷ đồng đào lại con kênh Hàng Bàng - vốn bị lấp trước đó - dài khoảng 1,4 ki lô mét, chạy từ Lò Gốm (quận 6) đến kênh Vạn Tượng (quận 5) để khơi thông dòng chảy, điều tiết nước, chống ngập cho khu vực, chống ô nhiễm môi trường...

Đây là những bài học thực tiễn hữu ích cho các nhà quy hoạch đô thị tại Việt Nam, nhưng không phải ai cũng chịu học.

Mới đây, lãnh đạo tỉnh Đồng Nai đã quyết định cho phép Công ty cổ phần Đầu tư - Kiến trúc - Xây dựng Toàn Thịnh Phát lấp một phần sông Đồng Nai nhằm thi công dự án  “Cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai”, còn có tên gọi khác là dự án The Pegasus Riverside, gây lo lắng, bức xúc trong dư luận và giới chuyên môn.

Theo báo điện tử Đồng Nai ngày 17-9-2014, dự án này có chiều dài 1,3 ki lô mét, từ Công viên Nguyễn Văn Trị đến cầu Rạch Cát, Phường Quyết Thắng, Thành phố Biên Hòa. Dự án dự kiến hoàn thành vào năm 2022 với tổng mức đầu tư là 3.200 tỷ đồng.

Tổng diện tích đất của dự án là  84.000 mét vuông, trong đó phần lấn sông là hơn 77.200m2, chiếm trên 90% diện tích, với đoạn lấn ra sông xa nhất đến hơn 100m (đoạn từ cầu tàu nhà máy nước Biên Hòa), theo báo Xây dựng điện tử thuộc Bộ Xây dựng.

Xét trên nguyên tắc xây dựng, theo Kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn, thiết kế ở ven sông, biển chính quyền bao giờ cũng dành đất để làm hành lang bảo vệ có khi đến 50 m. Đây là điều bắt buộc phải có và không một dự án nào, nhất là dự án thương mại, có thể vi phạm. Trớ trêu thay, trong khi chính quyền tỉnh Đồng Nai cấm tuyệt đối người dân không được xâm phạm hành lang bảo vệ sông Đồng Nai thì chính họ lại cho phép công ty Toàn Thịnh Phát “vi phạm”.

Phát biểu trên báo Thanh Niên ngày 18-3, Tiến sĩ Vũ Ngọc Long, Viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam, cho rằng khi bê tông hóa lòng sông sẽ làm thay đổi dòng chảy, ảnh hưởng đến hệ sinh vật và làm mất đi cơ chế tự bảo vệ, tự làm sạch của dòng sông. Điều đáng quan ngại nữa là khi làm thay đổi dòng chảy thì sẽ làm xói lở bờ bên kia, đặc biệt nguy hiểm khi đây là khu dân cư đông đúc…

Vậy những vị lãnh đạo tỉnh Đồng Nai có biết đến những hậu quả này khi chính họ cấp phép cho Toàn Thịnh Phát thực hiện dự án thông qua quyết định 2230/QĐ-UBND chấp thuận đầu tư ngày 21-7-2014 và quyết định số 2827/QĐ-UBND ngày 15-9-2014 giao đất cho chủ đầu tư triển khai dự án?

Nhìn rộng ra, những hệ lụy xảy ra không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân Đồng Nai mà còn tác động tiêu cực đến các điện phương lân cận, trong đó có TPHCM. Theo TS. Long, sông Đồng Nai có vị trí rất quan trọng. Dòng sông này cung cấp nước sinh hoạt, hoạt động công nghiệp, sản xuất nông nghiệp cho Đồng Nai, TP.HCM và cả Bình Dương. Khi con sông này bị ảnh hưởng nghiêm trọng thì TP.HCM khó mà phát triển được vì thiếu nước phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và phải chuyển sang lấy nước ở hồ Dầu Tiếng và giá thành sẽ rất đắt so với hiện nay. Nếu không có nước ngọt ở Đồng Nai chảy ra thì vùng Cần Giờ với hệ sinh thái nước lợ sẽ không còn nữa mà sẽ chuyển sang thành nước mặn...

Thế nhưng khi triển khai dự án này, lãnh đạo tỉnh Đồng Nai đã không lấy ý kiến của người dân mà cũng chẳng hề tham vấn các chuyên gia của Ủy ban bảo vệ lưu vực sông Đồng Nai. Phát biểu trước báo chí, ông Bùi Cách Tuyến nói: “Họ làm độc lập. Chúng tôi không được tham vấn. Với tư cách là Phó chủ tịch Ủy ban bảo vệ lưu vực sông Đồng Nai, tôi không biết và với tư cách là Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường, tôi cũng không hay về dự án này.”

Cách đây không lâu chúng ta từng phản đối Lào xây dựng thuỷ điện trên kênh Don Sahong và bây giờ là lúc chúng ta cần quyết liệt yêu cầu dừng ngay dự án The Pegasus Riverside cho đến khi chứng minh được tính hợp lý của dự án này.

Cái giá để phục hồi đối với sông Đồng Nai sẽ thật là khủng khiếp, chứ không chỉ "nho nhỏ" như dòng suối ở Seoul hay dòng kênh Hàng Bàng ở TPHCM. Do đó, cần phải có ngay những tiếng nói can thiệp và cảnh tỉnh. Phải có ai đó chịu trách nhiệm vì những tổn thương gây ra cho dòng sông và quan trọng hơn, xin đừng để một dòng sông qua đời.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2015

Nguyễn Đăng Thường - Một giải Nobel Văn Chương kỳ cục

Trong tập Thơ bất tận vần vè dân gian, tôi có viết:
dĩ vãng chưa xa vời
tìm thời gian đã mất
có dễ như là chơi
khăm ai hay chơi chật
Trích dẫn khổ thơ trên, bởi vì Hàn Lâm Viện Thụy Điển có nhắc tới chuyện đi tìm thời gian đã mất trong các tác phẩm của ông Patrick Modiano. Từ tập truyện ngắn xa xưa Vang bóng một thời (của Nguyễn Tuân) tới những quyển hồi ký mới đây, và không chỉ riêng hồi ký mà thôi, đó là chưa kể các tác giả ngoại quốc, ta có thể nói rằng đa số các cuốn truyện, cuốn sách, thậm chí tập thơ đã được viết ra, đều là những thứ-kiểu-cách đi tìm thời gian đã mất, của riêng mỗi tác giả.


Bây giờ xin trở lại với cái giải Nobel Văn Chương còn nóng hổi của năm... rồi.
Bizarre! Kỳ cục!
Compliqué! Phức tạp!
Difficile! Khó hiểu!
Đó là những tính từ đã không ngớt xuất phát từ cửa miệng, và thường xuyên xuất hiện trong tác phẩm của tác giả Patrick Modiano, và đã được chính nhà văn tuyên bố với báo chí khi nghe tin mình là người được chọn.
“[Cha là người Ý, mẹ là người Pháp], sinh năm 1945, Patrick Modiano, là một trong các nhà văn tài ba thuộc thế hệ của ông. Khám phá quá khứ, ông biết làm sống lại một cách vô cùng chính xác cái không khí, cũng như các chi tiết về những nơi chốn và những thời kỳ quá vãng, chẳng hạn như Paris thời Đức chiếm đóng, trong tác phẩm đầu tay Quảng trường ngôi sao, xuất bản năm 1968. Với tác phẩm Catherine Certitude, ông đưa độc giả vào cái thế giới êm đềm của một bé gái mang một cái tên kỳ cục, Catherine Certitude, kể lại thời thơ ấu của em ở trong khu phố Gare du Nord (Ga Bắc) tại Paris trong những năm 60.” [Lời giới thiệu của tiệm sách mạng Amazone fr.]
Khi hay tin Patrick Modiano đoạt giải Nobel, ông Antoine Gallimard, chủ nhân nhà xuất danh tiếng, đã tuyên bố với báo chí:
“Tháng sáu năm 1967, Jean Cau [cựu thơ ký của Sartre] đã giới thiệu cuốn truyện đầu tay của Patrick Modiano, Quảng trường ngôi sao (La place de l’étoile), được xuất bản năm sau, như sau đây: “Người thanh niên viết cuốn sách này chỉ mới 21 tuổi. Và, với cú thử nghiệm đầu tiên, anh đã cho ra đời một cuốn sách, theo thiển ý của tôi, nhiều hơn là một hứa hẹn. Tôi nghĩ là bạn đang cầm trên tay tác phẩm của một nhà văn của hiện tại và của tương lai. Đối với tôi, Patrick Modiano là một nhà văn đại diện cho văn chương trong sự thể hiện huy hoàng nhất của nó, tách khỏi các mốt, những trào lưu tư tưởng và những sự thủ cựu. Vì vậy ông ta tự ghi tên mình vào lịch sử của một nhà xuất bản đã được nâng lên bởi tinh thần độc lập ngay từ lúc ra đời. Tác phẩm của ông tiếp tục, trong một thời đại khác và ở những nơi khác, sự đi tìm thời gian đã mất và tìm lý lịch mà Proust từng dấn thân. Cách tiếp cận và phong cách của ông, lạ thường và bền bỉ, cũng tùy thuộc vào sự điều tra, theo phong cách của một Simenon, một Chandler, hay Queneau của Một mùa đông khắc nghiệt(Un rude hiver). Riêng đối với một nhà xuất bản như chúng tôi, giải Nobel này là một khuyến khích đáng kể để đeo đuổi một chính sách khi lựa chọn tác giả cho thư mục. Modiano đã tập trung toàn bộ tác phẩm của ông vào Paris trong Thế chiến thứ 2, mô tả sức nặng của những dữ kiện bi thảm vào một thời điểm khó khăn trên số phận của những nhân vật bình thường.”
Tổng thống François Hollande:
“Xin chúc mừng Patrick Modiano, giải Nobel này vinh danh một tác phẩm khám phá những tinh tế của trí nhớ và mức độ phức tạp của lý lịch.”
Tại sao Proust và các nhà văn tiểu thuyết trinh thám Simenon, Chandler, và cuốn truyện của Raymond Queneau được nhắc tới? Bởi lẽ trong các cuốn truyện của Modiano đều có điều tra, tìm kiếm quá khứ các nhân vật, và Modiano — hay người kể chuyện — đã đóng vai ông cò Maigret, nhà thám tử Marlowe. Nhắc tên Proust, vì Modiano cũng đi tìm thời gian đã mất, của chính mình, và của các nhân vật, thường hoàn toàn xa lạ với tác giả hay với người kể chuyện.
Thời gian đã mất, hay quá khứ của cậu bé Marcel, rồi của chàng trai Marcel đã có thật, với đầy đủ chi tiết, dù đã bị thời gian chôn vùi nhưng vẫn còn nguyên. Khi đi tìm thời gian đã mất, khi hồi tưởng lại quá khứ, Proust chỉ cần một dụng cụ để khai quật: trí nhớ vô thức (mémoire involontaire).
Quá khứ của Modiano và các nhân vật của ông thì chỉ là những mảnh vụn rải rác đó đây, do vậy Modiano hay người kể chuyện phải đóng vai thám tử để truy lùng, lắp ghép chúng lại với nhau. Đó là sự khác biệt giữa Proust và Modiano.
Trong lời giới thiệu cho bản dịch C’est tout (Vậy thôi) cuốn truyện cuối cùng của nhà văn Marguerite Duras, tôi có đặt ra câu hỏi về một vài giải thưởng Nobel Văn Chương tôi nghĩ là chưa thật xứng đáng. Dù sao thì cái giải thưởng này cũng rất cần thiết cho mọi người cầm bút. Patrick Modiano được vinh danh và trao tặng hơn 11 triệu đô-la để thoải mái dưỡng già tôi thành thật chúc mừng ông ta.
Một nhà văn lãnh giải thưởng văn chương danh tiếng nhứt và nhiều xu nhứt, tất nhiên không thiếu những bài viết, những lời ca ngợi của truyền thông, báo chí, của các nhà phê bình, và của độc giả. Do vậy, thay vì trích dẫn những lời ngợi ca đó, tôi chọn lược dịch những lời chê bai ông Modiano của không ít những độc giả đã viết lời còm trên Amazon.fr.
Một độc giả đọc xong một tác phẩm của Modiano thành thật khen tặng:
“Nhan đề Trong quán cà phê của tuổi trẻ đã mất khiến người đọc cười khúc khích vì nó rất ư là... Modiano. Kết quả là một cuốn truyện gây thất vọng. Tuy nhiên đôi khi Modiano cũng nhắm trúng đích, như khi ông viết: ‘Tôi thích đi ngược lên đại lộ Champs Élysées trong buổi tối mùa xuân. Con đại lộ này giờ đây không còn nữa, nhưng ban đêm nó vẫn gây được ảo giác chiêm bao’.”
Một độc giả khác:
“Nhiều âm thanh nhưng không đưa chúng ta tới đâu cả. Người ta có thể là một nhà văn lớn nhưng cho ra đời một cuốn truyện nhạt nhẽo, không có chiều sâu thực sự. Đây là trường hợp của cuốn sách này. Trong quán cà phê của tuổi trẻ đã mất chỉ mang đến cho tôi sự thất vọng. Các nhân vật trong truyện có vẻ như chỉ bay lướt trên câu chuyện của họ. Người đọc đâm ra chán. Đáng tiếc.”
Một độc giả thứ ba viết về cuốn Hoa điêu tàn (Fleurs de ruine):
“Một vài năm trước tôi không hồ hởi với Villa triste, nhưng vì sự phổ biến của tác giả này, tôi quyết trở lại. Thử nghiệm mới cũng không thuyết phục. Sự mô tả những địa điểm rất nhàm chán, và việc gây ấn tượng chiếm phần quan trọng của sách. Một số đoạn văn đẹp, nhưng chìm trong cái có vẻ như là sự lấp đầy hơn là văn chương.”
Một độc giả thứ tư kết thúc lời còm về cuốn truyện Những thiếu niên anh dũng, như sau:
“Đại khái thì đó là câu chuyện về sự gặp gỡ bởi nhân vật chính — cuộc gặp gỡ chắc chắn đã do Modiano ngẫu hứng — giữa vài người bạn nội trú cũ vài năm sau cuộc đời học sinh. Thế nhưng các thiếu niên này dù có “anh dũng”, họ cũng không gây được sự chú ý nơi người đọc, trong khi những mẩu chuyện cỏn con nối đuôi nhau rất khó tạo thành một cuốn truyện”.
Tôi chưa đọc tác phẩm nào của Patrick Modiano khi viết những dòng này, dù đã có đặt mua vài cuốn, nhưng vẫn chưa mở ra. Khi hay tin Modiano đoạt giải Nobel, tôi tò mò săn tin, tìm đọc thêm về ông, rồi bị cuốn hút bởi những cuốn truyện không nhiều trang của ông. Dưới đây là những lời giới thiệu cho mỗi cuốn truyện có bán trên Amazon.fr, in trên bìa sau. Tôi thấy chúng ngồ ngộ, tựa như những bài thơ văn xuôi, hay những truyện cực ngắn, nên tôi tuyển dịch cho những ai chưa đọc Modiano có thể mơ mộng vài phút về mỗi tác phẩm “kỳ cục”, “phức tạp”, “khó hiểu” của nhà văn này.

Quảng trường ngôi sao - La Place de l’étoile, 210 tr., Gallimard, 1968. Giải thưởng Fénéon năm 1969.
Vào tháng sáu năm 1942, một viên sĩ quan Đức tiến về phía một thanh niên và hỏi: “Xin lỗi ông, quảng trường ngôi sao ở nơi nào?”
Gã thanh niên chỉ vào mé trái trên ngực anh ta.[*]
----------
[*]Hitler bắt người Do Thái phải mang ngôi sao sáu cánh trên ngực.

Tuần đêm - La ronde de nuit, 152 tr., Gallimard, 1969.
Làm cách nào để trở thành một tên phản bội, làm cách nào để không trở thành một tên phản bội? Đó là câu hỏi mà nhân vật chính của truyện, tự đặt ra cho mình, vì hắn vừa làm việc cho Sở mật thám Pháp theo Đức, vừa tham gia một nhóm kháng chiến. Sự tìm hiểu trong âu lo đó sẽ đưa hắn tới sự tuẫn tiết, lối thoát duy nhứt. Với cuốn truyện gây kinh ngạc này, dịu dàng và tàn bạo, Modiano muốn tìm cách trừ tà một quá khứ mà ông không hề sống. Modiano đánh thức những người chết và để cho họ dấn bước theo tiếng nhạc hổn hển, trong một cuộc tuần đêm phi thường.

Những đại lộ vòng đai - Les boulevard de ceinture, 183 tr., Gallimard, 1972, Giải Thưởng Lớn của của Hàn lâm viện Pháp.
Người kể chuyện đi tìm cha. Hắn đang ở trong một ngôi làng cạnh mé rừng Fontainebleau, trong thời Chiếm đóng, giữa những kẻ có hành vi mờ ám. Người cha đó là ai? Buôn lậu? Một người Do Thái đương bị truy lùng? Tại sao ông đương sống giữa những kẻ đó? Người kể chuyện sẽ săn đuổi cho tới cùng người cha như một bóng ma đó. Với âu yếm.

Ngôi biệt thự buồn - Villa triste, 208 tr., Gallimard, 1975
Khi họ còn ngụ trong ngôi biệt thự buồn Yvonne và Victor cố nén làm những cử động. Nhưng người ta cảm thấy ngay rằng sự thanh thản đó chỉ là sự tự dối lòng. Nhiều năm sau, người kể chuyện quay về hiện trường, trở lại thành phố suối nước nóng, và gợi lại, từng hồi, sự hoài niệm sáng suốt về dĩ vãng và mối tình với Yvonne, những kẻ đã vây quanh họ, những hành động ngông cuồng của Meinthe, cái bóng ma của quá khứ đó hướng dẫn chúng ta qua những con đường thiu thiu ngủ của hôm nay... Nhưng cái vụt hiện về trước tiên là nỗi lo âu không thể giải thích của Victor, mà chàng đã hy vọng có thể xoa dịu bớt khi trở lại sống trong cái thành phố có suối nước nóng xa xăm, gần biên giới Thụy Sĩ. Modiano sử dụng một ngôn ngữ êm xuôi cho cuốn truyện của ông, có rải rác vài khẩu hiệu châm biếm, để tạo một vẻ nghiêm trang, và mặc dù vậy, vẫn nhẹ nhàng. Nhờ sự cân bằng khéo léo đó, ông phát họa những nét tạo dáng một người đi tìm những điểm mốc để nâng đỡ ký ức, hệt như kẻ đó thời trẻ đã tìm kiếm gốc rễ và lý lịch của mình. Và nếu như những kẻ đi nghỉ mát vào thời đó, kỳ khôi và giả tạo, dù không thật hoàn toàn đáng ghét, có thể là do sự bí ẩn bao trùm một tính cách khó chạm tới cái mùa hè xa xôi đó. [Sana Tang-Léopold Wauters]

Sổ gia đình - Livret de famille, 214 tr., Gallimard, 1977.
Mười bốn câu chuyện trong đó tiểu sử trộn chung với những kỷ niệm tưởng tượng. Tác giả có thể vẽ ra một buổi tối của cựu vua Farouk hay hình ảnh cha mình bị mật vụ Gestapo truy lùng, những bước đầu vào nghề của mẹ, vũ nữ trong một hí viện ở thành phố Anvers, những nhân vật mập mờ xung quanh cặp vợ chồng, tuổi thiếu niên của mình, và cuối cùng là vài bức tranh về tổ ấm của mình. Tất cả những thứ đó dần dần tạo ra một “cuốn sổ gia đình”.

Phố của những cửa tiệm âm u - Rue des boutiques obscure, 251 tr, Gallimard, 1978.
Ai đã xui khiến một gã tên Guy Roland, nhân viên của một hãng điều tra do một ông bá tước gốc Baltique điều hành, đi tìm tông tích của một kẻ xa lạ đã biệt tích từ nhiều năm trước? Nhu cầu tìm lại chính cái tôi của hắn sau nhiều năm mất trí? Trong thời gian tìm tòi, hắn đã thu thập được những mảnh đời của một kẻ có thể lại là chính hắn. Dù sao thì cuối cùng hắn cũng đã hòa mình vào cá nhân của kẻ xa lạ ấy. Như trong một vòng ngựa gỗ quay tít đến chóng mặt, cuối cùng và lần lượt xuất hiện những kẻ duy nhứt — những nhân chứng thời tuổi trẻ của Pedro Mc Evoy — có thể nhận diện được kẻ đã mất tích: Denise Coudreuse, Freddie Howard de Luz, Gay Orlow, Dédé Wildmer, Scouffi, Rubirosa, Sonachitzé, và vài người khác nữa, với những tên họ và những sổ thông hành phức tạp, khiến cho cuốn truyện có thể hóa thành sự xâm nhập của những linh hồn lang thang vào một cuốn truyện trinh thám.

Những thiếu niên anh dũng - De si braves garçons, 185 tr., Gallimard, 1982.
Ở gần Paris, trung học Valvert, mang biệt danh Tòa Lâu Đài vì khu vườn của nó, những dãy nhà phụ và khu rừng của nó, có những học sinh nội trú là “những thiếu niên anh dũng” ít nhiều bị chính gia đình mình bỏ rơi — những kẻ giàu có hay đã suy sụp, bất an, công dân của thế giới, bị tình nghi. Đám con trai này vừa lo học vừa kết bạn, hoặc giữa chúng nó với nhau, hoặc với các giáo sư cũng ngoạn mục như chúng nó. Rồi cuộc đời phân tán mọi người. Hai mươi năm trôi qua. Nhờ trí nhớ sắc bén và sự tò mò, người kể chuyện — có thể chính là Modiano — tái tạo lại không khí của những ngày xưa, vừa thử mở một cuộc điều tra về những gì thời gian đã để lại trên những người bạn cũ. Những kỷ niệm đó không ngừng nối kết với hiện tại, theo một thực tế làm bằng chiêm bao và hoài niệm.

Những ngày chủ nhật của tháng tám - Dimanches d’août, 160 tr., Gallimard, 1986.
Tại sao người kể chuyển đã rời bỏ bờ sông Marne với Sylvia để tới lẩn trốn trong thành phố Nice? Vật cứng rắn và bền vững duy nhứt của cuộc đời họ, và có thể có ảnh hưởng tai hại, viên kim cương Sao Nam của họ từ đâu đến? Diễn viên Aimos được ngưỡng mộ đã chết vì nguyên do nào? Cặp vợ chồng Neal là ai, và tại sao từ ngôi biệt thự đổ nát của họ, họ quan tâm đến Sylvia, đến người kể chuyện, và viên kim cương Sao Nam? Và Sylvia? Có phải nàng đã từng là vợ của Villecourt? Và Villecourt? Cả hắn nữa, hắn tới Nice để làm gì, trong lúc suy sụp? Xuyên qua những bí ẩn đan chéo đó, một cuốn truyện tình hiện ra, thắm đượm nét duyên dáng ám ảnh mãi độc giả.

Catherine Certitude, 68 tr., Gallimard, 1988.
Giống như cha mình Catherine mang mắt kiếng. Và như mẹ đang sống tại New York, nó muốn trở thành một vũ công thượng hạng. Bị buộc phải gỡ kiếng xuống khi khiêu vũ, Catherine phát hiện sự ích lợi có thể sống trong hai thế giới khác biệt: thế giới thật, như nó thấy khi đeo kiếng, và cái thế giới êm dịu, mờ mờ và không gồ ghề khi nó lấy mắt kiếng xuống. Một thế giới trong đó nó khiêu vũ như trong mộng.

Tuần trăng mật - Voyage de noces, 157 tr., Gallimard, 1990.
Tôi bắt gặp lại mẩu báo cũ cắt để dành từ mùa đông khi Ingrid gặp Rigaud. Ingrid đã trao nó cho tôi trong lần cuối cùng tôi gặp cô. Trong bữa ăn tối hôm đó, cô bắt đầu kể lại trọn thời kỳ đó, và cô đã lấy trong xách tay ra cái ví da cá sấu, và từ trong ví đó lấy ra mẩu báo cẩn thận xếp gấp đôi, cô đã cất giữ trong suốt những năm qua. Tôi còn nhớ lúc đó cô đã ngưng nói và cái nhìn của cô trông khá buồn cười, như thể cô muốn trao cho tôi cái gánh nặng mang từ lâu, hoặc là cô đã suy đoán rằng tôi cũng sẽ tìm cô. Đó là một mẩu tin nhỏ giữa những mẩu tin khác, tìm việc làm, giao dịch bất động sản và thương mại: Tìm một cô gái, Ingrid Teyrsen, mười sáu tuổi, cao một thước sáu mươi, khuôn mặt trái xoan, mắt xám, áo choàng nâu thể thao, áo ấm xanh lợt, váy nón màu nâu non, giày thể thao đen. Xin gởi các chỉ dẫn tới Ông Teyrsen, 39 kép, đại lộ Ormano, Paris.

Hoa điêu tàn - Fleurs de ruine, 142 tr., Gallimard, 1991.
24 tháng tư 1933. Một cặp vợ chồng trẻ tự tử trong căn hộ của họ ở Paris vì những lý do bí ẩn. Trong đêm đó họ có gặp hai người đàn bà, hai người đàn ông, có tới một vũ trường, có đi vào một ngôi nhà có gắn chiếc thang máy màu đỏ. Ba mươi năm đã trôi qua. Người kể chuyện tự chất vấn về chuyện của họ mà một vài nhân vật hình như hắn có gặp. Cuộc chất vấn mà, do vọng âm, gợi ra những chất vấn khác. Những bóng ma thấp thoáng, những giải thích chẳng bao giờ tới. Những bóng hình, những tên họ, bị thời gian cuốn mất hút. Paris, Paris nữa, nhứt là Paris. Đã mất, được truy tầm, được tái hiện.

Từ nơi xa nhứt của lãng quên - Du plus loin de l’oubli, 180 tr., Gallimard, 1995.
Tôi có thể trộn các giấy tờ, như một bộ bài, và tôi có thể để chúng trên mặt bàn. Như vậy hả, cuộc đời hiện tại của tôi à? Thảy đều giới hạn đối với tôi, trong khoảng hai mươi cái tên và địa chỉ rải rác mà tôi là sợi dây liên lạc duy nhứt? Và tại sao những ngưới này thay vì những kẻ khác? Tôi có điều gì chung, tôi, với những cái tên đó và những nơi đó? Tôi đã ở trong một giấc mộng mà người ta biết rằng mình có thể tỉnh dậy bất cứ lúc nào, khi những hiểm nguy đe dọa bạn. Nếu tôi quyết định, tôi rời cái bàn này và thảy sẽ tách rời ra, thảy sẽ biến mất trong cõi hư vô. Chỉ còn lại chiếc va-li thiếc và vài miếng giấy vụn ghi những cái tên và những nơi chốn vô nghĩa đối với bất cứ ai.

Dora Bruder, 145 tr., Gallimard, 1997.
Tôi luôn luôn không hiểu con bé [Do Thái] đó nó đã làm gì trong những ngày ấy, nó đã ẩn núp ở nơi nào, và với ai trong những đêm mùa đông trong cuộc trốn nhà lần đầu tiên, và trong suốt vài tuần lễ của mùa xuân khi nó tẩu thoát một lần nữa. Đó là sự bí mật của đời nó. Một bí mật nghèo nàn và quý báu —mà những tên đao phủ, những mật lịnh, những lực lượng của thời chiếm đóng, Trại Giam, trại lính, trại tập trung, Lịch Sử, thời gian, tất cả những gì khiến chúng ta trở thành nhơ nhớp và hủy diệt chúng ta — đã không thể cướp giựt được.

Trong quán cà phê của thời tuổi trẻ đã mất - Dans le café de la jeunesse perdue, 176 tr., Gallimard, 2007.
Trong ngày hôm nay, có khi tôi vẫn nghe, buổi tối, một giọng nói gọi tên tôi, ngoài phố. Một giọng khàn. Kéo dài các âm tiết mà tôi có thể nhận ra ngay: giọng nói của Louki. Tôi quay lại nhưng không thấy ai. Không chỉ trong buổi tối, mà cả trong cái rỗng của những buổi trưa mà bạn không biết rõ mình đương ở trong năm nào. Thảy sẽ bắt đầu lại như trước. Những ngày đó, những đêm đó, những chỗ đó, những cuộc gặp gỡ đó. Sự Luân Hồi bất tận.

Con Bé Bijou - La Petite Bijou, 176 tr., Gallimard, 2001.
Khi tôi lên bảy, người ta gọi tôi là Con Bé Bijou (Con Bé Nữ Trang). Hắn đã mỉm cười. Chắc hẳn là hắn thấy cách gọi tên như vậy là dễ thương và âu yếm đối với một bé gái. Hắn cũng vậy, mẹ hắn cũng có đặt cho hắn một biệt danh để thỏ thẻ vào tai hắn, trước khi ôm hôn hắn. Patoche. Pinky. Poulou.
 
“Hổng phải như ông tưởng đâu, tôi đã bảo hắn. Với tôi, đó là một cái tên nghệ sĩ”.

Phả hệ - Un pedigree, 144 tr., Galliard, 2004.
Tôi viết những dòng này như người ta thảo một bản hợp đồng hay một tờ khai lý lịch, với tài liệu và chắc hẳn là để kết thúc một cuộc đời không phải của tôi. Những biến cố tôi sẽ nhắc nhở lại cho đến năm hai mươi mốt tuổi, tôi đã sống chúng qua sự trong suốt — phương pháp gồm có màn diễu hành cảnh trí ở phía sau trong khi các diễn viên đứng im trên một sàn quay phim ở phim trường. Tôi muốn diễn tả lại cảm giác mà nhiều người đã cảm thấy trước tôi: tất cả những cuộc diễu hành qua sự trong suốt và tôi vẫn chưa sống cuộc đời tôi vào thuở đó.

Chân trời - L’horizon, 176 tr., Gallimard 2010
Hắn bước trên con lộ Dieffenbachstrasse. Một cơn mưa trút xuống, một cơn mưa mùa hè mà sức mạnh vơi dần trong khi hắn bước dưới hàng cây để tránh mưa. Trong nhiều năm, hắn đã nghĩ rằng Margaret đã qua đời. Không có lý do, không, không có lý do nào cả. Mặc dù năm mà chúng tôi sanh ra, cả hai đứa chúng tôi, khi mà cái thành phố này, từ trên cao nhìn xuống, chỉ là một đống gạch vụn đổ nát, những cây lilas vẫn trổ hoa giữa khung cảnh điêu tàn, ở nơi cuối của những khu vườn.

Cỏ của những đêm - L’ herbe des nuits, 169 tr., Gallimard, 2012.
“Anh sẽ nói gì nếu tôi đã giết chết một người?”
 
Tôi tưởng nàng nói đùa hay nàng đã đặt ra câu hỏi đó với tôi vì những cuốn tiểu thuyết trinh thám nàng có thói quen đọc. Vả lại, đó là những cuốn sách duy nhứt nàng đọc. Có thể trong một trong những cuốn truyện đó một phụ nữ đã đặt ra câu hỏi đó với người chồng chưa cưới.
 
“Tôi sẽ nói gì à? Chẳng nói gì cả.”


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Công nhận Phẹt chịu khó hơn người, nhặt đâu lắm của nợ thía?



Ghế chật mà chân lại dài. Thớt em phơi phới ban mai vãi ồnl



Có bập mà mất mất bênh. Quá đen nên phải một mềnh thẩm du.

Những hình ảnh hài hước chỉ có tại Việt Nam

Siêu nhân người nhện xứ ta. Đọc thông uống thạo mới là hùng anh.



Thật ra là có cafe. Nhưng vì ế quá nên phê cả cà.



Bần thần anh đứng sờ ti. Vợ thời chưa có vện đi lấy chồng.



Chị Dậu có đến hai con. Cộng thêm đôi chó là tròn bốn em.



Bựa mà có nết văn minh. Làm ăn rong hết cả kinh nước nhà.



Người ta đứng để xếp hàng. Chúng em mỏi quá nằm ngang... cho dài.



Các anh loại cú có gai. Cơ mà trông cũng đập chai gớm nhờ:))



Xăng thời lúc giảm lúc tăng. Còn thằng vé số khăng khăng đổi đời.



Nhật Tân đích thị tên cầu. Anh lên đái bãi giải sầu cho khuây.



Người ta thì múa lân sư. Các anh rồng lộn khí hư vãi vồn.



Anh là thợ sửa ô tô. Riêng cái của nợ tô hô...sửa dần.

Sản phẩm được gắn mác ổi Lệ Rơi

Lệ Rơi thật đúng con giời. Hát hay ổi cũng mơi mơi đắt hàng.



Gái xinh nên hở tối đa. Đỡ công anh phải moi ra moi vào.



Trăm thằng mà đi ô tô. Không bằng mặt rỗ trúng lô cuối ngày.



Đéo mẹ lũ trộm bất nhân. Câu đi chó mẹ tủi thân chó đàn.



Tự khai nên phải thật thà. Chứ không thì cứ gọi là vãi luôn.



Chó ngoan nên được chủ chiều. Ước gì ta hóa con tiều nằm lên.



Nam vô tửu - Kỳ vô phong. Cẩn thận không lại phạm phòng thì nguy.



Chuối chiên mà có goai - phai. Thì em bán chuối đì - dzai có nghề.



Ăn này được gọi hết phần. Của con chó cún khép chân hóng chờ.



Thiên hạ hóng bắn pháo hoa. Anh đây phóng mẹ bộ xoa vầu vù.







Anh Thăng mới cíu được thôi. Kêu đéo lắm thế nước nôi mẹ gì.



Ngộ có mới chả ngộ không. Đéo bằng ngộ nhẽ cái lông con lìn:))







Bánh chưng thời chẳng ra gì. Bánh dày đày đặn xuân thì kính dâng.

Nguồn: nhặt trên NET.

Phần nhận xét hiển thị trên trang