Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

Hành Trình Tội Ác Của Sát Thủ Gốc Việt - Kỳ 1


Chân dung Charles Sobhraj.

Sinh ra tại Sài Gòn, lớn lên tại Pháp và mang trong mình dòng máu lai Việt - Ấn, Charles Sobhraj thường xuyên đi lại giữa châu Âu và châu Á để thực hiện tội ác "còn hơn cả trong phim".
Charles Sobhraj là cái tên đi vào phim ảnh như một trong những sát nhân nổi tiếng nhất thế giới với một loạt các biệt danh như “sát nhân bikini”, “kẻ đào tẩu”, “người rắn”. Đặc biệt, dù đang thụ án tại nhà giam nhưng y vẫn được nhận hàng triệu USD tiền bản quyền từ các nhà xuất bản hoặc hãng phim lớn khi người ta dựa vào cuộc đời y làm mẫu cho những tác phẩm đình đám.

Sobhraj sinh ngày 6/4/1944 tại Sài Gòn, lớn lên tại Pháp, là con ngoài hôn thú của một người phụ nữ Việt Nam và một thợ may Ấn Độ. Là kẻ lừa đảo, trộm cắp, buôn ma túy và giết người hàng loạt nhưng cuộc đời phiêu bạt cùng những cuộc đào tẩu chỉ có trong tiểu thuyết giúp cho “sát nhân bikini” thành ngôi sao của giới truyền thông.
Bằng cách “bán” những câu chuyện cuộc đời ly kỳ của mình cho báo chí, nhà làm phim…Sobhraj có thừa tiền để sống cuộc sống vương giả đáng mơ ước ngay trong tù.

Tuổi thơ dữ dội
Ngay từ khi Sobhraj vừa mới cất tiếng khóc chào đời, cha đẻ của cậu dứt áo ra đi, bỏ lại mẹ bơ vơ một mình ôm con khóc mỏi mòn. Tại Sài Gòn, cậu bé con lớn lên trong sự thờ ơ của mẹ và thiếu hơi ấm của cha. Mẹ cậu, bà Song luôn cho rằng chính Sobhraj là nguyên nhân gây rạn nứt tình cảm, khiến cha cậu bỏ rơi bà.
Chẳng lâu sau, bà Song gặp và kết hôn với một sỹ quan người Pháp đồn trú tại Đông Dương. Ông Alphonse Darreau đồng ý trở thành cha dượng của Sobhraj và đưa mẹ con cậu sang Pháp nhưng không cho cậu bé lấy tên mình.

Những năm tháng tuổi thơ tiếp theo của Sobhraj gắn liền với thành phố cảng Marseilles của Pháp. Thời gian đầu, cha dượng đối xử rất tốt, yêu thương cậu như con ruột. Nhưng mọi sự thay đổi kể từ khi bà Song sinh hạ đứa con ruột đầu tiên cho ông. Càng ngày, cậu bé càng cảm thấy cô đơn, lạc lõng. Đã không còn được quan tâm, cậu bé trở thành người thừa trong ngôi nhà ấy.
Như để đáp trả lại sự thờ ơ ấy, cậu nhóc Sobhraj tìm đủ mọi cách để gây sự chú ý. Giống như suy nghĩ của nhiều đứa trẻ khác, Sobhraj thà bị ghét bỏ còn hơn bị lãng quên. Cậu cố tỏ ra ngang bướng và ương ngạnh, phá phách mọi thứ chỉ mong được bố mẹ để mắt tới.
Ở nhà, Sobhraj là một đứa trẻ ngỗ ngược, tới trường, cậu là một học sinh cá biệt.  Dù được đánh giá là một cậu bé thông minh, nhưng Sobhraj thường xuyên trốn học. Nếu có tới trường, cậu cũng quậy cho tới lúc bị thầy cô tống cổ ra ngoài mới thôi.

Có một điểm kỳ lạ, dù bị cha ruột bỏ rơi từ lúc mới sinh, nhưng Sobhraj vẫn luôn tôn thờ ông như một người hùng. Càng cảm thấy lạc lõng ở Pháp, mơ ước được tới phương Đông để tìm cha càng cháy bỏng trong cậu.
Không ít lần người ta thấy một cậu bé loắt choắt đang cố len lỏi xếp hàng ở bến cảng Marseilles để trốn lên tàu tới Đông Dương. Thôn thường, Sobhraj bị chặn lại ngay từ cửa soát vé nhưng cũng có khi cậu lẻn lên được tàu lênh đênh giữa biển mới bị phát hiện và bắt trả về nhà. Không biết bao nhiêu lần mẹ và cha dượng lại phải nộp tiền để bảo lãnh Sobhraj.  

Lần đầu tù tội
Nhiều người cho rằng, những chấn thương tâm lý từ thời thơ ấu chính là động cơ dẫn tới hàng loạt những tội ác của Sobhraj sau này. Càng lớn Sobhraj càng trở nên bất trị. Bố mẹ ở Pháp quá chán nản và mệt mỏi về cậu. Năm 1963, khi Sobhraj bị bắt ở Paris vì tội trộm cắp, không còn ai đứng ra bảo lãnh cho cậu nữa.

Chưa đầy 19 tuổi, Sobhraj lần đầu tiên ngồi tù. Cô đơn, lạc lõng, sống chết chẳng ai quan tâm, Sobhraj đâm ra oán hận gia đình và xã hội. Cậu nung nấu một quyết tâm sẽ phải làm điều gì đó để một ngày những người ruồng bỏ cậu sẽ phải hối hận.

Charles Sobhraj phải ngồi “bóc lịch” 3 năm trong nhà tù Poisy khét tiếng ở Pháp. Cậu nhanh chóng thích nghi và hòa nhập với cuộc sống tàn bạo và khắc nghiệt tại đây. Dù mang trong mình dòng máu châu Á với dáng người nhỏ con, cậu bị không ít “ma cũ” hằm hè, nhưng Sobhraj biết tận dụng vài món karate học được để tự vệ.
Thái độ khôn ngoan và tài ăn nói của Sobhraj đem đến cho cậu nhiều đặc ân ngay trong nhà tù. Không chỉ kết thân được với các đại ca có “số má” trong nhà giam, cậu còn lấy lòng được các quản ngục. Được tin tưởng giao cho giữ các sổ sách ghi chép trong nhà giam, Sobhraj  không phải làm việc nặng nhọc và được đi lại tự do trong nhà tù.

Đặc biệt, Sobhraj ngay lập tức thu hút được sự chú ý của Felix d'Escogne, nhà hảo tâm giàu có thường đến thăm nom các tù nhân, giúp họ chuyển thư từ hoặc giải quyết một số vấn đề pháp lý. Người đàn ông này được coi như vị ân nhân và có vai trò quan trọng trong cuộc đời Sobhraj sau này.
Charles Sobhraj đủ khôn ngoan để nhận ra rằng phải tiếp cận và kết thân với Felix. Chẳng mấy chốc 2 người trở nên thân thiết. Felix thường xuyên mang sách, báo đến cho Sobhraj đọc, khích lệ động viên cậu cải tạo tốt. Thậm chí Felix còn tìm đủ cách để Sobhraj hòa giải với gia đình.

Charles Sobhraj được ân xá sớm. Ra tù, cậu chuyển đến sống trong ngôi nhà sang trọng của Felix. Tại đây, Sobhraj bắt đầu chạm tay vào cuộc sống của giới thượng lưu Pháp. Cậu làm quen và kết thân với những gia đình giàu có nhất nhì Paris lúc đó.

Nhưng cuộc sống xa hoa đó không làm chết đi con người trộm cướp của Sobhraj. Cậu nhanh chóng quay lại con đường cũ, hoạt động khôn khéo và tinh vi hơn. Chẳng lâu sau,  Sobhraj trở nên giàu có nhờ các vụ lừa đảo và trộm cắp trót lọt.
Charles Sobhraj đang “chân trong chân ngoài” giữa 2thế giới khác biệt. Một bên là thế giới hào nhoáng sang trọng cùng người bạn tốt Felix, còn một bên là thế giới đen tối hơn – thế giới tội ác ngầm ở Paris – cuộc sống đích thực của Sobhraj.
 Hồng Minh

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phát triển vũ khí chiến lược cho Việt Nam


chienhamhoaky01“…Việt Nam nên nghiên cứu, chế tạo, phát huy và huấn luyện binh lính sử dụng những loại mìn thông minh. Vừa rẽ tiền vừa hiệu quả. Vì một quả mìn cá nhân không đắt hơn một viên đạn. Một viên đạn pháo cũng ngang giá với mấy chục trái mìn chống chiến xa…”


Để các bạn hình dung được khả năng chiến đấu của các đơn vị tác chiến chuyên nghiệp của các nước Tây Phương, xin kể sơ lược về những phương tiện họ được trang bị. Với giá từ vài chục ngàn đô la trở lên, các ống nhắm gắn trên súng cá nhân cho phép đơn vị chiến đấu 24/24. Đừng nói chi đến con người, ngay cả con thỏ, con gà cũng bị những thiết bị này phát giác từ vài ba trăm mét.
Những ra-đa đặt trên chiến xa có thể truy tầm địch thủ xa đến 3, 4 km. Được những máy bay do thám không người lái yểm trợ thì phạm vi truy lùng nâng lên đến 30, 40 km. Một khi đã bị phát hiện, thì đối phương chỉ còn sống thêm không quá… 20 phút.
Bộ chỉ huy phải làm rất nhiều công việc trong 20 phút này. Nào là kiểm chứng lại nguồn tin, lựa chọn vũ khí phù hợp, hướng dẫn cách tấn công, ước đoán sự thiệt hại về mặt dân sự, kiểm tra lại luật lệ giao tranh, quyết định và thực hành (OODA, Observe, Orient, Decide, Act).
Ai ai cũng đã biết phận sự của mình trước khi mục tiêu bị phá hủy. Tổ chiến đấu nhận nhiệm vụ ấn nút bóp cò biết dùng số lượng bom đạn vừa đủ. Không hơn không thiếu. Sĩ quan chỉ huy biết hậu quả về sự quyết định của mình. Sĩ quan báo chí biết sẽ nói gì với phóng viên. Bộ tham mưu đã vạch ra những biến đổi chiến thuật kế tiếp…
Hiện nay không có xe tăng, hầm hố, chiến hào, lô cốt nào chống được sự công phá của bom đạn của khối Nato cả.  Công việc khó nhất là truy lùng chứ không phải là hủy diệt. Địch thủ nào bị phát giác là sẽ bị xóa xổ trong chốc lát.
Trong thời gian ở trong quân đội,  tác giả viết bài này đã tham quan, tập trận, giao lưu và tham chiến cùng nhiều lực lượng của khối Nato. Vì tiếp xúc và va chạm nhiều, riết rồi chỉ  nhìn vài ba chi tiết nhỏ cũng ước lượng được sức chiến đấu của đơn vị tác chiến khác. Qua nhận xét cá nhân, vài đơn vị bộ binh Trung Quốc có khả năng chiến đấu ngang hàng với những lực lượng ưu tú của khối Nato.
  Giao tranh theo kiểu dàn trận cổ điển với những lực lượng có hỏa lực khủng khiếp và khả năng truy lùng tinh vi kiểu này là tự sát. Vậy thì làm sao đánh bại được những đơn vị tinh nhuệ này?
Xin thưa là nên tìm cách vô hiệu hóa những đơn vị nguy hiểm này, mà không cần chiến đấu!
Câu viết này có thể làm nhiều đọc giả bật cười. Tưởng chừng như ngớ ngẫn. Nhưng các nước hùng cường đều tối tân hoá quân đội theo đường lối này. Khoảng chừng 60 % phi cơ chiến đấu của không lực Mỹ là những máy bay không người lái. Năm 2012, Hoa Kỳ đào tạo « phi công ngồi dưới đất »  nhiều hơn là phi công bay trên trời. Trong tương lai, đối phương của khối Nato sẽ chiến đấu với 1/3 chiến binh,  2/3 còn lại là máy móc, robot!
Những cọc Bạch Đằng trên mặt đất.
Không có một quân đội nào có thể làm những người lính NATO khiếp sợ. Nhưng dù được trang bị đến hàng triệu đô la, họ lại rất sợ một loại vũ khí thô sơ, dễ chế tạo, dễ sử dụng và có sức sát thương cực lớn: mìn.
Trong chiến tranh Việt Nam, một phần ba thiệt hại của Thủy Quân lục Chiến Hoa kỳ là bị vướng  mìn bẫy.
Trong chiến tranh Irak từ năm 2003 đến 2006, tỷ lệ đã tăng lên đến 41%. Cao hơn cả thiệt hại vì chiến đấu trực tiếp (34%).     
Áp dụng mìn bẫy với chiến tranh du kích, quy mô nhỏ sẽ có kết quả nhỏ. Nhưng áp dụng mìn vào quân đội, quy mô lớn sẽ có kết quả lớn. Lịch sử cũng đã từng chứng minh:
Năm 1943, nhờ Anh cung cấp tình báo, Hồng Quân Liên Xô đã biến vùng Koursk thành một cái bẫy khổng lồ. Hệ thống phòng thủ gồm nhiều lớp chiến hào, ổ pháo chống xe tăng, thiết giáp, bộ binh và  mìn. Khi 50 sư đoàn Đức tấn công thì bị chống cự quyết liệt.
Điều bất ngờ của Hồng Quân là chiến xa T34/76 gặp những chiến xa tối tân mới ra lò của Đức như Panther, Tiger, Ferdinand. Và bị kỹ thuật chiến đấu của Đức áp đảo, lực lượng thiết giáp Liên Xô bị tàn sát.
Điều bất ngờ của Đức Quốc Xã là Liên Xô đã tổ chức phòng thủ quá chu đáo. Ngoài những ổ pháo chống tăng và 5000 km giao thông hào, chiến xa lẫn bộ binh Đức còn bị vướng vào hàng hàng lớp lớp mìn chống người lẫn chống chiến xa  (2700 quả mìn /km²). Chiến xa lẫn bộ binh Đức không yểm trợ được nhau. Phần đất lấn chiếm được càng ngày cảm giảm. Cứ mỗi đêm thì công binh Liên Xô lại đặt thêm mìn bẫy chung quanh khu vực đóng quân và hướng tấn công dự định của Đức Quốc Xã. Sau một tháng rưỡi tấn công vô vọng, quân Đức phải rút lui vì không còn khả năng chiến đấu. Sau trận Koursk, quân đội Đức kiệt quệ đến mức không còn sức tổ chức được một cuộc tấn công quy mô cho đến khi chiến tranh kết thúc.
Dù có số lượng chiến xa tham chiến nhiều nhất trong lịch sử. Nhưng  lực lượng chính đối đầu nhau lại là thiết giáp của Đức và bộ binh của Liên Xô. Vũ khí nguy hiểm nhất đã loại 2/3 chiến xa Đức là… mìn.
Từ chiến thuật thành chiến lược.
Lâu nay mìn vẫn được sử dụng quanh quẩn trong quy mô nhỏ bé của những trận đánh. Với vô số kiểu mẫu như mìn cọc, mìn nhẩy, mìn định hướng… nhưng chỉ dùng một  công thức duy nhất: Hể bị đụng chạm  thì nổ. Nó chỉ làm những chiến binh đi đầu sợ. Những chiến binh đi sau thì vẫn an toàn. Nhiều quân đội đã tìm cách vô hiệu hóa mìn bằng cách mở luồng đường bằng bộc phá, bom có sức ép.
mindonso_khongthongminh
Mìn đón sơ, không thông minh
Trong một kịch bản phòng thủ, và muốn phát huy hết sự lợi hại của mìn. Người gài mìn phải có kiến thức để gài những trái mìn ngu trở  thành « khôn ngoan ». Song song với những quả mìn chạm nổ, cơ xưởng chế tạo mìn của quân đội phải tìm cách chế tạo những trái mìn « ngủ », có khả năng « đợi chờ »   (semi-passive). Nó chỉ hoạt động, sẳn sàng « thức » và kích hỏa phát nổ khi có điều kiện. Những điều kiện có thể là:
Không nổ ngay lập tức mà chỉ nổ khi bị dẫm đạp 5,7 lần.
Chỉ nổ khi bị 5, 7 người cùng dẫm lên.
Chỉ nổ khi gặp sức nặng hơn 75 kg (trọng lượng của một chiến binh và súng ống).
Chỉ nổ khi gặp sức nặng hơn 30 tấn (= trọng lượng chiến xa)
Chỉ « thức » khi quả mìn kế bên đã nổ.
Nổ cách xa nơi bị dẫm đạp 50, 70 mét.
Chỉ nổ khi bị dẫm đạp lên và lúc có mưa. Còn khi gặp thời tiết khô ráo thì « ngủ ».
Chỉ nổ sau khi bị dẫm đạp 5,7 phút hay 5,7 giờ.
Có thể tự hủy sau 5, 7 tháng.
Mục đích của những quả mìn thông minh là « nằm vùng », phá hoại ở phía sau chiến trường. Nó sẽ cản trở và làm tiêu hao lượng lực tiếp viện. Đối phương càng tiến xa vào chiến trường thì càng bị nguy hiểm từ phía sau lưng. Song song với những hệ thống phòng thủ khác, mìn thông minh đã tự nó đã là một hệ thống phòng thủ làm tiêu hao quân địch mà không đổ xương máu. Nhờ thông minh, mìn không còn là một vũ khí chiến thuật mà nó là một vũ khí chiến lược.:
a)  Cản trở đường tấn công lẫn đường rút lui của đối phương.
b)  Chống lại cách tháo gở của đối phương. Không cho phép đối phương thiết lập những tuyến đường an toàn.
c)  Không cho đối phương dàn trận, đi vòng, đánh úp.
d)  Làm tê liệt mọi di tản, tải thương và tiếp tế của đối phương.
e)  Đánh vào lực lượng yếu bóng vía nhưng quan trọng nhất, loại con ông cháu cha, ăn không ngồi rồi đang làm hậu cần và bộ chỉ huy của đối phương.
f)   Khủng bố tinh thần. Đối phương không có cảm giác an toàn dù ở sau chiến trường.
Thất bại chiến lược của quân đội Việt Nam
Căn cứ vào những vũ khí lẫn cách thức diễn tập, người chuyên môn thấy ngay là quân đội Việt Nam không có những chiến lược gia. Nếu có thì cũng không ở vị trí quyết định. Quân đội Việt Nam thua kém thế giới đến 40 năm. Lúng túng trong đường lối chính trị, quân đội Việt Nam cũng không có những chiến lược phòng thủ rõ ràng. Ai là bạn? Ai là thù? Lối tân trang của quân đội Việt Nam là:  Ai có gì thì mình có đấy. Ai bán gì thì mình mua đấy. Nhưng vì ít tiền hơn nên có ít và thô sơ hơn láng giềng. Với kỹ thuật hiện đại, những gì xung quanh vũ khí mới thật sự quan trọng. Một cây súng cá nhân đắt cho lắm thì giá cũng chỉ bằng 1/3 những thiết bị kính nhắm. Và bằng 1/10 chi phí huấn luyện cho binh sĩ sử dụng vũ khí này thuần thục. 
Vì lý do chính trị và ngân sách, quân đội Việt Nam không có vũ khí tối tân của khối Nato. Việt Nam vớt vát bằng cách mua vũ khí của Nga. Nhưng kỹ thuật vũ khí nước Nga thời hậu cộng sản đã bị qua mặt vì không được ưu tiên nhân tài và ngân sách như thời còn chiến tranh lạnh. Những gì các nước mua được của Liên xô đều là vũ khí của thế kỷ trước. Dù giới con buôn quảng cáo là đã được tân trang, cải tiến. Những sữa đổi lớn lao của vũ khí hiện nay đều liên quan đến kỹ thuật tin học: mau lẹ và chính xác. Nhờ bom đạn chính xác, sức chiến đấu của một hàng không mẫu hạm được tăng lên gấp 20 lần. Nhưng tin học là một lãnh vực mà Liên Xô chẳng có gì. Tàu ngầm Kilo cũng không ngoại lệ. Làm sao thắng được được những tàu ngầm Kilo Trung Quốc trong khi họ đã có đủ thời gia để tập luyện, thu thập kinh nghiệm đã chục năm? Nếu có chiến tranh, tàu Kilo của Việt Nam sẽ giúp Trung Quốc được vài chiến công hiển hách!
Vậy thì phải làm sao?
Vũ khí chính của quân đội Việt Nam?
Dù có ngân sách, hay dù được Mỹ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương thì cũng đừng mơ tưởng là sẽ mua được ngay vũ khí tối tân nhất.. Quân đội Việt Nam vừa lạc hậu vừa thiếu thốn. Nghèo thì phải xoay sở theo kiểu nghèo. Những lực lượng quân sự nghèo nàn đều lấy mìn làm vũ khí chính yếu để chống lại các lực lượng khác. Vì cách thức chế tạo ra mìn đơn sơ đến bất ngờ.  Một viên đạn AK + một cây đinh + một ống tre =  Một trái mìn tự chế. Chỉ cần chút ít hiểu biết, một kíp nổ và vài trăm gramme chất nổ là làm được trái mìn chống chiến xa. Chỉ cần một quả đạn đại bác, một thiết bị kích quả là làm được một trái mìn gây thương tích nhiều người.
Huấn luyện một người lính thuần thục phải cần thời gian. Nào là học cách xem bản đồ, truyền tin, bắn súng, cách thức chiến đấu cá nhân, cách thức chiến đấu cộng đồng… Nhưng huấn luyện cách thức gài mìn thì chỉ cần vỏn vẹn 1 ngày. Nếu chịu khó đi xa hơn, vài ba ngày sau thì học viên đã có khả năng gài những quả mìn mà đối phương không thể phát giác bằng mắt thường. Nên không thể tránh được. Rất khó phát hiện một vật tí ti, không màu, không sắc, không có hơi nóng, không cần tiếp tế, không động đậy, không biết sợ, không đầu hàng. Có nhiều quốc gia tinh quái hơn, chế tạo ra những quả mìn nhỏ như một cây viết, đủ sức hủy hoại một phần thân thể con người mà không có kim loại. Cho nên không thể phát giác và đề phòng. Mìn là một loại vũ khí phòng thủ siêu đẳng!
Bộ quốc phòng Mỹ đang đài thọ một dự án nhằm vô hiệu hoá mìn bẫy (JIEDDO, Joint Explosive Improvised Device Defeat Organization). Dự án này còn tốn kém hơn cả dự án Manathan làm bom nguyên tử. Nhưng gỡ mìn và chiến đấu là hai lãnh vực riêng biệt. Lính gỡ mìn mang nhiều dụng cụ nên không thể chiến đấu. Còn mang súng đạn, thiết bị cá nhân để chiến đấu thì không thể gỡ mìn. Chiến đấu thì cần nhanh lẹ, mạo hiểm. Gỡ mìn thì cần thời gian, dè dặt. Đối phương chỉ cần cài vài tay súng bắn tỉa và mìn là lực lượng tấn công gặp vấn đề. Muốn giải quyết thì phải cần tốn thời gian, bom đạn và …nhân mạng.
Nhiều xe bọc sắt được gia cố thêm sắt thép ở phần dưới và bên hông xe để chống mìn. Nhưng lại quá nặng nên không đi ra khỏi những đường nhựa nên không tránh được mìn chống chiến xa. Dự án JIEDDO vẫn loay hoay trong vòng lẫn quẩn.
Lỗ hỗng của hiệp ước Ottawa.
Khuyết điểm lớn nhất của mìn là nguy hiểm nhưng lại ngu ngốc. Nó không biết phân biệt đồng đội hay kẻ thù. Sau khi chiến tranh chấm dứt, nó vẫn giết người đều đều. Vì thấy có quá nhiều nạn nhân dân sự nên các nước dân chủ tìm cách hạn chế. Hiệp ước Ottawa được nhiều nước ký kết để ngưng chế tạo và sử dụng các loại mìn ngu ngốc. (Hoa Kỳ, Trung Quốc, Việt Nam và vài nước khác không ký hiệp ước này). Nhưng… lại cho phép sử dụng những trái mìn được điều khiển. Có nghĩa là khi trái mìn có gắn thêm thiết bị điều khiển làm nổ từ xa, nó hết còn bị là mìn nữa được xem mà như một vũ khí.
Sau này có thay đổi nền chính trị, chính phủ chuyễn tiếp cũng không thể ưu tiên ngân sách cho bộ quốc phòng để theo kịp các nước khác trong một thời gian ngắn. Một quốc gia mạnh là một quốc gia có thể tự chế tạo vũ khí. Việt Nam nên nghiên cứu, chế tạo, phát huy và huấn luyện binh lính sử dụng những loại mìn thông minh. Vừa rẽ tiền vừa hiệu quả. Vì một quả mìn cá nhân không đắt hơn một viên đạn. Một viên đạn pháo cũng ngang giá với mấy chục trái mìn chống chiến xa. Nếu đầu tư đúng mức, quân đội có thể chế tạo ra những hệ thống mìn bẫy được điều khiển bởi camera và máy bay do thám. Nếu được triển khai ở những vị trí chiến lược, những hệ thống vũ khí thông minh sẽ giúp quân đội Việt Nam chống cự những kẻ xâm lăng rất hữu hiệu. Dù không bắt chước, Việt Nam vẫn theo kịp sự phát triển của các quân đội hùng mạnh: Không ngăn chặn kẻ thù người bằng sinh mạng của quân ta mà ngăn chặn kẻ thù bằng máy móc.
Dương Thành Tân

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tranh Nghệ Thuật Hòang Gia Việt Nam

Từ 9/7 đến 15/9 năm 2014, tại bảo tàng Guimet, Paris có cuộc triển lãm nghệ thuật hoàng gia của các triều đại Việt Nam kỷ niệm 40 năm quan hệ Pháp - Việt.

Trong hình là triện vàng ròng hình rồng năm móng ngậm hạt châu của Hoàng đế Gia Long, người sáng lập ra triều Nguyễn.

Nhưng cuộc triển lãm Việt Nam Rồng bay, 'L’Envol du dragon – Art royal du Vietnam' nhìn lại cả nhiều giai đoạn nghệ thuật Việt Nam, từ thời Đông Sơn và qua cả các giai đoạn sau đó.

Họa tiết trên gốm sứ thời Lý.

Điêu khắc hình rồng thời Lê.

Tượng Phật bà nghìn mắt nghìn tay.

Văn hóa ảnh hưởng Phật giáo sâu sắc của Việt Nam được trình bày tại đây.

Ấm vàng thời Nguyễn.

Một sắc phong bằng chữ Hán cho làng Vạn Phúc, tỉnh Hà Đông của vua Lê Thần Tông.

Các vật dụng bằng vàng hoặc bạc từ cung vua, phủ chúa thời phong kiến Việt Nam.

Tranh vẽ mô tả sinh hoạt của người Việt một thời.

Tranh vẽ các vị quan võ, chưởng cơ, cai đội thời Nguyễn.


Hoàng đế Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu trên tranh sơn dầu của Eduardo Benito. Triển lãm do bà Sophie Makariou chủ trì với sự cộng tác của các ông Nguyễn Quốc Bình, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Pierre Baptiste, Bảo tàng quốc gia về nghệ thuật châu Á - Guimet. 

Ảnh của Ng.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Xin chuyển chung cư cao cấp thành... bệnh viện


Ngày 5-12, bác sỹ Mai Tiến Dũng - người phụ trách dự án chuyển đổi chung cư thành bệnh viện cho biết.
Năm block chung cư cao cấp Thái Bình Plaza ở phường Thạnh Mỹ Lợi, quận 2, TPHCM vừa được chủ đầu tư là Công ty TNHH Đá xây dựng Bình Dương xin chuyển đổi sang bệnh viện quốc tế chuyên về đột quỵ đầu tiên ở Việt Nam.
Năm 2007, dự án xây chung cư cao cấp này được triển khai với diện tích xây dựng 13.000m2, diện tích sử dụng hơn 70.000m2 gồm 360 căn hộ, cao 20 tầng.
Tổng vốn đầu tư xây dựng hơn 2 nghìn tỷ đồng và dự án hoàn thành cuối năm 2011.
“Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn, căn hộ ế ẩm, nên mới đây đơn vị chủ đầu tư đã có đề án gửi UBND TPHCM xin chủ trương chuyển công năng”- bác sĩ Dũng cho biết. Theo ông, trước đây khi thực hiện dự án, giá bán căn hộ được đưa ra là 2.000 USD/m2, sau đó giảm xuống còn 1.000 USD/m2.
Chung cư ế ẩm, chủ đầu tư xin chuyển sang bệnh viện.
Tuy nhiên, mới đây công ty quyết định không bán căn hộ để chuyển đổi công năng. “Đến nay dự án chưa bán cho khách hàng, tại cuộc họp với chủ đầu tư dự án trên, các sở ngành và UBND quận 2 đã đồng ý chủ trương cho chuyển đổi chung cư thành bệnh viện. Nếu như đề án được phê duyệt, bệnh viện này sẽ có tên gọi BV Đa khoa quốc tế Phúc An Khang, chuyên về lĩnh vực can thiệp đột quỵ kỹ thuật cao đạt chuẩn quốc tế và làm vệ tinh để giảm tải cho các bệnh viện chuyên ung bướu, chấn thương chỉnh hình và Bệnh viện Nhi của TPHCM”- bác sĩ Dũng cho biết.
Ngoài ra, bệnh viện cũng có thêm các chuyên khoa về tim mạch, lão khoa, ngoại thần kinh, ung bướu, chấn thương chỉnh hình, sản và nhi…
Theo bác sĩ Dũng, nếu được UBND TPHCM và Bộ Y tế đồng ý, sau 6 tháng bệnh viện sẽ hoàn thành để đi vào hoạt động. Trao đổi với Tiền Phong về việc chuyển đổi chung cư thành bệnh viện, một lãnh đạo Sở Y tế TPHCM nói ủng hộ phương án này, bởi đây là bệnh viện cửa ngõ phía đông của TPHCM, sẽ giúp các bệnh viện trong thành phố giảm tải.
“Hơn nữa, hiện tại cả khu vực phía Nam chưa có bệnh viện nào chuyên về lĩnh vực tai biến mạch máu não nên ra đời bệnh viện chuyên về bệnh này là rất quan trọng khi số ca đột quỵ ngày một tăng”- vị lãnh đạo Sở này nói.
Lê Nguyễn
(Theo TPO)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phiếm bàn về một số câu nói được lan truyền trong giới họa sĩ

"Thú dữ" của Dior



Trịnh Cung

Những luận bàn trong bài viết này, tác giả không nhằm đưa ra những lý giải có tính kết luận. Tất cả chỉ là những suy nghĩ dựa trên những trải nghiệm của tác giả qua một thời gian khá dài hoạt động sáng tác và triển lãm. Tất nhiên, sẽ có nhiều chỗ bị rơi vào chủ quan hoặc thiếu nghiên cứu sâu. Sẽ rất vui cho tác giả nếu bài phiếm bàn này được sự đóng góp hiểu biết của bạn đọc để giúp tác giả hoàn thiện hơn trong suy nghĩ của mình về các vấn đề mỹ thuật thiết thân.


“Tôi vẽ như tôi thở.”

Trịnh Cung: Với tôi, không nghĩ vậy, câu nói hơi cường điệu. Vẽ và thở là hai phạm trù khác nhau, hai sự việc rất khác nhau. Dù là có hàm ý vẽ đối với họ là chuyện tự nhiên, chuyện nhỏ hoặc vẽ là cần thiết như thở vậy, điều này có diễn ra đúng như câu nói ấy cũng không lấy gì bảo đảm được những sản phẩm được họ vẽ ra đều là tác phẩm hoặc hơn thế nữa, chúng là những sáng tạo nghệ thuật. Vẽ đều và vẽ liên tục như thở, thì chẳng khác nào con gà mái mỗi ngày đều đẻ cho ta một cái trứng. Tác phẩm nghệ thuật không thể được sinh ra như cái trứng (đều và có hình thức giống nhau, gà công nghiệp). Công việc sáng tác của họa sĩ không dễ như con gà mái làm việc đẻ. Vì cần trí tuệ. Sáng tác là một công việc của ý tưởng về sáng tạo nghệ thuật vốn luôn có khởi nguồn từ sức sống và phụng sự cho sự sống. Kỹ năng hội họa chỉ là công cụ để thực hiện ý tưởng nghệ thuật của nhà họa sĩ.

Mặt khác, vẽ liên tục, vẽ đúng giờ bắt đầu cũng như lúc nào thì tạm dừng sẽ dễ trở thành quán tính. Khi người làm hội họa mắc phải quán tính như thế sẽ khó thay đổi bút pháp và khuynh hướng nghệ thuật cũng như đề tài và thường, sẽ không có chỗ trống cho ngẫu hứng, đồng thời sự lập lại chính mình là điều không tránh khỏi. Vẽ cũng không phải là môn thể dục thể thao luôn cần luyện tập để luyện cơ bắp và giữ hay nâng cao thành tích cho những cuộc tỉ thí sắp đến trừ phi anh phải làm công việc vẽ để mưu sinh như vẽ ký họa chân dung ở đường phố hay phải nhận thực hiện một hợp đồng cung cấp một lượng tác phẩm hội họa đúng hẹn, đúng kiểu mẫu và đúng chất lượng để cung cấp cho một nhà buôn tranh nào đó chẳng hạn.

“Những họa sĩ chủ trương ‘vẽ như thở’ vẫn nỗi tiếng và tranh của họ rất được hâm mộ và săn lùng? Và vẽ quán tính sẽ dễ lập lại chính mình, vậy sự thay đổi bút pháp và đề tài đối với một họa sĩ có cần thiết không, vì đã có người đưa ra trường hợp của nhà danh họa người Pháp là Paul Cézanne cả đời chỉ vẽ có tái Táo mà vẫn được tôn vinh là nghệ sĩ bậc thầy? Mặt khác, nghệ sĩ thường được kể như những người lãng mạn, hay mơ mộng, sao họ lại làm việc rất đỗi cần mẫn như thế?”

TC: Vì họ được sinh ra để vẽ như thế. Những nhà họa sĩ ấy đều rất có tài và cũng rất giỏi trong việc khép mình vào giờ giấc “vẽ như thở” trong cái “xưởng” (studio) của họ mỗi ngày. Họ nổi tiếng vì tranh họ rất đẹp, rất hợp với thị hiếu của người mua và tất nhiên còn có bàn tay mầu nhiệm của giới buôn tranh làm nên sự nổi tiếng ấy trở nên vang dội.

Về trường hợp Paul Cézanne, câu nói ấy chỉ để cho những ai, một là mặc cảm vì chỉ vẽ có mỗi một đề tài và mỗi một cách vẽ, hai là bị nghèo về đề tài và nghèo cả ý tưởng sáng tạo đành phải dùng Cézanne để tự bao biện. Thực ra, Cézanne đâu chỉ vẽ có mỗi trái Táo trong suốt sự nghiệp làm hội họa của mình. Cézanne không những nổi tiếng với những tranh tĩnh vật vẽ trái Táo mà còn vẽ nhiều tranh về con người rất đẹp dưới một phong cách hội họa riêng. Chính bút pháp và phong cách ấy là khởi nguồn cho trường phái Lập Thể ra đời bởi Braque và Picasso. Sở dĩ Cézanne nổi tiếng do vẽ trái Táo, theo tôi, là từ lý do: Cézanne vẽ khá nhiều các tĩnh vật trong đó trái Táo là trung tâm. Van Gogh cũng nổi tiếng với rất nhiều tranh hoa Hướng Dương, nhưng Van Gogh cũng rất thành công với những tác phẩm vẽ cánh đồng lúa mì, những ngôi nhà thờ, phố đêm, chân dung những người đàn bà và nhất là những bức tự họa. Ðiều quan trọng nhất mà lịch sử hội họa vinh danh hai ông là mỗi người đã tạo riêng cho mình một bút pháp độc đáo, trong đó Paul Cézanne còn được coi là người đã mở ra cánh cửa cho nghệ thuật Lập Thể mà Braque và Picasso đã cụ thể hóa thành một trường phái làm cho cả thế giới một thời kinh ngạc và thán phục. Chúng ta hãy quan sát bức “Những Người Ðàn Bà Tắm” của Paul Cézanne và bức “Những Cô Gái Trẻ Ở Avignon” của Picasso vẽ năm 1907 thì sẽ nhận ra mối tương quan về nghệ thuật tạo hình rất gần gũi giữa hai lối vẽ.

Ở đây, tôi cũng xin nói thêm về sự thay đổi khá quan trọng trong sử dụng cọ có bản dẹp mà Paul Cézanne áp dụng trong các tranh vẽ người của mình như các bức “Hai Người Chơi Bài”, “Người Hút Tẩu” và “Những Người Ðàn Bà Tắm”, thủ pháp này mở ra một thời kỳ mới cho kỹ thuật vẽ sơn dầu. Nó tạo ra các mảng khiến bức tranh mạnh mẽ hơn, dứt khoát hơn, đơn giản hơn và làm nổi bật hơn lên không gian ba chiều của sự vật và khung cảnh đang bao quanh. Tiếp theo sau là sự xuất hiện của dao vẽ (couteau à peintre), khác vơi dao dùng để trộn màu, kể từ thời kỳ này, kỹ thuật vẽ sơn dầu hoàn toàn thay đổi, nó cho phép người vẽ mở rộng sự biểu đạt tự do hơn, phóng khoáng hơn và hiện đại hơn.

“Vẽ như thở có liên quan gì đến câu nói: Là họa sĩ thì anh hãy vẽ đi? Và cũng còn có ý kiến cho rằng họa sĩ mà không bán được tranh (bán chạy như cá tươi) thì đâu đáng được gọi là họa sĩ!”

TC: Câu nói trước là của người có chút tự phụ, tự tin quá mức cần thiết, “Ta đây”. Câu sau hàm ý thách thức, ngầm chê bai một ai đó ít làm việc, nhưng thực ra vẽ nhiều đã chắc gì là sáng tác. Tóm lại, cả 3 điều nói trên không có giá trị trí thức hoặc của một người không đọc lịch sử mỹ thuật. Chỉ riêng trong những nghệ sĩ làm nên lịch sử của nền mỹ thuật hiên đại thế giới đã có không ít người phải sống trong nghèo đói vì không bán được tranh, thậm chí phải cấn tranh cho chủ quán để đổi lấy ly cà phê, ly rượu hoặc khúc bánh mì. Ðó là trường hợp của những “ông lớn” như Van Gogh, Utrillo, Picasso, Gauguin, Modigliani… Ở Việt Nam, ta có những Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng…

Vẽ nhiều hay vẽ ít, chỉ vẽ có một đề tài, một kiểu vẽ hay thường thay đổi đề tài và cách vẽ, điều này rất phụ thuộc vào bản tính của mỗi họa sĩ. Con người khi được sinh ra, nó đã hàm chứa một nguồn gốc nào đó, một bản năng nào đó , một biên giới sự sinh tồn nào đó nên không giống nhau và khó áp đặt cách sống, cách tư duy của người này lên người khác. Ðó là một điều may cho nhân loại.

Trong nghề vẽ, ngoài những họa sĩ vẽ như thở, có không ít những họa sĩ quan niệm mỗi lần sáng tác là cả một quá trình thụ tinh và sinh nở như người đàn bà mang thai mà vẫn chưa chắc gì khi sinh nở đều mẹ tròn con vuông. Mỗi tác phẩm, như con người, đều có số phận riêng.

“Có gì khác giữa họa sĩ và là nghệ sĩ?”

TC: Theo tôi, mỗi họa sĩ nhiều hay ít mang chất nghệ sĩ khác nhau, có riêng khả năng sáng tác mỏng hay dầy khác nhau, như thế có nghĩa là không phải ai cũng lãng mạn, cũng mộng mơ như nhau. Có lẽ cũng cần phân biệt chỗ này nên người Pháp mới thêm chữ artiste trước chữ peintre và người Mỹ rất ít dùng từ painter và thông thường họ chỉ dùng từ artist để chỉ những ai làm nghệ sĩ trong lãnh vực tạo hình.

Trong tiếng Việt, từ họa sĩ có ba trường hợp: Thứ nhất, nếu trong họ yếu tố nghề mạnh hơn (nghệ nhân) thì họ làm việc như một con ong, cho ra mật mỗi ngày và rất bảo đảm chất lượng. Còn thứ hai, số này không nhiều, lại nặng về sáng tạo nên không bao giờ có số lượng tác phẩm dồi dào và đều đặn và hơn thế nữa, tác phẩm của họ thường có bộ mặt xa lạ, thậm chí quái gở, khó nhìn khi mới xuất hiện. Mặt khác, để có một tác phẩm độc đáo, khác cái cũ của chính mình và tất nhiên, không được giống với lối vẽ và đề tài của người khác, đối với họ chẳng khác nào một tiến trình thụ tinh và sinh nở của một phụ nữ. Và tất nhiên, không lấy gì bảo đảm cho sự ra đời của đứa bé là hoàn hảo, mỗi hài nhi đều có riêng hình dáng và số phận của nó. Tác phẩm nghệ thuật không khác, có cái rất tuyệt,được giải thưởng, được trưng bày ở viện bảo tàng… có cái hư hỏng phải vất đi và có cái phải nằm im lặng ở một xó nhà hoặc lưu thân trên những gánh ve chai… Rồi thứ ba, là có người vừa là họa sĩ vừa là nghệ sĩ, có nghĩa là họ vừa có thể vẽ rất tốt theo thị hiếu của khách hàng để mưu sinh đồng thời cũng dành nhiều hoài bão cho sáng tác. Số này cũng khá phổ biến ở những nước thiếu những nhà sưu tập chuyên nghiệp, thị trường nghệ thuật còn manh mún, nhỏ lẻ, như Việt Nam là một ví dụ.

“Về bàn tay của nhà buôn tranh trong việc giúp cho họa sĩ nổi tiếng nhanh và rộng khắp, tác động của nó như thế nào?”

TC: Kể từ khi thị trường nghệ thuật phát triển (có thể tính từ ba thập niên cuối thế kỷ 20), các họa sĩ có tài đều được giới kinh doanh nghệ thuật chăm sóc tận tình, không mấy ai đứng được bên ngoài tầm ngắm của họ vì lợi nhuận rất cao và danh vọng rất lớn đang chờn vờn trước mắt bởi những hợp đồng độc quyền béo bở được đề nghị bởi những art dealers.

Art dealer là nhà môi giới tranh, một nghề rất đặc thù của kinh tế thị trường. Công việc này rất quyết định cho sự phát triển hay suy thoái của thị trường nghệ thuật và cho tất cả tiếng tăm của nghệ sĩ. Nó vừa phát hiện tài năng mới vừa tạo ra thời tiết nghệ thuật thích hợp ở mỗi khu vực thị trường, và không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới giới họa sĩ mà cả những nhà phê bình, những giám tuyển, những nhà sưu tập, những cơ quan truyền thông về nghệ thuật, gu thẩm mỹ và giá cả thị trường. Cũng có thể nói art dealer là cái gạch nối giữa những nhà quản lý (Gallerist, Curator), những nhà phê bình, những cơ quan truyền thông đai chúng (quảng cáo), những đại diện cho giới nghệ sĩ và nhà sưu tập trong các dịch vụ mua bán tác phẩm.

“Sự trong sáng trong lãnh vực sáng tạo và cho tâm hồn người nghệ sĩ có bị ảnh hưởng trước sự can thiệp và định hướng thẩm mỹ bởi thị trường?”

TC: Tất nhiên là phải có. Không những có mà còn rất nặng nề, nhất là vào thời đại toàn cầu hóa. Tất cả đều bị chi phối một cách nhanh cực kỳ và rộng khắp, bởi mạng lưới thông tin và các công cụ tuyệt diệu giúp hoàn thiện các ước muốn của con người vốn vụng về về mặt sáng tác mà lại muốn nhanh chóng tạo ra tác phẩm ngon lành. Do đó mọi sự độc đáo và cá tính sớm bị sao chép, biến tấu, rồi chẳng bao lâu những cái mới ấy sẽ biến thành hàng chợ, một thứ nghệ thuật đồng dạng, na ná, hời hợt, thời trang.

Do đó, ngày nay, chúng ta thấy rất ít những khuôn mặt nghệ sĩ như Van Gogh, Gauguin, Matisse, Rousseau, Modigliani, Chagall, Miró, Picasso hay Dali… và cũng hầu như không còn thời đại bùng nổ những trường phái nghệ thuật như thời mỹ thuật hiện đại ở châu Âu vào những thập niên đầu của thế kỷ 20. Tình trạng này xảy ra không riêng cho mỹ thuật, mà trong mọi lãnh vực như âm nhạc, nhiếp ảnh , video, trình diễn… Tài năng nghệ thuật ngày nay rất đông nhưng không mấy ai là thiên tài, mặc dù đã có rất nhiều sự kiện nghệ thuật được tổ chức qui mô hằng năm tại nhiều nơi trên thế thế giới. Kể cả những nghệ sĩ đương đại đã và đang đắt giá như trường hợp của Damien Hirst, một nghệ sĩ người Anh có tác phẩm trị giá trên cả trăm triệu USD (Sotheby’s đã từng bán được 198 triệu USD cho nhà tỷ phú Charles Saatchi) cũng không mấy được coi như thiên tài nghệ thuật thậm chí còn đi ngược lại xu thế văn minh của thời đại bảo vệ động vật hoang dã, thậm chí còn bị phong trào nghệ thuật Stuckism chống đối rất ồn ào ở ngay tại trung tâm Luân Ðôn ngày nay. Có thể nói, ngày nay với bàn tay phù thủy của ngành quảng cáo, đã chấm dứt thời đại của những huyền thoại nghệ thuật. Bàn tay ấy có thể nhanh chóng biến một ai đó thành một ngôi sao nghệ thuật lẩy lừng và cũng dễ dàng biến nó vụt tắt đi bất cứ lúc nào. Những câu chuyện tự cắt tai mình hay đưa lòng bàn tay trên ngọn lửa của nến cho cháy bỏng vì tình yêu, vì cô đơn của Van Gogh, hay Paul Gauguin bỏ Paris qua sống đời lang thang cùng thổ dân Tahiti để vẽ “Chúng ta đang ở đâu, từ đâu đến và sẽ đi về đâu”… chắc chắn mãi mãi là chuyện cổ tích.

Và cũng đừng lầm lẫn rằng ngày nay, những tổ chức sự kiện nghệ thuật mang ý nghĩa “Phi lợi nhuận” (non-profit), “Vì cộng đồng” mà không bị chi phối bởi quyền lực đen thương mại hay chính trị. Những nhà khởi xướng ra Nghệ Thuật Ðương Ðai đã hô hào phá bỏ các định chế có tính “giai cấp”, nghe ra rất tuyệt nhưng sau nhiều thập niên qua, ngày nay, những nhà tổ chức các sự kiện nghệ thuật lớn trên thế giới đã cho thấy có một thứ “định chế mới”, định chế ẩn mình, thông qua các foundation, các tài trợ… còn thành lũy kiên cố hơn rất nhiều so với thời mỹ thuật hiện đại.

Ðó là phần chìm của tảng băng nghệ thuật đương đại, mặt nổi của nó ngày càng tan chảy vì chính sự nghèo nàn và rỗng cũng như tính dễ dãi trong việc hoàn thành tác phẩm mà nội dung thường dựa vào thời sự hoặc môi trường sống của con người. Cái lớn lao của Nghệ Thuật Ý Niệm do Marcel Duchamp khởi xướng vào những thập niên đầu thế kỷ 20 là đã tạo ra cho nhân loại ngày nay một thế giới nghệ thuật phi nghệ thuật, một thế giới nghệ thuật của mọi người, một thế giới nghệ thuật phi thiên tài và có tính toàn cầu như trong lý thuyết mà những người chủ trương đã khởi xướng vào thời kỳ đầu. Nhưng Nghệ Thuật Ý Niệm nay đang bị đồng tiền của những sức mạnh thị hiếu “bệnh hoạn” làm nó giãy chết.

Tham vọng của những người chủ xướng thứ nghệ thuật từ chối trật tự thang bậc và lâu đài, cổ xúy cho thứ nghệ thuật công xã tưởng chừng rất lý tưởng, nhưng ngày càng cho thấy nó gây ra phản cảm nhiều hơn là chinh phục giới yêu nghệ thuật. Suy cho cùng, tài năng lớn vẫn luôn tạo ra sự khác biệt. Trong sáng tạo nghệ thuật không có chỗ cho sự đồng dạng và đồng đẳng.

Một số tác phẩm tiêu biểu của Damien Hirst:




“Có phải nghệ thuật đương đại đang rơi vào thoái trào và người ta muốn quay lại bảo thủ?”

TC: Cá nhân tôi đến bây giờ vẫn ủng hộ cái mới và vẫn không chủ trương bảo thủ trong sáng tạo. Tuy nhiên, tôi cũng muốn có một cái nhìn công bằng trong đánh giá cho từng giai đoạn của đường đi lịch sử mỹ thuật và cũng không coi bảo thủ luôn không tốt. Bảo thủ luôn giữ gìn cái tốt và có giá trị phản biện để cái mới ra đời với kết quả tốt hơn. Không phải tất cả cái mới đều có phẩm chất cao, nó phụ thuộc vào tài năng và tâm hồn của mỗi tác giả lớn hay nhỏ, đặc biệt hay tầm thường. Nếu nghệ thuật đương đại để mình phụ thuộc vào thời sự và công nghệ thì nó sẽ không có đời sống lâu dài, nó sẽ bị kết thúc như bản chất của thời sự. Nghệ thuật không thể là một thứ mì ăn liền, không là một công việc cùng làm với đại chúng và cũng không là trò chơi bệnh hoạn của một số ít trưởng giả thừa mứa tiền bạc. Mặt khác, hãy cẩn thận với truyền thông, vì nó cũng bị lũng đoạn bởi những thế lực đứng sau lưng, khi thời đại ngày càng thuộc về đồng tiền chính trị.

Và có lẽ, cái hay nhất của Nghệ Thuật Ý Niệm, là tiên đoán từ rất sớm rằng thế giới nghệ thuật trong thế kỷ 21 và tiếp theo là thời kỳ của nghệ thuật “hiện hữu mà không tồn tại” như thứ hỗn loạn chính trị đang diễn ra trên khắp hành tinh chúng ta hôm nay.

Cali, tháng 9 năm 2014

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2014

CỨU NƯỚC TRÊN HẾT!


KHÔNG THAY ĐỔI LÀ CÓ TỘI VỚI LỊCH SỬ!


Chưa bao giờ thấy tình hình đất nước đáng lo như hiện nay: 

Về kinh tế xã hội: Hàng chục vạn doanh nghiệp ngừng hoạt động và phá sản, công nhân nhân viên mất việc, ngân sách thất thu, sinh viên tốt nghiệp ra trường không có việc làm, người cày mất ruộng, tập đoàn kinh tế nhà nước làm ăn thua lỗ, tham ô, nợ xấu ngân hàng, thất thoát hàng ngàn ngàn tỷ, hàng hóa nước ngoài tràn ngập thị trường chủ yếu từ Trung Quốc, hàng xuất khẩu chủ lực lệ thuộc Trung Quốc về nguyên vật liệu, nhập siêu hàng năm trên dưới 20 tỷ đô la, nợ nước ngoài chồng chất vượt quá GDP, khoáng sản bị đào bới bung bét, rừng bị chặt phá vô tội vạ…Kinh tế sa sút gần đến đáy, tụt hậu rất xa so với các nước chung quanh. Tài nguyên phong phú mà dân nghèo, nước yếu, lệ thuộc.


Mọi mặt xã hội xuống cấp nghiêm trọng.

Về an ninh, quốc phòng: Nhiều điểm xung yếu về quốc phòng đã bán hoặc cho Trung Quốc thuê dài hạn. Họ đã mua được 3, 4 ngàn hecta rừng biên giới, đã đứng chân được trên cao nguyên chiến lược, đã vào “nuôi cá” trong quân cảng Cam Ranh, đương thực hiện dự án khu luyện thép Formosa và cảng Vũng Áng, thực tế là đương xây dựng căn cứ quân sự, họ thuê cảng Cửa Việt cũng đương thực hiện mục đích ấy; từ Kỳ Anh đến chân đèo Ngang, phía Đông đường quốc lộ 1, khoảng 20 km họ xây tường cao và làm gì trong đó không ai biết, mua một đoạn bãi biển Đà Nẵng, xây nhà kín cổng cao tường để làm gì cũng chẳng ai hay. Trung Quốc đã đánh chiếm được cao điểm 1059 trong huyện Vị Xuyên, Hà Giang, ngoài biển, trên cụm bãi đá Gac Ma trong quần đảo Trường Sa của chúng ta mà họ đánh chiếm năm 1988, họ đương xây thành những đảo nhân tạo và thành căn cứ quân sự có sân bay, đường băng. Hàng vạn người Trung Quốc rải khắp nơi có thể là đội quân thứ 5. Độc lập, chủ quyền của nước ta bị uy hiếp nghiêm trọng.

Thực trạng trên đây nói lên sự quản lý, điều hành yếu kém.........
Cứ đà này tiếp tục, tình hình sẽ còn bi đát hơn, có thể dẫn đến vỡ nợ và có thể mất độc lập chủ quyền ( bỏ một đoạn xin tác giả thông cảm)........................................

Trước hiểm họa của đất nước, đảng viên, cán bộ từ dưới lên, những ai còn có lòng yêu nước, còn thấm được ít nhiều tinh thần, khí phách Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, hãy thức tỉnh, dám nghĩ dám làm, dám thay đổi, cùng nhân dân chung tay cứu nước.

Con đường đúng đắn là:

- Đặt Tổ quốc lên trên hết, từ bỏ toàn trị, từ bỏ đường lối sai lầm bảo thủ, tư duy ý thức hệ hão huyền, thực hiện dân chủ với dân, tôn trọng các quyền và lợi ích của dân, gắn bó với dân để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc đích thực.

- Vẫn duy trì mối quan hệ bình thường với Trung Quốc và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước nhưng phải phát huy tinh thần độc lập, tự chủ tách ra khỏi sự ràng buộc của chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán, kết bạn với tất cả các nước lớn như Nga, Nhật, Ấn, Mỹ…

Tôn trọng trí thức có chân tài, thực học, tâm huyết với sự đổi mới và phát triển đất nước, với các chuyên gia kinh tế giỏi, cùng nhau bàn bạc, tìm ra đường lối, kế sách đúng để tiến lên và bảo vệ vững chắc Độc lập, chủ quyền dân tộc.

Bảo thủ không thay đổi là có tội với lịch sử.

Nguyễn Trọng Vĩnh 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tức mắt với những kiểu phục vụ "lạ đời" chỉ có ở Hà Nội

Phần nhận xét hiển thị trên trang