Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

Chuyện không còn của một người, vì sao như vậy chớ???

Bản phản đối và yêu cầu

THOAN 2Những người muốn tham gia ký tên vào Bản phản đối và yêu cầu dưới đây, nhằm bày tỏ thái độ trước quyết định vô lý và vi phạm các quy định hiện hành của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong việc hủy bằng và phủ quyết luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan, nhằm bày tỏ tinh thần tương ái đối với đồng nghiệp bị đối xử bất công, và nhằm bảo vệ tương lai nghề nghiệp của chính mình, đồng thời thể hiện trách nhiệm, danh dự và tư cách của cộng đồng giáo dục và nghiên cứu Việt Nam, xin gửi thư điện tử về địa chỉ:
Do đặc thù của vụ việc và nội dung của Bản phản đối và yêu cầu, nên xin phép chỉ chấp nhận chữ ký của những người đảm bảo các điều kiện sau:
-Đã và đang làm việc trong lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu, tại Việt Nam.
-Ghi đầy đủ các thông tin : Họ tên, học hàm học vị (nếu có), lĩnh vực giảng dạy và nghiên cứu, Bộ môn/ Khoa (đối với các trường Phổ thông và Đại học), Phòng/Ban (đối với các Viện nghiên cứu), cơ quan công tác, địa chỉ nơi ở.
(Riêng thông tin về cơ quan công tác, sẽ không công bố nếu người ký tên nêu yêu cầu này trong thư. Nơi ở sẽ chỉ công bố tên của tỉnh/thành phố, không công bố địa chỉ cụ thể.)
-Nhận chữ ký đến 12h ngày 25/4/2014.
Bản phản đối và yêu cầu cùng tất cả các chữ ký thu thập được sẽ được gửi tới Ông Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào ngày 26/4/2014.
Những người ký tên ở văn bản dưới đây xin chân thành cảm ơn quý đồng nghiệp sẽ tham gia đồng hành cùng chúng tôi.
Kính gửi:        PGS. TS. Nguyễn Văn Minh,
            Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chúng tôi, những người hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, gửi đến Ông văn bản này để bày tỏ những điều sau đây:
1. Chúng tôi phản đối và yêu cầu Ông hủy Quyết định số 667/QĐ-ĐHSPHN ngày 11 tháng Ba năm 2014 và Quyết định số 708/QĐ-ĐHSPHN ngày 14 tháng Ba năm 2014, do trường Đại học Sư phạm Hà Nội ban hành, về việc không công nhận luận văn và thu hồi bằng Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn của Đỗ Thị Thoan, bởi hai văn bản này là phi pháp và phi lý, vì các lý do:
1.1. Theo Quy chế Đào tạo Trình độ Thạc sĩ ban hành kèm theo Thông tư số 10/2011/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ký ngày 28 tháng Hai năm 2011, không có cơ sở pháp lý cho việc được gọi là “thẩm định” đối với bất cứ luận văn thạc sĩ nào.
Quy chế này chỉ quy định thẩm quyền về việc thẩm định kết quả tuyển sinh (Điều 19), chứ không quy định thẩm quyền về việc thẩm định kết quả chấm luận văn hay thẩm định hội đồng chấm luận văn. Điều 26 của Quy chế đã bao hàm toàn bộ quy trình đánh giá một luận văn, trong đó có các vấn đề về thành lập hội đồng đánh giá luận văn, nhóm họp hội đồng, và tiêu chí về kết quả của luận văn, mà hoàn toàn không có khoản nào cho phép lập hội đồng thẩm định để đánh giá lại một luận văn đã có kết quả đánh giá.
1.2. Việc  đơn phương ban hành hai quyết định trên mà không đưa ra các văn bản làm chứng lý theo quy trình chuyên môn phải có (quyết định thành lập Hội đồng thẩm định, quyết định họp Hội đồng, bản đánh giá của từng thành viên Hội đồng, biên bản họp Hội đồng…), cũng như việc Hội đồng này không họp công khai, là vi phạm hết sức nghiêm trọng Khoản 1 Điều 26 của Quy chế nói trên.
1.3. Khoản 1 Điều 22 Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân ban hành kèm theo QĐ số: 33/2007/QĐ-BGDĐT, của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, ký ngày 26 tháng Sáu năm.2007 đã quy định cụ thể năm trường hợp bị thu hồi hay huỷ bỏ văn bằng: a) Có hành vi gian lận trong học tập, trong thi cử, tuyển sinh hoặc gian lận trong việc làm hồ sơ cấp văn bằng, chứng chỉ ; b) Cấp cho người không đủ điều kiện ; c) Do người không có thẩm quyền cấp ; d) Bị tẩy xóa, sửa chữa ; đ) Để cho người khác sử dụng.
Đỗ Thị Thoan không thuộc trường hợp nào trên đây, do đó thu hồi văn bằng của Bà là trái với Quy chế này.

2. Chúng tôi yêu cầu Ông minh bạch hóa toàn bộ quá trình đi đến hai quyết định nêu trên của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trên tinh thần tuân thủ các quy định có hiệu lực pháp lý.
3. Trên cơ sở pháp lý vừa nêu, trên chuẩn mực và thông lệ học thuật, việc thẩm định Luận văn Vị trí của kẻ bên lề: thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa đã xâm phạm thẩm quyền và quyền lợi của Hội đồng Đánh giá luận văn, của Người Hướng dẫn và Tác giả luận văn, bởi họ không hề được biết và không hề được tham gia vào quá trình thẩm định.
Chúng tôi yêu cầu Ông tôn trọng thẩm quyền khoa học và danh dự khoa học của Hội đồng Đánh giá luận văn, của Người Hướng dẫn luận văn và Tác giả luận văn khi có bất kỳ hành động hay quyết định nào liên quan đến Luận văn. Họ phải được tham gia vào mọi hoạt động và quyết định liên quan đến Luận văn, đúng như các quyền mà họ được hưởng theo quy định.
Chúng tôi mong nhận phản hồi từ Ông.
Trân trọng,
Những người ký tên
  1. Bùi Thanh Truyền, TS Văn học Việt Nam, Giảng viên Khoa Ngữ Văn, ĐH Sư Phạm TPHCM, HCM
  2. Bùi Trân Phượng, TS Lịch Sử, Giảng viên Đại học, TP HCM.
  3. Châu Minh Hùng, TS Lý luận văn học, Đại học Quy Nhơn, Tp Quy Nhơn, Bình Định
  4. Chu Hảo, TS Vật lý, Phó Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Văn hoá Phan Châu Trinh, Hà Nội.
  5. Chu Văn Sơn, TS Văn học, Giảng viên khoa Ngữ Văn, ĐH Sư phạm Hà Nội, Hà Nội
  6. Đặng Thị Hảo, TS Ngữ văn, Hà Nội
  7. Đào Tiến Thi, ThS Văn học, Nghiên cứu Văn học, Ngôn ngữ, Giáo dục; Uỷ viên BCH Hội ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội
  8. Đỗ Thị Hoàng Anh, ThS Ngữ Văn, Giáo viên THPT Chu Văn An, Hà Nội.
  9. Đỗ Hải Ninh, TS Văn học Việt Nam, Viện Văn học, Hà Nội.
  10. Đỗ Ngọc Thống, PGS, TS Văn học, Chuyên nghiên cứu lí luận và phương pháp dạy học Ngữ Văn, Hà Nội.
  11. Đỗ Xuân Khôi, TS, Giảng viên Đại học Bách Khoa Hà Nội, Hà Nội.
  12. Đoàn Ánh Dương, ThS Văn học, Nghiên cứu viên Lý luận và văn học Việt Nam hiện đại, Viện văn học, Hà Nội.
  13. Hà Sĩ Phu, TS Sinh học, nguyên giảng viên đại học, Đà Lạt.
  14. Hà Thúc Huy, PGS, TS Hoá học, giảng viên đại học, TP Hồ Chí Minh.
  15. Hồ Thị Hoà, ThS Truyền thông, giảng viên đại học, TP Hồ Chí Minh.
  16. Hồ Tú Bảo, Giáo sư tin học, Viện John von Neumann, Đại học Quốc gia – TP HCM
  17. Hoàng Dũng, PGS, TS Ngữ Văn, Đại học Sư phạm TPHCM, TPHCM.
  18. Hoàng Hưng, Nghiên cứu thơ hiện đại VN và thế giới, TP HCM.
  19. Hoàng Phong Tuấn, Ths Văn học, Giảng viên Đại học Sư phạm TPHCM, TPHCM
  20. Hoàng Tố Mai, TS Văn học, Nghiên cứu viên Văn học nước ngoài, Hà Nội.
  21. Huỳnh Ngọc Chênh, cử nhân hoá học, cựu giáo viên trường Phan Chu Trinh, Đà Nẵng, TP HCM
  22. Lê Minh Hà, PGS, TS, Khoa Toán-Cơ-Tin học, Đại học khoa học tự nhiên, ĐHQG Hà Nội, Hà Nội.
  23. Lê Thanh Loan, Ths Ngữ Văn, Giáo viên THPT Chu Văn AN, Hà Nội
  24. Lê Thu Phương Quỳnh, Ths Văn hoá Văn học Châu ÂU, Room to Read Vietnam, TP HCM.
  25. Lê Tuấn Huy, TS triết học, TP HCM.
  26. Mai Thái Lĩnh, phụ giảng Ban triết học tại trường đại học Văn khoa, Viện Đại học Đà Lạt (1970-1971), Phó hiệu trưởng trường PTTH Thăng Long (Đà Lạt, 75-88),  Đà Lạt.
  27. Ngô Thị Ngọc Diệp, TS Văn học Việt Nam hiện đại, giảng viên trường Cao Đẳng Sư Phạm Gia Lai, Gia Lai
  28. Ngô Văn Giá, PGS TS Lý luận Văn học, Chủ nhiệm khoa Viết văn-Báo chí, Đại học Văn hoá Hà Nội, Hà Nội.
  29. Nguyên Ngọc, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Quỹ Văn hoá Phan Châu Trinh, Hà Nội.
  30. Nguyễn Đăng Hưng, GS TS KH, Cố vấn học thuật Đại học Việt Đức, TP HCM.
  31. Nguyễn Đăng Quang, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Lý luận Ban Tư tưởng Văn hóa Trung Ương từ 1991 đến  1996, Hà Nội.
  32. Nguyễn Đình Cống, GS TS, Đại học Xây dựng, Hà Nội
  33. Nguyễn Đông Yên, GS, TS KH, nghiên cứu và giảng dạy toán học, Hà Nội.
  34. Nguyễn Đức Hiệp,  cựu giáo viên vật lý trung học phổ thông, đã nghỉ hưu, TP HCM
  35. Nguyễn Hoài Anh, Ths Ngữ Văn, giáo viên THPT Chu Văn An, Hà Nội.
  36. Nguyễn Hoàng Ánh, PGS.TS, giảng viên trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội.
  37. Nguyễn Hoàng Diệu Thuỷ, Ths Văn học, cựu sinh viên khoa Ngữ Văn, ĐH SP Hà Nội, Hà Nội.
  38. Nguyễn Huệ Chi, GS Văn học, Nguyên Chủ tịch Hội đồng khoa học, Viện Văn học, Hà Nội.
  39. Nguyễn Hữu Việt Hưng, GS, TS KH, Khoa Toán, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội.
  40. Nguyễn Mạnh Tiến, Ths Văn học, Dân tộc học, Nghiên cứu văn học, dân tộc học, Hà Nội.
  41. Nguyễn Nam Hải, ThS Công nghệ thông tin, nguyên giảng viên ĐH Công nghệ, ĐHQG Hà Nội, Hà Nội.
  42. Nguyễn Phương Chi, nguyên Phó phòng TC Nghiên cứu Văn học, Viện văn học, Hà Nội.
  43. Nguyễn Quang A, TSKH, nguyên GS Đại học Kĩ thuật Budapest, nguyên Trưởng khoa CNTT, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.
  44. Nguyễn Thế Hùng, GS TS, phó chủ tịch Hội Cơ học Thuỷ khí Việt Nam, Đà Nẵng
  45. Nguyễn Thị Bình, PGS, TS Văn học, nguyên trưởng bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại, khoa Ngữ Văn, ĐH Sư Phạm Hà Nội, Hà Nội.
  46. Nguyễn Thị Hương Thuỷ, Ths Ngữ Văn, Giáo viên THPT Chu Văn An, Hà Nội.
  47. Nguyễn Thị Khánh Trâm, nghiên cứu viên văn hoá, TPHCM.
  48. Nguyễn Thị Từ Huy, TS Văn học, cựu giảng viên khoa Ngữ Văn, ĐH Sư phạm Hà Nội, TP HCM.
  49. Nguyễn Văn Long, PGS, Nhà giáo nhân dân, Nguyên chủ nhiệm Bộ môn VH Việt Nam hiện đại, Khoa Ngữ Văn, ĐH Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.
  50. Nguyễn Xuân Diện, TS Ngữ văn, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội.
  51. Phạm Toàn, nghiên cứu giáo dục, sáng lập viên nhóm Cánh Buồm, Hà Nội.
  52. Phạm Minh Gia, TS Kinh tế, Hà Nội.
  53. Phạm Quốc Lộc, TS Văn học So sánh, Trưởng Khoa Ngôn ngữ và Văn hoá, ĐH Hoa sen, TP HCM
  54. Phạm Thị Ly, TS Ngữ văn, Viện đào tạo quốc tế, ĐHQG TP HCM, TP HCM
  55. Phạm Thị Phương, PGS TS Ngữ văn, khoa Ngữ Văn, Đại học Sư phạm TP HCM, TP HCM
  56. Phạm Xuân Nguyên, Trưởng phòng Nghiên cứu Văn học So sánh, Viện Văn học, Hà Nội.
  57. Phan Hồng Hạnh, ThS Ngữ Văn, Giáo viên THPT Chu Văn An, Hà Nội.
  58. Phan Thị Hà Dương, PGS TS Toán học, Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội.
  59. Phan Thị Hoàng Oanh, TS Hoá học, Giảng viên Đại học, TP HCM, TP HCM.
  60. Phùng Hoài Ngọc, ThS Văn học, Nguyên giảng viên Đại học An Giang, An Giang.
  61. Trần Đình Sử, GS TS Văn học, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.
  62. Trần Đức Anh Sơn, TS Lịch Sử, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển KT XH Đà Nẵng, Tổng biên tập Tạp chí Phát triển kinh tế -xã hội Đà Nẵng, Đà Nẵng.
  63. Trần Hữu Tá, PGS TS Văn học, Tp HCM.
  64. Trần Ngọc Vương, GS TS Văn học, Hà Nội.
  65. Trần Ngọc Hiếu, TS Văn học, Khoa Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.
  66. Trần Quang Đức, Nghiên cứu văn học, lịch sử, Phòng Văn học So Sánh, Viện Văn học, Hà Nội.
  67. Trịnh Thu Tuyết, TS Văn học, Chuyên ngành văn học Hiện đại, Hà Nội.
  68. Tương Lai, Nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam, thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, TP HCM.
  69. Vũ Thế Khôi, TS, Nguyên Trưởng khoa tiếng Nga, ĐH Ngoại Ngữ Hà Nội, Hà Nội.
  70. Vũ Thị Phương Anh, TS Giáo dục, Nguyên giám đốc Trung tâm khảo thí và Đánh giá chất lượng đào tạo ĐHQG TPHCM, TP HCM.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ngôn từ thời nay của giới trẻ Việt Nam


Giới trẻ Việt Nam, thuộc thế hệ mà bao chí gọi là 8X hay 9X, thường sử dụng những ngôn từ những câu chữ không cầu kỳ không bóng bẫy nhưng có vần có điệu nghe đến lạ đến hay. Ngôn Từ Của Giới Trẻ Việt Nam là đề tài mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi hôm nay.
Toàn Shinoda đã là một cái tên rất hot của giới trẻ trên cộng đồng mạng. Trong Show anh sử dụng rất nhiều ngôn từ mới của giới trẻ thời nay. Screen capture. RFA screen cap

Thực ra những ngôn từ xuất phát từ cảm xúc hay chỉ là cách nói trong đời sống thường nhật không phải bây giờ mới có. Ngày xưa thì đôi khi chỉ một câu với hai hoặc ba từ, nhưng bây giờ thì cả đôi câu vần điệu hẳn hoi, dễ khiến người ta nhớ nhưng cũng dễ khiến nhiều người nhăn mặt khó chịu.

Không cầu kỳ bóng bẫy nhưng có vần có điệu

Mà khó chịu như thế là hơi chủ quan rồi đấy, họa sĩ Trịnh Bách, từ nước ngoài về Hà Nội và làm việc trong ngành phục chế cổ trang qua các triều đại vua chúa xưa kia, nhận xét:

Cái đó hơi chủ quan, ngày xưa người ta nói “ Sức Mấy” với lại “ Bỏ Đi Tám”, bây giờ nói “Nhỏ Như Con Thỏ” có vần có điệu hơn. Đó là lối mới người ta nói như vậy .

Đặng Ngọc Sơn là một bạn trẻ ở Hà Nội, từng đi du học ở nước ngoài, thì vô cùng thích thú trước những ngôn từ mà anh cho là phải có đầu óc khôi hài và bén nhậy mới có thể nghĩ ra:

Chẳng hạn như bây giờ em nói “Tại Sao Nghèo Mà Học Giỏi” nhưng câu ngược lại mới là đau “Tại Sao Giỏi Mà Vẫn Nghèo” . Câu “Giỏi Mà Vẫn Nghèo” cái ý của nó mình phải suy nghĩ nhiều hơn. Tất nhiên là trong văn hóa nói bình thường thôi, còn nếu mà văn hóa báo chí thì không thể áp dụng được. Em rất thích và em biết rất nhiều. Thậm chí ở đây đã từng có người như bọn em, làm hẳn một quyền sách bao gồm những thành ngữ mà giới trẻ Việt Nam hay dùng. Có những người lớn tuổi họ không chấp nhận những cái đó, các bậc cha chú nghĩ rằng nó làm mất đi cái hay cái đẹp của ngôn ngữ tiếng Việt. Em thì em thấy nó hay bởi vì đó như một cách sáng tạo đột phá. Chẳng hạn như “Chán Như Con Gián”, “Buồn Như Con Chuồn Chuồn”, “Phê Như Con Tê Tê” … Em thấy nó biến thể từ cái văn hóa lục bát câu sau kéo vần theo câu trước. Nói chung ngồi nói gẫu tán dóc với nhau thì nó tạo cái không khí vui vẻ, và em có thể đối đáp lại rất buồn cười và rất dễ thương mà họ không thể phản bác gì được mình. 
Cái đó hơi chủ quan, ngày xưa người ta nói “ Sức Mấy” với lại “ Bỏ Đi Tám”, bây giờ nói “Nhỏ Như Con Thỏ” có vần có điệu hơn. Đó là lối mới người ta nói như vậy - họa sĩ Trịnh Bách
Được yêu cầu nêu thí dụ cụ thể anh thường gặp, Đặng Ngọc Sơn kể:

Chí nói trong những tình huống bình thường, chẳng hạn khi em muốn ra khỏi nhà, vợ em  hỏi một câu là “Đi Đâu?” thì em đáp lại ”Đi Đâu Còn Lâu Mới Nói”, kiểu thế. Chẳng hạn rủ nhau đi chơi, kiểu thách thức một chút là vợ ở nhà đấy, có dám đi không, thì lúc ấy tặc lưỡi một câu “Khi Đã Máu Đừng Hỏi Bố Cháu Là Ai”. Hoặc là đến giờ rồi và phải đi về nhưng bạn bè vẫn rủ đi chơi thì cũng tặc lưỡi bảo “Dân Chơi Ngại Gì Mưa Rơi” và mình cứ đi thôi, kiểu như vậy.
Tác giả 'Sát thủ đầu mưng mủ' biếm họa giao thông VN
Chạy nhanh thắng gấp Nằm sấp như chơi. Tác giả 'Sát thủ đầu mưng mủ' biếm họa giao thông VN .
Xe mẹ mua Đua mẹ đánh. Tác giả 'Sát thủ đầu mưng mủ' biếm họa giao thông VN .
Cái văn hóa nói ấy ở đây thì bây giờ em cứ tiếp nhận và em thấy nó vui, chẳng hạn nếu như em trong tình huống mà cậu bạn kia bảo “Đừng Vào Rừng Mơ Bắt Con Tưởng Bở “ thì em bèn dùng câu đối đáp là “Đẹp Trai Chẳng Bằng Chai Mặt” . 

Nhiều bậc phụ huynh thì thấy khó tiếp nhận những cái đó, tầng lớp có tuổi thích những cái gì thuộc về truyền thống hơn. Bình thường ra thì khi bảo đừng cư xứ như thế nọ thế kia, nhưng thay vào đó thì họ dùng câu là “Bộ Đội Chơi Trội”. Những từ đấy nếu phát ra theo một câu vần thì mình lại thấy có thể nó chỉ là một câu vui mồm. Bình thường cách hành văn đấy sẽ không có vấn đề gì, mà vấn đề là mình hành văn trong hoàn cảnh nào với và trong ngữ điệu nào mà thôi, còn đa phần tụi em thấy là vui. 

Đời sống riêng của ngôn ngữ

Dưới mắt tiến sĩ Phạm Quỳnh Hương, phòng Xã Hội Học Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam, ngôn từ giới trẻ thời nay là điều rất mới của đời sống, phản ánh qua quyển sách biếm họa một thời gây khá nhiều tranh cãi là Sát Thủ Đầu Mưng Mủ của họa sĩ trẻ Thành Phong, thể hiện cách giới trẻ biểu lộ suy nghĩ, tình cảm và cái nhìn của mình:

Cách đây khoảng một hai năm đã có quyển tranh vẽ biểu thị một cách nghĩ mới một cách sáng tạo mới của giới trẻ tức là minh họa vẽ tranh cho nó. Thế thì cũng có những xung đột, một bên rất là thích những câu từ của giới trẻ như vậy, một bên lo lắng sẽ làm hỏng ngôn ngữ tiếng Việt, làm sai lệch suy nghĩ của giới trẻ, làm ảnh hưởng đạo dức lối sống xã hội Việt Nam. Xung đột đấy dẫn đến quyền sách bị nhà nước tịch thu. 
Chẳng hạn như bây giờ em nói “Tại Sao Nghèo Mà Học Giỏi” nhưng câu ngược lại mới là đau “Tại Sao Giỏi Mà Vẫn Nghèo”. Câu “Giỏi Mà Vẫn Nghèo” cái ý của nó mình phải suy nghĩ nhiều hơn - Đặng Ngọc Sơn
Nhưng mà câu chuyện không dừng ở đấy, tôi đã đi dự một cuộc thảo luận giữa nhà giáo Văn Như Cương, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Xuân Nguyên và những học giả khác nữa. 

Vẫn theo tiến sĩ Phạm Quỳnh Hương, đã gọi là một sinh ngữ thì phải sống động chứ không nhất thiết bị ràng buộc vào khuôn sáo cũ:

Trong cuộc bàn thảo họ đã đưa vấn đề này ra dưới nhiều góc cạnh để phân tích rằng đấy là cái hoàn toàn tự nhiên về mặt ngôn ngữ. Trong ngôn ngữ, gọi là sinh ngữ, thì nó có đời sống riêng của nó, phản ánh đời sống xã hội, ngăn cản cuộc sống bình thường của một ngôn ngữ là điều không thể vì nó phản ánh tất cả những tư duy và những suy nghĩ của người dân và của giới trẻ, vì vậy không có cách gì ngăn cản nó tồn tại. . 

Thông qua những ngôn ngữ đấy chúng ta sẽ hiểu giới trẻ, một bộ phận của xã hội, khi đưa ra những ngôn từ đó thì không phải là tất cả những người cao tuổi những người lớn tuổi phản đối mà một bộ phận không nhỏ người lớn tuổi đã chấp nhận và cảm thấy thích thú. Đấy là một cách làm mới, tại sao giới trẻ có thể thay đổi mà lại ngăn cấm mà lại phê phán. 

Dân gian từ xưa vẫn có câu ”Một Con Ngựa Đau Cả Tàu Bỏ Cỏ”. Thế nhưng bây giờ giới trẻ cải biên đi “Một Con Ngựa Đau Cả Tàu Ăn Thêm Cỏ”. Trong khi câu cũ có gì đấy như là giáo huấn, một cái gì đấy hướng tới đạo đức sống cho nó đẹp, nhưng câu sau của giới trẻ lại phản ánh một cái thực tế là nhiều khi người ta không bỏ cỏ mà người ta lại được ăn thêm một suất kia. Có nghĩa là giới trẻ giờ có một cái nhìn nó tinh tường hơn nó đầy đủ hơn về một xã hội không phải cứ giáo huấn mà là hiện thực. 

Với một người cho rằng hiện thực đấy tốt thì nó khác, còn một người cho rằng con ngựa đau mà cả tàu được ăn thêm cỏ là không tốt. Đấy là cách để cho người ta suy nghĩ không phải mà cứ răm rắp đi theo con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ mà trong khi đấy thực tế không phải như vậy. 
Trong ngôn ngữ, gọi là sinh ngữ, thì nó có đời sống riêng của nó, phản ánh đời sống xã hội, ngăn cản cuộc sống bình thường của một ngôn ngữ là điều không thể vì nó phản ánh tất cả những tư duy và những suy nghĩ của người dân và của giới trẻ, vì vậy không có cách gì ngăn cản nó tồn tại
họa sĩ Thành Phong
Tôi nghĩ một ngôn từ tồn tại như thế nào thì nó phản ánh một xã hội như thế. Xã hội đấy nếu lành mạnh, tiến bộ và tử tế thì nó sẽ có sự lựa chọn, sàng lọc. Nếu không phù hợp với số đông xã hội thì nó sẽ nhanh chóng bị lãng quên và tự nhiên những ngôn ngữ mới xuất hiện đó sẽ chết. Chúng ta thấy ngay những quyển tự điển lớn của Oxford hay của Larousse vẫn thường bổ sung những từ mới. Như vậy đời sống luôn luôn có những từ mới, điều đấy hoàn toàn bình thường.

Cố quá thành Quá cố. Họa sĩ Thành Phong
Cố quá thành Quá cố. Họa sĩ Thành Phong
Từ Hà Nội, viện trưởng Viện Thông Tin, Khoa Học Và Xã Hội, giáo sư tiến sĩ Hồ Sĩ Quí:

Bạn bè tôi là những nhà ngôn ngữ lúc đầu họ gồng lên họ mắng lũ trẻ với lũ dùng từ ghê lắm. Theo tôi thì chẳng có gì đáng phải phê phán cả. Tôi hay nhắc một câu rất nổi tiếng của Heideger: “Trong ngôn ngữ chỉ có một qui luật, ấy là qui luật của người dùng”. Khi xã hội dùng thế thì mình phải chấp nhận. 

Điểm thứ hai, cách dùng ngôn từ trong tiếng Việt theo tôi hiểu từ xưa đến nay vẫn thế chứ không phải bây giờ mới như thế đâu. Có cái trẻ con nó dùng một loạt như thế thì nó thành một ngôn ngữ lấy vần lấy điệu thì các cụ ta ngày xưa cũng thế và lắm khi từ lóng, từ láy, từ lọc cứ thế từ đấy mà ra cả. 

Tuy nhiên, giáo sư Hồ Sĩ Quí khẳng định, ngôn từ thời nay của người trẻ đôi khi làm người lớn bị sốc:
Thuật ngữ “Sát Thủ Đầu Mưng Mủ” nghe hơi khó chịu với một số người, bên cạnh những cái tạm gọi là thành ngữ rất là hay. Kể cả những cái không hay thì đằng sau đó cũng thể hiện một thái độ một tâm trạng cũng rất là thú vị.

Với ông, những thành ngữ như Ngon Lành Cành Đào” hay “Đã Máu Thì Đừng Hỏi Bố Cháu Là Ai” đều là những thành ngữ hay:

Nó vừa có thái độ vừa thể hiện được ý tưởng của ngôn từ ấy, đủ ấn tượng để diễn đạt một cái gì đó. Nhiều từ rồi về sau cũng vào tự điển đấy. Trước kia một số từ như “Bụi Đời”, “Đánh Quả”, “Trấn Lột” … là những từ chỉ có dùng ngoài chợ búa, bây giờ trong văn cảnh báo chí vẫn dùng rồi đấy. 
“Trong ngôn ngữ chỉ có một qui luật, ấy là qui luật của người dùng”
Heideger
Thực ra đối với con cháu thì tôi nói chúng bay ngang bằng ngang lứa thì được, còn nói chuyện với các bậc cao niên hoặc là trong chổ trịnh trọng nghiêm túc hoặc lên giảng đường thì không nên nói. 

Trong xu hướng sử dụng từ ngữ khôi hài, dí dõm, vần điệu từ thế hệ 8X và 9X, thì giáo dục, hướng dẫn cần thiết hơn là phê phán hay cố chấp, giáo sư Hồ Sĩ Quí kết luận:

Theo tôi quá nửa những thành ngữ là hay chứ không dở. Chẳng hạn “Đã Máu Thì Đừng Hỏi Bố Cháu Là Ai”, hai cái nội hàm hoàn toàn ở những lĩnh vực khác nhau, một cái nghiêm túc đặt bên cái buồn cười tạo nên một tình huống thú vị cho ngôn ngữ. Qui luật hình thành ngôn ngữ như vậy rất là sâu sắc, còn hay hơn nhiều những trường hợp dùng từ chợ búa đưa vào từ báo chí. 

Khi sử dụng ngôn từ đương đại và vần điệu để mà trả lời bạn bè hoặc đối đáp qua lại, bạn Đặng Ngọc Sơn cho rằng có lẽ ý thức và cách phát ngôn là hai điều cần lưu ý bởi không khéo có thể dẫn đến bất hòa hoặc xung đột đáng tiếc:

Đôi khi mình ra ngoài đường mình nói câu đùa nó hơi bậy một tí thì nó cũng gây một tiếng cười làm mình thấy thoải mái. Chẳng hạn như câu “Đã Xấu Còn Xa, Đã SIDA Còn Xông Pha Đi Hiến Máu”. Mà văn hóa truyền miệng thì không có ai bắt bẻ được ai hết. Phải hiểu không phải ai cũng có thể nghĩ ra câu đó, chỉ có điều giới trẻ thì nó chấp nhận câu đấy khác với tầng lớp trên. 

Nhiều khi một câu nói có thể không có vấn đề gì nhưng có thể phát sinh vấn đề khác nếu như hoàn cảnh sử dụng không hợp lý. Mình dùng từ hoặc là ngữ cảnh không có tính đả kích, sử dụng trong ngữ điệu vui vẻ anh em với nhau thì cũng sẽ chẳng có vấn đề gì cả.

Câu chuyện Đời Sóng Người Việt Khắp Nơi, ngôn ngữ đương đại và trào phúng của giới trẻ Việt Nam ngày nay, xin được tạm ngưng ở phút này. sẽ trở lại cùng quí vị tối thứ Năm tuần tới.
 Thanh Trúc

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Truyện ngắn của Đỗ Trường


unnamed
Đỗ Trường
Văn Việt: Đỗ Trường sinh năm 1960 tại Nam Định, là công nhân đã định cư ở Cộng Hòa Liên Bang Đức 30 năm. Tác phẩm: Không bao giờ thành sẹo (tập truyện), Phê bình văn chương.
Tôi quen chị vào một ngày đầu năm Quý Tỵ, dịp Meister Nam mời đến võ đường của anh nhậu nhẹt và thưởng thức các tiết mục văn nghệ ngẫu hứng, do anh chị em khu vực Leipzig thực hiện.
Tôi và ca sỹ Việt Hà đến hơi bị muộn. Bước chân vào Halle, không chỉ tôi mà cả Việt Hà cũng phải sững người lại, bởi một người đàn bà hát có giọng khàn lạ đang say sưa thả hồn trên sân khấu. Và nếu không có bàn tay cứng như sắt của Nam Võ từ phía sau bóp mạnh vào bả vai, có lẽ tôi còn đứng lặng, chắn giữa cửa ra vào cho đến khi chị hát xong.
 -Nghệt mặt ra rồi phải không? Hạ, nguyên cô giáo dạy nhạc, cùng quê Bắc Ninh, tôi đã nhiều lần kể với ông…
 Vâng! Sự xáo động ấy trong tôi, không hẳn vì đứng trước người đàn bà đằm thắm đang ở độ chín lại. Nhưng nhạc và lời ca chị viết với giọng hát truyền cảm, như kể lại câu chuyện của đời mình, làm tôi xúc động mạnh…
 Sinh ra và lớn lên trên quê hương Quan Họ, nhưng chị bảo, ngay từ nhỏ chỉ thích nghe chứ không có duyên với nó. Có lẽ do chất giọng khàn đục của chị không hợp với giai điệu, lời ca mượt mà của Quan Họ chăng? Tốt nghiệp trung học, được tuyển thẳng vào đoàn ca múa của tỉnh, nhưng chị đã từ chối và thi vào trường sư phạm âm nhạc. Sau mấy năm đèn sách, chị về dạy nhạc ở một trường trung học của một thị xã ven biển. Năm sau chị lập gia đình. Chồng chị là bạn học thời sư phạm, nhưng dạy mãi trên mạn ngược.
Đứa con ra đời, chuyển chồng về gần là nhu cầu bức thiết của chị. Nhưng gái một con… và hát hay đàn giỏi, ngon như một bữa tiệc trước những con mắt thú đang đói mồi, mỗi lần chị lên sở hay về trường nộp đơn từ. Sự mặc cả, ngã giá ấy trong môi trường giáo dục, của những kẻ luôn có vẻ bề ngoài cao đạo, chị thấy chẳng khác kiểu hàng tôm, hàng cá là bao.
 ***
 Màn đêm ở vùng biển dường như cũng buông chậm hơn. Những tia nắng dìu dịu cuối ngày chợt bùng cháy lên, đỏ như vệt máu đang nhỏ xuống biển. Chân trời thẫm một màu xanh, cong cong như một chiếc bát khổng lồ úp xuống mặt nước. Một vài chiếc thuyền đang kéo buồm, chòng chành trong cái mầu xanh ấy, hướng về phía đất liền. Có những con sóng tung lên, như vồ lấy đàn hải âu đang sải cánh về phía bên kia dải nắng.
Con phố nhỏ rộn lên tiếng ngư dân và những con thuyền vừa cập bến. Gió từ ngoài khơi thổi mạnh và rát hơn làm chị khẽ rùng mình. Quàng vội cho con chiếc áo khoác và chị đứng dậy, định về, nghe chị giáo vụ gọi giật lại:
 -Ông giám đốc sở nhắn tìm em, gặp bàn về việc thuyên chuyển của chú ấy. Ổng đang đợi ở nhà hàng Cánh Buồm, về thay quần áo, để con chị trông cho.
 Lưỡng lự, định không đi, song nghĩ đến công việc của chồng, chị đành phải tới.
Trời chưa tối hẳn, nhà hàng còn vắng khách. Mấy em chân dài ngồi dàn hàng ngang, phì phèo đốt thuốc  trước cửa ra vào. Chưa kịp hỏi, bà chủ đã đon đả kéo tay chị, miệng xởi lởi, đồng chí giám đốc sở đang chờ ở phòng riêng, tầng trên.
 Thật ra chị mới gặp giám đốc vài ba lần, khi thì chỉnh huấn, lúc văn nghệ của ngành. Lần gần đây nhất, chị mang đơn xin thuyên chuyển của chồng đề nghị đồng chí Đốc giúp đỡ. Lần nào đồng chí Đốc cũng bắt tay thật chặt với cái cười tươi rói. Lần này đồng chí Đốc còn ra tận hành lang đón chị. Chị vừa ngồi xuống, đồng chí Đốc đã kêu người mang đồ ăn đồ uống lên. Như một chiếc lò xo, chị bật đứng dậy, miệng lắp bắp… Đồng chí Đốc cắt ngang:
-Em cứ ngồi xuống, ăn uống một chút đã, công việc bàn sau.
 Chị còn đang bối rối, thức ăn, bia rượu đã mang lên đầy bàn. Rất điệu nghệ, đồng chí Đốc với tay mở chai sâm banh. Tiếng nút nổ, tiếng cười của đồng chí Đốc hòa vào nhau, nghe dòn tan.
Khấp khới cả hai con mắt, đồng chí Đốc đẩy ly rượu về phía chị. Sợ đồng chí Đốc phật ý, chị cầm ly rượu đưa vội lên môi, rồi từ từ đặt xuống bàn. Đồng chí Đốc ân cần gắp đầy thức ăn vào bát, giục chị ăn. Hơi thu người lại, chị sợ, một con tính thoáng chạy trong đầu, bữa ăn sang trọng này có lẽ bằng cả một năm lương của chị chứ chẳng chơi.
Đồng chí Đốc ép mãi, chị chấm mút lấy lệ… Ừng ực một hồi, đồng chí Đốc đã giải quyết gần xong đám rượu bia ở trên bàn. Mặt đồng chí đã phừng lên, hai con mắt ngầu ngầu, giựt giựt. Lúc này, đồng chí Đốc trở về con người thật của mình:
-Công việc của chồng em anh đã thu xếp xong. Tiền anh không cần, nhưng hôm nay anh có chuyện buồn. Nếu như đêm nay em ở lại đây với anh, sáng thứ hai em qua phòng anh nhận quyết định tiếp nhận. Sau đó anh sẽ bố trí cho chồng em về một trường nào đó, quanh thị xã này thôi.
 Nghe những lời này từ miệng của kẻ chuyên giảng đạo đức cho các lớp tập huấn giáo viên toàn tỉnh, chị cứ ngỡ mình đang xem màn hề chèo trên sân khấu. Lợm giọng quá, nhưng chị cố bóp chặt cổ họng mình:
-Muộn rồi, xin phép giám đốc, em phải về vì còn cháu nhỏ ở nhà.
 -Em nghĩ kỹ chưa, đơn xin việc ở phòng anh xếp còn cao hơn núi đấy!
 Chị im lặng, định đứng dậy. Đồng chí Đốc bảo, khoan đã, tý nữa tiện xe, anh đưa về. Rồi đồng chí Đốc gọi bà chủ, cho hai ly nước tráng miệng và tính tiền. Chỉ một loáng thôi, đã thấy tự tay bà chủ bê hai ly nước cam vắt vàng óng lên. Một hơi, đồng chí Đốc uống cạn và giục chị uống cho mát rồi về.
Cầm ly nước, chị uống một ngụm cho phải phép và đứng dậy. Chưa ra đến cửa đã thấy chóng mặt, quay cuồng, vịn chặt vào cánh cửa, nhưng chị không thể đứng lên được nữa….
 Khi chị tỉnh dậy, trời đã gần sáng, chị lờ mờ nhận ra mình đang nằm trên chiếc xô- pha đặt giữa phòng. Một lúc sau chị mới cựa quậy được và có cảm giác thật nhớp nháp, nhầy nhụa, áo mặc ngược, quần cài lộn cúc. Lắng lại một giây, chị chợt hiểu chuyện gì đã xảy ra.
Chị vùng dậy, lao ra, giật mạnh cửa, cắm đầu chạy… Trước mặt đã là biển, chị vẫn từ từ đi ra nơi có con thuyền nhỏ bé đang dập dờn trong cái mênh mông sóng nước của những người thợ câu đêm. Trăng cuối tháng thoắt ẩn, thoắt hiện, bàng bạc như như kẻ vô tình. Sóng đập vào mặt, có lúc nhấc bổng lên rồi lại dìm chị xuống.
Ngửa mặt lên nhìn vòm trời lần cuối, chị thấy ngôi Sao Biển đang nghiêng về bờ cát, cháy rực lên. Và trong gió hình như có tiếng trẻ thơ vọng lại làm chị giật mình. Chị vội quay người lại, có con sóng bốc chị ném thẳng vào bờ…
 Phiên tòa xử vụ chị kiện đồng chí tỉnh ủy viên, giám đốc sở giáo dục đào tạo tội hiếp dâm diễn ra chóng vánh. Nhân chứng từ chị giáo vụ cho đến bà chủ nhà hàng khẳng định, chị là người chủ động mời đồng chí Đốc đến. Khi chị có thái độ không đúng mực, đồng chí Đốc đã giải thích phân tích tường tận và ngay sau đó đồng chí đã ra về. Biên bản khám nghiệm của bác sỹ, xác định như đinh đóng cột, thể trạng chị lúc đó hoàn toàn bình thường, không hề bị tổn thương mảy may.
 Vậy là từ nguyên cáo, chị trở thành bị cáo, can tội dùng tiền, tình mua chuộc cán bộ lãnh đạo, trục lợi cá nhân. Mức án giành cho kẻ vu cáo, nói xấu cán bộ lãnh đạo ít nhất cũng phải sáu tháng tù. Nhưng xét hoàn cảnh chị con còn nhỏ và người bị hại (đồng chí Đốc) có làm đơn xin tòa giảm án, nên cho hưởng án treo.
 Cũng trong ngày, chị nhận được quyết định đuổi việc vì không còn đủ đạo đức, nhân cách để đứng trên bục giảng.
 Ngày hôm sau, báo chí đồng loạt đăng tin ca ngợi đồng chí Đốc, một con người liêm chính, có tấm lòng nhân đạo, vị tha. Dư luận từ trong đến ngoài, từ cán bộ đảng viên cấp cao đến các em chân dài, đạo chích, đâm thuê chém mướn đều bái phục, tôn đồng chí Đốc là sư phụ của sư phụ. Chiếc ghế phó chủ tịch tỉnh, phụ trách mảng văn hóa giáo dục, ai dám tranh với đồng chí Đốc?
 Mẹ chị lành như đất, cả đời chỉ quanh quẩn với ruộng vườn, ít khi ra khỏi làng. Ấy vậy mà không hiểu mấy ngày nay bà lại bất thường giở chứng, sáng sáng cứ nhìn lên bàn thờ, nơi có cái bằng Tổ Quốc Ghi Công, lầm bầm lẩm bẩm:
 -Không hiểu cái thằng Mỹ nó ở tận đẩu tận đâu đến đây làm gì. Nghe các bố hô hào, bao xương máu đổ ra đánh cho nó phải cút. Đến bây giờ lại mang kiệu rước nó vào. Giời đất ơi! Vậy thì chồng con tôi chết oan chết uổng cả rồi…
 Đất làng chị đang trồng lúa, trồng màu bị chính quyền thu hồi, giao cho các ông chủ mới làm khu công nghiệp đợt đầu tiên ngay sau khi Mỹ bỏ cấm vận, nên giá đền bù rẻ như bèo. Nông dân vật vờ không việc làm, trai gái trong làng trôi dạt khắp nơi. Mẹ chị cả ngày đi ra đi vào đâm cáu gắt, ra ngõ chửi đổng. Hôm sau bà đi ăn giỗ làng bên về, dù đã khuya nhưng vẫn kéo chị vào buồng thì thầm:
 -Hạnh con cậu Ba vừa tốt nghiệp cấp ba, sắp sang Đức làm ăn, qua ngả Nga và Ba Lan. Cậu Ba bảo, nếu con muốn, đi cùng cho có chị có em. Mình nộp tiền, giấy tờ họ lo toàn bộ. Mẹ nghĩ kỹ rồi, dù con không tù tội, giờ cũng khó xin việc, huống hồ lý lịch của con thế này không nơi nào nhận đâu. Con không phải lo. Tiền bán đất với sổ tiết kiệm tiền tử tuất của bố và anh con cũng đủ. Còn con bé để ở nhà mẹ lo. Sau này ổn định sẽ đón chồng, con sang. Nếu đi, con phải thuyết phục chồng con thôi. Con hãy nghĩ kỹ, với con bây giờ, nơi này chỉ để thương để nhớ, chứ không còn là nơi để sống…
 Chị không ngờ mẹ có được đi học ngày nào đâu, nhưng suy nghĩ, hiểu biết, tính toán đâu ra đấy như vậy.
 Chị đến Nga vào một chiều mùa hè. Chiếc xe buýt cà tàng đã chờ nhóm hơn chục người của chị ở cửa sân bay. Qua ô cửa sổ nhỏ, chị thấy xe đang lướt nhanh qua những cánh đồng lúa mì mênh mông đang vào mùa gặt. Những cánh rừng bạch dương xanh ngát hai bên như miên man ôm chặt lấy con đường, có những lúc mở ra trảng đồng hoang tím đầy hoa dại.
Con đường bồng bềnh, vồng lên chùng xuống, chui qua khoảng rừng thông tối sẫm tưởng như nuốt chửng cả đoàn xe đang nối đuôi nhau chạy vào thành phố.
 Ngày còn ngồi trên nghế nhà trường chị đã được đọc, học những tác phẩm đồ sộ, những bài thơ lãng mạn, với những cuộc tình say đắm lòng người của các thi hào nước Nga. Nên ai mà chẳng ước mơ được một lần đặt chân lên xứ sở Bạch Dương diệu kỳ này. Hôm nay chị đã đến được với các cụ Tolstoi, Pushkin, Gorky…nhưng điều kỳ diệu ấy đã phải đóng lại trong tâm khảm của kẻ đang trên đường trốn chạy với một tương lai vô định, mịt mù.
Xe quẹo vào cổng khu nhà tập thể cũ của một nhà máy, dường như đã bỏ hoang nhiều năm. Thấy cổng còn khóa, lái xe người Nga to như con gấu lầu bầu chửi thề. Một lúc sau có người Việt chân tập tễnh đủng đỉnh đi ra mở và khóa cổng.
Xe lùi vào căn hộ trong cùng, cửa có thanh sắt chắn ngang, to như cổ tay. Sau khi thu hết hộ chiếu, người ta mở cửa sau xe, lùa tất cả vào. Mọi người nháo nhác định hỏi. Người đàn ông Việt rất nhã nhặn khi còn ở sân bay, trừng mắt:
 -Im lặng! Ở lại đây chờ. Loạng quạng bọn Cớm đến xúc cả đi đấy. Sẽ có người mang đồ ăn đến.
 Cả đám chị đang định thần đã thấy lố nhố một đám người đi ra. Họ là nhóm người vừa đến trước mấy ngày, đang chờ đi tiếp. Trong ánh sáng mờ mờ của cây đèn cầy, chị thấy căn hộ khá rộng, có nhiều phòng, nhưng cửa sổ đều bịt kín và sơn đen nên tối tăm và bốc mùi hôi thối rất khó chịu.
 Một chị nói tiếng Nghệ An kéo tay chị và Hạnh vào phòng bảo, bên trong còn một cái đệm, vào nằm chung cho đỡ sợ. Trong phòng còn mấy cô gái trẻ mặt mũi phờ phạc, vô hồn, hai mắt sưng đỏ. Chị Nghệ An nghiến răng, chỉ tay vào Hạnh, nói:
 -Tổ cha tụi nó, chưa đóng tiền thì nói ngon, nói ngọt. Sang đến đây bị tụi nó nhốt vô cái nhà không điện, không nước. Đàn bà con gái, thích lúc nào chúng lôi ra hãm hiếp lúc ấy. Lũ bất nhân thất đức này se có lúc bị quả báo thôi. Mà những người mới phải chuẩn bị tinh thần. Tối nay thế nào tụi nó cũng đến lôi đi đấy, nhất là con bé này.
 Hạnh sợ quá gục vào vai chị khóc sụt sịt. Biết thế này, các vàng em cũng chẳng đi. Chị cũng đang run lên, nhưng cố nói cứng an ủi Hạnh. Phóng lao phải theo lao em ạ, đến đâu hay đến đó.
 Chị Nghệ An đưa cho hai người mấy ca nước và bảo lấy khăn lau mặt, lau người cho tỉnh táo. Nước bẩn đổ cả vào sô, để dùng khi đi nhà cầu. Cả chục con người, mấy ngày nay chúng mới chở cho vài phuy nước.
 Chiều tối, có hai người đàn bà mặt mũi phấn son nhòe nhoẹt mở cửa, vứt toẹt thùng các tông đựng bánh mì, thịt hộp và mấy bịch nước dưới sàn nhà, ngó nghiêng một lúc rồi bỏ đi.
Dù rất đói nhưng chẳng ai muốn lấy đồ ăn. Mãi sau có mấy anh lớn tuổi ở phòng bên bê thùng đi phân phát cho từng người:
 -Cố gắng ăn lấy sức để đi tiếp. Những người ở nhà đang hy vọng vào cả chúng ta đấy!
 Đêm đã muộn, mọi người vẫn không ngủ được. Những câu chuyện bán đất bán nhà, vay nợ cầm cố, lấy tiền để đặt cược cho chuyến đi này cứ dài mãi không dứt…
 Có tiếng cửa mở, mấy cô gái trẻ co rúm người lại. Hạnh ôm chặt, rúc đầu vào ngực chị. Ánh đèn pin loang loáng rồi dừng lại ở phòng chị. Mờ mờ thấy ba, bốn thằng mặt mày bặm trợn, không biết say rượu hay say thuốc, đi cũng giựt, đứng cũng giựt giựt như lên đồng, giọng nhừa nhựa:
 -Mấy đứa vừa đến chiều nay đâu? Theo chúng tao lên phòng Chef làm việc.
 Im lặng đến nghet thở. Chúng sục vào từng phòng, rọi đèn vào mặt từng người. Lôi thốc chị và Hạnh ra, miệng chúng lải nhải, hai con này còn trẻ, còn chuyến này toàn những con già.
Chị và Hạnh ghì người lại, ôm chặt nhau:
-Giấy tờ chúng tôi đầy đủ, tiền bạc đã đưa. Giờ này không đi đâu hết.

Hai thằng đi đầu, thằng cầm tay chị, thằng cầm tay Hạnh giật mạnh, lôi đi xềnh xệch.
Hai thằng đi sau dựng hai cô gái nhóm đã đến trước dậy, bắt đi cùng. Tiếng các cô khóc ré lên như tiếng mèo đêm.
 Hạnh khóc không thành tiếng, bố mẹ ơi, cứu con.
Biết không thể chống được bọn này, chị van chúng đừng mang Hạnh đi, vì nó hãy còn trẻ con. Chị Nghệ An cũng chạy ra bảo, chúng mày tha cho con bé này đi, còn hai cô gái kia đã bị hành cả đêm hôm qua, giờ có còn ra hồn người nữa đâu…
 Chị chưa nói hết lời đã bị một thằng giơ chân đạp thẳng vào người:
 -Con già này mà còn nói nữa bố lôi ra cho chó chơi bây giờ.
 Mấy anh người Hải Phòng đi cùng đoàn chị ra cản lại:
 -Các ông là người dẫn đường hay là kẻ cướp, hiếp dâm đây?
 Bốn thằng cùng rút súng ra, dí vào đầu các anh:
 -Đ.M. Chúng mày muốn đi tiếp sang Ba Lan, Đức hay muốn xuống âm phủ?
 Chúng lôi bốn phụ nữ vào phòng bảo vệ của nhà máy cũ. Đây có lẽ là nơi ăn ngủ sinh hoạt hàng ngày của bọn đầu trâu mặt ngựa được thuê trông coi trạm trung chuyển này. Quần áo bát đĩa chai lọ bẩn thỉu vương vãi, lăn lóc trên tấm thảm cháy lem nhem. Cửa ra vào được làm từ mấy miếng ván ghép lại.
 Đè nghiến cả bốn người xuống thảm, như những con thú hoang, chúng lao vào …
 Chị không còn cảm giác. Hạnh giãy dụa khóc thét lên gọi mẹ. Hai cô gái bên cạnh cắn chặt môi, mắt mở trừng trừng…
 ***
 Chị phải dỗ mãi Hạnh mới chịu ăn trở lại, nhưng tinh thần cô hết sức hoảng loạn. Một tuần rồi hai tuần phải sống như vậy, trước mặt Hạnh chị phải cố giấu những giọt nước mắt của mình.
 Gần sáng, có tiếng mở cửa rồi có tiếng nói quen quen của người đàn ông hôm đón ở sân bay. Mọi người bật dậy, ùa cả ra:
 -Tất cả vệ sinh cá nhân, chuẩn bị vượt sang Belarus đến biên giới Ba Lan. Một tiếng nữa xe đến đón.
 Không biết sẽ đi đến đâu và như thế nào, nhưng nghe được thoát khỏi cái địa ngục trần gian này chị thấy như có thêm sức mạnh.
 Hơn hai mươi con người được nhồi lên chiếc xe đông lạnh kín mít, chỉ được đục mấy lỗ thông hơi nhỏ dưới sàn.
 Lúc lên xe, người dẫn đường đưa cho họ mấy cái xô để dùng đi vệ sinh và dặn, không được để người ốm yếu ngồi gần lỗ thông hơi, lỡ ngủ quên đè kín lỗ thì chết ngạt cả lũ.
 Có lẽ bóng tối và ngập chìm trong sợ hãi khiến không một ai còn có cảm giác ngột ngạt, hôi thối hay những nhu cầu sinh hóa hằng ngày của con người nữa.
 Cứ gà gật nửa tỉnh nửa mê, chẳng biết ngày hay đêm, đường còn xa hay gần, khi tỉnh dậy chị đã thấy mình nằm cạnh Hạnh và mấy người nữa. Chị đang ngơ ngác thì có mấy người đàn ông vào bảo, đã tới biên giới Ba Lan, nhưng bọn em bị ngất cả nên phải khiêng vào đây, còn mọi người ngồi cả ngoài kia. Gần đây có con suối nhỏ, các em nên thay nhau đi tắm rửa.
 Trạm trung chuyển này là ngôi nhà sát biên giới, cách xa khu dân cư và hình như cảnh sát biên phòng cũng đã được mua chuộc nên sinh hoạt có vẻ khá thoải mái. Chỉ có người Belarus bảo vệ và mấy người Việt hằng ngày mang đồ ăn đến, đôi khi còn có cả cơm nên sức khỏe, tinh thần của mọi người hồi phục khá nhanh.
 ***
 Tối ngày thứ năm, mọi người bất ngờ được báo, phải vượt biên giới sang Ba Lan ngay trong đêm. Dẫn đường là hai người Belarus đối xử với mọi người khá tốt. Đoàn người phải đi bộ qua một cánh rừng già, lá mục dày có chỗ thụt chân đến đầu gối. Mấy giờ sau, tất cả họ cũng mò mẫm ra được bờ suối.
 Nếu được phép, người nào cũng muốn nhảy xuống tắm cho đỡ dơ và ngứa rát vì muỗi đốt. Bên kia đã là đất Ba Lan. Con suối nước chảy không xiết, nhưng khá sâu và rộng, người dẫn đường phải bơm thuyền cao su, lộn đi lộn lại chở mấy chuyến. Người dẫn đường ra hiệu, nghỉ ngơi lấy sức, rồi tất cả phải chạy thật nhanh qua cánh đồng lúa mì, có một chiếc xe buýt của công ty du lịch chờ ở đó.
 Chị cắm đầu chạy, những cây lúa mì bị dạt ra bởi những người chạy trước bật lại, đập vào mặt như roi quất. Có những cây bị nằm rạp xuống cuốn vào chân giật chị ngã sấp mặt xuống ruộng. Chưa có cảm giác đau, chị vùng dậy chạy tiếp …
Chị có lẽ là người cuối cùng đến đích. Đầu gối chùng xuống, tim đập thình thình, mắt hoa lên, chị không thể bước lên được cửa xe. Một anh cầm tay chị kéo giật lên. Khi nhìn thấy Hạnh đang ngồi thở hổn hển, chị mới gục xuống.
 

Xe tới chợ người Việt ở sân vận động, trời đã gần sáng. Người, hàng hóa ra vào tấp nập. Phần đông đã có người nhà đón, số còn lại đi sang Đức, phải chờ. Chị và Hạnh được người ta cho ở chung với mấy người đang phụ bán hàng ngoài chợ. Cùng cảnh, nên họ cảm thông, thường nấu nướng cùng nhau ăn uống hay dẫn chị và Hạnh ra chợ cho đỡ buồn, đỡ nhớ nhà.
 Đến giờ nghĩ lai, chị bảo, nếu như không có hai tuần ở lại Warszawa và được sự chăm sóc, an ủi của các chị bán hàng ngoài chợ, chắc chắn chị đã không đủ sức lực và tinh thần để vượt biên vào Đức, khổ và gian nan gấp nhiều lần so với từ Belarus vào Ba Lan.
 Xuống nhà ga Halbestadt, chị và Hạnh đang lò dò, ngó nghiêng, xem có người Việt nào để hỏi đường vào trại tị nạn, thì không hiểu mấy người cảnh sát từ đâu ra, đã đứng ngay trước mặt. Khi cảnh sát kiểm tra, chị và Hạnh chỉ có tờ giấy duy nhất ghi địa chỉ của trại tỵ nạn trong người. Người cảnh sát gọi điện cho ai đó một lúc, rồi ra hiệu cho chị và Hạnh lên xe. Tưởng họ chở vào tù rồi trả về Việt Nam, Hạnh sợ quá khóc ré lên. Người cảnh sát nói một tràng, rồi cười vỗ nhẹ vào vai Hạnh…
 Sau khi cảnh sát bàn giao cho trại tỵ nạn, chị và Hạnh được làm giấy tờ và nhận phòng. Sáng hôm sau, người phiên dịch đưa chị và Hạnh đi phỏng vấn và kiểm tra sức khỏe, sau đó nhận quần áo và tiền tiêu vặt.
 Chị được cấp giấy phép tự do đi lại tất cả các thành phố trong bang. Bước đầu khá thuận lợi làm chị giảm đi nỗi đau vừa trải qua, nhưng nỗi nhớ chồng con và gia đình lại quằn quại thêm, khiến chị nhiều đêm mất ngủ.
 Tháng sau chị và Hạnh cùng được chuyển về thành phố Halle, nơi định cư mới. Nơi này là khu nhà lắp ghép, trước khi chị đến đã có nhiều tị nạn người Việt và các nước khác đang ở đó. Được mấy hôm, không hiểu sao chị và Hạnh lại được gọi đi khám sức khỏe một lần nữa.
 Trời hình như chưa vào thu. Nhưng có một vài cơn gió nhẹ, cuốn theo những chiếc lá còn xanh bay đi, làm cho lòng người day dứt, bồi hồi tựa như vừa đánh rơi một cái gì đó mà không thể gọi thành tên. Khi ánh nắng vẫn còn đậu trên những giọt sương mai trong từng kẽ lá, mọi người vẫn còn chìm trong giấc ngủ, người phiên dịch đi cùng hai nhân viên y tế gõ cửa vào phòng chị.
Người phiên dịch bảo, Hạnh bị mắc bệnh, cần phải chuyển ngay về bệnh viện Magdeburg điều trị, xe đang chờ ở ngoài. Chị có linh cảm chẳng lành, nhưng Hạnh lại hồn nhiên dọn quần áo như thể chuyển trại vậy. Chiều chị phiên dịch quay lại, chị gặng hỏi, chị phiên dịch bảo:
 -Nếu em không phải là người nhà duy nhất của Hạnh thì chị không dám nói. Nhưng em phải thật bình tĩnh. Hạnh bị nhiễm HIV từ vài ba tháng trước đây, trùng với thời gian các em bị hãm hiếp ở Nga, như các em đã khai trong hồ sơ. Rất may cho em…
 Chị phiên dịch cứ nói, nhưng chị chẳng nghe được gì nữa, hai chân từ từ khụyu xuống…
 Theo đề nghị của Hạnh, hôm sau xe của Caritas đón chị đến bệnh viện. Mới có mấy ngày, mà trông Hạnh sọm hẳn đi, hai mắt đỏ hoe, sâu hoắm. Chị ôm chầm lấy Hạnh qua lớp áo choàng của bệnh viện. Hạnh không còn một chút sinh lực nào, người rũ xuống. Rất lâu, nhưng không ai nói được câu nào, chỉ có nước mắt và nước mắt.

Lúc chị về, Hạnh chỉ nói em rất nhớ nhà, khi nào em chết, chị cố gắng mang em về quê cho gần bố mẹ em, chị nhé.
Chị ngoái lại bảo, đừng có nói gở, yên tâm chữa bệnh, chị sẽ đến thăm em thường xuyên.

Không ngờ, đó là lần cuối cùng chị gặp Hạnh. Có lẽ không có gì đáng sợ bằng sự chờ đợi cái chết. Hạnh lại còn quá trẻ,  không thể chịu nổi cú sốc đến quá nhanh, quá bất ngờ như vậy. Hạnh tự giải thoát bằng cách lao mình từ tầng tư  xuống đất vào lúc trời gần sáng, ngay trong khuôn viên của bệnh viện. Vậy là tấm hình Hạnh chụp, chưa kịp làm thẻ tạm trú, nay đã thành ảnh thờ.

Sau cái chết của Hạnh, chị phải vào bệnh viện nằm mấy tuần. Tưởng không đứng dậy nổi, nhưng nghĩ đến sự hy vọng của gia đình với mình, với Hạnh, chị lại gượng dậy.

Chưa được phép làm việc, chị đi làm chui làm lậu. Bất kể công việc gì, ở đâu, cứ có người thuê, chị cũng múc. Công việc phụ dọn, bán hàng vải ngoài chợ giời Leipzig, chị trụ được lâu nhất.
Làm được hơn năm, ki cóp được khoản tiền, chị lại phải lo mua “đểu”, lấy một ông chồng người Đức, để hợp thức hóa giấy tờ ở lại, khi bị bác đơn tị nạn, nhận giấy trục xuất về nước. Việc thuyết phục ông chồng thật ở nhà ly hôn đểu, quả thật khó ngoài sức tưởng tượng của chị. Nhùng nhằng mấy tháng, ông chồng thật mới chịu hiểu, thông cảm và gửi giấy tờ sang.

Số chị quả thật đắng cay, vất vả. Ông chồng đểu, bình thường lành như đất, khi có chút bia rượu, dù đã nhận tiền của chị, nhưng cứ đòi làm chồng thật. Nửa đêm, hắn khật khừ bấm chuông, đập cửa. Cả ngày đứng rét ngoài trời âm cả chục độ, về nhà chui vào chăn, vẫn thấy rét từ trong rét ra, chị mệt quá, đuổi. Hắn lỳ ra, xông thẳng vào bế thốc chị lên. Chị giãy giụa, chống cự, hắn như con trâu húc mả…
Lần đó, hàng xóm phải gọi xe cấp cứu chở chị đến bệnh viện. Trải qua nhiều lần như vậy, bác sỹ bảo, khả năng sinh đẻ của chị không còn nữa. Uất ức là thế, nhiều lần bệnh viện gọi điện cho cảnh sát, nhưng cái thẻ cư trú còn lơ lửng trên đầu, nên chị phải im lặng…

Đêm muộn, câu chuyện của chị, người đàn bà hát, dường như chưa đến đoạn kết, nhưng bị cắt ngang, bởi con gái chị đến. Nó bảo, vừa từ Berlin về thẳng đây(Halle của bác Nam võ) hát với mẹ cho vui. Chị cười, may cũng còn có nó, cháu đang học năm thứ ba, trường TU Berlin. Chị hẹn, hôm nào rảnh, vào chợ, chơi.

Gian hàng của chị rộng rãi, nằm trên vị trí khá thuận tiện của khu chợ người Việt ở Leipzig. Sau tết, chợ vắng khách, chị và mấy người giúp việc đang kiểm tra, dọn dẹp lại hàng hóa, chuẩn bị cho vụ hè. Tôi hỏi, ông xã đâu mà chị phải khiêng vác thế này. Không trả lời ngay, chị lấy nước, kéo ghế mời tôi.

Sau khi nhận được thẻ cư trú vô thời hạn, chị tìm mọi cách đưa con và ông chồng đang vật vờ trên mạn ngược đi sang theo diện đoàn tụ. Yên tâm chuyện gia đình, chị dồn và vay tiền, quyết tâm thuê lại gian hàng trong chợ. Hơn chục năm vật lộn với nó, chị mới có cơ ngơi và như ngày nay.
Chị nói về chồng với nét mặt chẳng vui, cũng chẳng ra buồn. Ngày mới sang còn đói rách thì chẳng sao, bây giờ có tiền, hắn đâm trái chứng, trái tật, suốt ngày ca cẩm không có con trai để nối dõi.
Mấy tháng nay hắn về Việt Nam để kiếm thằng con trai đây. Với chị bây giờ, mọi cái đều đơn giản, không còn quan trọng nữa…
Lúc tôi đứng dậy ra về, chị bảo kể câu chuyện trên với tôi giống như một sự giãi bày, để mong có được sự đồng cảm. Nếu sắp tới, chị có ghi lại một chút quá khứ ấy bằng nhạc, đề nghị tôi viết cho phần lời.

 Vâng, tôi nhất định sẽ giúp trong khả năng của mình.
Nắm chặt tay chị, tôi nói như vậy.
 Leipzig, 17/3/2013

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trao đổi ngắn với hai tác giả Trần Việt Quang và Hồ Ngọc Thắng (báo Nhân Dân ) về vụ Nhã Thuyên


Vũ Thị Phương Anh
Theo FB Vũ Thị Phương Anh 
Ts Vũ Thị Phương Anh
Báo Nhân Dân hôm nay có một bài tranh luận về vụ NT. Xin trích một đoạn mà tôi đặc biệt quan tâm: Nguồn:http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/binh-luan-phe-phan/item/22905702-ho-dau-can-quan-tam-toi-khoa-hoc.html: 

Trích:


"Liên quan đến việc thẩm định luận văn của ÐTT, thật ngạc nhiên khi trên BBC tiếng Việt, ông Phạm Xuân Nguyên đưa ra ý kiến về việc ông gọi là “chính trị hóa”, “phi khoa học” của “những thế lực” nào đó. Ở quốc gia nào cũng vậy, khi phát hiện một Hội đồng chấm luận văn có sai lầm nghiêm trọng thì đều phải thẩm tra lại.

 Ở CHLB Ðức, trường hợp tước học vị của ông Karl-Theodor zu Guttenberg, là một thí dụ. Năm 2007, luận văn phó tiến sĩ luật của ông được đánh giá rất cao, nhưng sau bốn năm lại phát hiện có sai lầm, Viện kiểm sát phải vào cuộc. Rồi năm 2013, bà Annette Schavan bị tước học vị phó tiến sĩ vì trong luận văn triết học bảo vệ năm 1980, bà đã vi phạm các quy định. Mỗi trường đại học lại đưa ra nội quy về thủ tục thi và bảo vệ luận văn thạc sĩ.

Về cơ bản, quy định tước học vị thạc sĩ của các trường là tương tự như nhau. Thí dụ, Ðiều 21 quy định thủ tục thi, bảo vệ luận văn thạc sĩ ngành kinh tế Trường Ðại học Tổng hợp Dortmund ghi rõ: Học vị thạc sĩ có thể bị tước nếu sau khi trao, phát hiện người làm luận văn lừa dối hoặc có sự ngộ nhận của hội đồng chấm luận văn. Hội đồng khoa có thẩm quyền quyết định việc tước học vị. Như vậy việc chấm lại luận văn là rất bình thường. 

Nên ông Phạm Xuân Nguyên nói rằng có thế lực đã “chính trị hóa” việc thẩm định luận văn của ÐTT mà bỏ qua việc xác định “thơ dơ, thơ rác” có xứng đáng là đối tượng nghiên cứu, ca ngợi, rồi nhân danh khoa học để biện hộ quan điểm chính trị sai trái thể hiện trong luận văn,… thì thực chất chỉ là ý đồ biến một sự việc bình thường thành một sự kiện bất bình thường, rồi đẩy vấn đề sang lĩnh vực chính trị."
Hết trích

Nhận xét: Tôi thấy cần phải khen báo ND và những người ủng hộ ý kiến phê phán NT đã có tiến bộ trong cách tranh luận. Giờ đây họ nói năng có vẻ có lập luận và chứng cứ hơn. Rất đáng biểu dương, và mong tinh thần trao đổi, tranh luận ôn hòa sẽ được tiếp tục.
 Dựa trên những lập luận của hai tác giả của bài viết về việc "chấm lại luận văn là bình thường", tôi xin có vài trao đổi:

1. Việc chấm lại luận văn nhưng không cho phép những người liên quan được biết để trao đổi, đến khi trao quyết định tước bằng cũng không cung cấp biên bản ghi nhận xét và những kết luận của hội đồng chấm lại luận văn cho đương sự, là bình thường hay không bình thường ạ? Những trường hợp mà các tác giả đã nêu ở nước ngoài, họ hành xử ra sao?

Nếu họ cũng làm giống trường ĐHSP Hà Nội thì tôi nghĩ, đó chỉ có thể là tòa án dị giáo thời Trung Cổ mà thôi: họ quyết định đúng là đúng, sai là sai, không trao đổi, không tranh cãi.

2/Trường hợp NT bị tước bằng là do phạm vào lỗi gì trong những lỗi đã nêu: vi phạm quy định (nếu là lỗi này, thì vi phạm quy định nào?), gian lận (dựa trên căn cứ nào?), hoặc ngộ nhận của hội đồng chấm luận văn (nếu là lỗi này, thì ngộ nhận ở những điểm nào? Sao không mời hội đồng 1 đến để trao đổi, tranh luận, hoặc ít ra là thông báo nguyên do cần thẩm định lại ạ?)

3/ Các quy định cụ thể về chấm lại luận văn và tước bằng sau khi đã được cấp của trường ĐHSP Hà Nội có thể tìm được ở nơi nào ạ?

Mong nhận được câu trả lời của hai tác giả.
---------

PS: Nhờ bài viết của hai tác giả mà tôi tìm được về vụ ông Karl Theodor zu Guttenberg bị tước bằng; vụ này đã được đưa lên Wikipedia. Ông ấy bị tước bằng do đạo văn, chứ không phải bị sai lầm gì đâu ạ. Mong hai tác giả đính chính lại để bài viết tăng thêm tính khoa học (nói có sách mách có chứng). Cám ơn hai ông.



Link đây: http://en.wikipedia.org/wiki/Karl-Theodor_zu_Guttenberg

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

TRÁNH XA NÓ RA

Lời bàn: Bạn bè có tốt mới nói, bác nên trân trọng.

Phạm Đình Trọng
Hàng chữ số 0438 229 894 trên màn hình chiếc điện thoại đang rung chuông cho tôi biết rằng cuộc gọi từ Hà Nội. Nhưng không ngờ cuộc gọi từ số 9 phố Nguyễn Đình Chiểu, trụ sở hội Nhà Văn Việt Nam. Lại càng không ngờ cuộc gọi đó là của ông bạn lính từ thời những thiếu úy, trung úy viết văn, làm thơ từ khắp các quân khu, quân chủng, binh chủng vừa bước ra từ cuộc chiến tranh về gặp nhau ở tạp chí VNQĐ (Văn Nghệ Quân Đội). Từ đó, ông bạn lính này đã cùng đơn vị với tôi suốt hơn mười năm. Ba năm cùng ở tạp chí VNQĐ. Ba năm tiếp theo vẫn ở tạp chí VNQĐ nhưng cùng cắp sách theo học khóa I trường Viết Văn Nguyễn Du. Mười năm cùng ở Ban Kí sự Lịch sử Quân sự rồi Xưởng Phim Quân đội. Ông bạn lính đó bây giờ là ủy viên ban chấp hành hội Nhà Văn Việt Nam. Có việc gì mà hơn 5 giờ chiều, hết giờ làm việc rồi ông bạn tôi vẫn còn ở cơ quan, dùng điện thoại cơ quan gọi cho tôi nhỉ?

Đầu tiên, ông bạn lính ngày xưa, ông ủy viên ban chấp hành hội Nhà Văn Việt Nam hôm nay nhắc tới truyện ngắn Mảnh Vườn Cớm Nắng của tôi viết về vài gương mặt quen thuộc ngoài đời trong cuộc sống chụp giật không còn biết đến đạo lí hôm nay. Ông bạn lính bảo: Giữa những người chả ra gì đó nhưng Trọng viết về mình rất ưu ái. Ông đọc bốn câu thơ Nguyễn Trọng Tạo viết tặng tôi khi tôi gửi thư ngỏ cho Thủ tướng kiến nghị dừng dự án khai thác bô xít Tây Nguyên: Tưởng câm hết rồi không nói được / Bỗng từ tim óc phọt lên lời / Chuông vàng cất kín giăng tơ nhện / Trọng đã gõ rền tiếng Nước ơi!
Ông bạn lính, bạn văn của tôi bảo: Các bài viết của anh Trọng, mình đều đọc. Thế mà ông lại hỏi: Anh Trọng vẫn sinh hoạt đảng đấy chứ? Hỏi vậy tức là ông chả đọc gì của tôi cả. Chán thế! Chả đọc gì của tôi nên ông mới hồn nhiên nói với tôi về Văn Đoàn Độc Lập với giọng của tuyên giáo, giọng của an ninh chính trị: Văn Đoàn Độc Lập chẳng vì văn chương gì đâu, cũng chỉ là chính trị thôi! Anh Trọng nên tránh xa nó ra. Cao Duy Thảo cũng tham gia Văn Đoàn Độc Lập nhưng đã rút ra rồi. Mình sẽ gọi cho Ngô Thị Kim Cúc. Chỉ là chính trị thôi. Tránh xa nó ra anh Trọng nhá! Tháng sau mình đi với đoàn nhà văn viết về đồng bằng sông Cửu Long. Vào trong đó, mình sẽ gặp anh Trọng nói chuyện thêm. Đó, mục đích cuộc điện thoại của ông bạn lính, bạn văn gọi cho tôi đó. Gọi từ cơ quan hội Nhà Văn Việt Nam là hội Nhà Văn Việt Nam phân công cho ông bạn tôi làm việc này.
Cảm ơn lời khuyên rất chân thành của ông bạn lính, bạn văn hiền lành, tốt tính của tôi. Vì thế tôi không nêu tên ông ra đây.
clip_image002[6]
Ảnh: Ông bạn lính, bạn văn của tôi có trong ảnh này cùng Chủ tịch hội Nhà Văn Việt Nam Hữu Thỉnh và tôi
P.Đ.T.
Phần nhận xét hiển thị trên trang