Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2015

Một người như Pu nói câu này.. hình như tâm trạng không được tốt cho lắm?

Business Insider: Putin nói Nga có thể hủy diệt Mỹ trong chưa đầy nửa giờ


(GDVN) - Putin cho rằng lý do duy nhất khiến Mỹ luôn phải quan tâm đến Nga bởi vì đây là quốc gia duy nhất có thể "tiêu diệt Mỹ trong nửa giờ hoặc ít hơn."
Trong một bữa tiệc xa hoa năm 2012, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã tình cờ tiết lộ lý do Washington luôn lo sợ và đối đầu với Moscow bởi Nga là quốc gia duy nhất có thể tiêu diệt Mỹ trong chưa đầy nửa giờ.   
Tổng thống Nga Vladimir Putin.
Theo Business Insider, thông tin trên được tiết lộ trong cuốn "The Russia-China Axis" của 2 tác giả Douglas E. Schoen và Melik Kaylan vừa xuất bản.

Theo nội dung cuốn sách, thông điệp trên được ông Putin đưa ra trong bữa tiệc xa hoa tiếp đãi các thành viên của Câu lạc bộ Valdai và các học giả xuất sắc và các nhà báo từ khắp nơi trên thế giới tại New Century, câu lạc bộ đua ngựa giàu nhất của Moscow, hồi tháng 3.2012

Tại đây, Tổng thống Putin đã thảo luận với các khách mời về các chủ đề khác nhau, từ sự khó khăn của chính phủ Nga đến sự tin tưởng của công chúng vào sự lãnh đạo "không thể thiếu" của ông cũng như các vấn đề liên quan tới quan hệ với Mỹ.

Tổng thống Putin đã bày tỏ phản đối các kế hoạch của Mỹ xây dựng một hệ thống phòng thủ tên lửa mà ông tin rằng sẽ đặt ra một mối đe dọa đối với an ninh quốc gia của Nga một cách có chủ ý.

Tổng thống Putin sau đó nói thêm rằng lý do duy nhất khiến Mỹ luôn phải quan tâm đến Nga bởi vì đây là quốc gia duy nhất có thể "tiêu diệt Mỹ trong nửa giờ hoặc ít hơn."

Schoen và Kaylan kết luận: "Sẽ khó có thể tìm thấy một tuyên bố nào hơn nó có thể tiết lộ thêm về lập trường chính xác của ông Putin đối với Mỹ"./.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bài ca vọng cổ


Tôi vượt biên một mình rồi định cư ở Pháp. Năm đó tôi mới 49 tuổi, vậy mà đi tìm việc làm, đến đâu người ta cũng chê là tôi già! Vì vậy, một hôm, khi chải tóc, tôi nhìn kỹ tôi trong gương. Tôi bỗng thấy ở đó có một người có vẻ quen nhưng thật ra thì rất lạ: mắt sâu, má hóp, mặt đầy nếp nhăn trên trán, ở đuôi mắt, ở khóe môi, mái tóc đã ngà bạc cắt tỉa thô sơ như tự tay cắt lấy. Từ bao lâu nay tôi không để ý, bây giờ soi gương vì bị chê già, tôi mới thấy rằng tôi của hồi trước “Cách mạng thành công” và tôi của bây giờ thật không giống nhau chút nào hết. Tôi già thiệt, già trước tuổi. Cho nên, tôi nhìn tôi không ra. Từ đó, mỗi ngày tôi… tập nhìn tôi một lần, nhìn kỹ, cho quen mắt!

Một người bạn làm việc lâu năm ở Côte d’Ivoire (Phi châu) hay tin tôi đã qua Pháp và vẫn còn thất nghiệp, bèn giới thiệu cho tôi Công ty Đường Mía của Nhà nước. Không biết anh ta nói thế nào mà họ nhận tôi ngay, còn gửi cho tôi vé máy bay nữa!

Xưa nay, tôi chưa từng quen một người da đen gốc Phi Châu nào hết. Và chỉ có vài khái nhiệm thô sơ về vùng Phi châu da đen như là: Ở đó nóng lắm, đất đai còn nhiều nơi hoang vu, dân chúng thì da đen thùi lùi, tối ngày chỉ thích vỗ trống, thích nhảy tưng tưng v…v…  Vì vậy, tôi hơi … ngán. Nhưng cuối cùng rồi tôi quyết định qua xứ da đen để làm việc, danh dự hơn là ở lại Pháp để tháng tháng vác mặt Việt Nam đi xin trợ cấp đầu nọ, đầu kia.

Nơi tôi làm việc tên là Borotou, một cái làng nằm cách thủ đô Abidjan gần 800km! Vùng này toàn là rừng là rừng. Không phải rừng rậm rì cây cao chớn chở như ở Việt Nam. Rừng ở đây cây thấp lưa thưa, thấp thấp cỡ mười, mười lăm thước… coi khô khốc. Không có núi non, chỉ có một vài đồi trũng nhưng đồi không cao và trũng, không sâu…

Nhà nước phá rừng trồng mía… Ruộng mía ngút ngàn! Nằm ở trung tâm là khu nhà máy, khu cơ giới, khu hành chánh, khu cư xá v…v… nằm cách nhau cỡ vài cây số. Muốn về thủ đổ Abidjan, phải lái xe hơi chạy theo đường mòn xuyên rừng gần ba chục cây số mới ra tới đường cái tráng nhựa.  Từ đó, chạy đi Touba, một quận nhỏ với đông đảo dân cư. Từ đây, lấy máy bay Air Afrique về Abidjan, mỗi ngày chỉ có một chuyến. Phi trường Touba nhỏ xíu, chỉ có một nhà ga xây cất sơ sài và một phi đạo làm bằng đá đỏ, mỗi lần máy bay đáp lên đáp xuống là bụi bay … đỏ trời!

Tôi hơi dài dòng ở đây để thấy tôi đi “đi làm lại cuộc đời” ở một nơi hoang vu hẻo lánh mà cảnh trí thì chẳng có gì hấp dẫn hết! Thêm vào đó, tôi là người Á Đông duy nhất làm việc chung với Tây trắng (chỉ có năm người) và Tây đen (đông vô số kể).

Ở đây, thiên hạ gọi tôi là “le chinois” – thằng Tàu. Suốt ngày, suốt tháng tôi chỉ nói có tiếng Pháp. Cho nên, lâu lâu thèm quá, tôi soi gương rồi… nói chuyện với tôi bằng tiếng Việt, trông giống như thằng khùng! Chưa bao giờ tôi thấy tôi cô đơn bằng những lúc tôi đối diện tôi trong gương như vậy.

… Một hôm, sau hơn tám tháng “ở rừng”, tôi được gọi về Abidjan để họp (đây là lần đầu tiên được về thủ đô!).  Anh tài xế đen đưa tôi ra Touba. Chúng tôi đến phi trường lối một giờ trưa. Sau khi phụ tôi gởi hành lý, anh tài xế nói:

- Tôi ra ngủ trưa ở trong xe. Chừng Patron (ông chủ) đi được rồi, tôi mới về.

Ở xứ đen, họ dùng từ “Patron” để gọi ông chủ, ông xếp, người có địa vị, có tiền, người mà họ nể nang v…v.. Nghe quen rồi, chẳng có gì chói lỗ tai hết! Tôi nói:

- Về đi! Đâu cần phải đợi!

Hắn nhăn răng cười, đưa hàm răng trắng tốt:

- Tại Patron không biết chớ ở đây, lâu lâu họ lại hủy chuyến bay vào giờ chót, nói tại máy bay ăn-banh (en panne) ở đâu đó. Máy bay cũng như xe hơi vậy, ai biết lúc nào nó nằm đường.

Rồi hắn đi ra xe.

Tôi ngồi xuống một phô-tơi, nhìn quanh, hành khách khá đông. Nhiều người ngồi với một số hành lý như thùng cạc-tông, bao bị, va-ly v…v.. Không phải họ không biết gửi hành lý, nhưng vì những gì họ đã gửi đã đủ số ký-lô dành cho mỗi hành khách, nên số còn lại họ… xách tay, cho dầu là vừa nhiều món vừa nặng, vừa cồng kềnh!

Không khí nóng bức. Mấy cái quạt trần quay vù vù, cộng thêm mấy cây quạt đứng xoay qua xoay lại, vậy mà cũng không đủ mát. Thiên hạ ngủ gà ngủ gật, tôi cũng ngã người trên lưng ghế, lim dim…

Trong lúc tôi thiu thiu ngủ thì loáng thoáng nghe có ai ca vọng cổ. Tôi mở mắt nhìn quanh rồi thở dài, nghĩ: “Tại mình nhớ quê hương xứ sở quá nên trong đầu nghe ca như vậy”.  Rồi lại nhắm mắt lim dim… Lại nghe vọng cổ nữa. Mà lần này nghe rõ câu ngân nga trước khi “xuống hò”:

“Mấy nếp nhà tranh ẩn mình sau hàng tre rũ bóng… đang vươn lên ngọn khói… á… lam… à… chiều….”

Đúng rồi! Không phải ở trong đầu tôi, mà rõ ràng có ai ca vọng cổ ngồi kia. Tôi nhìn ra hướng đó, thấy xa xa dưới lùm cây dại có một người đen nằm võng. Và chỉ có người đó thôi. Lạ quá! Người đen đâu có nằm võng. Tập quán của họ là nằm một loại ghế dài bằng gỗ cong cong. Ngay như loại ghế bố thường thấy nằm dưới mấy cây dù to ở bãi biển… họ cũng ít dùng nữa.

Tò mò, tôi bước ra đi về hướng đó để xem là ai vừa ca vọng cổ lại vừa nằm võng đong đưa. Thì ra là một anh đen còn trẻ, còn cái võng là cái võng nhà binh của quân đội Việt Nam Cộng Hòa hồi xưa. Tôi nói bằng tiếng Pháp:

- Bonjour!

Anh ngừng ca, ngồi dậy nhìn tôi mỉm cười, rồi cũng nói “Bonjour”. Tôi hỏi, vẫn bằng tiếng Pháp:

- Anh hát cái gì vậy?

Hắn đứng lên, vừa bước về phía tôi vừa trả lời bằng tiếng Pháp:

- Một bài ca của Việt Nam. Còn ông? Có phải ông là “le chinois” làm việc cho hãng đường ở Borotou không ?

Tôi trả lời, vẫn bằng tiếng Pháp:

- Đúng và sai! Đúng là tôi làm việc ở Borotou. Còn sai là vì tôi không phải là người Tàu. Tôi là người Việt Nam.

Bỗng hắn trợn mắt có vẻ vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ, rồi bật ra bằng tiếng Việt, giọng đặc sệt miền Nam, chẳng có một chút lơ lớ:

- Trời ơi! …. Bác là người Việt Nam hả ?

Rồi hắn vỗ lên ngực:

- Con cũng là người Việt Nam nè!

Thiếu chút nữa là tôi bật cười. Nhưng tôi kiềm lại kịp, khi tôi nhìn gương mặt rạng rỡ vì sung sướng của hắn. Rồi tôi bỗng nghe một xúc động dâng tràn lên cổ. Thân đã lưu vong, lại “trôi sông lạc chợ” đến cái xứ “khỉ ho cò gáy” này mà gặp được một người biết nói tiếng Việt Nam và biết nhận mình là người Việt Nam, dù là một người đen, sao thấy quý vô cùng. Hình ảnh của quê hương như đang ngời lên trước mặt.

Tôi bước tới bắt tay hắn. Hắn bắt tay tôi bằng cả hai bàn tay, vừa lắc vừa nói huyên thuyên:

- Trời ơi! … Con mừng quá! Mừng quá! Trời ơi!... Bác biết không? Bao nhiêu năm nay con thèm gặp người Việt để nói chuyện cho đã. Bây giờ gặp bác, thiệt… con mừng “hết lớn” bác à!

Rồi hắn kéo tôi lại võng:

- Bác nằm đi! Nằm đi!

Hắn lại đống gạch “bờ-lốc” gần đấy lấy hai ba viên kê bên cạnh võng rồi ngồi lên đó, miệng vẫn không ngừng nói:

- Con nghe thiên hạ nói ở Borotou có một người Tàu. Con đâu dè là bác. Nếu biết vậy, con đã phóng Honda vô trỏng kiếm bác rồi! Đâu được tới bây giờ.

Hắn móc gói thuốc, rồi mời tôi:

- Mời bác hút với con một điếu.

Hắn đưa gói thuốc về phía tôi, mời bằng hai tay. Một cử chỉ mà từ lâu tôi không còn nhìn thấy. Một cử chỉ nói lên sự kính trọng người trưởng thượng. Tôi thấy ở đó một “cái gì” rất Việt Nam.

Tôi rút điếu thuốc để lên môi. Hắn chẹt quẹt máy, đưa ngọn lửa lên đầu điếu thuốc, một tay che che như trời đang có gió. Tôi bập thuốc rồi ngạc nhiên nhìn xuống cái quẹt máy. Hắn nhăn răng cười:

- Bộ bác nhìn ra nó rồi hả?

Tôi vừa nhả khói thuốc vừa gật đầu. Đó là loại quẹt máy Việt Nam, nho nhỏ, dẹp lép, đầu đít có nét cong cong. Muốn quẹt phải lấy hẳn cái nắp ra chớ nó không dính vào thân ống quẹt bằng một bản lề nhỏ như những quẹt máy ngoại quốc. Hắn cầm ống quẹt, vừa lật qua lật lại vừa nhìn một cách trìu mến:

- Của ông ngoại con cho đó! Ông cho hồi ổng còn sống lận.

Rồi hắn bật cười:

- Hồi đó ông gọi con bằng “Thằng Lọ Nồi”.

Ngừng một chút rồi tiếp:

- Vậy mà ổng thương con lắm à bác!

Hắn đốt điếu thuốc, hít một hơi dài rồi nhả khói ra từ từ. Nhìn cách nhả khói của hắn, tôi biết hắn đang sống lại bằng nhiều kỷ niệm. Tôi nói:

- Vậy là cháu lai Việt Nam à?

- Dạ. Má con quê ở Nha Trang.

- Rồi má cháu bây giờ ở đâu?

Giọng của hắn như nghẹn lại:

- Má con chết rồi. Chết ở Nha Trang hồi năm 1975.

- Còn ba của cháu?

- Ổng hiện ở Paris. Tụi này nhờ có dân Tây nên sau 1975 được hồi hương. Con đi quân dịch cho Pháp xong rồi, về đây ở với bà nội. Con sanh ra và lớn lên ở Sài Gòn, về đây, buồn thúi ruột thúi gan luôn!

Tôi nhìn hắn một lúc, cố tìm ra một nét Việt Nam trên con người hắn. Thật tình, hắn không có nét gì lai hết. Hắn lớn con, nước da không đến nỗi đen thùi lùi như phần đông dân chúng ở xứ này, nhưng vẫn không có được cái màu cà phê lợt lợt để thấy có chút gì khác. Tóc xoắn sát da đầu, mắt lồi, môi dầy. Tôi chợt nói, nói một cách máy móc:

- Thấy cháu chẳng có lai chút nào hết!

Hắn nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng nghiêm trang:

- Có chớ bác. Con có lai chớ bác.

Hắn xòe hai bàn tay đưa ra phía trước, lật qua lật lại:

- Bên nội của con là nằm ở bên ngoài này đây nè.

Rồi hắn để một tay lên ngực, vỗ nhè nhẹ về phía trái tim: Còn bên ngoại nó nằm ở bên trong. Ở đây, ở đây nè bác.

Bỗng giọng hắn nghẹn lại:

- Con lai Việt Nam chớ bác !

Trong khoảnh khắc, tôi xúc động đến quên mất màu da đen của hắn, mà chỉ thấy trước mặt một thanh niên Việt Nam, Việt Nam từ cử chỉ tới lời lẽ nói năng. Tôi vỗ nhẹ lên vai hắn mấy cái, gật đầu nói:

- Ờ… Bác thấy. Bây giờ thì bác thấy.

Hắn mỉm cười:

- Ở đây, người ta nói con không giống ai hết, bởi vì con hành động cư xử, nói năng không giống họ. Bà nội con cũng nói như vậy nữa! Còn con thì mỗi lần con nhìn trong kiếng, con vẫn nhận ra con là người Việt Nam. Bác coi có khổ không?

Rồi nó nhìn tôi, một chút trìu mến dâng lên trong ánh mắt:

- Bây giờ con gặp bác rồi, con thấy không còn cô đơn nữa. Gặp một người mình, ở cái xó xa xôi hẻo lánh này, thiệt là trời còn thương con quá!

Tôi im lặng nghe hắn nói, nhìn hắn nói mà có cảm tưởng như hắn đang nói cho cả hai: cho hắn và cho tôi. Bởi vì cả hai cùng một tâm trạng.

Hắn vẫn nói, như hắn thèm nói từ lâu:

- Nhớ Sài Gòn quá nên con hay ca vọng cổ cho đỡ buồn. Hồi nãy bác lại đây là lúc con đang ca bài “Đường Về Quê Ngoại” đó bác.

- Bác không biết ca, nhưng bác rất thích nghe vọng cổ.

Giọng nói hắn bỗng như hăng lên:

- Vọng cổ là cái chất của miền Nam mà bác. Nó không có lai Âu, lai Á gì hết. Nó có cái hồn Việt Nam cũng như cá kho tộ, tô canh chua. Bác thấy không? Bởi vậy, không có gì nhắc cho con nhớ Việt Nam bằng bài ca vọng cổ hết.

- Bác cũng vậy.

Tôi nói mà thầm phục sự hiểu biết của hắn. Và tôi thấy rất vui mừng có một người như vậy để chuyện trò từ đây về sau.

Có tiếng máy bay đang đánh một vòng trên trời. Chúng tôi cùng đứng lên, hắn nói:

- Nó tới rồi đó. Con phải sửa soạn xe trắc-tơ và rờ-mọt để lấy hành lý. Con làm việc cho hãng Air Afrique, bác à.

Rồi hắn nắm tay tôi lắc mạnh:

- Thôi, bác đi mạnh giỏi. Con tên là Jean. Ở đây ai cũng biết “Jean le Vietnamien” hết. Chừng về bác ghé con chơi, nghen.

Bỗng, hắn ôm chầm lấy tôi siết nhẹ rồi giữ như vậy không biết bao nhiêu lâu. Tôi nghe giọng hắn lạc đi:

- Ghé con nghe bác…. Ghé con…!

Tôi không còn nói được gì hết. Chỉ vừa gật đầu vừa vỗ vỗ vào lưng hắn như vỗ lưng một người con.

Khi hắn buông tôi ra, tôi thấy hai má của hắn ướt nước mắt. Tôi quay đi, lầm lũi bước nhanh nhanh về nhà ga mà nghĩ thương cho “thằng Jean le Vietnamien”. Hồi nãy nó ôm tôi, có lẽ nó đã tưởng tượng như là nó đang ôm lại được một góc trời quê mẹ.

Trên máy bay, tôi miên man nghĩ đến “thằng Jean”, rồi tự hứa sẽ gặp lại nó thường. Để cho nó bớt cô đơn. Và cũng để cho tôi bớt cô đơn nữa!

Bây giờ, viết lại chuyện “thằng Jean” mà tôi tự hỏi: “Trong vô số người Việt Nam lưu vong hôm nay, còn được bao nhiêu người khi nhìn trong gương vẫn nhận ra mình là người Việt Nam? Và có được bao nhiêu người còn mang trong lòng bài ca vọng cổ, để thấy hình ảnh quê hương vẫn còn nguyên trong đó?”
Tiểu Tử
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ai là người trong hang?

spiral staircase 496918_1280Có bao giờ bạn tự hỏi những điều gì đang chi phối suy nghĩ và cuộc sống của mình hay không? Mỗi người chúng ta phản ứng trước những sự việc rất khác nhau, một quan điểm có thể là đúng nếu nó gần với những gì ta nghĩ và có thể sai nếu nó khác. Chấp nhận quan điểm của người khác là việc tương đối khó khăn vì ta hiểu rằng ta biết điều ta đang biết. Nhưng liệu điều mà mình đang tin đó có thật sự là đúng?
Có nhiều câu chuyện ngụ ngôn để nói về điều này, bạn nghe câu chuyện “Cái Hang” của Platon chưa? Còn hình ảnh “Ếch Ngồi Đáy Giếng” thì bạn hiểu nó đến đâu? Có thể nhiều người sẽ nói là “tôi rất hiểu” nhưng mình nghĩ chưa chắc đâu. Bởi đứng ngoài mà nhìn và phán xét thì dễ dàng hơn rất nhiều. Chúng ta hãy làm một cuộc thử nghiệm với góc nhìn người trong cuộc nhé.
A sinh ra trong một cái hang, người bị xích vào một cây cột và quay mặt vào tường mà không thể ngoái nhìn ra phía sau là cổng của hang. Chính vì vậy bóng của những người bên ngoài cái hang đó và bóng của A hiện ra ở bức tường trước mặt. Vì từ khi còn rất nhỏ A đã thấy những cái bóng đó nên anh ta nghĩ chúng là một thực tại duy nhất gắn liền với cuộc sống của mình. Rồi một ngày nọ, B đã vào hang và muốn giải phóng anh ta khỏi thế giới mà anh ta đang sống, rằng bên ngoài cây cối rất xinh tươi, có muôn ngàn loài thú kỳ lạ, con người có thể chạy nhảy chứ không chỉ ngồi. Nhưng lúc đó bạn biết chuyện gì xẩy ra không? A đã không tin B, A đã giết chết B khi B muốn tháo sợi xích buột A.
Chuyện chưa hết, nhờ một sự may mắn mà B không chết và bò ra khỏi đó. B sống trên một hòn đảo giữa Thái Bình Dương, bộ lạc của anh xây những ngôi nhà cỏ để ở, dùng cây vót nhọn để săn thú rừng. Thần linh của họ là một loài chim kỳ lạ, 2 cánh dang rộng mà phía sau là 2 cột khói kéo dài. Một ngày nọ có người dạt vào bờ và đó là C, C được dân làng cứu sống, ngày ngày C kể về một thế giới khác mà ở đó có những ngôi nhà cao gấp mấy lần những cây cổ thụ trên đảo, nơi đó con người dùng một thứ giống như vị thần của họ để di chuyển. Chính điều này khiến dân làng tức giận nên giết chết anh ta. nhưng cũng như B, C đã không chết.
Nhờ sự trợ giúp của MĐ mà C được trở về với xã hội văn minh, anh ta đang sống ở quốc gia Z. Như bao người khác, anh ta quen với những gì được dạy, hoàn toàn tin tưởng vào nó. Chính vì thế khi MĐ kể cho anh ta về một thế giới khác tốt đẹp hơn rất nhiều, giống như những giấc mơ của anh ta thì anh ta lại không tin, thế nên MĐ đành phải bó tay toàn tập. Rồi MĐ trở về với thế giới anh ta, lại một người là VA bảo là còn một thế giới khác còn đẹp hơn nữa. rồi…rồi…
Bạn thấy đấy, dù A B C, MĐ hay VA sống trong những thế giới khác nhau hoàn toàn, nhưng cách nhìn của họ hoàn toàn là giống nhau, họ đặt tất cả niềm tin vào thế giới họ sống, họ nhìn thấy. Nhiều người đã đến bảo rằng “hãy theo tôi, tôi sẽ chỉ cho bạn một thế giới khác đẹp hơn” để rồi chỉ nhận được sự cười chê từ họ. Ở vị trí của ta, ta nhận ra rằng A và B thật ngu ngốc khi không chịu tin lời người muốn giúp họ, đơn giản vì thế giới ta đang sống văn minh hơn thế giới của họ, ta chắc chắn thế giới của ta là thực tại. Nhưng dường như ta quên rằng thế giới của A và B cũng là thực tại của chính họ. Vậy có sự khác nhau giữa cách nhìn của từng người trong thế giới của chính người đó hay không?
Cái từ “thế giới” mà tôi nói chỉ là một hình ảnh mang tính ẩn dụ, nó có thể là thế giới ta đang sống, là nền giáo dục của ta, là những bài học mà ta học được từ gia đình và xã hội, là bất cứ quan niệm nào đang có trong ta. Ta chỉ biết những gì mình biết, ta chỉ lý luận dựa trên những quan điểm hay những bài học lý luận mà ta được dạy. Thế mà ta vẫn cứ tin chắc là ta đúng giống như A B C, MĐ, VA vẫn tin là họ đúng khi có người muốn chỉ họ những điều mới lạ.
Bạn có nhận ra điều tôi nói? Tôi không bảo bạn hãy tin bất cứ ai nói những điều khác lạ, chỉ là hãy nhìn rõ bản thân mình và những giới hạn của mình, những gì mình được dạy, cái xã hội và tầm nhìn của nó mà mình đang sống trong đó. Hãy thử bước ra những gì tạo nên chúng ta, tìm hiểu những điều xa hơn cao hơn để có thể nhìn lại những gì mà ta hằng tin tưởng có phải là đúng đắn và tốt đẹp.
Có rất nhiều điều chúng ta nghe nói, nghĩ và hiểu (theo cách của ta) là tốt đẹp. Nhưng nếu bạn nhìn kỹ lại nó thì bạn sẽ thấy sự mơ hồ trong chính điều ta nghĩ là ta hiểu. Ví như tôi vẫn tin rằng mình biết bình đẳng là gì, và biết phải đấu tranh cho bình đẳng. Nhưng thật bất ngờ! khi muốn bình luận cho bài viết về bình đẳng thì tôi phải tra từ “bình đẳng” để hiểu rõ về nó mới viết được. Có nhiều người luôn thể hiện tình yêu với quê hương và dân tộc, nhưng họ có thật sự hiểu điều họ đang đi theo. Yêu là yêu cái gì? Vì sao phải yêu? Yêu như thế nào? Có ai từng nhìn kỹ lại những vấn đề đó không? Hay từ khi mới sinh ra, được ông bà cha mẹ bảo yêu là yêu thế thôi?
Lời nhắc cuối bài: nếu ai chưa đọc truyện ngụ ngôn “Cái Hang” của Platon thì nhớ tìm đọc, và những bài phân tích về nó nữa, (ví dụ của tôi chỉ mang tính rút gọn và triển khai thôi), hãy luôn nhớ đên câu chuyện ngụ ngôn này để có thể vươn lên những tầm cao mới.

Mắt Đời

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nam Đan - Quê hương là địa cầu


[Minh hoạ: “Quê hương là địa cầu” của hoạ sĩ Bảo Huân]

QUÊ HƯƠNG LÀ ĐỊA CẦU

Trời Dallas trở lạnh. Giữa khuya tôi mới nhận ra điều đó khi quấn đến hai lớp chăn mà vẫn run. Bước ra phòng ngoài, nhìn hàn thử biểu thấy 64 độ F, bèn mở máy sưởi. Vào giường vẫn không ngủ lại được. Nằm thao thức, nghĩ ngợi vẩn vơ. A, giờ này Sài Gòn như thế nào nhỉ? Mấy hôm nay còn mưa ngập đường ngập phố nữa không? Mấy hôm trước lên mạng thấy Sài Gòn lẫn Hà Nội, và nhiều thành phố khác, úng ngập ghê hồn; đâu đâu cũng thấy hình ảnh người xe bì bõm. Rồi lại nghĩ, mà này, giờ này mi đang ở một nơi cách Việt Nam một khoảng xa lơ xa lắc về không gian, còn thời gian thì cách nhau đến 12 giờ, và đời sống thì khác nhau đến vô cùng thì tại sao lại nhớ, lại thao thức băn khoăn, ngộ chưa kìa?
Hỏi, rồi tự trả lời, dường như vì tình hoài hương mà nên nỗi. Rồi lại hỏi tiếp, sao lại hoài hương khi mình chỉ mới rời khỏi đó hơn một tháng, và sẽ trở lại nay mai? Đến đây mới nhớ ra rằng mình cũng đã từng nhớ Mỹ không kém khi đang ở Sài Gòn. Thì ra cái nhớ của con người có khi không tuỳ thuộc vào không gian và thời gian, mà là nó mai phục trong tâm hồn, chỉ chờ dịp lòng người yếu mềm như lúc này là bùng lên, là nổi loạn.
Ngày xưa, đọc “Thiếu quê hương”, “Vang bóng một thời” của Nguyễn Tuân, thấy văn của ông luôn bàng bạc cái vị hoài hương của kẻ xa quê. Nhưng sau này xem tiểu sử thì thấy ông chỉ đi loanh quanh trong nước, có lần sang Trung Quốc một thời gian ngắn, còn lại khi ông ra nước ngoài là đi chơi, đi công vụ. Có lẽ, ông chưa từng sống với cái tâm thức xa biệt hẳn, cắt rời hẳn với quê hương, không mong ngày trở lại, như có thời người Việt xuống thuyền lao ra biển tìm đường sống trong cái chết, vậy mà ông đã thấy “thiếu quê hương”.
Không ngủ nữa, tôi mở tablet đọc tin tức và lên Facebook xem. Một anh bạn, nhà thơ Uyên Nguyên — trên Facebook anh lấy nick là Diệu Đế — vừa post một status thú vị, cũng về chuyện quê hương. Uyên Nguyên vượt biên sang Úc từ thập niên 80 của thế kỷ trước, vài năm gần đây anh về một vùng quê ở Phan Thiết, chọn một cuộc sống đạm bạc, thanh nhàn, tưởng là sẽ yên vui mãi mãi vậy mà... Anh viết như sau:
VỀ
 
Bạn ở Úc hỏi: “Lần này, về Sydney luôn hả?” Câu chữ phát ra âm lượng của cảm xúc.
 
Trước đây vài năm, bạn khác cũng hỏi câu tương tự: “Về Việt Nam luôn à?” Giờ, vài bạn khác nữa, ở cả hai nơi, lại hỏi câu khác... nữa, trong câu hỏi có phân nửa định nghĩa: “về... là về nhà, vậy chỗ nào là... nhà?”
 
Chừng mươi ngày nữa, Diệu Đế sẽ lên đường “về” Sydney, đụng phải câu hỏi rốt ráo này, khó nói cho suôn, nơi nào là quê hương! Định nghĩa về quê hương của Diệu Đế rất mơ hồ. Có khi, quê hương là hình ảnh một nơi chốn, hay vài âm sắc của ngôn ngữ, có lúc, lại là mùi vị, của bất kỳ thứ gì đó, trong khoảnh khắc ký ức lên men, nhưng cũng không nhất thiết... thơm ngon!
 
Thế kỷ trước, lần đầu trở về, gặp lúc chiều hôm đèn lửa nhá nhem, càng đi càng thấy lạ như bị lạc. Cách thị xã chỉ vài cây số; trái, phải hai lần quẹo, qua hai cây cầu nhỏ bắc ngang con suối, là tới nhà. Vậy mà, quái làm sao, vẫn không có cảm giác đang đi trên đường xưa lối cũ, cái xúc cảm dễ gọi tên ấy cũng không sao dấy lên! Cây me đầu dốc thật to, hai người ôm không hết, đã bị đốn mất, và chẳng biết tự bao giờ, môt biển lục bình dày ken hiện ra ngay khúc quanh của con suối. Về đến đầu ngõ, nhìn thấy nhà mà không vào được vì lối đi đã bị hàng xóm rào ngang, thế là phải vòng vèo vài phút nữa! Hàng đào xưa hơn chục cây chỉ còn lại một, già lão quắt queo sân trước, cũng chỉ là vừa bắt đầu rục rịch vào hàng, theo nhịp khơi gợi của ký ức dậy muộn. Thì ra, quê hương cũng là hình ảnh lưu giữ sau cùng trong bộ nhớ ly xứ, sự đổi thay của cảnh vật không làm dậy nỗi men cảm xúc. Nửa giờ trước đó, dừng xe ở bùng binh bên kia cầu thị xã, hai chân bị quán tính kéo đi vào khu phố ngày xưa, mùi cống xộc lên mũi làm ký ức bần thần, cái mùi thân thiết thời trẻ dại, khoảnh khắc trở thành quê hương!
 
Nhà thơ Chim Hải trong bài thơ “Phố Mắm”, cũng vẽ chân dung Phố [quê nhà] bằng từ “thum thủm”, rất đắc!
 
Đi qua lũ lụt ngày mùa muộn giấc ngập ướt
tiếng khóc muôn xưa
phố bụi đời bụi
nẻo về
đen đúa lòng người
vệt đời đan bện vào nỗi bi hận
xô xát lời xây xẩm số phận
ngõ tràn thị phi
thum thủm
phố...
 
Một lần khác vào dịp tết ở Thái, một mình trong khu thị tứ nhộn nhịp toàn bá tánh thập phương, bỗng nghe tiếng chửi thề rất quen, lại đâm ra nhớ nhà!
 
Ở Sydney, mình có thằng bạn người Úc, nếu vài ba tháng mới gặp nó một lần, chắc ăn là phải nghe nó chửi thề dăm câu, tao nhã lắm cũng cỡ “where the f... have you been?” Nó luôn nghĩ mình là người xuyên thời gian - không gian, quê hương ở tuốt “thì tương lai”. Kể nó nghe cái cảm giác “nhớ nhà” khi đang ngồi trong ngôi nhà của mình ở Việt Nam, nó cười khà khà: “Tao biết... mày sẽ nhớ thời quá khứ thuộc về Sydney khi về lại Sydney, thôi nghĩ nhiều làm gì! Quê hương là cái quỉ gì, hả? Không bám được rễ ở cả hai nơi, mày chỉ là một sự trôi nổi lang thang, chẳng phải bọn làm thơ đều thích thế cả sao!”
 
Có lần chiêm bao thấy mình bị phóng vào một hành tinh nào đó, cảnh vật hay sinh vật thảy đều lạ lẫm. Có cảm giác nhớ, nhưng quê hương khi ấy chỉ là hình ảnh của địa cầu, lúc tỉnh dậy vã mồ hôi hột và vẫn còn thấy quả cầu đang xoay. Hú vía!
 
Lần này, rời ngôi nhà cố hương không thuộc về ký ức, về lại một nơi của quê hương hiện tại không nhà... Dù thế nào, ngày đầu tiên đạp đất Sydney, ra khỏi phi trường là phải chạy đi kiếm nhà để... thuê! Sau đó, mới gặp bạn bè, có thể thằng “du hành thời gian” sẽ lại cười khà khà với câu chữ đã cầu chứng: "Where the f...” Dù sao, cũng là còn trên địa cầu!
 
Tôi nhớ một câu chuyện tuyệt vời về quê hương, hình như đọc được trong cuốn “Alexis Zorba” của nhà văn xứ Hy-lạp Nikos Kazantzakis. Tay chơi tứ chiếng, lưu lạc đó đây cả đời — a global traveller — đã từ rất lâu không về và dường như đã quên hẳn ngôn ngữ ở quê nhà vì lâu nay không còn dùng, vậy mà trong lúc hấp hối, gã giang hồ lại thốt lên câu nói sau cùng bằng tiếng mẹ đẻ chứ không phải thứ tiếng nào khác, rằng: “Tôi đã yêu!” Có phải khi đó trần gian là quê hương của kẻ sắp lìa đời?
Như giấc chiêm bao của Uyên Nguyên kể ở trên, thử tưởng tượng rằng mình là phi hành gia trên chiếc phi thuyền bị thất lạc trong vũ trụ, không còn tìm được đường trở về trái đất, lạc hẳn khỏi những khái niệm không gian và thời gian của con người, thì sẽ như thế nào nhỉ?
Ắt rồi sẽ phải ghé vào một nơi đâu đó, một thiên hà nào khác, xuống một hành tinh hay một định tinh, sẽ phải xin tạm trú, xin nhập hộ khẩu, tái định cư ở đó. Rồi trong một đêm trở lạnh, thao thức nằm nhớ. Lúc ấy, quê hương không còn là Phan Thiết, không còn là Việt Nam, không còn là Sydney, không còn là nước Úc, không còn là Dallas, không còn là nước Mỹ.
Mà lúc ấy, quê hương hẳn là địa cầu.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguyễn Đạt - Văn nghệ chẳng để làm gì


 
 
Văn nghệ chẳng để làm gì
Tưởng nhớ Thanh Tâm Tuyền & Một cây xương rồng
 
Hắn đã tự hỏi
Và không thể trả lời
Sự im lặng của Chánh
Im lặng như đôi ủng Tây Tạng
Sự hờ hững của Nhượng
Chừng ấy năm
Mưa-trong-vườn-nhà-cô-Françoise cũng chừng ấy lần
Để từ biệt hết thảy
Bậc thềm cỏ hoa cây cối.
 
Hắn có thể đau bệnh
Không mê sảng
Người nghệ sĩ ấy đã nói
Có thể nhiều lắm
Về tủi cực nhọc nhằn
Về mê mỏi đêm khuya
Để rồi lặng lẽ ra đi
Dù không bỏ cuộc
Trước điểm dứt hành trình.
 
Văn nghệ chẳng để làm gì
Hiển nhiên sự thật
Hắn la to điều ấy
Mọi người gần xa đều rõ
Không ai chờ nghe
Có thể vì chối tai
Thôi bất khả rồi
Hắn quá cô đơn
Còn mỗi con đường văn nghệ để tiếp tục.
 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Không phải chuyện "bỗng dưng"?

Báo Trung Quốc bàn cách tiêu diệt radar chống tàng hình của Việt Nam


(GDVN) - Bài báo chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu của radar Vostok-E và cách thức tiêu diệt nó, tự tin một cách hiếu chiến khi bàn tấn công hệ thống phòng không của Việt Nam.
Radar sóng ngắn Vostok-E Việt Nam mua của Belarus (nguồn mạng sina TQ)
Mạng quân sự sina Trung Quốc ngày 23 tháng 1 đăng bài viết sặc mùi hiếu chiến, kích động với tiêu đề "Phân tích mối đe dọa của radar chống tàng hình Việt Nam đối với J-20, một khuyết điểm có thể phá".
Theo bài báo, năm 2013 có tin cho biết, Việt Nam đã mua sắm radar Vostok-E của Belarus, loại radar này có năng lực phát hiện máy bay tàng hình, có thể tăng cường năng lực dò tìm của hệ thống phòng không Việt Nam đối với các mục tiêu tàng hình.
Từ hình ảnh và tài liệu liên quan có thể thấy, radar Vostok-E phải là một loại radar mảng pha sóng ngắn, có năng lực dò tìm nhất định đối với các mục tiêu tàng hình, nhưng cũng tồn tại các khuyết điểm như độ chính xác thấp, năng lực dò tìm tầng trời thấp kém.
Về tổng thể, Việt Nam cho dù đã mua radar Vostok-E, cũng không thể chống được máy bay chiến đấu J-20 của Trung Quốc – báo Trung Quốc ưa vũ lực và tự tin bình luận.
Theo bài báo, máy bay tàng hình đã trở thành lực lượng đột kích chủ yếu của không quân đương đại, căn cứ vào nguyên lý của radar liên quan, cự ly dò tìm của radar và chỉ số RCS của mục tiêu, hay nói cách khác, nếu chỉ số RCS của mục tiêu giảm 10 lần thì cự ly dò tìm của radar giảm khoảng 50%, giảm 100 lần, thu nhỏ đến khoảng 30% ban đầu; nếu giảm đến 1.000 lần thì cự ly dò tìm của radar là 20%; nếu máy bay tàng hình phối hợp sử dụng với gây nhiễu kèm theo, vùng trời của hệ thống dò tìm sẽ còn tiếp tục thu hẹp.
Từ khi Mỹ đánh Panama, máy bay tàng hình F-117A lần đầu tiên được đưa vào chiến đấu thực tế, nó đã phát huy vai trò mở đường tiên phong và chủ công trong chiến tranh cục bộ, tiêu diệt rất nhiều mục tiêu chiến lược và chiến thuật, bản thân nó chỉ tổn thất một chiếc máy bay, đã thể hiện tỷ lệ giữa hiệu quả và chi phí tương đối cao.
Tên lửa phòng không S-300 của Việt Nam sử dụng radar (nguồn mạng sina TQ)
Ngoài ra, trong hoạt động đối kháng mô phỏng với máy bay thế hệ thứ ba, máy bay chiến đấu tàng hình F-22 cũng đã giành được tỷ lệ chiến thắng khá lớn, thể hiện máy bay tàng hình đã trở thành then chốt trong giành chiến thắng của không quân hiện nay, đây cũng là nguyên nhân căn bản tại sao Trung Quốc, Nga đều muốn phát triển máy bay tàng hình.
Tục ngữ có câu "quả quýt dày có móng tay nhọn", cùng với việc phát triển máy bay tàng hình, các nước cũng đang tìm biện pháp dò tìm, tấn công nó, trong đó có radar dò tìm thụ động, radar sóng ngắn, radar song địa tĩnh v.v... Trong những thủ đoạn kỹ thuật này, radar sóng ngắn là biện pháp tương đối hoàn thiện, kinh tế và lại tin cậy, Liên Xô cũ cho đến Nga hiện nay luôn lấy radar sóng ngắn làm một thủ đoạn quan trọng để dò tìm máy bay tàng hình. Rất nhiều nước khác cũng đang triển khai nghiên cứu radar mảng pha quét điện tử chủ động sóng ngắn.
Căn cứ vào tài liệu của Trung Quốc và các nước, máy bay tàng hình chủ yếu thông qua biện pháp điều khiển chùm sóng để tiến hành biến hình, làm giảm chỉ số RCS trên phương diện dò tìm chủ yếu radar của máy bay, hệ thống vũ khí được bố trí bên trong, còn sử dụng sơn tàng hình, có thể hấp thụ sóng điện radar chiếu tới, chuyển hóa nó thành nhiệt năng, từ đó giảm sóng điện phản xạ.
Nhưng, những điều này có hiệu quả khá hạn chế đối với radar sóng ngắn, sóng ngắn hoạt động ở băng tần VHF, sóng dài khoảng 1 - 10 m, có kích thước tương đương máy bay tác chiến hiện đại, vì vậy tản về sau không phương hướng, đã tăng chỉ số RCS của máy bay. Hơn nữa, khi sóng điện từ chiếu vào bề mặt máy bay, sẽ tạo ra cộng hưởng, có tác dụng tăng cường đối với sóng radar dội lại.
Trên phương diện sơn tàng hình, thông thường cho rằng, muốn đạt được hiệu quả tàng hình tốt hơn, độ dày của sơn tàng hình và bước sóng của radar có tỉ lệ thuận, căn cứ vào nghiên cứu ở Trung Quốc và các nước, tỷ lệ này bằng khoảng 1/10 - 1/3 bước sóng của radar chiếu xạ. Dựa vào tỷ lệ này, nếu lớp sơn tàng hình có hiệu quả khá tốt đối với radar sóng ngắn thì độ dày của nó phải đạt khoảng 1 - 3 m, điều này hầu như là không thể đạt được đối với máy bay hoặc tên lửa tốc độ cao.
Hệ thống tên lửa phòng không tầm trung và xa S-300PMU2 của lực lượng phòng không Việt Nam (nguồn mạng sina TQ)
Ngoài ra, radar sóng ngắn còn có một số ưu điểm khác, ví dụ thiết bị đơn giản, độ tin cậy cao, yêu cầu thấp về vật liệu và công nghệ, có năng lực ngoài tầm nhìn nhất định, bị sóng biển gây nhiễu khá nhỏ. Nó còn có một điểm tương đối quan trọng chính là năng lực đối phó tên lửa chống bức xạ khá mạnh.
Hiện nay, kích cỡ tên lửa chống bức xạ nằm trong bước sóng của radar sóng ngắn, vì vậy khi radar sóng ngắn chiếu xạ đến tên lửa chống bức xạ, cũng sẽ tạo ra sự cộng hưởng, từ đó tăng cường năng lực dò tìm của radar sóng ngắn đối với tên lửa chống bức xạ. Trong khi đó, do không gian thân đạn hạn chế, dây anten thu của hệ thống dẫn đường bị động của tên lửa chống bức xạ hiện đại khá nhỏ, tần suất hoạt động thường từ 500MHZ trở lên, không thể đạt 300MHZ hoạt động của radar sóng ngắn, cũng không thể tấn công radar sóng ngắn.
Căn cứ vào số liệu của trang chủ Cục thiết kế radar, cự ly dò tìm của radar mảng pha quét điện tử chủ động sóng ngắn Vostok-E đối với các mục tiêu như B-52 (độ cao 10.000 m, không gây nhiễu) có thể đạt 360 km, máy bay tàng hình F-117A có thể đạt 350 km. Còn trong tình hình bị gây nhiễu, cự ly dò tìm đối với B-52 giảm xuống 255 km, đối với F-117A giảm mạnh xuống đến 47 km.
Trung Quốc cũng đã nghiên cứu chế tạo thành công radar mảng pha quét điện tử chủ động sóng ngắn, vì thế trên trang chủ, Cục thiết kế radar đã tiến hành so sánh giữa radar Vostok-E với radar HK-JM của Trung Quốc, cho rằng radar Vostok có ưu thế hơn radar Trung Quốc. Chẳng hạn cự ly dò tìm của HK-JM đối với các mục tiêu như F-117A ở độ cao 25.000 m, không gây nhiễu là 350 km. Ngoài ra, độ chính xác cũng phải thấp hơn radar Vostok-E, sai số trong một lần quét của radar Trung Quốc là 300 m, còn Vostok-E chỉ 25 m.
Máy bay chiến đấu Su-30MK2V của Không quân Việt Nam đã có quy mô, hơn 10 chiếc đậu ở lán máy bay (nguồn mạng sina TQ)
Tuy nhiên, radar sóng ngắn cũng có khuyết điểm của nó, thứ nhất là kích thước khá lớn, tính cơ động kém. Chúng ta biết, cự ly dò tìm và công suất dây anten có tỷ lệ thuận, trong khi đó, công suất dây anten bằng bình phương ngoài bước sóng của khẩu độ dây anten, cũng tức là nói, bước sóng càng lớn, khẩu độ dây anten tăng theo, để bảo đảm công suất cần thiết.
Còn có một điểm chính là độ chính xác dò tìm của radar tùy thuộc vào độ rộng của chùm sóng, bước sóng càng dài, khẩu độ dây anten càng phải lớn mới có thể giảm độ rộng của bước sóng, để nâng cao độ chính xác dò tìm của radar. Nhưng xét tới các nhân tố như tính năng cơ động, giá thành thì khẩu độ của dây anten lại không thể quá lớn, cho nên độ chính xác dò tìm thông thường của radar sóng ngắn tương đối thấp. Ngoài ra, trên mặt đất do tác động của hiệu quả đa kênh, chùm sóng dễ chia tách, tính năng dò tìm ở tầng trời thấp là khá thấp, hơn nữa tần số này tồn tại rất nhiều thiết bị thông tin dân dụng, dễ gây nhiễu lẫn nhau.
Rõ ràng, nhập khẩu radar Vostok-E, dựa vào năng lực chống gây nhiễu điện tử và tên lửa chống bức xạ khá mạnh của nó, có thể tăng cường có hiệu quả năng lực cảnh báo sớm ban đầu cho hệ thống phòng không của Việt Nam, kết hợp với tên lửa S-300PMU mới nhập khẩu có thể tiếp tục cải thiện năng lực tấn công của hệ thống phòng không Việt Nam đối với các mục tiêu trên không, nhưng nói rằng hệ thống phòng không của Việt Nam đã có năng lực kiềm chế máy bay tàng hình thì cách nói này có thể hoàn toàn không toàn diện - báo TQ nói.
Phần đầu đã nói radar sóng ngắn mặc dù có khá nhiều ưu điểm, nhưng khuyết điểm cũng rất nổi bật, trong đó nổi bật nhất chính là tính năng tầng trời thấp khá sai lệch. Từ giới thiệu trên trang chủ của Cục thiết kế radar có thể thấy, radar Vostok-E có cự ly dò tìm 350 km đối với F-117A, nhưng độ cao của đối phương từ 10.000 km trở lên, nói cách khác, nếu đối phương giảm độ cao thì căn cứ vào công thức tầm nhìn của radar, cự ly dò tìm của nó phải giảm mạnh.
Máy bay chiến đấu tàng hình J-20 Trung Quốc đang phát triển (nguồn mạng sina TQ)
Trên thực tế, cùng với sự tiến bộ của radar theo dõi địa hình và hệ thống điều khiển bay, năng lực đột phá phòng không tầng trời thấp của máy bay tác chiến hiện đại đã được cải thiện khá lớn, có thể phát động tấn công vào ban đêm trong mọi điều kiện thời tiết và dựa vào địa hình phức tạp để bảo vệ. Từ góc độ này, nếu muốn tấn công radar sóng ngắn, e rằng đều không cần sử dụng máy bay tàng hình, điều động máy bay tác chiến thế hệ thứ ba đột phá phòng không ở tầng trời thấp rồi ném bom là có thể được.
Tiếp theo là độ chính xác kém, cự ly dò tìm mục tiêu của radar sóng ngắn sai số khá lớn, thường đều lên tới cấp độ km, chỉ tiêu của Vostok-E cũng lên tới khoảng 300 m. Ngoài ra, dây anten radar của nó có hình chữ nhật, tốc độ truyền sóng có hình quạt, như vậy, sai số về độ cao có thể lớn hơn, vì vậy không thể trực tiếp dẫn đường cho máy bay chiến đấu, chỉ có thể cung cấp phương vị đại khái cho máy bay chiến đấu.
Do máy bay chiến đấu dùng radar điều khiển hỏa lực của nó để tiến hành tìm kiếm, vấn đề này lại quay trở lại điểm ban đầu. Radar điều khiển hỏa lực của máy bay chiến đấu hoạt động ở bước sóng ngắn X, trong khi đó thiết kế của máy bay tàng hình nhằm vào bước sóng này.
Cho nên, máy bay chiến đấu chủ lực của Không quân Việt Nam hiện nay là Su-30MKV, có tính năng tàng hình tương đối tốt, radar NO01VEP của nó có thể cung cấp cự ly dò tìm 110 km đối với các mục tiêu có RCS=3. Như vậy, đối với các máy bay chiến đấu tàng hình như F-22, J-20, cự ly dò tìm đón đầu có thể thấp hơn 50 km. Trong khi đó, đối phương trang bị radar mảng pha quét điện tử chủ động có công suất lớn, có thể cung cấp cự ly dò tìm 150 km trở lên đối với các mục tiêu như Su-30MKV, nói cách khác Su-30MKV còn chưa phát hiện ra đối phương thì đã bị đối phương "khóa" lại và tấn công.
Mặc du Su-30MKV có thể phát hiện F-22 hoặc J-20, nhưng dùng loại vũ khí nào tấn công cũng là một vấn đề, không chiến hiện đại chủ yếu dùng radar chủ động dẫn đường tên lửa không đối không, trong khi đó radar dẫn đường đoạn cuối cho tên lửa không đối không của radar chủ động cũng hoạt động ở sóng ngắn X, vì vậy năng lực dò tìm đối với máy bay tàng hình hiện đại bị hạn chế.
Máy bay chiến đấu ném bom JH-7 Trung Quốc
Căn cứ vào tài liệu liên quan, cự ly dò tìm của tên lửa không đối không dẫn đường radar chủ động đối với máy bay tác chiến thế hệ thứ ba có thể đạt khoảng 20 km, nhưng giảm mạnh đối với máy bay tác chiến thế hệ thứ tư. Nếu đối phương dùng các thủ đoạn như gây nhiễu điện tử, cự ly này còn phải rút ngắn, cho nên có người từng dự đoán không chiến giữa các máy bay tác chiến tàng hình thế hệ thứ tư có thể phải quay trở lại thời đại chiến đấu cự ly gần.
Vì vậy, ở góc độ này, cho dù lực lượng phòng không Việt Nam dựa vào radar Vostok-E có thể dò tìm được máy bay tàng hình, thì việc làm thế nào để tấn công các mục tiêu tàng hình cũng là một vấn đề lớn.
Đối với các radar như Vostok-E, chỗ bất lợi nhất có thể là - nó là mục tiêu quá lớn, dễ bị đối phương xác định vị trí, từ đó bị tấn công, đặc biệt là khi đối phương có năng lực trinh sát và dò tìm khá mạnh thì có thể nhanh chóng biết được vị trí của Vostok-E, sau đó điều máy bay tàng hình tiến hành tấn công. Đối phương chỉ cần tiếp cận vùng rìa khu vực dò tìm của Vostok-E là có thể tránh được hoạt động dò tìm của nó, sau đó sử dụng bom dẫn đường tăng tầm chao lượn như SDB để tiến hành tấn công. Hiện nay, cự ly thả bom như SDB có thể đạt 100 km trở lên, có thể tiến hành tấn công đối với Vostok-E ở ngoài khu vực phòng thủ.
Ngoài ra, tấn công radar Vostok-E còn có thể dùng nhiều thủ đoạn khác để tiến hành tấn công, lại không nhất thiết sử dụng máy bay chiến đấu tàng hình, chẳng hạn có thể sử dụng tên lửa đạn đạo chiến thuật để tiến hành tấn công, lợi dụng khuyết điểm tính năng dò tìm ở tầng trời thấp kém của nó, sử dụng tên lửa hành trình tiến hành tấn công xuyên thấu ở tầng trời thấp, điều máy bay chiến đấu ném bom thế hệ thứ ba, sử dụng tên lửa không đối đất tầm xa để tiến hành tấn công. Hơn nữa, máy bay tác chiến tàng hình cướp lấy quyền kiểm soát trên không trên cao, bảo đảm cho cụm máy bay tấn công của Trung Quốc có thể thực hiện nhiệm vụ tác chiến một cách thuận lợi.
Việt Nam lần này mua sắm radar Vostok-E có thể phối hợp nhiều hơn với hệ thống tên lửa phòng không S-300PMU, tiếp tục tăng cường năng lực giao chiến cho lực lượng phòng không và máy bay tác chiến thế hệ thứ ba và thế hệ 3+ của Việt Nam. Sau khi bước vào thế kỷ mới, các nước xung quanh Việt Nam đã lần lượt trang bị nhiều loại máy bay tác chiến tiên tiến như F-15SG, Su-30MKM.
Radar tìm kiếm 2D Type P-18 của Liên Xô là radar cảnh báo sớm đối không chủ lực của Việt Nam, cự ly dò tìm đối với các mục tiêu ở độ cao 10.000 m là 230 km (nguồn mạng Quan sát TQ)
Đối với lực lượng phòng không Việt Nam, radar cảnh giới phòng không P-18 và hệ thống tên lửa phòng không C-75 hiện có đã không thể tạo được răn đe có hiệu quả đối với những máy bay này, cần có hệ thống phòng không thế hệ mới để chống lại. Đương nhiên, năng lực chống tàng hình của Vostok-E cũng phần nào tăng cường năng lực cảnh báo đối với máy bay tàng hình cho Việt Nam.
Báo TQ tuyên bố: "Nhìn vào tình hình hiện nay, mọi người luôn nghiên cứu các loại công nghệ chống tàng hình, nhưng trong các vấn đề như dò tìm, nhận dạng, theo dõi, tấn công vẫn đang tồn tại một loạt trở ngại, đồng thời tấn công máy bay tàng hình là một công trình hệ thống phức tạp, hoàn toàn không phải là có thể hoàn thành một sớm một chiều. Ở góc độ này, Việt Nam không có năng lực, cũng không mong muốn xây dựng được một hệ thống phòng không chống tàng hình (!?)".


Phần nhận xét hiển thị trên trang