Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 29 tháng 4, 2014

Tổng thống Obama: Mỹ bảo vệ Nhật trong tranh chấp biển đảo với Trung Quốc

(TNO) Tổng thống Mỹ Barack Obama đã đảm bảo với Nhật Bản rằng vấn đề quần đảo tranh chấp Nhật - Trung Senkaku/Điếu Ngư nằm trong khuôn khổ hiệp ước an ninh song phương giữa Tokyo và Washington.


Một phần quần đảo Senkaku/Điếu Ngư - Ảnh: Reuters
Phát ngôn trên của ông Obama được đăng tải trên tờ báo Nhật Yomiuri vào ngày 23.4, vài giờ trước khi ông Obama đến thủ đô Tokyo nhằm tái khẳng định quan hệ vững mạnh giữa Mỹ và Nhật, vốn đang đối mặt với căng thẳng leo thang liên quan đến Trung Quốc.
“Chính sách của Mỹ rất rõ ràng, quần đảo Senkaku do Nhật Bản kiểm soát, vì thế nó nằm trong khuôn khổ Hiệp ước Hợp tác và An ninh giữa Mỹ và Nhật Bản”, Reuters dẫn lời phát biểu của ông Obama trả lời phỏng vấn với tờ Yomiuri.
“Và chúng tôi phản đối bất kỳ hành động đơn phương nào nhằm chống lại việc Nhật Bản kiểm soát quần đảo này”, cũng theo phát biểu của ông Obama.
Nhật Bản là điểm dừng chân đầu tiên của ông Obama trong chuyến công du 4 nước châu Á: Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines và Malaysia.
Chuyến công du này của ông Obama nhằm mục đích đảm bảo khối đồng minh then chốt, Hàn Quốc và Nhật Bản, sẽ vững mạnh hơn bao giờ hết, trong khi không muốn ảnh hưởng đến quan hệ với Trung Quốc.
Ông Obama cũng cho biết đã từng nói với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình rằng tất cả các quốc gia đều quan tâm đến một giải pháp hòa bình trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ ở biển Hoa Đông.
Căng thẳng Nhật Bản - Trung Quốc leo thang kể từ năm 2012 sau khi Tokyo tuyên bố quốc hữu hóa các hòn đảo thuộc Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông. Tàu chiến hải quân và tàu tuần duyên Nhật - Trung thường xuyên đụng độ, chơi trò “mèo vờn chuột” ở vùng biển quanh quần đảo này.
Tổng thống Obama cho rằng bất kỳ tranh chấp biển đảo nào cũng nên được giải quyết thông qua các biện pháp ngoại giao và đối thoại chứ không phải gây hấn.
Ông Obama cũng tái khẳng định cam kết của Washington nhằm đảm bảo an ninh cho đồng minh Nhật Bản và Hàn Quốc, nhấn mạnh chương trình hạt nhân của Triều Tiên là không thể chấp nhận được.
“Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc đoàn kết vì mục tiêu chung là hoàn tất việc giải trừ vũ khí hạt nhân tại bán đảo Triều Tiên”, ông Obama cho hay.
Hôm 22.4, Bộ Quốc phòng Hàn Quốc cho rằng Triều Tiên có thể đang chuẩn bị tiến hành cuộc thử nghiệm hạt nhân lần thứ tư, trước thềm chuyến công du châu Á của ông Obama.
Hôm 21.4, hãng Thông tấn trung ương Triều Tiên KCNA dẫn lời một người phát ngôn Bộ Ngoại giao Triều Tiên cho rằng chuyến công du châu Á của Tổng thống Mỹ Barack Obama sắp tới là “nguy hiểm và phản động”, chỉ nhằm mục đích làm gia tăng căng thẳng và “mang đến đám mây mù trong cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân” tại bán đảo Triều Tiên.
Phúc Duy

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ông Obama cảnh báo Trung Quốc không nên dùng vũ lực trong tranh chấp biển đảo



Tổng thống Mỹ Barack Obama phát biểu trước các binh sĩ Mỹ và Philippines tại nhà thi đấu thể thao Fort Bonifacio ở thủ đô Manila của Philippines vào ngày 29.4 - Ảnh: Reuters 
Trong một bài phát biểu trước các binh sĩ Mỹ và Philippines tại Philippines ngày 29.4, ông Obama nêu lên quan ngại về căng thẳng leo thang trong tranh chấp biển đảo giữa Trung Quốc và các đồng minh của Mỹ ở châu Á, theo AFP.
“Chúng tôi tin rằng các quốc gia và dân tộc có quyền sống trong an ninh và hòa bình, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của họ phải được tôn trọng”, ông Obama nói.
“Chúng tôi tin rằng luật quốc tế phải được tuân thủ, tự do hàng hải phải được đảm bảo và thương mại không bị cản trở. Chúng tôi tin rằng tranh chấp lãnh thổ phải được giải quyết một cách hòa bình chứ không phải sử dụng vũ lực”, Tổng thống Obama cảnh báo.
Philippines có tranh chấp biển đảo với Trung Quốc ở biển Đông, trong đó có bãi cạn Scarborough. Manila cũng đã gửi đơn kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế về tuyên bố chủ quyền “đường lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc bao trùm gần hết biển Đông.
Theo AFP, Philippines, có quân đội thuộc hàng yếu ớt nhất trong khu vực, thường xuyên kêu gọi đồng minh Mỹ giúp đỡ giữa lúc Trung Quốc tăng cường các hoạt động ngoại giao và quân sự nhằm kiểm soát các khu vực tranh chấp giữa Trung Quốc-Philippines trên biển Đông.
Tổng thống Obama tái khẳng định với Philippines rằng Mỹ sẽ hỗ trợ các đồng minh nếu họ bị tấn công, đồng thời nhắc lại hiệp ước quốc phòng Mỹ-Philippines ký kết hồi 1951.
Nhưng ông Obama không nói rõ cụ thể liệu rằng Mỹ có bảo vệ Philippines hay không nếu có xung đột xảy ra giữa Trung Quốc-Philippines trên biển Đông.
Trước đó, khi đến thăm Nhật Bản trong khuôn khổ chuyến công du 4 nước châu Á, ông Obama lại cam kết bảo vệ Nhật Bản nếu bị Trung Quốc tấn công liên quan đến quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông.
Mặc dù lên tiếng cam kết bảo vệ các đồng minh, Tổng thống Obama khẳng mục tiêu của Mỹ ở châu Á không phải là chống lại hoặc kìm hãm Trung Quốc. “Chúng tôi hoan nghênh sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc. Chúng tôi có mối quan hệ mang tính xây dựng với Trung Quốc”, ông Obama nói.
Tuy nhiên, truyền thông Trung Quốc tỏ vẻ hoài nghi trước câu phát biểu này của ông Obama.
“Ngày càng rõ ràng rằng Washington xem Bắc Kinh là đối thủ. Việc ông Obama tái khẳng định bảo vệ các đồng minh trong xung đột với Trung Quốc cho thấy Washington đang che đậy nỗ lực kìm hãm sự ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực”, AFP dẫn một bài xã luận đăng trên tờ China Daily (Trung Quốc) ngày 29.4.
Bài xã luận này cũng cảnh báo mọi người không nên tin vào “những lời hứa hẹn ngọt ngào” của ông Obama về một mối quan hệ “mang tính xây dựng” giữa Trung Quốc và Mỹ.
“Mỹ rõ ràng là một mối đe dọa an ninh đối với Trung Quốc”, cũng theo bài xã luận trên China Daily.
Không chỉ truyền thông Trung Quốc, truyền thông Philippines cũng bày tỏ sự hoài nghi liệu rằng ông Obama có bảo vệ Philippines trong trường hợp xảy ra xung đột giữa Trung Quốc và Philippines trên biển Đông hay không.
“Mỹ không hề có một cam kết chắc chắn về việc bảo vệ Philippines” là tựa của một bài viết xuất hiện trên trang chính của tờPhilippine Daily Inquirer, được biết đến với cái tên Inquirer, vào ngày 29.4.
Trước thềm ông Obama đến Philippines vào ngày 28.4, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Voltaire Gazmin và Đại sứ Mỹ tại nước này Philip Goldberg đã ký kết thỏa thuận tăng cường hợp tác quốc phòng có thời hạn 10 năm, cho phép Mỹ hiện diện quân sự nhiều hơn ở Philippines, theo Reuters.
Ông Obama đến thăm Philippines trong hai ngày 28-29.4. Philippines là điểm dừng chân cuối cùng, kết thúc chuyến công du 4 nước châu Á: Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia và Philippines.
Phúc Duy

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Một cách nghĩ khác về Nguyễn Khải

Tôi biết rằng nhiều người có cách nghĩ tương tự như Dương Tường khi đọc Đi tìm cái Tôi đã mất - Tùy bút chính trị của Nguyễn Khải (xem bài phỏng vấn trên talawas số ra 11-6-08). Và tôi tin chắc ở dưới suối vàng, tác giả Xung đột cũng muốn người đọc và đồng nghiệp nghĩ về mình như vậy. Nhưng với tôi, tác phẩm này gợi ra những suy nghĩ khác, xin sơ bộ trình bày như sau.



1. Gọi là Đi tìm cái Tôi đã mất cho sang. Ở đây tác giả không định đi tìm cái gì cả. Ông chỉ có nhu cầu trình bày một số ý tưởng. Những ý tưởng này đã sẵn có từ khi viếtThượng đế thì cười. Nhưng lúc đó tính rằng viết ra không tiện. Mà để không dùng làm gì thì cứ tiếc mãi. Nên nảy ra một hình thức tận dụng gọi là bổ sung hay phụ lục như vừa thấy. Có thể ông cũng biết rằng đời mình có những thứ bị đánh mất. Nhưng như chúng ta đều biết, việc đi tìm những cái đó bao hàm một nguy hiểm: Nó sẽ dẫn tới xu thế phủ nhận những gì ông đã có. Một người khôn ngoan và thực dụng như Nguyễn Khải chẳng đời nào bỏ công cho việc đó làm gì. Rút lại, định hướng chủ yếu của tác giả trong cả hai trường hợp chỉ là kể lại sự khôn ngoan tài ba “biết lui biết tới” của mình trong đường đời, bao gồm suốt quá trình lập nghiệp. Thế tại sao Nguyễn Khải lại viết Đi tìm cái Tôi đã mất?Theo tôi, trường hợp này cũng giống như Chế Lan Viên viết Di cảo thơ, và Tố Hữu tâm sự với Nhật Hoa Khanh. Thực chất cái việc các ông “cố ý làm nhòe khuôn mặt của mình” như thế này là cốt để xếp hàng cả hai cửa. Cửa cũ, các ông chẳng bao giờ từ. Còn nếu tình hình hình khác đi, có sự đánh giá khác đi, các ông đã có sẵn cục gạch của mình ở bên cửa mới (bạn đọc có sống ở Hà Nội thời bao cấp hẳn nhớ tâm trạng mỗi lần đi xếp hàng và không sao quên được những cục gạch mà có lần nào đó mình đã sử dụng). 

2. Dương Tường rất thích cái câu Nguyễn Khải nói về giải thưởng, ấy là khi nhà văn “nhận ra ngay đây là cái bia mộ sang trọng cắm lên một đời văn đã tới hồi phải kết thúc.” Nhưng như mấy anh em làm báo kể với tôi, những năm cuối đời, thấy ai khi nhắc tới mình mà quên nói thứ bậc giải mình đã được nhận là Nguyễn Khải đã không bằng lòng. Tôi tin điều đó vì còn nhớ một đầu việc hồi 1986-88. Đó là khi Nguyễn Khải có làm vài điều khiến anh em đồng nghiệp, nhất là lớp trẻ, thấy không phải. Trong tinh thần đổi mới, họ đối xử với ông thế nào đó khiến ông cảm thấy cũng chỉ cá mè một lứa như anh em chứ chẳng thuộc loại đấng bậc như mọi khi. Thế là ông kêu ầm lên, rằng người ta không được nói hỗn với tôi như vậy, rằng chẳng gì tôi cũng là cỡ Thường vụ Hội (một thứ quan chức chủ chốt, cái lõi của Ban chấp hành thuở còn thịnh trị; người có chân trong Thường vụ đứng còn cao hơn người chỉ là thành viên Ban chấp hành một bậc). Lại như khi Nguyễn Khải nói về toàn bộ sự nghiệp ông. “Cái tài sản tinh thần thâu góp một đời” ấy “về già nhìn lại”, ông nhận ra “chỉ là một cái kho chứa đủ tạp nham chẳng có một chút giá trị gì.” Mấy chục năm trước ở tạp chí Văn nghệ Quân đội, tôi cũng thường được nghe Nguyễn Khải nói bằng cái giọng tương tự và cũng đã tin thật, tin hết mình. Nhưng càng ngày, tôi càng thấy đó chỉ là một nửa cái bánh mì. Và nửa kia của cái bánh chính là những lời đường mật người ta thường rót vào tai khi đối diện với chính mình “Ồ, mình chẳng kém ai!” “Liệu có ai sánh ngang mình? Không và không!” Câu nói đánh dấu phút tự bằng lòng của L. Tolstoi “Lão già ghê thật!” có thể dùng làm đề từ cho cuốn Thượng đế thì cười. Bên cạnh lời tự thú nhũn nhặn mà Dương Tường tin và dẫn ra, lúc nào cũng còn một Nguyễn Khải tự mê mình như vậy. Cả hai hợp lại mới làm nên thái độ của Nguyễn Khải với sự nghiệp của bản thân.

3. Đúng như Dương Tường nói, trong Nguyễn Khải có hai con người. “Một Nguyễn Khải khôn khéo giả dối và một Nguyễn Khải thành thật trắng trợn. Một Nguyễn Khải hèn nhát và một Nguyễn Khải khinh ghét tay Nguyễn Khải hèn nhát kia. Và sự tranh chấp giữa hai con người ấy không bao giờ ngã ngũ.” Tôi chỉ muốn bổ sung: Sự tranh chấp ở đây thực ra chỉ là bề ngoài, trên sàn diễn, trước mặt bàn dân thiên hạ. Chứ ở hậu trường Nguyễn Khải yêu cả hai con người đó ở mình. Ông sống hòa hợp với cả hai. Tùy trường hợp mà ông đưa con người này hay con người kia ra để làm hàng. Lối nghĩ này đã giúp ông thành công chói lọi trong suốt đường đời, và cho đến giai đoạn chung cục của đời sống, ông vẫn giữ, không tự khác mình đi đến một mi-li -mét! 

4. Nếu được phép thành thực, tôi muốn nói rằng những nhận xét về xã hội và đời sống mà Nguyễn Khải viết trong tùy bút chính trị này không mấy đặc sắc, không phải là cỡ Nguyễn Khải mới nghĩ được, người ta vẫn nói giăng giăng với nhau ngoài quán nước. Điều kiện để một nhà văn khi trình bày những ý nghĩ loại này không trở thành chung chung mà có sức thuyết phục là tác giả phải sống với nó một cách sâu sắc. Tức là nó phải được viết nên như vừa được tác giả tìm ra, chỉ có nó duy nhất đúng, nhà văn đã lấy cả đời mình ra bảo đảm cho nó, tất cả những gì ngược với nó phải bị xem như đáng xấu hổ, đáng băm vằm hủy bỏ. Đến chỗ này phải nói Nguyễn Khải – cũng như số đông chúng ta – đã dừng lại, dù không cố ý, thì sự thực đã dừng. Thời Xôviết, ở Nga có nhà văn J. Trifonov (1925-1981). Năm mới 26 tuổi (1951), ông được Giải thưởng Stalin với cuốn Những sinh viên. Sau này ông viết những truyện vừa hoặc tiểu thuyết như Đổi trao, Giã từ, Ông già, Ngôi nhà khu bờ sông… với cảm hứng hoàn toàn “phi chính thống”, nên được bạn đọc trong ngoài nước đặt nhiều kỳ vọng và nhiều nhà xuất bản lớn ở Anh, Pháp, Đức cho dịch. Có người bảo rằng họ thích ông cả hai, tức cả thời Những sinh viên lẫn thời sau. Trifonov bảo như thế là vô liêm sỉ. Và trong các tuyển tập có sự đồng ý của ông, cuốn tiểu thuyết đầu tay không bao giờ được phép xuất hiện. Ở Việt Nam gần như không thể tìm thấy một nhà văn nào có cách cư xử tương tự. Cùng lắm, khi làm các tuyển tập, người ta có thể bỏ một số bài thơ trang truyện quá “chối”, quá “lộ diện”. Chứ còn toàn bộ tư tưởng thời trẻ thì người ta xin cứ được giữ, không ai là không muốn giữ. 

5. Khi viết về tiểu thuyết Thượng đế thì cười, tôi đã nói rằng hồi ký không phải là những cuốn sách ở đó người viết ca công tụng đức mình. Mà yêu cầu chính đặt ra với các cuốn hồi ký theo nghĩa hiện đại là nhà văn phải lấy toàn bộ con người mình ra làm đối tượng khảo sát, sẵn sàng “lật tẩy”, “xét lại” chính mình, “lật lại cả vụ án” là chính cuộc đời mình. Chỉ có làm như thế người ta mới thực sự làm cuộc phiêu lưu mới và viết được những trang cần cho nhân quần thế sự. Đến nay tôi vẫn có ý nghĩ đó. Tùy bút Đi tìm cái Tôi đã mấtcũng như tiểu thuyết Thượng đế thì cười đều có dáng dấp hồi ký nhưng vẫn không phải thực là hồi ký theo nghĩa tôi đề nghị. Hầu như người viết hồi ký nào cũng hứa hẹn rằng ông ta sẽ viết rất thật. Nhưng tôi cho rằng cần có một sự phân biệt rạch ròi giữa kỳ vọng và hiệu quả mà tác phẩm mang lại. Trong nghệ thuật thành thực không hề là chuyện dễ mà là việc khó, không phải chuyện tối thiểu mà là việc tối đa. Không phải người ta cứ muốn rồi là thành thực ngay được đâu, phải có tài năng và bản lĩnh thế nào mới thực sự đạt tới cái hiệu quả tuyệt vời kia. 

6. Một lần nữa trở lại với cái tên Đi tìm cái Tôi đã mất. Chắc không chỉ riêng tôi mà nhiều người cảm thấy nó là tiếng vọng từ Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust. Hồi trẻ, giá thấy ai làm thế, hẳn Nguyễn Khải sẽ gọi tên chỉ mặt ra mà giễu cợt, hoặc nếu không cũng tự mình cười thầm. Nay thì Nguyễn Khải cũng hồn nhiên mà làm cái việc nương tựa vào ánh vinh quang xa lạ kia. Thế mới biết sức mạnh của thời gian. “Ôi khủng khiếp thời gian ăn cuộc sống.” Đâu có một lần Xuân Diệu đã dẫn ra một câu thơ Pháp như vậy và ông bảo là của C. Beaudelaire. Còn mới hôm nọ thôi, đọc báo Văn Nghệ trẻ 18-5-08, thấy có bài viết riêng về tác giả Người Trung Quốc xấu xí nhân việc nhà văn này qua đời. Đây là một câu của Bá Dương được người ta nhắc tới: “Lòng tham lam gặm nhấm nhân tính.” 

7. Bài viết này chủ yếu là viết về Nguyễn Khải, nhưng nó được gợi ý từ những câu trả lời của Dương Tường. Ở cuối bài, Dương Tường kể là dạo này ông thường đi lại chơi bời cùng lớp trẻ. Và khi được hỏi Văn chương hôm nay, điều gì đang làm cho ông quan tâm nhất?, ông bảo đó là "Sự khao khát vạch những con đường mới của lớp trẻ, rũ bỏ mặc cảm và phá vỡ những khuôn khổ kìm hãm sáng tạo". Đọc giữa hai hàng chữ, tôi hiểu có một điều Dương Tường chưa tiện nói ra, đó là với lớp trẻ, ông đang đóng vai một thứ sếp sòng, một người cổ võ nồng nhiệt, người hướng đạo. Hẳn nhiều cây bút trong lớp đi trước cũng cảm thấy thơm lây vì có một Dương Tường như vậy. Nhưng từ trường hợp của Nguyễn Khải nói ở đây, có thể thấy còn một cách làm nữa mà tôi muốn ngày càng có thêm người thử bắt tay làm. Đó là chúng ta hãy mang mình ra phân tích. Hãy thật sự tỉnh táo trong việc nhìn lại mình. Hãy đối chiếu mình với yêu cầu của cộng đồng và tự vạch ra cho chung quanh thấy hết những lầm lỡ và cả những cơ hội hèn hạ kiếm chác ngu muội man trá của thế hệ mình Có nghĩa làm chính những việc Nguyễn Khải làm, chỉ có điều với nhiệt tình khác hẳn, hoặc có thể nói với tinh thần quyết liệt hơn, sòng phẳng hơn và cũng vô tư hơn. Khi ấy những ê chề đau đớn mà chúng ta trải nghiệm không biết chừng sẽ đóng vai một bài học cho lớp trẻ. Họ sẽ tránh được những vết xe đổ. 

Hà Nội 15-6-08

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Làm chủ hay làm thuê? Tiếng nói của một công dân 7X


Gần đây, ông Trần Xuân Giá - cựu ủy viên trung ương đảng, cựu bộ trưởng có tâm sự với báo giới về những điều ông khuyên con cháu trong đó có lời khuyên: “Không làm ông chủ. Hãy làm thuê mà sống. Nhưng muốn sống tốt thì phải giỏi chuyên môn để là người làm thuê giỏi, để được tôn trọng”.
Ở góc độ cá nhân, tôi hiểu có thể là ông đang chán chường, mệt mỏi vì mọi sự, ông thấy mình đang phải trả giá cho việc trót một lần làm “ông chủ” để rồi bị liên quan đến tụng đình, nên muốn khuyên con cháu không đi lại “con đường mòn đau khổ” mà ông (vô tình hay hữu ý) đã đi qua.

Thực ra đó là việc riêng của ông, nhưng ông lại chia sẻ những điều riêng tư đó với báo chí trong khi ông từng là một nhà lãnh đạo cao cấp, từng là người của công chúng nên ông buộc phải đứng trước phán xét của dư luận, của công luận, e đó cũng là chuyện thường tình.

Câu hỏi được đặt ra lúc này là tuổi trẻ nước nhà nên có tâm thế làm chủ hay làm thuê?

Tôi ủng hộ diễn đàn này của báo Một Thế Giới vì rõ ràng đây là vấn đề vô cùng cấp thiết nhưng cũng mang tính lâu dài không những cho mỗi bạn trẻ mà cho cả tương lai của dân tộc.

Thế hệ 7X của chúng tôi đang được coi là nòng cốt của đất nước. Và chúng tôi luôn nhìn lên phía trước là thế hệ đi trước như những tấm gương lớn để noi theo với nhiều hoài bão và hy vọng.


Đạo diễn Nguyễn Mạnh Hà tại Nghĩa trang Bát Xát, Lào Cai - Ảnh: Nhân vật cung cấp

Nhưng có 1 thực tế đáng buồn là mỗi ngày khi ánh bình minh đánh thức tôi dậy, tôi nhìn quanh nhà và nhiều lần giật mình chợt hỏi: Tôi đi xe máy và ô tô của người Nhật, tôi dùng đồ gia dụng như tủ lạnh, ti vi, máy giặt, máy lạnh, nồi cơm điện, lò nướng, điện thoại di động… của Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan... Tôi dùng máy tính của Mỹ, tôi uống nước ngọt và ăn đồ ăn nhanh của các nước phương Tây, rồi một đất nước đất đai trù phú, khí hậu ôn hòa tôi phải ăn cả thực phẩm thậm chí không an toàn của Trung Quốc.
Một con người không thích và không biết làm chủ (suy nghĩ và hành động của mình) thì cần phải xem tồn tại để làm gì? 

Một quốc gia không biết tự trọng và không biết làm chủ vận mệnh của mình thì phải xem lại tồn tại để làm gì?

Nhìn rộng ra một chút, tôi thấy gần như tất cả đồng bào của mình cũng như vậy và tôi buồn bã hiểu rằng, với một nền kinh tế chủ yếu là gia công đã biến hàng chục triệu người Việt chúng ta thành những kẻ làm thuê, dẫn đến điều tất yếu phần lớn mồ hôi công sức của người Việt bỏ ra lao động từ sáng tới đêm để cuối cùng không ít những đồng tiền chân chính và khó khăn đó lại “khăn gói quả mướp” xếp hàng lũ lượt chui tọt vào túi các ông chủ ngoại quốc hoặc túi của bọn sâu mọt bầy đàn tham nhũng, ăn chặn, ăn cướp.



Thân phận làm thuê bị chà đạp, hàng ngàn công nhân ở các xí nghiệp phải đình công

Nước Việt đang trở thành một hình thức thuộc địa kiểu mới của các tập đoàn nước ngoài cấu kết với những “nhóm lợi ích” trong nước. Tức là chúng ta đang đứng trước nguy cơ bị mất chủ quyền về kinh tế, tức là mất vai trò làm chủ cuộc sống của mình, sâu xa hơn mất chủ quyền quốc gia.

Tôi nghĩ câu hỏi "Làm chủ hay làm thuê?" trong bối cảnh thực tiễn lúc này của đất nước phải được mở biên tầm nhìn như thế.

Khi đặt câu hỏi trong toàn cảnh quốc gia, mỗi người trẻ tuổi tùy theo năng lực và khát vọng của mình sẽ nhận thức đầy đủ hơn những bước đi và đích đến của mình khi đứng trước câu hỏi: Làm chủ hay làm thuê? 

Và tôi tin với một người trẻ tuổi có học hành tử tế, có năng lực thực sự, có nhiệt huyết với đất nước sẽ thấy xấu hổ khi mình chọn lựa con đường tầm thường nhất là làm thuê để đủ ăn mà chẳng rủi ro, chẳng phải mệt óc, chẳng phải chịu trách nhiệm gì hết. 

Tức là chỉ lo lợi ích cho riêng mình và cho gia đình riêng của mình còn nhân dân đói nghèo, dân tộc bị khinh rẻ, quốc gia bị tụt hậu, bị phụ thuộc thì đó không phải là việc của mình.

Một con người không thích và không biết làm chủ (suy nghĩ và hành động của mình) thì cần phải xem tồn tại để làm gì? 

Một quốc gia không biết tự trọng và không biết làm chủ vận mệnh của mình thì phải xem lại tồn tại để làm gì?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ghi chép của Phạm Xuân Nguyên


unnamed
Phạm Xuân Nguyên (phải) và Cao Hành Kiện
1. Cao Hành Kiện rời Trung Quốc sang Pháp năm 1989. Từ đó là không về. Không được về. Trong cuộc trò chuyện với ông tại nhà riêng ở Paris, tôi có hỏi chuyện này, ông nói vậy. Hội thảo quốc tế “Tác phẩm tiểu thuyết và sân khấu của Cao Hành Kiện, giải Nobel văn học 2000” do Đại học Provence tổ chức có đông người Hoa. Các nhà nghiên cứu văn học gốc Hoa đến từ Anh, Mỹ, Australia, Đài Loan, Hồng Kông cùng với các đồng nghiệp của họ đến từ Thụy Điển, Hàn Quốc, Việt Nam, Nhật Bản. Ông vui với họ, vui với tất cả. Thân tình, gần gũi. Nhưng ông là nhà văn sống độc lập và tự do. Lâu rồi ông không đọc văn chương Trung Quốc, trong cũng như ngoài. Sang Pháp sống, ông chẳng để mình bị lôi kéo vào một cộng đồng Hoa kiều nào. Ông là ông, một công dân Pháp gốc Hoa, nhưng là một nhà văn. Một nhà văn viết tiếng Trung và tiếng Pháp, chứ không phải một nhà văn Trung Quốc. Tính từ “chinois” ở đây để chỉ ngôn ngữ, không phải để chỉ quốc tính.
Khi giải Nobel văn chương 2000 được trao cho ông, chính quyền Trung Quốc đã lên tiếng phản đối. Rằng là làm vậy Ủy ban Nobel đã lấy tiêu chí chính trị để đo văn học. Rằng là Trung Quốc có nhiều nhà văn và tác phẩm nổi tiếng thế giới mà chắc Ủy ban Nobel ít biết. Rằng là như thế giải Nobel bị mất uy tín. Rằng là… Trong báo cáo đọc tại hội thảo tôi đã kể lại việc Cao Hành Kiện bị “vạ lây” ở Việt Nam như thế nào vì chuyện này. Ông nghe, và hiểu. Cho nên, ông đã vui vẻ nhận từ tay tôi hai bản dịch Linh sơn (của Trần Đĩnh dịch từ tiếng Pháp và của Hồ Quang Du dịch từ tiếng Trung) và tập truyện ngắn của ông sang tiếng Việt mà không hề căn vặn chuyện bản quyền. Tôi vui vì trao được chúng cho ông. Tôi chỉ nghĩ đơn giản làm thế để ông biết tác phẩm của ông đã đến được Việt Nam, đã được dịch, in và đọc ở nước tôi. Nhưng trước ông, trước các đồng nghiệp và cử tọa dự hội thảo hôm đó, trao sách cho ông rồi, vui rồi, tôi lại cảm thấy một nỗi buồn.
 2. Cao Hành Kiện xuất hiện đầu tiên, với tôi, là tại nhà hát Opera Marseille. Đêm đó vở opera “Tuyết tháng tám” của ông lần đầu tiên ra mắt công chúng châu Âu tại đây. Chúng tôi, các đại biểu dự hội thảo, được vé mời xem. Nội dung vở là kể về hành trạng của Huệ Năng, tổ thứ sáu của Thiền tông Trung Hoa. Cao vốn là người không tin vào những chủ thuyết đại ngôn tuyên bố cứu thế cứu đời nên cái cách mà vị Lục tổ Thiền hành xử khi được trao y bát để truyền đạo khiến ông thích thú. Huệ Năng dạy rằng ai cũng có thể giác ngộ thành Phật nếu biết phá chấp và sống hòa đồng với thế giới. Vở opera gồm 2 hồi 9 cảnh, kịch bản Cao Hành Kiện, âm nhạc Xu Shuya, diễn trong 2h15’. Hai cảnh kết: Huệ Năng báo cho các môn đệ biết mình sẽ mất vào tháng 8 và đốt chiếc áo cà sa vì ai cũng có thể giác ngộ thành Phật thì chẳng còn cần phải chọn người kế nghiệp tổ. Khi ông mất, tuyết phủ núi: tháng tám mà có tuyết ư? Thời gian trôi qua, tư tưởng của Huệ Năng bị hiểu sai lạc, nhà chùa thành ra như một thế giới hỗn loạn, và cuối cùng bị thiêu cháy. Đấy có phải là ngọn lửa tẩy rửa? Vở diễn khép lại ở ngọn lửa bốc lên thiêu cháy ngôi chùa, sau đó là bầu không khí tĩnh lặng êm đềm bao phủ tất cả. Đó là nghĩa “vô thường” của Thiền tông mà vở diễn muốn truyền đến cho người xem.
Áp phích vở “Tuyết tháng tám” ở Nhà hát Opera Marseille
 Một vở diễn độc đáo do sự phối hợp của Nhà hát Opera Marseille và Trường cao đẳng nghệ thuật biểu diễn quốc gia Đài Loan, với gần hai trăm diễn viên hát tiếng Trung và tiếng Pháp, dàn nhạc Marseille và dàn nhạc Đài Loan. Kịch bản âm nhạc (livret) được phóng chiếu lên cho người xem theo dõi nội dung. Dựng cảnh và trang trí là do tự tay Cao, những bức phông lớn ông vẽ bằng mực tàu. Cả phòng xem rộng lớn chật kín người im phắc, nghe và xem. Kết thúc, từng nhóm diễn viên lần lượt ra chào. Tiếng vỗ tay kéo dài. Và khi cuối cùng Cao xuất hiện cùng với nhạc sĩ và diễn viên chính thì mọi người vỗ tay dồn dập, hồi lâu. Mãi khi khán giả đã về hết, nhân viên nhà hát đã ra hiệu đóng cửa, ông vẫn còn bị vây bọc giữa các đại biểu hỏi han trò chuyện. Bên ông là Goran Malmqvist thành viên Hàn lâm viện Thụy Điển, Tchen Yu-Chiou bộ trưởng cố vấn cho tổng thống Đài Loan, Mabel Lee giáo sư Đại học Sydney, Noel Dutrait giáo sư Đại học Provence, những người thân quen cũ. Tiếng Trung tiếng Pháp đan nhau trong cuộc chuyện trò. Tôi bực mình tiếng Pháp nói ú ớ, tiếng Trung không biết, để bắt chuyện cùng ông. Đành là lặng lẽ đứng ngắm ông, chụp ảnh ông, và thầm vui lần đầu tiên trong đời được gặp mặt một nhà văn giải thưởng Nobel. Ấn tượng ban đầu của tôi về ông là thấy ông hiền lành, dễ gần.
Cao Hành Kiện nhận bằng Tiến Sĩ Danh Dự của Đại học Đài Loan

Mà đúng là như thế. Hôm sau, hội thảo khai mạc tại Maison Méditerranéenne des Sciences de l’Homme (Aix-en-Provence), chiếc xe chở các đại biểu vừa đến nơi, chúng tôi bước xuống đi vào đã thấy ông đứng bên cổng bắt tay từng người. Một mình ông, không có người nào trong ban tổ chức, cạnh ông là một phóng viên truyền hình đang quay. Ông không biết là tôi kính trọng ông vì điều đó. Có thể ông đã quen với cung cách phương Tây, hội thảo khoa học thì các nhà khoa học là nhân vật chính. Có thể ông muốn tỏ bày sự cám ơn đối với các nhà nghiên cứu đến từ nhiều nước dự một hội thảo bàn về sáng tác của mình. Nhưng sự giản dị, gần gũi của ông làm tôi quý trọng và ngạc nhiên. Vào hội thảo, đầu tiên là việc trao tặng ông bằng Tiến Sĩ Danh Dự của Đại học Đài Loan (ông đã được nhận danh hiệu này của Đại học Provence từ trước). Ông mặc áo thụng nhận bằng từ tay vị chủ tịch đại học, nói vài lời cám ơn, xong rồi đi ra thay quần áo, trở lại ngồi nghe các báo cáo. Không kiểu cách long trọng. Không khách khí xã giao. Kết thúc hội thảo là phần ông nói chuyện và trả lời câu hỏi của mọi người.
 3. Tôi hỏi ông một câu về tên tác phẩm Linh sơn. Trong nguyên bản tiếng Trung “linh” có nghĩa là linh thiêng. Sao bản tiếng Anh, tiếng Pháp đều dịch “linh” là “hồn”, Linh sơn là núi hồn (Soul Mountain, La Montagne de l’Âme), mà không dịch là núi thiêng (Spiritual Mountain)? Ông đáp, đấy là do cảm nhận của người dịch. Bà Lillian Dutrait, một trong hai dịch giả dịchLinh sơn ra tiếng Pháp, giải thích, dịch không có nghĩa là “mot à mot”, trong linh sơn có một hồn núi ẩn giấu, con người đi tìm cái hồn ấy nhưng cả cuộc hành trình chưa thấy được. Vả lại, đọc trong tiếng Pháp, La Montagne de l’Âme có một nhạc điệu âm vang, khơi gợi. Nhân tiện bà Lillian cũng nói luôn về việc dịch một tiểu thuyết khác của Cao Hành Kiện, “Nhất cá nhân đích thánh kinh” (Thánh kinh của một người), bản tiếng Pháp là Le Livre d’un homme seul. Thánh kinh ở đây không nghĩa là Bible của Thiên chúa giáo, từ Livre viết hoa tiếng Pháp không nghĩa là sách thông thường. Tác phẩm này bản tiếng Anh thì dùng Bible, One Man’s Bible.
Poster hội thảo
Tôi nghe và nhớ có lần Cao Hành Kiện đã trả lời về nó. Được hỏi, vì sao cuốn tiểu thuyết có tên gọi là Kinh thánh của một người và vì sao trong cuốn truyện này về những đau khổ, buồn bã và bạo tàn xuyên suốt ba thập niên đầu của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, ông lại dùng phụ nữ, nhất là những chuyện tình dục với phụ nữ, làm cách lấy lại ký ức đã mất, thu góp lại những kinh nghiệm đã mất, ông cho biết: “Tôi phải nói rằng đó tất nhiên là kinh thánh củacon người. Nhưng mặt khác, nó không giới hạn ở kinh thánh của con người. Đó còn là về một cá nhân, một dân tộc nói chung, về cách nhân dân đã vượt qua những khủng hoảng và vượt qua những tai họa và bạo tàn. Tôi cũng mô tả những điều mê tín của nhân dân, hay là những sự không tưởng mà chúng ta cố tìm cách tạo ra. Con người có xu hướng nghĩ rằng hắn là một tạo hóa, rằng hắn giống Ông Trời. Điều này đặc biệt đúng cho giới trí thức, và trong thế kỷ vừa qua, giới trí thức có vẻ quên mất là họ cũng như mọi người khác thôi. Viết cuốn sách này là sự mô tả con người rời khỏi trạng thái Ông Trời về lại trạng thái con người, về lại làm một người bình thường”.
 4. Trung Hoa đại lục từ chối ông, nhưng Trung Hoa hải đảo chào đón ông. Tại hội thảo, bà Tchen Tu-Chiou, nguyên bộ trưởng văn hóa Đài Loan, hiện là cố vấn chính sách quốc gia cho tổng thống Đài Loan, người được thưởng huân chương công huân của Pháp (Médaille de Chevalier dans l’Ordre National du Mérite de France), đã đọc bản báo cáo “Số phận may mắn của vở Tuyết tháng tám”. Theo đó, Cao Hành Kiện viết Tuyết tháng tám từ những năm 1990 trên nguyên tắc “bốn không”: nó không hoàn toàn là một vở opera Trung Quốc, không hoàn toàn là một vở opera theo nghĩa phương Tây, không hoàn toàn là một vở kịch sân khấu, không hoàn toàn là một vở ballet. Nó là sự trộn lẫn và hợp tác của tất cả các hình thức thể hiện khác nhau đó. Nhưng do thiếu kinh phí nên một thời gian dài vở kịch không được dàn dựng. Năm 2000 Cao Hành Kiện được giải Nobel văn học, đây cũng là năm Trần Thủy Biển giữ chức tổng thống Đài Loan. Đầu năm 2001 Cao được mời sang Đài Bắc, và với sự quan tâm cổ vũ của vị tổng thống mới, Tuyết tháng tám được khởi công dàn dựng tại đây. Để giữ được nguyên tắc “bốn không”, những người làm vở đã phải vượt qua nhiều thách thức khó khăn. Bà Tchen kể ra một thí dụ: “Vì ông [CHK] đã quyết định chọn các diễn viên opera Trung Quốc thể hiện vở này nên ông phải đối mặt với nhiều vấn đề, trong đó vấn đề cơ bản nhất là: cách hát của các diễn viên opera Bắc Kinh hoàn toàn riêng biệt và đặc trưng cho lối thể hiện này. Vậy nhưng phần hát trong Tuyết tháng tám lại là một trong những cách tân lớn mà Cao Hành Kiện hy vọng tạo ra. Các diễn viên này đã được đào tạo để cả đời hát theo một lối, rất khó đòi hỏi họ đổi sang một lối hát hoàn toàn khác. Chẳng hạn, trong opera Trung Quốc người ta hát đối thoại theo lối đồng âm. Bây giờ diễn viên buộc phải hát đa âm, ứng với phần nhạc của dàn nhạc và phần ca của dàn đồng ca”. Nhưng mọi khó khăn thách thức rồi cũng được vượt qua. Ngày 20/12/2002 tại Nhà hát quốc gia Đài Bắc, vở Tuyết tháng tám lần đầu được công diễn. Và như tôi đã kể ở trên, tối 27/1/2005, vở này đã lần đầu tiên được ra mắt ở châu Âu tại Nhà hát opera Marseille với hai trăm diễn viên trong đó các diễn viên là người Đài Loan theo phong cách opera Trung Quốc, còn dàn nhạc và dàn đồng ca là của Pháp. Một sự hợp tác liên văn hóa để thực hiện một tác phẩm phương Đông viết bằng tiếng Hán – bà Tchen nhận xét.
Bà Tchen Yu-Chiou bên cạnh Viện sĩ Viện Hàn lâm Thụy Điển Goran Malmqvist
 Trở lại sự kiện Tuyết tháng tám ở Đài Loan, bà Tchen Yu-Chiou đánh giá: “Nếu tổng kết những gì diễn ra ở châu Á năm 2002 trong lĩnh vực opera, người ta phải đặc biệt kể đến hai vở diễn. Một mặt, đó là vở opera “Trà” do Tan Dun dựng ở Nhật Bản với sự hỗ trợ kinh phí dồi dào của NHK, mặt khác là vở “Bà Butterfly” dựng ở nhà hát opera Bắc Kinh với cảnh trí hoành tráng của kinh đô Tràng An do nhạc trưởng nổi tiếng Seiji Ozawa chỉ huy để kỷ niệm quan hệ hữu nghị Trung – Nhật. Tuy nhiên, sự kiện đánh dấu mùa diễn vừa qua chắc chắn vẫn là Tuyết tháng tám, bởi vì tác phẩm này độc đáo hơn, sâu sắc hơn, khêu gợi suy nghĩ xác thực hơn về ý nghĩa văn hóa là gì, do đó nó có sức sống và tương lai lâu dài hơn bất cứ tác phẩm nào khác”.
 Đài Loan là chốn đi về Trung Quốc hiện nay của Cao Hành Kiện ở nghĩa tinh thần, tình cảm. Khi gặp ông tại nhà riêng ở Paris, tôi hỏi xin ông bản quyền dịch tác phẩm, ông vui vẻ đồng ý cho dịch từ tiếng Trung, vì như lời ông nói, các bản tiếng Trung của ông đều in ở Đài Loan, ở đó ông có mối quan hệ thân tình với nhà xuất bản nên có thể nói với họ cho bản quyền được. Và ông đã lấy ra tặng tôi hơn chục tác phẩm in bằng tiếng Trung, trong đó có chục cuốn là kịch, đánh số in từ 1 đến 10.
 5. Trong báo cáo của tôi đọc tại hội thảo có một điểm liên hệ giữa kinh nghiệm lưu vong của Cao Hành Kiện với văn học lưu vong Việt Nam. Trong câu chuyện riêng với ông, tôi cũng hỏi chuyện này. Kết hợp với những điều ông nói trong các cuộc phỏng vấn khác nhau mà tôi đã đọc, tôi thấy Cao đã xác lập một quan niệm và vị thế nhà văn lưu vong của/cho riêng ông. Ông rời Trung Quốc sang Pháp khi đã bước sang tuổi năm mươi, khi đã có danh trên văn đàn, khi ông đã có cái vốn tiếng Pháp đủ dùng, và nhất là khi ông đã chủ trương một quan niệm coi văn chương là chuyện cá nhân, nên ông đứng tách biệt với mọi hội đoàn phe nhóm văn chương, không để mình dính vào một liên hệ nào với người Hoa hải ngoại. Ông tồn tại bằng viết, bằng chữ nghĩa.
Cao Hành Kiện tại nhà riêng ở Paris
 Có người hỏi ông trở thành nhà văn trong cảnh lưu vong (exile) hay lưu tán (diaspora) nghĩa là gì. Ông đáp: “Ở cấp độ thứ nhất, tôi nghĩ rằng trong thế kỷ XX vấn đề lưu vong hay tha hương là đặc biệt thấy rõ đối với văn nghệ sĩ. Ở cấp độ thứ hai mang tính tinh thần hơn thì lưu vong cũng có nghĩa là sự vượt qua ý thức hệ, vượt qua các thái độ và vượt qua các khuynh hướng, thế tức là lưu vong cũng là một cách theo đuổi cái vô chủ nghĩa hay là vượt qua ý thức hệ. Ở cấp độ thứ ba, nó có nghĩa là nhà nghệ sĩ muốn đứng ra bên lề xã hội. Nhìn từ góc độ này, lưu vong là một kiểu tâm trạng thích hợp, ít nhất là đối với văn nghệ sĩ. Đây là một điều tốt. Nếu anh đứng ở trung tâm xã hội, anh sẽ phải bị tiếp nhận đầu vào và sức ép từ quá nhiều lĩnh vực khác nhau, và đó không phải là thứ môi trường cần cho nghệ sĩ để vun xới khả năng sáng tạo và tư duy riêng của họ”. Trong cảnh lưu vong ông vẫn viết tiếng Trung, mặc dù giờ đây ông có thể viết bằng tiếng Pháp. Cũng đã có lần ông nêu quan niệm tính dân tộc của văn học là ở ngôn ngữ mẹ đẻ nhà văn dùng, còn như các kỹ thuật viết thì nhà văn tha hồ lựa chọn sử dụng. Một số báo cáo viên người gốc Trung Quốc tại hội thảo đã gọi Cao Hành Kiện là “nhà văn Trung Quốc” theo nghĩa nhà văn viết tiếng Trung Quốc (l’écrivain de langue chinoise) chứ không phải quốc tịch Trung Quốc. Và lời tuyên dương của Hàn Lâm viện Thụy Điển coi ông là người “mở ra nhiều nẻo đường mới cho nghệ thuật tiểu thuyết và sân khấu Trung Quốc” thì “Trung Quốc” đây không chỉ là khoanh lại địa lý quốc gia. Có lẽ, một kinh nghiệm viết văn trong cảnh lưu vong như vậy cũng nên để các nhà văn Việt Nam lưu vong ngẫm ngợi.
 6Ông đề tặng sách cho tôi bằng chữ Hán, viết lối chữ thảo, vốn ông cũng là nhà thư pháp có hạng. Tôi giắt lưng Hán tự chỉ dăm ba khối vuông, dòng đề tặng có bảy chữ, tôi đọc được năm chữ đầu “Phạm Xuân Nguyên tiên sinh” là đúng, đến hai chữ cuối thì đọc đại là “sở hữu” rồi suy luận ý người tặng muốn nói đây là cuốn sách thuộc quyền sở hữu của Phạm Xuân Nguyên, kiểu như ta tặng sách nhau thường đề “Bản của XYZ” vậy. Nhưng đọc thế rồi mà cứ băn khoăn. Về Hà Nội khoe bạn bè sách Cao Hành Kiện tặng mình, tôi mới được đọc đúng và hiểu đúng hai chữ cuối ấy, từ đó hiểu cả câu đề tặng. Hai chữ ấy là “huệ tồn”. Cả câu “Phạm Xuân Nguyên tiên sinh huệ tồn” nghĩa là anh giữ cho tôi cuốn sách này là làm ơn cho tôi, là cho tôi một ơn huệ. Đấy là một lễ phép khiêm nhường khi đề tặng sách. Tôi được giảng nghĩa như thế thì bất ngờ quá, sung sướng quá, trong lòng rất cám ơn Cao Hành Kiện đã cho tôi niềm vinh dự này.
Cao Hành Kiện ký tặng sách tại nhà riêng ở Paris
7. Tôi sẽ không sang Pháp dự hội thảo về Cao Hành Kiện và gặp ông trò chuyện được nếu thiếu sự giúp đỡ của ba người. Trước hết là Nguyễn Phương Ngọc, tiến sĩ xã hội học ở đại học Provence. Chính cô đã giới thiệu tôi với giáo sư Noel Dutrait, trưởng nhóm nghiên cứu “Văn học Trung Quốc và dịch thuật” và là người tổ chức hội thảo, mời tôi. Cũng chính cô đã dịch bản báo cáo của tôi “Cao Hành Kiện ở Việt Nam” ra tiếng Pháp và luyện đọc cho tôi để trình bày ở hội thảo. Tôi học ngoại ngữ là tự học, lấy việc đọc hiểu và dịch văn bản làm chính, chứ nói thì ngô nghê ngọng nghịu, chưa lần nào nói nổi dăm ba câu ngoại ngữ cho ra hồn. Vậy mà tại hội thảo này lần đầu tiên tôi đã đọc tiếng Pháp trước một cử tọa khoa học đến 15 phút (thế vẫn còn thừa 15 phút, vì mỗi báo cáo viên được đọc nửa giờ), nghĩ mình cũng liều khiếp vía. May mà đã có bản dịch sẵn phát cho từng người. Tôi cũng đã chuyển cho Cao Hành Kiện một bản dịch đó ngay hôm đầu tiên hội thảo. Hôm sau gặp lại ông cám ơn và nói thích. Đến phần thảo luận, Ngọc đã giúp tôi dịch các câu hỏi và trả lời. Ý kiến hỏi dồn về việc kiểm duyệt xuất bản ở Việt Nam vì điểm thứ nhất trong báo cáo của tôi là nói về sự tiếp nhận Cao Hành Kiện có khó khăn lúc đầu do sự tế nhị của quan hệ ngoại giao Việt – Trung trước việc Cao được giải Nobel văn học năm 2000. Có một câu hỏi: làm nhà văn ở Việt Nam là một sự nguy hiểm. Tôi đáp: theo tôi, làm một nhà văn trung thực, dũng cảm thì có lẽ ở đâu cũng nguy hiểm, nhưng trong hoàn cảnh như ở Việt Nam thì có phần nguy hiểm hơn. Tôi trả lời mấy câu hỏi liền qua lời dịch của Ngọc thì ông Noel Dutrait, chủ trì ngày hội thảo hôm đó, đề nghị cử tọa hỏi sang nội dung chính. Người thứ hai giúp tôi ở Aix-en-Provence trong những ngày hội thảo là Phạm Xuân Thạch, thạc sĩ, giảng viên khoa Văn học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, đang sang đây làm thực tập sinh. Thạch đã đi cùng tôi trong các sinh hoạt ngoài hội thảo, đã dịch cho tôi những cuộc trò chuyện với Cao bên hành lang, trong bữa ăn. Thạch đã mua ngay một cuốn La Montagne de l’Âme để xin Cao đề tặng, sau rồi Thạch bảo: ông ấy không đề chữ “tiên sinh” cho cháu, chỉ cho chú thôi. Và người thứ ba là Cao Việt Dũng đang học École Normale Supérieuse ở Paris đã cùng tôi đến nhà riêng Cao Hành Kiện dịch cả một cuộc trò chuyện dài. Nhờ Ngọc, Thạch, Dũng, tôi đã có một cuộc hội thảo bổ ích và một lần gặp gỡ Cao Hành Kiện trên đất Pháp, ở Aix-en-Provence trời xanh nắng vàng gió mistral thổi ào ạt và ở Paris tuyết trắng phủ đầy phố phường, thật ấn tượng và thú vị.
 Aix-en-Provence 1/2005. 7.
Paris 2-3/2005
Hà Nội 4/2005

Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Trong kiến trúc có nhiều trưởng giả học làm sang lắm”

Hồng Khanh(thực hiện) 


Nhiều kiểu trưởng giả học làm sang trong kiến trúc lắm đặc biệt ở phía Bắc. Sự học đòi chỉ làm tổn hại tiền bạc. Bản chất của kiến trúc đâu chỉ là tiền – Ông Nguyễn Tấn Vạn – Chủ tịch Hội KTS Việt Nam chia sẻ.

Nhân ngày Kiến trúc Việt Nam (27/4), ông Nguyễn Tấn Vạn – Chủ tịch Hội KTS Việt Nam đã có cuộc trò chuyện với PV Vland về những suy nghĩ của ông về sự phát triển của nền kiến trúc và thế hệ KTS hôm nay.

Kiến trúc xanh không phải là mốt

PV: Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu cũng ngày càng phát triển hơn. Không chỉ là ăn no, mặc ấm mà phải là ăn ngon mặc đẹp và đối với nhu cầu ở cũng vậy. Giờ đây nhu cầu ở không chỉ đơn thuần là một mái nhà. Ông có đánh giá như thế nào về nhu cầu và xu hướng phát triển của kiến trúc trong cuộc sống hiện đại ngày nay, thưa ông?

Ông Nguyễn Tấn Vạn:

Kiến trúc bao giờ cũng phải gắn liền với cuộc sống và gắn liền với thực trạng của xã hội và đất nước. Đất nước giàu có thì kiến trúc phát triển và ngược lại. Có chiến tranh thì kiến trúc không thể lên được. Kiến trúc là một sản phẩm có điều kiện để phát triển. Tất nhiên thời đại nào thì có kiến trúc thời đó.

Ngày nay nhiều gia đình đã có tích lũy và khi tích lũy thì như truyền thống dân tộc Việt Nam có ăn có mặc phải có ở. Thậm chí có một số vùng ăn chưa no, mặc chưa tốt nhưng phải lo chỗ ở tốt. Nhưng cũng có vùng họ không thực sự quan trọng về chỗ ở như ở Đồng bằng sông Cửu Long chẳng hạn. Điều đó là tùy vào thiên nhiên, khu vực, văn hóa vùng miền. Càng ngày kiến trúc càng cải thiện đặc biệt là lớp trẻ họ có nhu cầu thay đổi không gian, kiểu sống, nếp sống. Điều này đã tạo ra sự chuyển biến trong kiến trúc. Và đó là xu hướng phát triển tốt đáng ghi nhận.

Tuy nhiên xã hội càng phát triển thì người ta nghĩ đến môi trường chung. Không chỉ dừng lại ở không gian nội tại mà còn nghĩ đến việc giữ gìn không gian xung quanh bền vững. Hiện nay, chúng ta đang phải đối mặt với vấn đề biến đổi khí hậu. Riêng đối với ngành kiến trúc tiêu thụ khoảng 30% năng lượng. Từ đó người ta đặt ra vấn đề phải xoay kiến trúc sang một xu hướng là kiến trúc bền vững, thân thiện môi trường trong đó nổi bật là kiến trúc xanh.

Người ta bảo kiến trúc xanh là mốt thời đại. Nhưng thực ra đây không phải là mốt. Đó là nhu cầu của phát triển. Đi ngược lại nhu cầu này là chúng ta đang tự tiêu diệt chính mình. Đó cũng là lý do Hội KTS Việt Nam khuyến khích mọi người đi về với kiến trúc xanh. Bởi nó không chỉ đảm bảo cho cuộc sống hiện tại mà còn là tích lũy cho tương lai.

PV: Có một thực tế là nhiều người nhận thức rõ về kiến trúc xanh trong đời sống nhưng họ lại cho rằng kiến trúc xanh chỉ là dành cho giới thượng lưu lắm tiền nhiều của mới có thể “chơi” được kiến trúc xanh. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Ông Nguyễn Tấn Vạn:

Khí hậu biến đổi nhanh chóng khiến con người nghĩ đến việc phải gắn nhiều vấn đề với việc phát triển xanh như du lịch xanh, kiến trúc xanh…

Người ta cho rằng kiến trúc xanh là mốt của người thượng lưu dành cho người giàu lắm tiền nhiều của mới làm được. Nhưng đâu phải như vậy.

Tôi nhớ ngày xưa cách đây khoảng 30 năm Việt Nam đạt được một giải thưởng quốc tế là ngôi nhà ở nông thôn với một lý thuyết là cân bằng sinh thái. Ngôi nhà nông thôn là tiêu biểu cho việc tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng hợp lý. Đơn giản chỉ là trồng giàn mướp lấy mướp ăn, xử lý hệ thống biogas… Đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói một câu mà tôi nhớ mãi: Đây chính là con đường kiến trúc mà chúng ta phải theo. Chỉ có điều chúng ta đã không đưa nó thành được một phong trào, xu hướng.

“Trong kiến trúc nhiều trưởng giả học làm sang lắm”

PV: Nhận thức được con đường đi của kiến trúc mà chúng ta phải theo đuổi ngay từ những năm 70 nhưng lại không đưa thành được phong trào, xu hướng để đến bây giờ kiến trúc vẫn phải loay hoay trong phát triển kiến trúc xanh. Điều gì đã cản trở việc đẩy mạnh kiến trúc xanh cách đây 30 năm không thể thành một xu hướng mạnh, thưa ông?

Ông Nguyễn Tấn Vạn:

Cuộc sống càng phát triển càng đặt ra bài toán rằng chúng ta đã mất mát nhiều quá. Cản trở lớn nhất ở đây là nhận thức. Bản chất không phải là tiền. Có người rất nhiều tiền nhưng không biết làm sẽ làm tổn hại đến kiến trúc, môi trường. Con người phải có nhận thức đúng thì mới có thể làm đúng. Phải vận động từ những người quản lý, những nhà đầu tư sau đó mới đến người xây dựng, kiến trúc sư.

Khó khăn lớn nhất là vận động được mọi người, chủ đầu tư nghe theo tư tưởng này rất chậm. Người ta đang chạy theo chủ nghĩa hình thức nhiều. Kiến trúc là cái đẹp nhưng cái đẹp không chỉ là hình thức mà còn là ở bản chất. Người ta đang chạy theo xu hướng kiến trúc hoành tráng, gờ chỉ, hoa lá… mà không nhìn thấy việc đáng phải làm. Nhiều kiểu trưởng giả học làm sang trong kiến trúc rất nặng nề đặc biệt ở phía Bắc. Sự học đòi chỉ làm tổn hại tiền bạc, không thích hợp với khí hậu miền Bắc nóng ẩm.

PV: Vậy Hội KTS Việt Nam cũng như bản thân mỗi KTS hiện nay đang làm gì để gây dựng tư tưởng kiến trúc xanh thành một xu hướng bởi hơn hết kiến trúc không chỉ cho hôm nay mà còn là cuộc sống mai sau?

Ông Nguyễn Tấn Vạn:

Vấn đề là phải tuyên truyền vận động. Phải có thái độ phê phán thẳng thắn. Khen cái hay thì được nhưng chê cũng không được ngại bất cứ ai.

Thứ hai là phải đào tạo đội ngũ kiến trúc sư. Chúng tôi đã có giải thưởng riêng cho sinh viên để thúc đẩy sự sáng tạo của họ. Chúng ta nói nhiều nhưng vẫn còn nặng về hành chính. Chúng tôi vẫn có những trang đen cho những công trình phản kiến trúc đấy thôi.

Bảo chúng ta nghèo nên làm kiến trúc không đẹp. Điều đó đâu có phải. Năng lực chúng ta có thể tự vận động nhưng chúng ta đang rất lạc hậu trong nghệ thuật kiến trúc. Có người qua bên Pháp nhìn nhà đẹp thế nhưng bên Pháp đẹp thì cứ để nó đẹp như vậy ở Pháp. Nếu anh bê nguyên kiến trúc đó về thì chỉ là sự lạc hậu. Thế giới đua nhau sáng tạo những điều mới hợp với xu hướng xã hội hiện đại thì tại sao ta lại rập khuôn, bắt chước như vậy?

Tôi phải nhắc lại rằng: kiến trúc hôm nay không chỉ đảm bảo cho cuộc sống hiện tại mà còn là tích lũy cho tương lai cho con cháu chúng ta. Đừng làm để rồi cháu con chúng ta phải gánh chịu hậu quả.

Xin cảm ơn ông!

Phần nhận xét hiển thị trên trang