Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2014
Hát ru con của người Kinh ( bị đồng hóa ở TQ ) rất gần với tiếng Việt Nam.
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Nếu vẽ lại bản đồ theo "Chứng cứ lịch sử",sẽ phải vẽ như thế nào?
Trong Bloger này, nhiều bài viết về nước Đại Việt và dân tộc Bách Việt từng sinh sống ở miền nam sông Dương Tử, Trung Quốc có căn cứ, bằng chứng lịch sử xác thực. Không gian địa lý ấy bằng hơn nửa nước TQ bây giờ. Do sự xâm lấn tranh đoạt của người Hán nói như Trần Nhân Tông, đất đai tổ tiên ta từ chỗ "Như tổ Đại Bàng giờ còn như tổ Chim Chích".. Ngày càng bé lại. Giờ có nguy cơ có thể biến mất.
Mấy ngày nay, truyền hình đang chiếu phim Hàn Quốc ( Chiến binh Pắc đông sô ). Trong phim, có chi tiết về nước Châu Sơn nói: "Nửa nước phía bắc của nhà Thanh 5000 năm trước là đất đai của nước Châu Sơn..".
Mấy ngày nay, truyền hình đang chiếu phim Hàn Quốc ( Chiến binh Pắc đông sô ). Trong phim, có chi tiết về nước Châu Sơn nói: "Nửa nước phía bắc của nhà Thanh 5000 năm trước là đất đai của nước Châu Sơn..".
Nếu vẽ bản đồ căn cứ theo "Lịch sử" như người TQ bây giờ, đất đai của CHNDTH không có bao nhiêu. 90% là họ xâm chiếm của các dân tộc khác như: Hồi, Mãn, Tạng, Mông, Đại Việt ( Gồm cả Văn Lang và Châu Sơn ).
Điều đáng nói và đáng căm giận là lòng tham của người Hán tham lam vô độ, giành hết biển, trời, đất đai, cuộc sống của các dân tộc khác.
Nhiều ngàn năm đã trôi qua, lòng tham, ý đồ bành trướng ấy vẫn không dừng lại. Chủ nghĩa dân tộc ích kỷ của họ đã thành căn bệnh không có thuốc chữa.
Nếu thế giới văn minh ngày nay không nhận rõ ý đồ và âm mưu của họ, một cuộc chiến hủy diệt của toàn nhân loại là không tránh khỏi. Nó sẽ là ngòi nổ cho thế chiến cực kỳ tàn nhẫn của thế kỷ 21.
Nhiều ngàn năm đã trôi qua, lòng tham, ý đồ bành trướng ấy vẫn không dừng lại. Chủ nghĩa dân tộc ích kỷ của họ đã thành căn bệnh không có thuốc chữa.
Nếu thế giới văn minh ngày nay không nhận rõ ý đồ và âm mưu của họ, một cuộc chiến hủy diệt của toàn nhân loại là không tránh khỏi. Nó sẽ là ngòi nổ cho thế chiến cực kỳ tàn nhẫn của thế kỷ 21.
Trong cuộc chiến này sẽ không có ai là người chiến thắng cả. Trái đất sẽ thành hoang vu chưa biết đến bao giờ cuộc sống mới tái sinh trở lại.
Người TQ hãy nghĩ đến điều đó. Đây không phải sự ngộ nhận hay theo lối tuyên truyền như họ đang làm. Nó là sự thật sẽ xảy ra không thể vãn hồi.
Nạn kiếp này không chỉ người Việt nam gánh chịu. Những ai có lương tri và sự nhận biết hãy bằng mọi cách nói với người Trung Quốc và cả thế giới điều này.
Mời đọc thêm bài dưới đây của bạn THuy Trang:
DÂN TỘC VIỆT VĂN LANG (JING) Ở QUẢNG TÂY VẪN CÒN TỒN TẠI.
Một số thông tin từ báo chí CSVN cho rằng DÂN TỘC VIỆT (JING) là nhóm người KINH Di Cư từ Miền Bắc VN đến Trung Quốc từ 500 năm về trước, nhưng sự thật theo lịch sử thì người VĂN LANG đã có mặt tại QUẢNG TÂY từ hơn mấy ngàn năm về trước.
Quảng Tây là vùng đất của DÂN TỘC BÁCH VIỆT chứ không phải người BÁCH VIỆT MỚi di dân tới Trung Quốc cách đây 500 năm.
Dân Tộc Văn Lang sống rải rác ở Quảng Tây khá đông, không có con số thống kê chính thức, tuy nhiên hiện nay, số người Văn Lang tập trung ở Dongxi City lên tới trên 20 ngàn người.
Người Văn Lang khoảng 1.000 năm về trước, một số lượng lớn đã di dân sang nước ĐẠI HÀN và những nơi khác. Hiện nay tại NAM HÀN vẫn còn nhiều gia đình người HÀN gốc VĂN LANG.
Người Văn Lang thuộc dân tộc Bách Việt, đang ở Quảng Tây, vẫn giữ gìn TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM, áo dài nón lá. Ngôn Ngữ sử dụng là Tiếng Việt Cổ và tiếng Quảng Đông.
Tiếng Việt Cổ có âm hưởng tiếng Việt, nhưng vì pha trộn với tiếng Hán, do đó rất khó nghe. Ví dụ như chữ "HÁT" (ca hát) thì tiếng VĂN LANG đọc là "Ha."
Người VĂN LANG bên Trung Quốc gọi là người KINH (JING) vì người VĂN LANG là một DÂN TỘC văn minh thường sống trong KINH THÀNH, trong khi đó người MÃN (MÃN CHÂU) khu vực gần nước Nhật (Japan) và người HÁN (MAN RI) là dân tộc gốc MAN RI, dân gốc Hán trước đây đa số sống ở các vùng rừng núi nên được gọi là Man Ri (Man Ri mọi rợ), người HÁN là dân tộc thua kém xa nền văn minh của người KINH (JING) thuộc VĂN LANG.
Người VĂN LANG có nền văn hóa VĂN MINH nhất Thế giới là văn hóa ĐÔNG SƠN, nhờ vào văn hóa Đông Sơn mà dân tộc Hán trong mấy ngàn năm về trước mới học theo được cách làm trống đồng, cũng như biết cách làm binh khí bằng đồng của người VĂN LANG.
Ngay cả cung điện vua nguy nga nhất là Tử Cấm Thành của Trung Quốc cũng do một kiến trúc sư người VĂN LANG thiết kế. Vị kiến trúc sư nầy tên là 阮安 ( Nguyễn An) còn gọi là A Lưu (chữ Hán: 阿留, tên gọi ở Trung Hoa). Nguyễn An còn giúp thiết kế hệ thống sông Hoàng Hà để giúp tránh nạn lũ lụt quanh năm tại Trung Quốc.
Văn hóa Đông Sơn là một nền văn hóa cổ từng tồn tại ở một số tỉnh miền bắc Việt Nam và bắc trung bộ Việt Nam (Phú Thọ, Yên Bái, Hòa Bình, Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh mà trung tâm là khu vực Đền Hùng), và ba con sông lớn và chính của đồng bằng Bắc Bộ (sông Hồng, sông Mã và sông Lam) vào thời kỳ đồ đồng và thời kỳ đồ sắt sớm. Nền văn hóa này được đặt tên theo địa phương nơi các dấu tích đầu tiên của nó được phát hiện, gần sông Mã, Thanh Hóa. Nhiều dấu tích đặc trưng cho văn hóa Đông Sơn cũng được tìm thấy ở một số vùng lân cận Việt Nam như ở Vân Nam, Quảng Tây, Hải Nam của Trung Quốc, ở Lào hay ở Thái Lan.
Đưới đây là một số video người VĂN LANG trình bày âm nhạc :
Hình ảnh dưới đây là người VĂN LANG ở DongXi City đang diễn hành LỄ HỘI ÂM NHẠC (Music Festival) được gọi là HA (Lễ hội CA HÁT)
Phần nhận xét hiển thị trên trang
TUNG XAY RA:
Liên Xô 1979: chặn bàn tay xâm lược Việt Nam
35 năm trước, Liên Xô đã biết cách tỏ rõ sẽ không ngần ngại áp dụng những biện pháp tột cùng để “khôi phục hòa bình và công lý”, báo ‘Phòng thủ đường không và vũ trụ’ của Nga viết.
Xe tăng Liên Xô tập trung ở biên giới Xô - Trung năm 1979
Đầu 1979, tại biên giới Trung quốc - Việt Nam, Trung Quốc đã hình thành mặt trận gồm 15 sư đoàn thê đội 1, 6 sư đoàn dã chiến quân thê đội 2, và 3 sư đoàn dự bị. Tổng quân số cụm quân được động viên để tham chiến chống Việt Nam lên tới 29 sư đoàn…3h 30 ngày 17/2/1979 trên một số hướng, sau 30 -35 phút pháo hỏa chuẩn bị, quân Trung quốc đã đột nhập qua 20 đoạn biên giới Trung - Việt vào lãnh thổ Việt Nam.
… Kế hoạch (dùng xung đột quân sự) của ban lãnh đạo Bắc Kinh nhanh chóng đập tan sự kháng cự của quân đội Việt Nam và buộc Việt Nam phải từ bỏ đường lối đối ngoại không lệ thuộc vào Trung quốc, trước khi Liên Xô kịp can thiệp, đã bất thành. Ý đồ của Bắc Kinh đảo ngược tình hình ở Campuchia cũng không đạt được.
Liên Xô diễn tập biểu dương lực lượng
Trong thời gian từ 12 đến 26/3/1979 kiên quyết tạo áp lực quân sự lên Trung quốc (nước đang tiến hành cuộc xâm lược chống Việt Nam), theo chỉ thị của BCH TƯ Liên Xô, các Quân khu biên giới phía Đông (các vùng đất tiếp giáp với Trung quốc của Liên Bang xô viết), tại lãnh thổ Mông Cổ, và Hạm đội Thái Bình Dương, đã tiến hành các cuộc tập trận của Quân đội và Hải quân Liên Xô.
Năm 1979, các trung đoàn tiêm kích từ lãnh thổ Ukraina
và Belorussia được điều động sang các sân bay Mông Cổ.
Trong các cuộc diễn tập, tổng cộng đã có 20 sư đoàn binh chủng hợp thành và không quân tham gia, với tổng quân số lên tới hơn 200 ngàn sĩ quan và chiến sĩ, hơn 2 ngàn 600 xe tăng, gần 900 máy bay, 80 tàu chiến các loại.
Diễn tập bắt đầu bằng lệnh động viên, và chuyển các đơn vị quân đội và hải quân vào tình trạng sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Đã động viên 52 ngàn quân nhân dự bị, huy động hơn 5 ngàn xe máy của nông nghiệp sang phục vụ yêu cầu sẵn sàng chiến đấu.
Các cuộc diễn tập quy mô lớn nhất diễn ra trên lãnh thổ Mông Cổ, huy động tới 6 sư đoàn bộ binh cơ giới và sư đoàn tăng, trong đó có 3 sư đoàn được điều động tới Mông Cổ từ Sibir và Zabaikal. Trong khuôn khổ cuộc diễn tập này còn góp mặt gần ba sư đoàn không quân, hai lữ đoàn độc lập và một số liên binh đoàn và đơn vị tăng cường.
Cùng kỳ, tại các cuộc diễn tập ở Viễn Đông và Đông Kazakhstan (có đường biên giới với Trung quốc), ngoài các đơn vị cấp sư đoàn trở lên bộ đội hiệp đồng binh chủng, còn có các đơn vị bộ đội biên phòng Liên Xô tham gia.
Tại các vùng có đường biên giới với Trung quốc, đã diễn tập các phương án tổ chức phòng ngự, đánh trả đội hình tiến công của đổi phương, phản kích, và chuyển sang phản công.
Trong tiến trình các cuộc diễn tập đã thực hiện các hoạt động phối hợp hỏa lực của các binh quân chủng. Cuộc hành binh từ Sibir sang Mông Cổ được thực hiện với các quy mô đội hình khác nhau, đội hình đơn vị từ cấp sư đoàn trở lên, và từ cấp trung đoàn trở xuống cấp phân đội. Đã thực hành tập kết đội hình đến cả bằng đường sắt, cả bằng đổ bộ đường không.
Tại các vùng có đường biên giới với Trung quốc, đã diễn tập các phương án tổ chức phòng ngự, đánh trả đội hình tiến công của đổi phương, phản kích, và chuyển sang phản công.
Từ lãnh thổ Ukraina và Belorussia, các trung đoàn không quân chiến đấu đã sang triển khai lực lượng tại các sân bay của Mông Cổ.
Đồng thời với các cuộc diễn tập, đã điều động các trung đoàn không quân ra phía đông (phía khu vực tiếp giáp hai lục địa Á – Âu) không chỉ từ các quân khu lân cận, mà cả từ vùng Prikarpatia, nằm cách xa các quân khu của Liên Xô có biên giới với Trung quốc tới 7000 km, chỉ nội trong hai đêm.
Đơn cử, chỉ trong hai đêm đã di chuyển từ Tula toàn sư đoàn không vận từ Tula đến tập kết tại Chita (Chỉ huy sở Quân khu Sibir) qua khoảng cách tới 5,5 ngàn km, chỉ bằng một chuyến bay.
Các cuộc chuyển quân trên của không quân xô viết không chỉ liên quan đến đội hình chiến đấu cấp trung đoàn, với các phi công được huấn luyện tốt nhất, mà là cuộc di chuyển của toàn trung đoàn, kể cả các đơn vị và phân đội bảo dưỡng kỹ thuật trên không và mặt đất. 5 quân khu đã tham gia tiếp dầu cho cuộc diễn tập này.
Trong tiến trình diễn tập, có những khoảng thời gian trong không trung có tới mười trung đoàn không quân tuyến 1 (đội hình chiến đấu) hoạt động. Các kíp bay đã bay tổng cộng 5000 giờ, đã sử dụng tới 1000 trái bom và tên lửa (trong diễn tập bắn đạn thật).
Tại biển Đông, và biển Hoa Đông gần 50 chiến hạm của Hạm đội Thái Bình dương, trong số đó có 6 tàu ngầm đã trực chiến sẵn sàng chiến đấu, và tiến hành tập trận đánh tiêu diệt hải quân đối phương. Tại vùng Primorie (ven biển Viễn Đông) đã thực hiện các cuộc đổ bộ của thủy quân lục chiến Liên xô.
Trợ chiến
Không quân xô viết còn cử các đơn vị của mình sang công tác tại Việt Nam để giải quyết vấn để trinh sát đường không chống quân xâm lược trên lãnh thổ Việt Nam. Các đơn vị thuộc không quân vận tải Liên Xô (các phi đội AN – 12, AN – 26, MI – 8…) làm nhiệm vụ vận chuyển đường không trong lãnh thổ Việt Nam.
Rất có kết quả, và có thể nói là khó hình dung nổi với thực lực trang bị lúc đó của Không quân chiến thuật Liên Xô (ý nói còn hạn chế), đã vận hành Cầu hàng không giữa Liên Xô và Việt Nam. Trong khuôn khổ diễn tập tại Liên Xô và chuyên chở vũ khí, trang thiết bị cho Việt Nam, đã vận chuyển tổng cộng 20 ngàn quân, hơn 1000 đơn vị trang bị xe máy, 20 máy bay và trực thăng, 3 ngàn tấn quân dụng, đạn dược.
Viện trợ
Riêng về mặt quân sự, viện trợ cho Việt Nam là một nhiệm vụ trọng đại, nhằm mục tiêu gia tốc gấp tiềm lực quân sự cho Việt Nam, nhờ các cuộc chuyển giao khẩn trương thiết bị và vũ khí.
Chỉ trong giai đoạn từ khi cuộc xung đột bắt đầu (giữa tháng 2) đến cuối tháng ba, bằng đường thủy đã đưa sang Việt Nam được hơn 400 xe tăng và xe bọc thép, xe chở quân; 400 cỗ pháo và súng phóng lựu, 50 dàn phóng đạn phản lực 40 nòng, cỡ 122 mm “Grad”, hơn 100 cỗ pháo cao xạ, 400 đồng bộ cao xạ di động cùng hàng ngàn tên lửa đi theo, 800 súng chống tăng của bộ binh, 20 máy bay tiêm kích. Dù việc chuyển giao là gấp rút, các vũ khí và trang bị này đã qua thẩm định về chất lượng sẵn sàng chiến đấu bởi một ủy ban gồm các chuyên gia có kiến thức và kinh nghiệm sử dụng các trang bị này của quân đội xô viết.
Đòn cân não
Thái độ kiên quyết ủng hộ Việt Nam của Liên Xô; phản ứng của công luận thế giới; kháng cự kiên cường của quân đội Việt Nam buộc địch phải chịu tổn thất to lớn; tổ hợp hành động quân sự - chính trị của Liên Xô được thực hiện dưới dạng bước chuẩn bị cho hành động tiến quân vào lãnh thổ Trung quốc; mâu thuẫn trong giới cầm quyền Trung quốc, các khuyết điểm, sai lầm nghiêm trọng trong chỉ đạo và trong tác chiến của quân Trung quốc… đã đem lại kết quả mong đợi, bài báo kết luận. 5/3/1979 Bắc Kinh đã phải ra quyết định rút quân, và 20/3/1979 phải thực hiện rút quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Nhưng quân Trung quốc vẫn ngoan cố đóng tại một số phần đất (sâu 1km vào lãnh thổ và rộng 2 km), mà trước đó Trung quốc gán ghép là “đất tranh chấp” , ở vùng biên giới hai nước, bài báo nhấn mạnh.
Bài báo cũng chỉ ra Liên Xô đã chơi rắn đến cùng như vậy, vì Trung quốc xâm lược vùng biên giới phía Bắc của Việt Nam khơi dậy nguy cơ chiến tranh lớn trên “hai mặt trận” (tức là gây chiến với Nga), do vừa ký kết Hiệp định hợp tác toàn diện Việt – Xô.
Phương châm trong chiến tranh “Phòng ngự tốt nhất là tiến công”, cũng được áp dụng trong còn điều kiện Liên Xô còn hòa bình, nhưng thế lực bành trướng, bá quyền trong khu vực đang tìm cách khơi lò lửa chiến tranh.
Nhìn lại, tướng Vũ Xuân Vinh, nguyên thủ trưởng kỳ cựu của ngành đối ngoại quân sự vào năm 2009 chia sẻ, ông vẫn vô cùng ấn tượng về cách Liên Xô đã chọn đầu 1979, bằng ý chí và hành động, cảnh báo “không được đụng đến Việt Nam”.
Năm 1979, Liên Xô đã tỏ rõ sẽ không ngần ngại áp dụng những biện pháp tột cùng, kiên quyết khôi phục hòa bình và công lý, không để địch thủ mơ tưởng “được đằng chân lân đằng đầu”.
LÊ ĐỖ HUY (LƯỢC THUẬT)
Địa chỉ bài viết tiếng Nga
http://www.vko.ru/strategiya/naglyadnaya-demonstraciya-voennoy-moshchi
(Văn hóa Nghệ An)
Đòn cân não
Thái độ kiên quyết ủng hộ Việt Nam của Liên Xô; phản ứng của công luận thế giới; kháng cự kiên cường của quân đội Việt Nam buộc địch phải chịu tổn thất to lớn; tổ hợp hành động quân sự - chính trị của Liên Xô được thực hiện dưới dạng bước chuẩn bị cho hành động tiến quân vào lãnh thổ Trung quốc; mâu thuẫn trong giới cầm quyền Trung quốc, các khuyết điểm, sai lầm nghiêm trọng trong chỉ đạo và trong tác chiến của quân Trung quốc… đã đem lại kết quả mong đợi, bài báo kết luận. 5/3/1979 Bắc Kinh đã phải ra quyết định rút quân, và 20/3/1979 phải thực hiện rút quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Nhưng quân Trung quốc vẫn ngoan cố đóng tại một số phần đất (sâu 1km vào lãnh thổ và rộng 2 km), mà trước đó Trung quốc gán ghép là “đất tranh chấp” , ở vùng biên giới hai nước, bài báo nhấn mạnh.
Bài báo cũng chỉ ra Liên Xô đã chơi rắn đến cùng như vậy, vì Trung quốc xâm lược vùng biên giới phía Bắc của Việt Nam khơi dậy nguy cơ chiến tranh lớn trên “hai mặt trận” (tức là gây chiến với Nga), do vừa ký kết Hiệp định hợp tác toàn diện Việt – Xô.
Phương châm trong chiến tranh “Phòng ngự tốt nhất là tiến công”, cũng được áp dụng trong còn điều kiện Liên Xô còn hòa bình, nhưng thế lực bành trướng, bá quyền trong khu vực đang tìm cách khơi lò lửa chiến tranh.
Nhìn lại, tướng Vũ Xuân Vinh, nguyên thủ trưởng kỳ cựu của ngành đối ngoại quân sự vào năm 2009 chia sẻ, ông vẫn vô cùng ấn tượng về cách Liên Xô đã chọn đầu 1979, bằng ý chí và hành động, cảnh báo “không được đụng đến Việt Nam”.
Năm 1979, Liên Xô đã tỏ rõ sẽ không ngần ngại áp dụng những biện pháp tột cùng, kiên quyết khôi phục hòa bình và công lý, không để địch thủ mơ tưởng “được đằng chân lân đằng đầu”.
LÊ ĐỖ HUY (LƯỢC THUẬT)
Địa chỉ bài viết tiếng Nga
http://www.vko.ru/strategiya/naglyadnaya-demonstraciya-voennoy-moshchi
(Văn hóa Nghệ An)
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Việt – Mỹ ‘gần gũi hơn’ sau vụ giàn khoan
.
Việt Nam đã chuyển hướng sang phía Hoa Kỳ để tìm kiếm sự cần bằng sau khi nước cộng sản láng giềng phương bắc lấn át Hà Nội. Trung Quốc vừa triển khai chiến thuật bành trướng bằng cách đặt một giàn khoan dầu nước sâu có trị giá khoảng 1 tỷ USD trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và đã nhiều lần bắn súng nước cũng như đâm và đánh chìm các tàu của Việt Nam.
“Chúng tôi hoan nghênh những nỗ lực và tham gia của các nước và các đối tác, trong đó có Hoa Kỳ, như một đối tác toàn diện của Việt Nam nhằm góp phần giải quyết các vụ tranh chấp lãnh thổ một cách ôn hòa”, Hà Thủy Thông, Phó Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Việt Nam, cho biết.
Theo chính sách “trục châu Á” của chính quyền Obama thì phản ứng của Washington từ lâu chỉ nêu lên rằng Hoa Kỳ luôn bảm đảm an ninh ở khu vực này nhưng đến nay vẫn thiếu các hành động cụ thể. Các quan chức từ lâu đã cho biết mục tiêu của trục châu Á là tái tập trung sự chú ý và nguồn lực vào khu vực chứ không phải nhằm thách thức Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc đã sử dụng lực lượng quân sự và nền kinh tế hàng đầu ở châu Á để lấn át các nước láng giềng.
Sự xâm lăng của Bắc Kinh ở Biển Đông – trong đó có cả việc Trung Quốc công bố tiếp tục di chuyển giàn khoan dầu thứ hai vào khu vực này – đã giúp Hà Nội và Washington có thêm động lực để định hình lại mối quan hệ vốn đã phát triển đáng kể kể từ khi máy bay trực thăng Hoa Kỳ di tản người Mỹ cuối cùng ra khỏi Sài Gòn 39 năm trước. Vốn đã có mối quan hệ kinh tế khá chặt chẽ, Việt Nam và Hoa Kỳ hiện nay có thể nhìn về một hướng khi nhắc đến các mối đe dọa tiềm tàng trong khu vực châu Á.
“Tôi thật sự lo ngại sâu sắc bởi những căng thẳng đang diễn ra ở Biển Đông, và hành động của Trung Quốc trong vùng biển có tranh chấp đặt ra câu hỏi về sự nghiêm túc đối với các cam kết liên quan đến hòa bình và an ninh trong khu vực”, Thượng nghị sĩ Benjamin L. Cardin thuộc Đảng Dân chủ đại diện tại bang Maryland và thành viên Ủy ban Thượng viện về Quan hệ Đối ngoại nói.
Ông Cardin phát biểu như trên vào cuối tháng trước trong cuộc gặp với các quan chức Việt Nam tại Hà Nội.
Hoa Kỳ hiện có liên minh với các nước trong khu vực như Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines và Đài Loan, nhưng không có hiệp ước đồng minh với Việt Nam – nơi có hơn 58.000 binh sĩ Mỹ đã thiệt mạng và hàng chục ngàn người khác bị thương trong nỗ lực ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản lây lan ở Đông Nam Á trong cuộc chiến kéo dài gần 10 năm.
Kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1995, Washington và Hà Nội đã mở rộng các mối quan hệ theo cách xây dựng quan hệ đối tác chiến lược. Việc thông qua hiệp định thương mại song phương vào năm 2001 đã giúp thương mại giữa hai nước tăng mạnh từ 1,5 tỷ USD hồi năm 2001 lên hơn 29 tỷ USD trong năm 2013.
Việt Nam cũng là một phần trong kế hoạch của Washington đối với tăng trưởng kinh tế lớn ở châu Á. Cùng với chín quốc gia khác, Hoa Kỳ và Việt Nam hiện đang đàm phán về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership), một thỏa thuận kinh tế nhằm vào mục đích thiết lập các tiêu chuẩn mới để thúc đẩy các mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và các nước châu Á trong thế kỷ 21.
Trong khi đó, Việt Nam đã tỏ ý muốn thúc đẩy mối quan hệ chiến lược gần gũi hơn với Hoa Kỳ. Trong năm qua, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến thăm Nhà Trắng, trong khi các quan chức khác của Việt Nam đã bày tỏ ý muốn Hoa Kỳ đóng một vai trò tích cực hơn đối với nền an ninh của Việt Nam.
Ngoài ra, Hà Nội đang tiến gần hơn với các ưu tiên trong danh sách của Washington. Hồi tháng trước, Việt Nam tuyên bố sẽ tham gia vào Sáng kiến An ninh Phổ biến Vũ khí (PSI) trong nỗ lực ngăn chặn sự lây lan của các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt. Trước đây Hà Nội đã từng lên tiếng phản đối tham gia vào sáng kiến này do Hoa Kỳ và các đồng minh vận động. Việc này đã mở ra cơ hội để hai bên tiến hành các cuộc giám sát hàng hải chung giữa Washington và Hà Nội.
Các nhà phân tích nói thêm rằng các cuộc thảo luận song phương về quốc phòng, chống khủng bố và các sáng kiến thực thi pháp luật sẽ mở ra nhiều cơ hội để hai nước tiến lại gần với nhau.
Nhưng để chắc chắn, Washington hy vọng Việt Nam tiếp tục tiến hành cải cách sâu rộng, đặc biệt là trong lĩnh vực nhân quyền.
“...Việt Nam biết rằng Trung Quốc sẽ luôn luôn là một mối họa, ngay cả khi Hoa Kỳ chuyển hướng về khu vực này. Hà Nội không muốn khiêu khích Bắc Kinh thêm nữa”, Phương Nguyễn – nghiên cứu viên tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Washington và Quốc tế cho biết.
Đỗ Đăng Khoa chuyển ngữ, CTV Phía Trước
James Borton, The Washington Times
© 2014 Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC
Phần nhận xét hiển thị trên trang
[Full - Bản đầy đủ] Hải chiến Trường Sa 1988 (CQ-88)
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, 1979
Phần nhận xét hiển thị trên trang
TRUNG QUỐC TUYÊN BỐ TUẦN TRA KIỂM SOÁT BIỂN ĐÔNG ĐỊNH KỲ
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)




