Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 17 tháng 9, 2014

Nhìn lại một nền văn học / Lê Hoài Nguyên

Đường hầm Tình yêu ở Ukraine.
ẢNH MINH HỌA
NHÌN LẠI MỘT NỀN VĂN HỌC
LÊ HOÀI NGUYÊN


Hôm nay đã sắp 40 năm ngày chấm dứt của nền văn học ấy. Từ thập niên 80, 90 giới nghiên cứu phê bình quen gọi là nền Văn học thực dân mới hoặc Văn học đô thị miền Nam 1954-1975. Những nhà văn đã sinh ra nền văn học đó thì gọi nó là Văn Học Sài Gòn hoặc Văn học Cộng hòa miền Nam.
Từ sau 1975 còn có một nền văn học nối dài do nhiều chủ nhân của nó định cư ở nước ngoài làm lại đã phát triển 40 năm nay với tên  gọi lúc đầu là Văn học lưu vong, sau là Văn học hải ngoại hay như từ năm 1993 tôi đã gọi một cách ấm cúng trong bối cảnh đương thời là nền Văn học Người Việt ngoài nước*.
Hôm nay nhiều người Việt đã không còn nhìn nhận sự kiện 30-4-1975 như là một sự kiện thuần túy sắt máu, cũng như không còn nhìn nhận toàn bộ nền văn minh vật chất và tinh thần của xã hội miền Nam chỉ là sản phẩm của chủ nghĩa thực dân mới do đế quốc Mỹ để lại.

Cũng trong hoàn cảnh nhiều người trong giới viết văn, nghiên cứu phê bình trong nước đã nhìn nhận hai nền văn học ở trên là một tiến trình phát triển, một bộ phận hiển nhiên không thể bỏ đi của nền Văn học hiện đại Việt Nam.

Từ lâu tôi đã đã nghĩ đến có một ngày như thế khi tôi còn trẻ chứng kiến các khối văn hóa phẩm khổng lồ chuẩn bị được đem đi tiêu hủy. Trong số các ấn phẩm tôi còn kịp nhận ra tên của ngững kiệt tác gia của nhân loại mà ở Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội tôi chưa được đọc.

Thời gian và tình thế dân tộc, đất nước đã đủ để mỗi người Việt Nam hôm nay nhìn rõ cái lẽ phải trái một thời, có những đại cuộc viển vông, có những niềm tin ấu trĩ, những xung đột huynh đệ thảm khốc, những ý tưởng manh nha ngược chiều đương thời nay trở thành chân lý...Tôi thấy mình đang phải thoát ra khỏi các tín điều để tìm ra một cách lý giải mới về lịch sử, văn hóa đất nước qua các biến thiên thời cuộc cho đến hôm nay.

Trở lại khởi điểm các nhà mác xít Việt Nam đã nói về cái nền văn hóa ở miền Nam 1954-1975. Họ đã quả quyết rằng cái nền văn hóa ấy hoàn toàn chỉ là sản phẩm của người Mỹ mang đến, hoàn toàn do các chính sách nô dịch của người Mỹ và chính quyền tay sai Mỹ nặn ra. Họ đã bỏ qua tính độc lập của văn hóa, bỏ qua các thành tố thuần túy văn hóa của một nửa dân tộc tự xây dựng nên để tồn tại trong sự đối lập với chính quyền , trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt...
Họ quên rằng trong hàng chục thế kỷ đã qua, dân tộc Việt Nam đã có nhiều thời kỳ sống dưới ách đô hộ nước ngoài nhưng không một ngoại bang nào, không một chính thể nào có thể thay thế được nền văn hóa Việt bằng nền văn hóa của họ. Hai là không thể lẫn lộn cái gọi là sự xâm lược văn hóa với sự lan tỏa ảnh hưởng của những nền văn minh trong văn hóa của những dân tộc phát triển theo sau các đạo quân đế quốc như của Trung Hoa, Pháp và Mỹ đối với nước ta. Chính thể nào, quốc gia, cộng hòa hay cộng sản cũng đều có bộ máy văn hóa để tuyên truyền cho nó, cố gắng áp đặt ý chí của nó nhằm tạo ra một bộ mặt văn hóa minh họa cho bản chất của nó nhưng xét đến cùng các chính thể không thể lãnh đạo được toàn bộ nền văn hóa của một dân tộc. Ngoài yếu tố bản thể tự nhiên, các nền văn hóa tư sản hay cộng sản bao giờ cũng có yếu tố dân tộc, hiện thực, nhân đạo, yếu tố mới, yếu tố đẹp, yếu tố phản kháng, yếu tố chống chiến tranh, bạo lực... Vậy thì nền văn hóa của cả nửa dân tộc Việt xây dựng ở miền Nam trong 20 năm 1954-1975 không chỉ có mỗi hình thái nô dịch đồi trụy. Hiển nhiên  nó vẫn chảy theo lộ trình của văn hóa dân tộc Việt có từ ngàn năm. Chỉ tiếc rằng thế giới quan vụ lợi về chính trị đã làm cho giới nghiên cứu bấy lâu nay gạt bỏ hết phần giá trị của nó.
Vậy thì cần phải nhìn văn hóa, văn học miền Nam 1954-1975 với cách nhìn của hôm nay trong tiến trình lịch sử dân tộc, với các giá trị của tiến bộ xã hội, của con người, với xu thế phát triển của thế giới hiện tại. Phê phán những người vì mục đích tiền bạc hoặc hư vinh mà phục vụ cho guồng máy tuyên truyền của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa nhưng cũng cần phân biệt những người còn ý thức về sự tồn vong của dân tộc, đất nước, về sự đau khổ của đồng loại, những người sáng tạo vì vẻ đẹp của dân tộc. Thậm chí trong bối cảnh chiến tranh lúc đó, thái độ lưỡng lự, hoang mang, u sầu thôi cũng góp phần không hun nóng thêm những cái đầu khát vọng chiến tranh. Hoặc một tác phẩm phản ánh khách quan sự thật băng hoại của xã hội miền Nam cũng có ý nghĩa thức tỉnh tích cực lương tri của cộng đồng. Hoặc những cố gắng cách tân nghệ thuật đưa ngôn ngữ Việt tiếp cận các phương thức biểu hiện hiện đại, các tư tưởng của triết học thế giới đương thời cũng là đáng quý...
Đó là lý do tại sao những phần giá trị của văn hóa, văn học miền Nam 1954-1975 vần sống âm ỉ trong lòng nhiều người miền Nam, cả người miền Bắc, và cả thế hệ trẻ hôm nay.
 Sức sống ấy bất chấp những nỗ lực của những người thắng cuộc sau 30-4-1975 đã huy động một bộ máy tuyên truyền, một hệ thống truy quét khổng lồ để tiêu diệt nó.

 Như vậy không thể đơn giản quy chiếu toàn bộ nền Văn học miền Nam 1954-1975 dưới góc độ phản động- đồi trụy mà phải nhìn nó như nó vốn tồn tại như một lẽ tự nhiên với đầy đủ các thang bậc giá trị. Cùng với khuynh hướng phục vụ chính thể chế độ Việt Nam cộng hòa, nền văn học ấy còn có các khuynh hướng khác như :
Khuynh hướng hiện thực
Khuynh hướng phản kháng lại chính quyền
Khuynh hướng chống chiến tranh
Khuynh hướng nhân đạo
Khuynh hướng tình tự quê hương đất nước
Khuynh hướng cách tân nghệ thuật
...
Các khuynh hướng có thể tồn tại trong một nhóm tác giả hoặc đan xen phức tạp trong mỗi tác giả. Vì thế sự đánh giá mỗi tác phẩm, tác giả của nền Văn học miền Nam 1954-1975 cũng không hề đơn giản.
Với trang Văn học miền Nam 1954-1975 chúng tôi chỉ có tham vọng ghi nhận một cách nhìn mới về nền văn học này và cố gắng sưu tầm các kết quả nghiên cứu đánh giá về nó và tập hợp một tủ sách   đại diện cho các khuynh hướng của nó hầu giúp cho đồng nghiệp và bạn đọc tiếp cận được một cách trung thực đời sống văn học một nửa đất nước trong hai mươi năm chia cắt.

Tháng 7-2014

Chú thich : Bài Một cách nhìn mười tám năm Văn học Việt ngoài nước. Tạp chí Quê Hương – Ban Việt kiều Trung ương, số 8-1993, số đặc biệt về Văn học hải ngoại.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Văn chương +: BLOG PHẠM THỊ HOÀI: VỤ XỬ ÁN MỘT GIÁO VIÊN...

Văn chương +: BLOG PHẠM THỊ HOÀI: VỤ XỬ ÁN MỘT GIÁO VIÊN...: Nguyễn Mạnh Tường Trong đoạn trích sau đây, luật sư Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) thuật lại lời đối đáp giữa chánh án và bị cáo ở mộ... Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đèn Cù (dân ca miền Bắc)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Có thể ký kết TPP trong nửa đầu năm sau

Trong khuôn khổ chuyến thăm, làm việc của đoàn đại biểu cấp cao chính phủ Việt Nam do Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh dẫn đầu tới Mỹ, phóng viên TTXVN đã thực hiện cuộc phỏng vấn giáo sư Jeffrey Schott, chuyên gia hàng đầu về Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP), nhân dịp ông vừa có cuộc tiếp xúc, làm việc với Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh.

Hiện các nước đang tích cực đàm phán và sẽ có những điều chỉnh về lập trường trong những tháng tới trước khi các nhà lãnh đạo chính trị có quyết định cuối cùng.

Jeffrey Schott, thành viên cao cấp của Viện Kinh tế quốc tế Peterson có trụ sở tại thủ đô Washington (Mỹ) cho biết, Việt Nam là quốc gia hưởng lợi nhiều nhất từ TPP vì nó mang lại cơ hội lớn cho tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cũng như xuất khẩu tới các quốc gia đối tác của TPP.


Tuy nhiên, theo ông, Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với các thách thức lớn, đòi hỏi theo thời gian phải thực hiện các cải cách quan trọng về chính sách.

Giáo sư nhấn mạnh các nhà đàm phán đang tìm cách đạt tới một "sự cân bằng chuẩn xác" giữa mức độ sâu của tự do hóa mà Việt Nam cam kết thực hiện với tốc độ thực hiện các cam kết tự do hóa này.

Theo quan điểm của ông, điều quan trọng là Việt Nam cần có một chiến lược cải cách kinh tế trong giai đoạn 10-15 năm tới, đồng thời đảm bảo tiến trình thực hiện để TPP mang lại lợi ích và hiệu quả lớn nhất.

Ông cũng cho rằng để làm được việc này, cần một chiến lược cải cách rõ ràng, trong đó có lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ. Ông nhấn mạnh, với một chiến lược như vậy, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ mở rộng và gia tăng đầu tư vào Việt Nam.

Cũng trong cuộc phỏng vấn này, giáo sư Schott đã đưa ra một số nhận định, đánh giá về các khó khăn, thách thức và triển vọng đàm phán TPP, trong đó dự báo hiệp định này có thể kết thúc đàm phán và ký kết vào nửa đầu năm 2015.

Giáo sư Schott cho biết các nhà đàm phán hiện đang tích cực làm việc để thu hẹp các khác biệt về quan điểm và khi đàm phán càng gần đến giai đoạn kết thúc thì thông thường nó phải đối mặt và giải quyết nhiều vấn đề nhạy cảm chính trị, đòi hỏi nỗ lực lớn của tất cả các bên.

Theo ông, thách thức lớn nhất hiện nay là việc đàm phán liên quan đến tiếp cận thị trường nông nghiệp, dịch vụ. Điều này đòi hỏi các nhà đàm phán phải tiến hành thêm các vòng thương lượng trong đầu năm tới. Vấn đề nông nghiệp sẽ nổi lên vào cuối đàm phán giữa Mỹ-Nhật Bản và hiện hai nước đang tích cực xử lý vấn đề này.

Bên cạnh đó, ông cho rằng còn một số vấn đề liên quan đến lĩnh vực đầu tư, môi trường và doanh nghiệp nhà nước. Ông cho rằng đây là các vấn đề có thể giải quyết được giữa 12 quốc gia đang tham gia đàm phán TPP. Hiện các nước này đang tích cực đàm phán và sẽ có những điều chỉnh về lập trường trong những tháng tới trước khi các nhà lãnh đạo chính trị có quyết định cuối cùng.

Theo Giáo sư Schott, một trong các vấn đề gây trở ngại hiện nay là quyền đàm phán nhanh Hiệp định Thương mại (TPA). Hiện Quốc hội Mỹ vẫn chưa thông qua dự luật về TPA cho phép Tổng thống Barack Obama thực hiện quyền đàm phán nhanh. Ông cho rằng điều này sẽ ảnh hưởng lên tiến trình đàm phán TPP khi các quốc gia tham gia đàm phán đều muốn đảm bảo rằng Mỹ sẽ nhanh chóng phê chuẩn và thực hiện hiệp định.

Giáo sư Schott mong muốn Tổng thống Obama và Đại diện Thương mại Mỹ Michael Froman phối hợp chặt chẽ với Quốc hội nhằm đảm bảo rằng TPA có thể được thông qua vào đầu năm 2015 trong khóa Quốc hội mới.

Ông cho rằng đây là kịch bản nhiều khả năng xảy ra. Khi Quốc hội Mỹ thực hiện bước đi này sẽ tạo điều kiện dễ dàng hơn cho việc kết thúc đàm phán và ký kết TPP trong nửa đầu năm sau./.

(TTXVN)

http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/co-the-ky-ket-tpp-trong-nua-dau-nam-sau-2014091612012317019ca33.chn

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NỔI DANH VÀ THỰC TÀI



Paul Nguyễn Hoàng đức
Không có danh thật là bất hạnh! Đó là cách mà người Trung Quốc gọi là “vô lại”, một thứ bất hạnh lớn nhất của trần gian, bởi vì cuộc sống khi đó giống bèo bọt trôi trên sông chẳng để lại bất kỳ một dấu vết nào, hoặc như một tiếng hô vào vách đá bé đến mức không thể thấy tiếng vọng ra.
Nếu danh chỉ vì lợi, mà lợi là dục vọng của con người, điều đó thật không đơn giản chút nào. Nhưng đại văn hào Dostoievski đã nói cách thật dễ hiểu: “Nổi tiếng là sống trong tim trong não người khác”. Đây là một phương ngôn rõ ràng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nổi tiếng ư, chẳng phải trong óc người khác thường trực có hình ảnh của ta là gì. Nhưng làm sao để cư trú được trong óc của người khác? Muốn thế ta phải có cống hiến gì về trí tuệ, về học thuyết, hay về isme?! Còn cư trú trong tim ư, ta đã cống hiến gì cho trái tim của người khác khiến người ta rung động? Người Việt có câu “ Thế gian chuộng của chuộng công/ nào ai có chuộng người không bao giờ”. Không làm gì thì đừng có mong nổi tiếng trong tim trong óc người khác! Ấy mà tuy vậy, vẫn có những kẻ lười chảy thây ruồi đậu mép không thèm đuổi, hy vọng dùng một số mẹo vặt để được cấp visa đi vào óc vào tim người khác. Mẹo đầu tiên là mượn thế ỷ dốc của hội đoàn, thôi rồi các loại ưu tiên, nào đăng báo, nào in sách, nào hộ chiếu đi tây tầu, rồi mấp mé vào cửa chung kết của các ban giám khảo. Nhưng mượn thế hội đoàn cũng chẳng khác gì thỏ mượn oai cáo, nhìn thấy sư tử đích thực liền run lẩy bẩy. Chưa hết người ta làm sao có thể nổi tiếng được trong một dàn đồng ca? Muốn trội hơn người, số này liền tung ra chiêu lĩnh xướng bừa bãi, muốn đánh lừa mọi người rằng, tôi phải thế nào mới được lĩnh xướng chứ. Kết quả có hàng loạt các sáng tác dị hợm ra đời, nào sex tóe loe, sex tùm lum, bạ đâu cũng sex, rồi văng tục chửi bậy cả trong nghệ thuật lẫn ngoài đời để trấn áp người khác… Nhưng than ôi cách làm cò con đầu gấu chợ búa đó làm sao có thể bước tới ranh giới của thi hào?
Một lần tranh luận, có vài người trong cuộc nói rằng: chỉ có người mẫu, ca sĩ, diễn viên , cầu thủ mới có ngôi sao. Còn nhà văn , nhà thơ là những người có đẳng cấp tinh thần cao hơn hẳn những cổ họng, những vòng eo, những động tác thì không thể bị gọi là ngôi sao. Tuy vậy, nhưng có rất nhiều tác giả thơ văn thích hội chứng sao. Có người lên đọc thơ còn tự giới thiệu “ Nguyễn A xin kính chào quí vị”. nghĩa là anh ta dùng lối chào tự giới thiệu của các ca sĩ hay MC, vì sợ người ta chưa biết đến tên mình. Câu chuyện giới thiệu dù nhỏ thôi, nhưng cho chúng ta biết về ứng xử văn hóa. Chuyên môn nào có văn hóa của chuyên môn đó, là nhà thơ tại sao người ta lại nhầm địa chỉ , và háo danh đến độ dùng cách giới thiệu của ca sĩ?
Nổi tiếng là khao khát chính đáng của con người nhưng chỉ trong trường hợp người ta thực tài, thực đức, và thực việc làm. Còn trái lại chỉ là thứ ngụy danh. Người Trung Quốc quan niệm có ba loại nổi tiếng:
1-Lập công: giống anh lính lập công trên chiến trường vậy. Loại này thấp nhất.
2- Lập danh: muốn danh tiếng nổi như cồn, muốn thành sao, muốn best seller. Loại này cao hơn.
3-Lập Đức: là cách âm thầm làm nên những giá trị đạo đức, hoặc giúp đỡ người, hay làm từ thiện mà chẳng cần ai biết đến công lao của mình cả. Loại này cao nhất.
( Trích 'Bêu danh thành sao')
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ngăn chặn Vạn lý trường thành bất hợp pháp của TQ tại Biển Đông


Người dịch giới thiệu: Dịch theo nguyên bản tiếng Anh “Stop China’s Unlawful ‘Great Wall’ in the South China Sea” của Raul Pedrozo. Tóm lược tiểu sử tác giả: - Cựu Đại tá Hải quân Hoa Kỳ; Cựu Giáo sư Luật quốc tế trường cao đẳng HQ Hoa Kỳ (US Naval War College); Thẩm Phán Cố Vấn Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ (Staff Judge Advocate, US Pacific Command), Phụ tá đặc biệt Bộ trưởng quốc phòng về chính sách (Special Assistant to the Under Secretary of Defense for Policy).
Giới thiệu: Bài viết này xứng đáng được coi như là dữ liệu lịch sử rất có giá trị về chủ quyền trên các đảo biển Đông, là đề tài sôi bỏng trong các cuộc tranh chấp hiện nay. Là một chuyên gia ngành luật quốc tế, tác giả lần lượt dẫn chứng qua nhiều sự kiện lịch sử cho ta thấy rằng Trung cộng không có chủ quyền trên các đảo ở biển Đông, đặc biệt là trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngược lại, Việt Nam có chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa từ khi vua Gia Long chính thức chiếm đóng quần đảo này vào năm 1816.

Trong bài tác giả cho chúng ta biết “có hàng loạt các hành động của chính quyền Việt Nam và Pháp từ thế kỷ 18 cung cấp bằng chứng không thể chối cãi được là Việt Nam đã liên tục kiểm soát quần đảo Hoàng Sa một cách bình yên và có hiệu quả. Chủ quyền Việt Nam lần đầu tiên được thành lập vào thế kỷ 18 do Công ty Hoàng Sa được chính phủ tài trợ và được phê chuẩn bởi các hoàng đế Gia Long và Minh Mạng vào thế kỷ 19; được tạm thời tiếp tục thừa hành bởi người Pháp trong hậu bán thế kỷ 19 và tiền bán thế kỷ 20. Sau đó đã được công khai bình thường hóa bởi quốc gia độc lập miền Nam Việt Nam sau khi Pháp rút quân khỏi Đông Dương vào năm 1956, và nối tiếp bởi một nước Việt Nam thống nhất sau năm 1976”. --LTP.


***

Trong thời gian nửa đầu năm 2014 người ta thấy có sự gia tăng đáng kể những hành vi hung hăng của Trung cộng khi nước này tiếp tục chiến dịch cắt biển của họ ở Biển Đông. Bắc Kinh tìm cách thay đổi hiện trạng trong khu vực để củng cố việc tuyên bố chủ quyền của họ trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cũng như các vùng biển kề cận.

Trong tháng hai, Trung cộng đã bắt đầu một dự án thu hồi lãnh thổ quy mô lớn tại Johnson South Reef trong quần đảo Trường Sa, trong đó có thể chứa một sân bay quân sự mới của Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA) để kiểm soát các tuyến đường biển chiến lược trong khu vực xuyên qua Biển Đông. Các tháng tiếp theo, chính quyền Trung cộng bắt đầu thực thi các quy định đánh cá mới đòi hỏi phải có tàu cá nước ngoài để được phê duyệt trước khi hoạt động trong hơn 2 triệu cây số vuông, cộng với không gian đại dương bao quanh bởi “đường chín đoạn” khét tiếng của Trung cộng.

Vào tháng Năm, Trung cộng đặt một giàn khoan dầu biển sâu (HD 981) tại một vị trí cách ngoài khơi bờ biển Việt Nam 120 hải lý và bắt đầu khoan dầu ở vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam. Tàu chiến của Hải quân Trung cộng và tàu tuần tra khác của chính phủ, cũng như một số lượng lớn tàu cá dân sự, đã được điều động và bố trí chặt chẽ để bảo vệ hoạt động khoan dầu. Trong tuần sau đó, những chiếc tàu của Cục An toàn Hàng hải Trung cộng đã ngăn cản sự tái tiếp tế của 10 đơn vị thủy quân lục chiến Philippines đồn trú trên tàu BRP Sierra Madre vùng biển đánh cá lớn thứ nhì (Thomas Shoal) trong quần đảo Trường Sa, mặc dù các đội ngũ trên tàu quân sự này của Philippines đã được thường xuyên tái tiếp tế kể từ năm 1999.

Cuối cùng, trong sự đối đáp hiển nhiên về một đề xuất của Mỹ tại Diễn đàn Khối ASEAN nhằm ngăn chận tất cả hành động khiêu khích ở Biển Đông, Bắc Kinh công bố vào tháng Tám rằng họ sẽ xây dựng các ngọn hải đăng có năm tính năng, bao gồm hai hòn đảo nhỏ trong quần đảo Hoàng Sa, mà họ tự cho là nhằm tăng cường an toàn hàng hải. Hai tuần sau, một chiến đấu cơ của Trung cộng, Su-27, tiến hành một cuộc xung kích nguy hiểm, đánh chặn chiếc phi cơ thám thính, P-8, của Hải quân Hoa Kỳ khi đang tuần tra giám sát thường xuyên qua vị trí cách đảo Hải Nam 135 dặm về phía đông. Điều này gợi nhớ biến cố EP-3 hồi năm 2001, khi máy bay chiến đấu Trung cộng thực hiện nhiều vòng bay lướt bên dưới và cạnh chiếc phi cơ thám thính P-8 của Hoa Kỳ trước khi thực hiện một cú bay lộn mèo, lăn tròn và đảo lộn trên đầu chiếc máy bay Mỹ, chỉ cách chiếc máy bay này trong khoảng từ 20 tới 30 feet, tức là từ khoảng 6m tới 9m mà thôi.

Trung cộng biện minh cho những hành động này qua tuyên bố rằng họ có “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với các đảo ở Biển Đông và các vùng biển kế cạnh, cũng như chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển và đáy biển có liên quan bao gồm trong “đường chín đoạn.” Tuy nhiên, qua việc xem xét kỹ các ghi chép lịch sử và pháp luật, người ta thấy rằng các tuyên bố của Trung cộng ở Biển Đông là vô căn cứ.

Trung cộng tuyên bố quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa dựa trên sự trưng bày rộng rãi và liên tục của chính quyền đối với quần đảo sau khi họ phát hiện các chứng tích trong triều đại nhà Hán. Mặc dù thủy thủ Trung cộng có thể đã biết có sự tồn tại của những hòn đảo ở Biển Đông, nhưng không có bằng chứng cụ thể cho thấy rằng Trung cộng thực sự đã “phát hiện” những hòn đảo này trước khi có sự xuất hiện của những người đi biển từ các vương quốc láng giềng của họ, bao gồm Việt Nam, Malaysia, Indonesia, và Philippines.

Hơn nữa, cho dù Trung cộng đã phát hiện ra các đảo, luật pháp quốc tế xác định rõ ràng rằng việc khám phá mà không có các hành động chiếm giữ và kiểm soát hiệu quả tiếp theo thì tự nó không cho là có chủ quyền lãnh thổ được. Hiệu quả chiếm giữ đòi hỏi phải có ý định hành động chủ quyền và một số thực hành hoặc hiển thị chủ quyền đó. Mặc dù không có bằng chứng chủ quyền đáng tin cậy, Trung cộng đã lặng lẽ và liên tục chiếm đóng quần đảo, hoặc thực hiện thẩm quyền của họ trên các đảo này.

Hầu hết Trung cộng dựa trên các dữ kiện cho thấy ngư dân Trung cộng từng sống rải rác trên một số quần đảo Trường Sa trong thời gian ngắn. Tuy nhiên theo luật pháp quốc tế thì những hành vi cá nhân không đủ điều kiện để coi là hành động của “nhà nước” trừ phi ngay sau đó được theo dõi hay bị xử phạt bởi các cơ quan chính phủ. Không có bằng chứng đáng tin cậy nào cho thấy chính phủ Trung cộng từng ủy quyền hoặc sau đó xử phạt các hành vi nêu trên.

Các hành vi có thể kiểm chứng đầu tiên về chủ quyền của Trung cộng trên quần đảo Hoàng Sa đã không xảy ra cho đến năm 1909. Tuy nhiên những hành vi này đã xảy ra gần 100 năm sau khi vua Gia Long của Việt Nam chính thức chiếm hữu các quần đảo này vào năm 1816. Việt Nam và Pháp đã quản lý hiệu quả và liên tục các hòn đảo này cho đến khi họ bị trục xuất bởi quân đội Nhật Bản trong Thế chiến II.

Hành động có thể kiểm chứng đầu tiên của Trung cộng về chủ quyền ở quần đảo Trường Sa xảy ra sau đó nữa, vào năm 1933, và cũng sau khi Pháp công khai tuyên bố chủ quyền vào năm 1929 với lý do là các đảo này vô chủ. Pháp chính thức chiếm đóng các đảo này vào năm 1933 đồng thời sáp nhập vào quần đảo Trường Sa. Sự chiếm hữu như vậy vẫn còn là một phương pháp được công nhận chủ quyền lãnh thổ theo luật quốc tế. Tính chất hợp pháp này được tiếp tục tồn tại cho đến khi Hiến chương Liên Hiệp Quốc ra đời có hiệu lực vào tháng Mười năm 1945.

Trung cộng cũng tin cậy vào một số điều trong Công ước Quốc tế về việc chứng minh chủ quyền trên các đảo ở Biển Đông. Tuy nhiên, theo các điều trong Công ước Quốc tế thì các tài liệu và báo cáo của Trung cộng muốn chứng minh chủ quyền của mình đối với các đảo ở Biển Đông hoàn toàn không hỗ trợ vị trí của Bắc Kinh. Nói một cách khác, dựa theo Công ước Quốc tế thì Trung cộng không có chủ quyền trên các đảo ở Biển Đông.

Trung cộng cho rằng nước Pháp từ bỏ tuyên bố chủ quyền của mình trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi ký kết Hiệp ước Trung-Pháp năm 1887. Tuy nhiên luận cứ này của Trung cộng không được hỗ trợ bởi nội dung đơn giản của Hiệp ước hoặc bởi các hành động tiếp theo của các bên tranh chấp. Đường ranh giới được thành lập bởi Hiệp ước năm 1887 chỉ quy định quyền sở hữu của các đảo gần bờ biển chớ không phải là các hòn đảo ở giữa đại dương trong vùng Vịnh Bắc Bộ hoặc xa hơn nữa là các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Sự phụ thuộc của Trung cộng vào Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Potsdam để hỗ trợ cho tuyên bố chủ quyền của mình rõ ràng được đặt không đúng chỗ. Những tài liệu này chỉ cung cấp cho rằng Trung cộng sẽ khôi phục Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ sau chiến tranh. Các câu tiếp theo tuyên bố rằng Nhật Bản sẽ bị trục xuất khỏi “vùng lãnh thổ khác” mà họ đã mua bằng vũ lực, nhưng nó không có nghĩa là những “vùng lãnh thổ khác” sẽ được trả lại cho Trung cộng. Chỉ có kết luận hợp lý là những “vùng lãnh thổ khác” bao gồm quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, đã bị thu giữ bằng bạo lực từ Pháp, chứ không phải Trung cộng. Những hòn đảo này do đó sẽ được phục hồi cho Pháp, không phải cho Trung cộng, vào lúc kết thúc cuộc chiến.

Kết luận này được hỗ trợ bởi thực tế là Tổng Tư Lệnh Tưởng Giới Thạch đã có mặt tại Hội nghị Cairo, nhưng không có tài liệu tham khảo đối với các đảo ở Biển Đông trong tuyên bố cuối cùng. Chắc chắn, nếu quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa được coi là lãnh thổ của Trung cộng trước khi chiến tranh, Tưởng Giới Thạch đã có thể khẳng định rằng quần đảo được trả lại cho Trung cộng kiểm soát tại Hội nghị; nhưng điều này đã không xảy ra.

Trung cộng bổ sung tuyên bố rằng chủ quyền của Trung cộng đối với các đảo ở Biển Đông đã được công nhận trong việc soạn thảo Hiệp ước Hòa bình năm 1951 với Nhật Bản. Tuy nhiên, văn bản cuối cùng của Hiệp ước liên quan tới sự từ bỏ chủ quyền của Nhật Bản đối với Đài Loan, quần đảo Bành Hồ, và quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trong hai tiểu mục riêng biệt của Điều 2. Như vậy, Nhật Bản có lẽ đã từ bỏ chủ quyền của mình [trên các đảo] Đài Loan và Penghu cho Trung cộng; còn quyền lợi của Nhật Bản trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thì nhường cho nước Pháp. Những người biên soạn dự thảo Hiệp ước dự định trao trả quần đảo chỉ cho một quốc gia, họ sẽ không bao gồm chúng trong hai tiểu mục riêng biệt.

Lập luận của Trung cộng cho rằng Nhật Bản đã trả quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cho Trung cộng trong hai thỏa thuận riêng biệt để chính thức chấm dứt sự thù địch giữa hai quốc gia Trung cộng và Nhật Bản là không có cơ sở. Điều 2 của Hiệp ước Đài Loan-Nhật Bản 1952 chỉ đơn giản nói rằng Nhật Bản từ bỏ chủ quyền của mình đối với Đài Loan, quần đảo Bành Hồ, và các đảo ở Biển Đông. Nếu mục đích của hiệp ước để chuyển quyền sở hữu quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa đến Đài Loan thì sự phân cấp rõ ràng về quyền lợi của Đài Loan đã được đưa vào Hiệp ước. Tương tự như vậy, năm 1972 Thông cáo chung Trung cộng-Nhật Bản không ủng hộ lập trường của Bắc Kinh. Các Thông cáo chỉ nói rằng Điều 8 của Tuyên Ngôn Potsdam sẽ được áp dụng. Tuy nhiên, cả hai Tuyên Ngôn Potsdam và Tuyên bố Cairo đều không hỗ trợ tuyên bố chủ quyền của Trung cộng trên các đảo ở Biển Đông.

Trung cộng cũng duy trì lập trường, mặc dù không đúng đắn, rằng họ đã tái chiếm hữu các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào năm 1946 khi các lực lượng Quốc gia chấp nhận đầu hàng quân Nhật ở Đông Dương, vùng thuộc địa Pháp phía bắc vĩ tuyến 16. Quân đội quốc gia đã được gửi đến chiếm đóng đảo Ba Bình (quần đảo Trường Sa) và quần đảo Woody (đảo Hoàng Sa) theo Lệnh Số 1 của Tướng MacArthur. Tuy nhiên lệnh này không chuyển nhượng chủ quyền trên các hòn đảo ở Biển Đông cho Trung cộng. Ngược lại, sau đó, vào ngày 31 Tháng Ba 1946, Trung Hoa Dân Quốc và Pháp đã đồng ý rằng quân đội Pháp sẽ giảm bớt lực lượng Quốc Dân Đảng Trung Hoa ở phía bắc Đông Dương, bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Là một lực lượng chiếm đóng, quân đội [Trung Hoa Dân] Quốc đã có một nghĩa vụ pháp lý rời khỏi thuộc địa Đông Dương Pháp, nhưng họ đã không làm như vậy.

Thực tế là sự hiện diện của lực lượng Trung cộng vẫn còn bất hợp pháp trên đảo Ba Bình và quần đảo Hoàng Sa sau khi sự chiếm đóng [của] quân đồng minh Đông Dương chính thức kết thúc vào tháng 3 năm 1946. Điều này rõ ràng là một sự vi phạm Điều 2 (4) của Hiến chương LHQ, và do đó, Trung cộng không có chủ quyền trên hai quần đảo này. Tương tự như vậy, sự chiếm giữ của Đài Loan trên đảo Ba Bình vào năm 1956, và việc Trung cộng thu giữ quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 và sự cưỡng chiếm một số cứ điểm quan trọng của quần đảo Trường Sa vào năm 1988 và năm 1995 bởi lực lượng vũ trang Trung cộng cũng vi phạm Hiến chương LHQ, và do đó không đưa đến chủ quyền pháp lý có hiệu lực của Trung cộng trên các đảo này.

Trung cộng cũng khẳng định rằng miền Bắc Việt Nam từ bỏ chủ quyền của mình trên các đảo ở Biển Đông trong các thập niên 1950 và 1960. Tuy nhiên, sự phụ thuộc của Trung cộng vào các báo cáo này là có vấn đề bởi nhiều lý do. Quan trọng nhất là miền Bắc Việt Nam không có gì để từ bỏ trong khoảng thời gian này. Hiệp định Geneva 1954 chia Bắc và Nam Việt Nam tại vĩ tuyến 17 mà cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều nằm ở phía nam vĩ tuyến 17. Khi kế thừa danh hiệu của Pháp, các đảo Biển Đông do đó là dưới quyền quản lý và kiểm soát miền Nam Việt Nam, không phải Bắc Việt Nam. Do đó, miền Bắc Việt Nam không có tư cách gì để mà từ bỏ chủ quyền lãnh hải liện hệ; như vậy, bất kỳ tuyên bố nào của các quan chức Bắc Việt Nam về hai quần đảo đó đều vô nghĩa trên mặt pháp lý.

Dựa theo những bằng chứng do các bên tranh chấp và theo các nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế liên quan đến việc thu nhập lãnh thổ, rõ ràng là sự đòi chủ quyền của Việt Nam trên các đảo ở Biển Đông chiếm ưu thế hơn.

Hàng loạt các hành động của chính quyền Việt Nam và Pháp từ thế kỷ 18 cung cấp bằng chứng không thể chối cãi được là Việt Nam đã liên tục kiểm soát quần đảo Hoàng Sa một cách bình yên và có hiệu quả. Chủ quyền Việt Nam lần đầu tiên được thành lập vào thế kỷ 18 do Công ty Hoàng Sa được chính phủ tài trợ và được phê chuẩn bởi các hoàng đế Gia Long và Minh Mạng vào thế kỷ 19; được tạm thời tiếp tục thừa hành bởi người Pháp trong hậu bán thế kỷ 19 và tiền bán thế kỷ 20. Sau đó đã được công khai bình thường hóa bởi quốc gia độc lập miền Nam Việt Nam sau khi Pháp rút quân khỏi Đông Dương vào năm 1956, và nối tiếp bởi một nước Việt Nam thống nhất sau năm 1976.

Tương tự như vậy, Pháp, đại diện cho Việt Nam, đã thực hiện nhiều hoạt động khác nhau xác nhận chủ quyền của Pháp trên quần đảo Trường Sa, đặc biệt là việc sáp nhập chính thức và sự chiếm giữ một số đảo trọng yếu trong quần đảo này vào năm 1933. Vào thời điểm đó, việc sáp nhập các đảo được coi là vô chủ, như vậy của Pháp là hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế hiện hành và là việc làm thực tiễn quốc gia. Vương quốc Anh, đã kiểm soát một số quần đảo Trường Sa trong thập niên 1800, đã từ bỏ chủ quyền của mình sau sự sáp nhập của Pháp, vì vậy danh hiệu chủ quyền của Pháp trên quần đảo Trường Sa đã được thành lập hợp pháp. Sau đó, hành động của Pháp và Việt Nam thể hiện rõ ràng sự hiện diện có hiệu quả và tích cực của họ cũng như thực hiện chủ quyền của họ một cách bình yên trên quần đảo Trường Sa. Chủ quyền của Pháp trên quần đảo này được nhượng lại cho miền Nam Việt Nam vào thập niên 1950 và chính phủ miền Nam Việt Nam (và sau đó một nước Việt Nam thống nhất) kiểm soát quần đảo Trường Sa một cách hiệu quả và hòa bình cho đến khi Đài Loan chiếm đóng bất hợp pháp đảo Ba Bình vào năm 1956 và Trung cộng chiếm đóng bất hợp pháp một số đảo nhỏ trong quần đảo Trường Sa vào năm 1988.

Biển Đông là nơi có một số tuyến đường bận rộn nhất trên thế giới và là những trục giao thông có vị thế chiến lược nhất trên biển (SLOC). Về mặt thương mại xuyên qua tuyến đường biển này, mỗi năm có hơn 5 ngàn tỷ USD, trong đó có hơn một nửa số tàu chở dầu của thế giới và hơn một nửa đội tàu buôn của thế giới. Điều này bao gồm hơn 1 ngàn tỷ USD trong thương mại của Hoa Kỳ. Do đó, xung đột trong khu vực này sẽ có tác động gây ra sự bất ổn định cho kinh tế thế giới.

Mỹ phải chứng minh lập trường đối phó vững chắc của họ đối với sự hung hăng của Trung cộng trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và khuyến khích bạn bè và đồng minh của mình cũng làm như vậy. Việt Nam cần được khuyến khích theo gương Philippines và tìm cách giải quyết tranh chấp bắt buộc trên diễn đàn quốc tế. Đối với Hoa Kỳ, sự tiếp tục kêu gọi các bên tranh chấp làm sáng tỏ yêu sách của họ phù hợp với luật pháp quốc tế là một điều vô ích. Có nhiều sự kiện và pháp luật khá rõ ràng cho thấy tuyên bố chủ quyền Trung cộng trên biển Đông là vô căn cứ. Hành vi đối kháng của Trung cộng đe dọa hòa bình và an ninh khu vực. Giả vờ trung lập là hành vi hiếp đáp của Bắc Kinh đối với các nước láng giềng yếu hơn, và hành vi này cho thấy Trung cộng bước gần hơn trong việc thừa nhận thái độ chiếm hữu bất hợp pháp của họ trên các hòn đảo ở Biển Đông.

Ts. Lê Thiện Phúc
phiên dịch

http://tamnhin.net/ngan-chan-van-ly-truong-thanh-bat-hop-phap-cua-trung-quoc-tai-bien-dong.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Người Việt cần có một Aziz Nesin

Tuấn Khanh - Hầu như người Việt nào trên 35 tuổi, chắc cũng đều đã đọc qua hoặc ít nhất là đã nghe nói về Aziz Nesin (1915-1995), nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ. Lối viết văn của ông luôn trào phúng và mỉa mai về các vấn đề hiện thực xã hội – bề ngoài thì ngu ngơ nhưng lại đau thấu tận xương. Cũng chính vì vậy mà nhà văn gốc người Crimea-Tatar này từng vào tù ra khám nhiều lần theo lệnh của MAH (Cơ quan an ninh quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ) vì các vấn đề về quan điểm chính trị và có hành vi bị coi là tuyên truyền chống Nhà nước.
Tôi vẫn còn nhớ một truyện ngắn hết sức hóm hỉnh của ông, có tựa đề là Cái kính. Câu chuyện nhỏ đó nói về một người đàn ông vô danh sống trong xã hội đang bị lũng đoạn bởi có quá nhiều kẻ tuyên ngôn nhưng không biết mình đang nói gì, hoặc nói như một thói quen mị dân.

 Ông bị nhồi nhét vào đầu rằng ông đã có vấn đề về cái nhìn, bắt buộc phải mang kính để nhìn theo “định hướng”. Cuộc đời ông bị lừa mị hết sự kiện này đến sự kiện khác. Cuối cùng một ngày nọ, vô tình bị vỡ kính, ông khám phá rằng mình có thể tự do nhìn thấy được mọi thứ – tự mình chứ không cần ai “định hướng” cả.
Câu chuyện được viết hơn nửa thế kỷ về trước, nhưng không cũ kỹ trong hành trang của con người thời hiện đại. Dĩ nhiên, với Việt Nam, thỉnh thoảng ta cũng vẫn bắt gặp lại những bài học như vậy.
Mới đây, trong câu chuyện thông báo về tỉ lệ thất nghiệp của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, đã gây không ít bàn tán trong dân chúng. Tỉ lệ thất nghiệp quý II/2014 của Việt Nam được xác định là 1,84% mở ra nhiều ý kiến tranh biện: Liệu con số đó đã phản ánh đúng một hiện trạng Việt Nam hay không? Bản thân việc công bố một con số đơn thuần dựa theo lý thuyết điều tra, mà không có phần mở rộng, dẫn giải đúng đằng sau con số đó, liệu có là một thái độ đúng của trí thức thật lòng với đất nước, dân tộc?

Cách tính về thất nghiệp có rất nhiều lý thuyết khác nhau. Lý thuyết kinh tế Marxist có cách tính khác, các học thuyết kinh tế tư bản cũng khác, thậm chí cứ vài năm, người ta lại tìm thấy một lý thuyết mới tái định nghĩa. Nhưng bằng cách nào đi nữa, ngôn ngữ và tư duy hiện đại chỉ có một mục đích là làm rõ hơn, chính xác hơn những gì đang diễn ra, chứ không phải là việc đưa ra một con số, bất chấp phía sau nó là những vùng mịt mờ về cuộc sống thật, chưa có lời giải.

Đừng bao giờ quên rằng từ khi lịch sử văn minh loài người con người phát minh ra khoa học thống kê, thì cũng là lúc họ xác định bản chất của kết quả thống kê luôn có sự biểu đạt nguỵ biện. Chính Joseph Stalin (1879-1953), một trong những ông tổ của chủ nghĩa Cộng sản cũng đã nói rằng “Cái chết của một cá nhân được coi là bi kịch, nhưng của một triệu người thì chỉ là con số thống kê mà thôi (A single death is a tragedy; a million deaths is a statistic). Thậm chí, câu nói của nhà chính trị Benjamin Disraeli (1804-1881), Đảng bảo thủ Anh còn quyết liệt hơn “Có 3 loại nói dối: đó là nói dối, nói dối một cách khốn nạn và con số thống kê” (There are three types of lies — lies, damn lies, and statistics).

Mọi con số thống kê về thất nghiệp ở các quốc gia đang phát triển đều hết sức phức tạp, cần được diễn giải bằng hiện thực mang tính nhân văn với mọi khía cạnh nhiễu nhương đang có. Nó không thể đơn giản tính toán như ở một quốc gia phát triển đương thời. Thất nghiệp do không được thuê mướn (unemployment) và tự mình tổ chức công việc (self-employment) cũng như đóng thuế cá nhân (income tax) ở Mỹ, Đức, Pháp… Chắc chắn không thể giống như ở Việt Nam, Campuchia hay Ấn Độ. Những con số lạnh lùng không thể nói hết được hoàn cảnh của đám đông hay của một quốc gia nếu không có thêm phần thuyết minh trung thực.

Theo lời của bà Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Hương, Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội Việt Nam thì người Việt vốn dễ xoay sở mưu sinh, bao gồm ngành nghề nào cũng vậy, khó khăn thì ra bán trà đá hay chạy xe ôm, nên không thể thất nghiệp. Phiến diện, thì điều đó không sai. Cố gắng mưu sinh là bản lĩnh của người Việt Nam từ bao đời nay. Nhưng chúng ta cũng cần một cái nhìn thật sự Việt Nam cho người Việt Nam. Vì nếu tỉ lệ thất nghiệp chỉ là đơn thuần các con số, có lẽ người Việt từ thời thực dân Pháp là ít thất nghiệp nhất vì ai cũng có thể chọn lao động trong đồn điền cao su, đi lính cho Tây, làm ruộng tự cung tự cấp… không ai phải thất nghiệp cả.

Nếu cách tính tỉ lệ thất nghiệp chỉ là một con số tầm thường nhằm gây lạc quan, thì tiểu thuyết Ngựa người Người ngựa của Nguyễn Công Hoan cũng đã không còn tính tố cáo hiện thực xã hội, mà trở thành một tác phẩm tào lao, vì từ người phu kéo xe kiệt sức với đôi mắt mờ đục như trái nhãn đến cô gái điếm mệt mỏi nửa đêm – không có ai là thất nghiệp cả.

Điểm lại những công việc làm lây lất kiếm sống “bán trà đá hay chạy xe ôm” được Viện Khoa học Lao động và Xã hội nói đến, nó không là chuyện self-employment bình thường. Không có ai “thất nghiệp” vì bởi họ không có một hy vọng nào từ các hệ thống trợ cấp xã hội nhiêu khê, chứ không phải vì một nền kinh tế quốc gia sung túc và quá nhiều cơ hội. Và bản thân việc self-employment “bán trà đá hay chạy xe ôm” cũng luôn mơ hồ trong sự tồn tại hợp pháp của xã hội Việt Nam.

Những thứ được bà Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội Việt Nam tạm liệt kê, trong đó có 50% là hành rong. Nhưng 50% ấy đã bị khép trong luật, nghị định cấm bán hàng rong. 50% con số thống kê “không thất nghiệp” ấy đã không được công nhận và bị truy quét khắp các thành phố. Chărng hạn, chúng ta có câu chuyện một người bán hành rong bị Đội Trật tự phường 25, quận Bình Thạnh đánh đến bất tỉnh, vất bỏ bên vệ đường, tay vẫn bị còng như tội phạm vào cuối năm ngoái (2013). Hình ảnh đó cũng nên là một ví dụ về bất cập của việc xác định thế nào là “không thất nghiệp”.

Những thứ chúng ta đang thấy, những thứ chúng ta đang nghe, đôi khi cũng cần được tự mình nhìn thấy và viết lại, nói lại và khẳng định lại bằng hiện thực lịch sử. Có lẽ không gì hơn lúc này là ngồi xuống, giở sách, đọc lại truyện ngắn Cái kính của Aziz Nesin. Ông đã đúc kết trong một ít con chữ nhưng tràn đầy gợi mở.

Trong bối cảnh mà mọi thứ của xã hội đang ngày càng căng thẳng, Việt Nam thật sự thiếu một Aziz Nesin để ghi lại từng chuyện với sự trào phúng và giúp tạo ra tiếng cười – bất luận tiếng cười kiểu gì – cho dù ẩn trong đó là sự tức giận hay buồn phiền buông bỏ.

—————————————————–
Phụ lục: Về trường hợp anh thanh niên bán hành rong Trịnh Xuân Tình bị sai nha Trật tự đô thị phường 25, quận Bình Thạnh hàng hung.

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131208/dan-mang-phan-no-vu-trat-tu-do-thi-bi-to-danh-nguoi-ban-hang-rong-ngat-xiu.aspx

Tuấn Khanh
(Blog Tuấn Khanh)
http://nhacsituankhanh.wordpress.com/2014/09/17/nguoi-viet-can-co-mot-aziz-nesin/
Phần nhận xét hiển thị trên trang