Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2014

Nơi ấy quê nhà:

Núi Tản Viên – đại long mạch của nước Việt

Theo sách “ Bắc – Thành Địa dư chí” của Lê Đại Cương chép : “ Núi này ở huyện Bất Bạt, phủ Quảng Oai (nay là huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây). Hình núi tròn như cái tán nên gọi là Tản Viên, rộng rãi bao la, đứng cao hùng vĩ, làm trấn sơn cho cả nước, cao 2.310 trượng, chu vi 18.605 trượng, hướng tây có Đà Giang chảy quanh theo, rừng cây rậm rạp, cảnh trí đẹp”. Tại Đền Và ( Đông Cung) thờ Thánh Tản Viên (Sơn Tinh) có đôi câu đối như sau:
nui tan vienChâu hình đẩu tiễn thiên hoành không
Hạo khí quan mang vạn cổ tồn
Có nghĩa là:
Dáng hình sừng sừng ngang trời rộng
Hạo khí mênh mang vạn thuở còn.
Dưới triều Nguyễn, năm Bính Thân, Minh mạng thứ 17 (1836) đúc “ Cửu Đỉnh” biểu tượng cho uy thế và sự bền vững của nhà Nguyễn. Minh Mạng còn cho chạm hình núi Tản Viên vào Thuần Đỉnh (cao 2,32m, nặng 1.950 kg) cùng với cửa Cần Giờ và sông Thạch Hãn. Đời Tự Đức năm thứ 3, Canh Tuất (1850) liệt Tản Viên vào hàng những núi hùng vĩ, giang sơn của đất nước và được ghi chép vào Tự điển để cúng tế hàng năm. 
Núi Ba Vì còn chiếm một vị trí quan trọng, không những về mặt địa lý mà còn có địa vị độc tôn trong tâm linh người xưa như đỉnh Olympus (cao 2.917m) nơi ngự trị của chúa thần Deus (Dớt) của người Hi Lạp cổ. Trong sách “ Dư địa chí”, Nguyễn Trãi viết: “Núi ấy là núi tổ của nước ta đó”. 
Trong nhiều thế kỉ qua, nhiều sách vở, công trình nghiên cứu đã có một số kết luận về nền văn hóa dân gian xứ Đoài gắn với truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh liên quan đến núi Ba Vì.
Nhất cao là núi Ba Vì
Thứ ba Tam Đảo, thứ nhì Độc Tôn.
Sự thực núi Ba Vì chỉ cao 1.296m, núi Tam Đảo lại cao đến 1.581m, nhưng vì núi này là nơi ngự của Thần núi (thần Tản Viên), nên được nhân dân tôn vinh thành ngọn núi cao nhất, thiêng liêng nhất. Núi cao ở đây là cao trong tâm thức, không phải độ cao thấp đơn thuần về mặt địa lý. Truyền thuyết còn kể lại rằng núi Ba Vì là do Sơn Tinh dùng sách ước nâng núi lên cao, để ngăn nước lũ chống Thủy Tinh.
Nếu lấy núi Nghĩa Lĩnh (cố đô của nước Văn Lang thời tiền sử) làm tâm điểm thì núi Ba Vì và núi Tam Đảo là hai điểm đối xứng tạo thành “Thế tay ngai” trong luật phong thủy do triều đại Vua Hùng tạo lập. 
Xứ Đoài đã ôm cả ba dòng sông lớn: Sông Đà, sông Thao, sông Lô. Ngã ba Bạch Hạc là nơi hợp thành của ba dòng sông ấy để rồi tụ thủy ở đầu sông Cái (sông Hồng) tạo dựng thành vùng châu thổ trù phú của đồng bằng Bắc Bộ ngày nay. 
Núi Ba Vì không chỉ là ngọn núi huyền thoại về Sơn Tinh – Thủy Tinh mà còn là ngọn núi linh của xứ Đoài. Vua nhà Đường (Trung Quốc) đã coi núi Ba Vì như một đầu rồng hùng mạnh, còn thân rồng chạy suốt tời phương Nam (dãy Trường Sơn ngày nay). Để nước Nam không thể phát Vương, vua Đường đã cử Cao Biền (vị tướng kiêm phù thủy) dùng pháp thuật cho đào một trăm cái giếng xung quanh chân núi Ba Vì để trấn yểm tà triệt long mạch nước ta. Nhưng cứ đào gần xong giếng nào thì giếng đó lại bị sập, nên chúng đành phải bỏ cuộc bởi dãy núi thiêng – núi Tổ của nước Đại Việt. 
Những truyền thuyết dân gian về cuộc giao chiến giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh chứng tỏ tổ tiên ta đã bắt đầu cuộc trị thủy mở mang bờ cõi từ hạ lưu sông Đà, sông Tích để tạo ra một vùng núi Ba Vì trù phú như ngày nay.
Núi Ba Vì là ngọn núi thần kỳ, là một trong những ngọn núi cổ nhất của nước Đại Việt. Những phát hiện về khảo cổ học vùng văn hóa cổ Ba Vì đã chứng tỏ đây là một vùng truyền thuyết lớn phát triển sớm trong lịch sử hình thành dân tộc.
Hoàng Lạc /TĐC

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Một cái nhìn méo:

Văn học nghệ thuật hiện nay: tên lớn hơn tác phẩm!

Bài này lấy từ trang của GS Trần Hữu Dũng. GS bình luận: "Bài ngắn nhưng rất đúng!". Tôi không tán thành nhận định này. Đoán đây là bài viết của người thuộc chế độ Sài Gòn cũ, không biết gì về văn học ngoài Bắc hồi chiến tranh và văn học Việt Nam hiện nay, như tác giả viết "tôi không đọc họ, dù biết tên họ". Khi không đọc họ mà chê tác phẩm của họ, chê họ hèn, đánh mất cái giá trị của người nghệ sỹ... rồi từ đó chửi chế độ là không được, là hành vi vô văn hóa (xem câu cuối tác giả nói về chế độ toàn trị, nơi nhà cầm quyền nhìn đám “trí thức như cứt”)… Có lẽ bản thân GS Dũng cũng không thèm đọc những tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng, Phạm Tiến Duật, Lê Văn Thảo, Anh Đức, Hữu Thỉnh, Hồ Phương…, còn tôi thì đã đọc và dù có những chỗ chưa hài lòng (do hoàn cảnh lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ họ cần phải viết vậy) nhưng rất khâm phục các nhà văn này; nhiều tác phẩm về chiến tranh chống ngoại xâm, về xây dựng xã hội mới, về tình người... của họ xứng đáng lưu truyền mãi mãi.
Văn học nghệ thuật tại Việt Nam hiện nay: tên lớn hơn tác phẩm!
Lẽ thường tình nghệ sỹ được lưu danh chính từ tác phẩm của họ, nhiều khi chúng ta nhớ tên tác phẩm, còn tên tác giả chúng ta… quên mất. Thế nhưng oái ăm thay tại Việt Nam hiện nay điều này hoàn toàn ngược lại.
Nếu chúng ta tò mò, muốn biết tên các nghệ sỹ Việt Nam được chế độ tôn xưng là bậc nhất, bằng cách vinh danh họ với giải thưởng Hồ Chí Minh (giải cao nhất hiện nay tại Việt Nam) và xin cho tôi biết bạn yêu thích, đã và đang đọc sách, mê thơ, mê phim, mê kịch, mê tuồng… của các vị này như thế nào, ngoài cái tên tác phẩm họ đã chinh phục bạn ra sao? Tôi thì nói thật, hoàn toàn không một chút thiên kiến nào về chính trị, nhưng tác phẩm của những Nguyễn Quang Sáng, Phạm Tiến Duật, Lê Văn Thảo, Anh Đức, Hữu Thỉnh, Hồ Phương… không gợi lên cho tôi một cảm xúc nhân văn hay thẩm mỹ nào từ dòng đầu tiên, và tôi không đọc họ, dù biết tên họ.

Với các tác giả đã ghi tên vào nền văn học Việt Nam trước năm 1945 và trước năm 1975 (nếu ở miền Nam) thì cái qui luật tác phẩm- tác giả lại đúng với lẽ thường nói trên. 

Chúng ta nói đến Huy Cận sẽ nhớ ngay đến Lửa Thiêng hay các bài thơ lừng danh khác của ông, nói đến Chế Lan Viên chúng ta nhớ Điêu Tàn, Xuân Diệu nhớ đến Gửi Hương Cho Gió, nhắc Nguyễn Tuân nhớ Vang Bóng Một Thời…, dù những nhà thơ, nhà văn đó được giải cao nhất của nhà nước này với những “tác phẩm” mà giờ đây chẳng ai thèm đọc, chẳng ai nhớ tên!

Còn tại miền Nam trước năm 1975 tác phẩm khẳng định tên tuổi nghệ sỹ là đương nhiên, bởi trong một môi trường cạnh tranh bằng tự do sáng tạo, chỉ có tác phẩm mới giúp người nghệ sỹ thành danh, điều này giải thích vì sao hiện nay vẫn còn rất nhiều người tìm đọc tác phẩm của Võ Phiến, Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Bình Nguyên Lộc…; vẫn nghe nhạc Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Trúc Phương…, thậm chí những tác phẩm của Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Vũ Khắc Khoan, Hồ Biều Chánh… từ trước năm 1945 vẫn còn được tìm đọc, dù với góc nhìn hiện tại, các tác phẩm đó lỗi thời về mọi phương diện!

Đẩy tên tác giả lớn gấp nhiều lần tác phẩm là một đường lối tuyên truyền hẳn hoi của một chế độ toàn trị, nơi nhà cầm quyền nhìn đám “trí thức (bao hàm cả văn nghệ sỹ) như cứt” nhưng vẫn muốn họ cúc cung làm nô bộc, nên thí cho cái danh, một ít lợi lộc… nhằm làm cho họ ngày càng hèn hơn, tự thỏa mãn với cái danh hão của mình. Mà một kẻ đã hèn, tất sẽ chỉ viết những lời tụng ca cho chủ của mình, tự đánh mất cái giá trị của người nghệ sỹ!

NGUYỄN ĐÌNH BỔN
Dân News 20-4-14

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHÀ VĂN VIỆT NAM CÓ NÊN ẢO TƯỞNG QUÁ VỀ HẬU HIỆN ĐẠI



Nguyễn Hoàng Đức
Mới đây ngoài dăm bài tiểu luận, đặc biệt nhiều hơn trong sáng tác văn thơ, văn học Việt Nam rộ lên khá ồn ào cái gọi là “văn chương Hậu hiện đại”, điều này làm cho khá nhiều nhà văn, nhà thơ sền sệt chân đất, đặc biệt là các nhà văn, nhà thơ trẻ dù chưa một lần ra thông điệp hay bàn luận về Hậu hiện đại dưng dưng tự đắc chắc mẩm ta đang dùng bút pháp Hậu hiện đại, cho dù đó chỉ là văn học “ăn nhanh” lắp ghép vội vàng nơi chờ tầu xe, viết trên bàn phím laptop hay điện thoại. Chúng ta thử đặt và trả lời câu hỏi dựa trên những gì chắc chắn nhất: liệu người Việt nói riêng, người châu Á nói chung có thể tạng phù hợp với tư tưởng hay trường phái cách tân không?

- Theo các chuyên gia:  Tất cả những giải Nobel  giành cho văn học Á, Phi dù hay cỡ nào nhưng chúng không thể mang tính chất tiền phong, chúng chỉ hay theo tư chất mặt trận, bởi lẽ nếu xét đúng ra giải Nobel năm nào cũng rơi vào người Âu Mỹ cả. Để minh định xin đưa ra một so sánh, một nhà phê bình văn học lớn của Trung Quốc nói: Một nhà văn trung bình của phương Tây đã sẵn sàng chết để bảo vệ những  ý tưởng của mình. Nhưng tất cả các nhà văn Trung Quốc chưa ai dám chết cho ý tưởng của mình.
- Tại các hội nghị quốc tế về bất cứ đề tài nào, những phát biểu của các nước Á châu thường rất xáo và cũ thiếu hẳn tính tiền phong, bởi vì đó thường là những ý kiến nước đôi, đi tìm giải pháp kiện toàn, A cũng không tốt, B cũng chẳng hay, thế là cái máy bay vừa A lẫn B, cũng có nghĩa là vừa bay vừa đứng.
- Đức Khổng Tử người vĩ đại bậc nhất Trung Quốc nói, “tôi” không phải là người sáng tạo mà chỉ là người “thuật nhi bất tác”, tức chép lại chứ không sáng tác.
- Lãnh tụ lý thuyết Tôn Trung Sơn nói: Xưa nay Trung Quốc chưa hề có các cuộc chiến tranh vì tư tưởng, tự do, hay tôn giáo, mà chỉ có các cuộc chiến giành đất, ngai báu và đàn bà.
-Hai giải Nobel văn học của Trung Quốc, Cao Hành Kiện với “Linh Sơn”, là một thứ văn viết khéo nhưng tư tưởng nhợt nhạt theo lối “văn du lịch”, mà theo triết gia Hegel thì, trí tuệ du lịch là trí tuệ thấp nhất, người Việt cũng gọi thứ trí tuệ này là “cưỡi ngựa xem hoa”. Giải Nobel cho Mặc Ngôn với tác phẩm “Phong nhũ phì đồn” cũng chỉ là một thứ chủ nghĩa thế tục xum xuê dục vọng chưa thể vươn lên lý tưởng siêu hình.
-Nhà văn Nhật Bản Kenzaburo Oe đoạt giải Nobel 1994 thú nhận: “… Trong con mắt của người châu Âu, châu Mỹ, giá trị của chúng ta vẫn bị thờ ơ… người phương Tây chẳng khao khát tìm đọc những con người sản xuất xe Honda nhiều lắm” ( New Yorker 2/1995).
..................................................................................
- Tổng thống Ngô Đình Diệm Tây học rất nghiêm chỉnh nhưng khi vào “thiết triều” nền Cộng Hòa vẫn đóng khăn the áo xếp, đúng là cách “bánh trưng lại gạo”.
- Nhà triết học Trần Đức Thảo được gọi là triết học Mac-xit, như thế có khác nào nền “âm nhạc Quan Họ”, nghĩa là đó chỉ là triết học cục bộ mà không phải triết học toàn thể. Mới đây qua một cuộc hội thảo lớn, hầu hết các chuyên gia đã gọi ông là “thần đồng triết học” chứ không phải “thiên tài triết học”. Có thể ví ông là măng triết học lớn lên thành tre, nhưng không thành lim, sến, táu được. Càng không bao giờ trở thành cây thông để vi vu những hòa âm.
Dẫn ra một số điểm như vậy, đã thừa sức chứng tỏ, sức vóc và thể tạng của người châu Á cho dù cả Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản vẫn còn quá yếu, chưa nói đến lúa nước bì bõm Việt Nam. Trong gỗ, trong đá của châu Á khi gõ lên chỉ có 5 âm, gọi là ngũ cung, trong khi đó mọi thứ của Âu Mỹ gõ lên có 7 âm, lại thêm người ta sáng tạo ra 5 nốt bán âm khác, tổng cộng là 12 âm. Phong phú hơn gấp đôi châu Á. Vế sức của đất, Việt Nam chỉ có đá vôi, một chút đá Granit non, trong khi đó châu Âu có rất nhiều đá Granit già.
Người Việt do sức vóc lý trí và tư tưởng yếu nên khó mà hợp thể tạng với cái gọi là tư tưởng hay chủ thuyết. Ở Việt Nam có rất nhiều học viện hay trung tâm truyền bá chủ nghĩa Mác hay Duy vật, nhưng nói chung có mấy người hiểu nó cách đầy đủ toàn vẹn đâu. Vậy thì làm sao  mới bập vào Hậu hiện đại đã sáng tác về Hậu hiện đại rầm rộ như vậy? Mà những người bập vào đó là ai? Hầu hết là mấy ông quê mùa ẻo lả làm mấy vần thơ tì tõm, nếu có viết văn xuôi thì cũng chỉ là thứ truyện ngắn na ná tản văn. Cụ thể hơn, đa số là những người còn mang nặng tâm hồn cải lương, tuồng, chèo, í ì i dề dà. Cụ thể hơn, thấy có người viết thơ văn xuôi, thì vô số học đòi theo. Nhưng thơ văn xuôi với thủ lĩnh hàng đầu là Tsvetaeva, với chủ đích là người ta dùng nó để thông điệp trực tiếp về tư tưởng, vậy mà các nhà thơ Việt đâu có tư tưởng gì để muốn phản ánh trực tiếp qua văn xuôi, thành ra thơ văn xuôi của họ chỉ là thứ thơ nối liền không chịu xuống dòng.
Muốn có chủ nghĩa hậu hiện đại thì ít nhất nó đòi hỏi con người hậu hiện đại. Để hiểu tôn giáo là gì chỉ mất 10 giây, đó là Hãy tin vào Đấng sáng tạo. Nhưng để sống với nó và trong nó một đời không hết. Người Trung Quốc có câu: “Học cái hay một đời không đủ, học cái dở một ngày là thừa”. Học điệu van chát – bùm – bùm chỉ trong 5 giây, nhưng để nhảy thành thạo cả năm chưa đủ. Một nền lý thuyết không bao giờ hình thành nếu chưa được người ta tranh luận. Chủ nghĩa Lãng mạn ở châu Âu rất dễ hiểu, nó chỉ là thay thế cái Tam Nhất của kịch cổ điển là “tại một địa điểm, trong một thời gian, một sự việc xảy ra” thành kịch tự do, xảy ra tại vô số thời gian và địa điểm cùng nhiều hiện tượng, vậy mà người ta tranh cãi về nó rất nhiều không thể ngã ngũ, nhưng cho đến nay vẫn được xem là kiểu mẫu hạt nhân điển hình làm men cho những trào lưu tư tưởng về sau. Ở Việt Nam, chúng ta đã dấy lên cuộc tranh luận nào vậy mà như mặc định mình sáng tác theo Hậu hiện đại? Đặc biệt có cả nhà văn nhà thơ nổi tiếng rút cục lại quay sang viết kịch chèo, vậy thì anh đã từng hậu hiện đại cái gì, để nhà phê bình kia cũng như nhiều người khoác lên vai anh ta?
Các lý thuyết thường bao gồm: 1- lý thuyết dẫn đến thực hành, 2- lý thuyết thuần túy giành cho phát triển nhận thức, 3- lý thuyết giành cho sinh hoạt, 4- lý thuyết có tính chất tu từ pháp để phản tỉnh.
Khi triết gia Nietzsche nói “Thượng Đế đã chết”, thì đó không phải mệnh đề triết học, cũng không phải tôn giáo, cũng không phải thần học hay đạo đức học, mà nó chỉ đơn thuần là tu từ pháp. Tương tự, nếu người ta nói “con người là thứ đáng thất vọng nhất”, thì cũng chỉ là tu từ pháp, vì con người nếu đúng vậy, thì cũng chưa có thứ con vật nào có thể thay thế con người. Câu nói đó chỉ là tu từ mong phản tỉnh con ngươi. Tương tự, người ta nói “tiểu thuyết đã chết” nhưng cho đến nay, tiểu thuyết vẫn là loại hình văn học đồ sộ và được ưa chuộng nhất. Rồi còn phản lý trí, phản lô gic cũng mang nhiều bóng dáng của tu từ pháp. Chủ nghĩa Hậu hiện đại, khi nói “giải trung tâm”, hay “giải châu Âu” thì cũng mang nhiều bóng dáng của tu từ pháp. Trên thực tế hiện nay, châu Âu cùng tiêu chuẩn châu Âu vẫn là một hạt nhan của văn minh nhân loại. Và nhà văn trên khắp thế giới đều muốn đến châu Âu để nhận giải Nobel, mà chẳng muốn đến đâu để nhận các giải sắc tộc cục bộ, thiếu tính phổ quát.
Để kết thúc tiểu luận, tôi xin kể một câu chuyện thực. Một lần giáo sư Trần Đình Sử cùng một số nhà thơ và tôi, được mời đến dự tân gia của một nhà thơ rất nổi tiếng. Mọi người ngồi uống nước bên bộ xa lông mây. GS Trần Đình Sử bỗng chỉ vào mọi người nói: “Hãy xem tất cả chúng ta dù đã đi Tây học đều co chân ngồi trên xa lông như ngồi phản, chỉ có một chàng kia vẫn ngồi bình thường”.
Tôi rất nể phục sự phản tỉnh trực tiếp của giáo sư. Theo tướng học thì, cái thể tạng của người Việt vì thân hàn cốt nhược nên ngồi đâu cũng co lại cho nó ấm. Một thể tạng như thế thì làm sao có thể tiền phong về lý thuyết được. Chính thế mà mong các nhà văn, nhà thơ Việt hãy nghiêm túc nhìn nhận mình xem đã đủ tầm vóc để gánh mang sứ mệnh của lý thuyết chưa? Có một tác giả mới viết, một nước nông nghiệp không thể nào tiến tới giầu mạnh hùng cường được, vậy bạn có nghĩ rằng, một tư duy nông nghiệp bỗng giật mình ăn may trở thành đầu lĩnh lý thuyết ư? Và cũng nên nhớ một phương ngôn “kẻ đi tiên phong bao giờ cũng bị hy sinh”. Bạn có giống cái quẩy tẩm nước đường êm ấm trong hệ bao cấp không, nếu vậy thì tiền phong và hy sinh làm sao được?
NHĐ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Số phận Dương Chí Dũng ra sao sau khi Tướng Ngọ qua đời?


N Đ T - Liệu số phận Dương Chí Dũng được định đoạt ra sao trong phiên toà phúc thẩm theo lịch sẽ diễn ra vào ngày 22/4 tới, khi mà sau phiên toà xét xử Dương Tự Trọng và đồng phạm với lời khai chấn động của Dương Chí Dũng, đã xảy ra một số sự kiện gây chú ý dư luận.

Theo lịch, ngày 22/4 tới đây, tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) tại Hà Nội sẽ tiến hành xét xử vụ án Dương Chí Dũng và đồng phạm. Trước đó, "cựu chủ tịch" Vinalines cùng đồng phạm bị truy tố 2 tội danh "Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng" và "Tham ô tài sản".

Theo bản án của TAND TP. Hà Nội, trong vụ án này, Dương Chí Dũng có vai trò chủ mưu trong việc mua ụ nổi 83M gây thiệt hại 367 tỷ đồng và tham ô 1,666 triệu USD. Trong đó, Dương Chí Dũng và Mai Văn Phúc (nguyên Tổng Giám đốc Vinalines) được chia mỗi người 10 tỷ đồng. HĐXX sơ thẩm đã tuyên phạt Dương Chí Dũng án tử hình về tội "Tham ô tài sản", 18 năm tù về tội "Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng"; tổng hợp hình phạt là tử hình. Mai Văn Phúc cũng bị tuyên án tử hình cho cả 2 tội trên.

Lời khai mang tính "chiến thuật"?

Có thể thấy, tại phiên tòa sơ thẩm, Dương Chí Dũng liên tục kêu oan. Dù đứng trước mức án cao như vậy nhưng ông Dũng tỏ ra rất bình tĩnh và thái độ không giống với những bị cáo bị tuyên án tử hình. Một số ý kiến cho rằng, liệu điều đó có phải là do sự tỉnh táo hay khôn ngoan đối đáp trước cơ quan pháp luật của vị "cựu chủ tịch"? Liệu việc khai báo có mang tính "chiến thuật", trước phiên tòa xét xử mình thì không khai việc "chạy tội", chờ bản án, rồi đến phiên tòa xét xử em trai Dương Tự Trọng thì khai rất nhiều, liên quan đến việc đưa tiền cho một cán bộ cao cấp ở Bộ Công an để lo lót "chạy tội"?

Trước ngày xét xử phúc thẩm vụ án Dương Chí Dũng và đồng phạm, PV đã có cuộc trao đổi với luật sư Trần Đình Triển (một trong ba luật sư bào chữa cho Dương Chí Dũng). Luật sư Triển cho biết: "Trong buổi làm việc gần đây, thân chủ của tôi vẫn bày tỏ những quan điểm giống như từ trước đến nay về vấn đề mà anh Dũng khai về việc người "mật báo" cho anh biết và đề nghị anh trốn đi một thời gian. Việc này anh Dũng cũng đã khai lại với cơ quan có thẩm quyền trong các buổi làm việc sau khi tham dự phiên tòa xét xử Dương Tự Trọng và đồng phạm".

Những lời khai của Dương Chí Dũng trước phiên tòa rất nhạy cảm, rất nghiêm trọng nhưng lại không nhất quán, thay đổi nhiều lần. Vì vậy, dư luận cho rằng, cần xem xét lại lời khai, điều tra triệt để những lời khai trên để làm rõ đúng - sai, lý do hay động cơ gì mà Dương Chí Dũng lại thay đổi? Vì sao ông Dũng phải chờ đến phiên tòa xét xử em trai mình mới khai ra nhiều điều "bí mật" như thế, liệu có dụng ý gì không? Theo một chuyên gia pháp lý, tuy đó là vụ án khác nhưng ông Dũng hoàn toàn có thể tố giác ngay trong vụ án của mình. Vấn đề "đưa tiền" liên quan trực tiếp đến việc "chạy tội" chứ không liên quan trực tiếp đến việc bỏ trốn, tại sao ông Dũng không khai ở thời điểm diễn ra phiên tòa sơ thẩm xét xử mình? Liệu ông Dũng có "chiến thuật" hay "trông chờ" gì không?

Đến thời điểm này, cả bị cáo Dương Chí Dũng và Mai Văn Phúc, vẫn không thừa nhận hành vi tham ô. Đồng thời, hai bị cáo này tiếp tục đề nghị được làm rõ về lời khai của bị cáo Trần Hải Sơn, nguyên Giám đốc Công ty TNHH Sửa chữa tàu biển Vinalines, thành viên Đoàn khảo sát ụ nổi 83M tại Nga, về việc đưa cho Dũng và Phúc mỗi người 10 tỷ đồng khoản “lại quả” sau khi Vinalines mua ụ nổi 83M với giá 9 triệu USD.

Trước án tử của Dương Chí Dũng và Mai Văn Phúc, nhiều ý kiến luật sư cho rằng, căn cứ vào hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2001 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, các bị cáo hoặc gia đình bị cáo bồi thường cho Nhà nước một phần khoản tiền mà Nhà nước bị thiệt hại, đồng thời phải thành khẩn nhận tội thì “có thể không xử phạt tử hình”.

Về thông tin này, luật sư Trần Đình Triển đã nói rõ trên báo Đất Việt: "Nghị định 01 cũng nằm trong Điều 46 của Bộ luật Hình sự, có nghĩa nếu họ khắc phục hậu quả thì được hưởng tình tiết giảm nhẹ. Nhưng ở đây giảm nhẹ cái gì, ông Dũng có xin giảm nhẹ đâu, vì ông Dũng khẳng định mình không phạm tội tham ô, trong khi đó tội tham ô là mức án tử hình". Ông Triển nhấn mạnh rất nhiều lần rằng: ông Dũng khẳng định mình không phạm tội thì bồi thường cái gì? Dựa vào điều đó làm gì?.

Còn theo quan điểm của Luật sư Nguyễn Hoàng Tiến, Ủy viên Hội đồng Khen thưởng Kỷ luật (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết: Nghị quyết 01/2001 của Tòa án Tối cao về việc bồi thường thiệt hại đến nay vẫn có giá trị thực hiện. Do vậy, việc áp dụng theo Nghị quyết này đối với vụ án Dương chí Dũng cũng hoàn toàn hợp lý.

Luật sư Tiến cũng chỉ rõ rằng, việc gia đình ông Dương Chí Dũng cũng như bản thân ông Dũng cần phải nhận thấy cái sai của mình và tích cực thực hiện việc bồi thường ngân sách đã tham ô của Nhà nước. Theo đó, căn cứ vào Nghị quyết 01/2001 của Tòa án Tối cao và Điểm b Khoản 1 của Điều 46 Bộ luật hình sự thì đương nhiên Dương Chí Dũng phải được giảm mức án tử hình của tội tham ô xuống mức chung thân.

Sẽ có một phiên toà đầy kịch tích?

Trao đổi với PV, luật sư Trần Đình Triển cho biết: "Về hành vi liên quan đến tham ô, anh Dũng cũng đề nghị ông Goh (Goh Hoon Seow, Giám đốc công ty AP, Nga - PV) cũng phải có ý kiến. Ngay bản thân ông Goh cũng không thừa nhận là có liên hệ với anh Dũng. Điều nữa là, phải làm rõ việc phía Nga, ai là người thương thảo liên quan đến 1,666 triệu USD. Anh Dũng cho rằng anh ấy không hề biết về số tiền 1,666 triệu USD và không được hưởng phần nào trong số tiền này. Tòa cần làm rõ lời khai của ông Sơn bởi, trong lời khai của ông này có rất nhiều mâu thuẫn trong việc nhận tiền và đưa tiền. Tại tòa, ông Sơn khai không có liên lạc gì với phía Nga và ông Goh, nhưng trên thực tế, đã có nhiều cuộc gặp thông qua người phiên dịch là ông Quang. Cần làm rõ việc gặp đó, nội dung thỏa thuận những gì...".

Trước đó, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Hải Sơn khai, Sơn là người được "uỷ quyền" đứng ra nhận số tiền "lại quả" 1,666 triệu USD từ việc mua ụ nổi M83. Số tiền này đã được chuyển về Việt Nam thông qua tài khoản của Công ty Phú Hà (do em gái Sơn làm chủ). Sau khi nhận được tiền, Sơn đã chuyển cho bị cáo Dũng và Phúc mỗi người 10 tỷ đồng, đưa cho Trần Hữu Chiều, Phó Tổng Giám đốc Vinalines 340 triệu đồng… Sơn cho biết đã đưa tiền cho bị cáo Dũng 2 lần, tổng cộng 10 tỷ đồng. Đối với bị cáo Phúc, Sơn khai đưa ba lần, tổng cộng 10 tỉ đồng; trong đó có lần Sơn đưa 2,5 tỷ tại nhà của Phúc tại huyện An Dương, Hải Phòng.

Theo luật sư Trần Đình Triển, tại phiên toà xét xử sơ thẩm Dương Chí Dũng và đồng phạm, toà mới chỉ căn cứ vào các lời khai của các cấp dưới của ông Dũng. Tại sao tòa không thực hiện thu thập chứng cứ ở các đối tác của Vinalines ở Nga và Singapore. Việt Nam với Nga, với Singapore đều đã ký văn bản tương trợ tư pháp về mặt hình sự. Phải có trả lời từ các đối tác của Vinalines ở nước ngoài thì mới đủ bằng chứng để xử nghiêm minh và đúng người đúng tội.

Theo tin tức trên báo pháp luật Việt Nam, trước phiên tòa phúc thẩm, bà Ngô Thị Vân, vợ bị cáo Mai Văn Phúc, đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án, đã có đơn gửi đến Tòa và một số cơ quan “xin cứu xét” cho chồng. Bà Vân cho rằng, việc quy kết bị cáo Phúc nhận 10 tỷ chỉ căn cứ vào lời khai của bị cáo Sơn và lời khai của anh chị em Sơn là chưa thỏa đáng và cần xem xét lại động cơ khai báo này.

Về chi tiết Sơn khai “mang va ly đựng 5 tỷ đến nhà bị cáo Phúc nhưng Phúc không có nhà, chỉ có một người phụ nữ ra mở cửa. Sơn ngồi đợi ở phòng khách khoảng 45 phút thì Phúc về cùng một người khách…”, bà Vân đã “xin cho đối chất” với bị cáo Sơn và đề nghị làm rõ “người phụ nữ ấy là ai”.

Ngoài ra, bà Vân còn khẳng định, dịp gần Tết âm lịch 2008, nhà bà không có giỗ hay sinh nhật nào cả. Trong khi đó, theo lời khai của bị cáo Sơn thì hôm Sơn mang 2,5 tỷ đến nhà bị cáo Phúc tại xã An Hồng, huyện An Dương, Hải Phòng thì nhà Phúc có rất đông người, có thể đó là đám giỗ hoặc mừng thọ.

Theo thông tin PV cập nhật được, phần còn lại liên quan đến sai phạm của Dương Chí Dũng đối với dự án đóng tàu trong việc mua ụ nổi, còn một mảng nữa là mảng chi cho các nhà môi giới khoản tiền rất lớn, hơn 4,3 triệu USD. Hoặc các vấn đề khác tại Vinalines chưa được điều tra, làm rõ trong vụ án này như quản lý, khai thác cảng biển, đầu tư ngoài... Cơ quan điều tra của Bộ Công an vẫn tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ khởi tố, điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

T.N (tổng hợp)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

85 người giàu nhất có tài sản bằng nửa dân số thế giới



Theo báo cáo mới được công bố thì 85 người giàu nhất trên thế giới có tổng tài sản gần bằng một nửa dân số trên toàn cầu. Báo cáo nhấn mạnh sự bất bình đẳng ngày càng gia tăng, nhân dịp các nhà lãnh đạo chính trị và kinh doanh tập hợp ở Diễn đàn Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) chuẩn bị diễn ra tại Davos (Thụy Sĩ).
Báo cáo của nhóm thiện nguyện Anh Oxfam International cho thấy, 1% những người giàu nhất thế giới sở hữu 46% tổng tài sản toàn cầu. Nghiên cứu cho thấy 1% những người giàu nhất có tổng tài sản 110 nghìn tỉ USD, gấp 65 lần tổng tài sản của toàn bộ nửa dân số nghèo hơn trên thế giới.

Nửa dân số nghèo hơn trên thế giới có tài sản 1,7 nghìn tỉ USD, tương đương 0,7% tổng tài sản toàn cầu. Chỉ 85 người giàu nhất đã có tổng tài sản là 1,7 nghìn tỉ USD, theo báo cáo. Những phát hiện này làm xói mòn các giá trị dân chủ và khiến cuộc chiến chống đói nghèo thêm khó khăn, báo cáo cho biết.

“Thật đáng kinh ngạc là trong thế kỷ 21, một nửa dân số thế giới lại chỉ có tài sản bằng một nhóm nhỏ ở trên đỉnh,” Winnie Byanyima, giám đốc điều hành Oxfam bình luận. “Bất bình đẳng gia tăng đang trở thành một vòng xoáy không lối thoát khi của cải và quyền lực ngày càng tập trung vào tay một số ít người, khiến phần còn lại phải ngoi ngóp ở dưới đáy”.

Trong một báo cáo tuần trước, WEF nói khoảng cách thu nhập gia tăng là rủi ro có thể gây ra những bất ổn lớn nhất trong thập kỷ tới. Tổng thống Mỹ Barack Obama mới đây đã nhận định khoảng cách giàu nghèo gia tăng là đe dọa lớn hơn với nền kinh tế Mỹ so với thâm hụt ngân sách.

Mỹ là nước đứng đầu trong việc tập trung của cải vào tay một số ít, theo Oxfam. Tỉ lệ thu nhập trong tay 1% những người giàu nhất nước Mỹ đã tăng gần 150% kể từ năm 1980. Nhóm nhỏ ở đỉnh đó đã nhận về 95% của cải tạo ra kể từ năm 2009, sau cuộc khủng hoảng tài chính, trong khi 90% người Mỹ ở dưới đáy đã nghèo hơn, theo Oxfam.

Tỉ lệ tài sản của 1% những người giàu nhất cũng tăng lên ở 24 trong số 26 nước được khảo sát trong bộ dữ liệu các nước có thu nhập hàng đầu trên thế giới. Điều đó dẫn tới “sự tập trung lớn các nguồn lực kinh tế vào tay một số ít người,” theo Oxfam.

Giảm thuế cho người giàu và các thiên đường trốn thuế ngày càng xuất hiện nhiều đã làm tăng bất bình đẳng trong thu nhập, báo cáo cho biết.

Những nhân vật tham gia WEF, đều là những nhà lãnh đạo hàng đầu thế giới, đã bày tỏ quyết tâm đảo ngược xu hướng này. Trong nhiều biện pháp, Oxfam đề xuất việc đánh thuế lũy tiến theo thu nhập, tấn công tình trạng trốn thuế, trả lương đủ sống cho người lao động và gia đình họ cũng như thúc đẩy các chính phủ “cung cấp bảo hiểm y tế, giáo dục và phúc lợi xã hội toàn diện” cho các công dân.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sự viết đến từ đâu? Câu trả lời của Gabriel Garcia Marquez


0415_Marquez
Gabriel José García Márquez (6 tháng 3 năm 1927 – 17 tháng 4 năm 2014)Gérard de Cortanz
Hoàng Hưng  lược dịch từ Le Figaro 18/4/2014. Tựa đề của người dịch.
 Một trong những nhà văn tiếng Tây Ban Nha lớn nhất, Nobel Văn học 1982, Gabriel Garcia Marquez đã từ trần ngày 17/4/2014, hưởng thọ 84 tuổi.

 Sự viết đến từ đâu? Mỗi nhà văn trả lời câu hỏi này theo lối riêng của mình. Gabriel Garcia Marquez thích nhắc đi nhắc lại rằng thiên hướng văn chương của mình chắc là có từ người cha, một người đọc sách nghiến ngấu, tay chơi violon cừ khôi, làm thơ tay ngang và nhân viên điện báo của làng Aracataca, một ngôi làng bé xíu ở cái vùng nóng thiêu ven biển Atlantique nước Colombia. 
Hãy thêm vào đó nỗi khiếp hãi bóng đêm từ thuở nhỏ, di truyền từ người bà xứ Galice (một địa phương ở phía tây bắc Tây Ban Nha – ND). Được ông bà nuôi dạy trong một ngôi nhà lạ lùng đến kỳ dị, rộng mênh mông, cậu bé Gabriel nhớ lại cả cuộc sống chịu hai nền giáo dục một lúc. Một từ người ông, đại diện cho sự an toàn tuyệt đối, ông có một chức vụ hành chính khiêm tốn trong văn phòng hội đồng thành phố, ông là ngưòi bạn thân thiết, người đồng hành, “nhân vật quan trọng nhất của đời tôi” như có ngày ông thú nhận… Bên kia là người bà không chịu ở yên, cáu kỉnh, bất thường, thường có ảo giác, đêm đêm nhón chân đi lại trong buồng cậu cháu để kể cho cậu nghe những chuyện kinh dị hết chuyện này sang chuyện khác. G.G. Marquez khăng khăng là mình chẳng bao giờ sáng tạo ra cái gì cả: “Tôi chỉ kể những gì tôi biết, về những người tôi đã thấy”.
Sinh ở Aracataca ngày 6 tháng 3 năm 1927, ông chẳng làm gì khác việc biến ngôi làng bé nhỏ của mình và dân làng thành một chốn huyền thoại, mà bây gờ cả thế giới biết đến với cái tên Macondo. Macondo ở khắp chốn mà cũng chẳng ở đâu hết. Một bên là những đụn cát và hồ đầm, bên kia là núi non; nó không có tên trên bất kỳ bản đồ nào nhưng lại giống Aracataca ở nhiều điểm: bị dày xéo qua những cuộc chiến kéo dài và đau thương, trú phú trong thời “sốt chuối”, bị tàn phá bởi những cuộc tranh chấp gia tộc lâu đời, bởi nạn cướp bóc, mưa, hạn; một ngôi làng trở về cát bụi mà trên đó vẫn còn bay lượn nỗi ám ảnh u ám của một tội lỗi tập thể không được giả trừ…
Sự viết đến từ đâu? Từ tuổi thơ, chắc chắn là thế. Nhưng cũng từ đời sống. Cuộc đời của G.G.M. đầy sóng gió, phức tạp, rắc rối như mê cung, kiệt lực vì lao động. Sau khi theo học ở nhà dòng Tên tại Bogota và Carthagène, G.G.M. làm nhiều nghề và đi qua nhiều xứ sở.
Phóng viên rồi BTV của tờ El Espectado, nhật báo có khuynh hướng tự do ở Bogota, ông là thông tín viên báo chí ở Rome rồi Paris, ở đó, vì không có tiền, ông sống trong một khách sạn u ám ở phố Cujas, giữa khu Latin mà không bao giờ trả được tiền nhà. Ở Mexico, ông kiếm sống bằng việc viết cốt truyện phim cho cái gọi là điện ảnh tiên phong, và mở ở Bogota một văn phòng cho hãng thông tấn Prensa latina của Cuba vào năm 1959, sau khi Fidel Castro vào La Havane. Kinh nghiệm sống rất cá nhân này làm nên tâm điểm của một tác phẩm ghi lại những suy tư triền miên về bí mật của quyền lực, về sự cô đơn và khốn khổ của con người. 
Khi G.G.M. trở về châu Mỹ, ông đối diện với sự rối loạn của văn chương Colombia. Kể từ José Eustasio Rivera, không một  nhà kể chuyện nào xác lập được tên tuổi và xã hội Colombia tù đọng trong chủ nghĩa bảo thủ và chủ nghĩa truyền thống. G.G.M. chính là người đem trở lại thứ văn chương cao quý cho tiểu thuyết Colombia. Từ 1955 đến 1962, ông xuất bản một loạt tác phẩm thành công: Lá giữa cuồng phong, Không có thư cho ngài đại tá, Lễ tang Bà Lớn, La Mala Hora. Tất cả đã chứa đựng mầm mống tạo thành phẩm chất nền tảng của thế giới văn chương rộng lớn của ông: một không khí huyền ảo xen lẫn với những khúc ca hiệp sĩ và những chuyện đồn thổi hàng ngày.
Từ lúc mới viết văn, G.G.M. không ngừng nhắc lại rằng mình muốn “đưa tất cả những gì mình biết vào một cuốn sách”. Một thời gian dài ông tưởng rằng cuốn sách ấy sẽ có tên là La Mala Hora, nhưng sau đó ông gọi nó là Trăm năm cô đơn. Xuất bản ở Pháp, trong sự thờ ơ của tất cả, cuốn sách đã đưa tác giả lên đến vinh quang tột đỉnh vào năm 1968.
Câu chuyện của đại tá Buendia, mà cũng là của cả dòng họ ông ta, kể từ lúc lập làng Macondo cho đến vụ tự tử của người cuối cùng của dòng họ Buendia vào 100 năm sau, thay đổi tận gốc cuộc đời của G.G.M., người đã thu hút vào mình cái được gọi là hiện tượng “giá lên như thổi” của văn chương Mỹ Latin.
Tác phẩm dày 20 tập này cuối cùng còn lại điều gì? Còn hai phương diện. Phương diện thứ nhất gắn với những con người, những chương hồi kỳ ảo: một phòng tranh chân dung, những không khí kỳ đặc. Một lão già có đôi cánh mênh mông, những đàn bà đàn ông cưỡi ngựa chạy quanh một quán nhạc trong một ngôi làng bị nhận chìm; Đức thánh Cha đi qua khu rừng trinh nguyên trên một con thuyền đen; bà cố chuyên chế, chủ một nhà thổ lưu động, buộc cháu gái mình làm đĩ; một cô nhân tình-trẻ con, bị giam trong một tu viện, yêu điên cuồng người trừ tà của mình… Đề tài thứ hai, là chính trị và sự dấn thân. Đại lộ Miguel Littin, Kẻ bí mật trở về Chili(1985) kể chuyện một đạo diễn Chili bị cấm cư trú trong nước, đã bí mật trở về và quay phim thực tế của đất nước dưới ách độc tài, quay tận cả trong phủ tổng thống. Nhật ký cuộc bắt cóc, kể lại vụ bắt cóc Maruja Pachon và tám nhân vật quan trọng do cánh vũ trang của tập đoàn Medellin năm 1990.
Trong mảng tác phẩm thứ hai này, G.G.M. tự hỏi về cái mà ông gọi là “sự hợp thức và hữu ích của sáng tạo trong đấu tranh chính trị”. Một câu hỏi lớn chưa có lời đáp…
Chính trong dòng suy tưởng này của ông mà ta phải định vị tình bạn lâu dài của tác giả với Fidel Castro, điều làm ông bị trách cứ rất nhiều và ông chỉ có được những lời giải thích ít thuyết phục. Trở thành đại sứ lưu động trong vùng Caribê, bạn của những người theo phong trào Sandino, Khôi nguyên Nobel văn học 1982 cuối cùng đã pha trộn chính trị với văn chương, và những cuốn sách cuối cùng của ông, bắt đầu bằng cuốn Hồi ức, đã khiến người ta không thể thất vọng hơn. G.G.M muốn thế giới trở thành xã hội chủ nghĩa, và nói thêm (vào 1982): “Tôi tin sớm muộn sẽ như thế”. Ông cũng nói: “ Tôi có những ý tưởng chính trị chắc chắn, nhưng ý tưởng văn chương của tôi thì thay đổi theo sự tiêu hoá của tôi”.
Chúng ta chắc sẽ ưa thích hơn lời tuyên bố sau đây của một nhà văn tiếng Tây Ban Nha khác, Jorge Luis Borges về tham vọng văn chương lón nhất của mình: “Viết một cuốn sách, một chương sách, một trang sách, một đoạn văn mà là tất cả cho tất cả mọi người”. G.G.M. hiển nhiên đã thực hiện lời mong cầu ấy với Trăm năm cô đơn. Còn với tất cả những cái còn lại, thì vinh quang rơi xuống đầu ông “như một điều không tìm kiếm và không ham muốn”, và những chiếc lá đề chính trị che mắt đã ngăn cản ông viết tác phẩm được mọi người mong chờ. 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Bòn nơi khố rách, đãi nơi quần hồng”

NGUYỄN ĐÌNH BỔN


“Bòn nơi khố rách, đãi nơi quần hồng” là câu nói của người dân để chỉ ra một thực trạng đau lòng từ thời phong kiến xa xưa khi mà bọn tham quan ô lại ra sức vơ vét của cải người dân rồi đem tiền đó cung phụng vào việc ăn chơi sa đọa, dâm ô của mình. Nó cũng còn một nghĩa khác đó là chính sách vơ vét bằng thuế khóa đối với người nghèo trong khi lại thực hiện những ưu đãi cho tầng lớp giàu có, thế lực.

Với nghĩa một, ngày nay, nước Việt của thế kỷ 21, nếu các quan tham xưa sống lại, hẳn há hốc mồm kinh ngạc trước trình độ ăn chơi của các trọc phú mới nổi, trong đó không hề thiếu bóng dáng các quan thời hiện đại. Ai cũng biết, cái dục vọng trong mỗi con người đều có, và chỉ có những ràng buộc đạo đức cùng với một nền pháp quyền minh bạch mới giúp chúng ta vượt qua những biểu hiện sai trái, vượt quá qui tắc đạo đức của con người. Với một số tham quan ngày nay nói về đạo đức vó vẻ hơi… xa xỉ, bởi ngay từ những bước hoạn lộ đầu tiên họ đã phải vượt qua nó, câu chuyện dùng những số tiền lớn để vào các ngành Hài quan, Hàng không… hay dùng tiền mua bằng giả để thăng tiến chứng minh rằng những con người ấy chỉ có một cách duy nhất: quên đi cả chữ Đạo lẫn chữ Đức!

Tất nhiên một khi đã ngồi vào những vị trí “đắc địa” thì số tiền đã chi phải được thu về bằng mọi cách, mọi thủ đoạn. Dù tham nhũng, nhận hối lộ, “cố ý làm trái”… hay gì đi nữa, suy cho cùng tiền vẫn là của nhân dân đóng góp vào ngân sách từ thuế và sức lực lao động của họ. Đất nước chúng ta là một nước nghèo nên cái giàu của quan chức vượt xa hàng trăm lần so với đồng lương được qui định có thể dễ thấy đó là do họ “bòn”từ nơi “khố rách” của tuyệt đại đa số dân nghèo. Chính đồng tiền đó là “tiền bẩn” chứ không phải của cha ông để lại hay mồ hôi, nước mắt, tài năng… làm ra nên họ đâu biết biết tiếc. Con cháu đã thành đạt tận trời Tây, quant ham vẫn cứ tiếp tục bòn, và bòn để tiếp tục chơi!

Những kẻ ngày hôm qua vừa ra trước vành móng ngựa là những ví dụ rõ ràng vì nó đã “lộ sáng”. Dương Chí Dũng bòn rút nhiều nhiều tỉ và đãi vào cái “quần hồng” xuất thân là một tiếp viên, nhưng ra tòa vẫn mặt trơ mày tráo cãi rằng đó là “bạn gái” trong khi ông at đã có gia đình vợ con đó thôi. Trước Dương Chí Dũng, thì một cái tay tên Dũng khác cũng là kẻ thích úp mặt vào quần hồng của gái từ đồng tiền bòn rút dân nghèo. Đó là Tổng GĐ PMU18 Bùi Tiến Dũng. Tay này chơi bời trác táng một cách bệnh hoạn và thường tổ chức những “bữa tiệc của quỷ” tại một nhà hàng sang trọng tại Hà Nội, với những món mà người dân lao động bình thường không thể tưởng tượng ra như “bia ngâm gái”. Nhưng cái cách chơi bệnh hoạn, tàn nhẫn, dâm ác này của Bùi Tiếng Dũng còn thua xa những quan lại Hà Giang ngày nào một bậc. Dũng dù sao cũng chơi gái nhà hàng, các cô dù cũng biết đau nhưng đã dày dạn phong trần. Tay chơi nguyên chủ tịch tỉnh Hà Giang tên Nguyễn Trường Tộ thông qua hiệu trưởng Sầm Đức Xương mới là kinh tởm: chỉ chơi nữ sinh còn đang học phổ thông. Khi Xương bị bắt, báo chí mới dám khui ra chuyện hắn ép buộc và dụ dổ các em nữ sinh là học trò mình để thỏa mãn dục vọng và dâng các em cho hầu hết các quan đầu ngành để kiếm chác, trong đó tay chủ tịch tỉnh là một tay chơi gái trinh vị thành niên khét tiếng. Vậy nhưng khi vụ án này bùng nổ, trong khi chỉ có Sầm Đức Xương đi tù cùng với các em vì phạm tội “môi giới mại dâm”, 14 người là các quan chức, trong đó có các quan chức cấp cao của địa phương này có hành vi mua dâm người chưa thành niên đều “không đủ cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự”.

Nhìn ra bên ngoài, chuyện đàn ông giàu có “mua vui” bằng xác thịt phụ nữ không hiếm, nhất là ở những nước chưa minh bạch về tài sản của quan chức mà Trung Quốc là một ví dụ. Đã có hằng loạt quan chức cao cấp nước này bị tống giam, thậm chí bị kêu án tử hình. Và khi bị “ngã ngựa”, báo chí cũng khui ra hằng loạt những ông quan “mặt sắt đen sì” nhưng lại toàn chơi gái nơi tửu điếm, lầu hồng! Liên quan đến các quan chức châu Á, trong vụ in tiền polymer mà Việt Nam là một trong những nước liên quan, mới đây tại Úc, đã có tám cựu lãnh đạo của hai công ty, Securency và Note Printing Australia, đang hầu tòa vì cáo buộc lập quỹ đen và chi hàng triệu đôla để có hợp đồng in tiền ở các nước châu Á, gồm cả Việt Nam. Một trong những nhân chứng này cũng đã tiết lộ một thông tin rất quan trọng. Đó là một trong những quản lý cao cấp nhất của Securency đã yêu cầu ông ta tìm gái mại dâm người châu Á cho Phó Thống đốc của một Ngân hàng Trung ương nước ngoài. Nhưng danh tánh của người này là ai, thì nhân chứng này không đề cập.

Ở ý nghĩa thứ hai, chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng sự phân biệt giàu- nghèo tại Việt Nam đã lên gần đỉnh điểm. Chỉ cần đến các khu công nghiệp, khu chế xuất, chứng kiến khẩu phần ăn của  công nhân tại đó chúng ta mới biết họ đã “khố rách: đến chừng nào. Mới đây nhất, đúng ngày Quốc tế phụ nữ 8/3, trong bữa ăn trưa, nhiều công nhân Công ty THHH Yak-Jin Sài Gòn (khu công nghiệp Bắc Đồng Phú, xã Tiến Hưng, thị xã Đồng Xoài, Bình Phước) phát hiện có dòi và trứng dòi trong lòng đỏ trứng gà (món gà kho tàu) làm hằng loạt công nhân kinh hoàng, bỏ bữa, ngất xỉu. Hay sau đó chục ngày, vào ngày 20-3, nhiều công nhân Công ty TNHH Oriental Garment An Giang (hay còn gọi là Công ty may mặc Thái Lan), thuộc Khu công nghiệp Bình Hòa, Châu Thành bất ngờ nôn mửa, ngất xỉu, tay chân co rút sau giờ ăn trưa vì thức ăn ôi thiu. Họ là ai? Họ là người đóng thuế! Còn nhớ vào tháng 9/2013, báo chí đã khui ra vụ  4 công ty công ích tại thành phố Hồ Chí Minh có đến 8 cá nhân gồm các giám đốc, chủ tịch nhận một mức lương khủng khiếp là 2,6 tỷ đồng/ năm, nghĩa là chênh lệch gấp nhiều nhiều lần người lao động trực tiếp, đó là một dạng của “bòn nơi khố rách đãi nơi lầu hồng” trong một xã hội mà chúng ta thường tự hào tất cả vì người lao động!

Ngay cả trong một lĩnh vực tác động trực tiếp đến đồng lương hằng ngày của người nghèo là ngành xăng dầu cũng vậy. Các công ty xăng dầu chưa bao giờ công bố những con số minh bạch. Ngày nay bất kỳ ai có mạng internet cũng dễ dàng tìm kiếm giá xăng dầu tại các nước trên thế giới để so sánh. Và chính vì cái giá cao luôn tăng nhiều hơn giảm của xăng dầu cùng với những ưu đãi giành cho nó, đã khiến người dân đăt câu hỏi rằng cơ chế điều hành này đang phục vụ cho ai? Câu trả lời tất nhiên không phải là người tiêu dùng!

Có rất nhiều ví dụ cho đề tài này. Thời gian qua, khi các phương tiện truyền thông liên tục đưa tin về nhà đất, tài sản khổng lồ của cac quan chức đã về hưu hoặc đang tại vị đã gặp những phản ứng bất mãn từ người dân. Không ai bắt buộc rằng quan chức không được giàu hơn dân, nhưng chính sự thiếu minh bạch về thu nhập thật và thu nhập công bố trên giấy tờ (lương một cán bộ không cao hơn một lao động bình thường nhiều lần) đã làm người dân tin chắc rằng họ có nhà to, đi xe hơi xịn, con học nước ngoài là do tham nhũng. Họ nỗi giận không phải họ ghét nhà giàu, mà họ nỗi giận bởi họ không biết tại sao cán bộ lại giàu. Trong khi đó, những cán bộ bị nêu tên, chỉ… tài sản lại lúng túng, đưa rra những lý do quá mơ hồ, thậm chí hoang tưởng như có “một ông anh” hay “một cô em giàu có” tặng tiền, tặng xe, tặng biệt thự!

Minh bạch. Đó chính là liều thuốc chính để trị nạn tham nhũng. Việt Nam luôn bị xếp cuối bậc về nạn tham nhũng theo cách xếp hạng của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency Int ernational) và được cho rằng nó đã gây thiệt hại cho nguồn ngân sách chính phủ, ước lượng trên 30% của đầu tư hạ tầng và những hệ lụy xã hội khác.

Tại các nước tiên tiến, người đứng đầu chính phủ như Tổng thống, Thủ tướng đến các quan chức cao cấp đều phải công khai toàn bộ tài sản của mình và bất kỳ người dân nào cũng biết rõ họ thu nhập và chi tiêu, đóng thuế… ra sao. Trong khi đó, trả lời trên các phương tiện truyền thông thời gian qua, có nhiều quan chức Việt Nam cho rằng tài sản (và cả  thu nhập) của họ là chuyện riêng, nếu có kê khai thì chỉ lãnh đạo cơ quan của họ được biết, nghĩa là người dân, dù mang tiếng là làm chủ, cũng không cần thiết tìm hiểu chuyện “nhạy cảm” này!

Chính trong bối cảnh xã hội này, khi mà đặc quyền đặc lợi vẫn là mảnh đất dung dưỡng cái xấu, người dân có quyền nhìn những cán bộ giàu có bằng ánh mắt giận dữ và câu nói “bòn nơi khố rách, đãi nơi lầu hồng” vẫn còn giá trị mai mỉa như đúng thời điểm ra đời của nó!


Phần nhận xét hiển thị trên trang