Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 3 tháng 5, 2014

Viết hay không viết ( tiếp theo )

   …Lễ lạt xong, cháu lão lại nhắc lần nữa về việc có nên lên Tam Đảo hay không?
Thực tình mà nói, thằng Chuếch không định làm một phép thử thăm dò. Nó chưa lần nào lên núi Tam đảo, muốn nhân chuyến này đi cho biết đường. Lỡ mai này bạn gái nó có rủ đi thì nó đã biết nơi ấy rồi. Định vị của xe chỉ có thể chỉ dẫn đường đi chứ không chỉ dẫn nơi ăn chốn ở khu du lịch sinh thái như thế nào.
Còn lão Đợi có mát mẻ một chút cũng là lẽ tự nhiên. Như thế người ta uống một lon bia giải khát, hay tách cà phê, chả có gì quan trọng. Lâu lâu đám con của lão vẫn thường thưởng cho bố chúng một chuyến pichsnich như thế, để lão dối già.
Xe chuyển hướng, nhắm tới đại gia thứ nhất.
Chúng tôi đang đứng ngoài khu vườn có tường xây bao khá cao. Chỉ nhìn thấy phần trên khu biệt thự hoành tráng, mái lợp ngói đỏ Hạ Long. Có những con nghê đúc bằng đồng chầu hai bên. Ở chính giữa là ô hình mặt trăng khảm nổi bằng đá quý, nguyên khối.
Chả rõ thực hư thế nào, thấy lão Đợi bảo: “Về phong thủy như thế này là sai. Rồng chầu mặt nguyệt thì đúng, chứ nghê chầu là cái sai lớn. Khi công trình đang làm anh đã góp ý ông ấy không chịu nghe. Giàu có trên nền tảng vô học thiếu và văn hóa quả thực là một tai họa!”
Thấy tôi có vẻ không hiểu, lão bảo để khi về, lão sẽ giải thích vì sao có câu nói như vậy. Vừa lúc cánh cổng đúc bằng gang chợt mở.
Ra đón khách là một người đàn ông ở quãng tuổi chia trung bình giữa tôi và lão Đợi. Nghĩa là không quá già và không còn trẻ, chừng ngoài năm mươi. Người này tai vểnh, bàn tay to, cặp môi mấp máy, gáy phẳng, cổ cực ngắn. Rất khó nói thuộc tuýp người nào? Riêng cặp mắt có nét gì hao hao giống thằng Chuếch cháu lão đợi. Ông ta có giọng nói khàn khàn như người đang bị viêm họng, tiếp chúng tôi một cách ơ hờ, không có ý gì vồn vập, mặn mà.
Trước lúc đến đây lão Đợi có trích ngang về người này một quãng: “Ông này trưởng trạm kiểm lâm, có họ bên ngoại mấy đời với lão. Ông cố nội  ông ấy xưa là bần cố nông được chia hương hỏa cải cách ruộng đất. Khu biệt thự này chính là nền cũ ngôi nhà ngói năm gian nhà lão Đợi ở đến đời thứ mười bị mất.
Năm tháng qua đi chuyện ân oán lâu ngày nhạt dần. Không mấy ai nặng nề chuyện cũ.
Lâu lâu lão đợi về làng vẫn đến chỗ này chơi. Vừa là thăm nơi chôn rau cắt rốn của mình. Hai là nếu có cơ hội mua lại được chỗ này, dẫu có đắt lão cũng mua.
Lão sẽ cho xây nhà từ đường để con cháu lâu lâu có về thăm quê, thờ cúng tổ tiên có chỗ tụ họp. Nhiều lần như thế trở nên thân thiết, quên hẳn chuyện cũ đã qua của cái thời không mấy người muốn nhắc tới. Vả lại người của thời đó giờ chẳng còn mấy người, lớp trẻ lại không quan tâm.
Chủ nhà bảo khi xây khu biệt thự này con trai ông ta định làm khu du lịch sinh thái. Du lịch nhà vườn. Chỗ này gần sát bờ sông, vị trí cực đẹp. Từ đây ra ngoài thành phố chỉ hơn chục cây số, lại là trung tâm của cả ba khu du lịch tâm linh, nhất cả nước, hiếm có nơi nào có vị thế như vậy.
Nhà nghỉ xây xong. Vườn cây cũng trồng đâu vào đấy, bắt đầu có hoa rồi có quả. Có một số thứ chả đâu bằng .. thì đột ngột anh con trai duy nhất bị bắt. Vụ mấy trăm bánh hêroin bên Bắc Ninh có dính líu đến anh ta. Lo liệu mãi mới qua được cái án tử, nhưng cũng hơn chục năm nữa người trai ấy mới có thể trở về nếu anh ta không bị chết bệnh hay chết tai nạ trong tù. Năm năm qua, khu du lịch sinh thái trong dự tính đành bỏ dở. Ông bố ở nhà được anh con nhắn về bán tất khu này để lo tiếp cho anh ta và để bố dưỡng già. Đúng ngay thời điểm bất động sản đóng băng, bán đâu có dễ. Giá như cách đây một vài năm, không đắt thì rẻ, còn có người mua. Đến như lão Đợi từng có dự tính như thế mà lần này chưa thấy ý kiến gì? Hoặc là lão ngấm ngầm trong bụng dự tính chi đó mà mình chưa hiểu? Tôi thấy tốt nhất là không nên hỏi. Với lại không khí có phần ảm đạm, tự nhiên cảm thấy mất hứng thú tìm hiểu hay tò mò vốn là thói quen xấu của tôi.
Theo yêu cầu của lão Đợi,  chủ nhà vẻ mặt không vui nhưng vẫn chiều lòng, dẫn cả bọn mấy ông cháu đi lòng vòng một lượt.
Chỗ này vườn hoa cây cảnh, chỗ kia bể bơi lát đá nhập ngoại trắng muốt. Cây bon sai uốn éo hàng hàng.
Đột ngột hiện ra một dãy dài giàn su su, bầu bí, dưa chuột và cả đám ngô trồng đã phun râu. Đây chắc hẳn là đối phó tình thế, nguồn sống của những người ở lại. Một ông già và hai đứa cháu, con của kẻ xa  nhà. Ông ta bảo:” May mà tôi vẫn đứng tên trong sổ đỏ, không thì dạo đó xong rồi”. Đôi mắt nhỏ của ông ấy chợt ánh lên chút tia sáng hiếm hoi rồi chợt tắt.
Chủ nhà có ý mời cơm nhưng lão đợi bảo là đã có hẹn với người em, trưa nay chúng tôi sẽ ăn cơm ở đó. Chủ nhà cũng không giữ. Hình như ông ta khẽ thở dài. Tôi bắt gặp cái nhìn như có điều thắc mắc tự nơi ông. Tôi cố giữ vẻ điềm nhiên, vẻ mặt của kẻ vô cảm, vốn ghét cay ghét đắng đối với mình!


( Còn nữa..)



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cho người Việt đánh bạc trong casino: Lý lẽ không vững


Bàn về nới lỏng kinh doanh casino, chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành, nói: "Lợi ích quốc gia, lợi ích nền kinh tế, lợi ích cho nhân dân ở đâu, những câu hỏi đó quan trọng nhưng không thấy trên bàn nghị sự". Phó Chủ tịch Quốc hội ủng hộ cho người Việt chơi bạc ở casino / Chuẩn bị thí điểm mở cửa casino cho người Việt?

Dự thảo Nghị định hoạt động kinh doanh casino do Bộ Tài chính trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội tuần trước đề cập đến việc cho người Việt vào chơi trong casino ở Việt Nam. Ông bình luận thế nào về vấn đề này?

Người ta đưa ra nhiều lý lẽ nhưng không vững, thậm chí, một đại biểu Quốc hội còn nói, do trong nước không được chơi nên nhiều người Việt sang Campuchia, Hồng Kông, Ma Cao để đánh bạc. Việc vác tiền đi đánh bạc là bất hợp pháp, quản lý đất nước mà lại chấp nhận sự bất hợp pháp, thậm chí lấy đó làm lý do để cho phép người Việt vào casino trong nước đánh bạc thì không ổn.

Không phải cứ mở dăm ba casino là kinh tế tăng trưởng được. Bàn về casino có hai việc cần quan tâm là nền kinh tế lợi gì và thiệt hại gì. Thực tế cho thấy, mở casino tại Việt Nam, lợi ích mang lại cho nền kinh tế không bao nhiêu. Các nguồn lực, phương tiện tài chính bị hút vào đấy, thay vì đầu tư sản xuất kinh doanh. Ở đây, chỉ có chủ casino được lợi. Nhìn casino phải rất rõ ràng, không nên vì lý do này, lý do kia mà nới lỏng chính sách.

Các nhà đầu tư cho rằng điều kiện về pháp lý khiến kinh doanh casino tại Việt Nam gặp khó khăn, vậy còn ý kiến của ông?

Việt Nam đã cho mở casino nhưng còn hạn chế, chỉ cho phép người nước ngoài, người Việt định cư ở nước ngoài (có quốc tịch nước ngoài) vào chơi. Thực chất, đó là bước đầu để mở cửa, một khi cánh cửa đã hé, họ sẽ xô toang cửa để vào và lấy lý do này, lý do kia để thuyết phục các nhà cầm quyền nới lỏng chính sách kinh doanh casino.

Bởi vậy, mới có chuyện một số người làm chính sách cho rằng, trong khu vực có nhiều nước làm casino, Campuchia cũng làm, lý do gì mà Việt Nam không làm. Tôi nghĩ, không phải vì Campuchia làm sai thì bắt buộc mình cũng phải làm sai.

Ông nói, lợi nhuận vào tay các nhà đầu tư casino quốc tế, như vậy, các nhà đầu tư trong nước thì sao?

Người Việt chưa làm casino bao giờ, vẫn quen đánh bạc trong sòng nhỏ hay góc phố. Người Việt không làm được casino, bởi thiếu vốn, công nghệ, mở ra chỉ để cho người nước ngoài làm. Casino ở Las Vegas – Mỹ là những tổ hợp sòng bạc và khách sạn lớn. Nếu chỉ làm casino mà không có khách sạn thì casino không phát triển, ngược lại, làm khách sạn mà không có casino thì khách sạn lỗ.

Việt Nam muốn tổ chức casino phải kéo được người tới đánh bạc, nhưng muốn kéo được người tới đánh bạc, trước đó, phải tổ chức được tổ hợp sòng bạc và khách sạn, với hạ tầng hiện đại, đủ để thu hút người ta đến ở và đánh bạc.

Theo ông, Việt Nam có nên thay đổi chính sách để mở rộng loại hình kinh doanh này?

Người ta lo về số tiền thuế bị mất do người Việt sang Campuchia chơi bạc nhưng không tính đến hệ lụy khi nới lỏng chính sách. Về kinh tế, tôi không thấy có lợi ích gì cho vấn đề casino, thậm chí còn rất nguy hiểm.

Thay vì bỏ tiền đi kinh doanh, người dân bỏ tiền đi đánh bạc, một khi đã bỏ tiền đi đánh bạc thì không còn đầu óc lo chuyện kinh doanh. Nếu nới lỏng chính sách cho người Việt vào chơi trong các casino, vấn đề lúc đó sẽ khác. Đó là chưa nói đến vấn đề văn hóa, giáo dục của cả một cộng đồng dân tộc.

Cảm ơn ông!
Theo Hải Vân, DNSG

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2014

Bềnh thế nào nhể???

ĐOÀN NGƯỜI CÓ UY TÍN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ ĐI THAM QUAN



Lần sau, sẽ là "Đoàn v... có uy tín tỉnh Thừa Thiên Huế..."

Chụp tại Vườn hoa Hà Đông - thủ đô Hà Nội văn hiến

Đèn lồng đỏ treo cao ở tháp mộ sư chùa Phúc Khánh (chùa Sở)
nơi Giáo sư giả, Tiến sĩ Phật học, Đại biểu Quốc hội Thích Thanh Quyết trụ trì.
Đèn lồng loại này thường có chữ Cung Hỷ Phát Tài bằng chữ Tàu

Sách của "LƯỠNG QUỐC TIẾN SĨ" Đỗ Văn Khang.
Ông này là Giảng viên Đại học Tổng hợp HN (nay là ĐH KHXH và NV HN)
Ông bắt sinh viên của ông trên bài kiểm tra phải ghi rõ:
Môn: Mỹ học. Giảng viên: Lương Quốc Tiến sĩ Đỗ Văn Khang.


Các thầy cô ở Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Bình mà giới thiệu mặt hàng như thế này
 thì làm sao dạy được các em: "Chào mừng kỷ niệm 410 năm hình thành
 tỉnh QUẢNH BÌNH (1604 - 2014)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đường dây nóng - Thông tin kiểu cu Bin!


Nghe rõ giả nhời:

Tôi nói ĐB nghe rõ hông?

Ảnh Công Hùng


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Việt Nam: Quốc gia ủng hộ Mỹ nhiều nhất ở Châu Á


Câu trả lời: Việt Nam. Ít nhất là nếu bạn đánh giá từ quan điểm của người dân.
...Hãy xem cuộc di cư ồ ạt của người Việt Nam sau khi chiến tranh kết thúc. Thật khó mà tìm ra được một gia đình Việt Nam nào, đặc biệt là ở Miền Nam, mà không có người thân sống ở Mỹ. Trong năm 1975 và những năm sau đó, hơn 1 triệu người Việt Nam đã vượt biên bằng đường biển, nhiều người đi bằng thuyền, và phần lớn trong số đó đã tìm đến Mỹ. Nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là ở Miền Nam, phụ thuộc vào cộng đồng người Việt Nam hải ngoại, với hàng tỷ dollars được gửi về hàng năm cho thân nhân ở Việt Nam. Mối liên hệ giữa con người với con người đã khiến cho chính sách quốc gia trở nên mờ nhạt...
Quốc gia Châu Á nào ủng hộ Mỹ nhiều nhất?

Câu trả lời: Việt Nam. Ít nhất là nếu bạn đánh giá từ quan điểm của người dân.

Việt Nam ư? Chẳng phải đấy là nơi mà khoảng 2 triệu người Việt Nam đã ngã xuống trong cuộc xung đột với người Mỹ hay sao? Chẳng phải đấy là nơi mà 58.000 lính Mỹ đã chết trận hay sao? Chẳng phải đấy là nơi mà viên tướng không quân Hoa Kỳ Curtis Lemay đã nói rằng chúng ta cần “ném bom để đưa họ trở về thời kỳ đồ đá” (bằng cách phá huỷ các nhà máy, bến cảng và cầu cống “cho đến khi chúng ta tiêu huỷ mọi công trình nhân tạo ở Bắc Việt Nam”) hay sao?

Tôi từng sống ở Việt Nam 5 năm, từ 1966 đến 1972, đầu tiên là một tình nguyện viên làm việc với người tỵ nạn, và sau đó là một nhà báo. Tôi học Tiếng Việt, cưới một cô vợ người Việt, và đã quay lại đây hàng chục lần trong những năm qua. Tôi theo dõi sát sao tình hình Việt Nam như một số ít người khác. Tôi đã thăm Việt Nam gần đây, dành 7 tuần đi từ bắc chí nam. Tôi tin rằng Việt Nam và người Việt Nam có nhiều thứ để dạy chúng ta.

Bây giờ tôi xin phép được chia sẻ một vài suy nghĩ liên quan đến cái cách mà chúng ta, với tư cách một quốc gia, vẫn nhìn nhận các quốc gia và dân tộc khác.

Phần lớn người Mỹ không còn nghĩ nhiều về Việt Nam sau khi những người Mỹ cuối cùng rời khỏi đây năm 1975. Đó là khi cuộc chiến tranh chính thức chấm dứt và Miền Bắc cộng sản tiếp quản Miền Nam.

Thoáng chốc gần 40 năm sau

Một trong những điều thú vị nhất mà một du khách tới Việt Nam nhận ra là mức độ thân thiện mà người Việt Nam dành cho người Mỹ. Đây là một vài lý do – văn hoá, lịch sử, địa chính trị, và những lý do khó cắt nghĩa khác – giải thích cho điều đó. Hy vọng là các nhà hoạch định chính sách ở Washington có thể lắng nghe.

1. Người Việt Nam đã giành chiến thắng. Niềm tự hào của người Việt Nam vẫn y nguyên. Người dân, kể cả các quan chức chính quyền, có thể tỏ ra vị tha. Suốt chiều dài lịch sử, người Việt Nam luôn cho rằng họ đã đánh bại những kẻ xâm lược ngoại bang, trong đó có Trung Quốc, Pháp và Mỹ. Họ mang theo mình hình ảnh cao đẹp về bản thân. Cuộc chiến tranh Việt Nam chỉ càng khẳng định thêm hình ảnh đó.

2. Việt Nam là một đất nước tương đối nhỏ, tiếp giáp với Trung Quốc, một kẻ thù lịch sử. Quân đội Việt Nam chiến đấu với quân Trung Quốc trên biên giới Việt-Trung gần đây nhất là vào năm 1979. Với việc Trung Quốc khẳng định chủ quyền đối với các đảo của Việt Nam trên Biển Đông, mức độ căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam gia tăng hàng ngày. Nhiều người Việt Nam tẩy chay hàng hoá Trung Quốc. Người Việt Nam (nếu không muốn nói là toàn bộ chính quyền Việt Nam) coi Hoa Kỳ là siêu cường duy nhất đủ sức kiềm chế Trung Quốc.

3. Các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam thừa biết quốc gia nào có nền giáo dục bậc cao tiên tiến, ở đâu trẻ em có thể được tiếp cận với lối tư duy, công nghệ và mô hình kinh doanh mới nhất. Họ gửi con cái của mình sang Mỹ – chứ không phải là Trung Quốc hay Nga – để du học.

4. Hãy xem cuộc di cư ồ ạt của người Việt Nam sau khi chiến tranh kết thúc. Thật khó mà tìm ra được một gia đình Việt Nam nào, đặc biệt là ở Miền Nam, mà không có người thân sống ở Mỹ. Trong năm 1975 và những năm sau đó, hơn 1 triệu người Việt Nam đã vượt biên bằng đường biển, nhiều người đi bằng thuyền, và phần lớn trong số đó đã tìm đến Mỹ. Nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là ở Miền Nam, phụ thuộc vào cộng đồng người Việt Nam hải ngoại, với hàng tỷ dollar được gửi về hàng năm cho thân nhân ở Việt Nam. Mối liên hệ giữa con người với con người đã khiến cho chính sách quốc gia trở nên mờ nhạt.

5. Ngày nay, chỉ còn một bộ phận nhỏ người Việt Nam còn lưu giữ ký ức về cuộc chiến tranh. Thập niên 1960, hai miền Nam Bắc Việt Nam đều có số dân chỉ hơn 15 triệu người. Hiện nay, dân số Việt Nam lớn gấp 3 lần con số đó, với khoảng trên 90 triệu. Đây là một quốc gia với dân số trẻ. Nếu xét đến thực tế một người ít nhất phải trên 55 tuổi mới có ký ức đáng kể về cuộc chiến thì tỷ trọng dân số đó là tương đối nhỏ. Có lẽ chỉ khoảng 15% dân số có thể lưu giữ một ký ức sống động.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định là họ đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, nhưng chính sách của họ lại tạo thuận lợi cho đầu tư tư bản từ nước ngoài. Chỉ tính riêng năm 2013, các công ty Việt Nam đã ký kết những hợp đồng lên đến 2,6 tỷ USD để mua động cơ máy bay và tua-bin gió do Hoa Kỳ sản xuất, góp phần tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động Mỹ trong lĩnh vực chế tạo.

7. Ảnh hưởng của phương Tây hiện diện khắp mọi nơi ở Việt Nam. Những cư dân đô thị trẻ tuổi, con trai và con gái của tầng lớp tinh hoa, ngồi chật các các tiệm cà phê và cửa hiệu bán kem, mang theo bên mình những iPhone và iPad, mặc quần bò và áo phông với những dòng chữ Tiếng Anh.

8. Tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai ở Việt Nam, được dạy ngay từ bậc tiểu học. Người Việt Nam thích luyện Tiếng Anh với người Mỹ.

Và vì thế, sau bấy nhiêu năm, sau bao bom đạn và chết chóc, sau bao nỗi kinh hoàng, đôi khi tôi lại tự vấn: “Vậy thì cuộc chiến kia liên quan đến cái gì nhỉ?” Vâng, nó liên quan đến chủ nghĩa dân tộc và nền độc lập của người Việt Nam. Vâng, đất nước Mỹ chúng ta đã từng lo sợ trước “hiểm hoạ cộng sản lan rộng”, trước “hiệu ứng domino”. Việt Nam ngày nay có những vấn đề của mình. Nhưng ít nhất thì người Việt Nam cũng tự đưa ra quyết định cho mình.

Tôi cứ nghĩ mãi là giá như chúng ta có thể thua sớm hơn trong cuộc chiến đó. Nếu vậy thì bao nhiêu con người đã có thể tránh khỏi chết chóc?

Thomas C. Fox

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khởi từ phát!

ÔNG NGUYỄN BÁ THANH: BÁC HỒ TỪNG LÔI XỀNH XỆCH MAO TRẠCH ĐÔNG QUA MÁT-XCƠ-VA GẶP XÍT-TA-LIN !

Đây là một phần bài nói của ông Nguyễn Bá Thanh trước 4.500 cán bộ các cấp của Đà nẵng (Nguồn:  YOUTUBE ). Mời bà con đọc qua chút xả xì-trét cho đỡ … tức !
30-4-1975 ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, giang sơn thu về một mối. Như vậy sau 117 năm kể từ ngày Pháp nổ phát súng xâm lược vào Đà nẵng 1858 mở đầu cho cuộc xâm lược. Như các đ/c biết trong kháng chiến đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh và bộ tham mưu tối cao có đức có tài, những tên tuổi như Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Linh…, góp phần vào trong chiến thắng chống Mỹ. Phải nói uy tín của Đảng đối với dân gần như tuyệt đối. Đảng gắn bó máu thịt với dân, dân rất tin Đảng.
Nhà tan cửa nát cũng ừ,
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ được chừ, sứớng sao !
Có những gia đình như gia đình mẹ Thứ, chồng và con gần cả chục người hy sinh. Có những người mẹ lần lượt tiễn những người con cuối cùng mình rứt ruột đẻ ra để tham gia chiến đấu chiến thắng Mỹ.
Nhưng sau giải phóng miền Nam 1975, phải nói rằng những người cộng sản Việt Nam quá say sưa với chiến thắng, cứ tưởng mình thắng Mỹ là nhất rồi. Không có gì khó hơn thắng Mỹ mà còn làm được thì các thứ khác cũng làm được. Bắt đầu chủ quan, bắt đầu duy ý chí. Các đ/c nhớ lại Quỳnh lưu Nghệ an không? Thay trời đổi đất sắp đặt lại giang sơn. Mo cơm cùng với mắm cà quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mắm cà với mo cơm mà xây dựng cái gì?
Rồi bắt đầu nhập các tỉnh lại. Úi chu choa! Nhập các tỉnh Bình Trị Thiên. Dân mà đi ở dưới lên tỉnh phải đi hai ngày đường. À, Bình Trị Thiên hay là Thiên Trị Bình? Rồi các tỉnh trong này, Nghĩa Bình, Phú Khánh… rồi nhập hết. Người ta có câu ca:
Tỉnh dài huyện rộng xã to
Tỉnh lo phần tỉnh, dân lo phần mình.
Rứa cũng không nghe, cứ nhập dzô. Sau này phải chia tách ra như các đ/c biết. Mơ mơ màng màng !
Hồi nớ còn nhớ đ/c Phạm Tuân đi tàu vũ trụ với Go-rơ-bát-cô đó. Tất nhiên mình cũng vinh dự là người Việt Nam đầu tiên lên vũ trụ. Thế nhưng ở Hà nội lập tức xuất hiện câu ca liền:
Nước này còn lắm gian truant,
Việc gì phải phóng Phạm Tuân lên trời?
Vậy là có thơ liền!
Và do say sưa chiến thắng, Đảng bắt đầu buông lỏng sự lãnh đạo, chính quyền bắt đầu buông lỏng sự quản lý nhà nước và cán bộ đảng viên bắt đầu thoái hóa biến chất. Những điều trước kia không bình thường thì dần dần bắt đầu bình thường.
Phải nói cái đường lối ngoại giao của chúng ta chưa thật khéo cho nên ta phải vướng vào hai cuộc chiến tranh : Biên giới phía Bắc, Biên giới Tây Nam. Chúng ta phải đụng độ với ông bạn khổng lồ phương Bắc. Trung Quốc xua hàng mấy chục sư đoàn kể cả xe tăng tràn sang 6 tỉnh phía Bắc, hướng Hà nội mà tiến. Lúc đó những lời hịch của cha ông ngày xưa, của Lý Thường Kiệt lại vang lên. Mở đài phát thanh ra là nghe :
Nam Quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !
Rồi những lời hịch của Quang Trung lại vang lên :
Đánh cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử tri Nam Quốc sơn hà chi hữu chủ !
Liên tục trên đài phát thanh ! Và những con em chúng ta lại lên đường ra trận bảo vệ biên cương. Cùng một lúc trị cái đám Pôn Pốt – Iêng Sary, cứu họa diệt chủng Cam-pu-chia , đồng thời bảo vệ nhân dân mình. Cứ tối tối tràn sang giết hàng chục người vứt xuống sông. Đám Pôn Pốt tàn ác như thế nào các đ/c biết rồi. Một mặt phải đối phó với phương Bắc vô cùng vất vả.
Các đ/c nhớ rằng,tất nhiên tôi xét lại lịch sử theo quan điểm cá nhân tôi là như thế. Nếu Bác Hồ còn sống thì chưa chắc xảy ra hai cuộc chiến tranh này đâu. Với cái đường lối ngoại giao khéo léo tài tình, Bác Hồ sẽ tránh được hết !
Có những chi tiết báo chí không nêu đó thôi. Chứ thực chất năm 1951, Bác Hồ từ Việt Nam qua Trung quốc. Ổng nói làm sao, ổng rủ rê làm sao mà Mao Trạch Đông đi cùng Bác Hồ qua tít Mát-xcơ-va để gặp Xít-ta-lin.  Gặp Xít-ta-lin rồi, Xít-ta-lin thì có biết Mao Trạch Đông của cách mạng Trung Quốc, nhưng Việt Nam hồi đó chưa có tên tuổi chi hết. Bác Hồ mới bảo là : ông chưa biết tui, ông này thì ổng biết tui, thôi thì ông viện trợ qua cho ông này rồi giúp cho tui để tui về chiến đấu với thực dân Pháp, tui giành độc lập. Xít-ta-lin đồng ý.
Cho nên giai đoạn một số vũ khí của Liên Xô cộng một số vũ khí Trung Quốc đã giúp ta trong kháng chiến chống Pháp là bắt đầu từ cuộc đi đó. Một nước lớn như thế, Trung Quốc là nước lớn chứ không phải nhỏ. Nhưng mà Bác Hồ qua, ổng thuyết phục sao đó mà ảnh (tức là Mao Trạch Đông) xách cặp đi cùng với Bác. Lôi xềnh xệch nó đi qua tới Mát-xcơ-va ! Giỏi như thế đó !
Còn mình chừ mình nói loạng quạng, loạng quạng...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ai đã đủ buồn xin đừng đọc:

Những câu thơ (như) bụi đời
 Đào Dục Tú

.
Cách đây tròn mười năm, cũng vào một ngày đầu tháng tư âm lịch như thế này, khi mà ánh bình minh đầu tiên vừa ló rạng phía núi Chè vùng Kinh Bắc xưa, tôi cùng một nhóm các ông trong khung tuổi 60- 70 bắt đầu đi bộ ra cánh đồng làng, vừa tập thể dục vừa giao lưu trò chuyện. Ông Tề cán bộ quân đội về hưu có vẻ khật khừ, không thấy linh hoạt như mọi bữa.
Tôi hỏi “ông anh sao thế ?” . Ông cười cười mà nét mặt rầu rầu “thời tiết giao mùa, người cứ mệt mỏi thế nào” . Tưởng chuyện vãn thế thôi. Một thoáng sau, ông đọc tiếp câu thơ như. . . “ca dao làng” tôi chưa từng nghe: “Tháng ba cau chửa ra buồng- Tháng tư cau đẻ người còn ngẩn ngơ”. Rồi ông . . . bâng quơ thêm “ngẩn ngơ, buồn buồn, bà ấy hỏi chả nuốn nói; cháu gọi cũng chả muốn chuyện…”
Một câu lục bát không “hoa lá cành”, với tôi, đáng nhớ không chỉ bởi “nói chuẩn” thời tiết giao mùa. Mùa xuân vừa qua nhưng . . . chưa qua hẳn, sáng tinh mơ vẫn thấy lành lạnh. Mùa hè đã sang nhưng . . . chưa sang hẳn. Đi mấy trăm bước người vẫn ráo hoảnh mồ hôi. Tiết trời này người cao tuổi sau một đêm thường ngủ chập chờn, thường nhiều mộng mị, sáng dậy ” tự cảm” thấy mệt mệt như người . . . muốn ốm dở. Người rơi vào trạng thái thẫn thờ “ngẩn ngơ”.
Câu ca “đèo” thêm “phương ngữ quê” , “chửa” vừa là “chửa đẻ” vừa là “chưa” biến âm. Cảm câu ca dao làng thế nào cũng được. Tháng ba cau “ôm buồng” dưới tán lá trên cao, cau chửa; hay tháng ba chưa thấy cau “chửa” mà tháng tư đột ngột thấy cau đẻ rồi, một buồng cau non treo lơ lửng hứng ánh bình minh.
Có thể người làng tôi còn quá vất vả cực nhọc với đồng đất mùa vụ, với đủ chuyện “hai nhà” nhà nông, nhà quê thời nào cũng nan giải “đau đầu”, mấy ai còn bụng dạ thảnh thơi mà ngắm buồng hoa cau sắc vàng tươi, tỏa hương thơm thanh khiết cả một khung trời. . . mộng mị !. Thêm lý do phụ, nhà tôi trước cửa cũng có hai cây cau cao đều nhau “như đôi đũa không lệch không cần so” chừng bẩy, tám mét. Bức tranh quê “hoa cau rụng trắng sân nhà. . .tôi’ cũng thân thuộc lắm, nên tôi thích câu ca dao làng vừa dẫn!
Thời còn ngồi trên ghế khoa văn đại học nơi sơ tán “đói ăn thường trực” mà vui đời vùng Đại Từ “quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa” (Tố Hữu). Nơi đây lúc bấy giờ tuy không còn là “lam sơn chướng khí” như thời xưa nhưng vẫn còn đấy những cảnh “rừng xanh hoa chuối đỏ tươi” hay “ve kêu rừng phách đổ vàng” như thơ Việt Bắc của Tố Hữu tả.
Ông thầy hướng dẫn khóa luận tôi tự đề xuất “Thiên nhiên trong truyện Kiều”, thời đó chúng tôi chỉ thân kính gọi là thầy, không ai gọi giáo sư. . .trịnh trọng như thời bây giờ, đã cho tôi một câu ca dao cũng tuyệt hay về ý nghĩa nhân sinh:”Sự đời nước mắt soi gương- Nghìn năm chỉ một mình thương lấy mình”. Thời bom đạn chiến tranh, một buổi trưa đạp xe ngược dốc Thị Cầu thị xã Bắc Ninh đổ nát, thầy giáo của tôi đã nghe được câu ca ấy qua tiếng ru ru con bên ven đường cái quan.
Hơn 40 năm qua rồi không gặp lại người thầy khả kính chuyên nghiên cứu và giảng dạy văn học cổ Việt Nam; nhưng câu ca dao ru trẻ nhỏ thời đạn bom xa xưa ấy thầy kể tôi nghe trong câu chuyện thầy trò, giản dị bên quầng sáng ngọn đèn dầu đêm sâu khu sơ tán, tôi vẫn nhớ như một ám ảnh. . . vượt thời gian! Cũng phải thôi thầy ơi, có ai “sống thay” được mình mà “thương mình” như . . .mình!
Tuổi trời càng cao, chả biết nên vui hay nên buồn đây, nghiệm thấy câu của các cụ nhà mình đúng quá đi mất “Cha sinh con giời sinh tính”. Cha mẹ cho ta xương cốt hình hài làm người; còn xương cốt tinh thần của ta là bởi “ông xanh” tạo dựng. Ngày xưa cụ Nguyễn Gia Thiều tài hoa bậc nhất gọi “ông xanh” là con tạo, hay cái quay định mệnh: ” Cái quay búng sẵn trên trời- Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm” (Cung oán ngâm).
“Ông hoàng thơ tình” của Việt Nam- Xuân Diệu- thì khẳng định trong một câu thơ lãng mạn đệ nhất “ta là một, là riêng, là thứ nhất”. Từ bậc vĩ nhân đến người bình thường, mỗi người quả là một thế giới riêng không lắp lại, dù nhìn từ góc độ phổ quát khoa học duy lý phương Tây hay duy cảm tâm linh phương Đông. Chuyện đó xưa như trái đất.
Mọi bản sao. . . .kiểu nhân bản vô tính về mặt tinh thần trước sau đều dẫn tới thất bại, đổ vỡ, tàn lụi. Chuyện tưởng giản đơn thế mà có một thời kéo dài đến mấy thế kỷ, người ta cố tình hay vô ý, không ý thức được điều đó. Người ta đã tìm đủ mọi cách, dùng đủ mọi áp lực, mánh khóe, thủ đoạn những mong “trúng khẩu đồng từ” nặn người thành bi đất, muôn người như một, sống, nghĩ và nói giống hệt nhau, chỉ khác tên cha sinh mẹ đẻ đặt.
Người ta quên mất một điều quá tối giản, chỉ có thể mặc đồng phục cho thể xác, không cách nào mặc đồng phục cho tinh thần, dù cho có là đồng phục vua ban chúa cấp! Đã có lãnh tụ xem mình vĩ đại. . . như mặt trời, “đông phương hồng mặt trời lên”, xếp trí thức văn nghệ sĩ xuống hàng thứ chín, định danh mai mỉa là “chú chín thối” ,dưới cả gái mãi dâm tức… con đĩ!
Cuộc cách mạng mang tên Văn Hóa ở xứ sở cửa Khổng sân Trình biến thành hiểm họa phi nhân bản tầm . . . nhân loại như thế nào, là một hệ lụy kinh hoàng, vô tiền khoáng hậu, chôn sống chôn chết biết bao nhiêu trí thức văn nghệ sĩ tài năng xuất chúng!
Sự đời nước mắt soi gương- người Việt mình sau mấy thế kỷ chiến tranh vì “lịch sử chọn làm điểm tựa” buộc phải “gồng gánh lịch sử” trả giá đắt bằng núi xương sông máu, trả giá đắt cho thời hậu chiến bao cấp kinh tế, bao cấp tư tưởng quẩn quanh mấy chục năm “đi đường vòng thúng” phí công vô ích, đã mấy ai quên.
Chả cứ người Việt; “trông Bắc trông Nam trông cả địa cầu” (thơ Tố Hữu) cho đến tận thế kỷ 21 vẫn là “sự đời nước mắt soi gương”. Còn “nghìn năm chỉ một mình thương lấy mình”, có gì đáng bình giải nữa ngoài chuyện “nghìn năm” chỉ là cách nói thậm xưng, một thủ pháp nghệ thuật nhấn mạnh, gây ấn tượng quen thuộc của một tộc người kéo cầy nền văn minh lúa nước “quen tư duy trực cảm, hình tượng”
Đến một giới được người đời gọi là hàn thử biểu tinh thần ,”cây đàn muôn điệu “(Thế Lữ) mà có thời vừa tự trói, vừa bị trói đến mức một tác giả tài danh lẫy lừng bậc nhất cũng chỉ còn biết thở than mình sống được là nhờ biết sợ; nói mà nước mắt rơi lã chã “chảy ngược vào trong”! Và người đứng đầu chính thể “thời cởi trói” phải kêu gọi họ tự cứu mình trước khi trời cứu!
Trước khi chấm hết bài tạp cảm phiếm đàm dài dòng văn tự, người viết xin được nói thêm: Hai câu ca dao dẫn ra trong bài này chẳng có gì liên đới liên tưởng với nhau. Một của làng tôi, một của làng người, một của người làng cho tôi, một của thầy giáo dạy văn đại học cho tôi, ngữ cảnh hoàn toàn khác biệt.
Tôi xem như hai câu thơ lục bát dân gian. Mượn cách nói của một nhà văn- nhà thơ tài hoa bậc nhất văn đàn Việt hiện đại ví von văn nghệ sĩ là hạt bụi mang ánh sáng tư tưởng, tôi ví hai câu đó nói riêng, ca dao nói chung như hạt bụi đời mang ánh dương quang mùa xuân- dù mùa xuân đã cạn ngày thật rồi! . / .


Phần nhận xét hiển thị trên trang