Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

Bài phỏng vấn giả tưởng của một người hình như cũng giả tưởng luôn?

Kính gửi đạo diễn Thanh Vân!

scls
Tui là người ái mộ ông lắm lắm, dù chỉ là qua báo chí cách mạng, vì họ viết rằng ông là một trong những đạo diễn hàng đầu của đất nước bốn ngàn năm văn hiến của chúng ta. Ôi tự hào làm sao khi đất nước có một người con tài năng, cả đời cống hiến vì nghệ thuật như ông!
Mới đây tình cờ lướt qua mấy tờ báo mạng, tui thiệt quá vui mừng khi biết rằng ông vừa đạt được một kỷ lục thế giới về điện ảnh, có thể nói là vô tiền khoáng hậu khi bộ phim “Sống cùng lịch sử” của ông, sau hai tuần chiếu giữa thủ đô hoa lệ Hà Nội đã KHÔNG BÁN ĐƯỢC 01 VÉ!
Ôi trời! Quả là một kỷ lục xuất sắc mà dù đó là các đạo diễn hàng đầu của Hollywood cũng không bao giờ mơ thấy. Kính thưa đạo diễn Thanh Vân, ông còn chần chờ gì nữa mà không mau chóng đăng ký kỷ lục Guinness để làm rạng danh nước nhà. Nhưng có lẽ cũng không cần vội vàng lắm, bởi tôi tin chắc chắn sẽ không ai phá vỡ kỷ lục này, ngoài một đạo diễn nào đó của đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa chúng ta!
 Năm Sài Gòn!

Phỏng vấn (giả tưởng) đạo diễn Nguyễn Thanh Vân

SCLS
-Thưa đạo diễn Nguyễn Thanh Vân, mấy lúc này trên facebook um sùm lên vì bộ phim “bom tấn” Sống Cùng Lịch Sử do anh đạo diễn. Anh có thể cho độc giả biết sự thật về vấn đề này hay không ạ?
-Được chứ, cô cứ hỏi!
-Thưa ông đạo diễn, có phải bộ phim tốn kém hơn 21 tỷ đồng hay không ạ?
-Cái này thì không chính xác! Báo chí đưa tin thường hay thổi phồng để câu độc giả, còn dân facebook thì lại cứ ưa thêm thắt để câu like. Chính xác là 20 tỷ 836 triệu 500 ngàn đồng.
-Nghe nói bộ phim là về chiến dịch Điện Biên Phủ, được nhiều nhà phê bình đánh giá cao là có ý tưởng mới mẻ, sâu sắc, nội dung xúc động, còn kịch bản đặt ra là gắn với thế hệ trẻ hôm nay, là niềm tin và sự trăn trở của họ về lẽ sống và truyền thống hào hùng của dân tộc, là một cách tiếp cận lịch sử thú vị qua đánh thức cảm nhận của thế hệ trẻ. Có phải vậy không ạ?
-Cô nói đúng. Với 20 tỷ 836 triệu 500 ngàn đồng để làm được một bộ phim như vậy là không phải dễ.
-Thế thì… Thưa ông đạo diễn… Tại sao bộ phim lại không lôi kéo được người xem, nghe nói buổi chiếu đầu tiên chỉ có 2 người xem là sao?
-3 người chứ không phải 2, xin cô coi kỹ lại giùm cho!
-Xin lỗi, đúng là 3 người chứ không phải 2! Thưa ông, tại sao là như vậy?
-Đó là lỗi của bộ phận quảng cáo trong công ty.
-Lỗi như thế nào ạ?
-Nguyên là thế này, bộ phận quảng cáo có đưa ra đề nghị nhằm khuyến khích người trẻ đến xem… Cô biết đó, bộ phim là nhắm vào thế hệ trẻ, nên chúng tôi đồng ý với đề nghị của bộ phận quảng cáo, cho in băng rôn chữ to BA NGƯỜI MUA VÉ VÀO XEM ĐẦU TIÊN SẼ ĐƯỢC TẶNG iPHONE 6.
-Đọc tấm bảng quảng cáo ấn tượng này thì khối người chen lấn mua vé xem phim!
-Cô nói đúng… Có điều…
-Có điều sao ạ?
-Có điều là… Sau khi ba người đầu tiên mua được vé có kèm iPhone 6 được tặng thì… thì … những người còn lại tan hàng về nhà… coi phim Hàn Quốc.
 Fb Lưu Thy Nguyễn

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bài một người quen chưa gặp bao giờ ( Hồ Nhật Thành )

NHÂN TRUYỆN "GÃ HÀNG XÓM"


   Mấy hôm nay tôi trở nên hiền lành, dịu dàng và ít nói hẳn đi. Không phải tôi…trở chứng gì đâu mà do cổ họng nó đau rát, nói không được. Tôi cũng không háo hức vào blog như mọi hôm vì hai thái dương giật giật như kim đồng hồ chạy pin. Chẳng biết có ai nhắc không mà cái mũi cứ ngứa ngáy rồi hắt hơi liên tục, hắt hơi đến mức thứ nước nhờn nhờn trong mũi chảy ra cả dòng. Khiếp! Giờ thì cổ họng tôi bị tắc hẳn rồi, nhưng viết thì vẫn viết được.
     Thực ra, lâu nay tôi vẫn muốn viết về những người dân lao động tự do ở quanh tôi. Họ, những con người vất vả, cơ cực trong cuộc mưu sinh. Họ, những con người nghèo chữ nghĩa, suy nghĩ có phần nông cạn, cổ hủ, gàn dở nhưng chất phác, thật thà. Họ thật thà đến mức làm người ta khó chịu vì nói ra cả những điều mà người có học nhiều khi nghĩ đến nhưng giấu diếm. Họ, những người dân lao động nhịn ăn, nhịn mặc để dành dụm… tiền. Gạt cái vẻ bề ngoài thô thiển trong cách ăn, cách nói và gạt cái tính toán chắt bóp vì hay lo xa, ta thấy họ cũng thật đáng thương.
   Nuôi ý định vậy thôi, nhưng tôi chưa tìm được tứ cho truyện. Đọc NHÀ KHÔNG CÓ BỐ của lão Tan, tôi chợt hình dung rõ nhân vật của mình. Mất khoảng một tiếng, tôi viết xong bản thảo và đăng ngay lên HƯƠNG NGÀN, chờ ý kiến của mọi người rồi sẽ hoàn thiện sau.
  Hôm nay  thấy anh Hải Thăng có nhận mình là nguyên mẫu trong GÃ HÀNG XÓM. Nguy thật! NT đâu dám viết về anh như vậy?
  Quen anh trên blog, qua các bài viết, tôi biết  anh Hải Thăng trước là lính lái xe trên đường Trường Sơn, sau chuyển ngành làm ở một cơ quan cấp bộ. Đi nhiều, trải nghiệm nhiều, về hưu anh ôm mộng văn chương. Anh vừa cho ra đời tập MEN THƠ, do Nhà xuất bản Hội nhà văn cấp phép, gồm 111 bài. Anh viết đủ thể loại, nhưng tôi vẫn thích những bài lục bát hơn cả.
  Có những bài đọc lên như thấy cả đôi mắt ai lúng liếng làm tác giả chênh chao:
Nghiêng nghiêng nắng, nghiêng nghiêng mưa
Nghiêng nghiêng ánh mắt đong đưa mời chào
Nghiêng nghiêng giữa chốn má đào
Nghiêng nghiêng say tỉnh chìm vào nghiêng nghiêng.
                                        (Nghiêng nghiêng)
 Có những bài như bức tranh thủy mạc đẹp sững sờ:
Đồng Mô trời nước trong xanh
Trăng non in bóng, tròng trành thuyền câu
Mây trời, bóng đảo lồng nhau
Thuyền ai nhẹ lướt vớt câu thơ tình!
                                   (Hồ Đồng Mô)
  Có cảm hứng, ta làm thơ. Và chính việc làm thơ tăng thêm nguồn cảm hứng cho tâm hồn ta bỗng trẻ thêm ra:
Bấy nay tưởng tắt nguồn yêu
Vương vào lục bát lại liêu xiêu tình
Ngắm đời nẩy lộc tươi xanh
Hồn vương vấn gió kết thành câu thơ.
                                         (Thơ với tình)
  Đọc MEN THƠ, ta bắt gặp nhiều bài lục bát xinh xinh như thế. Nhưng có điều, thỉnh thoảng hình như cảm xúc của anh bị chững lại. Nếu nói tâm hồn người làm thơ thường đa tình, thì sự đa tình của anh là đa tình kiểu…con rùa! Con rùa đang chạy thoăn thoắt, cổ ngẩng cao lên hướng về phía trước, bỗng bất ngờ rụt hết cả chân cả cổ lại để nằm im vì …sợ:
  Ai đời đang bềnh bồng trong cảm xúc:
Rượu vào thơ ngẩn ngơ say
Lâng lâng hứng gió, kều mây ngó trời
Em vào thơ, ngẩn ngơ cười
Thôi trăng gió, bỏ đất trời ngắm em.
                                                        (Rượu và em)
  Thế mà anh dội ngay vào xúc cảm đang bừng bừng ấy một gáo nước…đá:
Chán thế sự viết thơ tình
Cưa sừng làm nghé –Vẫn hình bóng trâu
Nghĩ mà đau lại càng đau
Làm thơ tếu táo đùa nhau đỡ buồn.
                               (Chuyển hướng)
  Những bài thơ viết theo thể loại thất ngôn bát cú và thơ tự do cũng có nhiều bài hay về ý tưởng nhưng về luật thơ thất ngôn bát cú có bài chưa chuẩn và sử dụng phép tu từ trong thơ tự do của anh thì chưa đạt đến độ hay. Tôi nghĩ, nếu anh  có cuốn VẦN VÀ TỨ TRONG THƠ của anh Đỗ Đình Tuân thì hay biết mấy! Hai người cùng quê Hải Dương, một ở Chí Linh, một ở Gia Lộc. Hai người đều đã làm được công việc rất đáng trân trọng: đem cảm hứng văn chương đến với những người cao tuổi để họ thực sự được sống khỏe, sống vui, sống có ích. Anh Hải Thăng thành lập tổ thơ cụm 9, anh Đỗ Đình Tuân tham gia  thành lập Xóm tri ân.
  Lại nói đến VẦN VÀ TỨ TRONG THƠ của anh Đỗ Đình Tuân, dù tác giả khiêm tốn tự nhận: “Những bài viết trong cuốn sách này chắc cũng chỉ là sự “bơi lóp ngóp” của riêng tôi trong cái “rừng nho biển thánh” mênh mông ấy. Có thể chỉ là những “cũ mèm”, chưa có gì là tân tiến hiện đại cả. Dù sao cũng là một cách hiểu, một lối tiếp cận của một người yêu thơ muốn chia sẻ cùng bầu bạn. Vì thế vẫn là một tham khảo có ích cho những ai muốn hiểu thơ để bình thơ và làm thơ tốt hơn.” nhưng quả thật, đọc VẦN VÀ TỨ TRONG THƠ  của anh thật thú vị. Anh chuyển tải những kiến thức mang tính bác học, hàn lâm, những khái niệm, những thuật ngữ “khó nhai, khó nuốt, khó tiêu” thật dễ hiểu bằng lối viết dí dỏm, nhẹ nhàng. Anh tối giản những khái niệm trừu tượng bằng cách nói giàu hình ảnh. Anh diễn đạt những vấn đề lí luận văn học khô khan bằng những ngôn từ giản dị nhất có thể. Đọc VẦN VÀ TỨ TRONG THƠ, tôi hình dung một Đỗ Đình Tuân với vốn văn chương rất sâu, rất rộng đang đứng trước bạn bè thân hữu nói chuyện làm thơ bằng vẻ mặt cười cười, mắt nheo lại như vừa trêu bạn vừa nói, thế mà mọi người nghe thật chăm chú, vừa nghe vừa gật gật: Hiểu rồi, hiểu rồi!
   Nghe anh Hải Thăng bảo hiện đang tiếp tục viết để cho ra đời tập truyện ngắn đầu tay. Trong phần nhận xét truyện GÃ HÀNG XÓM, anh bảo: “Tôi đã có ý tưởng viết truyện ngắn lâu rồi, nhưng lực bất tòng tâm. Nay gặp được NT học tập được đôi điều nên hâm lại quyết tâm xưa. Được cô giáo NT truyền thụ theo lối cầm tay chỉ việc nên cũng dễ tiếp thu” Chao ôi, đọc những dòng này mà sướng…đê mê! Nhưng là tự sướng thế thôi, NT viết còn chưa ra hồn, nói gì đến cầm tay chỉ việc cho ai. Mách anh Hải Thăng nhé:
  Người trên blog này mà em luôn coi là sư phụ chính là lão Tan 262 ấy. Em chưa có may mắn được đọc truyện của lão ( lão giấu kĩ rứa), nhưng lão có trình độ lí luận sắc lắm. Lão dùng lí luận ấy  soi vào tác phẩm văn chương tinh như …mắt cú mèo nhìn vào bóng đêm! Những nhận xét của lão thường mang tính định hướng, vừa đủ để người viết không nguội cảm hứng sáng tạo vì chán nản, vừa chỉ ra được cái hạn chế, cái cần khắc phục. Dí dỏm, hài hước bông đùa mà tỉ mỉ, cẩn thận, chân tình. Ừ, nếu lão ở gần, em sẽ xin lão ngồi im cho em…hôn lão một cái! He he…
  Hôm trước tôi có chia sẻ bên blog Lão là có thể thời gian tới, có chuyện ngoài ý muốn đến với em, em sẽ ngừng viết blog.
 Hôm nay tôi viết vội bài này, xin tạm biệt tất cả những người hàng xóm thân yêu  của tôi một thời gian nhé.
                                  Đêm 22/9/2014
                  

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hơi Thở Của Vũ Trụ: Tôi chưa đọc "Đèn Cù"

Hơi Thở Của Vũ Trụ: Tôi chưa đọc "Đèn Cù":        Đó là một cuốn tiểu thuyết hay tự truyện gì đấy, vì chưa đọc nên tôi cũng không rõ. Nhưng nó đang gây dư luận xôn xao khắp đó đây, ... Phần nhận xét hiển thị trên trang

Điên đầu vì thông tin ngược như này>Không biết tin ôngcụ Khiêu hay bà cụ Vân đây?


Nắng thì cày ruộng, mưa thì đọc sách ( Giao Blg )

23/09/2014

Hồi kí Vũ Khiêu

Sau khi Đèn cù như một hồi kí của Trần Đĩnh được ra mắt, thì có lẽ phong trào xuất bản thể loại này sẽ bùng nổ chăng ? Ngay bây giờ, tôi đang có cuốn hồi kí nữa, của Trần Ng. (tạm viết khuyết nét), dạng chế bản điện tử, mà trong dòng tiêu đề thì có một chữ là "ngược", tức không xuôi.

Riêng về Hồi ký Vũ Khiêu thì là chuyện cũ, từ năm ngoái (mạo muội tạm gọi thế, biết đâu cụ lại đặt tên là Đèn kéo quân cũng chưa biết chừng). 

Vì quả thực, việc này đã đưa về blog từ năm ngoái (gần một năm đã trôi qua, tính từ ngày cụ khóc Võ Đại tướng trên báo Công thương).

Hình như cùng một bài, nhưng cụ gửi đi mấy báo liền (hay là các báo tự đem về xuất bản cùng lúc, thì chưa rõ, vì thấy tít trên Lao động khác với trên Công thương).

1. Lúc đó, cụ đã viết rõ thế này, nên mới đoán là hồi kí cụ sắp ra, đây (báo Công thương):

"Nhận biết được tinh thần ấy, tôi đã viết tặng Anh 10 chữ:
Võ công truyền quốc sử
Văn đức quán nhân tâm
Có nghĩa là: Sự nghiệp to lớn của Anh sẽ mãi mãi lưu truyền trong lịch sử. Còn văn hóa và đạo đức của Anh thì trùm lên lòng con người ở cả trong nước và ngoài nước.
Thời khắc đa thương này, tôi chỉ tóm tắt lại vài dòng. Những điều cụ thể hơn, tôi đã ghi trong cuốn Hồi ký sẽ có dịp ra mắt bạn đọc.
Anh Văn ơi!
Anh mất đi là một tổn thất lớn của đất nước, là nỗi đau xót của 90 triệu đồng bào và cũng là nỗi tiếc thương của hàng triệu con người hâm mộ Anh trên toàn trái đất.
Sinh ra tôi là cha mẹ, hiểu biết tôi lại là Anh. Tấm lòng tri ngộ ấy tôi biết lấy gì báo đáp?
Mấy hôm nay ngồi khóc, viết mấy lời trên. Trên bầu trời cao Anh có thấu hiểu lòng tôi?".



2. Nhưng bản ở trên Lao động thì lại hơi khác, không tìm ra cái Hồi ký, đây:

"Nhận biết được tinh thần ấy, tôi đã viết tặng Anh 10 chữ như sau:
Võ công truyền quốc sử
Văn đức quán nhân tâm
Có nghĩa là: sự nghiệp to lớn của Anh sẽ mãi mãi lưu truyền trong lịch sử. Còn văn hóa và đạo đức của Anh thì trùm lên lòng con người ở cả trong nước và ngoài nước.

*
Anh Văn ơi.
Anh mất đi là một tổn thất lớn của đất nước, là nỗi đau xót của 90 triệu đồng bào toàn quốc và cũng là nỗi tiếc thương của hàng triệu con người hâm mộ Anh trên toàn trái đất.
Hôm nay toàn quốc khóc Anh như đã khóc Bác Hồ. Tôi còn khóc Anh nhiều hơn nữa. Anh là lãnh tụ của toàn dân, là hồn thiêng của sông núi. Đối với tôi, Anh còn là tài sản vô giá của đời tôi. Tôi khóc Anh mấy ngày hôm nay, đứt từng khúc ruột. Tôi nhìn lên tường, đọc lại những lời Anh viết tặng tôi năm tôi 90 tuổi:“Mừng anh Vũ Khiêu, một nhà triết học cách mạng, một chiến sĩ văn hóa anh hùng, năm nay thọ 90 xuân”.
Sinh ra tôi là cha mẹ, hiểu biết tôi lại là Anh. Tấm lòng tri ngộ ấy tôi biết lấy gì báo đáp?.
Mấy hôm nay tôi ngồi khóc viết mấy lời trên, từ đỉnh trời cao, Anh có thấu hiểu lòng tôi?."

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tổ sư cha cái củ khoai


                                 
Tác giả: Lê Tự 
Tôi là con gái một gia đình gia giáo. Thế có nghĩa là các cụ sinh thành đều thông thạo về phương diện giáo dục con cái theo tư tưởng nho nhe, ấy là “công dung ngôn hạnh”.

Và chính tôi, sau 18 năm ra đời và phát triển, thấy mình cũng hơi bị tuyệt vời, một cô gái chân chính là chính, chân phụ ít thôi. Tôi tự chấm điểm mình 9/10, một chỉ số khá cao.

Đàn ông bắt đầu bu xung quanh tôi, khi tôi tập tọng biết yêu, hình như từ năm mới 16 tuổi. Làm thế nào để đuổi được lũ ruồi nhặng suốt ngày bu quanh bây giờ?
Bố tôi quyết định nuôi 2 con chó, một con mầu đen, một con mầu vàng. Hai con chó này suốt ngày nằm sát cổng, thấy người lạ chúng chỉ cần ngóc cổ lên nhìn là đã thu mất vía của những ai có ý định không trong sáng.

Bố tôi nói, hai con chó này được đào tạo bài bản, trình độ cao ra phết đấy. Kinh chưa?
Còn trong thời gian tôi ra đường ư? Mẹ tôi đã thuê một mụ phù thủy đai đen đi kèm, mụ chỉ cần phất tay áo một phát là một kẻ si tình té vập mặt xuống đường như bỡn. Kinh chưa?
Chạm ngưỡng 18 tuổi, bậc sinh thành quyết định cho tôi được tự do yêu. Tuy nhiên phẩm hạnh phải giữ gìn như sách đã dạy. Đặc biệt khoản “ăn kem trước cổng” thì cấm tiệt. Đây là một thử thách.
Làm sao bây giờ, cầm phẩm chất gì ở người chồng tương lai, tôi phải dò hỏi mấy con bạn thân đã có chồng. Chúng đồng thanh bảo:
- Quan trọng nhất là sức khỏe, đàn ông mà yếu thì coi như toi, chàng phải luôn mang theo mình một tinh thần chiến đấu, muốn có được điều ấy thì cái ấy của chàng phải luôn sẵn sàng…
Nghe chúng nói nói mà tôi chóng hết cả mặt, kinh quá, toàn khái niệm mới mà tôi chưa hề nghe lần nào. Bao nhiêu năm bậc sinh thành toàn dạy chào hỏi, chắp tay xin phép, nhai không được há mồm ra nhỡ ruồi bay vào… Bây giờ tiếp thu mấy khái niệm thấy khó quá như thể học triết.
Tôi quyết định đầu tư thêm một chầu bún vịt chiêu đãi mấy con bạn đã có chồng (trong đó 2 đứa đã bỏ chồng) đề chúng nó nói thêm cho cụ thể. Kết luận rút ra là: “to dài và nóng”. Thế là yên tâm.
Tôi chấp nhận lời hẹn đi chơi tối với chàng sau 3 tháng trời thử thách. Đàn ông không sợ chó cắn, không sợ phân… là đạt tiêu chuẩn toàn diện.
Vấn đề còn lại cần kiểm tra phần sức mạnh đàn ông nữa thôi.
Chúng tôi ra bờ đê ngồi hóng mát, chờ trăng lên. Ngồi bờ sông nói tỏ tình thì còn gì đẹp hơn thế nữa. Chàng bỏ ra 5 kg hạt hướng dương, ăn hết chỗ này sẽ phân định. Ánh trăng khuya tỏa vàng một vùng, lãng mạn làm sao, yêu thương làm sao. Tôi ngây ngất tình.
Tới thời điểm thích hợp, tôi cố tình ngồi sát vào chàng, còn chàng thì quàng tay qua vai tôi. Tôi chợt thấy một vật gì dài dài, cứng cứng và hơi nóng chạm vào người tôi.
Quyết liền! Anh yêu ơi, em yêu anh, yêu anh mãi mãi…
Tôi chủ động hôn chàng. Kế hoạch tổ chức đàm cưới được bàn thảo tắp lự.
Đêm tân hôn, tôi hồi hộp chờ đợi một sự bùng nổ, thế là trọng vẹn, tôi giữ tiết trinhcho tới ngày cưới cho chàng.
Một giờ trôi qua chàng vẫn không động chạm gì, tôi sốt ruột cởi phăng quần áo, thân thể tôi trắng nõn nà, chàng vẫn nằm trơ ra. Ô hay sao thế nhỉ?
Không còn chịu hơn được nữa, tôi mới hỏi chàng:
- Hôm ngồi ở bờ sông em thấy anh có cái gì dài dài nong nóng và cưng cứng cơ mà… Đâu rồi?
Chàng trả lời rằng:
- Hôm ấy anh đút túi quần của khoai nướng, định ăn hết hạt hướng dương thì mời em đấy mà.
Cả đêm tôi gục đầu vào gối khóc hết nước mắt, mờ sáng không chịu được, tôi ra ngoài hiên ngửa mặt lên trời chửi:

- Tổ sư cha cái củ khoai nướng!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vì sao các Vua trước thời Hậu Lê công nhận Triệu Đà, sau đó lại phủ nhận?


Tượng đài Triệu Đà tại Quảng Châu -TQ
Một trong những chủ đề luôn gây tranh cãi trong lịch sử VN là vai trò của Triệu Đà và nước Nam Việt. Trong khi các triều đại TQ không thừa nhận vai trò của Triệu Đà và Nam Việt, thì các vua chúa VN trước thời kỳ Hậu Lê đều đã coi Triệu Đà là "bậc tiền bối" (*), nhưng từ thời Hậu Lê về sau bắt đầu có tư tưởng bác bỏ. Đáng chú ý  là, Hồ Chí Minh từ năm 1942 trong quyển sử viết tay của mình đã coi Triệu Đà là vua đầu tiên của VN , nhưng không rõ vì lý do gì, giới sử gia và sách giáo khoa đến nay vẫn tiếp tục làm ngơ không ghi nhận việc này (?) 

Xét thấy trong bối cảnh ngày nay với sự tái xuất hiện CN bành trướng đại Hán đang đe dọa nền độc lập tự chủ của VN thì có lẽ không thể không bàn  lại chủ đề này. Đây không chỉ là vấn đề sự thật lịch sử mà còn xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đặt ra cho đất nước ta . 
Để cung cấp thêm dữ liệu tham khảo về chủ đề nói trên, trang chủ Bách Việt xin mạn phép trích đăng lại nguyên văn tài liệu mới trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử http://nghiencuulichsu.com/2014/07/04/nhan-thuc-cua-le-van-huu-va-ngo-si-lien-ve-lich-su-viet-nam/ . 

Nhận thức của Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên về lịch sử Việt Nam



This entry was posted on Tháng Bảy 4, 2014, in Lịch sử Việt Nam and tagged Lê Văn HưuNgô Sĩ Liên. Bookmark the permalinkĐể lại bình luận




Vietnam Borderless Histories. Published August 29th 2006 by University of Wisconsin Press.


“Một so sánh về nhận thức của hai sử gia Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên về lịch sử Việt Nam” [“Lê Văn Hưu and Ngô Sĩ Liên - A Comparative of their Perception of Vietnamese History”] là tựa đề tiểu luận của Yu Insun, nguyên giáo sư ban Sử Á châu tại Đại học Quốc gia Hán Thành [Seoul National University].

Tiểu luận này đã được tình bày tại Hội nghị “Vietnam: Beyond the Frontiers” do Viện Quốc tế, Đại học California tại Los Angeles tổ chức trong hai ngày 11-12, 2001.

Nghiên cứu này của giáo sư Insun đã đăng lại [p. 47-71] trong cuốn “Viet Nam: Borderless Histories” do Nhung Tuyet Tran và Anthony Reid là chủ biên và University of Wisconsin Press phát hành năm 2006. Bạn đọc có thể tham khảonguyên bản Anh ngữ tại đây.

Dưới đây bản lược dịch và nhận định về tiểu luận của Insun đã đăng trên Tạp chí Truyền Thông Communications, số 41 & 42, Thu Đông 2011, trang 156-168.

Cho tới giữa thập niên 80 thế kỷ XX, Hà Nội vẫn coi quốc sử như một côngcụ phục vụ các chính sách của Nhà nước. Giới sử gia ngoại quốc đặt lại vấn đề: sử quan ngày trước, trong thời phong kiến, nhận thức quốc sử ra sao? Đã có một số sử gia ngoại quốc lưu ý tới vấn đề đó. Trong công trình nghiên cứu này, Yu Insun trả lời câu hỏi trên bằng cách so sánh quan điểm sử học của hai sử gia Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên, theo thứ tự là sử quan đời Trần và sử quan đời Lê, tác giả bộ Đại Việt Sử Ký và bộ Sử Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, (gọi tắt là Toàn Thư). 

Theo bộ sử Đại Việt Toàn Thư, vua Trần Thánh Tông, trị vì từ năm 1258 tới 1278, chỉ thị cho Lê Văn Hưu tham khảo sách sử và soạn thành bộ Đại Việt Sử Ký, gồm 30 quyển, dựa theo phương pháp viết sử của Tư Mã Quang, tác giả bộ sử Tư Trị Thông Giám của Trung Quốc. Nội dung bộ sử của Lê Văn Hưu, bắt đầu từ Triệu Đà, trị vì vào khoảng cuối thế kỷ III và chấm dứt vào cuối đời nhà Lý (1225). Ngày nay giới sử học trong và cả ngoài Việt Nam chỉ tìm thấy bộ Toàn Thư gồm 15 cuốn.

Bộ Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên, lấy bộ Sử Ký của Tư Mã Thiên, Trung Quốc, làm mẫu mực, là một bộ sử biên niên, khởi từ đời Hồng Bàng, khoảng ba ngàn năm trước công nguyên, kéo dài tới cuối nhà Lê vào năm 1428. Năm 1428,vua Lê Thánh Tông xuống chiếu chỉ thị cho các sử thần thâu thập sử liệu gửi về tàng trữ tại Đông Các. Ngô Sĩ Liên được chỉ định tham dự vụ thâu thập sử liệu nói trên, nhưng ông có tang thân phụ, phải về quê cư tang. Hết tang, ông trở lại viện Đông Các thời việc thâu thập sử liệu đã hoàn tất. Ngô Sĩ Liên, sử dụng những sử liệu do ông thu thập được, trong số đó có bộ Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu, đối chiếu sử liệu Việt Nam với sử liệu Trung Quốc, viết thành bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, gồm có Ngoại Kỷ, Bản Kỷ và Lê Thái Tổ Kỷ, dâng lên vua Lê Thánh Tông năm 1479. Số sử liệu tàng trữ tại viện Đông Các đã thất lạc, chỉ còn bộ Toàn Thư truyền lại tới ngày nay. Sau đó, sử quan dưới triều Lê ghi chép việc nước viết thành bộ Đại Việt Sử Ký Tục Biên.

Hai bộ sử Đại Việt Sử Ký và Toàn Thư, tạm đủ cho việc đối chiếu quan điểm sử học của hai sử quan Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên. Trong Đại Việt Sử Ký, Lê Văn Hưu viết ra 30 lời bàn. Trong Toàn Thư, Ngô Sĩ Liên để lại 170 lời bàn. Trong số đó, cho tới hết triều nhà Lý, sử quan Ngô Sĩ Liên viết 83 lời bàn: tức là có 56 lời bàn nhiều hơn tổng số lới bàn của Lê Văn Hưu. Có nhiều lời bàn, cả hai sử quan cùng bàn về một sử kiện. Đối chiếu lời bàn của hai sử quan trong những trường hợp này giúp người đọc dễ bề so sánh quan điểm sử học của hai nhà viết sử. Tác giả bộ Đại Việt Sử Ký Tục Biên không ghi thêm lời bàn.

Lê Văn Hưu

Chế độ truyền ngôi vua cho con để làm Thái Thượng Hoàng bắt đầu từ năm 1258 dưới triều vua Trần Thái Tông gây thêm mối căng thẳng ngoại giao giữa hai nước. Hơn nữa tục nhà Trần cho các hoàng tử công chúa thành hôn với nhau, nhắm mục đích củng cố vương quyền, cùng sự việc nho giả không được trọng dụng trong triều đình, đều đi ngược lại với tục lệ Trung Quốc. Thế nên việc vua Trần sai Lê Văn Hưu viết Đại Việt Sử Ký 大 史 có thể coi như triều đình nhà Trần muốn chứng tỏ quyền bình đẳng và sự độc lập giữa nước Đại Việt với triều đình nhà Nguyên khi đó đang đô hộ Trung Quốc.Lê Văn Hưu người Thanh Hóa, sinh năm 1230, mất năm 1322, thọ 93 tuổi. Ông đậu tiến sĩ năm 1247. Sau khi phục vụ trong nhiều chức vụ trong triều, ông được bổ nhiệm làm Chưởng Sử Quán, kiêm binh bộ thượng thư. Nhiều sử gia nghiên cứu về Lê Văn Hưu đặt câu hỏi: có những sử kiện quan trọng nào đã xẩy ra từ năm năm 1230 khi Lê Văn Hưu ra đời tới năm 1272 khi ông hoàn tất bộ Đại Việt Sử Ký? Hiển nhiên sử kiện quan trọng nhất là thời kỳ quân Nguyên xâm lăng nước Đại Việt năm 1257, tiếp theo là cuộc chiến thắng của Trần Hưng Đạo đuổi quân Nguyên ra khỏi bờ cõi. Triều đình nhà Nguyên phải phong cho vua Trần Thánh Tông, năm 1261 làm An Nam Vương, từ đó việc bang giao giữa Nhà Nguyên với nhà Trần mới trở lại bình thường. Tuy nhiên nhà Trần luôn luôn phải đề phòng nạn xâm lăng của nhà Nguyên. Năm 1271, nhân dịp đăng quang vua Nguyên đòi vua Trần sang chầu. Năm sau vua Nguyên lại gửi ba sứ thần sang Đại Việt tìm cột đồng do Mã Viện trồng để đánh dấu biên thùy Hoa-Việt sau khi thắng quân Hai Bà Trưng năm 42 Tây lịch.

Việc Lê Văn Hưu chọn Triệu Đà 佗 làm khởi điểm cho việc dựng nước Đại Việt là bằng chứng sự bình dằng giữa hai nước Hoa-Việt. Điều đó căn cứ trên truyền thuyết lịch sử dưới đây. Năm 196 trước Tây lịch. Sau khi thống nhất được đất nước, Hán Cao Tổ 漢 リ 祖 sai sứ là Lục Giả x ネ sang Nam Việt phong vương cho Vũ Vương Triệu Đà. Gặp sứ giả nhà Hán, Triệu Đà hỏi: “Ta với Cao Tổ ai lớn hơn ai?” Lục Giả trả lời Hán Cao Tổ trị vì một nước lớn hơn ắt là lớn hơn.” Triệu Đà hỏi tiếp: “Nếu ta sinh ra tại Trung Quốc, liệu ta có lớn bằng Cao Tổ không?”

Sau khi Lữ Hậu 呂后 tiếm ngôi nhà Hán, việc bang giao giữa Nam Việt và nhà Hán trở nên căng thẳng hơn. Năm 183 trước Tây lịch, Triệu Đà tự xưng là Vũ Đế ngang hàng với các Hoàng Đế nhà Hán. Sau khi Hán Văn Đế 漢 文 帝 lên ngôi, một mặt Triệu Đà sai sứ sang triều cống nhà Hán, để duy trì hoà bình giữa hai nước, một mặt vẫn tự coi là ngang hàng với hoàng đế nhà Hán.

Suốt thời gian Lê Văn Hưu làm quan trong triều nhà Trần, nước Đại Việt luôn luôn bị nạn xâm lăng của Bắc Triều đe dọa, nên chắc chắn là ông thấu hiểu tầm quan trọng của việc duy trì nền độc lập, cùng việc tranh đấu để tránh những mối nhục trong việc bang giao. Triệu Đà là vị vua khéo léo giữ được độc lập cho đất nước mà không hy sinh sự đồng đẳng giữa hai nước Nam Việt và Trung Quốc nên không bị mất mặt trên đường ngoại giao. Đó là những lý do khiến Lê Văn Hưu coi Triệu Đà như người sáng lập ra nước Việt Nam. Dĩ nhiên Lê Văn Hưu cũng biết đến những vị lãnh đạo khai quốc khác trước Triệu Đà, nhưng hình ảnh những vị khai quốc đó mờ nhạt trước hình ảnh Triệu Đà vì những vị lãnh đạo khai quốc trước Triệu Đà đều bằng lòng với danh hiệu vương 王 do triều đình Trung Quốc phong cho, và không dám nghĩ tới việc xưng đế 帝. Bình về Triệu Đà, Lê Văn Hưu viết cái lớn lao của người trị nước không phải là cái lớn lao của diện tích đất nước người đó mà là cái đức 德 của người đó. Lời đó là lời Lê Văn Hưu bác bỏ lời Lục Giả so sánh Triệu Đà với Hán Cao Tổ trên đây. Trong lời Lê Văn Hưu, chữ đức không chỉ trọn vẹn là chữ đức của đạo nho. Chứ đức này là chữ đức của một vị đế, biết hạ mình để giữ nước, như lời Lão Tử Đạo Đức Kinh. Lê Văn Hưu đã đoan kết là hai vị vua đầu nhà Trần, Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông đều đã theo đúng gương Triệu Đà, một mặt giữ viện toàn được đất nước, mặt khác mềm mỏng giữ được bình đẳng ngoại giao với triều nhà Nguyên.

Lê Văn Hưu căn cứ trên mức bình đẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam để ghi làm năm khởi đầu nền độc lập của nước Việt Nam đối với Trung Quốc.

Ông không chọn năm 939, năm Ngô Quyền xưng vương, một năm sau khi đánh bại quân Nam Hán; mà ông chọn năm 966, năm Đinh Bộ Lĩnh xưng đế sau khi dẹp xong loạn mười Hai Xứ Quân, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đặt kinh đô tại Hoa Lư. Ông công nhận công lao Ngô Quyền đã chiến thắng quân Nam Hán, nhưng ông chỉ trí Ngô Quyền không xưng đế, không chọn quốc hiệu, không đặt kinh đô, do đó Ngô Quyền không hoàn tất sự nghiệp dựng nước cho người Việt. Đinh Bộ Lĩnh, theo Lê Văn Hưu mới chính là người Trời sai xuống, dẹp tan loạn xứ quân, tiếp tục truyền thống dựng nước của Triệu Vũ Đế.

Đặt cao nền độc lập của người Lạc Việt, Lê Văn Hưu kết tội những ai đã làm mất nền tự chủ của nước nhà. Ông nghiêm khắc chỉ trích tể tướng Lữ Gia 呂 嘉. Vào cuối năm 113 trước Tây lịch. Dưới triều vua Triệu Ai Vương 哀 王, vua nhà Hán sai An Quốc Thiếu Quí 安 國 少 季, sang Nam Việt. Sứ nhà Hán nguyên là tình nhân của hoàng hậu Cù Thị 樛 氏, bà hoàng này vốn chỉ là tỳ thiếp của Triệu Minh Vương, nên cùng dỗ dành Ai vương đem nước Nam Việt về dâng nhà Hán. Lữ Gia biết mưu này, can ngăn không được, nên cùng mấy đại thần đem cấm binh vào giết sứ giả nhà Hán, Cù Thị và Ai vương, tôn Kiến Đức建 德, con trưởng của Minh Vương, mẹ là người Nam Việt lên làm vua. Nhà Hán nhân truyện này dấy quân xâm chiếm Nam Việt. Lữ Gia không chống nổi, và Nam Việt trở thành quân huyện nhà Hán. Việc Lê Văn Hưu kết tội Lữ Gia không giữ nổi nước chứng tỏ lòng ông thiết tha với nền tự chủ của Nam Việt.

Tiếp theo, Lê Văn Hưu chỉ trích những nhà lãnh đạo quần chúng, nổi dậy chống Trung Quốc, nhưng không đạt được tự chủ cho đất nước. Đó là trường hợp Lý Bí 李 チ (còn đọc là Lý Bôn) dưới triều vua Lương Vũ Đế 梁 武 帝, năm 541 thống lĩnh người nghĩa dũng nổi lên đánh đuổi thái thú Giao Châu là Tiêu Tư 蕭 諮 về Trung Quốc rồi chiếm giữ thành Long Biên 龍 編. Theo truyền thống truyền lại từ Triệu Đà, Lý Bí tự xưng là Nam Việt Đế, lấy quốc hiệu là Vạn Xuân. Sau đó vua nhà Lương sai tướng Trần Bá Tiên s 8 先 mang quân sang tái chiếm Giao Châu. Lý Bí thua, phải chạy trốn vào ẩn trong vùng núi, rồi sau đó bị bệnh chết. Lê Văn Hưu chỉ trích Lý Bí khá nặng. Ông coi Lý Bý chỉ là một viên tướng trung bình, nhưng đồng thời ông tiếc cho Lý Bí, trong tay có cả năm chục ngàn quân, đã để lỡ dịp giành lại tự chủ cho người Nam Việt, chỉ vì tài cầm quân của Lý Bí không bằng tài cầm quân của Trần Bá Tiên.

Theo Yu Insun, Lê Văn Hưu thay đổi quan điểm về sử học của ông khi bàn về Hai Bà Trưng. Dẫu cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, chống triều đình Trung Quốc, chấm dứt bằng một chiến bại, nhưng tinh thần chiến đấu giành tự chủ cho đất nước đã ăn sâu vào lòng toàn dân. Điều đó chính là điều đã giúp người dân nước Đại Việt thành công trong việc đánh đuổi quân Nguyên.

Vốn là một nhà Nho, Lê Văn Hưu tất tin tưởng rằng người phụ nữ đã đứng lên giành tự chủ cho đất nước, tất nhiên người trai đất Đại Việt phải bảo vệ đất nước hữu hiệu hơn nữa.

Lê Văn Hưu đề cao việc bảo tồn nền tự chủ của đất nước khi ông so sánh vua Lý Thái Tổ, tức Lý Công Uẩn 李 公, vị vua khởi nghiệp nhà Lý, và trị từ 1010 tới 1028 với vua Lê Đại Hành nhà Tiền Lê tên là Lê Hoàn ホ 桓 làm quan Thập Đạo Tướng Quân nhà Đinh.

Nhân khi vua nhà Đinh còn nhỏ tuổi, và lại có quân nhà Tống sang xâm, quân sĩ tôn Lê Hoàn lên làm vua, tức Đại Hành Hoàng Đế 大L 皇帝. Người đời sau ca tụng Lê Đại Hành có công phá Tống bình Chiêm, dẹp yên được loạn nước. Dưới mắt Lê Văn Hưu, Lý Công Uẩn không hơn Lê Hoàn vì công dựng nước nhưng vì Lý Công Uẩn có đức dầy hơn Lê Hoàn lập ra triều nhà Lý lâu dải hơn, bởi khi đất nước lâm nguy, ngưòi lãnh đạo không những cần có tài mà còn cần có cả đức mới giữ được nước lâu dài.

Lê Văn Hưu cho là nhà Tiền Lê không tồn tại lâu dài vì Lê Hoàn đã không sớm chọn thái tử, khiến khi khi Lê Hoàn vừa băng hà thời đã xẩy ra việc tranh giành ngôi vua giữa các hoàng tử kéo dài bẩy tháng. Để cuối cùng người con út là Long Đĩnh フ cướp ngôi của anh là vua Lê Trung Tông ホ 中 宗 mới lên ngôi được ba ngày. Long Đĩnh là một ông vua vô cùng bạo ngược, và theo Lê Văn Hưu thì chính Long Đĩnh là người làm đổ ngôi nhà Tiền Lê.

Đằng khác Lê Văn Hưu chỉ trích triều Lý không sớm chọn thái tử, nên khó tránh được nạn nội loạn, bởi theo tục nhà Lý, tới khi lâm bệnh nặng, vua cha mới chọn người có tài năng đảm lược làm người kế vị. Nhà Trần lấy đó làm gương, nên vua cha sớm chọn thái tử, nhường ngôi cho thái tử và lên ngôi thái thượng hoàng.

Lê Văn Hưu chỉ trích vua Đinh Bộ Lĩnh phong cho năm bà vợ lên ngôi hoàng hậu. Sau đó, Lê Hoàn cũng như nhiều vua nhà Lý phong chức hoàng hậu cho nhiều bà vợ. Sụ kiện này chứng tỏ nhà vua muốn củng cố sức mạnh của triều đình bằng cách liên kết với gia đình các hoàng hậu. Tuy nhiên cũng vì vậy mà cơ đồ triều chính bị đe dọa bởi nội loạn trong thời kỳ tuyển chọn người kế vị hay chính trong ngày truyền ngôi.

Lê Văn Hưu còn chỉ trích Lý Công Uẩn chỉ phong vương cho cha, trong khi vua Thái Tổ nhà Tống phong đế cho thân phụ. Sử gia còn hiểu là việc phong vương cho cha là do đức vô kỷ của Lý Công Uẩn. Đồng thời ông chỉ trích Lý Công Uẩn đã sao lãng truyền thống vun đắp tự chủ từ Triệu Đà truyền xuống.

Cũng vì chủ ý đề cao việc duy trì nền tự chủ của đất nước, nên Lê Văn Hưu kết tội mọi hành động của các vị vua chúa sao lãng việt đề cao nền tự chủ. Đó là trường hợp Ngô Xương Văn, con trai của Ngô Quyền. Lê Văn Hưu ngợi khen Ngô Xương Văn 吳 昌 文về việc ông tha thứ cho Dương Tam Kha 楊 三 哥 cậu ruột ông về tội cướp ngôi vua của cháu, nhưng ông chỉ trích Ngô Xương Văn về việc mời Ngô Xương Ngập 吳 昌 岌 về cùng coi việc nước, khiến từ đó xẩy ra việc Ngô Xương Ngập tranh quyền, thế lực nhà Ngô mỗi ngày một kém và đất nước lâm vào nạn mười hai xứ quân. Lê Văn Hưu chỉ trích vua Lý Thái Tông 李 太 宗 trong việc dẹp giặc Nùng, đã cương quyết xử tử Nùng Tồn Phúc 儂 存 福 nhưng đã vì lòng từ bi tha cho Nùng Trí Cao 儂 智 リ và còn gia phong cho y chức Thái Bảo, và chỉ một năm sau Trí Cao lại làm loạn, và xin phụ thuộc vào Trung Quốc. Lời chỉ trích của Lê Văn Hưu chứng tỏ mối lo ngại của ông nhân vụ tạo phản của Trí Cao mà mở đường cho Trung Quốc xâm lăng Nam Việt. Lê Văn Hưu cũng chỉ trích vụ vua Lý Anh Tông 李 宗 bình Chiêm Thành, lập một vua mới cho Chiêm Thành. Chỉ ít lâu sau, vị vua này bị một hoàng thân cướp ngôi. Vua Anh Tông phong vương cho hoàng thân phản loạn đó. Chính vị vua thứ hai này chỉ it năm sau mang quân xâm phạm đất nước nhà Lý.

Ngoài mối quan tâm về nền tự chủ và hoà bình của đất nước, Lê Văn Hưu còn nặng lòng về việc tham gia triều chính của nho giả. Ông chỉ trích vua Lý Thái Tổ, sau khi di đô về Thăng Long đã không xây cất Thái Miếu cho xứng đáng, như vậy là không tròn chữ hiếu của đạo Nho. Ông còn chỉ trích việc vua Lý Thái Tổ cho xây cất quá nhiều chùa chiền, làm hao tài sản quốc gia phí phạm công lực của nhân dân. Chắc chắn là Lê Văn Hưu phải biết là vua Lý Thái Tổ thủa trẻ đã được nhà sư Phật Giáo chùa Cổ Pháp tên là Lý Khánh Vân 李 慶 文 nhận làm con nuôi, dậy dỗ thành người, nhưng phải chăng vì lợi ích quốc gia ông đã thẳng thắn chỉ trích lòng mộ đạo Phật của nhà vua.

Đằng khác, người đọc sử ghi nhận rằng ngay từ đầu nhà Trần đã có những kỳ thi kén người tài theo học đạo Nho ra giúp nước. Nhưng trên thực tế, số nho giả trong triều không nhiều, và không được giữ những địa vị then chốt.

Cho tới khi quân nhà Nguyên xâm lấn dất Đại Việt, vì nhu cầu ngoại giao, địa vị nho gia trong triều nhà Trần mới được nâng cao và dần dần tăng tiến thành một lực lượng chống đối ảnh hưởng Phật Giáo ở trong triều. Yu Insun cho rằng việc Lê Văn Hưu chỉ trích vua Lý Thái Tổ trên đây chỉ là một đường lối khéo léo của sử gia để gián tiếp chỉ trích phe thân Phật Giáo trong đời Trần.

Ngô Sĩ Liên 

Ngô Sĩ Liên người trấn Sơn Nam 山 南, có người nói ông từng theo phò Lê Lợi ホ 利 trong cuộc khởi nghĩa chống quân nhà Minh. Ngô Sĩ Liên đậu tiến sĩ năm 1442, dưới triều vua Lê Thánh Tông. Ông giữ chức Đô Ngự Sử dưới triều vua Lê Nhân Tông. Dưới triều vua Lê Thánh Tông, ông làm Quốc Tử Giám Ty Nghiệp, và tham dư vào việc soạn thảo bộ quốc sử. Năm sinh năm mất của ông không được sách sử ghi chép rõ, nhưng nhiều người tin rằng ông mất năm 99 tuổi. Với tuổi thọ đó, cuộc đời Ngô Sĩ Liên trải dài qua nhiều thăng trầm của lịch sử: cuộc suy thoái của nhà Trần và nhà Hồ; tiếp theo là hai mươi năm đô hộ dưới triều nhà Minh với chính sách tàn khốc tiêu diệt văn hóa Việt Nam; nhưng quan trọng hơn cả là cuộc chiến đấu giành tự chủ cho đất nước của Lê Lợi. Từ khi Lê Lợi dựng nên nhà Lê, ảnh hưởng Khổng Giáo trong triều lớn mạnh cùng số quan gia nho học ngưòi vùng châu thổ sông Nhị và thắng thế ảnh hưởng Phật Giáo của nhóm Phật Tử được trọng dụng người vùng Thanh Hóa trong việc triều chính, và ảnh hưởng Khổng giáo trở thành độc tôn dưới triều vua Lê Thánh Tông. Trong sinh hoạt tinh thần đó Ngô Sĩ Liên đã trước tác bộ sử Toàn Thư.

Nhiều sử gia ngày nay tự hỏi lý do nào đã khiến Ngô Sĩ Liên trước tác bộ sử Toàn Thư, trong khi ông đã từng là một thành viên trong công cuộc sưu tập bộ quốc sử tàng trữ tại viện Đông Các? Có thể trả lời là việc soạn thảo bộ quốc sử là một công cuộc gồm nhiều nho giả, thế nên người tham dự khó bề bày tỏ những lời phê phán bình luận. Bởi vậy, theo sử gia Wolter(1), Ngô Sĩ Liên đã đơn độc trước tác bộ sử Toàn Thư với chủ đích là đề cao Khổng Giáo như một cơ động giúp cho người nước Đại Việt có một học thuyết căn bản để duy trì nền tự chủ trong thời gian đất nước gặp cơn nguy biến và theo Yu Insun, thì hành động này giúp Ngô Sĩ Liên đứng được ra ngoài vụ tranh chấp ảnh hưởng giữa Nho Giả vùng châu thổ sông Nhị với Phật Tử được trọng dụng vùng Thanh Hóa. Trong toàn bộ Toàn Thư, Ngô Sĩ Liên viết ra tổng cộng 170 lời bàn, trong số đó có 86 lời bàn về sử kiện xẩy ra dưới triều nhà Lý; 72 lời bàn về sử kiện xẩy ra dưới đời nhà Trần và nhà Hồ cùng hai chục năm tranh đấu chiến thắng quân xâm lược nhà Minh, phần còn lại là lời bàn về sử kiện dưới triều vua Lê Thái Tổ.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư.

Khổng Học, nhất là Tân Khổng Học ảnh hưởng mãnh liệt trên việc trước tác của Ngô Sĩ Liên, lời bàn của ông đều đặt trên đạo lý gia tộc và tương quan giữa vua và dân. Ông tin tưởng chắc chắn rằng đó là hai điểm quan trọng trong việc trị nước an dân. Năm 1320, khi vua Trần Anh Tông (tri vì từ 1293-1314) băng hà, ông trích sách Mạnh Tử(2):

天 下 之 本 在 國
Thiên hạ chi bổn tại quốc
國 之 本 在 家
quốc chi bổn tại gia
家 之 本 在 ?
gia chi bổn tại thân

Nghĩa là: gốc của thiên hạ là nhà nước, gốc của nước là nhà, gốc của nhà là thân. Rồi Ngô Sĩ Liên thêm: “thân có tu, nhà mới tề, nước mới trị, điều ấy là khuôn vàng thước ngọc từ đời Nghiêu Thuấn, và đến ngày nay vẫn thật đúng như vậy.” Do đó ông chỉ trích bất kỳ ai vi phạm nguyên tắc này.

Ngô Sĩ Liên hết lời ca tụng vua Trần Anh Tông, vì nhà vua dốc lòng tu thân, thờ phụng cha mẹ, giữ vẹn niềm hòa hảo với họ hàng, và nhất là thờ kính tổ tiên. Thế nên, theo Ngô Sĩ Liên, triều vua Trần Anh Tông là một triều thịnh trị, nhân dân sống đời an lạc. Tuy nhiên, ông vẫn còn chỉ trích vua Trần Anh Tông hãy còn một điều thiếu sót trong lễ quốc táng Thượng Hoàng Trần Nhân Tông.

Ngô Sĩ Liên cực lục chỉ trích việc làm loạn luân nhân để củng cố cho ngôi nhà Trần được bền vững. Đó là sự việc Thái Sư Thống Quốc Hành Quân Chinh Thảo Sự Trần Thủ Độ cưỡng ép vua Trần Thái Tông, giáng Chiêu Thánh Hoàng Hậu, người đã lấy vua Trần Thái Tông được 12 năm, xuống làm công chúa, rồi đem chị bà Chiêu Thánh, tức vợ Trần Liễu lên làm Hoàng Hậu, bởi vì Hoàng Hậu Chiêu Thánh không có con nối dõi và bà chị đã có thai được ba tháng. Việc phi luân này đã được lập lại dưới Triều vua Trần Dụ Tông (trị vì từ 1341 tới 1369). Ngoài ra, Ngô Sĩ Liên còn trách vua Trần Thái Tông đã hứa gả công chúa cho Trung Thành Vương, rồi cuối cùng lại gả cho một hoàng thân khác.

Ngô Sĩ Liên tin tưởng là ngôi vua sẽ truyền cho người con trưởng của vua cha. Nếu Hoàng Hậu không có con nối dõi, con một thứ phi có thể được phong làm Thái Tử. Trong trường hợp Hoàng Hậu sau đó sinh Hoàng Nam, Thái Tử con bà thứ phi phải từ chức nhường ngôi cho Hoàng Nam con bà Hoàng Hậu. Thế nên Ngô Sĩ Liên thương tiếc Hoàng Thân Trần Quốc Chấn bị sát hại dưới triều vua Trần Minh Tông (trị vì từ 1314 tới 1329) chỉ vì hoàng thân đã can ngăn việc lập một Hoàng Nam con một bà thứ phi lên làm Thái Tử, không đợi Hoàng Hậu sinh Hoàng Nam. Ngô Sĩ Liên cũng tin tưởng là Hoàng Nam em có thể được nối ngôi vua khi Hoàng Nam anh không đủ khả năng nối ngôi. Thế nên Ngô Sĩ Liên chỉ trích vua Đinh Bộ Lĩnh lập con bà thứ phi là Hạng Lang làm thái tử thay vì truyền ngôi cho con trưởng con bà Hoàng Hậu là Hạng Liễn vốn là người văn võ toàn tài.

Trong trường hợp Hoàng Đế không có Hoàng Nam nối ngôi, thời phải lập một ngưòi cháu trai, như trường hợp vua Lý Nhân Tông nhưòng ngôi cho cháu. Ông cực lực chống lại việc nhường ngôi cho một công chúa như việc vua Lý Huệ Tông nhường ngôi cho Công Chúa Lý Chiêu Hoàng. Theo Ngô Sĩ Liên thì vua Lý Huệ Tông đã không noi gương vua Lý Nhân Tông nên đã mở cửa cho Trần Thủ Độ lật đổ ngôi nhà Lý và lập ra nhà Trần.

Nhà Trần cũng theo gương nhà Lý không nhất thiết truyền ngôi vua cho Hoàng Nam con cả của vua. Để tránh việc tranh giành ngôi vua, nhà Trần đặt ra tục lập ngôi Thái Thượng Hoàng. Dầu thấu hiểu tục lệ nhà Trần như vậy, Ngô Sĩ Liên cũng bàn là không nên lập vua mới khi vua cha hãy còn sống, để một nước một lúc có hai vua.

Ngô Sĩ Liên chủ trương đàn bà góa không được tái giá để giữ tiết với chồng cũ, theo đúng lệ tam tòng của Nho Giáo. Tục này phải được bắt đầu từ trong hoàng tộc, để làm gương cho tứ dân. Chủ trương đó nhằm tránh những vụ thoán ngôi vua như vụ Lê Hoàn lấy bà Dương Hậu lập ra nhà Tiền Lê, vụ Trần Thủ Độ lấy vương Hậu Linh Từ lập ra nhà Trần. Đi xa hơn, Ngô Sĩ Liên ca ngợi việc các vương hậu nước Chàm phải chịu thiêu sống để giữ vẹn đức tam tòng.

Người đọc sử tự hỏi rằng, vốn là một nho giả chân chính, phải chăng Ngô Sĩ Liên nhiệt liệt cổ động cho việc gái hóa phải chết theo chồng là để duy trì chữ Trung của đạo nho theo câu tục trai trung một chúa, gái trinh một chồng. Cũng trong dòng tư duy này, sử còn chép truyện năm 1285, khi quân nhà Trần phá quân Nguyên, chủ tướng quân Trung Quốc là Toa Đô bị trúng tên chết. Khi các tướng thắng trận đưa đầu Toa Đô về nộp vua Trần Nhân Tông, vua thấy người dũng kiệt hết lòng với chúa mới than rằng: “Làm bầy tôi nên như người này!” rồi cởi áo bào đắp vào thủ cấp Toa Đô, sai làm lễ mai táng theo quân cách.

Với chủ trương trai trung một chúa, Ngô Sĩ Liên cực lưc bài bác những mưu đồ thoán nghịch của Lê Hoan, Trần Thủ Độ và nhất là Hồ Qúy Ly, cả ba cùng là những tặc thần lập mưu giết vua để cướp ngôi vua. Theo Ngô Sĩ Liên, Lê Hoan đáng tội chết chém, Trần Thủ Độ không đáng so sánh với loài chó lợn và Hồ Qúy Ly bi trời phạt khiến giặc Nam không giết nổi thời giặc Bắc không tha.

Theo Yu Insun thời Ngô Sĩ Liên nặng lời chỉ trích Lê Hoàn, Trần Thủ Độ và Hồ Quý Ly thí vua cướp ngôi báu, không chỉ riêng bởi Ngô Sĩ Liên là một tân nho giả mà còn phản ánh nội tình triều nhà Lê, ngày đó, khi vua Lê Nhân Tôn bị người anh là Nghi Dân 宜 民, trước kia đã được phong làm Thái Tử, sau vì mẹ phải tội cho nên bị phế bỏ. Năm 1459 Nghi Dân đồng mưu với Lê Đắc Ninh 黎 得 寧, Phạm Ban 范 般 v.v… nửa đêm trèo vào thành giết vua Lê Nhân Tôn và hoàng thái hậu, tự xưng làm vua rồi sai sứ sang Trung Quốc cầu phong.

Mối quan tâm của Ngô Sĩ Liên là sự an nguy của đất nước trước sự đe dọa của kẻ thù phương Bắc, dẫu rằng nhà Minh sau khi bị đuổi ra khỏi bờ cõi không còn là một mối đe dọa nặng nề như quân nhà Nguyên dưới đời Trần.

Thế nên, theo Yu Insun, từ khi vua Lê Lợi chiến thắng quân Minh sau hai mươi năm đô hộ, mối lo chính của Ngô Sĩ Liên là sự bất ổn của tình hình quốc nôi khơi ngòi cho việc xâm lăng của ngoại bang. Đó là lý do khiến Ngô Sĩ Liên đặt bản văn Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi vào trong bộ sử Toàn Thư.

Bản Bình Ngô Đại Cáo xác quyết Đại Việt là một nước có văn hiến riêng, bờ cõi phân chia rõ ràng, phong tục khác hẳn Trung Quốc. Khác với Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên khẳng định là nước Đại Việt có một lịch sử dài không thua lịch sử Trung Quốc, bắt đầu từ vua Thần Nông. Theo tục truyền Kinh Dương Vương, vị vua đầu tiên của đất Nam Việt là anh khác mẹ của Đế Nghi, vị vua đầu tiên của người phương Bắc. Thật thế, Đế Minh, cha của Đế Nghi và Kinh Dương Vương là cháu ba đời vua Thần Nông, có ý lập Kinh Dương Vương lên nối ngôi, nhưng Kinh Dương Vương từ chối nhường ngôi cho Đế Nghi làm vua phương Bắc, còn mình làm vua phương Nam.

Ngô Sĩ Liên lo lắng cho mối an nguy nước Đại Việt phản ánh trong lời bàn của ông về những vụ xâm lăng của quân Mông Cổ từ phương Bắc, qua những vụ xâm phạm bờ cõi miền Nam của quân Chiêm. Ngô Sĩ Liên ca tụng thượng hoàng Trần Nhân Tông, không những có tài điều binh khiển tướng đánh đuổi được quân Nguyên, mà còn triệu tập Hôi Nghị Diên Hồng, đoàn kết toàn dân thành một khối quyết tâm bảo vệ đất nước. Ngược lại ông chê trách triều nhà Trần bỏ ngỏ biên giới miền Nam mở đường cho quân Chiêm Thành sang quấy phá Đại Việt. Ông chê trách Thượng Hoàn Dụ Tông quen sống trong cảnh đất nước thịnh vương bình an mà trở thành quá phóng túng, chỉ nghĩ tới chuyện mua vui. Ông cũng chê trách vua Trần Nghệ Tông quá mải mê với văn học mà sao lãng việc binh đến độ để quân Chiêm Thành vào cướp phá thành Thăng Long vào mùa thu năm 1371.

Nhân danh một nhà Tân Nho, Ngô Sĩ Liên bài bác ảnh hưởng Phật Giáo trong hai triều nhà Lý và nhà Trần. Ông quan niệm việc vua Lý Thái Tổ khi vừa đăng quang liền cho xây chùa tô tượng Phật khắp nơi trong nước là một điều quá đáng, dầu ông không quên là vua Lý Thái Tổ là con nuôi của nhà sư Lý Khánh Vân, và nhờ vậy mà thành nhân. Ngô Sĩ Liên ca tụng vua Trần Nhân Tông là một vị minh quân từng chiến thắng quân Nguyên xâm phạm đất Đại Việt, nhưng ông coi việc vua Trần Nhân Tôn, sau khi thoái vị làm Thái Thượng Hoàng, trở thành đệ nhất tổ giòng Thiền Trúc Lâm, là một hành động chứng tỏ vua Trần Nhân Tôn không giữ vẹn chữ Trung Dung của đạo Nho.

Hơn nữa,vẫn nhân danh là một nho sĩ, Ngô Sĩ Liên còn phê bình việc thay đổi niên hiệu của vua Lý Thái Tổ năm 1034. Năm ấy hai nhà sư Nghiêm Bảo Tính và Phạm Minh Tâm tự thiêu, thi thể cháy kết thành thất bảo. Vua xuống chiếu đem thất bảo đó giữ ở chùa Trường Thánh để thờ, nhân dịp đó vua đổi niên hiệu là Thụy Thông; sử thần Ngô Sĩ Liên có lời bàn(3):

Thuyết nhà Phật gọi là xá lị tức là khi tự thiêu mình, tinh khí tụ lại kết thành một thứ lửa không cháy được, cho nên gọi là bảo. Tương truyền là người nào học Phật thành thì xác hồn làm bảo như thế. Vì rằng người sãi đoạn tuyệt tính dục thì tinh khí kết thành ra thứ ấy. Người đời cho là không thường, thấy mà cho là lạ, có biết đâu là tinh khí dương tụ lại mà thành thôi. Vua cũng mê hoặc mà đổi niên hiệu. Từ đấy về sau những người hiếu danh, cạo đầu làm sãi, nhẫn nại chịu chết như loại Trí Không này nhiều lắm.

Xuống tới đời Hoàng đế Lý Nhân Tôn, năm 1096, thái sư Lê Văn Thịnh làm phản, Vua Lý Nhân Tôn tha tội chết, an trí tại Thao Giang. Nguyên bấy giờ vua ngự thuyền xem đánh cá tại hồ Dâm Đàm. Chợt có mây mù, trong đám mù có tiếng thuyền bơi tới, vua lấy giáo ném. Bỗng chốc mây mù tan, trong thuyền ngự có con hổ. Có người than: Nguy lắm rồi! Có người đánh cá tên Mục Thận quăng lưới trùm lên con hổ, thì hổ biến ra thành thái sư Lê Văn Thịnh. Lê Văn Thịnh vốn có tà pháp làm ra vậy để tính truyện cướp ngôi. Vua thưởng cho Mục Thuận, và cắt đất cho lập ấp. Ngô Sĩ Liên có lời bàn về truyện này(4):

Người làm tôi định cướp ngôi giết vua mà được miễn tội chết! Thế là sai trong việc hình, lỗi ở vua tin Phật Giáo. Mùa thu tháng 7 ngày 25, Ỷ Lan hoàng thái hậu băng hà, hỏa táng; dâng thụy là Phù Thánh Linh Nhân Hoàng Thái Hậu, lại bắt người thị nữ chôn theo.

Ngô Sĩ Liên có lời bàn về việc này(5):
Hoả táng là theo Phật Giáo, chôn theo là tục nhà Tần. Nhân Tôn Hoàng Đế làm cả hai việc ấy, hoặc giả theo lời của Thái Hậu chăng?

Theo Yu Insun, lời bàn của Ngô Sĩ Liên, đặt câu hỏi về lời di chú của Ỷ Lan hoàng thái hậu, là bởi Ngô Sĩ Liên có ý bài bác vua Lý Nhân Tông vì chính nhà vua, theo tục lệ Phật Giáo, ban lệnh thi hành việc hỏa táng và việc chôn theo thị nữ của hoàng thái hậu.

So Sánh hai Sử Gia

Yu Insun cho rằng quan điểm sử học của Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên là sản phẩm của thời đại của mỗi người. Với Lê Văn Hưu, sử kiện đáng chú ý nhất là những thành tích kháng Nguyên giữ nước của triều nhà Trần. Với Ngô Sĩ Liên, một sử thần của triều nhà Lê, Khổng Học lúc đó đã trở thành một nền quốc học, thế nên giáo lý cũng như tập tục Khổng Giáo là những mối quan tâm hàng đầu. Đằng khác, Ngô Sĩ Liên đã từng sống qua hai chục năm dưới sự đô hộ của quân Minh, nên ông hiểu rõ tầm quan trọng của nền an ninh quốc nội trong việc ngăn chặn người phương Bắc xâm lấn đất nước vả duy trì nền tự chủ của nước Đại Việt.

Khác biệt giữa quan điểm sử học của hai sử thần thấy rõ qua sự khác biệt giữa những lời bàn trên cùng một sử kiện. Lời bàn của Lê Văn Hưu chú trọng tới nền an nguy của đất nước và sự bình đẳng giữa nước Nam với nước Bắc.

Ngô Sĩ Liên chỉ bàn về hai vấn đề này trong bốn sự kiện. Đằng khác, Ngô Sĩ Liên dành 11 lời bàn về giáo lý Khổng Học, Lê Văn Hưu chỉ nói tới vấn đề liên quan tới Khổng Hoc trong 5 lời bàn. Sự khác biệt giữa hai sử thần còn rõ rệt hơn nữa qua những lời bàn cùng về những sử kiện dưới triều vua Ngô Quyền và vua Đinh Bộ Lĩnh.

Lê Văn Hưu tin chắc rằng Ngô Quyền không hoàn toàn tạo dựng được nền tự chủ cho đất nước như Triệu Đà đã đặt được trước khi quân của Hán Vũ Đế sang xâm lấn, bởi chiến thắng của Ngô Quyền đã khiến nhà Hán phải bỏ mộng xâm lược, nhưng ông tiếc cho Ngô Quyền không nhân dịp đó xưng đế như Triệu Đà. Ngược lại Lê Văn Hưu ca tụng Ngô Quyền ngoài tài thống lĩnh quân đội còn giỏi tổ chức việc nội trị, tạo nên nề nếp cho đời sống nhân dân. Ông kết luận rằng với một công nghiệp như vậy, Ngô Quyền xứng đáng là một Hoàng Đế của nước Nam Việt. Lê Văn Hưu chủ xướng là Đinh Bộ Linh đã giành được nền tự chủ hoàn toàn cho đất nước, không kém gì Triệu Đà đời trước. Đinh Bộ Lĩnh đã tự xưng hoàng đế, đặt quốc hiệu mới, sửa sang giềng mối triều chính. Ngược lại, Ngô Sĩ Liên coi nhẹ công nghiệp của Đinh Tiên Hoàng, vì ông chủ trương là Ngô Quyền đã giành được hoàn toàn nền tự chủ cho Nam Việt. Ngược lai ông chỉ trích Đinh Bộ Lĩnh và con cả là hoàng tử Đinh Liễn là không hành xử theo đúng tập tục Khổng Học. Đinh Bộ Lĩnh đã vượt qua truyền thống truyền ngôi của các triều đại Trung Quốc đặt trên nền tảng Khổng Học: nhà vua đã bỏ con trưởng Đinh Liễn và lập con út là Hạng Lang lên nối ngôi. Đinh Liễn đã tùng theo cha chinh chiến nhiều năm trong việc dẹp loạn 12 xứ quân, nên tức giận lập mưu giết Hạng Lang, nên cũng không giữ tròn đạo làm tôi theo Khổng Học, đồng thời gây ra mối loạn trong nhà để người phương Bắc có cơ hội nhòm ngó bờ cõi. Người đọc sử có thể hiểu rằng lời Ngô Sĩ Liên chỉ trích cha con Đinh Bộ Lĩnh phản ảnh ý ông muốn ám chỉ trích việc tranh giành ngôi báu trong triều nhà Lê lúc bấy giờ.

Ảnh hưởng Khổng Giáo từ triều nhà Lê không những chỉ mỗi ngày một lớn mạnh trong việc triều chính mà còn thấm nhập từ từ vào trong mọi hoạt động trong dân gian, truyền qua đời nhà Nguyễn, cho tới khi người Pháp bỏ thi Hương hồi đầu thế kỷ XX mới suy giảm. Nhiều nhà sử học ngày nay cho rằng điểm triều đình các nhà Đinh, Lê, Lý và Trần tôn trọng Phật Giáo hơn Khổng Giáo là một truyền thống của người Việt Nam khác với truyền thống của người Trung Quốc lấy Khổng Giáo làm quốc giáo. Chính nhờ điểm khác biệt đó mà dân Việt Nam đã không bị Trung Quốc đồng hóa.

(1) Wolter, “What Else May Ngô Sĩ Liên Mean” in “Sojourners and Settlers: Histories of Southeast Asia and the Chinese”, University of Hawai Press 2001. Edited by Reid Anthony.
(2) Đoàn Trung Còn, Tứ Thơ Mạnh Tử, NXB Thuận Hóa, Huế, 1996, tr.12.
(3) Ngô Sĩ Liên, Toàn Thư, Tập 1, bản dịch của Cao Huy Gịu, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1967, tr. 210.
(4) Ngô Sĩ Liên, ibid. tr. 242.
(5) Ngô Sĩ Liên, ibid. tr. 248.
(*)Tháng 6 năm 1300, Hưng Đạo Vương ốm. Vua ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: "Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?"
Hưng Đạo Vương trả lời: "Ngày xưa Triệu Vũ dựng nước, vua Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã, đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời Đinh, Lê dùng người tài giỏi, đất phương nam mới mạnh mà phương bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế. Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy." (Nguồn Wikipedia)

Phần nhận xét hiển thị trên trang