Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 4 tháng 5, 2014

A lố! Củ cải có nghe không?



 Nhà cháu chỉ là thằng nhà văn quê mùa, không lý luận lý liếc chi, trước việc Trung Quốc nó kéo một giàn khoan khủng, kéo lù lù vào trong cả vùng chủ quyền biển của nước ta, thấy người phát ngôn Bộ ngoại giao ta lên tiếng như rứa kể cũng mạnh, nhưng nhà cháu bày cho này: Vì nó đã ngang nhiên đưa cái giàn khoan vô biển ta rồi thì cần gì phải nói, mang tàu chiến ra vây, đảo trên đầu nó một đàn máy bay chiến đấu, ép quanh nó mấy con tàu ngầm mới mua, rồi kéo nó vô bờ, hạn cho 5 ngày phải nộp phạt 5 triệu usd ( bằng tiên mặt nhá), quá ngày đó thì cho xẻ ra bán sắt vụn, nói như người Huế, cứ êm êm rứa mà mần, nói như người xứ Nghệ, vì nó vô lãnh hải của ta thì tóm cổ, chuyện ấy thường thôi.
Nói không phải mê tín, chứ gã Trung cộng này nó cứ ậm ọe ngoài lãnh hải, xoen xoét 16 chữ với 4 tốt, e còn lo lắng trong ứng xử, chứ nó đã sổ toẹt là xâm phạm chủ quyền trắng trợn như vậy thì nói như mạ mình hay nói, láng giềng như ẻ, ngá khu, đập chết mẹ nó đi.
Nhỉ?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CÁI CHẾT CỦA CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI VÀ XA HƠN


Alan KIRBY, The Death of Postmodernism and Beyond, (1)
Philosophy Now,th.11-12, 2006

CHÂN  PHƯƠNG trích dịch & chú thích


   Trước mặt tôi là bài mô tả một đơn vị học trình(module) chuyển tải từ website của khoa
Anh văn  thuộc một viện đại học Anh, trong  đó  gồm  các  chi  tiết về  bài vở phải nộp và
danh sách tài liệu cần đọc mỗi tuần cho sinh viên chọn giảng khóa ‘ Postmodern Fictions’ (Các thể văn hư cấu hậu hiện đại). Chẳng cần nêu ra danh tính viện đại học trên không phải vì  môn học này tệ hại gì cho cam nhưng vì nó tiêu biểu cho các đơn vị   học trình sẽ được giảng dạy hầu như cùng khắp các phân khoa Anh văn trên đất nước này vào niên học sắp đến.  Nó cả tin rằng CNHHĐ đang sống khoẻ sống mạnh, nó cho biết là sẽ giới thiệu  “những đề tài tổng quát về “CNHHĐ” và “tính HHĐ” thông qua sự khảo sát các liên hệ giữa chúng với sáng tác hư cấu đương đại. Lời lẽ ấy có thể gợi ý rằng CNHHĐ vẫn mang tính đương đại nhưng chính ra sự so sánh lại cho thấy là chủ nghĩa này đã mồ yên mả đẹp rồi.
     Triết học HHĐ chú trọng đến tính mông lung của ý nghĩa và tri kiến. Điều này thường được nghệ thuật HHĐ diễn đạt như là mối ưu tư về sự biểu thị và tự ý thức mang tính  trào phúng (ironic self-awareness). Sự cáo chung của CNHHĐ đã được giải quyết bằng luận chứng triết học. Đại để có một số người đã  cả quyết rằng trước đây có lúc chúng ta từng tin vào các ý niệm HHĐ nhưng bây giờ thì hết rồi, và kể từ nay chúng ta sẽ đặt niềm tin vào chủ nghĩa hiện thực phê phán (critical realism). Nhược điểm của cách phân tích này là nó chú tâm vào chốn hàn lâm, vào những thực tiễn với giả thiết của các nhà triết học có thể  đang hoặc sắp đổi lập trường hay không – và có nhiều vị hàn lâm sẽ quyết định một cách giản tiện là rốt cuộc họ chọn ở lại với Foucault (tiên chỉ HHĐ) hơn là bỏ sang thuyền khác(2). Tuy nhiên có thể tìm bằng chứng khó tranh cãi được về cái chết của CNHHĐ  trong các sản phẩm văn hóa hôm nay bên ngoài thế giới hàn lâm.  
     Phần lớn các sinh viên chọn môn ‘Postmodern Fictions’ năm nay đều sinh vào 1985 hoặc sau đó, và tất cả (trừ một) văn bản chủ yếu của giảng khoá này đã được viết trước khi họ có mặt trên trần gian. Chẳng ‘đương đại’ tí nào các văn bản trên trái lại đã được xuất bản ở một thế giới khác trước khi đám sinh viên này chào đời:The French Lieutenant’s Woman(John Fowles), Nights at the Circus(Angela Carter), If on a Winter’s Night a Traveler(Calvino),Do Androids Dream of Electric Sheep?(Philip Dick) và Blade Runner(Alan Nourse), White Noise(Don Delillo) đó là văn hóa của U với Bố. Có vài văn bản (‘The Library of Babel’ của Borges) đã được viết ngay cả trước khi các phụ huynh họ ra đời. Nhận định này cũng đúng nếu thay thế mớ tàng thư này với các cột trụ HHĐ khác như Beloved(Tony Morrison), Flaubert’s Parrot(Julian Barnes), Waterland (Graham Swift),The Crying of Lot 49(Pynchon), Pale Fire(Nabokov),Slaughter House5 (Vonnegut), Lanark(Alasdar Gray), Neuromancer(William Gibson), tất cả tác phẩm B.S. Johnson (3).{...}  Các văn bản này mới vừa đương đầu với nhạc rock và tivi; hầu như chúng chẳng mơ tưởng chi đến khả năng của kỹ thuật và các phương tiện truyền thông -- điện thoại di động, email, internet, máy vi tính cho mỗi nhà với công năng đủ mạnh để đưa con người lên nguyệt cầu – mà giới sinh viên đại học  hôm nay coi như lẽ đương nhiên.
       Lý do vì sao phần đọc căn bản của postmodernist fictions ở Anh lại cũ đến thế, tương
đối mà nói, là bởi nó chưa từng được trẻ hóa. Cứ nhìn ra bãi chợ văn hóa mà xem: mua mớ tiểu thuyết xuất bản từ 5 năm trở lại, xem một phim của tk 21, nghe những bản nhạc gần đây nhất, và hơn hết là cứ ngồi xem tivi suốt một tuần – hầu như bạn sẽ không thấy bóng dáng CNHHĐ đâu cả. Cũng vậy, ta có thể đi dự các hội nghị văn học và nghe đọc hàng chục tham luận mà không nghe nhắc gì đến lý thuyết, Derrida, Foucault, Baudrillard(4). Cảm giác về sự lỗi thời già nua, bất lực và không còn thích hợp của vô số lý thuyết trong giới hàn lâm cũng làm chứng cho sự ra đi của CNHHĐ(5). Nói gọn, những kẻ sản xuất các vật phẩm văn hoá cho giới hàn lâm với phi-hàn lâm đọc, nhìn, nghe đã bỏ rơi CNHHĐ. Đón tiếp văn bản siêu hư cấu hay tự ý thức nào thảng hoặc xuất hiện – như Lunar Park của Bret Easton Ellis -- là sự lãnh đạm rộng khắp, nhưng nghĩ lại thì các tiểu thuyết hiện đại ngày nay chẳng còn ai nhớ vẫn tiếp tục được viết ra tận cho đến các thập niên 50 và 60.  {…}

HẬU - HẬU HIỆN ĐẠI CHỦ NGHĨA LÀ GÌ ?

     Không chỉ đơn giản là thay đổi mốt văn hóa, tôi nghĩ sự chuyển hướng này còn có cái gì hơn thế. Các lối quan niệm về uy quyền, tri kiến, ngã tính, thực tại và thời gian đã đổi khác một cách đột ngột và vĩnh viễn. Bây giờ có khoảng cách rộng giữa đa số giảng sư và các sinh viên của họ, tương tự vào cuối thập niên 1960 nhưng không cùng nguyên nhân. Sự chuyển hướng từ chủ nghĩa hiện đại qua CNHHĐ không bắt rễ từ bất cứ một tái lập thuyết sâu rộng nào dựa trên các điều kiện sản xuất và tiếp nhận văn hóa; nói cường điệu theo cách tu từ, điều  xảy ra chung qui là những ai một thời từng sáng tác Ulysses(Joyce) và To the Lighthouse(Virginia Woolf) đã quay qua viết Pale Fire (Nabokov) và The Bloody Chamber(Angela Carter). Nhưng đâu đó vào cuối những năm 90 hoặc đầu niên kỷ 2000 sự trỗi dậy của các kỹ thuật mới đã tái cấu tạo một cách hung bạo và vĩnh viễn bản chất của tác giả, độc giả và văn bản, cùng các mối quan hệ giữa họ với nhau.
     CNHHĐ, cũng như chủ nghĩa hiện đại và lãng mạn trước nó, đã thần tượng hóa (gắn một tầm quan trọng tối cao) cho tác giả ngay cả khi tác giả tỏ ý muốn kết án hoặc giả bộ huỷ xóa chính mình. Nhưng văn hóa của chúng ta giờ đây  thần tượng hóa người tiếp nhận văn bản tùy theo mức độ  họ trở thành tác giả của một phần hay toàn phần văn bản. Có thể điều này đối với những kẻ lạc quan là sự dân chủ hóa về văn hóa ; người nào bi quan sẽ chỉ ra sự cực kỳ tầm thường và rỗng tuếch của các sản phẩm văn hóa được sản sinh theo kiểu này (ít ra là cho đến nay).
     Cho phép tôi giải thích. CNHHĐ quan niệm văn hóa đương đại như  một màn trình diễn trước những cá nhân bất lực ngồi nhìn, trong đó các câu hỏi về thực tại trở  thành nghi vấn. Do đó nó suy tôn màn ảnh TV và cinê . Cái kế tục nó mà tôi gọi tên là chủ nghĩa hiện đại giả ngụy (pseudo-modernism) biến hành động của cá nhân thành điều kiện tất yếu của sản phẩm văn hóa. CNHĐGN bao gồm một phần hoặc tất cả chương trình phát thanh phát hình, mọi thứ ‘văn bản’ mà nội dung và động học đều do các khán thính giả tham dự  góp phần đạo diễn hay sáng tác (cho dù cụm từ “khán thính giả tham dự” đã lỗi thời do tính thụ động của họ cùng sự suy tôn khía cạnh tiếp nhận…)
     Theo định nghĩa, các sản phẩm HĐGN không thể hiện hữu chừng nào cá nhân chưa can thiệp vào chúng bằng thể chất (physically). Great Expectations vẫn tồn tại về mặt vật chất dù có người đọc nó hay không. Một khi Dickens đã viết xong và nhà xuất bản đã phát hành cuốn tiểu thuyết ra thế gian, ‘tính văn bản vật thể’ của nó –cách nó chọn lựa ngôn từ -- đã hoàn tất cho dù ý nghĩa của nó, các cách thiên hạ diễn giải nó là tùy ở mỗi người. Cách sản xuất vật chất và cấu tạo ra nó được định đoạt bởi giới cung ứng, có nghĩa là tác giả, nhà xuất bản, tờ báo đăng nhiều kỳ,vv… chứ chẳng phải ai khác. Chỉ có ý nghĩa là thuộc thẩm quyền người đọc. Trái lạiBig Brother (6), như là văn bản đặc trưng cho văn hóa HĐGN, sẽ không thể tồn tại một cách vật chất nếu không có ai gọi phone vào để bầu và loại bớt những kẻ dự thi. Do đó bình chọn là một phần của tính văn bản vật chất của chương trình – chính các khán giả gọi điện thoại vào là những người thảo ra chương trình ấy. Nếu người xem không thể viết góp các màn diễn , Big Brother sẽ giống một cách quái lạ  loại phim của Andy Warhol: một đám người trẻ hơi tâm thần và thích khoa trương chuyện trò dè bỉu một cách vô cảm vô hồn trong mấy căn phòng  hết giờ này sang giờ khác. Nói cách khác, chính hành động gọi điện thoại của khán giả đã khiến Big Brother có được tính cách riêng của nó.
     CNHĐGN cũng bao gồm các chương trình tin tức hôm nay mà phần nội dung đến từ email và văn bản điện thư (text messaging) bàn luận về các mẩu tin càng ngày càng bội tăng. Thuật ngữ ‘tính tương tác’ ở đây cũng không thích hợp bởi lẽ thiếu trao đổi qua lại (exchange): khán thính giả nhào vô viết một đoạn cho chương trình rồi ra đi, trở về với vai trò thụ động của họ. CNHĐGN còn gồm thêm các trò chơi điện tử (computer games). Cũng tương tự như trên, chúng đặt các cá nhân vào một cảnh huống mà nội dung văn hóa sẽ do họ chế tác trong phạm vi những giới hạn được qui định trước. Nội dung của mỗi thao tác cá nhân khi chơi game biến chuyển tùy theo nét cá biệt của người chơi.
     Hiện tượng văn hóa HĐGN tiêu biểu nhất là internet. Thao tác cốt lõi của nó là việc mỗi cá nhân nhấn bấm con chuột để di chuyển qua các trang mạng một cách không thể sao chép lại. Xuyên qua các sản phẩm văn hóa một lộ trình (pathway) được kiến tạo, chưa hề có trước đó và chẳng bao giờ còn gặp lại. Đây là cách tham dự vào tiến trình văn hóa với mức độ  cuồng nhiệt hơn bất cứ cái gì văn chương có thể cống hiến, tạo ra cảm giác (hay ảo giác) khó chối bỏ rằng cá nhân là kẻ kiểm tra, quản lý, chế tác sự gắn bó của chính mình với sản phẩm văn hóa. Các trang mạng không có ‘tác giả’, trong cái nghĩa không ai biết được và chả ai quan tâm đến kẻ nào đó đã viết ra chúng. Phần lớn các trang
này hoặc đòi hỏi cá nhân phải khởi động chúng như Streetmap hay Route Planner(7), hoặc cho phép cá nhân bổ túc như Wikipedia hay là phản hồi chẳng hạn qua các websites truyền thông. Trong mọi trường hợp, thuộc tính của internet cho phép các bạn tự mình làm nên các trang mạng (các blogs là ví dụ ).
     Thời hạn tồn tại của một văn bản HĐGN cực kỳ ngắn. Không giống vở Fawlty Towers chẳng hạn (8), các chương trình Reality TV (9) chẳng thể lặp lại dưới dạng nguyên bản của chúng bởi lẽ không thể nào tái diễn được những cú phone-in gọi vào góp ý. Và thiếu đi cái khả năng cho phép người xem gọi điện thoại cho đài truyền hình các chương trình nói trên sẽ trở thành một cái gì khác vừa mất đi rất nhiều tính hấp dẫn. Văn bản Ceefax tiêu ma sau vài giờ(10). Nếu các học giả đề rõ ngày tháng khi họ tham khảo một trang mạng là bởi lý do những trang này biến mất hoặc được cải biên rất nhanh. Bảo toàn nguyên gốc các email và văn bản điện thư là chuyện khó khăn cực kỳ; in các email ra giấy sẽ biến chúng thành một cái gì ổn định nhưng làm vậy là hủy diệt trạng thái điện tử căn bản của chúng. Các cú phone gọi đài phát thanh, các trò chơi vi tính -- thời hạn bày hàng của chúng rất ngắn – chúng lỗi thời một cách chóng vánh. Loại văn hóa dựng trên những thứ vừa kể không thể có ký ức, chắc chắn không có được cái cảm giác nặng nợ vì phải kế thừa nền văn hóa trước đó như CNHĐ và CNHHĐ đã từng biết. Không thể phục chế và hư ảo, CNHĐGN do đó cũng mắc chứng mất trí nhớ; đó là những hành động văn hóa diễn ra trong khoảnh khắc hiện tại chẳng có ý thức gì về quá khứ hoặc tương lai.
      Các sản phẩm văn hóa của CNHĐGN cũng cực kỳ tầm phào, như tôi từng gợi ý. Nội dung các phim ảnh HĐGN thiên về những động tác tạo ra và kết thúc sự sống, và chỉ có thế thôi (11). Tính chất sơ khai ấu trĩ của kịch bản phim  tương phản đậm nét với mức độ tinh vi của các hiệu ứng kỹ thuật cinê ngày nay. Phần lớn email và văn bản điện thư đều vô vị so với những gì thiên hạ thuộc mọi cấp bậc giáo dục đã từng cầm bút viết ra trước đây. Nhàm chán và nông cạn ngự trị mọi sự. Thời kỳ HĐGN là một sa mạc văn hóa, ít ra cho đến hôm nay. Mặc dù các từ ngữ mới có thể trở nên quen thuộc với chúng ta đến độ chúng ta có thể cải tiến chúng cho việc biểu đạt nghệ thuật giàu ý nghĩa ( khi đó thì cái nhản đầy miệt thị tôi đã gán cho CNHĐGN có thể sẽ không còn thích hợp), hiện nay chúng ta phải đối đầu với cơn bão táp của thứ hoạt động người mà sản phẩm hoàn toàn gần như chẳng có gì mang giá trị văn hóa lâu bền hoặc thậm chí phục chế được -- chẳng có cái chi để năm mươi năm hoặc hai trăm năm sau con người có thể mang ra xem lại và thưởng ngoạn.
     Có thể truy tìm cội nguồn của CNHĐGN  xuyên qua những năm khi CNHHĐ còn ngự trị. Những sản phẩm của cuối thập niên 70 và những năm 80, ví dụ nhạc nhảy và kỹ nghệ sex (12) mang nhiều tính phù du, rỗng tuếch trên bình diện ý nghĩa, và chẳng cần ai đứng tên tác giả (đúng cho nhạc nhảy hơn là nhạc pop, rock). Chúng cũng qui định luôn cách ‘tiếp nhận’ chúng: nhạc nhảy là để múa nhảy, các sản phẩm sex là để sử dụngchứ không để xem hay đọc. Cách tiếp nhận như thế tạo ra ảo giác được tham dự HĐGN. {…}
     Ở mức độ nào đó CNHĐGN không hơn gì một sự chuyển hướng vì thôi thúc kỹ thuật nhắm đến trung tâm văn hóa của một cái gì đó vẫn luôn luôn tồn tại  ( tương tự như vậy, siêu-hư cấu đã có mặt trên đời từ bao giờ nhưng chưa khi nào được thần tượng hóa như cái cách CNHHĐ đã làm). Tivi vẫn luôn sử dụng sự tham gia của khán giả, cũng như kịch nghệ và các loại nghệ thuật trình diễn trước nó đã làm tuy là như một chọn lựa chứ không tất yếu trong khi các chương trình tivi HĐGN được cấu tạo cùng với sự tham gia ấy. Từ xưa đã từng có những hình thái văn hóa rất ‘năng động’, từ lễ hội hóa trang carnival cho đến kịch câm. Nhưng không có hình thái nào đòi hỏi một văn bản dưới dạng viết hay dạng vật chất nào khác, vì vậy chúng ra nằm ngoài rìa của thứ văn hóa chỉ sùng bái các loại văn bản ấy – trong khi văn bản HĐGN với tất cả các nét cá biệt của nó lại là hình thái trung tâm và khống chế có tính quy phạm (paradigmatic) của sản phẩm văn hóa hôm nay cho dù nơi ngoại vi của văn hóa vẫn còn những thứ khác. Cũng đừng nên quở trách các thứ này là ‘tiêu cực’ đối lại ‘tính năng động” HĐGN. Đọc, nghe, xem vẫn luôn luôn mang tính năng động riêng của chúng nhưng có một đặc tính thể chất (physicality) trong các hành động của người tạo văn bản HĐGN và tính tất yếu của chúng đối với việc cấu tạo văn bản kèm với sức khống chế đã làm lệch đòn cân văn hóa của quyền lực (cứ nhìn xem cinê và tivi, cặp khổng lồ của hôm qua, đã cúi đầu chào thua nó thì biết). Ưu thế thống soái (hegemony)về xã hội, lịch sử và văn hóa của thế kỷ 21 hình thành từ nó. Cần nói thêm rằng hoạt động của CNHĐGN có tính đặc thù của nó, vừa điện tử vừa văn bản nhưng phù du.


CLICK-IN  VÀO  NHỮNG  BIẾN  ĐỔI

     Vào thời postmodernism người ta đọc, nghe và nhìn không khác chi trước đó. Đến pseudo-modernism thiên hạ gọi điện thoại, bấm chuột, ấn nút, lướt sóng, tuyển chọn, chuyển tải. Ở đây có hố ngăn thế hệ, nói chung chia cách những ai sinh trước và sau 1980.
Trong cách nhìn của đám hậu sinh thì những ai đồng trang lứa với họ là những người tự do, tự chủ, biết phát minh, ăn nói lưu loát, đầy năng động, độc lập, quyền làm người được
bảo đảm (empowered), mỗi người cất cao một giọng không ai giống ai. Trái lại CNHHĐ cùng những gì trước nó đều có vẻ đặc tuyển, vô vị, kiểu độc thoại con cà con kê xa vời vừa áp bức vừa loại trừ bọn trẻ sinh sau. Những ai chào đời trước 1980 lại có thể nhìn thấy, thay vì con người, là những văn bản cứ thay phiên nhau hiện ra – hung bạo, kích dâm, hư ảo , nhàm chán, vô vị, nặng tính tuân phục, ham mê tiêu thụ, hoàn toàn vô nghĩa,  đầu óc rỗng toẹt (đọc thử cho biết những trang tào lao trên Wikipedia, hoặc sự trống vắng ngữ cảnh của thông điệp Ceefax). Đối với thế hệ này những gì có trước CNHĐGN càng ngày càng được xem như là thời hoàng kim của trí tuệ, óc sáng tạo, sức phản kháng và tính chân thực. Do đó cái tên ‘ pseudo-modernism’ cũng hàm nghĩa quan hệ xung khắc giữa tính tinh xảo của các phương tiện kỹ thuật và sự vô vị hay dốt nát của nội dung đã được truyền đạt nhờ vào các phương tiện ấy -- một thời điểm văn hóa được tóm lược qua sự xuẩn ngốc của kẻ dùng điện thoại di động để tuyên bố: “ I’m on the bus”.
     Trong khi CNHHĐ tra vấn bản chất của ‘thực tại”, CNHĐGN mặc nhiên định nghĩa hiện thực là chính tôi đây, ngay lúc này đang ‘tương tác’ với các văn bản. Như thế CNHĐGN  nhắc gợi rằng bất cứ điều gì nó làm hay thực hiện đều đồng nghĩa với thực tại. Có thể một văn bản HĐGN ngợi ca hiện thực bề ngoài  dưới một hình thức không có gì rối rắm: như kịch docu-soap(13) với máy thu ảnh cầm tay ( bằng sự phô bày những cá nhân có ý thức là thiên hạ đang ngắm nhìn mình tạo cho khán giả cái ảo giác được tham dự). {…}
     Đi kèm với cách nhìn mới như trên về thực tại, rõ ràng khung tri thức ngự trị cũng đổi khác. Trong khi các sản phẩm văn hóa của CNHHĐ đã được xếp vào nhà kho lịch sử cùng với CNHĐ và chủ nghĩa lãng mạn, các xu hướng tri thức của nó ( nữ quyền luận, chủ nghĩa hậu thuộc địa, v.v.) cũng bị cô lập trong môi trường triết học mới. Giới hàn lâm ngày nay, đặc biệt có lẽ ở Anh, bị lún ngập dưới các tín điều và thực hành của kinh tế thị trường đến mức khiến cho khả năng các vị này nói với sinh viên họ rằng: “Các anh chị
đang sống giữa một thế giới hậu hiện đại trong đó người ta có thể nghe thấy tính đa dạng của các ý thức hệ, thế giới quan cùng những tiếng nói khác” là điều khó thể xảy đến. Bị qui luật kinh tế thị trường săn đuổi không rời các nhà hàn lâm không thể thuyết giảng về tính đa dạng trong khi cuộc sống của họ bị khống chế bởi cái thực ra mà nói là thói tiêu thụ cuồng tín ( consumerist fanaticism). Mười năm trở lại đây, thế giới thay vì mở thoáng đã thu hẹp lại. Ở chỗ Lyotard nhận thấy sự khuất mờ của những Đại Tự Sự, chủ nghĩa hiện đại giả ngụy lại nhìn ra ý thức hệ của kinh tế thị trường toàn cầu hóa được nâng lên cấp bậc một cơ chế độc nhất toàn năng điều chỉnh mọi hoạt động xã hội -- với tính cách độc quyền, bao trùm, lý giải và cấu tạo mọi sự mà trong giới hàn lâm ai cũng phải công nhận dù có khó chịu trong lòng. Dĩ nhiên CNHĐGN nặng tính tuân phục và ham thích tiêu thụ, một cách ngao du  giữa một thế giới đã được an bài hoặc đang bị cầm bán. (14)
     Còn mặt thứ hai; nếu như CNHHĐ ưa chuộng tinh thần trào phúng, am hiểu và thích đùa với những liên tưởng đến kiến thức, lịch sử và tính hồ đồ, thì các trạng thái tri thức đặc trưng cho CNHĐGN là sự dốt nát, cuồng tín và âu lo: một bên là Bush, Blair, Bin Laden, Le Pen với những kẻ cùng hội cùng thuyền, còn bên kia là những khối quần chúng đông đảo nhưng quyền lực thì thua kém xa. CNHĐGN thuộc về cái thế giới bị thấm nhiễm cuộc đụng độ giữa một bộ phận tôn giáo cuồng tín ở Mỹ, một quốc gia Do Thái đa phần thế tục nhưng cực đoan về tín ngưỡng, với một nhóm người Hồi giáo cuồng tín rải rác khắp địa cầu.CNHĐGN không ra đời vào 11 tháng 9 năm 2001 nhưng CNHHĐ đã bị vùi chôn dưới đống gạch vụn ngày hôm đó. Trong bối cảnh ấy CNHĐGN tung ra thứ kỹ thuật tinh xảo kinh dị để thực hiện chủ nghĩa dã man trung cổ: chẳng hạn đưa lên internet những cảnh chém đầu thu băng video hoặc dùng điện thoại di động quay phim tra tấn trong các nhà tù.  Xa hơn nữa là mối lo âu bị sát hại giữa hai lằn đạn nay đã trở thành số phận của mọi người. Nhưng nỗi lo mệnh hệ này còn vượt xa mặt địa lý chính trị để len vào mọi khía cạnh của đời sống hôm nay ; từ cái sợ chung chung về nguy biến xã hội với thất lạc bản sắc đến cảm giác bất an sâu xa về chế độ ẩm thực và sức khoẻ; từ nỗi hoang mang về sức hủy diệt của biến đổi khí hậu đến tình cảnh mới của con người không còn khả năng chống chọi hay tự cứu cùng các hậu quả của nó --  và từ đó sinh ra những chương trình tivi khuyên bảo thiên hạ các cách làm sạch nhà cửa, nuôi nấng con cái hoặc thanh toán nợ nần. Sự mất phương hướng được kỹ thuật hóa này là nét chính yếu của thời buổi ngày nay: con người HĐGN liên tục truyền thông với phần bên kia địa cầu nhưng phải được chỉ bảo mới biết rằng ăn rau cải là tốt cho sức khoẻ, một điều hiển nhiên từ thời đại Đồng Thau. Anh ta hay chị ta có thể chỉ đạo các chương trình tivi toàn quốc nhưng không có khả năng tự mình chế biến một món để ăn -- sự hòa trộn đặc trưng giữa ấu trĩ và tiên tiến, giữa quyền năng và bất lực. Vì nhiều thứ lý do, đây là những kẻ không có khả năng “ nghi vấn các Đại Tự sự” tiêu biểu cho loại người HHĐCN theo lập luận của Lyotard.
     Cái thế giới HĐGN đáng sợ và có vẻ tuột khỏi mọi khả năng kiểm soát này tất nhiên sinh ra lòng ham muốn quay về thói nghịch đùa trẻ con với các thứ đồ chơi, đồng thời cũng tiêu biểu cho thế giới văn hóa HĐGN. Ở đây, trạng thái cảm xúc điển hình thay thế siêu-ý thức của óc trào phúng là sự nhập đồng (trance), trạng thái của người bị hoạt động của mình nuốt trọn. Thay thế chứng tâm thần (neurosis) của chủ nghĩa hiện đại và bệnh mê đắm bản thân (narcissism) của chủ nghĩa hậu hiện đại, chủ nghĩa hiện đại giả ngụy tước đoạt mất thế giới này, {…} Bạn bấm con chuột, bạn ấn bàn phím, bạn ‘tham dự hết mình’… Bạn là văn bản, chẳng còn ai khác , chẳng có ‘tác giả’; không còn nơi chốn nào khác, thời gian địa điểm tan biến. Bạn tự do: bạn là văn bản: văn bản nhường chỗ (cho văn bản khác).


CHÚ  THÍCH

1.Bài viết này đã thu hút sự chú ý trong giới hàn lâm học giả Anh-Mỹ và được tạp chí tư tưởng Philosophy Now đưa ra làm quà chào hàng trên mạng để quảng cáo cho tờ báo. Là tiến sĩ văn học Anh tốt nghiệp ở hai đại học Sorbonne và Exeter, Alan Kirby đã viết và phổ biến nhiều bài biên khảo và phê bình trên mạng (www.alanfkirby.com) qua  đó người đọc nhận ra phần nào ảnh hưởng từ tư tưởng văn hoá-xã hội Paris cộng thêm các trường phái Frankfurt và Birmingham với những quan điểm phê phán văn hóa tiêu thụ dưới sự thao túng của thị trường tư bản.
   Sau vụ Sokal/Social Text vào 1996, từ hơn chục năm qua đã xuất hiện nhiều bài nhận định và biên khảo về sự bế tắc, thoái trào hoặc cáo chung của chủ nghĩa hậu hiện đại ở Hoa Kỳ, nơi hình thành của chủ nghĩa và học thuyết này. Không chỉ phân tích các nguyên nhân văn hóa-tư tưởng và kinh tế-kỹ thuật đã gây ra sự tiêu vong của postmodernism, Alan Kirby còn đi xa hơn một bước khi sáng tạo khái niệm pseudo-modernism   để soi sáng các khía cạnh giả ngụy của văn hóa phương Tây ngày nay . Nhà xuất bản CONTINUUM đã cho ra mắt chuyên khảo đầu tay của A. Kirby trong năm vừa qua, DIGIMODERNISM, tác phẩm lý luận triển khai từ ý niệm pseudo-modernism.  Bằng trò ghép chữ digital vào modernism, ông đề ra một cách nhìn phân tích khá độc đáo để chiếu quang tuyến vào cấu tạo cùng cơ chế của văn hóa giải trí dựa vào điện tử và vi tính.  Bạn đọc có thể vào internet để tìm hiểu thêm về digimodernism (tạm dịch là chủ nghĩa hiện đại chỉ xảo hoặc chủ nghĩa hiện đại chỉ toán, CP).
     Trong bài dịch các cụm từ Hậu hiện đại, Chủ nghĩa Hậu hiện đại, Hiện đại Giả ngụy, Chủ nghĩa Hiện đại Giả ngụy được viết tắt thành HHĐ, CNHHĐ, HĐGN, CNHĐGN.
2.Đoạn văn này với giọng trào lộng khô khốc là phần nhạc dạo cho bài nhận định. Có lẽ không cần nhắc lại với người đọc có suy nghĩ rằng các giáo chức hàn lâm USA đại đa số sống và viết trong tháp ngà đại học nên thường có ảo tưởng rằng ý niệm với lập luận trừu tượng cao siêu  là tất cả.( Russell Jacoby ,The Last Intellectuals,1987,từ hơn hai mươi năm trước đã báo động về sự tối-chuyên môn hóa “hyperspecialization” của giới này khiến họ mất đứt quan hệ với hiện thực xã hội-lịch sử). Vì vậy sự quay về tinh thần thực nghiệm thực chứng của Critical Realism là điều mà người trí thức VN nào còn hâm mộ pomo babble nên chịu khó tìm hiểu. Về chủ nghĩa hiện thực phê phán Anh-Mỹ (không phải hiện thực phê phán của Garaudy và Lukács!) có thể tham khảo Roy Bhaskar và Henry H. Price trên Bing hay Google.
3. Alan Kirby chỉ nêu tên các tác phẩm hậu hiện đại, người dịch bổ túc tên các tác giả.
4. Từ những năm 70 phần lớn lý thuyết văn học ở Mỹ, đặc biệt hậu cấu trúc luận và chủ nghĩa hậu hiện đại, dựa vào một số tên tuổi Pháp gần như là sùng bái. Khi Sokal và Bricmont vạch rõ trò lừa bịp trí thức của Lacan, Baudrillard, Virilio, Guattari, Latour, Kristeva, Irigaray,…hào quang của French Theory tan biến; từ  đó giới hàn lâm Anh-Mỹ tránh không muốn nhắc đến các thần tượng giả nữa.  (Quyển sách làm chấn động dư luận trong học thuật Âu-Mỹ Impostures Intellectuelles, Paris,1997 của hai nhà khoa học đã được tiếp sức bởi nhiều hội thảo, hội nghị và tranh luận trên sách báo qui tụ được sự ủng hộ  của nhiều nhà khoa học và triết gia hàng đầu như Steven Weinberg, Noam Chomsky, Ian Hawking, Jacques Bouveresse, Paul Braffort…vốn không chịu được các quan điểm hoài nghi chủ nghĩa phản lý tính và xem thường phương pháp luận khoa học chặt chẽ tiêu biểu cho trào lưu hậu hiện đại. Có thể tham khảo thêm Alan Sokal, Beyond the Hoax, Oxford U.P.,2008 và LINGUA FRANCA Ed.,The Sokal Hoax, University of Nebraska Press, 2000, tập hợp các tài liệu quan trọng liên quan đến cuộc tranh luận đả phá trường phái hậu hiện đại Pháp-Mỹ. Bạn đọc cũng nên vào Google để đọc các bài tham luận  trong cuộc hội nghị triết học After Postmodernism tổ chức vào th. 11 -1997 tại University of Chicago để tìm định hướng mới cho triết học Hoa Kỳ sau cơn địa chấn tư tưởng do sự kiện Sokal gây ra).

5.  French Theory mắc nạn, ngôn thuyết hàn lâm Anh-Mỹ cũng lâm nguy! Ngày nay các nhà nghiên cứu văn học Anh-Mỹ hầu như không còn nhắc đến chủ nghĩa hậu hiện đại trong các hội nghị học thuật, diễn đàn hàn lâm; căn cứ vào các tạp chí hàng đầu của học thuật nhân văn ở Mỹ như PMLA, Critical Inquiry, New Literary History, Boundary2 trong vòng mười năm nay, các bài khảo cứu liên quan đến Postmodernism chỉ còn chiếm một tỉ lệ khiêm tốn, trên dưới một phần trăm. Chỉ còn tờ Philosophy and Literature là còn thỉnh thoảng đăng bài biên khảo,  nhận định về chủ nghĩa này nhưng với mục đích phản bác, phê phán vì tạp chí triết học này là diễn đàn của các tiếng nói duy nghiệm, thực chứng, thực dụng vốn là truyền thống chủ đạo của tư tưởng anglo-saxon khó đồng hành với các triết thuyết Đức-Pháp.
6. Big Brother là vở kịch tivi nhiều kỳ ăn khách vào bậc nhất ở Âu-Mỹ thuộc thể loại RealityTV. Chiếu lần đầu trên chương trình Veronica TV ở Hòa Lan năm 1999, được sao phỏng và phóng tác khắp thế giới . Hiện nay vẫn là sự kiện media hàng tuần ở Hoa Kỳ trên đài CBS. Kịch này không có cốt truyện sẵn mà chỉ cần khung cảnh nhân tạo của một ngôi nhà rộng với tiện nghi tối thiểu và khoảng hơn chục thanh niên trai gái chung đụng từng ngày từng giờ trong đó dưới sự sai khiến vô hình của Đại Ca (Big Brother- 1984, G. Orwell). Họ bị cô lập với thế giới bên ngoài nhưng nhất cử nhất động của từng người đều
được các ống kính TV quay chụp. Hàng tuần những diễn viên tài tử này (và khán thính giả của chương trình) dùng phiếu bầu loại bớt một hoặc hai người. Kẻ cuối cùng còn lại trong ngôi nhà là người thắng giải , được thưởng tiền mặt hay vật chất. Tuồng kịch này lôi cuốn đám diễn viên nghiệp dư thèm khát “ một phút huy hoàng” và tặng thưởng. Nó cũng hấp dẫn khán giả vì tính chất thị dâm (voyeuristic) thích ngắm trộm chuyện riêng tư của người khác, ví dụ TV bên Anh và Đức ( khác với Mỹ, Úc, Hi Lạp…) vẫn chiếu mà không kiểm duyệt nhiều màn giao hợp đã thực sự diễn ra. Khỏi cần phải nói, Big Brother, Survivor,American Idol… là đối tượng nghiên cứu và phê phán của các nhà truyền thông và văn hóa học tiến bộ, chẳng hạn phái Birmingham vàCritical Media Theory do Stuart Hall khởi xướng.
7. Street Map và Route Planner là hai nhu kiện thông dụng chỉ vẽ lộ trình giữa hai điểm trên bản đồ. Người sử dụng cần gõ vào máy vi tính điểm xuất hành và địa chỉ đến.
8. Fawlty Towers là một kịch tivi nhiều kỳ loại sitcom (situation comedy= hài kịch xã hội) rất được hâm mộ bên Anh ngay từ các màn đầu ra mắt khán giả đài BBC năm 1975.  Như tiểu thuyết truyền thống Anh quốc kịch bản gồm những tình huống đời thường hàng ngày diễn ra giữa hai ông bà chủ khách sạn Torquay là Basil và Prunella cùng đám bồi bếp và thân chủ.
9. RealityTV ( téléréalité bên Pháp) đưa sinh hoạt đời thường với các diễn viên nghiệp dư được xuất hiện trên sàn kịch tivi trong một vài màn rồi phải nhường chỗ cho các vai không chuyên nghiệp khác . Với tên gọi như thế ,‘Reality’ khiến khán giả lầm tưởng đây là loại tuồng “người thật việc thật”. Trong thực tế các màn kịch này đã được dàn dựng và chỉ đạo khéo, thậm chí có bàn tay vô hình thao túng các kết quả bầu chọn nên tính đầu phiếu dân chủ của khán thính giả không hoàn toàn được bảo đảm. 
  RealityTV gồm một số tiểu thể như talk show, docudrama hay docusoap (từ chữ documentary = tư liệu), phần nào chịu ảnh hưởng  phong cách cinéma vérité Pháp-Ý.
10. Ceefax là văn kiện điện tử của đài BBC cung cấp thông tin cho dân Anh trước đây.  Đó là loại teletext lập mã bằng analog trước khi có kỹ thuật digital và internet.
11. Tác giả muốn nói về các phim ảnh action, horror, thriller với nhiều màn sex và bắn giết.
12. Kỹ nghệ sex (industrial pornography) xuất bản sách báo phim ảnh hay chế tạo dụng        cụ như sex toys một cách đại trà cho thị trường toàn cầu. Đó là chưa kể dịch vụ bán dâm ( sex trade) cũng đang trên đà toàn cầu hóa nhanh rộng.
13. Docu-soap, loại kịch tivi ướt át ‘cải lương’ đi kèm với quảng cáo vặt như xà phòng, kem đánh răng,vv…Cũng là một dạng reality TV (xem chú thích 9 và 10).
14. Đọc xong đoạn này tôi không thể không liên tưởng đến sự phê phán mácxít của Debord hay Jameson về sự thống trị của kinh tế thị trường tư bản. Những ai nghĩ rằng các ý kiến của Alan Kirby về văn hóa thời đại vi tính nhuộm chất bi quan nên tham khảo các chuyên khảo nặng ký hơn về sự tha hóa con người và hủy diệt ý thức công dân của Benjamin Barber hay Gilles Lipovetsky. Hai nhà tư tưởng xã hội này, một Mỹ một Pháp, đều phê phán gay gắt và lên án chính sách đầu độc quần chúng tiêu thụ bằng các phương tiện media hiện đại của chủ nghĩa tư bản. Có thể thăm www.benjaminbarber.com để nghe tác giả nói về tác phẩm mới nhất làConsumed,How Markets Corrupt Children, Infantilize Adults…,Norton,NY,2007. Bạn đọc rành tiếng Pháp nên đọc La Culture-Monde, Paris, Nxb Odile Jacob,2008 do Lipovetsky viết chung với Jean Serroy. 



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chưa sạch chính tở dưng mờ hay:

Câu chuyện Chủ nhật: Văn hoá chó


Lê Tự
Chó là gì thế em ơi
Những thằng chó chết lại ngồi với nhau…
 thit-cho

1. Văn hoá cuộc sống là tất cả những gì liên quan tới con người chúng ta. Đó là văn hoá ăn, văn hoá mặc, văn hoá ứng xử, văn hoá xây dựng, văn hoá đủ thứ trên đời. Và tất nhiên rồi, còn một văn hoá nữa đó là văn hoá chó. Tại sao lại như vậy ư? Đơn giản thôi, vì con chó đã gắn liền với đời sống của người Việt chúng ta từ rất lâu rồi. Cái gì gắn với đời sống của con người thì được coi như là một thứ văn hoá.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, cũng như nghin cứu của trung tâm Buôn dưa lê thì chó có trước loài người cơ đấy các cụ ạ. Mọi vật đều do Chúa nặn ra, con chó được chúa nặn ra trước khi có con người. Con người ra đời sau cùng khi không còn con gì để nặn nữa. Con chó được xếp trong danh sách những con vật trong gia đình cùng với ngựa, lợn gà, trâu, bò…Tuy nhiên chỉ có 2 con trung thành nhất với con người đó là chó và ngựa. Thế nên các cụ mới có câu “khuyển mã chí tình” có nghĩa là 2 con này sống với người rất có tình có nghĩa.
“Con không chê cha mẹ khó,
Chó không chê chủ nghèo”.
Nói về sự trung thành thì không con gì vượt được chó. Có những con chó nằm trên mộ chủ cho tới chết thì thôi chứ nhất quyết không bỏ đi. Mặc dù bị chủ đánh chí chết nhưng con chó không bao giò bỏ chủ mà đi, vẫn cứ loanh quanh trong gậm giường mà thôi. Thậm chí có con chó biết rằng chủ sắp cắt tiết mình rồi nhưng cũng không bỏ đi, mà chỉ nằm rên ư ử và chảy nước mắt ra.
Chuyện còn lưu trong trung tâm Buôn dưa lê là thế này, ông chồng đi vắng, cô vợ lôi sếp tới nhà, sếp đè bà chủ xuống chiếu, con chó lao tới cắn vào chân sếp vì nó tưởng bà chủ bị tấn công. Bà chủ điên tiết cho treo chó lên cắt cổ nấu rựa mận cho sếp nắm rượu trả thù. Ông chồng về, bà chủ thanh minh: “Anh ạ, hôm nay sếp tới nhà thăm, định sẽ cho anh đi xuất ngoại một chuyến, thế mà con chó lại cắn sếp”. Ông chồng nghe vậy thì đồng tình: “Vậy thì cắt tiết nó là phải rồi”. Chỉ có con chó biết mình oan nhưng không nói được. Nó kêu hư hử, nước mắt dàn rụa nhìn ông chủ kêu cứu nhưng vô vọng. Thế là công thành tội, nó đã giữ vợ cho ông chủ nhưng lại bị bà chủ đổ oan cho tôi cắn chân sếp, thế là toi. Đời chó là thế đấy!
Chó với người đã sống với nhau từ 4.000 năm lịch sử nay. Chính vì thế mà trong kho tàng văn hoá dân gian các cụ nhà mình đã có hàng nghìn câu ca dao, tục ngữ nói về sự quấn quýt giữa chó và người, xin trích ra đây vài câu đọc chơi thôi: “Chó gầy hổ mặt người nuôi”; “Đánh chó ngó chủ”…
2. Thị chó 7 món là loại ẩm thực truyền thống của người Việt nam ta, lạ quá, chó sống với người thân tình như thế mà người lại xơi chó thì khó hiểu. Hiện một trường phái thì cho rằng, ăn thịt chó là bất nhân bất nghĩa, là ăn thịt bạn thân tình nhất trên đời. Tuy nhiên quan niệm khác thì cho rằng thịt chó là mốn ăn ngon và bổ, có sao đâu. Người Tây không ăn thịt chó vì chó của họ sạch sẽ, ngủ với người, còn chó Việt nam thì toàn ăn cứt nên phẩm hàm thuộc diện thấp, không có gì phải lăn tăn thường tiếc. Hơn nữa người có coi bạn bè ra gì đâu mà thương tới chó.
Vân Đình là nơi có nhiều quán chó nhất, chế biến ngon nhất nước. Thương hiệu Thịt chó Vân đình thì nổi tiếng cả nước lâu rồi. Nhiều quán đã ăn cắp thương hiệu, nhại chó Vân đình mà cũng bán mỗi ngày mấy chục con chó. Ở huyện Hoài đức có một làng chuyên mổ chó bán cho các quán chó trong thành phố. Có những sát thủ mỗi ngày cắt tiết, mổ bụng cả trăm con chó. Nếu coi chó là bạn thì sát thủ này mỗi ngày giết chết cả trăm thằng bạn thân.
Người Việt nam ăn thịt chó từ lâu rồi, có lẽ từ thời Hùng Vương thứ nhất, bây giờ ăn thị chó đã là văn hoá ẩm thực rồi thì không thể bỏ được đâu. Nhiều nhà chó học trên thế giới đã có đơn thư kêu gọi người Việt Nam không ăn thịt chó nữa, đó chỉ là ảo tưởng. Hiện nay chó ở nhiều nước trong khu vực đã được chuyển về Việt Nam ta mổ thị ăn. Văn hoá chó!
3. Ngu như chó là câu cửa miệng mà người Việt Nam ta thường dùng để chỉ sự ngu si đần độn. Tuy nhiên sự so sánh đó không đúng. Theo tài liệu của trung tâm Buôn dưa lê thì chỉ số IQ của chó rất cao, thậm chí cao nhất trong các loài vật. Thậm chí có những vùng não chó còn thông minh hơn cả người. Tai chó thính gấp 200 lần tai người, mắt chó nhìn đêm rõ hơn 300 lần mắt người. Chó được sếp vào hành thông minh nhất trong giới súc vật là chính xác. Trong cuộc kháng chiến Vệ quốc ở Liên xô cũ, mấy trăm con chó đã được phong danh hiệu anh hùng lục lượng vũ trang, đặc biệt là trong lĩnh vực phát hiện gián điệp và tấn công tội phạm. Chó được đào tạo sĩ quan, có con đeo hàm đại tá, chó chết được tổ chức lễ tang theo kiểu chiến binh, rất oách. Trên thế giới này chó được tất cả các nước đào tạo để phục vụ đời sống của con người, cho bắt tội phạm, chó phát hiện ma tuý, chó còn là vật dùng để thử những loại thuốc mới sản xuất. Ngày xưa những bữa tiệc của vua đều phải cho chó ăn trước, nếu chó chết thì không cho Vua ăn nữa, nếu sau 15 phút chó không chết thì Vua mới được ăn. Vua bao giờ cũng ăn sau chó. Chó cứu vua. Văn hoá chó!
Vậy thì tại sao cac cụ nhà ta lại nhất quyết là “ngu như chó”, gọi một con thông minh là ngu hẳn phải có lý do chứ nhỉ? Xin thưa, cũng chỉ tại loài chó trung thành với chủ quá mà thôi. Chính sự trung thành quá ấy là điểm ngu si của chó! Và các cụ nói “ngu như chó” cũng chẳng sai tí nào.
4. Chó cứ sủa, người cứ đi. Đây cũng là một câu thành ngữ trong cuộc sống. Chó thì bao giờ cũng sủa chính sác, không bao giờ sai, Chó nhận diện người thân quen thì trăm phần trăm không sai được, thấy người lạ, thấy kẻ trộm là sủa liền. Chính vì thế mà bọn gian manh, bọn cướp rất sợ chó. Tuy nhiên bọn cướp ngày thì lại chẳng coi chó ra gì vì chúng có quyền lục trong tay nên quyết không sợ chó!
Thân phận chó sẽ mãi mãi thế thôi. Xin kể ra một câu chuyện sau đây để khép lại bài viết này. Có một đứa bé rất yêu thương con chó. Bỗng một hôm con chó mất tích. Thằng bé buồn lắm, nó khóc suốt mấy ngày đêm. Nói lấy giấy bút vẽ lại hình hài con chó để làm lưu niệm. Vẽ xong con chó thì nó nhờ mẹ nó vẽ thêm cho con chó đôi cánh để chó bay lên. Mẹ nó loay hoay suốt mấy ngày mà không vẽ được. Thằng bé cầu cứ bố nó. Bó nó chỉ ngằng vài nét là ra hai cái cánh chó đẹp tuyệt vời, con chó như đang bây lên không trung bao la. Thằng bé thích quá ôm cổ bố cám ơn rối rít. Nó hỏi:
-Bố ơi cánh chó bằng cái gì mà đẹp thế ạ? Bố nó trả lời:
- Con ơi, ngày nào bố cũng ăn cánh chó. Đây là hai cái lá mơ…

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhân tâm & Nhân tài:

HAI KHOẮC KHOẢI

Chúng tôi, những con người sinh ra ở hai phần đất nước, tuy cách nhau 2 thế hệ, được giáo dục, tắm trong 2 nền văn hóa và chính trị khác nhau. 

Anh ở Bắc được học tiểu học từ Trung Hoa, rồi trung học của miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, sau đó được đào tạo ở Kiev, Liên Xô cũ, và cuối cùng là tiến sĩ ở Pháp. GS Chu Hảo là cựu thứ trưởng Bộ khoa học công nghệ Việt Nam, cựu Viện trưởng Viện nghiên cứu công nghệ quốc gia. Hiện ông  là Chủ tịch hội hữu nghị Việt Pháp. Ủy viên Hội đồng khoa học Trung Ương. Giám đốc Nhà Xuất Bản Tri Thức, kiêm phó chủ tịch Quỹ Văn Hóa Phan Châu Trinh.

Tôi đến sớm 10 phút - 9h50' sáng 04/5/2014 - thì GS Tương Lai với GS Chu Hảo đang làm việc. Nên phải chờ và chụp tấm hình này.




Hai Anh Em nói chuyện với nhau rất tâm đầu ý hợp về văn hóa, giáo dục và vận mệnh Tổ Quốc

Chúng tôi, những chàng trai, cô gái của thế hệ 195x, 6x và 7x, được sinh ra ở khắp các vùng miền Tổ Quốc, đã lang bạt kỳ hồ, nhưng được tắm mình trong nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa có, Việt Nam Xã hội chủ nghĩa có, và có cả phương Tây. Chúng tôi có được may mắn can qua những bễ dâu của Tổ Quốc, tuy đi xa, nhưng không bao giờ quên Tổ Quốc, không bị hòa tan, mà lại hòa nhập được Đông Tây. Đau thắt ruột, giận bầm gan chỉ vì nhìn nền văn hóa giáo dục nước nhà ngày càng đi xuống, mà không thể góp một tay xây dựng lại nó. Nên, chúng tôi đã ngồi lại với nhau lập ra Quỹ tây Du - Go West Foundation - hòng gầy dựng những thế hệ Việt tương lai đủ tâm, đủ tầm và có năng lực thực hiện hiệu quả việc dựng xây một nước Việt tự lực, tự cường.

Hai thế hệ, kẻ Bắc, người Nam và lưu lạc xứ người, nhưng cùng nhau một tấm lòng, một chí hướng để có thể nói chuyện với nhau bằng ngôn ngữ của Chân, Thiện, Mỹ, của những con người thực sự nặng lòng với Tổ Quốc đang họa xâm lăng của văn hóa rác thời đại.

Sáng nay, Anh đại diện Quỹ Văn Hóa Phan Châu Trinh và Nhà xuất bản Tri Thức được thành lập tại Việt Nam gặp tôi, đại diện Quỹ tây Du được thành lập tại Hoa Kỳ từ tấm lòng của những Người con xa xứ. Tuy không cùng nền giáo dục, không cùng văn hóa sống, nhưng 2 tiếng Quê Hương đã làm chúng tôi cùng tư tưởng. Anh đã nói, phải khai sáng thế hệ trẻ, nếu không đất nước chúng ta sẽ đổ máu. Tôi lại tâm sự rằng, không chỉ đổ máu, mà sau đổ máu đất nước không có nhân lực dựng xây như Iraq, như Libya, như Syria và như đất nước chúng ta trong 39 năm qua. cả hai cùng rươm rướm nước mắt!

Cuối cùng, anh em đồng ý nhau cùng xây dựng những thế hệ trẻ là những công dân toàn cầu để gầy dựng lại quê hương. Những năm 197x, Đặng Tiểu Bình đã đưa ra 3 sách lược giáo dục cho thế hệ 195x và 196x mà không đòi hỏi bất kỳ điều kiện gì, ngay cả bắt họ phải quay về. Nếu họ về là người Trung hoa yêu nước, nhưng những ai không trở về thì cũng gọi họ là Hoa kiều yêu nước. Song sau đó, chính ông Đặng đã học theo Hàn Quốc, chọn 100 người xuất sắc nhất, gửi thư đưa ra điều kiện trọng dụng họ bằng cách cấp nhà, xe hơi và mức lương gấp 3 lần Hoa Kỳ đang trả để ra chỉ 1 điều kiện, trong 3 năm quay về Trung Hoa nhà nước sẽ chu cấp toàn bộ kinh phí để họ xây dựng những Viện nghiên cứu như tại nơi họ đang làm việc ở Hoa Kỳ. Cho nên, ngày nay mới có một Trung Hoa đáng sợ.

Và tôi đã đại diện Go West foundation hứa, nếu anh Chu Hảo phát hiện ra những tài năng đam mê nghiên cứu văn hóa và giáo dục, nhưng thiếu điều kiện kinh tế để theo đuổi ước mơ, thì hãy nói họ nộp hồ sơ đến Go West Foundation, cùng chúng tôi làm hồ sơ xin học bổng. nếu có học bổng ở các đại học phương Tây và Bắc Mỹ, thì chúng tôi sẽ sẵn sàng tài trợ phần còn lại, mà gia đình không thể đảm đương.

Hàn Quốc và Trung Hoa làm được, thì chúng ta phải làm được. Làm bằng khối óc và con tim rực lửa yêu nước và bằng một lòng can đảm vượt qua mọi chông gai, vòng kim cô trói buột chúng ta đã hơn nửa thế kỷ qua. hai khoắc khoải của 2 thế hệ sinh ra ở hai miền đất nước, có hai tư tưởng chính trị khác nhau, nhưng cùng nhau một chí hướng cho nền văn hóa và giáo dục nước nhà.

Tư Gia, 17h45' Chúa nhựt, 04/5/2014

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đại gia bí ẩn bỏ nghìn tỷ xây chùa Bái Đính


Ở Việt Nam, có 2 đại gia nổi tiếng thay vì chỉ chi tiền vào các dự án bất động sản để bán đất thu lời, lại đổ hàng đống tiền để xây khu du lịch tâm linh. Một người ở Ninh Bình xây chùa Bái Đính, còn một người “quen thuộc” xây lạc cảnh Đại Nam - ông Huỳnh Uy Dũng.
Ông Trường (người mặc áo trắng)
Theo Wiki, ông Nguyễn Văn Trường sinh năm 1963 tại thôn Chi Phong, xã Trường Yên - Hoa Lư - Ninh Bình. Ông là một doanh nhân nổi tiếng nằm trong nhóm doanh nhân đạt danh hiệu "Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu" và Cúp Vàng hội nhập kinh tế quốc tế.

Ông hiện là ủy viên Ban Chấp hành VCCI khóa V - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, tổng giám đốc Doanh nghiệp Xuân Trường, chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Du lịch Hoa Lư, giám đốc Khách sạn Hoa Lư. Doanh nhân Nguyễn Văn Trường được biết đến với việc mạnh tay đầu tư cả nghìn tỷ đồng vào Khu Du lịch Tràng An - chùa Bái Đính ở cố đô Hoa Lư (Ninh Bình)

Ông Nguyễn Văn Trường được coi là một đại gia ẩn mình, là người sùng đạo phật, có cuộc sống bình dị ăn chay trường từ nhiều năm nay..

Ông Trường ít khi xuất hiện trên báo chí và thường từ chối chụp ảnh với cả những người bạn làm báo thân thiết nhất, bởi theo ông, những việc mình làm “không có gì to tát”.

Cho đến nay, giới truyền thông chỉ nắm được ông là chủ nhân của khách sạn Hoa Lư (Ninh Bình. Khách sạn Hoa Lư trước kia do Sở Du lịch khai thác. Nay, cả ba công trình trên đều đã được tỉnh giao cho doanh nghiệp Xuân Trường.

Ông cũng được biết đến là người chi 100.000 USD, đích thân sang Ấn Độ đón Ngọc xá lợi về Việt Nam. Ở Nội Bài, ông đã sắp xếp thuê 3 chiếc xe Limousine, Hummer, Lincoln để chở xá lợi và cao tăng về Ninh Bình. bất cứ việc nào có lợi cho di sản và du lịch ở Ninh Bình, Trường đều sẵn sàng làm. Hội thảo về cố đô Hoa Lư, lễ hội, hội nghị xúc tiến, ông âm thầm đứng sau tài trợ.

Chia sẻ với báo giới, doanh nhân Trường cho biết: “có người đã đúc kết rất đúng rằng: Đại gia thì cũng chỉ ăn được 3 bữa cơm một ngày thôi, cái khác biệt biệt là họ sẽ để lại cái gì cho đời. Và cái để lại đó, nếu nó thực sự đáng quý, thì cũng chẳng cần khoa trương, nó vẫn quý”.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Con rắn ngu ngốc:



Một đêm một con rắn trong khi đang tìm kiếm thức ăn, bò vào một xưởng mộc.
Người thợ mộc vốn khá bừa bộn, đã để lại một số công cụ nằm trên sàn nhà trongsố đó có một cái cưa.
Khi con rắn bò lòng vòng trong xưởng, nó trườn qua cái cưa, và bị một vết cắt nhỏ.
Ngay lập tức, nghĩ rằng cái cưa đã tấn công mình, nó quay lại và cắn thật mạnh vào cái cưa khiến cho miệng nó chảy máu.
Điều này khiến con rắn rất tức giận. Nó tấn công một lần nữa, và một lần nữa cho đến khi cái cưa đầy máu và dường như đã “chết rồi”.
Sắp chết vì những vết thương của mình, con rắn quyết định cắn một cái cuối cùng thật mạnh trước khi bò đi. Sáng hôm sau, người thợ mộc rất ngạc nhiên khi thấy một con rắn chết trước cửa nhà mình.
Đôi khi, trong lúc cố gắng làm tổn thương người khác, chúng ta chỉ làm tổn thương chính mình mà thôi.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĐẤT NƯỚC CẦN MỘT TRÁI TIM

                                                              
  
 Vào những ngày này cách đây 39 năm, chiến trường Miền Nam đang dầu sôi lửa bỏng, tiếng gầm rú của máy bay, xe tăng đạn pháo, mùi khói súng, cảnh đổ nát, tiếng la khóc lẫn tiếng hò reo…  đang bao phủ khắp Miền Nam và rồi ngày cuối cùng của tháng tư cũng là ngày cuối cùng của cuộc chiến đẫm máu, vì thế nó là những kỷ niệm sâu sắc vui buồn đáng nhớ nhất của cả kẻ thắng người thua mỗi tháng tư về.
    Với thiên nhiên, tháng tư thật là tuyệt vời, khí hậu trong lành mát mẻ, lác đác có những trận mưa rào, cây cối hoa màu đang đơm hoa, nảy lộc, mầu xanh đang hồi sinh trở lại với thiên nhiên hoa lá. Bổng tôi được nghe lại bài hát “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, bài hát khiến tôi xúc động, trong đó có đoạn:
“ Mỗi ngày tôi chọn ngồi thật yên.
 Nhìn rõ quê hương, ngồi nghĩ lại mình
   Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống vì đất nước cần một trái tim”
 
Được mùa
Vậy là đã ngót 40 tháng tư trôi qua, nếu chúng ta ngồi thật yên để nhìn rõ quê hương đất nước này, chúng ta sẽ thấy chúng ta đã làm được gì, phát triển kinh tế ra sao, chính trị, quốc phòng thế nào và hơn kém bạn bè trong khu vực cái gì… ắt hẳn mỗi người chúng ta nhìn thấy quá rõ.
 Sau chiến tranh đất nước vô cùng khó khăn, đó là tất yếu, nhiệm vụ lúc đó là tập trung vào hàn gắn chiến tranh, phát triển kinh tế xây dựng đất nước. Khốn nỗi thời đó đường lối lãnh đạo của Đảng là phải lấy tư tưởng Mác, Lê Nin làm kim chỉ nam là bất di bất dịch. Được biết có nhiều cán bộ có tư tưởng tiến bộ cởi mở, biết mười mươi đó là đường lối cứng nhắc nếu cứ đi con đường này thì kinh tế đất nước còn gặp muôn vàn khó khăn, nhưng không dám ho he là vì nói ra là đi ngược lại tư tưởng của Đảng, coi chừng lại vạ vào thân.  Mãi đến năm 1988 Trung ương Đảng mới có cuộc cách mạng đột phá về nông nghiệp, nghị quyết 10 ra đời, người nông dân được  giao đất, làm chủ ruộng đất, nhà nước thu sản lượng  tức là khoán 10. Từ đây người nông dân được cởi trói, nền kinh tế thay đổi hẳn. Từ nền nông nghiệp lạc hậu lỗi thời, người nông dân làm ra hạt thóc mà không đủ ăn đã trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng nhất nhì Thế giới. Điều đáng nói ở đây là trước đó hơn 20 năm, một người đã mạnh dạn đề xuất thay đổi cơ cấu phát triển nông nghiệp theo kiểu khoán hộ, đó là một bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc, Kim Ngọc, nhưng  lập tức  ông đã bị trì chích và đích thân ông Trường Chinh ra chỉ thị, Kim Ngọc phải làm kiểm điểm và tự nhận "có sai lầm nghiêm trọng trong khoán hộ". Nay thì cố bí thư tỉnh ủy Vinh Phúc lại được Đảng nhà nước ca ngợi hết lời, ghi nhận những đóng góp công lao, trí tuệ của ông cho sự nghiệp đổi mới của cách mạng Việt Nam, bởi ông là cha đẻ của khoán 10, nhờ có khoán 10 mà Việt Nam mới thay da đổi thịt. Ông đã cứu cả dân tộc này thoát khỏi đói nghèo, ông thật xứng đáng được tôn vinh. Ông được nhà nước truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất, huân chương HCM. Người ta đúc cả tượng đồng, dựng cả bộ phim dài nhiều tập ca ngợi về ông. Hóa ra cấp trên sai lầm nghiêm trọng chứ Kim Ngọc không sai. Ông đã đi trước Đảng cả vài chục năm và giá lúc đó Đảng nghe ông thì kinh tế Việt Nam đã thay đổi khá nhiều.
Gần đây trong một phóng sự về nông thôn mới trên truyền hình, người ta lại nhắc đến cái tên Phùng Gia Lộc. Ông là nhà văn nhà báo, ông sinh ra và lớn lên ở Thọ Xuân, Thanh Hóa. Ông không có những đề xuất đường lối đổi mới như Bí thư Kim Ngọc, nhưng ông lại là người dám mạnh dạn, thẳng thắn  nhìn vào một sự thật, dám viết về những sự thật, đấu tranh với những cái trớ trêu gai mắt của xã hội, cái cùng cực của người nông dân với “ác bá cường hào” thời hiện đại vào những năm đầu thập niên 80 thế kỷ trước. Vào nửa đêm “Bỗng tiếng kẻng gõ giục giã liên hồi. Kẻng khắp xã: từ đội 1 đến đội 15, như một sự bùng nổ dây chuyền. Tiếng loa phóng thanh mở hết cỡ đọc bản tin, kế hoạch huy động lương thực của tỉnh và chỉ thị của tỉnh ủy về công tác lương thực...”  đoàn thu sản vào từng nhà còn thiếu nợ, xăm soi lùng sục, vét từng hạt thóc, không có thóc thì người ta tịch thu tất cả những gì có trị giá đồng tiền, từ đồ dùng ít tiền cho đến nhiều tiền, từ cái phích nước, bàn ghế tủ giường, cho tới lợn gà trâu bò, xe đạp… Tiếng khóc lóc van xin lẫn tiếng quát mắng, khiến người ta liên tưởng đến cảnh chị Dậu thời hiện đại. Khi bài bút ký  “Cái đêm hôm ấy… đêm gì” của ông được đăng trên báo văn nghệ cuối năm 1987 khiến không ít bạn trẻ không thể tin nổi vào thời hiện đại lại có cảnh như thế. Bài viết mô tả sự thật của những đêm dài tăm  tối hồi ấy, với nhân vật thật, tên tuổi thật, đại đa số những người ấy đến nay vẫn còn đấy, khiến họ đã tự nhìn lại mình và cũng nhờ bài viết ấy mà cả xã hội đã bừng tỉnh, Ấy thế nhưng lúc đó ông đã phải chịu nhiều áp lực, người dân thì ca ngợi ông gọi ông là anh hùng thời đại, nhưng cũng có những người trì chích ông, khiến ông phải chịu nhiều hệ lụy.
Rất tiếc rằng khi người ta nhìn ra sự thật thì cả hai ông Kim Ngọc và Phùng Gia Lộc không còn nữa, nhưng giá trị về nhân cách, tính thẳng thắn và tinh thần đấu tranh tinh thần trách nhiệm với dân tộc với Tổ quốc thì vẫn còn đấy và bài học giá trị vẫn còn đấy. Trong thời mở cửa còn biết bao câu chuyện tương tự, như các dự án đầu tư xây dựng của nước ngoài, chuyện khai thác tài nguyên, biển đảo, an ninh quốc phòng, chuyện trong đảng, chuyện ngoài dân…  Chắc chắn hôm nay có những người đang bị trì chích thì 5-10 năm sau họ lại được hết lời ca ngợi. Nhưng tiếc rằng có những cái sai lầm còn làm lại được nhưng cũng có những sai lầm vĩnh viễn không thể lấy lại được và thời gian sẽ làm chậm trễ sự phát triển kinh tế đất nước.
Xã hội ngày nay không còn là thời của ông Ngọc, ông Lộc, không còn những lớp sương mù bao phủ khiến người dân không nhìn rõ sự thật ù mờ giữa trắng đen, và càng quan chức thì nhìn càng rõ hơn ai hết nhưng liệu một bên là lợi ích dân tộc, một bên là lợi ích cá nhân làm sao thắng được cái lợi ích cá nhân mới là khó.
 Nói như trong bài viết của nhà thơ Trần Đăng Khoa “đừng tưởng người dân không biết gì. Nhầm đấy” người dân là người nhìn rõ nhất, cái gì mà người dân không biết, cái gì mà che được mắt người dân và ý dân là ý trời, có điều là quyền của người dân được đến đâu. Tôi rất thích bài viết gần đây của anh Khoa, cứ nói chống tham nhũng khó “Chống tham nhũng xem ra chả khó. Chỉ có điều mình có muốn làm thật hay không? Còn nếu muốn làm thật thì cứ giao cho dân. Dân sẽ làm được ngay. Cán bộ ai thế nào, dân cũng biết hết. Đừng tưởng dân không hiểu gì. Nhầm đấy!”
  Nếu cứ để dân làm chủ, thực hiện như cụ TBT Nguyễn Văn Linh nói “dân biết dân bàn dân làm dân kiểm tra” thì ngày nay làm gì có cả bầy sâu, một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên biến chất.                                                                                                                                                                           
Thiết nghĩ nếu như biết tôn trọng và biết lắng nghe ý kiến đóng góp của người dân thì đất nước này đã khác xa.
Quả thật đất nước này đang  cần, rất cần một trái tim.

Tre Làng  SHARE

Phần nhận xét hiển thị trên trang