Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 28 tháng 5, 2014

Tại sao các nước láng giềng rất sợ Trung Quốc?

Bài này của nhà báo TQ viết theo quan điểm TQ. Mình thích đoạn này: "Quan hệ quốc tế cũng giống quan hệ giữa người này với người nọ. Nếu có điều gì ta không hiểu, hãy đặt mình vào vị trí của người khác để mà suy nghiệm. Rồi ta sẽ hiểu ra".
Tại sao các nước láng giềng rất sợ Trung Quốc?
Người Trung Quốc cần suy nghĩ vì sao lời nói và việc làm của mình đang gây nhiều sợ hãi cho nước khác ? Những cuộc bạo loạn chống Trung Quốc tại Việt Nam ít ra đã làm một người Trung Quốc thiệt mạng và hàng trăm người bị thương. Người Hoa địa phương không dám nói tiếng Hoa tại Việt Nam.
Những nước có chung chế độ chính trị và ý thức hệ với nhau không nhất thiết sẽ là bạn của Trung Quốc. Nga ở phía Bắc và Việt Nam ở phía Nam một thời từng “vừa là đồng chí, vừa là anh em,” nhưng qua lịch sử lâu dài, họ cũng là những nước thiếu thân thiện với Trung Quốc, đây là điều chúng ta phải nhớ…

Trên thực tế, Trung Quốc gần như không thể trở thành một bá quyền trên vũ đài quốc tế. Những giá trị và triết lý Trung Quốc không đủ sức thuyết phục đối với nước khác hoặc được họ khâm phục, và Trung Quốc có rất ít đồng minh đáng tin cậy. Xin hãy quên giấc mộng bá quyền đi – mặc dù bề ngoài nom có vẻ hùng mạnh, nhưng bên trong Trung Quốc có nhiều mặt yếu kém, có thể ví như một tên khổng lồ đứng trên hai chân bằng đất sét. Nhưng cái ấn tượng mà chúng ta đã tạo ra với cộng đồng quốc tế là, Trung Quốc là một “bạo chúa”, khiến nhiều nước láng giềng đâm ra vừa sợ vừa ghét Trung Quốc. Trong mấy năm nay, đi qua nhiều nơi trong nước cũng như ngoài nước, tôi cảm nhận điều này một cách sâu sắc.

Hoa Kỳ hô hào “tái quân bình lực lượng tại châu Á”, nhưng họ khá chậm trễ về việc này. Vì sao? Vì họ không cần phải vội vàng – Mỹ nhẩn nha chờ cơ hội! Mỹ chờ Trung Quốc tự làm hư sự. Khi quan hệ của Trung Quốc đối với các nước láng giềng trở nên tồi tệ từ nơi này sang nơi khác, khi các nước châu Á đâm ra “sợ” Trung Quốc, thì cho dù Mỹ không muốn “tái quân bình lực lượng hướng về châu Á” các nước khác cũng sẽ yêu cầu Mỹ trở lại khu vực ấy. Chúng ta phải suy nghĩ về điều này: Chỉ trong vài năm thôi, nhiều nước châu Á đã bắt đầu tin rằng Trung Quốc “có ý đồ bá quyền” và đáng sợ hơn Hoa Kỳ. Liệu chúng ta có thể thực sự tránh mọi trách nhiệm về sự kiện này không?

Oan uổng là, cho đến nay Trung Quốc vẫn chưa làm điều gì sai! Và lãnh đạo chúng ta liên tục “lên tiếng biện minh” cho hành động của Trung Quốc. Nhưng có một lãnh vực chúng ta đang phạm lỗi lầm nghiêm trọng. 

Hãy nhìn vào công luận tại Trung Quốc: từ cư dân mạng đến Bộ Ngoại giao, mọi người cứ mải miết bàn chuyện bảo vệ Quần đảo Điếu Ngư, dạy cho Philippines một bài học, đặt Việt Nam nhược tiểu vào đúng thân phận của nó, hay liên minh với Nga để chọi lại với Mỹ. Khi bàn về chính sách ngoại giao và quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng, mọi người đều tăng cường độ. Nhưng sau nhiều năm đánh giặc miệng, chúng ta đã chứng tỏ được điều gì? Ngoài việc đập nát một vài chiếc xe Nhật (sản xuất tại Trung Quốc và do người Trung Quốc lái trên đất Trung Quốc), chúng ta không những không thu hồi một tấc đất, mà chúng ta chỉ làm cho Hoa Kỳ và Nhật Bản xích lại gần nhau hơn. Nhật Bản đang tăng cường binh bị, một số con dân khốn khó Trung Quốc bị Philippines bắt giữ và có nguy cơ chịu án tù, và bây giờ, những nhóm bạo loạn ở Việt Nam công khai giết hại người Trung Quốc! Vì sao nên nỗi?

Lần trước tôi đến một đài truyền hình để thu hình một chương trình thời sự quốc tế, tôi hỏi một anh bạn cớ làm sao mà người ta cứ lôi ông này ông nọ lên để bàn về chính sách đối ngoại Trung Quốc. Tôi nói, không những các ông ấy không nắm bắt được tình hình, mà họ còn chất chứa thù hận và bạo động ở trong lòng, hoàn toàn đi ngược lại tinh thần của đường lối ngoại giao và chính sách đối ngoại Trung Quốc. Nếu tôi là một người nước ngoài xem chương trình họ, tôi sẽ nghĩ rằng Trung Quốc là một nước phát-xít, không chỉ đơn thuần là một bá quyền. Anh bạn của tôi ở đài truyền hình cho biết chương trình của họ đang được điểm cao. Khán giả yêu chuộng nó! Hơn nữa, anh ta nói, tôi nhận xét rằng nếu người ta khuynh tả thay vì khuynh hữu trong các vấn đề đối ngoại, thì dù cho người ta có sai lầm, chính quyền sẽ không lấy đó làm điều. Còn như, nếu chúng tôi mời bạn lên show này, bạn Yang ạ, những điều bạn nói sẽ bị cho là “nhạy cảm” – dù ngày mai Bộ Ngoại giao có tuyên bố một chính sách y hệt.

Vì thế chúng ta thử tưởng tượng một chút: Việc gì sẽ xảy ra nếu Mỹ (một cường quốc hùng mạnh hơn Trung Quốc) có một chương trình TV do chính phủ bảo trợ, trên đó các diễn giả thường xuyên bàn chuyện “gửi quân” và “dạy Trung Quốc một bài học?”. Vị giáo sư từng dạy tôi môn bang giao quốc tế có lần nói rằng quan hệ quốc tế cũng giống quan hệ giữa người này với người nọ. Nếu có điều gì ta không hiểu, hãy đặt mình vào vị trí của người khác để mà suy nghiệm. Rồi ta sẽ hiểu ra.

Một số chúng ta đơn giản là thiếu hiểu biết. Theo quan niệm của họ, một khi Trung Quốc trở nên hùng mạnh là ta có thể dùng vũ lực để giành lại lãnh thổ bị tranh chấp và rửa sạch “mối nhục” của mình. Nhưng trên thực tế, những tranh chấp lãnh thổ không mới chỉ bắt đầu từ hôm qua, mặc dù chúng đã thật sự lóe lên trong vài năm gần đây. Có nhiều lý do lịch sử phức tạp đối với những tranh chấp này. Tất nhiên, trong quan niệm của chúng ta, vấn đề nằm ở chỗ, Hoa Kỳ không muốn Trung Quốc mạnh lên, vì thế họ xúi giục các láng giềng nhỏ bé của Trung Quốc gây rối để ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc. Nhưng đối với nhân dân tại nhiều quốc gia khác, thì hoàn toàn ngược lại: Trung Quốc đã trở nên hùng mạnh và đang chuẩn bị dùng vũ lực để thay đổi nguyên trạng – Trung Quốc sẽ bắt nạt các quốc gia nhỏ hơn và yếu hơn mình.

Hẳn nhiên, điều này là không đúng sự thật. Nhưng có một điều chúng ta không thể chối cãi: nhiều cơ quan truyền thông do chính phủ kiểm soát đã rõ ràng để lộ lối suy nghĩ đó. Lý luận sau đây có vẻ phù hợp với chúng ta: nếu chúng ta không thể giành lại lãnh thổ của Trung Quốc, tại sao chúng ta duy trì một quân đội? Tại sao Trung Quốc phải mạnh? Nhưng lối tư duy này đương nhiên làm cho nhân dân tại các nước khác lo lắng, và vì thế họ sẽ sẵn sàng liên minh với nhau và thậm chí thúc đẩy Mỹ “tái quân bình lực lượng hướng về châu Á.”

Chúng ta để lộ một “não trạng Chiến tranh Lạnh”: Khi một nước nhỏ nào dám chống cự hay gây khó khăn cho chúng ta, thì chúng ta cứ nghĩ rằng nước đó phải được Hoa Kỳ bí mật hỗ trợ. Cơ hồ chỉ có Trung Quốc là nước duy nhất trên trái đất thực sự có tinh thần độc lập và không ngại đứng lên thách thức các nước thậm chí mạnh hơn mình. Không hẳn là thế, nhưng chúng ta cứ đinh ninh rằng các nước khác cần phải tìm ra một cường quốc đỡ đầu trước khi có thể đánh đấm với chúng ta. Chúng ta phải trở thành một “bạo chúa” với tầm cỡ nào mới buộc được các quốc gia nhỏ bé phải bám vào Hoa Kỳ để cầu xin hậu thuẫn trước khi họ dám tranh luận với chúng ta? Trên thực tế, trong quan hệ quốc tế hiện đại, thật khó sử dụng tàu to súng lớn như một nguồn hỗ trợ duy nhất. “Có chính nghĩa mới được hậu thuẫn rộng lớn, còn phi chính nghĩa sẽ chẳng có ai đứng đằng sau” – đây là khẩu hiệu chúng ta từng đưa ra và chúng ta cần phải nhớ. Trung Quốc chưa bao giờ sợ hãi khi bị các nước lớn bắt nạt và trên thực tế đã bị các nước khác bắt nạt trong quá khứ. Nhưng các láng giềng nhỏ bé của chúng ta cũng giống hệt như vậy.

Xin trở lại vấn đề: Bạo loạn ở Việt Nam là rất hãi hùng, và điều này khiến chúng ta không thể không nghĩ đến lịch sử đau buồn của tinh thần chống Trung Quốc tại Việt Nam. Chúng ta không thể để bọn côn đồ thoát lưới pháp luật, và Việt Nam phải đền bù mọi thiệt hại kinh tế. Việt Nam còn phải chịu trách nhiệm về thiệt hại nhân mạng. Việt Nam phải trừng trị những kẻ gây bạo loạn và hứa với Trung Quốc những vụ việc tương tự sẽ không xảy ra trong tương lai.

Tuy nhiên, trong tư thế một cường quốc đang trỗi dậy, chúng ta cũng phải dành ra một ít thì giờ để suy nghĩ. Chủ tịch Tập Cận Bình đã nói, “Trong máu người Trung Quốc, không có gene xâm lược.” Trung Quốc không tìm kiếm địa vị bá quyền; điều này đã được nhấn mạnh nhiều lần. Nhưng trên thực tế, các cơ quan truyền thông chính thống cũng như mạng xã hội của chúng ta hình như có “gene” nguyền rủa người khác, nếu không phải là có “gene” bá quyền. Các báo đài phải thể hiện đúng tinh thần bài diễn từ của Tập Chủ tịch, thay vì đổ dầu vào lửa trên các vấn đề quốc tế chỉ vì muốn được điểm cao và có thêm nhiều khán giả bật TV lên xem. Hơn nữa, khi tập trung vào những mối quan hệ với các đại cường (như châu Âu, Nga, và Hoa Kỳ), chúng ta không nên quên điều quan trọng nhất sau đây: phải cải thiện quan hệ với các nước láng giềng. Như Tập Chủ tịch đã nói, “Bán bà con xa, mua láng giềng gần.” Trung Quốc phải thực hiện nhiều nỗ lực to lớn hơn nữa với các nước láng giềng, gác qua một bên các thành kiến và hành trang lịch sử, để dần dà thích nghi với vai trò của một nước lớn.

Yang Hengjun, The Diplomat
Trần Ngọc Cư dịch

Bài viết này xuất hiện đầu tiên bằng tiếng Trung trên blog của Yang Hengjun. (Xin bấm lên đây.)
Yang Hengjun là một nhà nghiên cứu Trung Quốc độc lập, một tiểu thuyết gia, và là blogger. Ông từng làm việc tại Bộ Ngoại giao Trung Quốc và từng là một nhà nghiên cứu thâm niên tại Atlantic Council ở Thủ đô Washington. Yang nhận bằng Tiến sĩ từ Đại học Công nghệ, tại Sydney, Australia. Trang blog tiếng Trung của ông trình bày các vấn đề Trung Quốc quan trọng hiện nay và các cổng điện tử về quan hệ quốc tế. Các bài viết của ông nhận hàng triệu lượt truy cập. Địa chỉ blog của Yang:www.yanghengjun.com.
The Diplomat
Ít ra thì Yang Hengjun cũng thấy một điều mà mọi người – trừ hệ thống truyền thông chính thống của Trung Quốc – đều thấy: Trung Quốc qua lời lẽ của mình, khiến thế giới nhìn đất nước ông Mao như một con khủng long bạo chúa mới trỗi dậy, sẵn sàng ngoạm vào hàng xóm láng giềng. Hình ảnh tồi tệ ấy của Trung Quốc là do Trung Quốc tự gây ra. Tuy nhiên, đâu có phải tất cả chỉ vì lời lẽ. Khi Tập Chủ tịch nói: “Trong máu người Trung Quốc, không có gene xâm lược.” thì ngài đã vội quên lịch sử. Việt Nam đã có kinh nghiệm hàng ngàn năm để chỉ thêm cảnh giác khi nghe câu nói đó của Tập Chủ tịch. Giàn khoan Hải Du 981 đang lừng lững ở vùng biển nước ta, cho thấy thực chất câu nói của người đứng đầu Trung Quốc là như thế nào. Cho nên, không phải như tác giả khẳng định: “Trung Quốc không tìm kiếm địa vị bá quyền”, mà đúng ra là: “Trung Quốc hãy quên giấc mộng bá quyền đi”.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nếu cần nên tuyển người khác có giáo dục và biết lịch sự trong tranh luận phải như thế nào?

Dư luận viên

Dương Đình Giao
I.

Trước đây, người ta chưa gọi là “Dư luận viên”. Thường vẫn  gọi là cán bộ tuyên huấn. Cấp huyện là có ban tuyên huấn rồi. Mấy ông trong ban này lúc ấy oai lắm. Các ông  thường đi nghe tuyên huấn tỉnh, sau về nói lại với cán bộ và các tầng lớp nhân dân ở huyện. Nội dung thường thấy trong các buổi nói chuyện này là tin thời sự, đặc biệt là tin chiến thắng khắp nơi từ bắc tới nam (không bao giờ có tin ta thất bại, dù chỉ là tạm thời), và nghị quyết các loại (lúc ấy có người đã đề xuất nước ta nên xuất khẩu nghị quyết để nâng cao đời sống nhân dân cơ mà).

Báo chí hiếm, đài lại càng hiếm hơn nên được nghe cán bộ tuyên huấn nói chuyện là niềm vinh hạnh lớn. Những lời của các ông ấy nói là  “những lời như chân lý sinh ra” (thơ Tố Hữu). Công bằng mà nói, các cán bộ tuyên huấn đã góp phần không nhỏ vào việc động viên toàn dân tham gia đánh Mỹ giành thắng lợi cuối cùng.  Muốn làm tuyên giáo thì phải nói giỏi, trơn tru, lưu loát, có thế mới hấp dẫn được người nghe. Nhưng nghe mấy ông tuyên giáo huyện thì chán lắm. Nhiều ông nói ngọng. Lại cứ hay dở “chiêu” : “vấn đề này tôi chỉ nói nội bộ, các đồng chí đừng …” (ý là vấn đề này rất bí mật, các đồng chí là người rất đáng tin cậy tôi mới nói). Người nghe thấy sướng quá, hóa ra mình cũng là người quan trọng được biết những điều  “bí mật” mặc dù những điều các ông ấy nói, BBC, Tiếng nói Hoa Kỳ… nó nói lâu rồi. Nhiều ông tuổi còn trẻ nhưng hay gọi lãnh tụ bằng “anh”, ý “mình với các “anh ấy” gần gũi lắm”. Mở miệng là “anh Duẩn, anh Đồng, anh Giáp… “. Cũng là học lẫn nhau cả thôi. Tỉnh đi nghe trung ương nói, thấy trung ương gọi bằng “anh”, khi về nói cho huyện cũng gọi như thế, rồi huyện thấy tỉnh gọi thế, cũng bắt chước. Người bình thường thấy gọi bằng “anh” nghe “oai” lắm. Nhưng người có tí hiểu biết thì thấy vừa “xấc”, vừa “hợm”. Khi nào phải nghe các ông ấy nói chuyện thì tốt nhất là kiếm một góc mà ngồi, mang theo quyển sách.

Từ khi về Hà Nội, nơi tôi làm việc có quan hệ với trường Nguyễn Ái Quốc (bây giờ là Học viện Hồ Chí Minh gì đấy!), cơ quan tuyên huấn cỡ lớn. Chi bộ quan tâm đến tình hình tư tưởng của anh em nên thỉnh thoảng vẫn mời mấy vị ở đấy về nói chuyện. Trình độ cấp trung ương, nên câu chuyện cũng có hấp dẫn hơn. Nhưng vẫn không chừa được cái bệnh: “vấn đề này tôi chỉ nói nội bộ…”. Và nhất là vẫn  cái bệnh của tuyên huấn, thường nói lấy được, bất chấp sự thực khách quan.Vì cứ nghĩ người nghe không biết gì. Hoặc người ta có biết nhưng không thể “cãi” được. Nói mà tin rằng không có ai phản bác thì muốn nói gì chẳng được?

Một lần, khoảng 1995 , 1996, một ông đến nói về công cuộc đổi mới. Ông ấy nói đại ý: Chúng ta phải biết ơn đảng nhiều lắm vì nhờ đảng mới có đổi mới, nhờ đảng, cuộc sống của chúng ta mới được cải thiện như ngày hôm nay. Rồi ông ấy lấy thí dụ chứng minh cho cái điều ấy: Cách đây 10 năm, chúng ta phải mang chai đến cơ quan chia nhau mỗi người  một ít xà phòng nước để giặt quần áo, bây giờ thì đủ loại xà phòng; tết Trung thu (hôm ấy sắp đến rằm tháng Tám), mấy người mới được một cái bánh đem cắt ra chia nhau mang về cho các cháu. Bây giờ thì bánh nướng, bánh dẻo ê hề, chỉ sợ không có tiền mà mua…

Mình nghe, “lộn hết cả ruột”.

Đến giờ nghỉ giải lao, ông ấy vào phòng khách ngồi uống nước cùng mấy người nữa. Mình cũng giả vờ vào xin chén nước. Sau vài câu xã giao, mình hỏi:

-         Anh chắc năm nay cũng khoảng năm mươi tuổi?

-         Vâng, tôi năm nay năm mốt.

-         Xin lỗi, thế anh quê tỉnh nào?

-         Cám ơn anh hỏi thăm. Tôi quê Thái Bình, tỉnh năm tấn xưa đấy.

-         Anh hơn tôi một tuổi, nhưng vì anh quê ở Thái Bình nên có thể anh không biết. Từ năm 1959 về trước, thỉnh thoảng cứ sau ngày lĩnh lương, bố tôi thường đến nhà bà bác có cửa hàng tạp hóa, mua một hòm xà phòng giặt, mỗi hòm khoảng vài ba chục bánh. Khi nào dùng hết, lại đến chở. Chẳng có ai phân phối hay phải chia bôi gì. Còn cái bánh Trung thu ấy, cứ trước ngày Tết độ nửa tháng, bố mẹ tôi lại dẫn mấy anh em đi dọc các phố hàng Ngang, hàng Đường, Đồng Xuân xem người ta làm bánh trung thu. Vào dịp này, cửa hàng nào cũng làm bánh ngay bên ngoài, người mua có thể chứng kiến đủ mọi công đoạn ra đời của một cái bánh. Mấy ông thợ làm bánh khoác tạp dề, đội mũ vải trắng nhào, trộn, vỗ khuôn chan chát…. Người ta cứ làm, mình cứ xem, không ai chào mời. Đó cũng là cái tử tế của các nhà buôn thời ấy. Rất cần khách hàng, nhưng vẫn giữ tự trọng,  không khúm núm, xun xoe mời chào. Xem một lúc lại đi hàng khác. Khi nào chán rồi, mỏi chân rồi, thì mua một hộp, hai hộp. Mua bao nhiêu cũng được, mua  nhiềuthì được rẻ hơn. Chỉ có từ sau 1960, chúng ta tiến lên chủ nghĩa xã hội nên mới không có xà phòng mà giặt, phải dùng chất tẩy mà người ta gọi là  xà phòng nước, bánh trung thu cho trẻ con mà phải cắt từng cái làm hai ba phần chia nhau.

Ông tuyên giáo tỏ vẻ ngạc nhiên:

-         Thế ạ?

-         Chắc vì anh ở Thái Bình nên không biết. Tôi xin “tiết lộ” với anh cái sự thật ấy. Ta bây giờ nếu có vui thì là vui vì cuộc sống của chúng ta đã được trở về với những quy luật vốn có. Có “mới” gì  mà “đổi”, phải không anh? Còn biết ơn thì lại càng không. Chẳng lẽ cái anh nó bóp cổ mình cho đến khi sắp tắc thở mới buông ra, mình lại phải biết ơn?

 Sau lần ấy, cứ mỗi khi đến buổi nghe báo cáo thời sự, tôi lại được thủ trưởng giao cho một công việc gì đấy để không phải tới nghe. May quá!

  II.

 Mấy năm nay, in-tec-net có ở khắp nơi, các trang web ngoài luồng phát triển tới mức không kiểm soát nổi, lại thêm cái anh Phây-xờ-búc ngày càng bung ra, khiến các vị tuyên huấn xoay như chong chóng không chống đỡ kịp những lập luận thuyết phục, những sự thật vốn được giấu kín nay được phơi bày. Thế là mấy chục nghìn các DLV ra đời. Có mặt các DLV này, dư luận trên mạng thêm rộng đường, người nói phải, người nói trái, anh nói ngược, chị nói xuôi, phân tích, chứng minh, lý giải… khiến người nghe càng có điều kiện phán xét để rồi tin vào một ý kiến nào đó, thoát khỏi tình trạng “như vịt nghe sấm” hay định hướng một chiều. Để cho các cuộc tranh luận, thảo luận lành mạnh, bổ ích, tôi xin đề nghị các bạn DLV:

    Xin các bạn có tên thật. Nhân vật chèo xưa, mỗi khi bước ra sân khấu đều hỏi: “Tôi ra đây có phải xưng danh không nhỉ?” Hỏi thế thôi, chứ chỉ chờ nghe tiếng đế trong hậu trường “không xưng danh thì ai biết là ai!” là tên tuổi, thậm chí quê hương bản quán được công khai. Tôi để ý thấy tất cả các bạn chẳng ai có cái tên thật, cái ảnh đại diện cũng không. Chẳng lẽ các bạn tự nhận mình là người không chính diện (tức là “phản diện”)? Chỉ riêng điều này, các bạn đã tỏ ra không chính danh rồi. Mà “danh bất chính thì ngôn bất thuận”. Làm sao thảo luận được với người không chính danh, làm thế là tự hạ thấp bản thân mình.

Thậm chí, cái không chính danh của các bạn còn khiến người ta nghĩ đến hành động “ném đá giấu tay”. Hay là các bạn cũng chưa đủ tự tin vào những điều mình nói, thậm chí còn thấy hổ thẹn vì những điều ấy nên không dám “xưng danh”? Cho nên thái độ của tôi cũng như của nhiều người thường là coi như không thấy gì mỗi khi đọc ý kiến của những người không chính danh.

    Lập luận của các bạn  đều cũ rích. Với ý kiến nào cũng chỉ có bấy nhiêu lý lẽ. Trên FB tuần qua đã có một chàng trai  thống kê những lập luận quen thuộc đến nhàm chán của các DLV, tôi không nhắc lại để khỏi làm mất thời gian của mọi người. Hình như các bạn phải đợi khi nào có đợt tập huấn mới có một chút mới mẻ do cấp trên “gà” cho. Nhưng cũng chỉ mới mẻ được vài hôm thôi. Cuộc sống  luôn luôn vận động sao chỉ với những lập luận xói mòn ấy có thể bác bỏ được biết bao những câu chuyện, lý lẽ, phản bác đầy sức thuyết phục?

Muốn cho cuộc tranh luận thêm hấp dẫn, nói đúng hơn là để ý kiến còn có người đọc, xin đề nghị các bạn chịu khó học hỏi thêm. Cái khi học ở trường, muốn lên lớp, có thể chỉ cần bỏ ra ít tiền cho vào cái phong bì là xong. Nhưng cuộc sống phức tạp hơn nhiều lần khi đi học. Không học, không làm ăn gì được đâu. Nhất là lại làm người chuyên tranh luận, làm việc bây giờ lại có lương, có thưởng. Mà lại tranh luận với một số lượng người khổng lồ, trong đó không ít người “thông kim bác cổ”, tuổi đời có khi đáng tuổi, cha tuổi ông các bạn. Quả là chẳng dễ dàng gì!

    Để không khí bàn luận tránh bị ô nhiễm, giữ được sự trong sạch cần thiết, đề nghị các vị (giờ thì tôi không thể gọi “các bạn” được nữa)  nói năng sao cho có văn hóa. Các vị  nói tục nhiều quá, văng bậy nhiều quá. Xem những dòng chữ của các vị, tôi hình dung ra mấy anh thanh niên, tóc nhuộm xanh đỏ, cổ đeo cái dây xích to tướng, ngực áo phanh rộng, khuôn mặt bạc đi vì thiếu ngủ, rít thuốc liên tục,bên cạnh cái gạt tàn đầy những đầu mẩu thuốc lá,  ngồi trước máy vi tính chăm chú với các màn súng nổ, gươm đâm…thỉnh thoảng lại hét lên, lại văng ra những lời tục tĩu để giải tỏa sự bức xúc vì thua cuộc. Hình như các vị thấy thua kém về lý lẽ, bèn đem cơ quan sinh dục của cả hai giới thay cho cái trí não ít học, lười học. Vẫn biết chúng đều là những bộ phận trong cơ thể con người cả, bộ phận nào cũng quan trọng, không thể thiếu, nhưng cái nào có việc của cái ấy. Nhiều lần, tôi đã nhắc nhở các vị “nói năng sao cho lịch sự”, hay “cần chứng tỏ mình là người có giáo dục”. Nhưng hình như các vị  không phải là những người như thế nên văng tục chửi bậy là ngôn ngữ thường thấy trong các comment của các vị. Nghe như lời ăn tiếng nói của những kẻ chuyên hành nghề “đâm thuê chém mướn”. Hay các vị đang hành nghề này bằng bàn phím? Chẳng hiểu các bậc sinh thành ra các vị, vợ con các vị mỗi khi đọc được những dòng ấy họ sẽ nghĩ gì về công lao dưỡng dục ngần ấy năm trời, nghĩ gì về cái người mà hàng ngày họ vẫn “đầu gối tay ấp”, nghĩ gì về người bố, người mẹ của mình? Cũng có thể đây chính là lý do để các vị  không dám chính danh?

Vài lời đề nghị, chỉ muốn những cuộc trao đổi thú vị hơn.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sự tàn nhẫn của im lặng

Nguyễn Công Thảo



Tục ngữ Việt Nam có câu “im lặng là vàng”, “một điều nhịn, chín điều lành” hay “dĩ hòa vi quý”. Bản chất của những lời răn này là dạy con người ta tiết chế cảm xúc, biết hành xử vừa phải, đúng mực, đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng. Đáng tiếc thay, “một bộ phận không nhỏ” trong chúng ta đang vận dụng lời răn này một cách sai lệch. Đó là sự im lặng tuyệt đối trước sự thật, im lặng nhu nhược trước cái ác hay im lặng nhẫn nhục trước bất công. 


Phải chăng, ban đầu thói quen này xuất phát từ sự cả nể, tâm lí xuê xoa, ngại va chạm? Phải chăng, đâu đó không ít trong chúng ta quan niệm rằng “nói ra chẳng phải đầu cũng phải tai” trong khi “chẳng được lợi lộc gì”? Để rồi vì thế, lựa chọn im lặng được đưa ra để khỏi mất lòng ai, tránh mâu thuẫn, thù oán. 

Phải chăng đó là biểu hiện của sự bất lực hay một tâm thế phản ứng tiêu cực với cái sai, nơi mà người ta lựa chọn im lặng thay vì hùa theo nó. Liệu ta có thể hài lòng khi lựa chọn im lặng trước khuyết điểm của đồng nghiệp và tự nhủ chỉ cần ta không tung hô họ đã là đủ. Liệu ta có thể thuyết phục được ta rằng chỉ bản thân sự im lặng của mình đã là thông điệp đủ mạnh để thay đổi cái sai và chỉ với chừng ấy ta cảm thấy không hổ thẹn với chính mình?

Phải chăng chúng ta không có niềm tin vào hiệu ứng từ sự lên tiếng của mình? Hay đã quen với việc tự nhủ “một cây làm chẳng lên non” dẫn đến lo sợ bị đánh giá là “ngựa non háu đá”? Có phải ai ai trong chúng ta cùng tự nhủ “mình nhường để người khác nói”, để rồi cứ im lặng chờ đợi trong…im lặng? Có lúc nào đó chúng ta tự biện hộ cho việc im lặng của bản thân mình như một sự “hy sinh thầm lặng” cho sự bình yên của chính bản thân và gia đình chúng ta?

Phải chăng đó chính là sự đầu hàng với chính bản thân mình, với cái sai, cái ác. Hay im lặng là sự hoài nghi của chúng ta vào chân lí, vào niềm tin cái thiện sẽ thắng cái ác, dù có phải trải qua một quá trình tranh đấu lâu dài? Hãy cứ dành thời gian lắng nghe câu chuyện từ những bàn nhậu, quán cà phê hay quán trà chanh “chém gió” bên vỉa hè, tôi tin chúng ta sẽ được nghe thôi thì cơ man là những bất công, bất bình, phản biện được người ta lôi ra với bạn hữu. Người ta hăng say, hằn học, hậm hực, day dứt, trì triết, mỉa mai một ai đó, một quyết định sai nào đó đã được đưa ra ở cơ quan mình dù cho khi quyết định ấy được đưa ra, họ hoàn toàn im lặng, họ giơ tay biểu quyết và thực tế, họ là một phần của quyết định đó.

Sự tàn nhẫn của im lặng là ở chỗ bên cạnh việc phó mặc cho cái sai tồn tại, nó tạo ra một hiệu ứng im lặng có tốc độ lan tỏa nhanh chóng trong cộng đồng. Để rồi đến một lúc nào đó, im lặng lại được coi là cách hành xử khôn ngoan, chuẩn mực. Và như thế, im lặng chính là sự tàn nhẫn với sự thật, với điều đúng, và với cả vận mệnh của chính bản thân, gia đình và thậm chí cả một dân tộc.

Đã đến lúc chúng ta cần phải đối diện với sự thật rằng, im lặng trước cái sai này chính là mầm mống nuôi dưỡng cho sự xuất hiện của những cái sai khác. Đã đến lúc chúng ta không thể trốn tránh được thực tế nghiệt ngã rằng im lặng có thể cho ta sự yên ổn tạm thời, nhưng dần dần nó sẽ xói mòi lương tâm, làm thui chột ý chí phản biện, tinh thần hướng thiện, sức mạnh đấu tranh cho cái đúng của không chỉ bản thân ta mà cả của những người quanh ta. Sự yên ổn ấy, đáng tiếc thay chắc chắn sẽ không kéo dài lâu. Nó sẽ mau chóng qua đi và trả lại cho ta những mất mát, tổn thương với cấp số nhân so với chút yên bình giả tạo.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

United States Armed Forces 2014 - US: The World's Police? - U.S Military...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đây có phải thời điểm đổi thay thân phận Việt?

FB Artist Do Minh Tuan


Chú rể Nga ôm hôn cô dâu Tàu trong một cuộc hôn nhân khí đốt nồng nhiệt ngay khi Việt Nam đang hoạn nạn vì chính cô dâu. Ai cũng biết đó chỉ là cú đạp mái thế kỷ của gã gà trống Putin, song mọi lý lẽ đưa ra để chứng minh tình hữu nghị Việt Nga không suy suyển đã không thể nào xoa dịu nỗi đau sâu xa trong nhiều con tim Việt chung thuỷ cả tin. 

Đây là nỗi đau của thân phận Việt, sâu sắc hơn nhiều nỗi đau của quan hệ ngoại giao. Người Việt giống như cô gái ngây thơ, dễ để cho những bàn tay lạnh lùng giả dối xọc thẳng qua lồng ngực thành tâm lôi trái tim mình ra mà bóp nát. Chỉ vì họ biết nói: "Tôi yêu Việt Nam! Hãy để tôi giơ cao trái tim bạn như giơ cao trái tim rực lửa của Đan cô!” Thế là nát bét! 

Qua một ngàn năm Bắc thuộc, dân tộc này giống như con chim bồ câu bị vặt lông ninh nhừ trong nồi hầm thuốc bắc của Trung Hoa, thói nô lệ ngấm vào xương tuỷ! Đau đớn ê chề vì chịu bao nhiêu cái ác, cái đểu của bọn Tàu, nên khi độc lập rồi người Việt cũng vẫn còn âm ỉ mãi nỗi đau về nhân phẩm và khát khao sự tử tế nhiều hơn các dân tộc khác. 

Vì thế thấy Marx Lê Nin vẽ ra viễn cảnh một thiên đường tử tế thì vội vồ ngay lấy, thấy Liên xô Trung Quốc tỏ ra tử tế thì hồ hởi theo ngay. Giống như người đang đói lả thấy chìa ra miếng bánh thì vội biết ơn sâu sắc và cảm động đi theo với niềm hân hoan gặp được người tử tế. Trong khi đó, những người thực sự tử tế muốn tạo cho mình bản lĩnh sống lâu dài, giúp cho chiếc cần câu mà câu cá, dạy cho cách trồng cây để có rừng, thì lại không nhìn thấy cái lòng tốt sâu xa, nên dè bỉu căm thù khinh ghét đuổi họ đi vì không thấy cái miếng ăn trước mắt.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Điều có thật về những xác chết 'đội mồ sống dậy'


Với phép thuật cao siêu, pháp sư có thể khiến xác chết tự đứng dậy và bước đi trong dáng vẻ cứng nhắc, vô hồn.


Một xác chết được mặc quần áo và đi "chào hỏi" họ hàng, bà con làng xóm.

Cứ 3 năm một lần, người Baruppu tại huyện miền núi Tana Toraja thuộc tỉnh Nam Sulawesi, Indonesia lại tổ chức tập tục kỳ lạ có tên Ma’nene. Nó thường diễn ra trước mùa vụ hoặc hết tháng 8 hàng năm.

Chính vì vậy, đây là dịp mọi người trong gia đình, dòng họ tụ tập đông nhất để cùng làm giỗ.

Theo phong tục truyền thống, xác chết của những người thân trong gia đình, tổ tiên được những người còn sống đào lên khỏi mộ. Sau đó, họ đem những thi thể đó về nhà, thay quần áo mới như một cách tưởng nhớ người đã khuất. Thời gian cử hành các nghi lễ kéo dài trong 3 ngày.

Cụ thể, vào ngày thứ nhất, người ta sẽ mở nắp quan tài của người chết và đưa thi hài lên trên. Sau đó, họ đặt người đã khuất ra khu vực làm lễ và xung quanh có đầy đủ người thân, họ hàng.

Họ tiếp tục lau rửa xác người chết, nhiều khi đó chỉ còn là những bộ xương trắng do đã mất nhiều năm nên thịt và nội tạng bị phân hủy hết. Tiếp đó, những người thân trong gia đình xác chết mặc quần áo sạch mà người chết từng mặc lúc còn sống hoặc trang phục mới.

Kế đến, gia đình “dẫn” người chết đi diễu khắp làng trên xóm dưới để người dân cúng viếng. Người Baruppu tin rằng, mặc dù những người quá cố đã chết hàng trăm năm nhưng linh hồn họ vẫn tồn tại và sẽ phù hộ cho gia đình tránh được những điềm dữ, tai ương, sâu bọ phá hoại mùa màng hay những bất hạnh trong cuộc sống…

Vào ngày thứ hai, dân làng đưa xác chết vào quan tài và đóng nắp, đậy kín mộ. Đến ngày thứ 3, gia đình, dòng họ cùng nhau tổ chức buổi đọc kinh và làm cỗ giỗ để tưởng nhớ người quá cố.

Truyền thuyết của người dân Baruppu kể lại rằng, tập tục Ma’nene ra đời từ xa xưa. Khi đó, một người thợ săn có tên Pong Rumasek đang đi săn thú hoang ở khu rừng Balla thì bất ngờ phát hiện xác chết nằm dưới những gốc cây và chỉ còn lại bộ xương. Cảm thấy thương người xấu số bỏ mạng nơi rừng thiêng nước độc và không được mai táng chu đáo, Pong Rumasek liền cởi chiếc áo của mình rồi mặc cho xác chết. Sau đó, ông đào một cái hố và chôn cất thi thể vô danh.

Sau khi an táng xong, Pong Rumasek tiếp tục cuộc đi săn thú rừng để lấy thịt và bán lấy tiền mua những thứ cần thiết trong gia đình. Kể từ đó, lần nào Pong Rumasek đi săn đều thu hoạch lớn. Thậm chí, ruộng lúa của ông không cần chăm sóc mà vẫn trổ bông chín vàng.

Vì vậy, ông chỉ cần mang dụng cụ ra cắt lúa và chở về nhà. Rumasek tin rằng, những điều may mắn, kỳ lạ đến với mình là nhờ đã mặc quần áo và chôn cất tử tế xác chết vô danh ở trong rừng.

Cũng từ đó, dân làng bắt đầu thực hiện tập tục đào mồ và thay quần áo cho xác chết. Ngoài ra, tập tục Ma’nene còn có một số quy định cấm mà người còn sống phải tuân thủ nghiêm ngặt nếu không sẽ rước họa vào thân.

Cụ thể, nếu người chết là chồng hoặc vợ thì người còn sống chỉ được đi thêm bước nữa (tái hôn)sau 3 năm chịu tang, tức sau khi làm lễ thay quần áo cho người mà mình đã từng chung chăn gối.

Để cử hành tập tục Ma’nene, người dân còn mời pháp sư đến gọi linh hồn và khiến xác chết sống lại. Pháp sư được cho là người có sức mạnh phi thường. Họ có thể làm cho một xác chết nằm yên trong quan tài có thể đi lại khắp xóm làng cũng như xuất hiện trong đám giỗ của chính họ.

Thông qua những lời cầu khấn, bài văn tế... của pháp sư, người thân, con cháu sẽ không bị người quá cố trách phạt vì hành động đào mộ này.

Hiện người dân ở Mamasa, phía Tây Toraja vẫn còn duy trì tập tục này và dĩ nhiên có nhiều pháp sư nổi tiếng đảm nhiệm việc cúng lễ theo nghi thức độc đáo, kỳ lạ trên.

Người Mamasa tin rằng, hồn ma của người quá cố cần phải quay trở về ngôi làng mà họ từng sinh sống để gặp lại người thân, họ hàng. Thêm vào đó, người còn sống sẽ hướng dẫn cho họ phải đi tiếp chặng đường sang thế giới bên kia như thế nào sau khi đã cử hành các nghi lễ ma chay.

Dân làng Mamasa rất sợ những cuộc hành trình dài khi phải tiễn đưa người đã khuất sang thế giới bên kia bởi đường quá xa khiến họ khó có thể trở về làng. Nhưng nếu họ chết và được chôn ở gần làng thì những pháp sư có “nội công thâm hậu” có thể điều khiển âm binh để dẫn đường chỉ lối cho xác chết tự về làng.

Theo niềm tin của người Mamasa, người chết có thể tự đi về nhà cho dù họ được chôn cất ở bất cứ nơi đâu, thậm chí khi chỉ còn là một cái xác khô đã được chôn hàng trăm năm. Họ có thể đứng dậy, tự tìm đường về làng nhờ “thần lực” của pháp sư.

Vì vậy, khoảng cách không gian và thời gian đều không hề ảnh hưởng đến hành trình quay trở về nhà để gặp người thân, họ hàng, hàng xóm của xác chết.

Với phép thuật cao siêu, pháp sư có thể khiến xác chết đang nằm trong quan tài tự đứng dậy và bước đi trong dáng vẻ cứng nhắc giống như người máy kèm theo khuôn mặt vô hồn.

Tuy nhiên, nếu trên đường trở về nhà mà người nhà hay khách qua đường vô tình nhắc đến họ một cách trực tiếp thì xác chết sẽ đổ ụp xuống và không thể đi tiếp.

Vì vậy, khi tiến hành tập tục kỳ quái, đặc biệt này, người nhà của xác chết phải cảnh báo người qua đường không được bàn luận chuyện gì về người đã khuất nếu không sẽ gặp phải tai ương.

Chính vì lẽ đó, thân nhân của người quá cố thường chọn những tuyến đường vắng bóng người qua lại để rước xác chết về nhà một cách bình an mà không gặp phải những “sự cố” ngoài ý muốn.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vươn Ra Biển Lớn (Từ Cậu Bé Chăn Trâu Nghèo Khổ Vươn Lên Thành Đại-Gia Toàn Cầu).


Chân-dung tác-giả Hồ-Văn-Trung trên bìa sách "Gian Truân Chỉ Là Thử Thách"

Giới-thiệu về nhà văn Lệ-Hằng:
Lệ-Hằng là một trong những nhà văn nữ tên tuổi ở Saigon trước năm 1975; chị hiện định-cư tại Sydney (Úc-Châu).   Sáng tác từ năm 1967,  với nhiều tác-phẩm  nổi tiếng như: Thung Lũng Tình Yêu, Tóc Mây, Bản Tango Cuối Cùng, Ngựa Hồng, Mắt Tím, Tình Yêu Như Băng Sơn, Sóc Nâu, Kinh Tình Yêu, Chết Cho Tình Yêu... 
Sau 1975 còn kẹt lại ở Việt-Nam; chị vẫn tiếp-tục cho ra đời những tác-phẩm: Hạnh Phúc Quanh Ðây (truyện phim, Sài Gòn1981), Bình Nguyên Xanh (truyện phim, Sàigòn1982). 
Năm 1989, qua Úc định-cư.  Lệ-Hằng cho xuất-bản trên toàn cầu các truyện: Sa-Tăng Dịu-Dàng (1992), Nghề Làm Vua (truyện dài 1992), Năm 2100, Bên Kia Là Núi, Nói Thầm Với Ðá (1998).
Hiện nhà văn Lệ-Hằng vẫn đang cộng-tác với một số tờ báo Việt ngữ nổi tiếng ở Sydney; đôi khi lấy bút hiệu là Cát-Mi (tên cô con út xinh đẹp của chị).
Bài viết dưới đây nói lên tâm lòng của nhà văn Lệ-Hằng sau khi đọc xong tác-phẩm “Gian Truân Chỉ Là Thử Thách” của tác-giả Hồ-Văn-Trung.


M.C Trần-Quốc-Bảo giới-thiệu nhà văn Lệ-Hằng đến từ Sydney (Úc Châu) nói về tác-giả và tác-phẩm "Gian Truân Chỉ Là Thử Thách"

Huế -  Cậu bé không có giấy khai sinh.
Đó là những ngày đất nước chìm trong khói lửa, thời của hỗn loạn và nhiễu nhương, trừ một số đầu nậu hưởng lợi lộc vinh quang từ bom đạn và xác lính, còn lại đất và người đều quằn quại trong đổ nát hoang tàn. Có một người mẹ đang trong cơn đau xé thịt, định mệnh tàn độc trên muôn vàn ác nghiệp mấy ngày hôm trước đã giáng đòn sét đánh, chồng bà đi theo Việt Minh qua đời vì bệnh lao ở một cánh rừng, quan tài mang về nhà chồng đúng vào ngày bà sinh con ở một góc vườn. Cậu bé cất tiếng khóc chào đời trong một túp lều, không có bác sĩ, không có nữ hộ sinh ngoài bà mụ tên Chồn ở gần nhà đỡ đẻ cho bà.
Trong cơn đau tột cùng của kiếp người, trong tối xầm của tuyệt vọng,  ý niệm đặt tên cho con trai không hề có trong đầu người mẹ khốn khổ này. Vậy là, ngay từ lúc sanh ra cho mãi tới sau này, cậu bé không hề được ghi tên vào sổ bộ của làng La Khê, xã Hương Vinh, huyện Hương Trà.
Cậu lớn lên với mẹ và chị trong túp lều không thể gọi là một căn nhà, dù là nhà tranh vách đất. Cậu bé mới 4 tuổi đã phải  mò cua bắt cá, mót lúa, mót khoai, đẩy xe đất, chăn trâu mướn cho người ta, cậu xứng danh là vô địch nghèo mạt, là bậc thầy của bỉ cực gian nan, là quán quân hàng đầu trên muôn triệu những đứa trẻ nghèo khổ của thế gian này.
Mẹ cậu không có chồng, không có cha mẹ, cũng không có anh em, để những khi tấm thân khô gầy của bà bị đời đè nghiến xuống bà có thể rên lên nửa lời than oán với người thân.  Bà hoàn toàn trơ trọi, trừ một túp lều dựng trên mảnh đất nhỏ xíu của bà nội. Chồng của bà cuồng nhiệt vì lý tưởng, mải mê yêu nước, lấy vợ, sinh con, nhưng không tậu cho vợ được mảnh vườn nào.
Không ruộng, không vườn, cả đời bà nhọc nhằn bán thân cho đất, bán mạng cho trời cũng không mua nổi chăn nệm cho con, trừ một cái ‘giường’ nệm rơm và mền bao bố.
Nghề kiếm sống cơ cực hết mực của bà, thiên hạ gọi là làm mướn, có một thời gian dài  bà phải đi ở đợ chỉ vì bị chủ nhà phỉnh gạt - nếu chịu ở đợ sẽ giúp con trai bà thi đậu vào đệ thất trường công.
Vậy nhưng có một điều phi thường lạ và phi thường rạng ngời đã rực lên như đốm lửa trong đôi mắt của cậu bé. Lạ lùng hơn cái mà thế nhân vẫn gọi là mầu nhiệm, cậu bé con nhà nghèo này, nghèo tới độ mẹ cậu không có được cái dàn mùng tơi để được gọi là ‘nghèo rớt mùng tơi’ theo đúng nghĩa đen bầm, đen dập của bốn từ này, vậy nhưng niềm khát khao được đi học lại vô cùng mãnh liệt trong trái tim của cậu bé, nó bắt cậu thèm có bạn  học, khát khao có thầy cô hơn bất cứ đứa nhỏ nào trên hành tinh này.
Cho nên, cú đánh chí tử đầu tiên trong đời, chính là ngày cậu hớn hở theo mẹ tới trường tiểu học Hương Vinh. Cậu tưởng mình đang bay lên cao vì được đi học như mọi đứa nhỏ khác, nhưng các thầy cô đã đồng loạt lắc đầu không cho cậu vào lớp, vì cậu  không hề có giấy khai sinh.
Cú đánh chí mạng này làm đầu óc của cậu quay mòng mòng, cả trời, cả đất tối xầm lại, kiểu như cậu đang cưỡi cả thế giới trên tầng mây bỗng nhiên có một cơn gió lốc thổi bay xuống đất.
Đến tận lúc đó, cậu mới biết mình không có tên họ. Cậu vừa ngơ ngác vừa hoảng sợ, niềm khao khát được đi học của cậu tan ra từng mảnh. Cậu ngồi khóc, mẹ cậu run rẩy van nài thầy cô cho con bà vào lớp, nhưng hoài công, không có giấy khai sanh, cầm bằng như cậu bé không có mặt trên đời này. Mẹ đành lôi cậu về, nhưng cậu nhất định không chịu, cậu không thể rời bỏ ngôi trường trong mộng của cậu được.
Bất ngờ một ‘ông bụt’ xuất hiện trên đường làng, phương danh của ông là Trần Tiễn Hi,  thấy cậu bé khóc ròng, níu tay mẹ, chân không chịu bước. Vốn là một nhân sĩ trong vùng, ông hỏi, tại sao cháu khóc. Mẹ kể, con trai bà không có giấy khai sinh nên không được đi học. Ông hỏi, tên gì, bao nhiêu tuổi, ba đâu. Cậu không thể trả lời, mẹ của cậu cũng ngẩn người ra, bởi vì bà chỉ biết trong nhà, ngoài ngõ, bà con chòm xóm vẫn gọi con trai bà là Lọ.
Là một hiền nhân, ông chẳng cần nhiều lời, ông dắt hai mẹ con đi làm giấy khai sinh. Ông hỏi bà muốn đặt tên chi cho con, mẹ cậu càng quính quíu hơn, bà vật nài ông đặt tên và chọn luôn ngày sanh cho con của bà. Vậy là nhờ ông bụt Tiễn Hi, từ nay cậu có tên, có tuổi hẳn hòi trên giấy khai sanh, thế là cậu hiên ngang bước vào lớp học như mọi đứa trẻ khác trong làng.
Mẹ của cậu nghèo nhất làng, bà nuôi con vất vả đến mức không còn hơi sức và thời gian để than van, nhưng cậu học rất giỏi, năm nào cũng lãnh thưởng và được học bổng, bởi vì cậu tin như đóng đinh trong đầu, cậu mồ côi cha, mẹ chuyên nghề làm mướn, cậu được đến trường là điều vô cùng thiêng liêng, như ân phước ban xuống từ trời, qua nụ cười hiền từ của ông bụt nói tiếng Huế tên là Thị Hi, người đã thương tình đặt tên Hồ Văn Trung và chọn luôn ngày sanh tháng đẻ cho cậu bé.

Tác-Giả Hồ-Văn-Trung trong tiệc tri-ân bạn hữu tại Emerald Bay Restaurant, Santa Ana.  California.

(Trích: Gian Truân Chỉ Là Thử Thách): “... Mẹ không có tiền mua áo mưa nên tôi phải làm bạn với áo tơi để tránh mưa, phòng bệnh và bảo vệ những bộ quần áo ít ỏi của mình, Ngày ấy phải chắt chiu lắm mẹ mới sắm được cho tôi một bộ quần áo chỉnh tề để đi học vậy nên việc mua áo mưa là quá xa xỉ.
Vì chỉ có đúng một bộ quần áo đi học nên nếu chẳng may bị ướt, tôi phải ngồi học với bộ đồ ấy thế nào cũng mang bệnh vào thân. Vậy nên tôi rất quý chiếc áo tơi, vật bảo vệ bộ quần áo học trò qúi giá của tôi.
Bậc tiểu học tôi học trường làng. Vì dân làng đa số nghèo như nhau nên lũ trẻ mặc áo tơi đi học là việc bình thường.
... Có  hôm, nhìn ra sân trường tôi thấy quá trời ‘áo tơi di động’ vội vã vào lớp. Cuộc sống thật bình dị! Những đứa trẻ mặc áo tơi như những cánh chim bay giữa bão táp, có lúc tưởng chừng như sắp gãy cánh nhưng chúng vẫn vững vàng vì đã có đích đến là lớp học. Cũng có trường hợp học sinh đến lớp thì ngất xỉu, nhưng rất hiếm, vì trẻ em quê nghèo thường có sức chống chọi rất cao do đã quen vất vả và thời tiết khắc nghiệt.
... Cảm giác bình dị thân thương với chiếc áo tơi không còn tồn tại khi tôi lên thành phố học trung học. Ngược lại, nó còn khiến tôi bao phen dở khóc dở cười, bởi trong mắt người thành phố, nó là một vật thể lạ. Tôi cũng bắt đầu lớn rồi, nên cảm thấy ngượng ngùng vô cùng mỗi khi mặc nó. Bạn đọc cứ hình dung, mỗi lần trời mưa, tôi đi giữa trung tâm thành phố với chiếc áo tơi trên mình và nhận được vô số ánh mắt hiếu kỳ của người xung quanh. Người ta thì quần là, áo lụa che chắn cẩn thận trong chiếc áo mưa đẹp đẽ, còn tôi ăn mặc chẳng khác nào người hành tinh. Họ còn thích chí vỗ tay cười cợt mỗi khi thấy tôi xoay cái áo qua lại để tránh mưa. Tôi chỉ biết lầm lũi cắm mặt đi trong sự chế diễu, lòng tràn ngập nỗi tủi thân kinh khủng.
Sự tự ti trong tôi càng nhiều hơn khi học trò nghèo chỉ là thiểu sổ ở cấp trung học. Lần đầu tiên bước vào lớp với chiếc áo tơi trên người, mọi ánh mắt trong lớp dồn vào tôi, kể cả thầy giáo. Có người nhìn thương hại, có người thấy bình thường vì họ giống tôi, có người sẵn sàng chế diễu, cười nhạo tôi. Tôi thấy hơi ngượng, cúi đầu đi vào lớp.
Vào lớp rồi thì một vấn đề nảy sinh là tôi không biết phải để áo tơi ở đâu! Lớp học đã chật chội lắm rồi, mà chiếc áo tơi lại không nhỏ chút nào. Thầy giáo rất thương tôi, nên đã đến bên, cầm lấy chiếc áo và bảo sẽ cất cho tôi. Rồi thầy treo nó ngay sau lưng ghế của thầy, khiến tôi càng ngượng ngùng, sượng chín mặt.
Lớp học ngày xưa cũng giống thời nay: bàn của giáo viên được xếp ở phía trên, bên dưới là bàn ghế học sinh. Thế nên chiếc áo tơi ở sau lưng ghế thầy thu hút bao con mắt trong lớp. Tôi không biết chui vào đâu để trốn những ánh mắt ấy. Nhìn chiếc áo tơi ướt nhẹp, còn rơi rớt mấy lá dừa, tôi vừa buồn tủi, vừa quê. Dù gì, tôi cũng còn là đứa trẻ mà.
Lúc đó, tôi bắt đầu ý thức hơn về cái sự nghèo xơ nghèo xác của mình, sự xa cách giữa tôi và bạn bè. Thật  ra, từ nhỏ tôi đã ý thức được mình nghèo, nhưng khi sống với những thân phận cùng cảnh ngộ, tôi cảm thấy điều ấy không là gì, thậm chí hạnh phúc, bởi ai cũng giống ai, chẳng có nhiều sự khác biệt. Dù trong vùng vẫn có những gia đình giầu có nhưng rõ ràng người nghèo quanh tôi vẫn nhiều hơn. Nhưng khi bước vào cấp trung học, sự chênh lệch giàu-nghèo quá lớn đã khiến tôi thật sự bị sốc và tự ti tột độ.
Tôi vẫn không quên được cảm giác của ngày đầu vào trung học, thứ cảm giác có thể đánh gục con người khiến họ co rút lại, không dám nhìn lên để tiến về phía trước. Có quá nhiều thứ mới mẻ hiện ra trong tôi. những thứ mà ngay cả trong mơ tôi cũng chưa bao giờ thấy. Chúng thật lạ mắt, thật đáng để thèm thuồng biết bao.
Ngày ngày tôi đến trường, và lướt qua những thứ xa xỉ đang hiện diện trước mắt. Cảm giác thua sút thèm khát, thậm chí ghen tị với đám bạn bè nhà giàu vào ngày ấy vẫn còn đậm nét trong tôi - ngay cả khi tôi đang viết những dòng này.” (Ngưng trích: Gian Truân Chỉ Là Thử Thách).

Một ân-nhân của tác-giả Hồ-Văn-Trung: anh Phan-Văn-Thắng; cựu Trung-Tá Tham Mưu Trưởng Lữ-Đoàn 147 Thủy-Quân-Lục-Chiến VNCH.

Sài Gòn - Cú Ngất Xỉu Vì Đói
May mắn quá chừng, cuốn tự truyện mang tên “Gian Truân Chỉ Là Thử Thách” mà tôi đang đọc không có những vị đội mão anh hùng, cũng không có những ông bà quỉ biện, miệng mồm trơn mỡ, chỉ có những  thanh niên bước vào phòng thi, mặt mày tái ngắt như lên đoạn đầu đài, sợ thi rớt sẽ bị bắt lính, bị tống ra mặt trận làm bia đỡ đạn.
(Trích: GTCLTT): “... Vào thời đó người ta hay hát câu:  ‘Anh rớt tú tài anh đi trung sĩ, em ở nhà lấy Mỹ nuôi con’ để khẳng định tầm quan trọng của kỳ thi tú tài. Có hai kỳ thi hết sức quan trọng là tú tài bán và tú tài toàn. Muốn tham gia thi tú tài toàn, thí sinh phải vượt qua kỳ thi tú tài bán. Vì vậy mà kỳ thi tú tài bán là bước ngoặc hết sức quan trọng trong cuộc đời mỗi học trò.
Không giống kỳ thi đệ thất, nếu rớt thì có thể vào các trường tư thục, ở kỳ thi tú tài bán nếu không đậu, học trò phải đi lính với cấp bậc trung sĩ đúng như câu hát trên.
.... Do nhu cầu phục vụ cho chiến tranh mà số lượng học trò được tuyển chọn để học tiếp vào đệ nhất  phải giảm đến mức thấp nhất. Trong kỳ thi tú tài bán ngày đó, thường chỉ khoảng 20% thí sinh có điểm cao nhất của toàn tỉnh, toàn quốc được chọn tiếp tục học lên đệ nhất…” (Ngưng trích: GTCLTT).
Thánh thần ơi, trên cõi đời này, có gầm trời nào giám khảo được lệnh trên, cố tình bóp nghẹt hy vọng, cố tình đánh rớt hàng triệu thí sinh như ở Việt Nam không? Thật đáng tởm cho cái trò hiểm độc này, đẩy 80 % thí sinh đang tán đởm kinh hồn vì thi rớt vào tử địa.
Lẽ đương nhiên, cậu học trò Hồ Văn Trung luôn luôn thi đậu, nhưng bạn bè của cậu thì rớt như sung rụng.   Cậu ghi danh vào đại học khoa học Huế, nhưng Sài gòn mới là nơi chứa đựng bao thứ tươi đẹp mà một người trẻ tuổi như Hồ Văn Trung luôn khao khát đặt chân đến. Học xong năm thứ nhất ở Huế, cậu chọn Sài gòn để tiến thân, với hy vọng vừa học vừa đi làm gia sư để làm kế sinh nhai.

Chị và anh Lưu-Ngọc; cựu Sĩ-Quan Cảnh-Sát VNCH; anh họ và là ân-nhân của tác-giả Hồ-Văn-Trung.

(Trích: GTCLTT): “... Ngày nào cũng ‘rập khuôn’ như vậy, tiền cứ vơi bớt từng ngày, dù tôi đã cố gắng tiết kiệm ăn uống tằn tiện lắm. Khi chỉ còn đủ tiền để ăn hai bữa cơm nữa, tôi rất lo lắng nhưng không thể hỏi gia chủ để lãnh lương trước, cũng chẳng có ai để mượn tiền xài tạm.
...Lo lắng tính toán mãi thì cái giây phút không một xu dính túi đúng nghĩa cũng đã đến. Tôi không còn thứ gì đáng giá trong người để cứu đói cho bản thân. Giờ cơm tới, tôi nghe được tiếng cái bụng rên la thảm thiết. Có mùi thơm thức ăn dậy lên từ những quán ăn quanh đây.
... Một ngày, rồi hai ngày trôi qua như thế, tôi chỉ uống nước lạnh để cầm cự. Càng lúc càng thấy trời đất quay cuồng. Vậy mà thời điểm lãnh lương vẫn còn xa quá.
... Chưa bao giờ tôi phải trải qua cơn đói lên đến tột đỉnh như vậy, đã mấy ngày rồi mà bụng tôi chỉ toàn nước lạnh. Nếu theo đúng quy luật tự nhiên tôi sắp chết rồi, chết đói. Bây giờ tôi mới thấm thía đâu là tận cùng của cơn bỉ cực, tận cùng của sự sống. Tôi thấy mình thật sự mong manh, không dám chắc chắn điều gì, cũng không dám nghĩ về tương lai. Lúc này trước mắt tôi bắt đầu nổi nhiều đom đóm. Tôi không còn tỉnh táo nữa. Tôi biết thế nào là đói thật sự, đói đúng nghĩa không có gì để ăn.
... Những ngày ở Huế, dù nghèo khổ đến cỡ nào, hai mẹ con vẫn có thứ gì đó để ăn, hết gạo thì có khoai sắn lót lòng qua bữa, hay nhờ rau củ, bắp ngô để ấm bụng. Có bữa đói, bữa no nhưng chưa bao giờ rơi vào tình cảnh không có thứ gì cho vào bụng như lúc này. Tôi đang ở Sài Gòn, cách Huế gần một ngày đi tàu, không quen biết ai, không một xu tính túi, ngủ nhờ vào tình thương của những người xa lạ, biết phải làm sao?
Cuối cùng tôi cũng đến được cầu chữ Y, nhà của hai đứa học trò đang ở trước  mặt.
... Sự thật là khoảng thời gian tôi dành để đi được đến đây gấp mấy lần những ngày trước. Tôi mệt mỏi bước vào phòng học để chuẩn bị bài vở, lúc này hai em đã có mặt như thường lệ. Mặt tôi bơ phờ, tay chân run rẩy; toàn thân cạn kiệt năng lượng, thừ ra như một cái thây chết. Biết tình hình không ổn, nhưng tôi vẫn gắng gượng đứng dậy cầm phấn và viết lên bảng. Nhưng tôi đã chạm đến giới hạn cuối cùng của sự cố gắng rồi. Không thể nào tiếp tục nữa. Đầu óc tôi tôi xầm lại, mọi thứ nhòa đi, đom đóm bắt đầu nhảy múa trước mắt tôi. Tôi bắt đầu mất hiểm soát, không còn hay biết trời đất. Ba ngày lả ruột không có gì để ăn, kể cả những thứ khoai sắn bình thường, chỉ có duy nhất nước đang chảy trong ruột tôi... Tôi lịm đi, ngất xỉu! Tôi ngã quỵ ngay trên nền nhà trước ánh mắt ngỡ ngàng của hai đứa học trò, vì đói chứ không phải thiếu ăn, đói theo đúng nghĩa không có thứ gì để ăn. Tôi đã bị cơn đói đánh gục và đầu hàng trước nó rồi.
Hai học trò la lên, các phụ huynh vội vã chạy tới đỡ tôi lên, lau mồ hôi, cho tôi uống nước. Ly nước cam có đường đã tiếp cho tôi chút xíu năng lượng. Tôi tỉnh lại nhưng người vẫn còn run, mọi thứ xung quanh vẫn mờ mờ ảo ảo vì cơ thể vẫn còn yếu lắm.
Chủ nhà rất lo lắng cho tôi và đương nhiên, họ còn lo lắng cho gia đình họ nhiều hơn. Nếu lỡ tôi có bề gì ngay trong nhà họ thì họ sẽ phiền phức lắm. Nhìn thái độ và gương mặt của họ, tôi có thể hiểu được điều đó. Họ đang rất sợ, hai đứa học trò lại càng sợ hơn.
Chủ nhà vội vàng trả lương cho tôi, kèm theo câu  nói: ‘Thầy đang bị bệnh. Thầy lãnh lương trước ra ngoài mua thuốc uống! Khi nào khỏe thì trở lại’ Họ không thể hiện sự xua đuổi nhưng có ý muốn thúc dục tôi phải nhanh lên. Tôi cầm tiền, cảm ơn rồi bước đi. Thật sự tôi thấy rất nhẹ nhàng, thậm chí vui mừng vì cuối cùng thì cũng đã có tiền mua thức ăn lót dạ. Việc khó khăn nhất cũng đã được giải quyết. Tôi ra khỏi nhà chưa đầy 50 mét thì ghé ngay vào một quán cơm với niềm vui sướng tột độ. Ngồi chờ dĩa cơm mà lòng tôi vui sướng khôn tả, tôi vui muốn phát khóc vì mình đã hết đói, những ngày tiếp theo sẽ có tiền để ăn và sống tiếp, để đeo đuổi con đường thênh thang phía trước. Tôi đã có một bữa ăn ngon và có lẽ đó là bữa ăn ngon nhất trong cuộc đời. Một bữa ăn thật sự sau ba ngày đói. Thật là một ký ức hãi hùng đáng nhớ!” (Ngưng trích: GTCLTT). 

Các ca-nhạc-sĩ Thiện-Nguyện-Viên: Thanh-Hằng, Ngọc-Diệp, M.C Trần-Quốc-Bảo, Ti-Vi-Chi-Bảo Phương-Hồng-Quế, Tác-Giả Hồ-Văn-Trung, Thái-Nguyên, Diamond Bích-Ngọc và Thùy-Liêm.

Sau cơn đói hãi hùng này, ông bụt thứ hai xuất hiện. Nhờ lá thư mẹ nhờ người quen viết dùm gửi vào, Hồ Văn Trung trở thành gia sư trong gia đình trung tá  Phan Văn Thắng, tham mưu trưởng Lữ Đoàn  147 thủy quân lục chiến và được vị trung tá tốt bụng này coi như người em trong gia đình.
(Trích: GTCLTT): “... Khu vực Thủ Đức có trung tâm Sóng Thần, nơi đóng quân của thủy quân lục chiến nên ảnh hưởng của anh chị Thắng rất lớn. Dân cư ở khu vực đó ai cũng đinh ninh rằng tôi là em trong gia đình quyền thế, vì vậy mà họ nhìn tôi như người có địa vị cao trong xã hội - cái nhìn ấy khác xa rất nhiều những cái nhìn dành cho thằng bé nghèo rách nát thiếu ăn ngày xưa, từng mang áo tơi đi học. Thật sự có nhiều suy nghĩ về giai cấp, về địa vị, về quyền lực lẩn quẩn trong đầu tôi.
... Khoảng thời gian 1971 -1972 chiến sự diễn ra rất khốc liệt, hai bên Nam Bắc giành giật nhau để chiếm lấy ưu thế trên bàn đàm phán Paris. Sinh viên xuống đường, báo chí xuống đường, đòi hỏi tự do báo chí, đòi hỏi dân chủ, chống liên danh độc diễn. Hồ Văn Trung nhờ uy tín của trung tá Thắng và trung tâm Sóng Thần trở thành  thầy giáo trẻ ở Thủ Đức, có tiền mướn nhà và có tiền gửi  về cho mẹ.
Lúc đó Phong Trào Tân Dân là tổ chức được tách ra bởi những thành viên lãnh đạo của Việt Nam Quốc Dân Đảng để thích hợp với tình hình chính trị vào giai đoạn đó. Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt  vào những năm 1973 -1974. Những trận đánh lớn thăm dò ở Bình Long, Phước Tuy làm rung chuyển Sài  Gòn. Tình hình chính trị càng ngày càng hỗn loạn. Những tin đồn đảo chánh liên tiếp được tung ra. Các thành phần đối lập liên kết chặt chẽ hơn để yêu cầu Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Các dân biểu, nghị sĩ, báo chí, trí thức, Công giáo, Phật giáo đồng loạt lên tiếng.
Đại học xá Minh Mạng lúc bấy giờ là nơi đầu não của những cuộc xuống đường, quy tụ những anh hùng hào kiệt tứ phương; nơi những  anh em vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi tá túc  hoạt động cho Việt cộng, nơi những cuộc bố ráp của cảnh sát diễn ra thường xuyên... Tôi đã ở trong môi trường đó, đã có dịp so sánh giữa hai giai cấp: giai cấp giàu có mà tôi đang được anh chị Thắng chia sẻ và giai cấp nghèo khổ của sinh viên từ tỉnh lẻ về Sài gòn học...” (Ngưng trích: GTCLTT).

Từ trái: Anh Nguyễn-Hoàng-Diệu, Nguyễn-Hoàng-Dương và vợ chồng giáo-sư Lê-Đào-Duyến; một người bạn tri-kỷ của tác-giả Hồ-Văn-Trung.

Nhưng mà thôi đi, vạn lần thôi đi, đọc những đoạn văn của cuốn tự truyện đụng vào phe này đảng nọ tôi rất ngại ngùng. Chỉ biết một điều Hồ Văn Trung đã bị bắt, bị nhốt vào sà lim trong những ngày cực kỳ khẩn trương và sôi sục vì tội tham gia đảo chánh.
(Trích: GTCLTT): “... Đó là buổi sáng ngày 30 - 4 - 1975 khoảng 10 giờ sáng, tôi nghe tiếng súng càng lúc dày và gần hơn, tưởng như sát bên tai tôi vậy. Rồi có tiếng chân người chạy lạo xạo bên ngoài xà lim. (Ngưng trích:GTCLTT).
Sau đó anh được thả tự do, trên người chỉ còn độc cái quần đùi ngắn ngủi vì chiếc áo tù đã bị xé rách làm khăn lau mồ hồi. Không một giấy tờ tùy thân, không một cắc bạc, không một người thân ngoại trừ anh chị Thắng ở Thủ Đức, bây giờ đã thành kẻ chiến bại.
Với những diễn tiến ngày càng hiện rõ, việc thành lập chính phủ liên hiệp theo như lời hứa của Đại sứ Pháp và Mặt trận Giải Phóng Miền Nam không còn giá trị nữa. Sau những chuyến đi miền Trung, miền Tây sau những buổi gặp gỡ với những anh em xa gần trong giới chính trị miền Nam, sau bao nguồn tin thu thập được, kế hoạch vượt biên bắt đầu được phác họa.
(Trích: GTCLTT): “...Đúng như những gì chúng tôi tự suy luận, dự đoán; những người gần gũi thân cận trong phong trào Tân Dân hay Quốc Dân Đảng liên tục bị bắt từ người này tới người khác. Cuối cùng đến lượt tôi, khoảng tháng 10 năm 1975 tôi bị bắt đưa về Sở Công An thành phố (trước là Tổng Nha Cảnh Sát) với tội danh  ‘tình nghi làm gián điệp’ Mấy tháng trước, tôi còn ở nơi đó (vì tội tham gia đảo chánh)  rồi được ‘các đồng chí biệt động thành’ giải thoát. Vậy mà giờ đây, không hề mong muốn, tôi lại về chốn cũ.
... Ngày mỗi ngày, khi đã thích nghi với nhà tù, tinh thần chúng tôi càng thêm sắt đá. Những tù nhân dần dần trở thành bạn thân. Ngày ngày chúng tôi biến nhà tù nhàm chán, ứ đọng thành môi trường học tập, thành thế giới thu nhỏ với bao điều mới lạ. Chúng tôi trao đổi với nhau những kiến thức, những hiểu biết, nâng cao vốn ngoại ngữ với sự giúp đỡ của các tù nhân là giáo sư Anh văn, Pháp văn.” (Ngưng trích: GTCLTT).
Vậy là Hồ Văn Trung bị tù dưới chế độ mới gần 5 năm, từ 1975 tới 1979, ra tù anh tiếp tục tìm đường ra đi rồi bị bắt lần thứ ba. Quá chừng thảm thương, một thanh niên 28 tuổi chưa vợ, chưa con, cả hai chế độ đều bị cầm tù.
(Trích: GTCLTT): “... Lần thứ ba ở tù, mỗi  ngày vẫn trôi qua bình thường, tù nhân vẫn kẻ đến người đi, tôi cứ lặng lẽ với những suy tính riêng để chọn thời điểm thích hợp nhất cho cuộc trốn chạy hứa hẹn đầy cam go. Thời gian này, một ngày trôi qua trở nên nặng nề hơn. Tim tôi có lúc như ngừng đập vì lo lắng, đầu có lúc như bị búa giáng bởi nặng trịch suy nghĩ, toan tính. Những hậu quả nếu trốn trại không thành, hoàn toàn có thể lường trước: thân thể sẽ bầm nát bởi những trận đòn, bị biệt giam lâu hơn - thậm chí vĩnh viễn, tệ hại nhất là không giữ nổi mạng.” (Ngưng trích: GTCLTT).
Trời thương, cuộc trốn trại thành công, thoát nạn tù đày, anh lại kiên gan bền chí tiếp tục tìm đường ra đi. Trong cuộc hành trình đầy bất trắc hung hiểm lừa gạt, anh gặp một tiểu thư xinh đẹp con nhà giàu cũng đang lặn lội tìm đường vượt biên như anh. Duyên phận đưa đẩy cô trở thành người bạn đời của anh.

 Cựu giáo-sư Trần-Văn-Ân chào mừng tác-giả Hồ-Văn-Trung từ Sydney (Úc Châu) đến California, Hoa-Kỳ.

Sydney -  Không Buôn Hận Thù Không Bán Máu Xương
Sau bao ngày gian nan nếm đủ mùi khổ ải, sóng gió, hải tặc, hai vợ chồng trẻ đặt chân lên bến bờ tự do. Định cư ở Sydney, vợ rửa chén cho nhà hàng, chồng vừa đi học vừa nuôi con. Bị gạt tiền bị thất bại không biết bao nhiêu lần, nhưng bằng niềm tin sắt đá vào tình yêu của nhau, hai vợ chồng vẫn kiên trì đi tới, mở nhà hàng ở Wollongong rồi mở đường tiến vào các siêu thị hàng đầu của Úc.
Từ đất nước nhiều ơn phước, từ quán ăn, từ những đồng đô la khiêm tốn người vợ hiền mang về. Chỉ trong vòng có 10 năm, Hồ Văn Trung năm nào trốn nhui trốn nhủi ở bến xe, ở ruộng muối để tìm đường vượt biên bắt đầu cuộc đổi đời.

Nhà văn Huy-Phương nói cảm-tưởng quý mến cậu bé Lọ chăn trâu (nhân vật chính trong sách Gian Truân Chỉ Là Thử Thách; người cùng quê-hương xứ Huế).

(Trích: GTCLTT): “... Vào những năm 90 của thế kỷ 20, Thái Lan được ví như ‘nhà bếp của thế giới’ Hầu như các mặt hàng thực phẩm đang bán trên thị trường thế giới đều xuất phát từ Thái Lan bởi giai đoạn này Việt Nam và Trung Quốc còn yếu kém trong việc phát triển sản phẩm, hiểu biết về máy móc và công nghệ chế biến. Tôi chọn Thái Lan là quốc gia đầu tiên để nhân rộng sản xuất và bắt đầu đi Thái Lan để mở đường cho việc phát triển sản phẩm của công ty. 
... Tôi bắt đầu triển khai mạng lưới phân phối ở những quốc gia đang thiếu thực phẩm. Tôi chọn châu Phi là nơi để cung ứng hàng hoá vì nơi đó mọi thứ thực phẩm đều cần thiết. Thành phố Johannesburg của Nam Phi là nơi tôi đặt bản doanh để xâm lấn và khai phá thi trường châu Phi, công ty Trangs Groupe Africa được thành lập!
Nhưng mọi chuyện không thuận buồm xuôi gió cho lắm vì tôi đã xử dụng không đúng người. Người giám đốc tôi gửi qua tên là Aslet có máu cờ bạc nên tất cả tiền đầu tư ban đầu bị anh ta nướng hết vào các sòng bạc.
... Cuối cùng chúng tôi quyết định rút lui khỏi thị trường Phi châu, sau hai năm bám trụ với thất bại khá lớn về mặt tài chính.
Rời châu Phi tôi tiếp tục hành trình xây dựng công ty toàn cầu. Tôi chọn Pháp là quốc gia đại diện cho khối châu Âu vì vị trí thuận lợi cho việc phân phối khắp khu vực. Tôi dừng chân ở Pháp và bổ nhiệm anh bạn Vincent làm giám đốc. Công ty Trangs Group Europe được thành lập với đội ngũ dân bản xứ Pháp.
Vì vốn liếng tiếng Pháp có hạn, để khắc phục trở ngại ngôn ngữ tôi đã trở lại Pháp để học thêm tiếng Pháp vào tuổi đã hơn ngũ tuần. Hằng ngày tôi cắp sách tới trường như thời sinh viên, thời gian còn lại thì hướng dẫn và huấn luyện  cho đội ngũ lãnh đạo và nhân viên về sản phẩm và cách khai phá thị trường.” (Ngưng trích: GTCLTT).

Nhạc-sĩ Thái-Nguyên nói về công ơn những bà Mẹ Việt-Nam cao quý qua đôi gánh quê-hương; tần tảo nuôi con khôn lớn, thành tài.

Hiện nay Trangs group đã có mặt khắp nơi: Thái Lan, Japan, Trung Quốc, Africa, UK, Pháp, Đức, Hà Lan và USA với những  bước đi vững chắc và trên cơ sở có nền  tảng.
Ai cầm được nước mắt khi đọc những hàng chữ in đều tăm tắp chạy trên mặt giấy, ai cảm thấy như chữ vẫn  đang còn thở và đang run lên theo từng nhịp đập của trái tim người viết?! Và ai đó đủ sức để khen ngợi tài năng của tác giả.  Xin để người đọc nhất là những bạn trẻ sẽ đọc và sẽ làm việc này. Phần tôi  trong thinh lặng bồi hồi, tôi chỉ có thể cho phép mình thì thầm với cậu bé Lọ lòng thành của tôi về  một cậu bé sinh ra không có khai sinh, suýt nữa sẽ không bao giờ được đi học, sẽ bị bắt lính nếu học không giỏi, sẽ trở về với mẹ trên cây nạng gỗ.
Tôi không thể và không dám bàn bạc khen chê cuốn tự truyện này, viết về tác giả tôi càng không dám, vì anh đã có tất cả những gì anh muốn có, đó là sự can trường, sự trung tín của anh với bản thân anh, và với những gì anh viết ra.
Từ lâu  lắm rồi, tôi đã biết rõ tôi không thể hối lộ thần thánh, càng không thể hối lộ Thượng Đế như các con chiên ngoan đạo. Nhưng hôm nay tôi xin một lòng thành khẩn  hối lộ và van nài các bà mẹ đang hàng ngày đưa đón con đi học thêm ở các trung tâm dạy kèm, các người cha đang cày trong hãng xưởng để nuôi con ăn học, các bà mẹ có con đang ở tù vì ma túy, xin quí vị nể tình hãy đọc cuốn tự truyện “Gian Truân Chỉ Là Thử Thách” này cho con của quí vị nghe, để nhận ra nếu các em không ham học, hay chưa ham học là vô cùng uổng phí và oan uổng cho các em.
Nước Úc, Mỹ, Php, Anh quốc… Không để một cậu bé nào phải mặc áo tơi lá đi học, lại càng không để một sinh viên nào ngất sỉu vì đói, xin các bà mẹ, xin các ông bố hãy tặng cho con quí vị cuốn tự truyện “Gian Truân Chỉ Là Thử Thách” – (Sẽ cĩ ấn hnh phin bản Anh Ngữ vo giữa năm 2014). Bởi tôi nghĩ chỉ có những người tự tin và can đảm đến tột cùng tâm can mới dám viết những lời thật thà làm người ta chảy nước mắt như thế này.

Gần 100 khách mời lần-lượt đến nhận sách tang có chữ ký của tác-giả Hồ-Văn Trung.

Tôi cũng chưa từng thấy ai khát khao mãnh liệt để được đi học câu bé Lọ, tôi cũng chưa từng thấy ai khổ cực gian nan hết thời này tới thời khác như anh, vậy mà một cậu bé Lọ, hơn năm mươi năm trước từng chết điếng sợ mình mù chữ, ngày hôm nay viết “Gian Truân Chỉ Là Thử Thách”, thời gian tới đây sẽ là cuốn “Thế Mạnh Của Việt Nam” và năm  2015 anh Hồ Văn Trung sẽ ra mắt cuốn “Làm Thế Nào Để Đột Phá Thị Trường Thế Giới”…
Thời đại hôm nay, có hằng hà sa số tiểu thuyết, có vô số hồi ký của những người mà phương danh và địa vị của họ mới nghe thôi đã rợn người. Những cuốn hồi ký đó, lổn ngổn san hô và đầy xương hóa thạch. Chỉ cần đọc vài trang đầu và ba hồi cuối, đóng sách rồi nhắm mắt lại vẫn thấy rộn lên những lời xỉa xói những câu hằn thù khiến người ta sợ tới teo tóp cả linh hồn.
“Gian Truân Chỉ Là Thử Thách” đã đánh một cú Trời giáng vào tim tôi, giống như cậu bé Lọ hơn 50 năm trước, đã ngồi thu lu khóc sùi sụt ở một góc thềm, thần trí cậu sảng sốt, toàn thân cậu run rẩy, cậu ngơ ngác và hoang mang đến hãi hùng vì không được đi học. Với cậu bé, không đi học, cùng nghĩa với mù chữ, sẽ chăn trâu, mò cua bắt ốc suốt đời, sẽ không có bạn, không có thầy và không bao giờ được rờ tay vào sách vở ‘thánh hiền’.
Ngày nào đó, năm xưa, cậu bé đã khóc ròng trong ngày khai trường, còn tôi suốt mấy hôm nay đọc “Gian Truân Chỉ Là Thử Thách” với những day dứt khôn nguôi trong hồn mình vì cái tội vô tâm của tôi trước mối nguy của những đứa trẻ bỏ học đi buôn ma tuý, trước mối nguy ngu dốt của hàng triệu đứa bé đang đói ăn, đói sự học hành và đói niềm hy vọng trên trái đất này.
Thoạt đầu mở sách ra, tôi lật từng trang để xem hình, cũng tưởng đâu “Gian Truân Chỉ Là Thử Thách” chắc cũng chỉ là một cuốn tự truyện như hàng ngàn hồi ký khác, tới lúc tôi tò mò nhập mình vào chương một, chương hai, rồi chương ba, tôi ngạc nhiên thấy mình đọc luôn trong ba ngày và không thể buông sách ra được nữa. Tôi bỗng giật mình, bàng hoàng thấy ra từ trang đầu tới trang cuối “Gian Truân Chỉ Là Thử Thách”, không chỉ là chữ nghĩa, là văn phong trong sáng dễ hiểu là cốt truyện hấp dẫn mà chính là linh hồn của chữ, là rung cảm của lời, là lòng chân thành không vướng víu một chút giả hình, không bôi bác, không xuyên tạc, không buôn hận thù không bán máu xương.

Toàn ban tổ chức và các ca-nhạc-sĩ cùng tác-giả Hồ-Văn-Trung hát chào giã-từ quan-khách bài "It's Now To Say Good Bye!"

Thưa các bà mẹ đang phải nuôi con trong tù, xin bà hãy tặng cuốn sách này cho con trai của bà. Bởi vì “Gian Truân Chỉ Là Thử Thách” sẽ đem hy vọng và niềm tin tới cho con trai của bà. Ngày ra tù con trai bà sẽ vươn ra biển lớn như cậu bé Lọ - Năm xưa suýt nữa không được đi học, thế mà đã trở thành đại thương gia toàn cầu như ngày hôm nay.
Lệ-Hằng (Sydney – Australia)
Phần nhận xét hiển thị trên trang