Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 28 tháng 4, 2014

Nhà thơ hay người máy? (Lê Vĩnh Tài )

Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa
Bỏ người yêu bỏ bóng ma
Bỏ hình hài của tiên nga trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con.
(Bùi Giáng)

Tôi nhìn mình trong gương, đôi mắt đã nói dối tôi, rằng nhà thơ chỉ là một gã hơi say và hay lên cơn mộng mị. Nhưng cũng đôi mắt, hình như đã nói sự thật. Nó cho tôi biết cánh tay màu hồng nhạt của tôi đã được thay thế bằng cánh tay của ai đó, màu xám, lắp vào cơ thể tôi bằng những con bu-lông thép. Máy bơm ô-xy và hệ thống lọc máu cho phép tôi tiếp tục thở và bài tiết. Ngay cả khi chính tôi chạm vào thân thể mình, giờ đây đã hoá kim loại, tôi vẫn không cảm thấy gì. Không có gì. Kim loại lạnh ngắt như xác chết làm tôi hơi sợ. Tôi ghét sự mất mát và nỗi buồn. Dây điện thay thế mạch máu của tôi, nó chỉ xanh đỏ loè loẹt nhưng không có nhịp đập cho tôi biết tôi đang sống.
Tôi đã chết?
Hoặc chỉ là một phần con người của tôi đã biến mất, thay thế bằng một cỗ máy nào đó, nhưng biết làm thơ?
Tôi nắm chặt các ngón tay lại với nhau để tạo thành một bàn tay sắt, cảm thấy tiếng rin rít của kim loại chạm vào nhau trong lòng bàn tay. Tôi làm sao còn có thể nghe hay chạm vào sự mềm mại của mưa khi nó liếm vào ô kính cửa sổ? Có vẻ như tôi đang ở trong tù, không còn thấy được thế giới bên ngoài. Đây là những gì? Tôi sẽ như thế nào? Linh hồn của tôi bị khoá trong một nhà tù lùng nhùng dây nhợ, rối tung lên trong chương trình mã hoá, với một mạng lưới các sợi kim loại và những ống thép.
Họ đã làm cho tôi chết, phải không?
Sự tức giận sôi sục trong tôi như chảo dầu nóng. Tôi đập vỡ gương soi mặt trong phòng tắm. “Bạn chỉ là bước tiếp theo trong quá trình tiến hoá của chúng tôi, như loài vượn ngày xưa giờ biến thành vẹt.” Họ thì thầm trong tĩnh lặng. Rồi chính họ khen tôi: “Bạn đại diện cho tương lai của nhân loại.”
Tương lai nhân loại? Tôi bật cười. Nếu vậy thì tương lai nhân loại sẽ về đâu khi tôi không còn là một con người. Tôi là một con vẹt, một thử nghiệm. “A,” tôi hét lên. “Đây là một phép lạ khoa học?”
Phép lạ? Ừ, phải rồi.
Tôi nhìn lại mình, như tất cả các lần phê và tự phê, mấy trò kiểm điểm đầy ra trong cuộc đời tôi. Tôi thấy các dữ liệu của tôi đã được chương trình tự động “nâng cấp” mà không cần hỏi ý kiến tôi. Tôi in các dữ liệu của mình ra giấy, phòng khi chương trình bị virus. Nó đầy đủ các chi tiết như: xương của tôi cấu tạo như thế nào, tim đập ra sao, phổi sẽ thở bao nhiêu lần trong một phút, cả tỷ lệ chất xơ khi bài tiết. Và quan trọng nhất, thần kinh của tôi phải được cài đặt trong đầu tôi, chứ nếu nhầm chỗ kiểu như trái tim không để lên đầu mà đại tràng chui lên đầu thì tôi hoá thành loài tôm giật lùi, phọt cứt lung tung không còn làm công hay vẹt nữa thì chết. Tôi còn đọc kỹ việc sửa đổi các cơ bắp của cơ thể, phòng khi cần có đủ sức tranh ăn hay đánh nhau.
Tôi có thực sự còn gọi là một con người?
Nhưng sẽ như thế nào, khi mọi thứ vẫn lưu trữ trong đầu tôi. Những cảm xúc, kỷ niệm... được pha trộn, thay thế, lộn xộn với những thứ xanh xanh đỏ đỏ dây nhợ nhân tạo? Làm thế nào tôi biết chắc ký ức của tôi là của tôi?
“Đó là tấm gương soi cho bạn, đẫm máu và khá đắt tiền,” họ nói với tôi, ra vẻ đau khổ. Đẫm máu? Thông điệp “đẫm máu” này tôi nghe quen tai lắm rồi. Lời nói của tôi giờ đã thành một thứ âm thanh được lưu lại và phát tự động. Ví dụ như khi tức giận, khi vui sướng, khi rên rỉ... nó đã được chỉnh theo cường độ của dòng điện có ổn áp. Tôi thử gào lên, được. Tôi thử khóc, hình như vẫn còn, tôi vẫn có thể khóc được. Họ giải thích chương trình cho phép tôi kêu gào hay khóc, phòng khi tôi đói quá mà họ không để ý. Thế là tôi khóc ngon lành. Tôi hỏi họ: “Tại sao các anh lại phá vỡ tôi?” Họ cười: “Đó, bạn đã tự xác nhận, bạn là một người máy đội lốt nhà thơ, như mấy thứ luận văn chính trị đội lốt văn chương đang đầy ra trong thời buổi này.”
“Bạn có chết mất xác cũng không sao, nói gì đến chuyện phá vỡ hay bóp méo vo tròn. Chúng tôi còn tạo ra nhà ngoại cảm, nhà sư, nhà giáo... suốt ngày quay cuồng như múa rối chạy bằng pin, nói gì đến mấy thằng làm thơ vô tích sự như bạn.” Họ mỉm cười.
“Chàng đừng nghĩ đó là tai nạn. Em không thấy có gì thay đổi,” vợ tôi nói với tôi. “Chàng vẫn là con người. Dù chàng là ai, chàng cũng cần ngủ với em và phụ với em nuôi con.”
Tôi được nàng định nghĩa và được mọi người công nhận như tập hợp các bộ phận của cơ thể, như một bài giải phẫu mà sinh viên năm thứ nhất đã thuộc lòng. Nhưng có điều các em sinh viên không biết là tôi có thể được lắp pin và thay pin mới, tuỳ khi nào họ muốn. Sợ nhất là mỗi khi tôi đau đớn và khóc, họ tưởng tôi đói lại thay pin như kiểu người ta nhét bánh đúc cho vịt, làm cổ họng tôi hơi nghẹn ngào. Không sao, họ giải thích, bạn chỉ cần ít nước lã, đó là thứ rất rẻ nên luôn miễn phí.
Điều trớ trêu là cái trí tuệ nhân tạo của người máy lại giúp cho tôi làm thơ khá nhanh. Tôi viết về những quả đồi trọc thành cánh rừng thơ mộng, những dòng sông cạn kiệt thành thủy điện ấm nóng, những đứa bé đi mẫu giáo nhúng đầu vào thùng nước vẫn cười, những thạc sĩ văn chương thật ra là những tên phản động... Có khi tôi còn viết những bài thơ định nghĩa về một con người, tha hồ cao thượng dũng cảm trí tuệ nhân văn thông minh có râu rụng lông đầu trọc yêu nước đảo ơi đất ơi nước ơi anh ơi em ơi dân ơi... gì tôi cũng vẽ ra, đủ hết. Đến lúc này vợ tôi bắt đầu sợ. Nàng nghĩ miếng ăn có gì đâu mà tôi phát điên như vậy, cứ tự tạo rahuyền thoại sợ hãi hay tôn giáo cơm cháo làm gì, lỡ phạm phòng phạm huý gì thì chết đứng, lấy ai phụ nàng nuôi con. Tôi còn thích ví thơ của “bạn tôi” với mấy ông bà Nobel nhân loại vẫn đầy ra trong sách, tha hồ đọc vào thấy lạnh buốt hay sôi bỏng, nhức xương hay chỏng gọng chỏng mông còn quá hơn đứng đường. Vợ tôi khóc và nàng xin họ đo lại chỉ số IQ cho tôi. Nhưng họ cười, vì họ biết thừa sức mạnh của người máy họ tạo ra.
“Người máy,” vợ tôi khóc, “chàng là gã ăn mày thì có.”
Nhưng dĩ nhiên tôi từ chối tước vị đó. Nó không nằm trong danh hiệu thi đua khen thưởng hàng năm họ vẫn bình bầu và xét cho tôi. Bằng khen, giấy khen của tôi nhiều đến mức vợ tôi phải treo lên hành lang hay phòng tắm mới đủ chỗ.
Một lần tôi chở vợ tôi về nhà ngoại ăn giỗ. Tôi bị một gã tâm thần tông thẳng vào người. Tôi biết chắc gã là kẻ tâm thần, vì chẳng ai dại gì dính vào người máy như tôi. Nhưng vụ tai nạn làm tôi biết đau trở lại, thậm chí trong cơn đau đớn tôi cảm thấy hình như trí nhớ bị giảm. Cảm giác đau đốt cháy tôi như a-xít ăn mòn kim loại. Họ lập tức đi tìm tôi khi thấy mất tín hiệu. Nhưng lúc này cái thứ mà họ phải tìm kiếm lại là một con người. Không phải là một khối kim loại dây nhợ xanh đỏ mà là một cục thịt đã bị mất hai cánh tay, một chân và một nửa khuôn mặt. Tôi muốn chết. Nhưng vợ tôi nói tôi vẫn có thể sống. Đó là một phép lạ mà nàng nói có lẽ là do Tạo Hoá.
Nàng cười: “Chàng biết không, đôi khi Phật, Chúa bây giờ cũng chỉ là câu chuyện hài hước.”
Không còn là khối kim loại nên cơ thể tôi bắt đầu bốc mùi, tôi vào phòng tắm. Một nửa còn lại của cơ thể tôi là thịt da nên vẫn cảm thấy cái lạnh buốt khi vòi sen chảy xuống. Tôi thử nhổ nước miếng. Thành công. Tôi ói. Thành công. Tôi đái. Thành công. Nhìn xung quanh, tôi thấy vô số người đang ngồi trên vỉa hè ẩm ướt và bẩn thỉu. Có xác chuột chết. Mọi người đang nói về những cánh đồng bị thu hồi, nói về ly trà đá vỉa hè ở đây giá bằng 2 ký thóc ở quê. Người lạc quan thì nói sắp tới đây ăn cám cả lũ. Người bi quan thì nói cám cũng không đủ mà ăn. Có lẽ khi không còn nhận được sự hỗ trợ về âm thanh, tôi mới nghe thấy tiếng la, tiếng kêu... Tôi lắng nghe mọi người nói chuyện. Tôi nghe tiếng quát tháo của một ông nào đó khi ông muốn bẻ tay một người đang ngồi ngơ ngác ở vỉa hè. Không còn sự hỗ trợ về ánh sáng, tôi nhìn thấy ông đội cái mũ rất lạ, hình như đầu của ông có hai cái sừng, vui và lạ mắt. Một con chó, có lẽ đói, sủa vào giấc mơ. Có hai người và một con thỏ nhấp nhô trong căn nhà phía bên kia đường. Hình như họ hơi mệt và le lưỡi thở. Tôi nhìn, nghe tất cả. Tôi còn biết khi ông có sừng dắt người ta về, ông còn kêu người ta viết đơn xin tự tử nữa. Nhiều thứ tôi chưa bao giờ nghe nên tôi thấy rất hay.
“Tai nạn thật khủng khiếp, nhưng chàng còn sống,” vợ tôi nói. Nàng dừng lại, như thể nàng cần một hơi thở tự nhiên bằng phổi của chính nàng.
“Không tồn tại,” tôi kêu lên. “Tại sao họ cứ thích mọi thứ không tồn tại như vậy nhỉ?” Cả tiếng chó sủa và giấc mơ? Nhấp nhô và thở? Mưa hay vợ tôi khóc? Tôi không biết, nhưng tôi cảm thấy những giọt nước trôi trên thịt da tôi. Tôi thử búng ngón tay của mình. Nó kêu lên những tiếng lóc chóc. Những giọt nước mắt trượt xuống mỏng manh và nhẹ, ấm nóng lăn qua ngón tay tôi. Ngón tay tôi đang tách phần kim loại từ thịt da tôi, như bây giờ tôi mới biết cách tách đôi nàng.
Vợ tôi nói: “Họ thì có thể, nhưng em biết chàng sẽ không bao giờ kiếm ăn khốn nạn như vậy.”


Phần nhận xét hiển thị trên trang

tuyến tàu hỏa leo núi lần đầu tiên tại Việt Nam


(Dân trí) - Sáng 26/4, tuyến tàu hỏa leo núi lần đầu tiên tại Việt Nam đã được khai trương tại khu du lịch Bà Nà Hills. Đây là một loại hình vận chuyển hết sức ấn tượng với sức chứa 80 người/cabin, đạt vận tốc 5m/s, công suất vận hành 1.600 khách/h.

Tuyến tàu hỏa leo núi này sẽ giúp du khách dễ dàng di chuyển qua các thắng cảnh ở Bà Nà như chùa Linh Ứng, vườn hoa Le Jardin, khu biệt thự cổ trên tuyến đường qua các nhà ga được thiết kế sang trọng, hiện đại theo lối kiến trúc Châu Âu.
 
Những du khách đầu tiên đi tàu hỏa leo núi
Những du khách đầu tiên đi tàu hỏa leo núi
 
Khi du khách đến Bà Nà, hầu như ai cũng có thể tham quan phong cảnh thiên nhiên núi rừng trên “đường lên tiên cảnh” một cách dễ dàng nhất với tàu hỏa leo núi. Dù là người cao tuổi, trẻ em hay những người vì bất cứ lí do gì mà không thể đi bộ, leo núi nhưng với hệ thống tàu hỏa leo núi, du khách vẫn có thể được ngắm cảnh hay di chuyển qua các địa điểm một cách êm ái và thoải mái, không hề tốn sức và cực kì an toàn.
 
Tàu hỏa leo dốc núi nhưng chạy rất êm
Tàu hỏa leo dốc núi nhưng chạy rất êm
 
Tàu hỏa leo núi đã góp phần làm phong phú thêm bộ sưu tập các loại hình vận chuyển độc đáo phục vụ du khách tại Bà Nà. Ngoài những yếu tố trên Tàu hỏa leo núi còn dễ dàng chinh phục cả những du khách khó tính nhất bởi tàu hỏa leo núi có thể vận hành tốt trong bất kì điều kiện thời tiết nào. 
 
Tàu hỏa đi qua nhiều quả núi cao hai bên
Tàu hỏa đi qua nhiều quả núi cao hai bên
 
Nhân dịp khai trương, khu du lịch Bà Nà Hills dành ưu đãi đặc biệt cho quý khách với giá vé khứ hồi đi tàu hỏa leo núi là 50.000đồng/1 lượt khứ hồi. Với giá vé này, quý khách sẽ được thă\am quan cả khu vực Lễ hội hoa Bà Nà Hills độc đáo lần đầu tiên được tổ chức tại Le Jardin D’amour Bà Nà. Không gian hoa được thiết kế theo phong cách Châu Âu độc đáo với những khu vườn ngập tràn sắc hoa: Vườn Uyên Ương dành cho những cặp đôi lãng mạn, vườn địa đàng, vườn bí ẩn… 
Tàu hỏa đi qua nhiều thung lũng rất ấn tượng
Tàu hỏa đi qua nhiều thung lũng rất ấn tượng

Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng – ông Văn Hữu Chiến đánh giá cao những nỗ lực của Bà Nà Hills sau 5 năm đi vào hoạt động và liên tục đưa các sản phẩm mới, độc đáo vào khai thác nên thu hút lượng du khách ngày càng đông đảo. Đây cũng là một cách quảng bá du lịch Đà Nẵng trên trường quốc tế.
 
Công Bính
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhân đọc Chảy qua bóng tối – Đỗ Phấn – NXB Trẻ

Lê Minh Hà
index
Đỗ Phấn
 Xem nào: lão vào đời hơn mình chính xác là sáu năm. Nhiều nhặn gì. Trong khi mình nhuộm tóc hòng trẻ ra thì lão để râu hơi dài, hoàn toàn tự tin với tuổi. Tình thật, chòm râu ấy chỉ làm cho gương mặt lão qua ảnh có phần trẻ thơ vì cái vẻ tròn tròn phúng phính.
Nhưng túm lại mình không định tụng vẻ kháu lão của lão. Đằng nào thì cũng đã gặp bao giờ đâu. Mà có thể cả đời cũng chẳng bao giờ tìm gặp. Phải nói tới lão là vì chữ của lão buộc mình phải soi lại mình. Tôi ơi là tôi ơi.
Hiếm khi mình viết cụ thể về một cuốn sách nào vừa mới đọc hoặc viết về ai mà mình chưa tường tận từng trang. Muốn thấy nhau đường trường. Với cha này, hầu như mình chỉ mới đọc được những bài viết vặt. Lần đầu đọc tiểu thuyết. Choáng.
Vẫn biết dân vẽ mà nhảy qua viết thì làm khó cho dân viết lắm. Mình thích đọc dân vẽ chính ở cái chỗ bị làm khó này. Họ mà đã định tả cái gì thì thật là! Góc cạnh ra góc cạnh, có mềm có cứng, có dày có mỏng, ra cong ra thẳng, bất động và bất định. Mà đến cái đoạn mô tả màu sắc thì thầy chữ Tô Hoài tiếng vậy vẫn chưa đủ kiệm lời ra ý ngay như một tay họa sĩ đâu.
Thế nhưng tay họa sĩ này lại không thèm mô tả ấn tượng thị giác, không thèm khoe chiêu. Đời sống qua bàn tay lão (viết hay mổ máy?) được lắng lọc trong bóng tối của một người mù dở, mờ mịt mà kĩ càng. Đấy không phải là âm nhạc, nhưng đúng là nghệ thuật của thính giác, cảm cuộc đời này qua tai. Cơn mưa xóm liều nghèo mạt bên bờ sông Cái mỗi ngày một còm cõi không phải là màu mây nặng hay màn nước giăng trắng đất trắng trời mà là tiếng vỏ chai cọc cạch va vào mặt tườngtiếng những chiếc lốp xe cũ ngắc ngứ giữa hai bờ rãnh bị nước dồi vào sục soặc kêu như người chết sặc. Nếp đời nghèo mà bình yên, vẫn có chút gì sang cả của lão mù – đứa con rơi của phố hiện hình qua một dòng sông bồi hồi sóng mọn, qua việc dòng sông đột ngột biến mất trước sự trỗi dậy hung hãn của tiếng loa phường, giống cuộc cãi vã không bình thường của hai kẻ dở người, nói đi nói lại chỉ nhõn một câu mà lỗ tai bất lực chối từ. Sinh lực của đàn bà được cảm nhận không phải qua 1. dáng 2. da 3. nét mà qua mùi, qua vồng ngực, qua ẩn hiện của mấy rẻ xương sườn, và những tầng sâu óc ách nóng. Cái con người mù dở, đi phải dùng mũi dép dò đường ấy chuyển động chậm và đều trong thành phố, chỉ thế mà hiểu hết trong sự biết mà không biết của mình. Giăng lưới bắt chim mà lại biết phải thả chim. Biết cái luật bất thành văn có hiệu lực suốt mấy chục năm qua với dân thường: sống nhờ bị phạt, những người không bị phạt kém may hơn nhiều. Biết con chim trống chỉ hót hay khi đơn độc một mình, cũng như rất hiếm khi nam ca sĩ ngồi hát cho vợ nghe. Nhân vật ấy không cần đến khái niệm đẹp của những gì có thể nhìn thấy, chỉ tin cậy đôi tai và hai lỗ mũi, và mấy đầu ngón tay lần sờ, đến một ngày gọi thợ xây một ngôi nhà to chẳng giống ai, ít nhất cũng không giống một cái bánh ga tô bằng bê tôngloè loẹt diêm dúa, vì lão chẳng cần nhìn, mà chỉ cần có một chỗ cao cao ngóng về hướng dòng sông hòng mong thanh lọc những âm thanh mới của một thành phố đang phình tướng ra mà tìm lại nhịp thường yên bình và yêu thương.
 Mỗi một người viết xứng đáng là tác giả đều là tất cả các nhân vật của họ. Quen với nhân vật mù dở này, có cảm giác tất cả những gì lão lắng được đều là những cảnh những người được lọc qua con mắt của một kẻ ưa ngắm, biết ngắm, nhưng giờ đây chỉ muốn nhắm mắt tự gọi hồn về. Nhân vật lão mù tham dự hết mình vào thực tại, điềm đạm, hóm một cách không tự giác, từng lúc biết phát huy ưu thế mù lòa trước quan chức hay chốn công đường, rất đường hoàng đáng trọng với lối xóm, với những người dưới đáy, lại cũng biết mình mới là người làm ơn của những kẻ đang làm ơn cho mình, tỉ như những đứa trẻ đang trong kì thực tập làm người tốt đưa người tàn tật qua đường – những đứa trẻ không hiểu vì sao lại cần học trước bài học ngày mai ở lớp.
 Giả dụ tay họa sĩ này cứ kể thế thôi là đã đủ để người đọc lụy vì sự từng trải, tinh tế, hóm hỉnh, vì cái lòng nhân với người. Đọc, chẳng có gì giống, mà cứ từng lúc phải phơi lại kí ức văn học hiện thực phê phán một thời khứa vào trí nhớ, mà cụ thể là những trang văn viết về những phố nghèo, những ngõ ngách ngoại ô của những … vân vân… Ngẫm, để rồi thấy vẫn là cái tình người với người ở những con người thiếu hụt về thể chất, về tri thức và cả về nhân cách: một lão mù sống nhờ vào những tiếng chim, một lão thuyền chài nửa đời nửa đoạn ngật ngưỡng với đời trên cạn, ngậm ngùi tưởng đã là bờ, một cô ca ve gốc gác là sơn nữ giờ chai mặt với phố phường, mà vẫn biết thương người chung cảnh, hậu thuẫn cho họ tiến bước trong sự nghiệp ca ve một cách cực kì trong sáng. Nhưng ở các bậc tiền bối ta mới thấy một đời sống được kể lại trong chiều xuôi đổ của thời gian. Ở tác phẩm này của tay họa sĩ này, thời gian bị xóc, hất ra từng khúc một, không hoàn toàn theo tuyến tính. Ngộ nhất là thực tại kể như thật lại hóa ra là thực tại bịa của TÔI nhân vật. Tôi cứ viết thế, tôi cứ viết thế. TÔI xưng xưng tuyên bố, kèm theo một chữ nhưngNhưng lão… nhưng cô… lại bảo… Và sau đó, dường như thực tại thật mới thò ra. Cái kiểu TÔI bền bỉ cáo mình vi phạm quyền tồn tại thật của sự thực là cái MỚI mà các tác giả văn học hiện thực phê phán khúc dưới ngực trên bụng thế kỉ trước không thể tới được. Kĩ thuật này là bằng chứng của một ý thức triệt để khác về người kể chuyện, về không gian, thời gian, con người và nó là hệ quả của ý thức về một thực trạng mới – gốc của mọi quẫy đạp trong nghệ thuật nói chung, trong từng nghệ sĩ nói riêng.
 Cuốn tiểu thuyết có hai phần. Nghiền phần một, hết nhíu mày lại phải tủm tỉm một mình. Hay. Nhưng ngạc nhiên: đọc báo, thấy bảo cha họa sĩ viết cuốn này là người Hà Nội chăm phần chăm, ít nhất cũng theo nghĩa sinh ra lớn lên cùng với phố. Mà hình như lại còn phố cổ. Thế nhưng kề cà với những nhân vật của lão – những kẻ chẳng còn gì để mất kể cả cái xiềng, lại dễ tưởng lão cũng sống quanh quẩn trong cái xóm Bến nằm ven phố, và cái lão am tường là đời sống bụi bặm ở những xóm Liều với những kẻ cùng mạt, giữa một sông nước đất lá gió chim phập phồng trong veo.
Thế nhưng lão đúng là người của phố thật. Lâu lắm mới gặp một giọng văn Hà Nội vậy. Cái đất ấy kì diệu lắm. Nó làm cho người ta yêu. Nhưng có tình yêu của người quê khác về đây, vật vã ở đây, đạt nguyện ở đây. Lại có cái tình của kẻ sinh ra lớn lên giữa lòng phố, dù có dọc ngang nơi nọ nơi kia bao nhiêu chăng nữa vẫn chỉ họ cảm được ra hồn phố, mênh mang, lãng đãng, không thể nào gọi tên trong suốt bốn mùa.
Lão mù mà cực thính vốn là đứa con của phố bị thời buổi tống ra rìa. Nhưng kí ức về cách nấu ăn và ăn mà người mẹ phố phường kể lại là cái phân biệt lão với dân xóm liều từ tứ xứ tụ về có lẽ còn sâu sắc hơn cả chuyện lão khác người ở đôi mắt không thấy gì. Lão sống nhờ phố, thuộc phố, bám chặt vào phố theo nghĩa đen. Để rồi một ngày không khổ nữa vì bỗng dưng giàu xổi nhờ những trò ma bùn của đám quan chức vặt, có đất, có nhà, có tiền thì bỗng thấy mình cô độc, lạc lõng. Cũng như gần hết cư dân xóm Bến của lão. Chiến thành bại, nằm một đống. Hoạt tê liệt phải quay về với sông nước. Nhàn chưa bao giờ xinh đẹp nay không còn nhã nữa. Cái nét nhã mờ mờ do thật thà ấy vẫn lẩn khuất nơi cô ngay cả khi vô cùng tội nghiệp vì ngờ nghệch với cả những ham thú của mình lúc mới lớn biến mất khi xóm Bến tiêu. Thằng cu Nghĩa đáng thương và đáng yêu khi còn bé thành một người lớn bất nghĩa. Tiên cô tưởng chỉ biết lụy độc chữ tình này thành kẻ lọc lõi lụy tiền. Thuận, thời buổi nào cũng thuận cũng thảo thì đã khổ càng thêm khổ vì ngày ngày nghe người phát dại lên cơn chửi. Những cô bò lạc ngày xưa có cái phần đáng cảm thông nay hoàn toàn vô cảm, trơ trẽn và nanh nọc. Con gái phố phường nhà gia giáo sát cánh cùng những tay anh chị, trở thành một kiểu tẩu tẩu đời nay. Khắc chạm số phận của những con người ấy, TÔI đẩy bi kịch thời buổi tới đỉnh, khi cho nhân vậtcải chính, chống lại người kể chuyện là mình. Hiện thực hiện ra vì thế không bẹp, mà phân rõ thành hai cấp độ song song tồn tại, hiện thực thực nghiệt ngã hơn hiện thực hư cấu nhiều. (Cứ như là đi ngược quy luật khái quát mà các nhà lí luận hay chỉ bảo người viết phải…) Bi kịch thời buổi ấy hội hết trong nhân vật lão mù, đứa con không được nhòm nhỏ tới của thành phố, sống bên, sống cùng với đủ thứ tầm thường của một tập hợp những cá thể đàn ông đàn bà (đúng chữ của cha họa sĩ đấy, chưa hề thấy y thêm chữ người) mà bản thể dần tự triệt tiêu. Nhưng lão rất không bình thường, không bình thường trong cách nhất định không cam chịu làm người vô ích và vô nghĩa, tự kiếm cơm chẳng cần quái gì một hội một đoàn nào, cũng đi chơi gái đều đặn như ai, lại còn chơi khoẻ, biết hết những trò ma giáo của đám lại thời nay, tham gia vào đó chẳng chịu thiệt, cuối cùng và trên hết, ở lão có cái thần thái của người phố. Cái lịch lãm xa cách với mấy cô ca ve, cách mở lòng giúp nhau, cách cảm về thời buổi mình sống đâu hẳn là kiểu cách người mù. Người phố đấy. Vì đằng sau đó là một ý thức cá nhân sâu sắc không thể nảy sinh sau lũy tre làng, nơi người ta bắt buộc phải cộng sinh ngay trong cái lúc chỉ muốn hầm hè. Niệm ý của lão mù vừa nhẫn nhục, (làm sao khác được), vừa nhức nhối trước thực tại đang sống mà chỉ muốn li khai hoặc buộc phải li khai. Li khai với những tiếng động cơ giới át tiếng dòng sông bồi hồi sóng mọn, át tiếng chim cao thanh, li khai với cái mùi bụi bặm, với những con đường ngày xưa quen chân theo tai nhưng giờ sôi sục xe người, đầy những hố những rãnh. Con người đó không sống trong bóng tối mà là chảy qua nó. Hay là cả một thời đại đã chảy qua tâm hồn ông. Chiến tranh hoá ra với ông lại quá yên bình. Hoà bình giống như là loạn lạc. Ông thuộc về một thế hệ bị thời buổi cưỡng ép phải đành đoạn rời phố ra ở liều nơi bến bãi, để rồi lại bị tống cổ. Lần này gục. Hoàn toàn.
 Mình đọc. Mình đọc. Và nhớ câu cậu chàng Lê Anh Hoài từng bần thần tuyên bố:thời này vẫn rất cần văn học hiện thực phê phán. Mình hiểu là Hoài muốn nhấn mạnh sự cần thiết phải có tinh thần phê phán hiện thực của chữ nghĩa đời nay. Thì đây. Mình nghĩ đây là một văn học hiện thực phê phán F2. Thật. Khi tới cái đoạn lão mù bỏ nhà bỏ đất bỏ tất cả những ràng níu ra sông tự trầm, có cảm giác ông Chí Phèo về. Cũng vậy, con người khổ lụy ấy tự xoá dấu vết, nhận cái tên Sông, chẳng hàm nghĩa dài rộng mênh mang hùng tráng gì mà chỉ là nhắc một lần chết hụt, gợi tới nơi hoài thai một cuộc đời mới còn hơn cả buồn. Con người khuyết tật từng tự sống hết sức đàng hoàng nay chấp nhận cái đời ngồi vót tăm tre vô nghĩa lí mà xã hội vô cảm dành cho người mù như một thứ ân huệ – kiểu sống một thời ông đã cười khẩy quay lưng. Là gì nếu không phải là tự hủy. Ông Chí Phèo ơi, đời hậu bối của ông còn thảm hơn ông.
 Chảy qua bóng tối cùng ông lão mù là cả những người sáng, như TÔI, là cả một thành phố vẫn được tiếng là nơi tụ hội khí thiêng sông núi, giống nòi. Cuốn sách, do đó không chỉ là tiếng nói về tâm trạng xã hội. Mà, là tiên cảm về tương lai mờ mịt của quá trình đô thị hóa khiên cưỡng, nơi nông dân vội vã tự biến mình thành thị dân bằng tâm lí hơn thua làng xã và bằng thứ thị hiếu đáng sợ, muốn giống hệt nhau và muốn hơn nhau ở cái chỗ giống này, ví như xây một cái nhà, phải thò ra, phải chòi lên, phải loè loẹt diêm dúa hơn nhà thằng bên cạnh. Trong nghĩa đó, Hà Nội mở rộng không to ra, mà bé lại theo sự co mình của cả một lớp người với một lối sống rất riêng. Một lối sống không loanh quanh, chậm rãi, đầy suy lắng.
 Thời nào thì tác phẩm cũng chẳng nhiều bằng đầu sách. Đây là một tác phẩm. Là thứ văn chương hay từng chữ, không thể đọc như kiểu tiếp nhận thông tin. Ở trong đó vắng bặt cái nết lắm mồm loè đời của vô khối nhà văn. Cũng chẳng có kiểu tỉa tót. Nhưng nếu không thấm được cái lịch lãng đãng của nhiều thời, nếu không từng trải, hay thiếu cái cẩn trọng mà mọi loại hình nghệ thuật đều đòi hỏi cửu vạn của nó thì không ra được câu chữ này đâu. Cứ thử đọc ngẫu nhiên một dòng nào đó mà xem. Đây: nỗi mong ngóng người đi (cho khuất mắt) còn khắc khoải hơn cả nỗi ngóng người về. Ngoa ngoắt đến thế thì thôi. Nhưng cũng là trải đời lắm lắm. À quên, lại buộc phải nhớ rằng người viết là họa sĩ. Dân vẽ mà chuyển sang viết thì… Nói rồi đấy. Chỉ nội một chuyện dục tính thôi nhá. Các qúy vị viết trẻ hay già ưa đeo bám đề tài sex rất nên đọc cha này. Lão viết chuyện thịt da cực bạo, thẳng tưng, mà không thô thô bẩn bẩn, không tội nghiệp ta đây đang vì đủ các thứ quyền. Có những tiểu đoạn đẹp lạ lùng. Có lẽ, cuối cùng vẫn là chuyện vốn lịch lãm dư giả chảy qua chữ. Nhục cảm cuối cùng vừa là ham thú tồn sinh, vừa là cách thế để con người thấu cho nhau những nguồn cơn không nói khi chúng ta quay trở lại che giấu, như một phản xạ có điều kiện, cái phần con trong người mình. Thật chẳng dễ gì viết thế. Nên mình toàn lờ toẹt cái đề tài có vẻ đang thúc cái dục của vô khối nghệ sĩ này.
 Mình không nghĩ ngay lập tức tất cả sẽ thích đọc cha họa sĩ này. Nhưng đến một lúc, khi đã tích cóp được trước là kinh nghiệm ở đời, sau là ít nhiều khả năng thông cảm để mà trầm tĩnh lại – cái gốc để có riêng một kinh nghiệm nghệ thuật – thì khó cưỡng.
Biết vậy, mà lúc nào cũng phải thừa nhận hấp lực của một kẻ nào đó đối với mình, ức không chịu được.
Lão thầy vẽ ấy in vèo vèo gần chục cuốn rồi đấy. Mình biết dĩ nhiên mình sẽ tìm lão đọc nữa. Ức không chịu được. Và đã thế, thề, mình sẽ bỏ lão, không viết thêm gì nữa đâu.
 Bài đã đăng ở Diễn đàn Paris

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hàng đặc biệt khó bán của nhà văn:



KEM CHỐNG NHỤCMấy bữa trước, nghe tin thủ tướng Hàn Quốc từ chức, mình dự là các bác nhà mình sẽ rất nhột, bèn nhập mấy container loại kem này về bán. Mình tin các bác sẽ xếp hàng mua. Ai dè bán suốt mấy ngày nay, không được hũ nào, nhà mình sắp phá sản! Nhưng trước khi phá sản, phải điều tra nguyên nhân tại sao mình thất bại, bèn đem hũ này tới gõ cửa nhà một bác, xưa nay bị dân tình chửi rất dữ, tính biếu bác một hũ. Bác cười khà khà: Anh có biết nhục bao giờ đâu, mà cần thoa, chú mày phá sản là phải!
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bước ngoặt diễn ngôn và sự đổi thay hệ hình nghiên cứu văn học


54219194e5d062d14f69aa5d0e5841c8Mộng Long – Bản phác thảo về lí thuyết diễn ngôn của GS Trần Đình Sử: tất cả hiện thực, lịch sử đều được con người tri nhận như là sản phẩm của diễn ngôn; và xem văn học tồn tại như một diễn ngôn đã làm thay đổi nhận thức về văn học. Văn học là sản phẩm kiến tạo bởi con người nhưng nó cũng cầm tù con người bởi thứ văn hóa, ý thức hệ mà nó tạo ra. Những tư tưởng giải phóng bằng cách đi tìm cái khác đều có thể quy kết thành “chống phá”, “phản động”.
Mặc dù tri thức này đã quen thuộc đối với phương Tây gần một thế kỉ, nhưng vẫn còn rất xa lạ đối với đa số giới nghiên cứu, phê bình ở Việt Nam. 
Những kẻ mang đầu óc nô dịch có đọc đi đọc lại trăm lần cũng không hiểu nổi, cho nên sau khi đọc xong sẽ hét toáng lên: có dịch, có dịch và đòi kiểm dịch để quay về cố thủ với cái lô cốt trung tâm tự cho là tuyệt hảo.

———————————–

Bước ngoặt diễn ngôn và sự đổi thay hệ hình nghiên cứu văn học

 Trần Đình Sử
1. Bước ngoặt diễn ngôn và sự đổi thay quan niệm về bản thể luận
“Diễn ngôn” là thuật ngữ mới của lí luận phương Tây, có tính liên ngành, đa nghĩa, và đang đóng vai trò nổi bật hiện nay trong ngữ học và khoa học nhân văn.
Ở học thuật phương Tây diễn ngôn trước hết là khái niệm của ngữ học. Khoa ngữ học đã trải qua ba hệ hình: phát sinh học (lịch sử, tiến hóa), phân loại học (điều tra, kiểm kê hoặc cấu trúc hệ thống), chức năng-giao tiếp luận. Hệ hình thứ ba tạo ra “bước ngoặt ngữ học” (the Linguistic Turn) được manh nha từ nhiều nhà triết học, được đề xuất từ các năm 1964, 1967 bởi Bergman (Áo), Richard Rorty (Mĩ). Hệ hình ngữ học bao trùm triết học, khoa học nhân văn, kéo theo sự phát triển của chủ nghĩa cấu trúc, kí hiệu học, tự sự học, hậu cấu trúc, giải cấu trúc, làm thay đổi diện mạo các khoa học nhân văn hiện đại. Thực chất của bước ngoặt đó là phân biệt nghiên cứu các sự thực và nghiên cứu ngôn ngữ biểu đạt chúng, từ các sự thật chuyển vào nghiên cứu cấu trúc, ý nghĩa của ngôn ngữ, qua đó tư duy lại về cách hiểu của con người với tư cách chủ thể, và nhận thức lại cách nhận thức chân lí, khắc phục các ý thức siêu hình. Trong cuộc chuyển hướng này ngôn ngữ đã được bản thể hóa, là phương thức tồn tại của con người, không còn giản đơn là phương tiện biểu đạt nữa. Với Husserl ngôn ngữ là nền tảng của tính liên chủ thể của thế giới sống. Với Heidegger ngôn ngữ là ngôi nhà của tồn tại, con người là một tồn tại mang tính ngôn ngữ. Với Gadamer sự dung hợp tầm nhìn nảy sinh trong sự hiểu là thành tựu của ngôn ngữ. Với Foucault diễn ngôn cùng với các tập quán và thực tiễn xã hội đã tạo ra các sản phẩm như tính dục, điên…dẫn đến quan niệm hiện thực, lịch sử như là sản phẩm của diễn ngôn, chứ không phải ngược lại, hiện thực là nguyên nhân của diễn ngôn. Dĩ nhiên Foucault không phủ nhận thực tại khách quan, nhưng thực tại ấy chỉ sau khi được tái tạo thành diễn ngôn mới trở thành ý thức con người, đến lượt mình, con người lại hành xử với thế giới như nội dung diễn ngôn, mà không như thực tại vốn có. Do vậy, phát hiện của ông mở ra một không gian mới cho nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học nhân văn. Đến “bước ngoặt diễn ngôn” (discursive turn) được đề xuất bởi các nhà ngữ học Harré, Flick năm 1995[1], diễn ngôn đang trở thành cơ sở phương pháp luận của các khoa học nhân văn. Trước đây từ nguyên lí phản ánh luận người ta chỉ thấy quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội theo quan hệ nhân quả, mà chưa thấy vai trò trung giới của kí hiệu, ngôn ngữ, diễn ngôn. Lí luận Mác xít nhấn mạnh đến thực tiễn kinh tế xã hội, đấu tranh giai cấp, nhưng chưa tính đến thực tiễn văn hóa, giao tiếp. Diễn ngôn giống với các con số. Con số không tồn tại trong thực tại, nhưng do con người tạo ra và xây dựng nên cả một thế giới toán học phản ánh các quy luật của thế giới mà ta có thể nhận ra bằng các chữ số, chỉ số.[2] Từ ngữ và cú pháp cũng không tồn tại sẵn trong thực tại, nó do con người tạo ra, nhưng từ hoạt động giao tiếp diễn ngôn đã tạo ra một không gian riêng cho tư duy con người.
Kết quả của bước ngoặt diễn ngôn là ngôn ngữ, diễn ngôn trở thành nhân vật chính của hoạt động xã hội, nhân văn và khoa học nhân văn, là nơi phát sinh các tư tưởng, là giới hạn của đời sống tinh thần mà con người không thể vượt qua: không có một tư tưởng nào về thế giới có thể lửng lơ bên ngoài ngôn ngữ. Nếu trước đây người ta hiểu khoa học xã hội là khoa học về xã hội và tâm lí, thì nay đó là các khoa học lấy diễn ngôn làm đối tượng và diễn ngôn học làm nền tảng phương pháp luận[3]. Nhà ngữ học Nga Macarov đã xác lập cơ sở bản thể luận mới trên cơ sở diễn ngôn như sau.
Bảng so sánh hai bản thể luận:
Bản thể luậnGiới hạn hóaBản chấtCác quan hệ
     Cơ học (Newton)Không gian và thời gianVật thể và sự kiệnQuyết định luận nhân quả
 Diễn ngônCác thông báo của con người, các thế giới xã hộiCác hành vi lời nói, diễn ngônSự phụ thuộc xác suất,các quy tắc và chuân mực đối thoại

Theo sơ đồ này những gì trước đây hình dung là khách thể vật thể thì nay được xem như các thông báo, các hành vi nói và các quy tắc nói năng tạo nên. Diễn ngôn trở thành không gian con người, không gian xã hội, tâm lí, tức là trường giao tiếp xã hội (Harré). Sơ đồ trên cho thấy, bản thể luận Newton chưa tính dến vai trò của diễn ngôn, trong khi nó chỉ là sản phẩm của một loại diễn ngôn. Không gian, thời gian, sự kiện, vật thể đều do các thông báo, mô tả, quyết định luận nhân quả cũng là một loại quy tắc diễn ngôn. Thế giới khách quan vẫn tồn tại ngoài con người, là đối tượng của nhận thức, nhưng chúng chỉ được biết đến thông qua diễn ngôn.
Từ đó có thể nhận thức diễn ngôn trong mấy bình diện sau đây.
Một là, nếu trước đây theo quan điểm của Saussure[4], ngôn ngữ được nghiên cứu “trong bản thân nó, vì chính nó”, người ta chỉ nghiên cứu câu, từ ngữ, thì trong thực tiễn giao tiếp người ta phải sử dụng các đoạn lời, văn bản lớn hơn câu, do đó ngôn ngữ đã trở thành diễn ngôn. Diễn ngôn không chỉ phụ thuộc vào các quy tắc của ngôn ngữ, mà còn phụ thuộc các quy tắc, chuẩn mực, cấm đoán ngoài ngôn ngữ. Các quy tắc ngoài ngôn ngữ do các nhân tố ý thức hệ, tri thức và quyền lực quy định. Do vậy diễn ngôn là một hiện tượng văn hóa, xã hội, ý thức hệ. Điều này thống nhất với quan niệm mác xít về tính giai cấp, tính thượng tầng kiến trúc của mọi hình thái ý thức.
Thứ hai, diễn ngôn theo cách hiểu trên không còn chỉ là phương tiện biểu đạt, giao tiếp, mà còn là phương thức tồn tại của con người. Con người tồn tại trong diễn ngôn, tư duy về bản thân và thế giới qua diễn ngôn, liên kết quan hệ với nhau bằng diễn ngôn, hoạt động theo chỉ dẫn của diễn ngôn. Diễn ngôn tạo ra thế giới hiện thực, tạo ra nhân loại, dân tộc tạo ra cái tôi và các quan hệ nhân sinh của con người. Diễn ngôn là thế giới của các thường thức mà con người cần để tồn tại. Nó là phương thức đào tạo, tập nhiễm, hun đúc con người và đồng thời cũng là ngục tù giam hãm con người. Với ý nghĩa đó diễn ngôn là phương diện của bản thể luận. Diễn ngôn hàng ngày của mọi người, trên các phương tiện thông tin đại chúng là diễn ngôn hợp pháp, hợp thức. Nói khác đi bị coi là thiếu giáo dục, hoặc không bình thường.
Thứ ba, do đó mọi sáng tạo ngôn từ đều là sáng tạo diễn ngôn: diễn ngôn chính trị, diễn ngôn triết học, diễn ngôn khoa học, diễn ngôn lịch sử, diễn ngôn đạo đức, diễn ngôn kinh tế, diễn ngôn quân sự, diễn ngôn y học, diễn ngôn văn học, diễn ngôn phê bình…Chúng hợp thành một phổ hệ diễn ngôn đa dạng, liên kết nhau của nhân loại, trong đó mối loại hình diễn ngôn có quy tắc, chuẩn mực riêng, thực hiện các chức năng riêng.
Thứ tư, với ý nghĩa đó, nghiên cứu diễn ngôn không còn đơn giản là khám phá một công cụ giao tiếp mà đã là đối tượng của khoa học xã hội và nhân văn, của nghiên cứu văn hóa. Diễn ngôn là một thực tại đã biết. Nghiên cứu diễn ngôn là nghiên cứu các cơ chế xã hội, tâm lí, quyền lực, ý thức hệ, lịch sử, văn hóa chìm ẩn đằng sau diễn ngôn.
Thứ năm, Nghiên cứu diễn ngôn bắt buộc phải xuyên qua văn bản, vì diễn ngôn thể hiện trong văn bản, văn bản là điều kiện tồn tại của diễn ngôn, nhưng không đồng nhất với nghiên cứu văn bản, bởi vì mục đích nghiên cứu diễn ngôn là phát hiện cái xã hội, hệ thống tri thức, hệ thống quyền lực như là siêu ngôn ngữ của diễn ngôn. Diễn ngôn là yếu tố siêu văn bản. Nghiên cứu diễn ngôn cũng không phải là nghiên cứu chủ đề, đề tài bởi đó là đối tượng của diễn ngôn. Nghiên cứu diễn ngôn cũng không phải chỉ đi tìm tác giả, chủ đích tác giả theo quan niệm truyền thống, bởi vì diễn ngôn là sản phẩm của liên chủ thể.
Ý nghĩa của bước ngoặt diễn ngôn này trước hết là ở chỗ, nó vượt qua sự đối lập nhị nguyên chủ thể và khách thể của tri thức luận.
2. Khái niệm diễn ngôn văn học hay văn học như một diễn ngôn
Bản chất văn học là diễn ngôn về dời sống. Là một loại diễn ngôn, văn học mang tính chất chung của diễn ngôn nói chung, nhưng có nét đặc thù. Cái chung đó là diễn ngôn văn học mang tính ý thức hệ; là phương thức tồn tồn tại của con người, kiến tạo nên bản thân hiện thực; có quy tắc, cơ chế, chức năng riêng; nghiên cứu diễn ngôn văn học là nghiên cứu con người, xã hội, văn hóa. Vói tính chất của diễn ngôn ta có thể khẳng định rằng nghệ thuật nào cũng mang tính ý thức hệ, cái gọi là “nghệ thuật thuần túy” hay “nghệ thuật vị nghệ thuật” chỉ là những diễn ngôn, là câu chuyện không có thật. Tính đặc thù của diễn ngôn văn học là một vấn đề phức tạp. Đã có nhiều công trình lí luận văn học khẳng dịnh đặc trưng của diễn ngôn văn học, như “tính văn học”, “tính hư cấu”, các biện pháp tu từ”, “hình tượng”, nhưng theo các ông J. Culler, Tz. Todorov, T. Eagleton, A. Campagnon[5] thì đặc trưng ấy rất mong manh, bởi vì người ta tìm thấy tính văn học trong các văn bản phi văn học, tìm thấy hình tượng phụ nữ trong các hồ sơ bệnh án tâm thần của S. Freud, tìm thấy hư cấu trong lịch sử, thi ca. Thêm nữa, khái niệm “văn học” ở chấu Âu (litterature người Nhật dịch là văn học, Trung Quốc và Việt Nam dùng theo khoảng hơn một trăm năm nay[6]) mới có trong khoảng hai trăm năm trở lại, trong khi văn học đã có hàng nghìn năm, mà trong thời cổ đại và trung đại giữa văn học nghệ thuật với các văn học khác chưa có sự phân biệt rạch ròi. Vì thế, đặc trưng diễn ngôn văn học xét từ nội hàm dến ngoại diên chỉ là câu chuyện tương đối. Văn học la tập hợp những tác phẩm được coi là văn học. Theo J.Culler thì nên hiểu tác phẩm văn hoc như là một diễn ngôn, có đặc điểm là nếu thoát li ngữ cảnh thì tự nó sẽ trở thành ngữ cảnh, và tuy không có đặc trưng, nhưng nó có các thuộc tính có giá trị phân biệt trên nét lớn. Ông nêu ra năm thuộc tính như :1. Ngôn ngữ nổi bật do sử dụng các thủ pháp lạ hóa, các phép tu từ; 2. Ngôn ngữ sử dụng tổng hợp mọi thuộc tính, mọi quan hệ từ ngữ âm đến chữ viết để tạo nên hiệu quả; 3. Văn học là hư cấu. 4. Văn học là đối tượng thẩm mĩ; 5. Văn học là một kiến tạo văn bản tự nó khúc xạ, tự nó tạo nghĩa. Các thuộc tính nói trên đã được nghiên cứu rất nhiều từ nhiều góc độ. Ví dụ tính nổi bật đã được các trường phái hình thức Nga, trường phái phê bình mới Anh, Mĩ, trường phái ngữ học Praha nghiên cứu kĩ lưỡng. Thuộc tính thẩm mĩ cũng như tính hư cấu, thuộc tính tự sinh nghĩa đã được nghiên cứu từ nhiều phương diện. Tuy nhiên các nghiên cứu trên vẫn thiên về tiếp cận tĩnh tại, chưa tính đến tính hoạt động thực tiễn lịch sử của diễn ngôn.
Từ câu chuyện đặc thù diễn ngôn văn học chúng ta hiểu thêm, lí luận văn học, phê bình văn học cũng đều là các diễn ngôn về văn học. Nó cũng do tri thức, ý thức hệ và quyền lực quy định. Tính lịch sử là nội dung khoa học của chúng.
Khái niệm thực tiễn diễn ngôn có thể được hiểu từ khái niệm tu từ học cổ đại của Aristote. Thông thường người ta hiểu tu từ là cách nói cho hay, cho đẹp, có người gọi là “mĩ từ pháp”, như một thứ phụ gia, nhưng hiểu thể là không đúng, thực chất tu từ khác hẳn. Câu đầu tiên trong Tu từ học của Aristote là “Tu từ học là vật đối ứng của thuật biện luận (dialectic)”, nó dạy cho con người biết thuyết phục người khác trong mọi trường hợp, như trách cứ, lên án kẻ khác, biện hộ cho mình, đề cao lẽ phải, chân lí. Chân lí đây không phải là sự thật mà là tính chất thuyết phục, hợp lí của ý kiến, có khả năng mang đến lợi ích hay thiệt hại cho quốc gia, thành bang, hay từng cá nhân. Như vậy có một lẽ phải, chân lí tồn tại trong các diễn ngôn. Aristote nói: Các sự vật chân thực và chính nghĩa vốn phải thắng các sự vật tà ác, giả dối, nếu do biện luận bất lực mà bị thua thì các vị cao minh có thể dùng tu từ học để khẳng định chính nghĩa. Ông phân loại các diễn thuyết, phân tích các biện pháp chứng minh (bằng các sự thật có sẵn, bằng niềm tin, bằng tình cảm, bằng logic), ông nói đến tâm lí, tính cách người nghe, nói đến kĩ xảo biện luận và vận dụng từ ngữ. Ở đây nổi lên vấn đề chiến lược chiến thuật thuyết phục cùng các biện pháp đánh vào lòng người để giành phần thắng. Khái niệm thực tiễn diễn ngôn của Foucault “discursive practice” cũng có nghĩa là thực tiến suy luận, diễn giải, cũng có nghĩa là các sự kiện nói trong thực tế. “Sự kiện đời sống của diễn ngôn, tức là bản chất đích thực của nó, bao giờ cũng phát triển trên đường biên của hai ý thức, hai chủ thể.”[7] Nhưng không phải diễn ngôn của tác giả như tu từ học cổ điển mà là diễn ngôn của liên chủ thể tạo thành niềm tin xã hội. Chính các loại trực giác, suy luận tạo cho ta quan niệm về thế giới và sự thật, mà đó là thực chất của tu từ học. Ta có thể nói, thực tiễn diễn ngôn là thực tiễn tu từ học. Tz. Todorov trong bài Kí hiệu học văn học xác nhận đặc trưng văn học là tu từ học, tức là những điều mà nhà ngữ học không nghiên cứu[8].
Tu từ học hay diễn ngôn văn học khác với tu từ học diễn thuyết của Aristote ở chỗ nó thuyết phục người đọc tin vào cái thế giới sáng tạo hư cấu của nhà văn. Thế giới nghệ thuật tự nó là một sự thật diễn ngôn, không phụ thuộc vào sự thật bên ngoài diễn ngôn. Từ tin đến yêu, cảm, thể nghiệm. Có khi không tin mà vẫn chấp nhận, đón nhận một cách thích thú. Diễn thuyết có sự hiện diện của tác giả và người nghe, trong diễn ngôn (văn bản) văn học hai yếu tố đó văng mặt trực tiếp. Theo phân tich của nhà ngữ văn Nga B. O. Korman, trong mối phát ngôn thực tế đều hiện diện ba yếu tố: tác giả lời nói, chủ thể lời nói, ý thức lời nói, thì trong văn học yếu tố tác giả vắng mặt, chỉ hiện diện hệ thống chủ thể (người kể chuyện, nhân vật trữ tình, nhân vật hành động) và các ý thức xã hội[9]. Tác giả “im lặng” (Macherey), chỉ hiện diện gián tiếp qua tác giả hàm ẩn, mặt nạ hay hình tượng tác giả.[10] So với quan niệm của Foucault diễn ngôn ứng với thế giới đã biết, nhưng diễn ngôn văn học là sự đột phá của vô thức xã hội tạo thành diễn ngôn mới. Cái gọi là độc đáo trong văn học chính là vượt qua một giới hạn, tạo thành sự kiện tinh thần. Culler kháy lại với Eagleton, người chỉ khẳng định bản chất ý thức hệ của văn học, rằng trong văn học có những yếu tố bất kham làm thay đổi, lật đổ ý thức hệ xã hội. Tất nhiên, đó là một ý thức hệ khác lật đổ ý thức hệ cũ. Nó đối thoại một cách âm thầm, dai dẳng và đến khi nào đó ý thức cũ sẽ biến đổi. Có thể nói bên cạnh các văn học minh họa ý thức hệ xã hội, có diễn ngôn văn học thường xuyên đối thoại với diễn ngôn xã hội.
3. Những vấn đề mới của nghiên cứu văn học
3.1. Từ tính chân thật nhận thức chuyển sang tính chân thực diễn ngôn
Trước ta thường nói văn học phản ánh cái hiện thực ở bên ngoài nó. Hiện thực trong văn học chỉ là cái được biểu đạt, không phải đối tượng của phản ánh. Với lí thuyết diễn ngôn ta hiểu thêm, diễn ngôn văn học kiến tạo hiện thực. Văn học là diễn ngôn về hiện thực, thể hiện quan niệm về hiện thực. Do đó tính chân thực của văn học theo cái nghĩa phù hợp với thực tế bên ngoài cũng chỉ là một thứ diễn ngôn, một huyền thoại, không tự chứng minh được. Tính chân thực đây là tính chân thực của tu từ, nghĩa là tính hợp lí, hợp pháp, hợp tình hợp cảnh, hợp logichs có khả năng thuyết phục tức khác người tiếp nhận. Trong văn học dĩ nhiên dù dưới hình thức nào cũng có hình bóng của các hiện tượng hiện thực và nhà văn tạo dựng hình bóng đó để làm nên tính thuyết phục, và để bày tỏ thái độ đối với hiện thực đó. Các hiện tượng làm liên tưởng đến hiện thực ấy chỉ là một phần của tính chân thực của văn học. Vì sao vây? Đó là cái hiện thực ngoài con nguời xuất hiện với tư cách là một văn bản, mà mọi biểu hiện của nó đã trở thành hệ thống kí hiệu đối với mỗi nền văn hóa. Văn hoc phản ánh hiện thực tức là phản ánh bằng ngôn ngữ của hiện thực. Cái tính chân thực mà ta nói chỉ là tính chân thực của ngôn ngữ hiện thực. Còn nội dung phản ánh là ý nghĩa của hiện thực mà con người lĩnh hội được. Sai lầm trước đây là đập nhập ngôn ngữ của hiện thức với bản thân hiện thực, coi ngôn ngữ hiện thực (kí hiệu hiện thực, hiện thực kí hiệu hóa trong không gian văn hóa) là đối tượng phản ánh. Đó là dung tục. Tính chân thực còn có thể xét ở phương điện chủ thể, nói thật hay nói dối, tình cảm trong thơ văn thật hay giả. J. Culler còn xét tính chân thực ở phía người đọc. Sự trần thuật miêu tả phù hợp, có sức thuyết phục với cảm nhận của người đọc được xem là chân thực. Trong sách Thi pháp học cấu trúc ông nghiên cứu tu từ tiểu thuyết, phân biệt năm bình diện của tính chân thực.
a. Tính chân thật của chất liệu. Nếu văn bản sử dụng các sự thật, quan điểm mà ai cũng biết thì người đọc sẽ tin là thực. Đó là diễn ngôn không cần chứng minh. Ai cũng biết con người có thân thể, biết suy nghĩ, có tình cảm , biết yêu, ghét, vui đùa, chim biết bay, cá biết lội…Các chuyện đó không gây hoài nghi. Sự thật lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử chỉ là tính chân thạt của chất liệu, không phải nội dung của tiểu thuyểt.
b. Tính chân thực về văn hóa. Sử dụng các chất liệu về phong tục, tập quán, tôn giáo, lễ hội, ca hát…cũng tạo nên tính chân thực.
c. Tính chân thực của thể loại. Mỗi thể loại văn học có kiểu chân thực của nó. Tính chân hật của sử thi khác tính chân thật của tiểu thuyết hiệp sĩ, tính chân thật của tiểu thuyết lãng mạn khác với tiểu thuyết hiện thực và chủ nghĩa hiện đại.
d. Tính chân thực của sự kiện. Đây là bổ sung của bình diện ba, khi nhà văn dùng nhật kí, hình thức thư tín, dùng ngôi thứ nhất để kể chuyện…cốt để che tính hư cấu.
e. Tính chân thực của sự bóp méo, mỉa mai. Thủ pháp này cốt xé bỏ bộ mặt trịnh trọng, nghiêm trang, càng khiến cho người đọc cảm thấy chân thực.
Quan niệm của Culler chính là điều mà tôi vừa nói ở trên. Tính chân thực là chiến lược thuyết phục người đọc của văn học, là hiệu quả của tổ chức diễn ngôn trong khi người đọc tin rằng văn học phản ánh hiện thực như thật..[11] Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa chỉ là sự vận dụng chiến lược trần thuật của chủ nghĩa hiện thực để tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, tất nhiên cộng thêm với tìm tòi nghệ thuật thuyên truyền. Khái niệm phương pháp sáng tác chỉ là các giói hạn của ý thức hệ thuần túy.
Nhưng khi con người biết rằng văn học là hư cấu, không thật người ta sử dụng chiến lược diễn ngôn khác. Đó là công khai sự phi lí trong miêu tả nghệ thuật. Nhà nghiên cứu G. Langoski (Hoa Kỳ) liệt kê các đặc điểm của chủ nghĩa siêu thực được biểu hiện trong tiểu thuyết Mỹ Latinh như sau: 1. Tinh thần nổi loạn chống lại những quy tắc của tiểu thuyết truyền thống; 2. Sự tìm kiếm cái kỳ diệu do việc đi sâu vào lĩnh vực của cái vô thức; 3. Tính ẩn dụ nổi bật và tính hình tượng đi kèm theo sự rối rắm về cú pháp; 4. Sự sùng bái tính phi lý và hài hước cay độc, tính biểu tượng, tính phi logic; 5.Lối tự sự biến hiện thực thành phi hiện thực; 6. Những thủ pháp tu từ đặc biệt, như hồi cố, lối dựng cảnh của điện ảnh…; 7. Việc sử dụng thời gian phi tuyến…[12]
3.2. Từ thi pháp học chuyển sang tu từ học hiện đại
Từ thời cổ đại người ta phân biệt thi pháp học với tu từ học. Thi pháp học nghiên cứu kiến tạo của tác phẩm nghệ thuật, tu từ học nghiên cứu kiến tạo tác phẩm phi nghệ thuật[13]. Nhưng cả hai lĩnh vực đều là kiến tạo ngôn từ, kiến tạo diễn ngôn, cho nên từ trong bản chất chúng đã có liên hệ sâu sắc. Mặc dù áp lực truyền thống vẫn duy trì hai bộ môn khoa học ấy cho đến đầu thế kỉ XX, nhưng trong thực tế thi pháp học và tu từ học và phong cách học vẫn thâm nhập vào nhau. M. Poliakov đã nhận xét đặc điểm nổi bật của thi pháp học thế kỉ XX là sự sáp nhập của phong cách học vào thi pháp học[14]. Xét trong thực tế ta sẽ thấy quá trình đó đã diến ra như thế nào. Thi pháp học lịch sử của A. Veselovski có ba chương, thì hai chương nghiên cứu các phạm ttrù của tu từ học: song hành và tính ngữ nghệ thuật. Các nhà hình thức Nga từ Shklovski, Aykhenbaum, Girmunski, V. Vinogradov trong các công trình thi pháp học đều xem nghệ thuật như là thủ pháp, là lạ hóa, thì phần lớn các thủ pháp lạ hóa ấy là phép tu từ. Các nhà phê bình mới Anh Mĩ nghiên cứu văn bản văn học, đối tượng của họ cũng là các phép tu từ, như Irony, ẩn dụ, các thủ pháp tạo tính đa nghĩa, trương lực của từ ngữ. Họ là những người đầu tiên dùng thuật ngữ diễn ngôn thơ, diễn ngôn văn xuôi. Chủ nghĩa cấu trúc với lí thuyết tự sự học nghiên cứu các yếu tố của diễn ngôn trần thuật. Trong cuốn Các khái niệm cơ bản của thi pháp học (1946) của Emil Staiger (Thuỵ sĩ) tác giả lại nghiên cứu phong cách của các loại hình tự sự, trữ tình, kịch, như là các kiểu diễn ngôn. Nhan đề thi pháp, mà ruột là phong cách. Đủ thấy phong cách là nội dung của thi pháp. Khi G. Genette đặt tên sách về tự sự học của mình là Figures (I, II, III ) là ông đã có ý thức làm sống dậy tu từ học cổ đại. Với tinh thần mới. M. Bakhtin nghiên cứu thi pháp Dostoievski chủ yếu là nghiên cứu cấu trúc diễn ngôn đối thoại trong tiểu thuyết của nhà văn với nhiều hình thức phong phú cả ở bình diện lịch sử lẫn bình diện kiến tạo, tức là nghiên cứu tu từ của tiểu thuyết phức điệu.
Phong cách học có một lịch sử ngắn ngủi và phong phú. Ngắn ngủi vì nó xuất hiện từ thế kỉ XIX mà đến nhứng năm 50, với các công trình Triết học của tu từ học của A. Richards (1950), Vấn đề thể loại lời nói của M.Bakhtin (1952), Tu từ học và triết học (1952), Tu từ học mới (1958) của Chaim Perelman[15]nó gần như đã bị cáo chung. Mặc dù phong cách học văn học vẫn phát triển mạnh mẽ, có nhiều tên tuổi nổi tiếng như Giraud, Riffater, Leo Spitze, Burau, cho đến năm 1969 trong số đặc biệt của tạp chí Langue Francaise M. Arrivé mới tuyên bố phong cách học đang đi đến tiêu vong[16]. Mặc dù sau đó vẫn còn có các công trình phong cách học tiếp tục, song buổi hoàng hôn của nó đã định. Sở dĩ thế là vì khái niệm phong cách chưa xác định, các nhà phong cách học mãi đi tìm sự khác biệt, sự lệch chuẩn, sự lựa chọn, nhưng phải chăng các cái ấy chính là phong cách? Một nội hàm như thế là quá hẹp so với nội hàm cuỷa tu từ học, và như thế thì không đủ để giải thích bản sắc độc đáo của phong cách. Thay thế vào đó, theo V. Tiupa, “một tu từ học mới như là khoa học mới về các sự kiện và quá trình giao tiếp trỗi dậy trên đống đổ nát của tu từ học cổ điển”[17]. Nhà khoa học Nga này xem thi pháp học là bộ phận của Tân tu từ học (Newrhetoric), bởi vì tu từ học diễn ngôn là bao quát nhất, còn thi pháp học chỉ giới hạn trong ngôn từ nghệ thuật[18]. Theo chúng tôi, diễn ngôn học đã lật ngược quan hệ giữa thi pháp học và tu từ học truyền thống. Các nguyên tắc của thi pháp học được nhìn từ phía tu từ học mới: các phép lạ hóa, kết cấu truyện kể, điểm nhìn, thời gian, không gian nghệ thuật, hình tượng con người, tu từ học thân thể. Thi pháp học tu từ học vẫn là thi pháp học, không đồng nhất với tu từ học nói chung, bởi nó là bộ môn tập trung nghiên cứu văn học nghệ thuật, song nghiên cứu từ góc độ diễn ngôn.
Thi pháp học của chúng tôi, mặc dù hơn ba mươi năm trước chưa có ý thức rõ rệt, song đã đi theo hướng thi pháp học diễn ngôn, tất cả các nghiên cứu đều dựa vào sự kiện ngôn ngữ và tính quan niệm của hình thưc diễn ngôn. Trong các công trình của tôi khi tôi nói về không gian trong Truyện Kiều thì đó là diễn ngôn không gian ở Truyện Kiều. Khi tôi nói về thời gian trong thơ Thiền thì đó chính là diễn ngôn thời gian trong thơ thiền, còn nói về con người trong thơ Tố Hữu thì thực tế, tôi đã nói về diễn ngôn con người trong thơ Tố Hữu. Có thể nói tôi đã nghiên cứu diễn ngôn từ góc độ thi pháp học trong tất cả các công trình của mình.
3.4. Thể loại văn học như là hệ thống các diễn ngôn văn học
Thê loại văn học trong các giáo trình lí luận văn học thường được miêu tả như là các quy phạm bất biến, không đúng với thực tế luôn luôn biến đổi của diễn ngôn. Từ góc độ diễn ngôn thể loại văn học được gọi là văn loại hay loại văn, nghĩa là trước hết là các kiến tạo diễn ngôn khác nhau, mà văn học chỉ là tên gọi tập hợp của vô vàn loại văn khác nhau ấy. Thể loại bắt nguồn từ các thể loại lời nói[19], bắt đầu từ chưa quy phạm đến chỗ quy phạm hóa, rồi từ quy phạm hóa phá vỡ các quy phạm, kiến tạo lại. Vì thế thể loại là nơi giao thoa giữa lịch sử xã hội và lịch sử ngôn ngữ. Không có chữ quốc ngữ thì không có các thể loại văn xuôi và thơ mới. Thể loại là sự phân hóa về hình thái học ngôn ngữ, văn vần, văn xuôi. Thơ văn cũng có nhiều thể thức và không cố định. Các quy tắc đảm bảo sự sinh sản của các diễn ngôn thể loại, nhưng cũng trói buộc nó. Trong lịch sử các loại văn tục dần được quy phạm hóa, còn các thể loại cao cả dần dần bị đào thải. Ví du tiểu thuyết vốn là tục được phát triển, còn phú, bi ca vốn tao nhã, trang nghiêm trói buộc sức sống nhà văn mà dần dần bị đào thải. Bản thân cái gọi là tục hay nhã cũng chỉ là một kiểu diễn ngôn. Có loại chỉ sông trong thời của nó, sang thời khác thì không có sức sống, ngược lại có loại có tính trường tồn, nhất là các loại gần với thực tại nhân sinh. Thể loại luôn được kiến tạo và luôn bị phá vỡ, kiến tạo lại. Đồng thới các thể loại là giao nhau, tạp giao kết thành tính liên thể loại.
3.3. Lịch sử văn học như là quá trình đổi thay hình thái điễn ngôn
Văn học là diễn ngôn, từ quan điểm này có thể nhận thấy lịch sử văn học là quá trình thay thế các hình thái diễn ngôn. Văn học trung đại, theo quan điểm của nhà nghiên cứu Nga, là nghệ thuật sử dụng các từ có sẵn. Các nhà thơ Việt Nam từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, đến Nguyễn Khuyến, dù tài năng bậc thầy, vẫn nằm trong giới hạn văn học sáng tạo bằng các từ, các công thức có sẵn. Tất nhiên mức độ tài năng, cá tính có thể đem lại các sắc thái khác biệt, nhưng tính chất chung là không thay đổi. Giai đoạn này ứng với văn học truyền thống phương Tây. Phải đến thế kỉ XVIII, khi ý thức cá nhân trỗi dậy, đổi thay ý thức chân lí, xuất hiện hình thái diễn ngôn thẩm mĩ lấy cá tính làm trung tâm mới xuất hiện hình thái tu từ mới. Nhà văn lúc này mới đi tim ngôn từ mới phù hợp với cảm xúc mới và sáng tạo nên các dòng văn học lãng mạn, cảm thương, chủ nhĩa hiện thực, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa hiện đại. Văn học Việt Nam từ những năm 30 – 1945 ứng với giai đoạn này.
Bước sang giai đoạn văn học cách mạng, hiện thực xã hội chủ nghĩa, từ năm 1945 cho đến 1986 văn học Việt Nam lấy tuyên truyền, giáo dục làm mục đích, sáng tác theo các chỉ dẫn phép tắc nghiêm ngặt, hạn chế tự do sáng tạo, nhà văn lại sáng tác theo những công thức định sẵn, trên thực tế là trở lại với hình thái tu từ có sẵn như thời trước hình thái thẩm mĩ tự do[20]. Đó là lí do vì sao sáng tác rập khuôn, nhiều khuôn sáo, công thức, ít đa dạng, thiếu sinh khí. Đây là giai đoạn văn học mà diễn ngôn nhà văn bị soi xét kĩ lưỡng nhất. Chỉ một biểu hiện nhỏ như trong tập truyện ngắn Sương tan của nhà văn Hoàng Tiến cũng bị chỉ trích là “đồi trụy”.
Nguyễn Minh Châu cựa quậy đổi thay diễn ngôn, nhưng phải đến sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái văn học Việt Nam mới tạo ra một diễn ngôn khác với diễn ngôn chính thống một thời.
Còn có thể nói đến các trào lưu văn học như là các hình thái diễn ngôn trong lịch sử văn học.
Tóm lại khái niệm điễn ngôn văn học, hay văn học như là diễn ngôn đem lại một cái nhìn mới, bước ngoặt mới đối với lí luận văn học nói chung và lịch sử, phê bình văn học nói riêng. Từ đây lí luận văn học sẽ là một diễn ngôn khác về văn học so với các bộ lí luận văn học đã có. Trong bài này do điều kiện thời gian hạn chế chúng tôi chưa thể viết kĩ, chỉ phác qua mấy khía cạnh để tham khảo. Mong có dịp đi sâu hơn vào từng vấn đề.
Hà Nội, ngày 8 tháng năm 2013, chỉnh lại, 3 – 2014.
—————-
[1] Theo Makarov.Nguyên lí lí thuyết diễn ngôn, M., 2006.
[2] M. Makarov, Tài liệu đã dẫn, mục 1.1.1. Bước ngoặt diễn ngôn và bản thể luận mới.
[3] M. Makarov, Tài liệu đã dẫn.
[4] Ngày nay nhiều nhà ngữ học cho rằng tư tưởng Saussure rộng hơn học thuyết Saussure được lưu hành, có người quan tâm một dạng nghiên cứu khác của Saussure là Ngôn ngữ học lời nói.
[5] Xem các sách của các tác giả này: Bàn về khái niệm văn học của Todorrov, Dẫn luận rất ngắn về lí luận văn học của Culler, Bản mệnh của lí thuyết của A. Compagnon, Chủ nghĩa mác và phê bình văn học của T. Eagleton.
[6] Xem bài Từ Hán việt gốc Nhật trong tiếng Việt của Trần Đình Sử.
[7] M. Bakhtin. Mĩ học sáng tạo diễn ngôn, nxb. Nghệ thuật, M., 1979, tr.. 285.
[8] In trong cuốn Kí hiệu học, nxb. Khoa học, M., 1983.
[9] Korman B. O. Phân tích thơ ca Necrasov, M., 1972.
[10] Xem các công trình của các tác giả W. Booth , V. V. Vinogradov., M. M. Bakhtin.
[11] J. Culler. Thi pháp học cấu trúc, nxb. Khoa học xã hội, Bắc Kinh, 1991.
[12] Theo Nguyễn Văn Dân. Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại đối với văn học thế giới vào Việt Nam, Văn học nước ngoài, số 8 – 2012
[13] Tomashevski. Lí luận văn học. Thi pháp học. viết năm 1925, in lại 2003.
[14] Poliakov M. Cái giá của sự tiên tri và nổi loạn. M., 1975.
[15] Trích theo tài liệu của V. Tiupa.
[16] Lịch sử các thi pháp học, chương Phong cách học. Bản dịch trung văn tập 2.
[17] V. Tiupa. Phân tích văn bản nghệ thuật, Phân tích diễn ngôn. Academia, M., 2000, tr. 273. Quan niệm của Tiupa hơi sớm, không phù hợp thực tế.
[18] V. Tiupa. Trần thuật học như là phân tích học diễn ngôn tự sự, Tver, 2001.
[19] M. Bakhtin. Các thể loại lời nói. Mĩ học sáng tạo ngôn từ (diễn ngôn), M., nxb. Nghệ thuật, 1979.
[20] Phần này tham khảo sách Quá trình văn học trong ngữ cảnh văn hóa lịch sử của E. Chernoivanenco, viết năm 1996. ở Ucraina.
Nguồn:


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Họ âm mưu làm cách mạng văn hóa chăng?


500_thumb_VKCG-300x150Chu Mộng Long – Câu chuyện bí mật lập Hội đồng bác bỏ luận văn Nhã Thuyên, thêm chuyện công khai sửa chữ trong Truyện Kiều, cùng với hàng loạt những hoạt động văn hóa những năm gần đây đã chứng minh một thứ tư duy văn hóa “hầm bà lằn” của những học giả “danh tiếng” Việt Nam.
Với tư cách những kẻ nhân danh tiếng nói chính thống – trung tâm, họ bác bỏ luận văn Nhã Thuyên vì đối tượng nghiên cứu là cái bên lề, nhưng cũng từ địa vị chính thống – trung tâm này, họ lại chủ trương bác bỏ những từ ngữ hàn lâm của đại thi hào Nguyễn Du, tùy tiện sửa chữ của Nguyễn Du cho thật dung tục để đưa kiệt tác của đại thi hào dân tộc ra bên lề dân gian.
Thế là sao?
Điều này có khác gì các hoạt động văn hóa – khoa học kì dị khác, cũng nảy sinh từ sự nhân danh chính thống – trung tâm. Một mặt, họ chủ trương kiên định Chủ nghĩa duy vật của Marx, nhưng mặt khác lại đề cao ngành Ma học, tôn vinh các nhà ngoại cảm và khuếch trương hoạt động duy tâm đồng bóng trong các lễ hội quốc gia.
Thế là sao?
Sách của Nhà xuất bản Văn Hóa – Thông tin, thì không thể nói là không chính thống!
Chẳng nhẽ nhóm Mở Miệng và Nhã Thuyên đã làm lung lay tận gốc cái lô cốt trung tâm, đẩy cái gọi là chính thống phải chạy loanh quanh bên lề???
Mà hình như… cái sự ‘hầm bà lằn” ấy có vẻ hậu hiện đại đấy?
Riêng cái món sửa hơn cả nghìn chữ trong kiệt tác Truyện Kiều để cho áng văn chương bất hủ kia bình dân hơn, đại chúng hơn, hiện đại hơn đã phản ánh đầy đủ não trạng ‘hầm bà lằn” của một nhóm những người mang danh nguyên khí của quốc gia.
Nhìn những câu chữ họ sửa chữa trong văn bản New Truyện Kiều của họ đủ thấy họ đã đái vào di sản văn hóa của dân tộc, như Andres đã đái vào Chúa.
Thực ra, người to gan đầu tiên dám sửa chữ khi bình Truyện Kiều là Xuân Diệu. Trong tập Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, khi bình Nguyễn Du, Xuân Diệu đòi sửa chữ “chen” thành “ben”: Rừng thu rỗ biếc ben hồng, vì ông cho rằng “chen” mang nghĩa xen lẫn không hay bằng “ben”, màu xanh bị “lang ben”; đòi sửa chữ “trĩu” thành “chíu”: Giọt sương chíu nặng cành xuân la đà, vì ông cho rằng “chíu” cũng là “trĩu” nhưng nhẹ hơn, tinh tế hơn.
Nhưng Xuân Diệu làm cái việc đó hoàn toàn nằm trong hệ thống tư biện của ông, không ảnh hưởng gì đến nguyên tác. Cái lí của ông là cho đến giờ không tìm thấy văn bản chữ Nôm của chính Nguyễn Du, hiện đang tồn tại nhiều dị bản chép lại, nên giữa chen với bentrĩu với chíu gần âm, với chữ Nôm đọc cách nào cũng được, quan trọng là chọn âm theo ông cho là hay. Tất nhiên ông quên rằng, chữ Nôm không chỉ biểu âm mà còn biểu ý chứ không thể tùy tiện.
Khi viết Truyện Kiều, ông quan Nguyễn Du đã từ bỏ địa vị trung tâm của nền văn chương Hán học, mượn lục bát để hướng ra bên lề cùng dân gian nhưng câu chữ vẫn lưu luyến với trung tâm – chính thống để né tránh sự trừng phạt, nếu có bị vua đánh trăm roi thì cũng đã chết rồi. Xem ra nhóm Kiều học mới này đang âm mưu làm một cuộc cách mạng văn hóa triệt để bắt đầu bằng việc Việt hóa, bình dân hóa, đại chúng hóa, hiện đại hóa 100% kiệt tác có một không hai của dân tộc. Cuộc cách mạng ấy phản ánh sâu sắc cái đuôi giấu kín lâu nay trong trình độ học thức của các giáo sư Việt Nam. Họ đang tư duy rằng, việc sửa chữa như thế không làm thay đổi nội dung của Truyện Kiều, vì lâu nay họ chủ trương bình Kiều, dạy Kiều chỉ với các nội dung: 1) Tố cáo chế độ phong kiến buôn thịt bán người, 2) Cất tiếng kêu thương cho thân phận phụ nữ dưới chế độ phong kiến thối nát.
“Chính trị đội lốt văn chương” là thế đó, các giáo sư đáng kính ạ!
Trình độ văn chương của họ chỉ có thế, họ tư duy chữa văn như thế, tôi không nghĩ họ “vô đạo” mà “phải đạo”, vì họ tư duy  vừa rất hậu hiện đại vừa kiên định lập trường cách mạng vô sản!
Tôi nghe bọn con nít tuổi teen có câu ranh ngôn: Ngu mà tỏ ra nguy hiểm, nghe chừng hậu hiện đại hơn mọi thứ hậu đậu, à quên, hậu hiện đại mà các giáo sư chính thống đang làm!
———————-

Phần nhận xét hiển thị trên trang