Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2014

CỬA HÀNG MUA BÁN GIẤC MƠ




 Cổ cao bốn ngấn-tranh Rừng

Cô biết mình đã đi lạc.
Quảng trường Place du Tertre viền quanh ngọn đồi Montmartre đúng giữa 12 giờ trưa chợt thưa vắng người. Mới ít phút trước đây thôi, trên con đường lát đá cổ gần 600 năm ngập tràn khách du lịch và quán cà phê lộ thiên, những sạp hàng bán đồ mỹ nghệ, lưu niệm tràn ra hai bên đường, những họa sỹ đường phố vẻ chân dung như múa bút trên khung tranh , cả khối người ngồi quanh người nghệ sỹ già lướt đôi tay trên cây đàn Harp réo rắc bài My way quen thuộc giữa đồi cỏ gió lộng và vài cặp dìu nhau trong tiếng nhạc như thế giới chỉ tồn tại có riêng hai người...
Tất cả đã biến mất.
Chỉ còn quán rượu CON MÈO ĐEN năm sõng sượt vắt qua góc hai con phố và xa xa cối xay gió màu đỏ thẫm của tửu quán cabaret Moulin Rogue nhô lên trên nền trời thu trong văn vắt.
Cô ngập ngừng trước một con hẻm nhỏ, đá xanh lát đường mòn vẹt in hàng trăm dấu chân, khắp lan can bên hiên nhà phủ kín hoa tử đinh hương màu tím, lá vàng đầu thu xào xạc mang hơi lạnh nồng nàn. Đúng là tháng 8 ma mị của Paris.
Con hẻm vắng người lạ kỳ dẫn cô vào một cửa tiệm u tối, ngoài cửa kính màu sắc thế kỹ thứ 18 chỉ treo võn vẹn một biển hiệu xộc xệch và bức tranh chân dung sĩn màu. Cô ghé lại gần nhìn kỹ và choáng váng; chân dung của chính cô, lệch lạc, méo mó nhưng đúng là đường nét Á đông của đôi mắt 1 mí cách xa nhau, sóng mủi thấp, gò má tròn dẹt và đôi môi hơi cong hai bên khóe. Đôi mắt hoảng loạn, hoang mang trong bức tranh nhìn chòng chọc vào cô, như chinh hình ảnh của cô đang phản chiếu từ một tấm gương trung thực. Soi thấu được tâm hồn đầy u ám của cô lúc này.
Hàng chữ trên Bảng hiệu xiên xọ, líu ríu đổ vào nhau, nhưng cô vẫn có thể lẫm nhẫm  đọc được :
- Cửa hàng mua bán giấc mơ!
Một chú bé từ đâu nhô đầu ra nhìn cô bằng cặp mắt đen lém lĩnh của dân di-gan :
- Mời quý cô vào bên trong ạ, bảo đãm còn nhiều thứ hay hơn nữa.
Bên trong cửa hàng tối tăm và lộn xộn, mang đặc trưng của tiệm bán đồ cổ hơn là cửa hàng đồ lưu niệm. Từng món đồ vất chỏng chơ trên các quầy kệ xộc xệch bí ẩn dưới lớp bụi dày , vừa cam chịu , vừa ẩn ức.
Cô lơ đãng phóng tia mắt tò mò qua hàng kệ đầu tiên, nơi một chiếc gương đồng treo lắt lẻo bên một tấm thãm cũ mèm hắt lên thứ anh sáng vàng viền kim tuyến mờ ảo. Soi mặt vào chiếc gương đồng xám xịt, một đôi mắt đen dài nhìn lại cô chăm chăm, đôi mắt buồn não nùng và sóng sánh như có sóng, làn da trắng nuột nà. Nhan sắc kiều mỵ này gợi lên hình ảnh nào đó, quen thuộc, như đã gặp ở đâu! Chiếc yếm kha tử đỏ thắm che ngang ngực không giấu nổi sắc xuân rừng rực thu hồn người, chiếc trâm có đính hoa Mẫu đơn rung rinh hắt ra mùi hương ngọt ngào làm tê dại đầu lưởi, vài sợi tóc bay bay sực nức hương trầm gời gợi. Một câu thơ cũ thoáng qua đầu cô:
"Vân tưởng y thường hoa tưởng dung
Xuân phong nhật hạm lộ hoa nùng"
- Nàng đã nhận ra người này rồi có phải không?
Từ góc tối nhất của gian phòng, một giọng nói không trầm, không bỗng, nửa như kim loại, nữa như đất nhão, vọng đến tai cô. Lờ mờ một khuôn mặt không hình dạng hiện ra, khuôn mặt không ngừng biến đổi; đôi mắt dài, hẹp, kín đáo của người Hoa, sóng mủi quặp nhọn sắt mang nhiều nét Do thái, cặp môi mỏng như một đường chỉ trên gò má quàu quạu và tia mắt lạnh lùng nhưng tinh quái của diều hâu rình mồi. Gã chủ tiệm tiến đến thật gần, gã cất giọng, thứ tiếng Việt gần như hoàn hảo, khoan vào nảo cô đều đều, gây ảo giác như cô đang nói chuyện với chính cô:
- Người đàn bà trong gương chính là Dương lệ Hoàn, nàng quý phi được sũng ái nhất của hoàng đế đại Đường. Ta đã giúp nàng đạt được giấc mơ của nàng; chiếm trọn trái tim của Đường minh Hoàng, đổi lại, ta chỉ lấy trái tim của nàng và nàng trở về với ta muôn đời trong chiếc gương đồng này- gã mĩm nụ cười héo hắt.
Cô giật mình, lùi lại một bước, chân đạp lên tấm thãm nhàu nát trong góc phòng. 
- Nàng có nhớ chiếc thãm này không? Chiếc thãm bay của Aladin. Nó đã giúp loài người thực hiện được giấc mơ bay điên rồ của mình. Đổi lại giấc mơ tới gần các vì sao là con người ngày càng đi xa khỏi căn nhà của chính mình và người thân chung quanh.
Vuốt ve một miếng da nhăn nheo rúm ró ,cũ kỹ trên tay, gã nheo mắt nhìn cô:
- Ta có cả một nhà văn vĩ đại nhất ở đây. Cuộc đổi chác thành công nhất của ta!
Cô thì thào trong cổ họng:
- Peau de Chagrin, Miếng da lừa của Honore' de Balzac!
- Chính xác! Ta khâm phục trí nhớ của nàng, không phải ai cũng đoán ra được vật nhỏ bé tầm thường này. Nhưng nó đã làm nên một tác phẩm vĩ đại và một văn hào vĩ đai!
- Ông đã lấy đi những gì từ Honore' de Balzac?- Cô thốt lên kinh hoàng.
- Không có gì, một chút thôi, nhỏ bé thôi. Sự hủy hoại tâm hồn và cô đơn! Cô đơn là cái giá quá hời phải trả cho một thiên tài- gã khùng khục cười.
Gã nhìn xoáy sâu vào mắt cô:
- Còn nàng? Ta biết giấc mơ thầm kín của nàng. Ta biết hết. Không có gì thoát khỏi mắt ta.
Cô lặng lẻ nhìn vào tấm gương đồng. Giấc mơ thầm kín của cô?
Trong tấm gương, lờ mờ hiện ra một dòng sông, êm ã, uốn khúc giữa hai bờ xanh ngắt. Dòng sông lờ đờ như đang say ngủ, như không chảy. Sau màn sương mờ của dòng sông, tuổi thơ của anh, tuổi thơ của cô ngây ngất trở về. Từng đường nét trên khuôn mặt rõ dần, những đường nét quen thuộc, thân thiết như đã khắc vào tim. Từng đường nét đều làm đau đến nhói tim.
Lão già vẫn giữ nụ cười láu lĩnh:
- Giấc mơ thầm kín của nàng phải không? Nàng sẵn lòng đổi gì để người này mãi mãi thuộc về nàng, là của riêng nàng? Đừng vội vã nói bất cứ thứ gì nhé! Ta không tham lam đến mức đó đâu!
Cô lắc nhẹ đầu như cố rứt khỏi một ám ảnh. Suy nghĩ của cô, thật lạ lùng, hiện rõ mồn một trên tấm gương xĩn màu:
- Không! Em không muốn chiếm hữu anh hay có được anh cho riêng mình mãi mãi. Dù em sẵn sàng đổi 20 năm tuổi trẻ để được cùng anh già đi. Em muốn già đi cùng với anh, dù em chẳng hề quan tâm đến nếp nhăn trên khuôn mặt anh. Em không hề nhớ anh bao nhiêu tuổi. Tài hoa của anh, những suy nghĩ của anh, những nếp nhăn trong đầu anh mới là điều em quan tâm và tôn thờ. Em sẽ để anh ở lại nơi anh thuộc về. Hãy để trái tim và tình yêu của anh thành gió tự do bay đi lang thang trên dòng sông này. Chỉ có tự do mới chiếm hữu được một thiên tài! 
- Tôi không đổi bất cứ thứ gì để chiếm hữu người đàn ông này!- cô thở nhẹ.
Lão già không giấu nổi sự thất vọng, dôi mắt tối sầm lại như một đường chì đen:
- Một ca lạ lùng! Không sao, ta thích những ca khó và lạ lùng. Còn giấc mơ văn chương? Ta biết không có người nào từ chối được giấc mơ văn chương và danh tiếng.
- Tôi phải đổi những gì?
- Đơn giãn hơn chuyện tình yêu. Có người đã đổi lấy danh vọng bằng Lương tâm. Thật ra đã có danh vọng, đôi khi chẳng cần đến lương tâm làm gì! Có người sẵn sàng đánh đổi tư cách, tuổi trẻ để trở thành một nhà văn tên tuổi. Nàng xem, một nhà văn già có tiếng tăm thì không cần tiếc tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mau tàn và phù phiếm! Những gì mau tàn là phù phiếm.
- Có người không cần văn chương và cả danh tiếng nhưng cần tiền bạc, dể dàng thôi, ta chỉ cần nhận lại đạo đức và tình yêu, đã có tiền bạc thì tình yêu sẽ tự tìm đến. Tiền bạc mua được tình yêu, điều đó không ai phủ nhận- gã cười lạnh lùng. Hào quang của tiền bạc che mờ đạo đức, không ai quan tâm đến những gì bị che mờ!
- Riêng với nàng, ta chắc rằng nàng khao khát thứ lớn hơn, vô hình hơn. Ta thấu hiểu lắm. Vô hình sẽ đổi bằng vô hình! Khát khao được viết, được thể hiện mình, được công nhận của nàng sẽ được đổi bằng một thứ siêu hình, chính là sự trống rỗng, hoang mang. Sau khi khát khao viết thõa mãn, nàng còn lại trống rỗng và hoang mang. Thấy chưa, thật thú vị, và nhẹ nhàng, chính nàng cũng sẽ không biết nàng mất cái gì!
Cô rùng mình, xiết chặt tấm gương đồng, hiện giờ đang trống rỗng và co rút trong tay cô, như chính tâm hồn của cô sau sự đổi chác này:
- Không , ông sai hoàn toàn. Tôi không chỉ khát khao được viết ra và được công nhận. Viết ra là điều khởi đầu, viết ra điều gì đáng giá để lưu lại mới là mục đích cuối cùng và duy nhất. Điều đó tôi sẽ tự mình đạt được. Không cần cuộc đổi chác nào hết. Và không còn cuộc đổi chác nào nữa hết!
Cô ném mạnh tấm gương rúm ró vào góc nhà. Từng mãnh vỡ nhọn hoắt như mãnh cắt ghim vào người gã chủ tiệm, khuông mặt gã biến dạng, méo mó, xô lệch và vụn vằn ra thành từng mạnh vụn lả tả.
Cơn gió lạnh thổi vào mặt, hất tung món tóc xoăn trước trán làm cô giật mình. Quảng trường lại đông đúc tấp nập, tiếng Hạc cầm vẫn rung lên bài My way quen thuộc, cặp nhân tình vẫn đắm say trong điệu nhảy chầm chậm.
Họa sỹ vẻ chân dung người Việt chấm vài nét cuối cùng lên khuôn mặt cô trên khung tranh:
- Đã hoàn tất rồi cô gái ạ. Cô có đôi mắt thật là mơ mộng.
Cô nhìn vào bức chân dung của chính mình, đôi mắt mơ màng như len sợi khói:
- Vì tôi cất giữ những giấc mơ của mình trong đôi mắt .
- Đó là nơi đẹp nhất để cất giữ những giấc mơ!
Người họa sỹ buông cọ cười hào sãng. 

UYÊN LÊ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vì sao người Việt quá nhiều tự hào, thiếu tự trọng?




Đó chính là nguyên nhân để những tính cách “dị biệt” làm cho người Việt trở nên xấu xí vẫn tiếp tục tồn tại. Liệu có cách nào khắc phục được tình trạng này?

Cùng dắt nhau đi về phía bóng tối

Trả lời cho câu hỏi trong những tính cách “dị biệt” làm nên đặc trưng người Việt thì đâu mới là tính cách căn bản, nhà văn Tạ Duy Anh cho rằng thật khó để xác định được điều đó. Vì tính cách này là hệ quả nhưng cũng đồng thời là nguyên nhân của tính cách khác. Chẳng hạn, từ việc bế quan tỏa cảng mà người Việt coi cái gì của mình cũng là nhất, sinh ra thói tự mãn sớm. Cũng chính vì tự mãn, người Việt sẽ không có xu hướng làm gì đến cùng nên đẻ ra tính cẩu thả...

Vấn đề đặt ra là: Liệu người Việt có nhận biết được những tính xấu của mình? Nếu nhận biết được thì vì sao lại không thay đổi? ThS Trần Văn Phương, cán bộ nghiên cứu và giảng dạy văn hóa tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền thì cho rằng, sở dĩ người Việt vẫn chưa thể “thức tỉnh” vì suy cho cùng “chúng ta chưa ý thức được mình ở đâu trên bản đồ thế giới. Chúng ta cũng chưa thể nhận biết được rằng với vị trí địa văn hóa như vậy thì nảy sinh tâm lý như thế nào, tích cực hay tiêu cực để mà tránh, nên mới dẫn đến chuyện có những tính cách “dị biệt” như thế.

Văn hóa không có sự hơn kém mà chỉ có sự khác biệt. Thế nhưng, vẫn có những ngưỡng để biết được rằng thế nào là hay, thế nào là dở. Tiếc rằng khi hội nhập, tính cách người Việt bộc lộ sự dở nhiều quá, đến mức dù kinh tế Việt Nam hiện tại có phát triển, thu nhập bình quân đầu người tăng lên thì những tính ấy vẫn chưa mấy thay đổi, làm người Việt trở nên xấu xí”, ông bình luận.

Nhà văn Tạ Duy Anh cũng thừa nhận: Chỉ khi hội nhập, hiện diện trước toàn cầu thì nhiều tính cách “dị biệt”, đặc trưng của người Việt mới bộc lộ điểm xấu. Điểm đáng lưu ý, theo nhà văn là khi ấy sẽ rơi vào tình trạng “chó chê mèo lắm lông”, bản thân mình cũng mắc những thói tật như không đúng giờ, cẩu thả, đố kỵ... rồi thì còn nói ai được nữa. Vì vậy mà người Việt cứ thế dắt nhau đi về phía bóng tối với những tính xấu mặc nhiên tồn tại. Còn số người có ý thức thay đổi thì lại chưa đủ lớn để kéo cả xã hội thay đổi theo.
Biển chỉ dẫn được đặt khuất sau cây và trên biển ghi sai tên phố Vũ Thạch (đúng là Vũ Thạnh) trên đường La Thành hàng năm trời thể hiện tính cẩu thả của người làm biển.

Quá nhiều tự hào, thiếu tự trọng

Theo nhà văn Tạ Duy Anh, một trong những lý do để người Việt khó có thể thay đổi được tính cách của mình là bởi chúng ta “có quá nhiều lòng tự hào và thiếu lòng tự trọng. Chúng ta vẫn sống với quá khứ hào hùng. Nhưng nên nhớ, việc đánh giặc ngoại xâm xong rồi. Bây giờ phải biết tự trọng để xác định rằng mình đang ở đâu trong thang bậc của nhân loại. Nếu nhìn ra bên ngoài thì đúng là chúng ta kém rất nhiều, đặc biệt là những sản phẩm mang tính công nghiệp, công nghệ thì hoàn toàn lép vế”.

Cũng theo nhà văn, chính vì có “quá nhiều lòng tự hào và thiếu lòng tự trọng” nên khi nghe ai đó nhắc rằng bên Mỹ, bên Nhật... người ta không như mình, họ hiện đại hơn, văn minh hơn... thì đáp trả: “Sang Mỹ (Nhật) mà ở”. “Đó là sự thô bỉ về mặt văn hóa. Đáng ra anh phải biết xấu hổ với những tính cách không tốt, là rào cản cho sự phát triển. Đằng này nhiều người tỏ ra chẳng biết xấu hổ là gì”, ông thẳng thắn.
Lý giải cho việc người Việt không biết xấu hổ, theo nhà văn Tạ Duy Anh là do tính trách nhiệm của người Việt còn rất kém. Điều đó xuất phát từ việc “ở nhiều nước, chẳng hạn như Nhật, người ta quan niệm đất nước là của từng người dân. Còn ở ta thì đất nước gắn với mỗi cái nhà của mình, còn con đường, khu chợ là của người khác. Chính vì quan niệm ấy đã chi phối cách hành động: người ta có thể thoải mái xả rác ra đường, vứt rác sang nhà hàng xóm, miễn sao không ảnh hưởng đến nhà mình. Như vậy thì làm sao mà phát triển được”.

Người Việt đang ngược chuẩn

Điều đáng lo ngại được nhà văn Tạ Duy Anh chỉ ra là người Việt đang có sự ngược chuẩn. Ông phân tích: “Có những cái đáng ra phải xấu hổ thì người Việt lại lấy đó làm tự hào. Ví như cứ phải vào quán bia ồn ào, bẩn bẩn mới thích, mới có hứng ăn uống mà không quen chỗ ăn sạch sẽ. Bởi ngồi ở những hàng quán đó thì mới dễ ngồi lê mách lẻo. Lệch chuẩn còn uốn nắn được chứ ngược chuẩn thì chết”.
Từ những phân tích đó, nhà văn cho rằng bây giờ cái quan trọng là phải tiêm cho người Việt thói bi quan, phải biết xấu hổ. “Tự hào đến thế là đủ rồi. Người Việt bây giờ đang có xu hướng đẩy cao sự vô liêm sỉ, ấy là anh không biết xấu hổ. Anh ra nước ngoài, thấy người ta phát triển thì phải xấu hổ chứ. Đằng này nhiều người chỉ cố gắng hơn người là ta từng đến đó, ở đó, ăn món đó, mua thứ đó chứ không nghĩ tại sao mình không phát triển thế này”, ông thẳng thắn.

Phải tạo ra nhân tố làm gương

Để thay đổi tính cách của một cộng đồng, theo ThS Trần Văn Phương, đó là một việc làm cực kỳ khó. Trước hết, nó cần có sự đồng thuận của cả xã hội. Phải làm tốt công tác tuyên truyền, đặc biệt là giáo dục để thay đổi nhận thức, từ đó thay đổi dần hành vi của mỗi người. “Đó là một việc làm hết sức gian nan”, ông Phương nhấn mạnh.

Còn theo nhà văn Tạ Duy Anh, yếu tố giáo dục là cực kỳ quan trọng. Song ông cũng cho rằng, phải tạo ra nhân tố làm gương cho xã hội noi theo. Muốn vậy, những người làm công tác lãnh đạo, quản lý phải dần thay đổi mình, hoàn thiện mình. “Phải tạo ra tinh thần tự sỉ rất cao cho dân tộc này, chứ đến đâu cũng kính thưa ông nọ ông kia mà cứ phải khom lưng, cả một hệ thống a dua như thế thì sự dối trá đánh lừa cả xã hội, khó mà thay đổi được”, ông nói.

Nhìn nhận ở góc độ có những cái xấu được tạo ra từ chính môi trường xã hội, GS.TS Phạm Thành Nghị, Viện Tâm lý học cho rằng, hệ thống pháp luật cũng cần phải hoàn thiện, phải đảm bảo việc thực thi pháp luật nghiêm minh để người Việt bớt đi những tính xấu của mình. “Bây giờ người ta ngụy biện để khỏa lấp lỗi lầm nhưng xử lý chỉ qua loa, không đúng giờ nhưng cũng chẳng sao cả... thì làm sao mà mong thay đổi tính cách được”, ông Nghị nêu ý kiến.

ThS Trần Văn Phương cho rằng, sẽ không công bằng khi nhìn người Việt chỉ thấy toàn những tính xấu. Bởi thực tế, người Việt có rất nhiều tính tốt như sự cần cù, chịu thương chịu khó, tương thân tương ái, biết vượt qua khó khăn thử thách… Việc vạch ra những mặt xấu của người Việt không phải là cách để phủ nhận hay làm mất hình ảnh dân tộc mà chính là chúng ta đang nhìn thẳng vào sự thật, dám nhìn thẳng vào sự thật.
“Một dân tộc sẽ không thể lớn nếu chỉ chịu thừa nhận mặt tốt của mình. Phải thấy được cái chưa tốt, chưa phù hợp để tìm cách điều chỉnh. Như thế mới mong phát triển”, ông nói.

Thanh Thủy
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sống và đọc


Giáng Vân thực hiện’
Văn V: Nhân ngày Sách Thế giới 23/4 và ngày Đọc sách Việt Nam 21/4, giới thiệu cuộc trò chuyện giữa nhà thơ Giáng Vân với hai tác giả về chuyện đọc sách, đó là nhà thơ Đỗ Trọng Khơi và nhà văn Mai Sơn.
 Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi: Tôi hoàn toàn tự học bằng cách sống và đọc
 146869-khoi 3  Thưa nhà thơ Đỗ Trọng Khơi, với anh, việc đọc dường như là sự sống còn của đời sống cá nhân?
 - Vâng, đúng vậy. Như chị đã biết, tôi sớm phải nghỉ học. Việc được học bài bản, hệ thống trường lớp là con đường tiếp thu tri thức một các nhanh chóng và đầy đặn. Tất nhiên, nếu thấy thoả mãn với kiến thức trường lớp trang bị thì ai đó chỉ có thể thành một công chúc cạo giấy, ăn lương. Người “học trò cuộc đời” muốn có được sự trưởng thành ngày một lớn hơn, sống giầu ý nghĩa hơn thì họ đều phải tiếp tục tự học không ngừng, nghĩa là đọc và suy nghiệm, đúc kết. Tôi không may mắn để có được cơ sở ban đầu là học qua hệ thống trường lớp, tôi hoàn toàn phải tự học bằng cách sống và đọc. Một chặng đường mò mẫm, nhiều lúc loanh quanh, u u minh minh. Rất mất thời gian và có thể nói, kiến thức thu được khá chắp vá, ít ỏi. Tôi là kẻ trên đường văn học với cây gậy yếu bấy và duy nhất, là niềm kinh hãi trong sự lưu lạc, côi cút của phận người trong cõi người, kiếp người. Tôi là kẻ luôn bị cuộc đời dồn đuổi, không một cư trú an toàn. Vì thế mà nhiều khi tôi gấp gáp, lại cũng khi tôi trở lên u lì, gan góc hơn trước những cảm thức buồn thương về sự lưu lạc, dồn đuổi ở thế gian này. Không rõ đấy có phải là lòng can đảm, là nghị lực như người ta thường nói không? Nhà thơ lớn người Nga, Pasternak viết “Lòng can đảm – cội nguồn cái đẹp”, vậy thì tôi cũng có ít nhiều hy vọng đạt được đôi chút mảnh vỡ của “cái đẹp” chăng?
 Các học giả, các nhà nghiên cứu, họ có nhiều kho kiến thức trong đầu, họ thường dùng những thứ họ có để soi vào văn chương, cái mà một người không may mắn như anh không dễ gì có được. Vậy anh đã đọc và tiếp nhận bằng cách nào?
 - Con đường văn học của tôi, khởi đầu có lẽ chỉ là do niềm yêu thích bản năng hồn nhiên. Tôi đọc sách để “giết thời gian”, giải khuây trong những ngày đau bệnh triền miên. Sách với tôi khi ấy là giải trí, như một con thuyền giúp tôi tải dòng thời gian buồn thương và trỗng rỗng. Sau dần dần, niềm yêu thích đọc sách lớn thành khát vọng viết sách. “Con thuyền” bản năng, vô tư kia ai ngờ lại hoá thành phương tiện chở tôi sang bờ. Ý thức sáng tác xuất hiện đồng nghĩa việc tiếp thu kiến thức cho công việc này, lúc đó tôi đã tích luỹ được ít nhiều. Tôi còn nhớ, vào khoảng năm 1983 – 1984, năm đó tôi 23, 24 tuổi và đã nằm liệt giường dăm năm, sau khi xem một cuốn tiểu thuyết được viết thời chống Mỹ, một người hỏi “Khơi thấy thế nào?” thì tôi bảo “Tôi cũng có thể viết được…”. Và thế là tôi viết. Những câu chuyện, dạng truyện ngắn lần lượt ra đời. Về thơ, tôi viết thơ sau viết văn xuôi, nhưng ngược lại, trước khi có truyện ngắn đăng báo thì tôi đã có thơ được báo Văn nghệ trao giải Nhì. Con đường sáng tác văn học quả là một con đường dài và đầy khó khăn. Phải mất khoảng 20 năm sau đó nữa, tôi mới tin là mình có thể đi được trên con đường này. Tôi cảm thấy dường như ông trời cũng cho tôi chút năng lực nào đó, nó ẩn chứa trong sâu thẳm bản thân con người tôi có lẽ đã từ kiếp trước chăng?
 Bí ẩn của tâm linh, con người là những vũ trụ thu nhỏ, chỉ khi chúng ta đi sâu vào bản thể mình, lắng nghe bản thân thì mới thấu thị được bản chất thế giới. Điều này không lạ với tư duy phương Đông, trong Thiền học. Bản năng, sự hồn nhiên dường như giúp chúng ta đi thẳng đến bản chất sự vật, không cần một trợ giúp nào. Một đứa trẻ dễ dàng nhận ra kẻ giả dối với nó hơn những người lớn đầy kinh nghiệm, bởi vì nó trong suốt. Một thi nhân, bởi sự nhậy cảm của bản năng, nên anh ta buồn đau trước khi người khác thấy buồn đau, thấy cái đẹp trước khi người khác thấy… Ánh sáng soi rọi hơn mọi thứ tri thức, chính là ánh sáng bên trong. Thưa nhà thơ Đỗ Trọng Khơi, đọc thơ anh, tôi nhìn thấy rất rõ thứ ánh sáng này. Dường như, sự đọc, sự học của anh cũng thấm đẫm tinh thần phương Đông?
 - Tôi sớm được làm quen với sách vở cổ điển phương Đông, với không gian nhà chùa, và không khí lễ hội ở làng quê Việt, vùng Châu thổ sông Hồng. Về gia đình, ông nội tôi có một bà vợ hai, bà ở với ông nhưng không được người con nào và bà thường ở chùa làng. Thuở ấu nhi tôi thường ngày được cùng bà ra chùa làng chơi và cụ Hoà thượng trụ trì ở chùa cũng hay vào nhà tôi chơi. Cái không khí, không gian hương khói nhà Phật len thấm trong tôi từ đấy. Tuy nhiên kinh pháp nhà Phật thì phải sau này, khi đã lớn khôn, nếm trải nhiều nhọc nhằn số phận, hiểu hơn về lẽ bể dâu, mất còn nhân thế, điều Phật gọi là sắc, uẩn, là giải thoát, phải tới khi này tôi mới dần dà thâm nhập vào thế giới nhà chùa và cả những phương diện Đông phương học khác.
 Trong Phật học, chữ “Tâm” chính là điều căn cốt nhất. Phật tại Tâm. Thảy mọi lẽ sống thế gian đều khởi từ Tâm. Khi Tâm định trụ thì sự vật không biến đổi, cuộc sống được an lạc, viên toàn. Tâm định thì Tuệ khởi. Cái “ánh sáng từ bên trong” mà chị coi trọng, chính là cái ánh sáng nguyên nhất, tinh khôi, trinh huyền này. Nó không thể bị vẩn đục, bi khúc xạ, bị chia chẻ. Vậy “Tâm” trong quan niệm này chính là tính nguyên thuỷ, nguyên lý của mọi vận động, của bản chất thế gian. Khi Tâm an định thì ánh sáng tuệ giác sẽ phóng chiếu mang lại cho ta những nhận thức tới chân lý, chân giá trị đích thực. Và, với người sáng tác văn chương khi tu tập cho mình được cái Tâm này, tất anh ta có cơ hội tiếp cận và trình bày được về cái đẹp, điều chân lý của thời đại, cao hơn của nhân loại, của kiếp người trong cõi thế.
 Trực giác là thứ bản thân mỗi người ít nhiều đều được trời cho, nhưng, mỗi người trong đời sống của họ, nếu không thường xuyên sử dụng như một cách nuôi dưỡng, phát triển thì đều bị mất đi, bị lẩn khuất ở đâu đó. Nhưng có một nghịch lí rằng, khi ta có được một thành tựu, một kinh nghiệm, một vốn tri thức nào đó, thì ngay lập tức, các kinh nghiệm, các thành tựu đó đã trở thành vật cản, thành giới hạn của chính bản thân mình. Anh có khi nào cảm thấy điều đó?
 - Tôi luôn cảm thấy, nghiệm thức rõ về điều này. Trong sâu thẳm mỗi con người đều còn ẩn chứa bao tiềm năng. Bộ não, tâm thức chúng ta dường như một vũ trụ, một lòng đất sâu bí hiểm. Còn bao mỏ quặng, bao nguồn năng lượng chưa được biết tới…? Và rồi những rào cản lại được dựng lên mỗi khi những nguồn năng lượng được khai mở. Ấy là khi cái gọi là “giá trị” được xác lập. Bởi trong lòng mỗi giá trị đều có tính tự mãn của nó. Và đó là khi tri thức, kinh nghiệm bắt đầu trở thành rào cản cho việc tiếp cận nguồn trí năng khác nó, ngoài nó, mà trong khi làm cái công việc sáng tạo, nó giúp ta  tạo ra cái mới mẻ, khác lạ, cái chưa từng có.
Có lẽ, vượt qua chính mình, qua những thành công của mình cho những giá trị mới mẻ hơn, cao hơn luôn là “vật cản” với tất cả những ai có tinh thần sáng tạo, tìm đường…
 Anh đã vượt qua những rào cản của chính bản thân trong việc đọc và tiếp nhận như thế nào?
 - Có vẻ tôi ít phải đối đầu với thách thức này. Vì tôi bản năng chăng? Tôi ít “tích luỹ” được kiến thức chăng? Kiến thức có trong tôi, không giấu gì chị, quả thực còn rất ít ỏi. Như những người bà con làng xóm, nông dân bên mình, tôi vừa làm vừa học. Học qua chính bài làm, trên “cánh đồng” của mình. Mà bài làm hôm nay, giống như cây lúa, nó chỉ là sản phẩm trả nợ cho mồ hôi công sức ngày hôm trước, khó đem ra trả nợ cho ngày sau đó nữa, nên mỗi kết quả đều có một giá trị hạn hữu. Nhưng với đời sống “sách vở”, “phố phường”, thì có điểm khác, tôi thường thấy không ít gương các tác giả bị vướng mắc khá nặng nề vì chính những thứ bài bản, với “tập đại thành” mà họ có được. Vì, như ta đã biết, mỗi giá trị là một trở ngại. “Giá trị” do tích luỹ được từ sự học hay do ta đạt tới được bằng sáng tác, dưới bất cứ hình thức nào, khi nó càng to lớn thì khả năng để vượt qua nó càng thêm bội phần khó khăn. Trừ khi ta đạt được những giá trị trong tính không, từ tính không. Còn khi trong lòng kiêu mạn của ta, “giá trị” lớn thành một trái núi thì vượt qua nó sẽ là điều không thể. Thế mới có khái niệm học để mà quên, học để tự làm rỗng mình. Và nữa, còn phải tính tới những trở ngại do tuổi tác, sức khoẻ, điều kiện sống nữa chứ.
 Anh có sự quan sát việc này ở những người khác không? Và có thể kể đôi điều những gì anh thấy được?
 Và thực tế, không cần mất nhiều công sức, sự tinh tế gì cho lắm, chúng ta đều dễ dàng nhận ra, rất nhiều, rất nhiều bạn đồng hành của chúng ta họ đã dừng lại trước những rào cản cuộc sống; phần do môi trường xã hội quẩn quanh, tù đọng, phần lớn hơn do căn bệnh tự thoả mãn với cái mình đã có. Đáng tiếc là trong số họ có cả người từng được xem là có tài.

Nhà văn, nhà nghiên cứu văn học Mai Sơn: Đọc kỹ, rất kỹ (close reading), nhưng không hy vọng chia sẻ được với ai cả
tải xuống (3)
Nhà văn Mai Sơn
1/ Thưa nhà văn Mai Sơn, anh có một phương pháp nào cho việc đọc không?
-         Tôi thích đọc cả âm nhạc (xét như một văn bản), tiểu thuyết, thơ và biên khảo, đặc biệt là triết học, nên thật khó nếu phải nói về một phương pháp đọc nào đó cụ thể; nói chung, tôi có một định tinh quan tâm mà cả ba thứ đọc kia là 3 hành tinh phải quay chung quanh nó, đó là sự sâu sắc và cái đẹp hiếm gặp nhưng lại rất gần gũi với tôi. Như một đứa trẻ con được thầy giáo và người lớn dạy bảo, tôi phải tìm mọi cách đọc để nhớ lâu, hiểu sâu và có thể truyền đạt cho người khác những gì hay nhất có thể. Cái cực kỳ hệ trọng là làm sao để tát cạn cho hết những điều tinh túy nhất có trong cuốn sách. Nỗ lực hết mình có thể gọi là phương pháp không?
 2/ Sự rỗng của tâm thức là trạng thái tuyệt vời cho tiếp nhận, cụ thể hơn ở đây tôi muốn giới hạn là ở sự đọc, rất mâu thuẫn với các loại tiêu chí, chuẩn mực, các kinh nghiệm, các thước đo, các định dạng văn học, anh có nghĩ như vậy không?
- Không thể có một tâm thức rỗng hoàn toàn. Chỉ có thể là những gì vốn định hình bắt đầu mờ đi, và ta bắt đầu đón nhận một cái gì mới mẻ. Một cuốn sách hay tự động làm cho ta thấy mình như khách lạ bước vào thế giới của nó; nếu thấy thế giới đó quen thuộc quá, thì không đọc cũng không sao; giống như nghe lại một bài hát cũ vậy.
3/ Một khi người ta chứa đầy ắp tri thức, làm thế nào để khi ta đọc, những thứ đó không phi ra án ngữ các ngả đi ra thế giới của chúng ta?
- Không có đầu óc nào lại đầy ắp tri thức đến độ không còn có thể chứa thêm cái gì mới mẻ. Người ta chỉ tự ngăn cản mình đọc cái mới bằng sự tự đắc ngu xuẩn mà thôi. Cũng có thể có một đầu óc đầy ắp tri thức liên quan đến công việc làm tương chao hay bánh tráng chẳng hạn, và họ không thèm đọc gì về các lĩnh vực đó nữa. Tương tự, chúng ta không nên đọc những cái quá dở, quá cũ, quá thấp trong lĩnh vực mà mình quan tâm hay quen thuộc.
 4/ Và khi không có tri thức, người ta có đọc dễ hơn không? Vì sao dễ và vì sao không dễ?
- Lý tưởng nhất là có tri thức một nửa để hiểu mình đang đọc cái gì; và vô tri một nửa để luôn mở rộng tâm trí đón nhận.
Không may cho một người đọc hết sách kinh điển của Marx là đứng trước một cuốn sách nhỏ viết dí dỏm về triết học của ông ta trong nhà sách, nếu anh ta không biết làm rỗng mình đi, tức là, nói theo ngôn ngữ Phật giáo, hư kỳ tâm. Vậy là có khi anh ta đã bỏ mất cơ hội đọc một cuốn sách hay.
Tốt nhất là đóng vai một người lữ hành, ra bến xe khách, mua đại một chiếc vé nào đó, lên xe, không biết sẽ đi về đâu.
 5/ Sự đọc cho anh những gì trong công việc nghiên cứu, và cho công việc sáng tạo?
-         Về triết học, khi hiểu một điều gì đó sâu xa ghê gớm, mình cảm thấy trí óc mình bừng sáng, và nói thật, lúc đó mình vững tin mình là con người vì đã hiểu được những chân lý có tính phổ quát.  Về văn học, đọc được một cái gì thực sự thú vị mới mẻ, nó luôn kích thích, làm mình cảm thấy bứt rứt khó chịu, muốn cầm bút lên ngay.
 6/ Anh có bị những cái bóng trùm lên không? Nếu ai đó bị những cái bóng trùm lên thì họ phải thoát ra bằng cách nào?
- Có. Đọc họ chỉ muốn ném bút cho rồi. Nabokov, Philip Roth, Milan Kundera, Orhan Pamuk… là những bóng ma. Họ làm bá chủ thế giới của mình rồi. Nhưng choáng một hồi thì sau đó thấy vẫn còn những rẻo đất chưa ai chiếm lĩnh, và hình như chỗ đó dành cho mình. Không cần phải cố gắng thoát ra khỏi những cái bóng đó, thậm chí nên đọc thêm để thấy họ đang ở đâu, và mình đang ở đâu, và mình chưa đến nỗi tệ. Và hình như những bóng ma ấy không dọa nạt mình mà khích lệ, thách thức mình viết nữa, vì họ thấy mình có cái gì đó cùng nòi.
7/ Là một giảng viên bậc đại học, anh thấy những người trẻ bây giờ đọc thế nào? Câu chuyện đọc của họ có khác gì với câu chuyện đọc của anh? Anh có thể kể một vài câu chuyện về họ không?
- Sự khác biệt là rất đáng nói. Họ đọc những câu chuyện có mang theo những thông điệp cụ thể, quan thiết đối với bản thân họ. Họ thực dụng. Nhưng đó là điều tất yếu. Vì xã hội không cho họ không gian để mơ mộng, để lãng mạn, thậm chí tôi có cảm giác họ không có được một giây để quên mình đi. Trái lại, xã hội tước đoạt của họ quá nhiều, từ môi trường đạo đức, lý tưởng văn hóa, đạo đức hành xử, sự an toàn trong đời sống hàng ngày. Xã hội gây cho họ quá nhiều áp lực. Vậy nên, họ đọc để tìm sự an ủi, hoặc tìm kiếm “vũ khí” để chiến đấu với cuộc đời, chứ không phải để làm giàu có tâm hồn, tâm thức. Đọc phải ra tấm ra món, kế cả các giáo sư đại học. Cái đọc không còn là quà tặng của cuộc sống nữa. Và người đọc sách không còn là kỳ quan của trái đất để ta đem tặng cho các hành tinh khác.
Cái đọc của tôi rất phi thực dụng, rất trừu tượng, càng lớn tuổi lại càng cần những cái trừu tượng, không hẳn là những cái siêu hình hay tôn giáo gì đâu. Ngay cả khi đọc những tiểu thuyết hiện thực, mình cũng chỉ nắm bắt được cái phi thực của nó. Mà suy cho cùng, văn chương thứ thiệt là phi thực, là thế giới thứ hai. Một nhà văn bất tài thì có viết về cái giả tưởng, huyễn tưởng, huyền ảo đi nữa, đọc vẫn thấy “thật thà như đếm”; ngược lại nhà văn thứ thiệt viết tới viết lui loanh quanh một con ngựa thôi, như Norman Mc Carthy chẳng hạn, vẫn thấy mê hoặc như đang chiêm ngưỡng con ngựa mẫu trên thế giới lý tưởng của Plato. Ngoài ra, càng ngày mình càng đọc trong tinh thần phê phán, cốt để loại bỏ tạp chất, rút ra tinh chất. Đọc kỹ, rất kỹ (close reading), nhưng không hy vọng chia sẻ được với ai cả. Càng không thể chia sẻ với các bạn trẻ. Mình với họ là cả một vực thẳm. Vì cái đọc ngày càng có tính cá nhân, thậm chí như một nghi lễ với chính mình. Để khi mình lìa đời, hy vọng mình chỉ còn là một khối tinh thần thuần túy được tạo nên bởi ý tưởng.
Nhưng mặt khác, tôi có thể tìm thấy những câu trả lời cho những thắc mắc ghê gớm của riêng tôi bằng cách đọc thơ, trong đó có thơ của các tác giả Việt Nam. Những ngày này tôi đang đọc thơ của vài người bạn trong nam, ngoài bắc.
Giáng Vân 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Gì phải ngợi!

Và cùng lắm đời chúng ta hân hạnh như này là diệu mẹ vợi rồi. Gì phải ngợi!



Đời mà, cứ vẽ rắn lại ra giun.



Chép mãi đéo hóa rồng nên chui mông lộn gằm trinh nữ.



Cũng như tôi hùi trẻ, lộn mãi cái đề có làm đệ .. được đéo đao.



Thây thời kệ. Hệ hệ..., cuộc đời vẫn đẹp sao, cần lao mãi làm cao.



Nguồn ảnh: nhặt trên Net.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Liệu tòa có tin không?

Bán phế liệu ụ nổi 83M vẫn lãi… 12 tỷ đồng???

P. Thảo
Đại diện Vinalines (đứng) tham dự phiên tòa phúc thẩm


Đại diện Vinalines thông tin, nếu phá dỡ ụ nổi 83M hiện nay ra bán phế liệu, giá trị ít nhất thu được cũng khoảng 49 tỷ đồng. Như vậy, so với giá gốc 37 tỷ đồng Vinalines mua ụ nổi, việc bán sắt vụn thiết bị cũng lãi 12 tỷ đồng…


Phiên xử phúc thẩm Dương Chí Dũng có diễn biến mới khi chiều 25/4, thay vì nội dung tuyên án như kế hoạch, tòa quyết định chưa tuyên án, quay lại phần xét hỏi.
 
Trong nội dung thẩm vấn thêm, dư luận khá bất ngờ, băn khoăn về thông tin đại diện nguyên đơn dân sự trong vụ án - TCty Hàng hải Việt Nam đưa ra khi đánh giá giá trị ụ nổi 83M hiện nay. Theo trình bày của ông này, phương án xử lý xấu nhất với ụ nổi này là phá dỡ để bán sắt phế liệu thì mỗi kg sắt phế liệu tàu thuyền hiện được tính giá 70.000đ. Như vậy, ụ nổi 83M với sức nâng 25.000 tấn tính ra có giá… 49 tỷ đồng. Giá này đã là mức thấp nhất có thể, đã đối trừ cả tiền công phá dỡ, chỉ tính nguyên tiền thu về. 

Tuy nhiên, vì Vinalines đã phải đầu tư rất nhiều tiền sửa chữa ụ nổi này nên phương án bán sắt phế liệu “chắc sẽ không tính tới” mà TCty tính chờ thêm cho qua thời điểm khó khăn của ngành hàng hải rồi rao bán. 

Nếu đúng theo tính toán của đại diện nguyên đơn dân sự, giá trị bán phế liệu của cục sắt cũ nát khổng lồ này còn cao hơn giá trị thực tế Vinalines bỏ ra mua ụ nổi tại Nga (2,3 triệu USD, tương đương 37 tỷ đồng). 

Tuy nhiên, dù chưa có thông tin đối chứng về giá sắt phế liệu tàu thuyền nhưng thực tế, giá sắt phế liệu được mua bán trên thị trường hiện nay chỉ vài nghìn đồng/kg. 
 
Cũng theo trình bày của ông này, chi phí hàng tháng cho ụ nổi này đang giảm đi. Theo tài liệu Vinalines nộp cho tòa, mỗi tháng ụ nổi 83M ngốn khoảng 1,1 tỷ đồng cho tiền thuê chỗ neo đậu, bảo vệ. Tuy nhiên, do nguồn tài chính đã cạn kiệt, gần đây đơn vị quản lý bến bãi neo đậu, bảo vệ phòng tránh sự cố đã thông báo cắt hợp đồng bảo vệ. Chi phí neo đậu, theo đó chỉ còn khoảng 600 – 800 triệu đồng/tháng.

Với vai trò là nguyên đơn dân sự nhưng được biết, từ phiên tòa sơ thẩm đến nay, TCty Hàng hải vẫn không đưa ra yêu cầu các bị cáo bồi thường cho thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp. Các luật sư cũng đã viện dẫn điểm này để đặt vấn đề “người bị thiệt hại chưa yêu cầu sao tòa vẫn áp trách nhiệm bồi thường tiền cho các bị cáo”. 

Tại phiên tòa này, đại diện VKSND tối cao đã giải thích mức phạt dân sự trong trường hợp này nằm trong án hình sự nên không cần có yêu cầu của nguyên đơn dân sự, chỉ cần xác định thiệt hại là buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường vì rõ ràng nhà nước đã mất đi một khoản tiền, tối thiểu là 367 tỷ đồng (chưa tính những chi phí phát sinh tiếp tục phải chi cho ụ nổi này hơn 1 năm qua).

Tại phiên tòa sơ thẩm diễn ra đầu tháng 12/2013, HĐXX TAND Hà Nội thậm chí phát “sốt ruột” vì sự “dửng dưng” của nguyên đơn dân sự. Nhiều lần thẩm phán chủ tọa phiên tòa lặp lại gợi ý để người đại diện của Vinalines nêu yêu cầu áp trách nhiệm bồi thường những thiệt hại các cựu lãnh đạo TCty gây ra nhưng vị đại diện nguyên đơn dân sự này lần nào cũng… lảng. 

Tòa giải thích thiệt hại gây ra là tài sản của nhà nước. Vốn nhà nước cấp cho TCty, đơn vị có quyền sử dụng nhưng doanh nghiệp cũng có trách nhiệm bảo vệ tài sản nhà nước, bảo đảm an toàn, bảo tồn vốn. Người đại diện cho TCty cần có yêu cầu trực tiếp để có căn cứ buộc các bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho nhà nước. 

“Hay chính vì là tài sản nhà nước nên không cần quan tâm?” - chủ tọa phiên tòa khi đó bức xúc hỏi.
Đại diện Vinalines tại phiên xử sơ thẩm vẫn lặp lại câu trả lời “không yêu cầu bồi thường, chờ phán quyết của tòa”.

Và “nạn nhân” tiếp tục im lặng, dửng dưng với quyền yêu cầu bồi thường của mình cho đến phiên xử phúc thẩm sau gần nửa năm này.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hoàng Dân bình thơ Trần Nhương


Hoàng Dân
CHẲNG CÓ GÌ QUAN TRỌNG

Những cuốn sách một thời như sấm trạng
Giờ bán cân bà đồng nát mua về
Những qui phạm một thời như thước ngọc
Thành vết hằn ghi dấu sự ngô nghê

Dòng sông Đà hùng dũng nhường kia
Giờ ngăn đập sông luồn qua cửa cống
Biển Vũng Tàu cứ tưởng mình dài rộng
Dàn khoan dầu biển hoá mảnh ao quê

Người quan trọng một thời bao thuộc hạ
Giờ vẩn vơ đợi khách chẳng ai thăm
Em hoa hậu đẹp như nhành lửa ấm
Bếp thời gian để lại chút than hoa

Em của anh ơi, chẳng gì là quan trọng
Đến tình yêu cũng có thể già
Ta hãy sống vô tư như trẻ nhỏ
Sáng xuân này lối ngõ nở đầy hoa…
                                                                          
                                                                               Đại Lải, 12.11.2002.TN

Lời bình

Số phận của những kiệt tác một thời có thể:
Những cuốn sách một thời như sấm trạng
Giờ bán cân bà đồng nát mua về
bởi bây giờ không phải là thời của văn hoá đọc, mà là thời “hoàng kim” (kim loại quí hiếm, màu vàng, đắt tiền…) của động từ “đếm”, mà càng đếm thì càng mê man sung sướng; càng đếm thì thao tác càng trở nên chuyên nghiệp, tế nhị. Điều đó là đúng qui luật thôi. Chúa và Đức Phật đã chẳng từng kiên nhẫn đến khản cổ nhắc nhở con chiên và chúng sinh tới cả ngàn năm rằng “Bản tính của con người là tham lam!”. Chỉ có điều, một thời chúng ta lên án, thậm chí là “qui địa chủ, tư sản” cho những kẻ nào dại dột bóp mồm bóp miệng ki cóp để dành chút ít của cải phòng thân. Suy cho cùng, kiệt tác “bán cân” vẫn còn có ích, bởi nó sẽ được nghiền thành bột giấy để tái chế thành những cuộn sản phẩm trắng xốp khá bắt mắt mà chúng ta vẫn dùng hằng ngày trong toa-lét!
Nhưng:
Những qui phạm một thời như thước ngọc
Thành vết hằn ghi dấu sự ngô nghê
thì đáng sợ hơn nhiều, dai dẳng hơn nhiều, di căn khủng khiếp hơn nhiều, bởi nó vẫn đang hiện hữu trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, và sẽ còn hiện hữu rất là lâu nữa… Nói trắng ra, “sự ngô nghê” chính là sự dốt nát, mà đã dốt nát thì càng nhiệt tình càng gây hậu quả nặng nề, càng ở ngôi cao càng gây tai hoạ lớn. Năm 1948, trong truyện ngắn ĐÔI MẮT, Nam Cao đã viết một câu mà hôm nay đọc lại, chúng ta vẫn toát mồ hôi hột, câu ấy là: “Nó là anh bán cháo lòng thì nó chỉ biết đánh tiết canh, biết làm uỷ ban thế nào mà bắt nó làm?”. Xưa, chúng ta ngây thơ tin rằng “tư tưởng hàng đầu, chính trị thống soái”, cho nên chúng ta dị ứng với những người có bằng cấp, kẻ nào mà dại dột khoe bằng cấp thì ngay lập tức bị chụp cái mũ “tạch tạch sè”; nay thì ngược lại, người ta sính bằng cấp tới mức mê muội, chạy bằng cấp bằng mọi giá. Báo chí đang rôm rả với cái tít: “24.300 tiến sĩ và 9.000 giáo sư – các vị ở đâu và đang làm gì cho đất nước?!”. Cũng theo báo chí, nước ta hiện có số lượng giáo sư, tiến sĩ cao nhất khu vực và thế giới; nhưng các công trình khoa học thì lại đội sổ khu vực và thế giới; trong khi đó tác giả của những phát minh sáng chế từ máy bóc vỏ sắn, máy làm cỏ, máy gieo hạt, máy gặt, máy tuốt, máy vớt bèo lục bình (bèo tây)… cho đến máy bay trực thăng mi ni, tàu ngầm mi ni… đều là các anh Hai Lúa! Báo điện tử Dân Trí ngày 27.3.2014 có bài của Phước Minh, nhan đề “Đừng để Việt Nam mang tiếng là quốc gia có nhiều tiến sĩ”, bài báo cho rằng ở nước ta hiện nay, hình như các học vị ấy chỉ dùng để “kiếm danh, kiếm quyền, kiếm tiền” chứ không phải để làm khoa học – Quả là cười ra nước mắt! Tất nhiên, chúng ta không nên vơ đũa cả nắm, bởi cũng có những tiến sĩ suốt đời miệt mài với khoa học, tiếc rằng số này hơi ít. Nói cách khác, “sự ngô nghê” chỉ từ cực này (chủ nghĩa lí lịch) đột nhiên nhảy tót sang cực khác (chủ nghĩa bằng cấp), chứ bản chất của “sự ngô nghê” thì đã thâm căn cố đế mất rồi!
Tôi thích hai câu đầu ở khổ thơ cuối:
Em của anh ơi, chẳng gì là quan trọng
Đến tình yêu cũng có thể già
Ta hãy sống vô tư như trẻ nhỏ
Sáng xuân này lối ngõ nở đầy hoa
vì cách lí sự bằng thơ rất hóm của tác giả. Người ta bảo tình yêu không có tuổi: “Yêu nhau có ai hỏi/Tuổi ít hay tuổi nhiều/Tình yêu không có tuổi/Tuổi tình yêu trong yêu” (Hoàng Xuân Độ),thế mà tác giả lại bảo “Đến tình yêu cũng có thể già” là cớ làm sao? Cái gì rồi cũng sẽ bị lão hoá, mà bản chất của lão hoá là sự đào thải. Kết thúc của quá trình đào thải là cái chết. Theo tác giả thì tình yêu cũng không là ngoại lệ, nhưng ông hóm ở chỗ đã chen vào câu thơ hai chữ “có thể”! Nghĩa là có thể già hoặc có thể không già. Vậy tình yêu nào sẽ già, còn tình yêu nào thì không? Tình yêu của hai vợ chồng ư? Xin thưa, ngạn ngữ phương Đông có câu “Vợ chồng yêu nhau 3 tháng, thương nhau 3 năm và chịu đựng nhau suốt đời!”. Như thế, sau 3 tháng thì tình yêu vợ chồng “hấp hối” và sau 3 năm thì “chết thẳng cẳng”! Tất nhiên là có ngoại lệ (bởi chuyện gì mà chẳng có ngoại lệ), trăm năm “chưa chết”, nhưng đã là ngoại lệ thì cực hiếm! Tôi đoán rằng chỉ có tình yêu cái đẹp là bất tử mà thôi! Bằng chứng thì nhiều lắm, xin miễn liệt kê chỉ tổ làm mất thời giờ của độc giả.
Hai câu thơ cuối thì vui, lạc quan, nhưng hơi bị… ảo tưởng! Khi kêu gọi “Ta hãy sống vô tư như trẻ nhỏ” thì có lẽ tác giả cũng hồn nhiên tin rằng đó là phép giải thoát tối ưu cho chứng nan y “vỗ ngực tự cho mình là cái rốn của vũ trụ”? Nhưng làm cách nào để “vô tư như trẻ nhỏ” được? Cái “vô tư” tự nhiên nhi nhiên trong ta thì đã bị đào sâu chôn chặt từ đời tám hoánh rồi, không thể dựng dậy cái thây ma ấy trong một con người đã già nua, meo mốc; mà nói như một câu tục ngữ của người Việt thì “Già sinh tật, đất sinh cỏ”!  
Nếu (vâng, nếu trái đất bằng quả cam thì ta có thể bỏ vào túi áo) vô tư được thì ước mơ “lối ngõ nở đầy hoa” sẽ trở thành hiện thực nhỡn tiền, thế thì trên cả tuyệt vời rồi còn gì? Và, xin hãy cứ mơ đi, ai cấm được ta, nhỉ?!
 Thạch Bàn, 23.3.2014. HD

Phần nhận xét hiển thị trên trang