Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2014

QUA và QUÊN

Ảnh của Tôi

Nhân một stt bên nhà một ông anh về QUA VÀ QUÊN, mình còm vài câu. Mang về đây viết lại, để NHỚ 
Quá khứ với nhiều người, giống như nhiều người đờn bà, có thể cho qua chuyện chồng ngoại tình nhưng không bao giờ quên. QUA và QUÊN hoàn toàn khác nhau.

Những chuyện đã qua chỉ nằm im trong đầu mình thôi. Chỉ cần chút gì đấy chạm vào là hiển hiện rõ ràng, không chỉ từng chi tiết mà cả cảm xúc nữa. Có điều là mình có nhắc/nói ra hay không. Không nói gì chưa chắc đã là quên, mà nói nhiều quá có khi cũng không phải là nhớ.
Bệnh mất trí nhớ thật là kinh khủng. Nhưng không chừng những người mắc bệnh đó lại đang gõ cửa thiên đang, vì mang gánh nặng quá khứ nào cũng rất mệt mỏi.


Mình nghĩ, quá khứ trì kéo nặng quá... khó đi xa đừng nói lên tới Thiên đàng. Gánh nặng quá khứ không phải như cục bứu trên lưng gắn liền với ta suốt đời, cũng không phải chỉ một mình ta cõng hay mang vác nó mà có thể dễ dàng vứt đi, mà quá khứ với ta giống như bức tranh “Những người kéo thuyền trên sông Volga” của danh hoạ Nga Repin. Càng coi quá khứ to lớn đẹp đẽ bao nhiêu, thì như chiếc thuyền kia... khi phải kéo nó trên một đoạn đường quá dài, nó chỉ còn là sức nặng. 


Trên đường thiên lý đi đến tương lai, dù chiếc thuyền từng có lúc sang trọng nhưng không còn phù hợp với một dòng sông khác, cần biết để nó dừng tại một bến bờ thì mới có thể cùng chiếc tàu mới tiếp tục cuộc hành trình.
Với một người cũng vậy, mà với một dân tộc hình như cũng vậy.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ai xứng đáng với tự do?


(Thanh niên) Cuộc sống của chúng tôi, những đứa trẻ sinh ra cuối thập niên 80 đã không còn một sóng gió nào quá lớn, nếu so với cả một con đường dài quá mỏi mệt và đầy mâu thuẫn của những người cùng dân tộc sau chiến tranh Việt NamHòa hợp - hòa giải cần đôi mắt mới
Bà mẹ cùng các con ở Quy Nhơn (Bình Định) vượt sông để tránh bom của máy bay Mỹ. Bức ảnh đoạt giải thưởng Pulitzer năm 1966 - Ảnh: Kyoichi Sawada

Không có bom, không có ấp chiến lược, không có cả những cuộc hành quân rùng mình với hàng triệu tuổi xuân ra đi. Chúng tôi tuyệt nhiên không nếm những nỗi khốn khổ của quá khứ.

Trong nhiều cuộc gặp gỡ, có bà lão ở Sài Gòn nhìn vào mắt tôi và nói: “Tôi quá buồn”. Bà nói bà không thể chịu được cảm giác một ngày nọ cả nhà bà phải đi ra đường, để nhường chỗ cho người xa lạ vào ở trong ngôi nhà, đứa con nhỏ của bà chết bệnh trên vùng kinh tế mới.

Một lần, ở Dương Minh Châu (Tây Ninh), tôi nghe một bác già chậm nước mắt lưng tròng, nói con bác hi sinh cả 2 đứa. Một ông bác rất già đang hùng hồn kể chuyện đi đánh giặc ở Tây Bắc, bỗng nhiên lặng đi, nấc lên và nói: “Bác ân hận mãi, bạn của bác chết vì mìn cóc, anh em chưa kịp chạy ra khiêng xác nó, thì bom rơi, xác nó tan tành”.

Những người già ấy khóc trước mắt tôi. Họ giống những người kể chuyện trong các bộ tộc ngày xưa, rầm rì bên đống lửa, truyền lại thứ tinh thần mà họ đã sống với bạn bè, anh em, đồng đội, giữa cay đắng, khổ sở, giữa vinh quang, mất mát. Họ có một điểm giống nhau đến lạ lùng, dù ở phe bên này hay bên kia, là không bao giờ chỉ vẽ những đứa trẻ như tôi phải đứng lên để đánh đập một cái gì. Có ông kể xong còn kết luận: “Kể vậy để tụi bây hiểu chuyện gì cực chứ mình cố gắng làm cũng được, đừng có sợ”. Triết lý cuộc đời của những người đã mất con, mất chồng, mất nhà, mất đồng đội trong cuộc chiến đơn giản lắm. Họ muốn những người nhỏ tiếp tục sống một cuộc đời hiền hòa và thanh thản bởi vì họ đã gồng mình lên, đi ra khỏi mất mát để nuôi lũ con cháu này lớn lên, và để cho chúng hưởng sự hòa bình hiếm hoi này.

Nhưng tự do hay hòa bình là cái gì, mà sau 39 năm rồi, vẫn có những thầy cô đứng thao thao giảng trên lớp học: “Quân ta tiêu diệt địch”, vẫn có những người lớn đập bàn nói về “kẻ địch”, “ngụy quyền”, “Việt cộng” cả ở Việt Nam và những cộng đồng ở nước ngoài.

Tôi không dám chắc những người lớn ấy đã sống bao nhiêu phần trong chiến tranh, giống như những người già đã kể chuyện cho tôi nghe. Không biết có ai trong số họ đã ở trong tận cùng của địa ngục xung đột, nơi người yêu thương mất nhau, gia đình chia lìa, tan vỡ, nơi bà mẹ mất con cái mình... Hay có thể bởi vì họ không ở trong trung tâm của nỗi đau thương, họ mới hùng hồn mạnh miệng vẽ lên trong đầu óc người trẻ chúng tôi những khái niệm đầy ác cảm và chia cắt, cả ở đây và ở nơi họ gọi là “phía bên kia”? Những bài học lịch sử, những câu chuyện kích động không còn chút đáng tin nào nữa, nó giáng vào tim của những người trẻ một sự nặng nề đầy ác cảm và khiến họ không nhìn thẳng vào mắt nhau và tự chia cắt bằng một lằn ranh vô hình.

Ông Roy Mike Boehm (người dân Sơn Mỹ, Quảng Ngãi gọi theo lối Việt hóa là "ông Mai"), một cựu binh Mỹ, đang chơi chơi vĩ cầm trong lễ tưởng niệm nạn nhân vụ thảm sát Sơn Mỹ. Ông Mai là nhân vật chính trong một bộ phim tài liệu nổi tiếng về chiến tranh Việt Nam của đạo diễn Trần Văn Thủy: Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai - Ảnh: Trần Đăng

Vậy ai mới xứng đáng với tự do? Người Việt Nam mình dễ dàng tha thứ cho người ngoại quốc bao nhiêu, dễ dàng tay bắt mặt mừng với “bè bạn quốc tế” Pháp, Mỹ nhanh chóng bao nhiêu, mà không thể thở một hơi nhẹ nhàng và nhìn vào mắt của những người cùng một tiếng nói, cùng một vùng đất mà mình đã từng chĩa súng vào đầu nhau. Họ quên quá nhanh những đau thương cũ và thù giận quá lâu cho một quá khứ không thể nào cải biên (cho đẹp hơn) được.

Nhiều người lớn lên trong hòa bình và vẫn lớn tiếng chửi đổng người đã chết trong chiến tranh, gọi họ là thằng này con kia, phe này phe nọ. Họ đâu có ở bên ngoài cuộc chiến đó như những người già mất con, mất chồng kia, sao không biết trân trọng hòa bình? Sao cứ phải thì thầm vào tai con trẻ những cụm từ đầy chia cắt và ác cảm?

Và những người đã đến tận châu Âu, châu Mỹ, đã tận hưởng và uống bầu không khí của bình an, sao không để những chuyện buồn cũ lại và giúp con cái mình lớn lên với cảm xúc hòa nhã và bớt đau khổ hơn?

Những người lớn giận dữ ấy không chịu hiểu rằng, nếu cuộc sống quá khứ của họ tràn đầy thiếu thốn, căm giận, là mất quê hương, nơi ở, thì lẽ ra giờ đây, con cái họ có thể và xứng đáng có một cuộc sống tốt đẹp hơn, và không cần phải thở trong bầu không khí giận dỗi đầy ngột ngạt ấy nữa. Chỉ vừa rời khỏi cuộc chiến tranh, người ta đã mờ mắt không chịu hiểu về sự quý giá của cuộc sống yên bình. Họ không chịu gieo những hạt mầm an lành mới vào trái tim con cái mình.

Trẻ con không xứng đáng phải sống với di sản của chiến tranh và chết chóc. Sẽ đến một lúc khi đủ bình tĩnh, những đứa trẻ sẽ đi tìm gương mặt của lịch sử mà chúng muốn hiểu biết, chứ không phải là lớn lên trong những câu chuyện kể của những người lớn đầy chia cắt và phẫn nộ.

Ngày hòa bình, xin đừng gieo thêm nỗi giận buồn nữa...


Nụ cười của kiều bào trong đợt về Việt Nam ăn Tết đầu tháng 1.2014, tại sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, TP.HCM - Ảnh: Độc Lập

Khải Đơn (*)
(*) Bài viết thể hiện văn phong và góc nhìn của tác giả, một người làm báo đang sống và làm việc tại TP.HCM

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140502/ai-xung-dang-voi-tu-do.aspx


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyến đi của Việt Kiều ra Trường Sa


Nhà báo Lý Kiến Trúc từ California nói chuyến đi Nhà nước Việt Nam tổ chức đưa Việt Kiều thăm quần đảo Trường Sa trước dịp kỷ niệm 30/4 có mục tiêu 'hòa hợp hòa giải dân tộc'.
Hải trình 3 đưa khách Việt Kiều ra cả một số nhà giàn ở Biển Đông
Trả lời BBC hôm 2/5/2014, sau chuyến đi với gần 200 khách gồm có cả nhiều Việt Kiều từ Hoa Kỳ và một số nước khác ra Trường Sa, ông nói: “Họ muốn tạo ra Hải trình 3 này là để muốn gióng lên một tiếng chuông mới, mở ra một trang sử mới, khép lại một trang sử đau buồn của VN cũ, đánh dấu một giai đoạn hòa hợp hòa giải dân tộc.”

Ông Lý Kiến Trúc, người phụ trách Câu lạc bộ Văn hóa và Truyền thông tại quận Cam, Nam California mô tả:

"Phái đoàn đã đi khoảng 10 hòn đảo khác nhau, xa nhất là đảo Song Tử Tây, cách bờ 800 km,

Trên đường vòng về đất liền chúng tôi đã thăm chừng 10 hòn đảo nữa, gồm cả các đảo đá chìm nhưng đã được đổ bê-tông cốt sắt thành các cứ điểm,

Duy nhất chỉ đảo Trường Sa Lớn có vài hộ dân, có cả trẻ em, rất dễ thương, còn các đảo khác chỉ là những cứ điểm quân sự."

""Lữ đoàn 146 và Chiến hạm HQ571 lo lắng tận tình cho khách trên tàu, không có điều gì đáng phàn này cả. - Ông Lý Kiến TrúcNói về chuyến đi, ông cho hay hải trình lần này "êm ả, từ Cát Lái ra Vũng Tàu rồi ra Trường Sa, biển êm, có lúc phẳng lỳ".

Trước câu hỏi về sinh hoạt của dân và các lực lượng quân sự Việt Nam trên các hòn đảo, nhà giàn ngoài Biển Đông mà ông chứng kiến trong chuyến ra biển, ông Lý Kiến Trúc nói:

"Thực ra, sinh hoạt không vất vả, chế độ ăn uống, thực phẩm của họ đầy đủ, không vất vả lắm. Binh lính nuôi gà, nuôi vịt, trồng rau nữa,

"Sự kham khổ là sự hy sinh lâu dài. Có thủy thủ, binh lính đóng một năm mới được về thăm nhà,

Ông Lý Kiến Trúc (trái), và Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn

"Họ rất trẻ nhưng có thái độ rất rõ ràng, dứt khoát để bảo vệ tổ quốc."

Trước câu hỏi ông có biết về các vụ 'tàu lạ xâm nhập' vào vùng biển Việt Nam hay không, ông Lý Kiến Trúc nói ông chỉ có thể mô tả những gì ông thấy về việc phòng thủ:

"Phòng thủ rất mạnh, có giao thông hào chằng chịt ngoài bờ biển, súng lớn cũng có,

"Ngoài ra, ven bờ các đảo có cột chống xâm nhập, như cọc Bạch Đằng để bảo vệ đảo."

Trước những lời phê phán có phải ông tham gia một chiến dịch tuyên truyền cho chính quyền Việt Nam, ông Lý Kiến Trúc giải thích:

"Tôi khá bất ngờ khi nhận được lời mời từ ông Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn về chuyến đi thăm Trường Sa,

Mở bằng chương trình nghe nhìn khác

"Nhưng tôi không phổ biến tin này để tránh hiểu lầm."

Ông nói ông đã bay về Việt Nam vào phút chót và đã giao kết với ban tổ chức rằng ông đi với tư cách một nhà báo độc lập, một nhà nghiên cứu về Biển Đông.

Trong một thông cáo báo chí đã công bố, ông Lý Kiến Trúc viết: "Trong vai trò đó, tôi không đồng hành về tư tưởng, quan điểm chính trị, hoặc những phát biểu của một vài người ở nam Cali đi trong phái đoàn."

"Tôi muốn được nhìn tận mắt an ninh, tiềm năng kinh tế, yếu tố chủ quyền trên các hòn đảo đó", ông nói với BBC qua điện thoại từ Sài Gòn.

Tuy thế, ông Lý Kiến Trúc cũng thừa nhận rằng:

"Ở Nam Cali có những sự ồn ào về chuyến đi, có những người bạn của tôi nói họ sững sờ về chuyến đi của tôi."

"Cuối tháng Năm tôi sẽ mở cuộc họp báo để tường trình với quý vị về chuyến đi."


Trực thăng của Việt Nam đáp xuống một hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa

Trước câu hỏi về chủ đề 'hòa hợp hòa giải dân tộc" ông nói, "Hải trình 3 là một cái mốc tiến tới hòa hợp hòa giải dân tộc là điều tốt. Tuy nhiên, vấn đề còn là thời gian".

Được biết đây là chuyến thăm thứ ba Nhà nước Việt Nam tổ chức cho người Việt ở nước ngoài ra Trường Sa từ 16/4 tới 28/4.

Trong khuôn khổ chuyến đi, đã có một lễ cầu siêu cho các liệt sỹ của cả miền Bắc lẫn Việt Nam Cộng hòa đã tử trận để bảo vệ Trường Sa - Hoàng Sa.

(BBC)
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khánh Ly thăm mộ Trịnh Công Sơn khi vừa về Việt Nam

Sau chuyến bay dài từ Mỹ, danh ca Khánh Ly đã đến viếng mộ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ở Thủ Đức - TP.HCM.
Không ngại mệt mỏi sau chuyến bay dài, nữ ca sĩ cùng người thân đến viếng thăm mộ Trịnh Công Sơn. Khánh Ly chia sẻ trong hồi ký rằng nhạc sĩ tài hoa là người "như hình với bóng" trong suốt cuộc đời ca hát của bà. 

Khánh Ly đã chuẩn bị một bó hoa hồng vàng dành tặng người bạn tri kỷ. 

Khi được hỏi ý nghĩa của bó hoa, Khánh Ly cho biết: "Tôi chọn hoa hồng màu vàng để tặng anh Sơn bởi giữa chúng tôi là một tình cảm đặc biệt, không thể là hoa hồng đỏ của tình yêu, hay bất cứ một màu hoa mang ý nghĩa nào khác. Hơn nữa, màu vàng là màu tôi yêu và tôi tặng anh một màu hoa mà tôi cho là đẹp nhất". 


Nữ ca sĩ khéo léo chọn một chiếc áo dài màu tím nền nã khi đến viếng thăm người bạn tri kỷ của mình. 

Ngoài bó hoa hồng vàng, nữ ca sĩ còn mang theo một món quà đặc biệt. Đó là chai rượu của thương hiệu mà lúc sinh thời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rất thích uống cùng bạn bè. 

Khánh Ly nán lại rất lâu bên mộ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Có lúc bà đã rơi lệ khi nhớ về những kỷ niệm của thời xa vắng. 

Khi chuẩn bị ra về, giọng ca Em đến từ nghìn xưa thể hiện ý nguyện mong muốn được trở lại thăm mộ nhạc sĩ thêm nhiều lần. Bà hy vọng, thời gian sắp tới sẽ có nhiều cơ hội trở lại quê hương để có dịp gặp lại người bạn tri kỷ. 

Những ngày tới tại Việt Nam, nữ ca sĩ Khánh Ly sẽ dành thời gian tập luyện cùng nhạc sĩ Hoài Sa và ban nhạc. Bà cũng gặp gỡ để trao đổi ý tưởng dàn dựng với đạo diễn Phạm Hoàng Nam chuẩn bị cho đêm diễn đang được rất nhiều khán giả hâm mộ chờ đợi vào ngày 9/5 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội. Đêm nhạc dự kiến sẽ có những ca khúc gắn liền với tên tuổi Khánh Ly và đặc biệt là các sáng tác nổi tiếng của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. 

Min An
Ảnh: Cao Trung Hiếu

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Một mình nằm trên đồi

Lê Công Tư

Bệnh viện nằm trên một ngọn đồi. Những buổi trưa ở nơi đây im vắng. Thỉnh thoảng có thể nghe tiếng chim kêu ríu rít trên những cành cây gần cửa sổ. Trong tiếng gió mơ hồ có thể nghe ra sự bất động của thời gian, và không gian thì tựa như một cái giá. Trên đó treo mắc những hình ảnh của những quãng đời đã trôi qua, dễ khiến anh có cảm tưởng là toàn thể cuộc sống hay ít ra là những gì có thể nhớ được về nó đang xuất hiện lần cuối cùng trước khi anh giã từ.
Những mối liến hệ giữa anh với trần gian càng lúc càng trở nên xa xăm, chúng lỏng dần, khiến anh có cảm tưởng là mình không còn khả năng để kiểm soát nhiều thứ. Chỉ có trí nhớ của anh là vẫn còn trong trẻo. Những hình ảnh của những chặng đời đã trôi ra biển bắt đầu xuất hiện trở lại, kể cả những sự kiện không hề gây được một ấn tượng sâu đậm nào trước đó cũng về lại.
Tựa những di chỉ, anh có thể đọc và nhìn ra ở nơi đó những tia chớp ngắn ngủi mà anh đã trải qua. Kể cả những ngày vui lẫn những khung trời xám. Tựa một đứa trẻ ôn bài trước lúc đi thi, anh cũng có cảm tưởng là mình đang ôn lại toàn thể cuộc đời mình một lần cuối trước lúc nó đến. Một chuyến lội ngược dòng về quá khứ. Đi vào trong lòng mẹ để đi qua bên kia. Bên đó là cái chết. Nói cho đúng hơn , đó là cái nôi hư không, nơi mà từ đó anh sinh ra .

Anh thanh niên nằm trong góc vừa mới đi đâu về. Anh ta nằm ở đây đã lâu nên đi tới, đi lui trong bệnh viện như là nhà mình vậy. Anh mang về phòng những tin tức, sự kiện đang xảy ra đâu đó trên thế gian. Những thứ đó tựa món quà của một kẻ còn khả năng đi tới, đi lui dành cho đồng loại chỉ còn nằm im một chỗ. Anh ta vừa đi về giường mình vừa nói : “Cô gái mới nhập viện tối hôm qua chết rồi. Đẹp như cô ấy mà chết, uổng quá” .

Anh nằm im nghe gió lộng thổi trên đồi. Nó gợi cho anh cái cảm giác mơ hồ rằng mọi thứ trên đời đều không hề có thật. Kể cả những hoạt động đang diễn ra ở dưới phố lẫn những hình ảnh đang trôi chảy trong đầu.

* *
*
Ở trong góc biệt điện còn sót lại một cây đàn dương cầm của hoàng hậu Nam Phương. Cây đàn ngủ im suốt ngày. Thỉnh thoảng có mấy đứa nhỏ nghịch ngợm lấy tay gõ lên phím nó, vang lên những âm thanh khô lạnh. Có một lần anh bắt gặp một cô đầm da trắng, mái tóc vàng hoe với đôi má bầu bĩnh trẻ thơ, lướt những ngón tay lên những phím đàn đang ngủ im. Anh nghe ra có những âm thanh chợt tỉnh giấc sau lớp bụi dày. Đủ lộng lẫy như từng đã có một thời chúng lẫn vào tiếng sên phách của một mùa yến tiệc. Ngôi biệt điện mỗi năm được sơn quét lại một lần. Nó còn quá mới chưa đủ gây nên những hoài niệm êm ả về một thời. Chỉ có người nô bộc già còn sống từ hồi hoàng hậu còn ở đó đến giờ là đủ cũ kỹ như một cổ vật còn sót lại. Buổi trưa, anh hay nhìn ông già ngồi ngủ gật trên chiếc ghế rộng. Ngoài kia nắng đang chạy dỡn trên đồi .

Ông vua chết rồi. Hoàng hậu, người phụ nữ sắc nước hương trời chết trước cả ông. Mấy người con của họ đang lưu lạc đâu đó góc bể chân trời. Có lần anh nhìn thấy một bức ảnh chụp mấy người con này lúc họ còn nhỏ, đang ngồi chơi trên một bờ thành, phía sau là một cánh rừng. Tất cả đều cười. Hồi đó gió chưa nổi lên. Bây giờ thì chắc họ đã già. Có người chết rồi cũng nên. Mọi thứ cứ êm ả ra đi, cứ êm ả rời khỏi mặt đất như những đám khói tan biến giữa bầu trời, chẳng để lại một dấu viết gì.

Có hai chiếc ngai vàng được phục chế trở lại. Đám du khách vẫn thường ghé đến đó, thuê đồ, giả làm vua, làm hoàng hậu để chụp ảnh chơi cho vui. Mỗi ngày anh chứng kiến không biết bao nhiêu người ngồi lên ngôi rồi xuống ngôi. Có nhiều đứa nhỏ, mới nhìn thấy bộ quần áo rồng phượng là đã khóc thét. Bố mẹ chúng bắt chúng phải ngồi im trên ngai, ép chúng làm vua, dụ dỗ nếu chúng chịu ngồi im trên ngôi báu trong một chốc lát để chụp xong một tấm ảnh là sẽ được cho ra ngoài kia cỡi ngựa. Nhiều đứa mặt mày méo xệch, gắng làm vua cho xong để được cỡi ngựa. Những người lớn, lúc ngồi trên ngai vàng đều nói những câu tương tự như nhau : “Mang gái đẹp lại đây cho ta”, nếu không gái thì : “Giết thằng kia cho ta”.Hình như khi có được một chút quyền lực trong tay, con người dễ chứng tỏ cho thiên hạ biết là mình muốn cái gì ?

* *
*
Sớm hay muộn gì nó cũng đến, nó chắc chắn hơn bất cứ cái gì ở cõi đời này đến đúng lúc. Một món nợ không đáo hạn, một phần thưởng trao tận tay. Nó có cùng một lúc với sự sống, chỉ có điều, chẳng ai muốn nhìn mặt nó. Người ta xử sự như thể nó không hề có. Anh biết nó đang gặm nhấm anh từng ngày, cũng như anh, anh gặm nhấm cuộc sống của mình từng giờ. Tựa như một sự phản kháng câm lặng của một kẻ biết trước mình sẽ là kẻ thua cuộc .

Cái bãi biển đó lại xuất hiện trong trí nhớ. Đó là một bãi biển nằm dưới chân đèo Cả, nơi anh đã qua lại không biết bao lần hồi còn trai trẻ. Một xóm chài nghèo nàn với những đứa trẻ nhỏ nước da nâu đen như những con còng nhỏ chạy chơi trên bờ biển. Thấp thoáng sau những bóng dừa là một bờ cát cong mềm mại, trinh bạch. Dưới chân đèo là một bến thuyền. Những chiếc thuyền sơn xanh đỏ, vui mắt. Đã nhiều lần mỗi lúc đi ngang qua đây anh thầm nhủ “ Sẽ có ngày mình đến đây ngủ lại một đêm.”

Có một lần anh phải ra Quy Nhơn vì công việc. Xong việc, anh ra ngã ba Phú Tài đón xe. Anh đã dự định đón bất kỳ chiếc xe nào đầu tiên anh gặp cho dù nó ra Bắc hay vào Nam. Nếu ra Bắc, anh sẽ ghé Mỹ Sơn. Nếu vào Nam, anh sẽ ghé Nha Trang thăm người bạn cũ. Đang đứng lớ ngớ thì một chiếc xe trờ tới. Anh hỏi: “ Xe đi đâu?”, anh lơ xe đáp: “Đi Nha Trang.” Anh leo lên xe. Khi tới đèo Cả thì trời đổ mưa tầm tã. Từ lưng đèo nhìn xuống chỉ nhìn thấy một bãi biển bạc trắng trong mưa. Khi đến Đại Lãnh, xe ngừng lại đón khách. Hai cô gái đi xe gắn máy không thể đi tiếp về Nha Trang vì mưa quá lớn. Họ đang ngả giá để đưa tất cả lên xe. Nhìn qua khung cửa, anh thấy những rặng dừa. Xa hơn chút nữa là biển. Anh xách túi đồ nhảy xuống xe. Anh lơ xe la lên: “Chưa tới Nha Trang mà.” Anh vẫy tay cười cười: “Tôi biết rồi, thôi tạm biệt.”

Trời vẫn mưa, anh ngó quanh để tìm một căn nhà trọ. Bỗng anh thấy có bàn tay của một cô gái ở bên kia đường đang vẫy vẫy. Đó là một quán bia ôm. Anh hỏi cô nhà trọ ở chỗ nào? Cô chỉ tay lên mé trên. Anh hơi bất ngờ là cô nói tiếng Huế. Vừa đi được mấy bước, cô gái chạy theo hỏi: “ Anh có thích tối nay em lại đó với anh không?” Cô có nước da màu nâu gợi cho anh nhớ đến ruộng rẫy bạc màu, nồng chát mùi gió biển. Anh nhìn cô phân vân một giây. Cô không hề có trong dự trù chuyến đi của anh. Nhưng anh nói “ Ừ.” Có lẽ lúc đó trời đang mưa, còn cô gái thì nói tiếng Huế.

Đêm Đại Lãnh không đèn, không đóm. Tiếng sóng biển lao xao ở một nơi nào đó rất xa. Sau lưng làng chài là bóng núi nặng nề. Anh nhận ra mình đã đi đến cái giấc mơ của mình bằng một ngõ khác: Có tiếng chim kêu ríu rít đâu đó trong thành nội, khu vườn trái cây đong đưa trong nắng ở Vĩ Dạ hay Nam Giao gì đó. Đêm Đại Lãnh ướp đầy hương và mật.

Sáng hôm sau, anh ra biển sớm, tắm một mình. Đến lúc đó, trên nền cát ướt, anh mới nhận ra là mình đang ở Đại Lãnh. Còn tối hôm trước anh cứ ngỡ là mình đang ở xứ Huế.

* *
*
- Có thể đưa một bãi biển vào trong một quan tài ?

- Người ta có thể tẩm liệm cả thế gian vào một hạt cát huống chi là một bãi biển, vấn đề là anh có thích đưa nó vào không ?

- Chắc là cũng phải mang theo mình một vài thứ, ngay cả khi thế gian là một bãi rác thì chẳng lẽ không chọn được cho mình một cái gì ?

- Vậy thì anh chọn cho mình một vài thứ đi để tiện cho tôi tính toán.

- Anh làm ơn đưa mấy thứ này vào quan tài của tôi : Bãi biển Đại Lãnh với bầu trời xanh.

- Cả cô gái Huế nữa chứ ?

- Nói thật với anh, cuộc sống của tôi vốn đã chẳng ra gì. Dù vậy tôi cũng không chịu nổi cái ý tưởng có một cô gái nằm chung trong quan tài của mình, trông kinh quá. Đây không phải là sự chật chội, có lẽ tôi kinh tởm cái hình ảnh này thì đúng hơn.

- Thì bổn phận của tôi là phải gợi ý cho khách hàng của mình mà…

- Tôi hiểu.

- Trông anh chu đáo quá, còn có vẻ lãng mạn nữa.

- Chu đáo thì đúng còn lãng mạn thì không. Tôi sống một cuộc sống mệt mỏi nên phải mang theo một vài thứ để gối đầu. Mấy năm gần đây, ở ngoài chợ có bán một loại hoa. Tôi rất thích. Tên của nó là “Li Li PêRu”. Tôi thích chưa hẳn vì nó đẹp mà chỉ thích cái cách nó chuẩn bị cho mình một cái chết. Một cách từ từ chậm rãi, những chiếc lá bắt đầu vàng dần, rực rỡ tựa những mùa thu. Chưa có vật nào dọn cho mình một chỗ chết êm ả đến thế…

Anh cũng thấy mình chu đáo. Cũng có lúc anh ngờ rằng những thứ này có thể sẽ không cần thiết. Anh nhớ đến cha anh. Ông lái tàu hỏa. Ông thường xuyên bỏ anh lên tàu đi chơi suốt cả tuổi thơ, đưa anh đến những xứ miền đầy nắng gió. Khuôn mặt của ông bám đầy tro bụi với đôi mắt nặng trĩu những nỗi ưu tư. Chúng thường xuyên phủ đầy bóng tối. Thế rồi ông bị tù, tra tấn, đánh đập. Lúc đó anh còn nhỏ, trí óc còn non nớt, nó không cho phép anh nhìn ra mọi thứ. Khi lớn lên, nhớ lại khoảng thời gian này, anh nhận ra cuộc sống của cha anh thường xuyên tiềm ẩn một nỗi lo lắng vô hình nào đó – cái nỗi ám ảnh là có thể bị bắt bất cứ lúc nào. Phải sống thường xuyên trong cái cảm giác căng cứng, đe doạ này không phải là không có giá trị, bởi nó cũng được tựa lưng vào một lý tưởng trong sáng. Chỉ có điều là khi nhìn nó qua cái lăng kính của cuộc tồn sinh, anh thấy màu sắc của nó u buồn quá. Khi mãn hạn tù trở về nhà, ông nằm im mấy năm trời. Chuỗi ngày đó mới nặng nề làm sao, cho đến ngày ông mất. Lẫn lộn trong những cảm giác tiếc thương là cảm giác nhẹ lòng. Cái chết đã giải thoát cho ông lẫn cho người thân cái khối nặng nề của cuộc tồn sinh. Từ dạo đó, anh thường xuyên có cảm tưởng cuộc sống vừa là một ơn phúc, vừa là một bi kịch. Cái chết cũng thế, vừa là một thảm họa và cũng là một phát súng gia ơn.

* *
*
Buổi trưa nào anh cũng nằm im nghe gió thổi ở bên ngoài. Anh thích nghe tiếng gió di chuyển giữa không gian. Nó gợi nhớ những nơi anh đã từng đến cũng như những nơi anh ao ước được đến đó một lần. Có thể anh đã thấy nơi đó trên một tờ lịch hay là đã được đọc ở một cuốn sách nào đó. Ngay cả khi có người cho rằng: “Đi thì cũng để mà đi vậy thôi. Nơi nào cũng chỉ là những ốc đảo với những rặng dừa chán ngắt.”, thì anh cũng muốn đi một lần cho biết. Bây giờ có lẽ tất cả đã muộn rồi trừ phi anh chuyển đổi cách suy nghĩ. Cái thế giới này to rộng quá, chẳng thể đi hết nổi. Chỉ cần ở một chỗ, từ một khung cửa sổ, một góc vườn, lặng lẽ nhìn ngắm bầu trời với một mặt trời đang lên, trên đó có những đám mây. Lặng lẽ nhìn một góc vườn với những bụi hoa đang đâm chồi nảy nụ, lặng lẽ nhìn ngó những con người trong xóm đang đi tới, đi lui, cùng những vật thể đang hiện diện quanh mình. Vậy là đủ, đó là thế giới. Đó là tất cả thế giới.

Anh biết rõ anh có sống thêm một ngàn năm nữa, thế gian cũng chỉ có ngần ấy thứ. Đủ để anh tin rằng anh có thể rời khỏi trần gian này bất cứ lúc nào mà chẳng hề hối tiếc. Có tiếc chăng anh chỉ tiếc một thế giới khác, nhỏ bé hơn, gọn ghẽ hơn. Cái thế giới đó thu gọn trong khuôn mặt của một vài người thân.

Có một lần, anh suýt chết ở ngoài bãi biển Mỹ Khê. Những con sóng cứ đưa anh mỗi lúc một xa dần. Nằm ngửa trên biển để chờ chết. Lần đó nếu anh chìm xuống đáy biển xanh thì những hình ảnh cuối cùng anh mang theo chỉ là một bầu trời xanh cùng một vài khuôn mặt người thân đang ở đâu đó trên những dãy núi rất xa. Anh cảm thấy mình như có lỗi vì đã xa họ quá sớm. Cho dù anh biết sớm muộn gì cũng phải buông bỏ tất cả để về lại với nơi trước lúc sinh ra. Anh chẳng biết gọi nó là gì. Nó tựa như cái chốn cư lưu của những tồn thể vĩnh hằng. Nó được có trước lúc anh sinh ra. Nó biến mất khi anh ở đây và rồi nó xuất hiện trở lại khi anh biến mất. Nếu không gặp lại nhau ở những nơi chốn của trăng sao, người ta sẽ mãi mãi gặp nhau giữa khoảng trống trơn của trời đất. Anh đã đi ngang qua sự sống như một kẻ lữ hành, một tia chớp của một ánh lửa phù du, một mắt xích của một chuỗi xích vô tận. Trong cái trò chơi ngớ ngẩn này, một mắt xích chẳng bao hàm một chút ý nghĩa gì. Hoá công chẳng quan tâm gì đến niềm vui hay nỗi buồn của một mắt xích. Nó cũng chẳng quan tâm gì đến hạnh phúc hay bất hạnh của cái chuỗi xích vô tận đó. Điều duy nhất nó quan tâm là làm đủ mọi cách để duy trì cái chuỗi xích này không bị đứt đoạn, không bị tan rã. Bởi sự đứt đoạn sẽ biến mặt đất thành một hành tinh chết. Anh có thể nhìn ra điều này trên cánh đồng bất tận của quá khứ. Ở nơi đó, những khuôn mặt trống không của tổ tiên anh, dòng họ anh được cắm xuống, đều như những tấm bia, vô tận. Nhìn về phía tương lai, anh cũng chẳng thấy gì hơn ngoại trừ những khuôn mặt của con cháu anh. Hậu duệ của loài người đang dắt tay nhau, đi thành đoàn, vô tận, trên những dãy đồi trắng xóa. Tất cả những thứ này để nhằm vào một mục đích gì thì không ai rõ.

Cũng như đa phần mọi người, anh chỉ có thể tin vào sự có mặt. Chẳng dễ chút nào khi neo lòng tin của mình vào sự vắng mặt. Chẳng ai chịu tin sự vắng mặt, trong khi tự hồi nào đến giờ, nó tồn tại như một thực thể. Anh nhớ lại hồi còn trẻ có đọc được một câu ở trong một cuốn sách. Đó là một dòng chữ được ghi trước cửa một toà lâu đài: “Trước khi bước vào nơi đây thì anh vốn đã ở trong đó. Sau khi ra khỏi nơi đây thì anh vẫn ở trong đó.”

Anh yêu thích cái ý tưởng ngộ nghĩnh này. Nó cứ ảm ảnh anh hoài, tựa như một trò ảo thuật.

* *
*
Một tháng sau, anh giã từ bệnh viện. Anh đã lành bệnh. Điều này không có nghĩa anh đã hết chết. Nó chỉ dời lại sang một ngày khác. Có thể khuya nay, và cho dù là ngày nào đi nữa, anh cũng chưa bao giờ chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến đi xa này.

LCT
Tháng 4 – 2014
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung quốc đang xây dựng kính viễn vọng vô tuyến (radio telescopes) lớn nhất thế giới, với bán kính 500m, lớn hơn nhiều so với kính viễn vọng cùng loại có tên Arecibo của Mỹ (bán kính 305m).



Kính viễn vọng này có kích thước bằng 30 sân bóng đá cộng lại và việc lắp đặt dự kiến sẽ hoàn tất vào tháng 9/2016. Đó là những thông tin mà ông Li Di, kĩ sư trưởng thuộc Tổng cục vô tuyến giám sát vũ trụ, thuộc Viện Khoa học Trung Quốc, chia sẻ với tờ Thời báo hoàn cầu.
Kính viễn vọng Arecibo của Mỹ đặt tại Puerto Rico. Ảnh: Newscientist

Theo ông Li, dự án chế tạo kính viễn vọng có tên gọi FAST này chính thức được khởi công từ tháng 3/2011 và sẽ hoàn thành trong khoảng thời gian 5 năm rưỡi. Cho đến nay, tiến độ thực hiện đều đúng theo kế hoạch. Tuy nhiên, vì đây là kính viễn vọng lớn nhất thế giới nên trong quá trình xây dựng chắc chắn sẽ gặp một số khó khăn. Vị kĩ sư này cho biết, kính được đặt tại huyện Bình Đường, tỉnh Quý Châu, do khu vực này có nhiều ưu thế về địa hình, có vùng lõm sâu tự nhiên. Không những vậy, Quý Châu còn là tỉnh vùng sâu, có ít cư dân sinh sống, giúp cho sóng vô tuyến không bị nhiễu bởi sóng điện thoại, radar và sóng vệ tinh.Khi hoàn thành, FAST sẽ có khả năng do thám không gian với tốc độ nhanh gấp 10 lần so với chiếc Arecibo của Mỹ, mức độ tinh vi gấp hai lần. Về mục đích sử dụng, ông Li cho biết kính viễn vọng này sẽ có nhiệm vụ xác định các tín hiệu từ xa trong vũ trụ, giúp hiểu rõ hơn các vật chất trong vũ trụ cũng như lịch sử tiến hóa của vũ trụ. Tuy nhiên, một số chuyên gia phân tích lại nói rằng, FAST có thể được dùng để theo dõi tên lửa và các thiết bị không gian tấn công Trung Quốc. Đây là một phần trong chiến lược tác chiến hàng không - vũ trụ mà giới lãnh đạo Bắc Kinh đang theo đuổi. HT (Global times)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những chiến lợi phẩm nào Việt Nam thu được sau năm 1975?

 Là nững vũ khí Việt Nam thu được trong kháng chiến chống Mỹ, nhiều loại đã được QĐ Việt Nam cải tiến và sử dụng cho đến tận ngày nay.
Chiến lợi phẩm được coi là quý giá hàng đầu là xe bọc thép M113. Tính đến đầu năm 1975, trong biên chế quân đội Việt Nam Cộng hòa (VNCH) vẫn có khoảng trên 1.500 chiếc M113. Sau chiến thắng năm 1975, hàng trăm xe được đưa vào biên chế lực lượng tăng thiết giáp Việt Nam. Trong đó còn khoảng 500 xe thiết giáp M113 còn sử dụng được.
Chiến lợi phẩm được coi là quý giá hàng đầu là xe bọc thép M113. Tính đến đầu năm 1975, trong biên chế quân đội Việt Nam Cộng hòa (VNCH) vẫn có khoảng trên 1.500 chiếc M113. Sau chiến thắng năm 1975, hàng trăm xe được đưa vào biên chế lực lượng tăng thiết giáp Việt Nam. Trong đó còn khoảng 500 xe thiết giáp M113 còn sử dụng được.

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                              Phần nhận xét hiển thị trên trang