Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 10 tháng 4, 2014

Đăng lại bài này vì vài lý do:

NHÀ VĂN CÓ KHÁC NHÀ THƠ?!

Tôi viết bài này với lý do mới đây có vài nhà văn và nhà thơ khi gặp tôi họ nói “Ông Đức ạ, bây giờ hầu hết nhà thơ đều nhận mình là nhà văn”.

Tại sao vậy? Mọi người bàn chuyện, hiển nhiên vì nhà thơ thì quá đông, có lẽ họ là lực lượng đông đảo chỉ đứng sau nông dân, công dân và tiểu thương ở Việt Nam, cái gì nhiều đâu còn sang hay quí, vì thế nhà thơ đổ xô nhận mình là nhà văn cho nó oai. Thói háo danh sai địa chỉ đó âu cũng là thói kiễng chân lúa nước của người Việt. “Thấy sang bắt quàng làm họ” mà, thấy cái gì quí hơn thì tự tâng bốc mình lên tới đó, thậm chí còn vượt qua đó.



Rất nhiều nhà thơ thẳng thắn thú nhận “viết văn là bám bàn mà”. Từ đó soi qua nhà thơ thì thấy, chủ yếu họ sáng tác lúc trà dư tửu hậu, đi chơi, đi dạo, đi chợ, hay quẩn quanh từ nhà ra sân xuống bếp, họ ngâm nga mấy lời, rồi  chép ra vài dòng gọi là thơ. Đây cũng là cách sáng tác phổ biến của đại cường quốc thơ Tầu. Từ xa xưa họ cho làm thơ là tức cảnh sinh tình, vén tay áo rộng, phẩy nét bút lông, ngạo nghễ phun châu nhả ngọc mấy vần thơ lẻ, chưa làm xong đã có vô số kẻ hiếu sự đứng chầu rìa xung quanh xuýt xoa ca tụng như sấm ngôn rớt xuống từ trời. Những người đó đâu có biết chữ hay thơ văn mà xuýt xoa, chẳng qua là họ xuýt xoa đám vua chúa, quan lại, kẻ sĩ có quyền lực. Đấy là cách sáng tạo của tờ rơi chứ không bao giờ là sách có gáy. Ngày nay cũng vậy, những tập thơ của các nhà thơ đa số trông như tập vé số. Còn viết sách thật thì sao, xưa kia triều đình bao giờ cũng triệu các quan vào bàn, chọn ai viết, những học trò nào ưu tú được chọn để chép lại thành các bản chép tay.

Quan trọng bậc nhất ở đời là lập Danh, bởi vì không có danh khác gì bọt bèo trôi nổi trên sông chẳng để lại vết tích gì. Một triệu cái chân bàn hỏng có ai nhớ, vì chúng không có tên. Một tỉ con côn trùng sinh – hủy cũng có ai nhớ. Nhưng con người thì khác, người ta được đặt cả tên Họ, tên đệm, lẫn tên riêng, nhiều nơi còn có tên thánh. Con người chết đi được ghi vào sổ lưu niệm hay cúng trên bàn thờ. Lập Danh không chỉ làm rạng rỡ tên tuổi mình, mà còn rạng rỡ tổ tông, còn rạng rỡ quê hương, cao hơn còn đứng trong thành tựu của loài người.

Nhưng mà lập danh thế nào khi con người không có chính danh? Một người thành công được tặng thưởng, nhưng người ta lại xướng tên người khác, hoặc trao cho làng bên cạnh, thử hỏi danh vọng đó có vô ích không?! Cái Danh – tức cái Tên là quan trọng hàng đầu với mỗi người, vì nó xác định họ là mình chứ không phải người khác. Cái Danh trong tiếng Việt được ghép với từ “Danh Dự” theo lô gic đã trở nên cái quan trọng sống còn của mỗi người. Một khi mất danh dự thì cũng chẳng còn gì để sống.

Khi cái Danh quan trọng vậy, thì nó bị bước vào thử thách “Danh chính ngôn thuận”. Một khi danh không chính đáng thì làm sao ngôn thuận, mà người viết văn, làm thơ lấy ngôn từ làm chính, vậy mà danh ú ớ để ngôn không thuận thì làm sao có thể đi xa. Truyện ngụ ngôn dạy chúng ta rằng, con cáo muốn thò chân vào hang thỏ, thì phải thủ thỉ nói, “tôi là thỏ đây”. Tất cả mọi kẻ trộm, kẻ lừa đảo cũng vậy, muốn trà trộn vào một đoàn người lữ hành để khua khoắng, chúng đều phải giả danh làm ai đó. Vậy khi nhà thơ muốn giả danh thành nhà văn thì để khoắng cái gì, có phải ít nhất là danh vọng?!

Đi buôn, có phân biệt buôn sỉ và bán lẻ. Quân đội và công an dù cùng là lực lượng võ trang, nhưng là hai lực lượng khác biệt không thể giống nhau. Nhà văn và nhà thơ cũng rất khác nhau, đặc biệt trong tư duy, người làm thơ vần vèo không thể lẫn vào người làm văn trải chữ trên giấy. Triết gia Hegel phân biệt rằng: Dân tộc có bàn viết là dân tộc có trí tuệ cao, vì cái bàn là phương tiện chuyên biệt dùng cho viết lách. Trái lại, dân tộc nghêu ngao xướng vịnh mấy câu lẻ, sau đó chép ra theo trí nhớ, bạ chỗ nào chép cũng được, có mấy câu quan trọng gì, thì đó là dạng tùy tiện ngẫu hứng, vui đâu chầu đấy bé nhỏ.

Văn xuôi là ngôn ngữ bình thường của đời sống. Người ta sống thế nào, trải nghiệm ra sao, nói thế nào, viết văn thế ấy. Còn thơ, theo Aristote là nhịp điệu hân hoan của ngôn ngữ. Đặc biệt hơn, thơ thường có vần điệu để cho những người không có sách, dạng mù chữ có thể dễ thuộc và truyền miệng.

1-     Nếu bạn nói “Trong ráng hoàng hôn xao xuyến anh thấy em rất đáng yêu”, thì đó là văn xuôi.
2-     Nhưng nếu bạn nhạc điệu hóa mấy từ đó như: “Trong hoàng hôn xao xuyến í i, anh thấy em í ì i rất là rất đáng yêu í ì” thì đó coi như thơ.

Vì tư duy theo vần điệu nhí nhảnh xuống dòng liên tục, nên người đời không thể hình dung về một bóng dáng nhà thơ vạm vỡ, cứng cỏi, trí tuệ, Thủa xưa, thơ, cũng như sử thi có lẽ còn xuất hiện trước văn xuôi. Nhưng thơ ngày xưa, đó là Thi Ca bao gồm cùng lúc: Thơ, Kịch, Văn xuôi. Còn thơ đoản ca, theo triết gia Aristote là thứ thiếu trọng đại, cả vạn nhà thơ Hy lạp đã mất tăm không hề sủi bọt, chỉ để lại mỗi một Homer và vài nhà viết kịch tên tuổi.

Nhiều người Việt mình ra nước ngoài đã xấu hổ về tổ quốc khó nghèo lạc hậu mà toàn tự giới thiệu mình là người Nhật, người Hàn… Rồi khi được hỏi hầu hết trả lời “ta người Hà Nội”. Người Việt có câu “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo”. Người phương Tây sang làm ăn tại Việt Nam có một nhận xét: người Việt ít có tính chung thủy với công ăn việc làm hay công ty của mình, thường thấy chỗ nào “ngon” hơn thì chuyển. Như vậy là kiểu “đá lăn không xanh rêu”, không hình thành được tay nghề cao, cũng như đạt tới lý tưởng của nghề nghiệp.

Nhiều người cứ nói “yêu thơ”, nhưng vào lúc thơ còi cọc ốm yếu nhất, lẽ ra mình có tí vốn thì phải chung tay vào đó để vực thơ lên, nhưng chưa chi họ đã chạy làng. Nhưng tại sao họ cứ tiếp tục ca tụng thơ? Vì vốn nghê nga vần vèo của họ ít quá, rời thơ ra chẳng biết làm gì, nên họ chả vờ ca tụng và yêu thơ. Người đời cũng nói “sanh nghề tử nghiệp”, muốn khuyên chỉ có chuyên tâm từ đầu chí cuối như vậy, thì trình độ của người ta mới uyên thâm. Một người hát dong, một người xiếc chợ, lại còn kéo cả họ vào làm gánh xiếc, nghề của người ta là nghề mạt hạng, nhưng nếu người ta không biết yêu nghề thì làm sao có ngày danh vang thiên hạ?

Ngay với triết học, một số chuyên gia cho rằng, ngày xưa cho chí ngày nay, triết học bị xem thường, thờ ơ, coi rẻ, vì bị coi là tư duy viển vông, không thực tế, không đem lại lợi ích, cụ thể ở Việt Nam, ông Trần Đức Thảo giỏi từ bên Pháp như vậy, về rừng Việt Nam cũng bị xếp xó ngồi chơi xơi nước.
Mỗi con người có một hoàn cảnh, mỗi nghề có cái khó và cái dễ của nó, nhưng làm sao chịu được nghề như nghề thơ ở xứ ta, thấy dễ dãi phổ biến quá lại nhiều đồng đội người ta lăn xả vào, nhưng lúc khó người ta liền bỏ đi không còn một mống. Thử hình dung một hình ảnh thế này. Rạp hát kia có hai cửa vào: bên “nhà văn” và bên “nhà thơ”. Vì điều kiện xét nét quá, nên nhiều người bỏ cửa nhà văn sang cửa nhà thơ. Khi tan cuộc, người ta bỗng thấy chẳng có ai ra bên phía cửa “nhà thơ” cả, mà tất cả đều ra bên cửa nhà văn.

Còn có hai hình ảnh khác. Một toa tầu ngoài cửa ghi “vào nhà thơ – ra nhà văn”, thì nườm nượm người xếp hàng chen chúc mua vé. Còn cạnh đó toa tầu ghi “vào nhà văn – ra nhà thơ” thì chẳng có ma nào bén mảng.

Thử hình dung, những đứa con nhà nghèo khi về bên ngưỡng cửa bỗng lưỡng lự chỉ muốn thành con nhà hàng xóm vì bên đó giầu hơn?! Và một người thổi kèn trong dàn nhạc bỗng chán cái kèn của mình, chỉ muốn ngồi chơi bên chiếc piano bóng lộn, thử hỏi liệu dàn nhạc có còn? Một quốc gia chỉ tề tựu hàng triệu kẻ ham vui dễ dãi, ngâm nga vài vần kiếm danh, kiếm sống, kiếm giải và kiếm ghế, nhưng khi được xướng tên lại lắc đầu quầy quậy “tôi là nhà văn viết sách có gáy cơ” thử hỏi quốc gia đó có yếu ớt như mấy vần nghê nga ẻo lả?! Và quốc gia đó làm sao giầu mạnh khi đông nhung nhúc những kẻ “danh đã đổi nhưng ngôn vẫn xối như xả lũ”?
NHĐ 05/09/2013


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tính cách Việt, nên giữ hay bỏ??

Làm trai cứ nước hai mà nói
TT - Kho tàng tục ngữ Việt phản ánh triết lý, xã hội và văn hóa người Việt. Những ưu điểm, phẩm chất cao đẹp của dân tộc ta được bộc lộ trong tục ngữ.
“Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn” nên chuột cũng biết lo lót quà cáp cho mèo để việc đại hỉ được “đầu xuôi đuôi lọt” trong bức tranh dân gian nổi tiếng Đám cưới chuột 

Tay có ngón ngắn ngón dài, người có năm bảy hạng nên có những quan điểm sống trái ngược nhau. Do vậy tục ngữ cũng là tấm gương phản chiếu những tật xấu, nhân sinh quan của một bộ phận người Việt.

Trước hết đó là tính cá nhân, vị kỷ, chỉ biết vơ vén cho mình, cho gia đình, họ hàng, với lối sống khôn lỏi, ranh vặt: khôn sống mống chết, khôn ăn người dại người ăn. Và tạo ra những vây cánh họ tộc: trong họ ngoài làng, một người làm quan cả họ được nhờ.

Người Việt trọng miếng ăn: đánh mõ không bằng gõ thớt, muốn ăn trước người, còn khó khăn, nguy hiểm đùn cho người khác: ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau.

Của chùa, của người thì bồ tát mặc sức xài xả láng, còn của mình thì lạt buộc. Điều gì cá nhân không hưởng lợi thì không làm: ôm rơm rặm bụng.

Việc chung sẽ có người khác lo, tội gì ăn cơm nhà, vác tù và hàng tổng, chỉ tổ lắm thóc, nhọc xay. Ấy vậy nên cha chung không ai khóc.
Lối sống vô cảm cháy nhà hàng xóm bình chân như vại, sống chết mặc bay, tiền thày bỏ túi cũng sinh ra từ tính cá nhân, ích kỷ.

Muốn sống yên ổn trong một xã hội nhiều tai bay vạ gió, con người phải thu mình lại, tránh những vạ miệng, nói năng nước đôi: người khôn ăn nói nửa chừng, để cho kẻ dại nửa mừng nửa lo, làm trai cứ nước hai mà nói hoặc mũ ni che tai, việc ai chẳng biết.

Có lối sống an phận lão giả an chi, nhẫn nhục im lặng ngậm miệng ăn tiền, cam chịu thân hèn không dám động đến những người quyền chức, còn do miệng quan trôn trẻ, lươn lẹo khó lường. Thấp cổ bé họng nhưng muốn sống an toàn nên sẵn sàng lo lót, chạy chọt.

Dẫu nghề nào cũng “ăn”, cũng “tham nhũng vặt”: thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ, thợ bồ ăn nan, thợ hàn ăn thiếc... nhưng nghề làm quan thì hết biết: quan thấy kiện như kiến thấy mỡ. Nghề làm quan kiếm ăn dễ nhất, “khủng” nhất, tham nhũng lớn nhất khiến bà mẹ phải thốt lên: Con ơi mẹ bảo con này/cướp đêm là giặc cướp ngày là quan. Quan mới hay bới chuyện. Vô phúc mới lôi nhau lên quan. Vô phúc đáo tụng đình, tụng đình rình vô phúc, bởi nén bạc đâm toạc tờ giấy.

Coi mình là trung tâm, cái gì của mình cũng hơn và thiên lệch đến vô lý:Ta về ta tắm ao ta/dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.

Mình là nhất nên không thích và cũng không có khả năng hợp tác, nhất là khi quyền hành nắm trong tay. Hậu quả là lắm thầy thối ma, lắm cha con khó lấy chồng. Tự cao đấy nhưng cũng lại tự ti đấy: văn mình, vợ người.

Anh em sinh đôi của tính ích kỷ, cá nhân là bệnh háo danh, dẫu là hư danh. Trạng Quỳnh từng được người làng cầu cạnh giúp họ trở nên ông nọ bà kia, với cuộc đời một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp. Sinh thói trọng hình thức, rồi nạn mua quan bán tước.

Có cầu ắt có cung. Hình thành những người hành nghề “chạy” (chạy chức, chạy quan, chạy bằng cấp, chạy huân chương, chạy danh hiệu...), và những người làm giả tất tần tật mọi thứ, tạo ra một xã hội đầy rẫy những giá trị giả.

Háo danh nên chỉ thích được khen, khó chịu cả với những lời chê hợp lý. Người Việt chỉ sợ mang tiếng chứ không sợ làm điều xấu.

Trong các từ điển tiếng Việt, chỉ có cụm từ (sợ) mang tiếng, (sợ) mất mặt mà không thấy (sợ) cái xấu. Còn công việc thì lại đùn đẩy nhau trách nhiệm, biên chế càng phình lên thì công việc càng rối và bê trễ, lắm sãi không ai đóng cửa chùa.

Đáng sợ nhất là thói kèn cựa con gà tức nhau tiếng gáy, trâu buộc thì ghét trâu ăn, quan võ thì ghét quan văn dài quần và thậm chí không ăn thì đạp đổ.

Một xã hội mà tính cá nhân, đố kỵ nổi trội lại rất háo danh và coi trọng hình thức sẽ không có chỗ đứng cho những người tài, muốn đóng góp cho đất nước luôn vươn tới những tầm cao mới.

Đánh chó phải ngó chủ
Nhiều vụ việc trong đời sống, nhiều cách hành xử cho thấy người Việt rất nhớ câu đánhchó phải ngó chủ, gió chiều nào che chiều ấy, cốt sao được an toàn. Và cũng là lối sốngphù thịnh, chẳng ai phù suy. Ai chẳng may gặp rủi ro, thất thế thì người ta nhờ gió bẻ măng, thừa cơ đục nước béo cò, giậu đổ bìm leo dìm cho chết luôn. 

NGUYỄN ĐỨC DÂN
http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/602050/lam-trai-cu-nuoc-hai-ma-noi.html


Phần nhận xét hiển thị trên trang

"Này ông…, ông đéo tôi lúc nào?"



FB Nguyendinh Bon
Nhân chuyện kêu ông diễn viên hèn, bị vài người phản ứng, tui cũng chỉ biết cười trừ, bởi tui hiểu những người đứng ngoài cái “hỗn mang” của giới văn nghệ sĩ Việt Nam thường bị cái lung linh đầy hào quang che lấp. Và nhân tiện kể một câu chuyện vui làm ví dụ. Và vì chỉ là “ví dụ” nên không cần nêu tên nhân vật, mà nếu cái “nhân vật” đó ấm ức, muốn phản ứng thì tui sẽ nêu tên luôn, vì chuyện thật 100%, tui là người chứng kiến!

Chuyện này xảy ra hơn 20 năm trước, cái hồi tui còn thích đọc và thỉnh thoảng in truyện ngắn trên báo Văn Nghệ, hồi đó cũng còn tôn trọng Hội Nhà Văn nữa. Lần đó tui được mời đi dự một cái gọi là Đại Hội Nhà văn trẻ ngoài Hà Nội. Nói chung cũng vui, thậm chí còn hùng hồn phát biểu, giờ nghĩ cũng… kinh kinh!

Sau bế mạc, có mấy bạn trẻ làm báo HHT ở chung nhà khách, hình như cậu đó tên L. rủ qua nhậu chia tay vì sáng mai ai về nhà nấy. Có tui, anh THD, anh HVK, vài người nữa, hình như có ĐĐT (Phú Yen) và nhân vật chính tui kể đây. Anh ấy là một nhà thơ nổi tiếng, hiện giờ chả thấy làm thơ gì nữa nhưng vẫn cứ nổi tiếng, và vì nổi tiếng nên anh ấy được một cô nàng tên V., đang làm báo TP săn đón. Trước đại hội, nàng đến chở anh ấy đi thăm thú Hà Nội bằng chiếc xe Kawasaki màu trắng của mình. Phải nói là chúng tôi rất ganh tỵ khi anh chàng vênh mặt lên kiêu ngạo, và sau khi về càng ganh tỵ hơn khi nghe anh ta úp mở đã “xơi tái” cô nàng.

Quay lại cái đêm hôm ấy, khi đang nhậu bia lon của mấy bạn HHT bỗng nhiên có ai đập cửa ầm ầm. Một người bạn ra mở cửa thì một cô nàng xô mạnh bước vào. Đó là cô V. Mọi người chưa hiểu gì thì V. chỉ mặt ông nhà thơ, nói: “Ông…, ra tôi bảo!”. Cả phòng nhìn ông nhà thơ, ông nhà thơ xanh mặt, nhưng cũng đành bước ra. Ngay lập tức cô V. chỉ thẳng tay vào mặt ông ta, nói gằn: “Này ông…, ông đéo tôi lúc nào mà đi nói cho khắp Hà Nội này là đã đéo tôi?”. Nhà thơ lúng túng, ấp úng, mặt như cái thúng. V. dập mạnh cửa, bỏ đi!

Hơn hai mươi năm đã trôi qua, nhà thơ đó giờ vẫn là còn là “thần tượng” của một số chị em và bạn đọc, nhưng xin các bạn đừng đoán và còm tên chàng vào trang của tui nha. Bài học đơn giản rút ra: sau cái lung linh là cái… thúi rình, và sau cái lịch thiệp của một cô nàng Hà Nội là cái phản ứng dữ dằn mà có lẽ con gái Sài Gòn hổng có. Nhưng phản ứng đó đúng!
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Một số điều hành khách đi máy bay ít biết.

 Máy bay giờ đây là phương tiện giao thông gần như phổ biến, nhưng vẫn còn nhiều điều mà hành khách không biết khi đi máy bay, và chính các hãng Hàng không cũng không muốn nói rõ. Vừa qua, trang mạng Slate.fr đã gặp một Phi công của hãng Air France để hỏi một số điều, và những câu trả lời của Chuyên gia này gây ngạc nhiên, thậm chí gây lo sợ cho những ai vốn không ưa thích đi máy bay.



alt
Tất cả các máy bay dân dụng hiện đại đều có thể bay, thậm chí cất cánh với một động cơ
         
   Trước hết, khi xảy ra trường hợp áp suất bên trong máy bay bị tụt giảm đột ngột, hành khách phải đeo mặt nạ để thở oxy. Ít ai biết lượng oxy này đủ dùng trong bao lâu. Giới chuyên gia cho biết, chỉ có 13 phút mà thôi, và đây là thời gian đủ để tạm thời cho  sự trục trặc kỹ thuật.
 Ở độ cao 10 ngàn mét, nếu áp suất trong máy bay đột ngột tụt giảm thì sẽ làm mất oxy trong không khí. Chỉ cần Phi công nhanh chóng cho máy bay hạ độ cao xuống khoảng 3.000 mét thì áp suất trở lại bình thường và trong không khí có đủ oxy.



Nếu oxy cho hành khách là 13 phút thì Phi công lại có tối thiểu là 15 phút để luôn luôn tỉnh táo trong mọi trường hợp. Mặt khác, trên máy bay còn có máy chế oxy hỗ trợ, được dùng khi một hành khách bị đau tim, cần phải cấp cứu trong suốt lộ trình bay.
  Một câu hỏi khác: Tại sao khi máy bay chuẩn bị hạ cánh vào ban đêm, toàn bộ đèn trong khoang hành khách được tắt? Câu trả lời có thể làm cho mọi người lo sợ: Tắt đèn là để cho hành khách làm quen với bóng tối, không bị lóa mắt khi phải di tản khẩn cấp trong đêm, lúc máy bay hạ cánh có sự trục trặc. Thời gian quy định trên lý thuyết để đào thoát tất cả hành khách là 90 giây, quá ít để mắt của hành khách có thể thích ứng với bóng đêm.

            Ai chả thích máy bay hạ cánh nhẹ nhàng, êm ái. Thế nhưng, hành khách không được đáp ứng điều này khi trời mưa, vì máy bay sẽ hạ cánh rất mạnh, thậm chí gây sốc vừa phải. Vì sao? Chắc chắn không phải vì Phi công non tay, mà họ buộc phải hạ cánh mạnh để tránh hiện tượng trơn trượt do mặt đường băng bị ướt. Xin nói thêm, về lý thuyết, Phi công không bắt buộc phải hạ cánh êm nhẹ - thường gọi kiss – landing, vì kiểu này sẽ kéo dài thêm đoạn đường hạ cánh. Mối quan tâm của Phi công là bánh máy bay tiếp xúc đúng điểm cần thiết và do vậy, máy bay không vượt ra ngoài đường băng.

            Một câu hỏi khác thường được nêu ra là:  tại sao hành khách phải tắt điện thoại di động, cũng như các máy thu phát sóng khác khi máy bay cất cánh, hạ cánh. Thực ra, việc không tắt điện thoại di động không thể làm máy bay rơi, nhưng sẽ gây nhiễu sóng trao đổi tin giữa Phi công, và nhân viên không lưu, tạo những tiếng rít rất khó chịu, giống như khi đặt điện thoại di động bên cạnh vô tuyến, hay đài phát thanh.

            Có một thắc mắc mà hành khách thường nghĩ đến nhưng ít khi dám nói ra, nhất là khi đi máy bay: Điều gì sẽ xảy ra nếu chỉ có một động cơ hoạt động? Giới chuyên gia khẳng định: Tất cả các máy bay dân dụng hiện đại đều có thể bay, thậm chí cất cánh với một động cơ. Hơn nữa, các phi công đều được luyện tập thường xuyên với tình huống cất cánh, hạ cánh, và bay với một động cơ.

            Chi tiết nhỏ khác liên quan đến thức ăn trên các tuyến bay đường dài: Bạn có biết rằng theo quy định Hàng không, thức ăn của hai Phi công: Cơ trưởng và lái phụ, bắt buộc phải do hai hãng chế biến khác nhau, nhằm tránh hiện tượng cả hai người đều bị ngộ độc thực phẩm. Thực đơn này được áp dụng đối với các bữa ăn trên máy bay cũng như trước khi bay.

                                                                                ĐỨC TÂM/

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bài của Cựu, bạn anh:


Gia đình tôi có hộ khẩu ở một Phường của Quận Đống Đa rất gần Hố Mẻ, cơ mà tên Phường không có chữ Thượng, tôi hay đi qua hố Mẻ vì có một thời gian hơn hai chục năm cứ từ nhà bố mẹ tôi về nhà riêng của  vợ chồng tôi, phải qua Hố Mẻ, Triển lãm Không Quân, Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái,Vương Thừa Vũ qua những phố toàn là tên của những Ông Tướng quân đội.
Cùng học và tốt nghiệp sĩ quan với tôi một đứa có nhà ở Lê Trọng Tấn, ba  đứa có nhà ở Hoàng Văn Thái,một đứa mới nghỉ hưu nhưng cũng được phân đất ở trong khu sân bay Bạch Mai trước khi nghỉ.
Trong mấy đứa ấy có mỗi một tay gặp may mắn, một tay tự tiến thân còn ba đứa kia thời chúng tôi học sĩ quan bố đẻ chúng nó cũng đại tá có chức ở Quân khu 3, Học viện Hậu Cần, và Bệnh viện quân đội 354
Ngày ấy sau khi tốt nghiệp, phần lớn chúng tôi đi biên giới, còn mấy người kể trên quanh quanh thành phố Hà Nội mà có đứa đi xa nhất là ở Chùa Trầm Chương Mỹ Hà Tây.
Chả phải bây giờ, ngày ấy chúng tôi cũng đã nói với nhau:
" Con sãi ở chùa thì quét lá đa rồi"
Thi thỏang vào ngày tết, ngày rằm vợ tôi thường ra nhà bố mẹ tôi cúng hóa vàng, cúng xong vợ tôi đốt vàng mã rồi dặn tôi:
- Bố nó mang tro ra hố Mẻ rắc.
Cũng có hôm vợ tôi sai tôi mang ốc ra hố Mẻ thả, vợ tôi bảo đấy là phóng sinh,mình mua các con ốc người ta sắp luộc nhể bán ăn buổi tối, mang ra thả, cứ mỗi con ốc là một phận đời, vì ơn cứu mạng nên mình có hạn cũng chóng khỏi
Tôi ừ:
- Thì có thả ốc ba mươi sáu cái răng mới hỏng hai cái, rồi mấy chục đốt sống mới khục một đốt chứ, không thả có khi đi hết rồi
Mỗi lần ra hố Mẻ tôi nhìn qua bên kia hồ:
- Bên trái là khu bệnh viện đại học Y Hà Nội, chếch sang bên phải có mấy dẫy nhà cao cao to to, có đứa nào nó có lần nói với tôi là xa xa ấy là nhà của phi công Phạm Tuân mà ông Tố Hữu có nói trong thơ - Chân dép lốp mà lên tàu vũ trụ, cái ông mà mang bèo hoa dâu lên vũ trụ làm thí nghiệm ấy ( Giờ đếch ai còn biết  bèo hoa dâu để làm gì nữa? Mà có hỏi nó bẩu bèo hoa dâu để nấu cám lợn) tôi nhìn sang những ngôi nhà ấy tôi ước chừng cơ ngơi những ngôi nhà ấy cỡ vài chục tỷ, tôi đoán thế vì thằng bạn tôi đại tá nhà ở Lê Trọng Tấn nó có tám mươi mét vuông hai mặt phố, hôm nó làm nhà xong, tôi đến ngôi nhà năm tầng của nó tôi hỏi nhà mày nhiêu một mét nó bảo 150 triệu. Trong lúc ngó mấycái nhà to to ấy tôi bảo với tôi rằng cứ lấy giá trị ngôi nhà ấy chia cho bốn mươi năm công tác thì thu nhập của các vị ấy một tháng cỡ đến trăm triệu cũng nên
-----------
Dạo này tôi hay xuống Hải Dương đi kiếm cơm, cứ sáng sớm tôi nhẩy lên xe buýt số 19 đi ra bến xe Lương Yên rồi nhẩy lên xe Lương Yên Tam Bạc, mỗi lần đi qua chỗ triển lãm không quân một tẹo tôi thấy tay lái xe buýt oánh tay lái một phát,người nghiêng sang một bên, qua cửa kính xe tôi thấy họ đang mở đường phá nhà từ chỗ ngã tư Vọng lại, chỗ Phòng Không Không Quân họ cũng xây lui lại rồi.
Mấy nay xem báo, tôi thấy báo chí nói chỗ đường Trường Chinh đoạn qua hố Mẻ đường cong để tránh nhà mấy vị tướng phi công với tên lửa.Tôi chả biết thế nào? Cơ mà tôi đi từ chỗ ngã tư Vọng đến ngã tư Sở tôi nhận thấy những nhà mặt đường của người dân bình thường buôn bán sứ vệ sinh, máy bơm nước, sứ Giang Tô, gạch ốp lát đều đập đi cả.
Tôi là người hay đi xe máy đi chơi với thăm thú bạn bè, xưa chưa có cái đại lộ Thăng Long, tôi đi xe máy ở đường Láng Hòa Lạc thấy đường thẳng cũng sướng, bây giờ thành đại lộ Thăng Long tối mà đi ô tô từ Xuân Mai về đến BiG C thấy đường của ta đẹp như đường của Tây.
Tôi cũng thấy báo họ nói chỗ cong ấy tại vì đường tránh nhà của các vị tướng máy bay tên lửa đã về hưu, tôi cũng thấy có người bảo không phải
Cơ mà tôi cũng băn khoăn:
- Ví dụ như chỗ cạnh hố Mẻ ấy là nhà của mấy con mẹ bán sứ vệ sinh, bơm nước với vật liệu xây dựng thì đường đến chỗ ấy nó có cong không?
Qua kia tôi đọc một bài viết của một em nhà báo xinh xinh tôi quen, em ấy bảo có ai đó đặt tên con đường ấy thành đường có bốn chữ " Lan Ngân Tuân Soát" thay cho tên của Ông Tổng bí thư Trường Chinh nữa cơ
Tôi đọc xong cười cười:
- Dân tình cũng thâm nho thật, cơ mà đụng chạm đến nhà thơ Sóng Hồng đã mất thì tôi cũng chả muốn tý nào, cơ mà dân nó văn hóa kém, nó cứ mướn câu của các cụ ngày xưa mà thở ra " Không có lửa làm đếch gì có khói"? Bây giờ khác ngày xưa rồi, ngày xưa bắn máy bay Mỹ đếch sợ chết, còn nghĩ đến độc lập dân tộc,hạnh phúc cho nhân dân, bây giờ hòa bình rồi, đảng viên cũng phải biết cách làm giầu, miếng đất đẹp thế? Nhiều tiền thế tự dưng để làm đường cho người ta đi là thế nào được.
Chả biết cái vụ cong cong mềm mại,uyển chuyển này báo chí có khai thác lâu như vụ máy bay của Mã lai xi a lâu không?
Với riêng tôi thì cong hay thẳng chả có vấn đề gì? Tuần tôi mới đi có hai ba lần chứ có đi nhiều đâu
Cuối cùng
Thay vì bốt cái ảnh cái đường cong cong ấy, tôi đưa cái ảnh tôi mới chụp hôm qua, hôm kia ở ven đường tôi đi kiếm cơm, tôi đoán là dân đen họ đang giữ ruộng của họ vì người ta chưa đền bù mà đã đổ đất lấp ruộng của người ta rồi ( Đấy là tôi đoán thôi chứ chả dám bình luận gì)


Thứ Tư, 9 tháng 4, 2014

Bút máu


Tác giả: Vũ Hạnh
Lương Sinh người ở Mãn Châu, con nhà thế phiệt, nổi tiếng thông minh đỉnh ngộ từ khi tóc để trái đàọ Lên tám đã giỏi thơ ca, từ phú, ai cũng ngợi khen là bậc thần đồng. 
Năm lên mười hai, gặp thời loạn ly, cha mẹ đều bị giặc giết. Sinh sầu thảm mấy tháng liền, mất ăn, mất ngủ, lại thêm căn tạng yếu đuối nên lâm bệnh nặng, thần kinh hốt hoảng, luôn luôn giật mình, nằm mơ thấy toàn là máu lửa, sọ xương. May có người cậu đem về săn sóc đêm ngàỵ Sau nhờ đạo sĩ họ Trình ở núi Hoa Dương dùng biệt dược trị liệu nên được lành bệnh, tâm thái trở lại an tĩnh điều hòạ Khi lên mười lăm, Sinh được người cậu gởi đến Lã Công, một quan thủ hiệu bãi chức từ lâu ở nhà mở trường dạy võ.

Sinh học rất chóng, nửa năm đã làu thông cả mười hai môn võ bí truyền của nhà họ Lã. Lã Công quý mến, một hôm lấy thanh bảo kiếm của mấy mươi đời họ Lã lập công trao cho Sinh luyện tập. Giữa buổi Sinh đang múa kiếm, bỗng dừng phắt lại, đưa kiếm lên ngửi rồi cau mày, kêu lên:
- Máu người tanh quá!
Ðoạn đem thanh kiếm nộp trả, cáo từ mà về. 

Ðến nhà, lạy cậu thưa lên:
- Võ nghệ không phải là con đường cháu nên theọ Máu người chảy trong cơ thể quý vô cùng nhưng dính ra ngoài lại quá hôi tanh. Kẻ cầm lưỡi dao trọn đời sao cho khỏi đổ máu người! Ðiều tàn nhẫn ấy cháu không làm được.
Người cậu giận lắm, bảo rằng:
- Mày thực cạn nghĩ, phụ cả lòng ta trông đợi lâu naỵ Ðành rằng máu người là quý, nhưng để máu ấy chảy trong đầu bọn ác nhân thì càng có hại cho người, lại càng có tội! 

Lương Sinh cúi thưa:
- Ai cũng cho mình là phải, lấy đâu để nói tốt xấu rõ ràng? Làm thiện một cách hăm hở mà không ngờ rằng đấy là điều ác, lại càng có tội vì đã lừa mình, lừa ngườị Trộm nghĩ binh đao là điều dứt khoát, cháu chưa dứt khoát trong người, tự thấy không dám theo đuổị.

Cậu nói:
- Hoài nghi như thế, e rồi không khéo mày tự mâu thuẫn với màỵ Không phân biệt được giả, chân, thiện, ác, làm sao có thể tự tin mà sống trên đời! Xã hội chưa đâu có thể gọi là chốn thiên đường, bên cạnh nhà trường còn có nhà ngục, bên cạnh ngòi bút còn có lưỡi dao, không thể chỉ lấy một chiều, chỉ yêu một cạnh. Vị tất nhà trường đã không tội lỗi, ngòi bút đã không oan khiên! Ta không có con, từ lâu kỳ vọng nơi mày, nhân thời tao loạn, những mong cho mày múa gươm trận địa hơn là múa bút rừng văn. Bây giờ, thế thôi là hết. Từ nay tùy mày định lấy đời mày, ta không nói nữạ 

Từ đấy, Lương Sinh sẵn có nếp nhà giàu đủ, chuyên nghề thơ văn, tiêu dao ngâm vịnh tháng ngàỵ Lời thơ càng gấm, ý thơ càng hoa, tiếng đồn lan xa, lan rộng như sóng trên biển chiều nổi gió. Quan lệnh trấn mới đổi đến địa phương vốn người hâm mộ văn chương, cho vời Sinh đến. Thấy Sinh tướng mạo khôi ngô, lòng cảm mến, tiếp đãi hết sức trọng hậụ Sau đó, quan lệnh mượn những thi tuyển của Sinh trong một tháng trường. Khi quan giao trả, Sinh thấy có những bài thơ hay họa lại những bài đắc ý nhất của mình dưới ký tên Tuyết Hồng, con gái của viên quan. Sinh vui mừng nghĩ rằng gặp được người hợp ý. Sau quan lệnh ngỏ lời kén Sinh làm giai tế. Sinh sung sướng nhận lờị. 

Sau lễ hôn phối, Sinh mới ngỡ ngàng biết rằng Tuyết Hồng không đẹp, cũng không biết làm thơ. Càng ngày Sinh càng chán nản khôn khuây, ảo tưởng vỡ tan, tưởng như tuyệt vọng tình đờị Thiếu thốn hình ảnh giai nhân, cuộc sống tự nhiên cằn cỗị Nhân tết nguyên đán, Tuyết Hồng về thăm song thân, Sinh bèn thừa dịp, noi gương Tử Trường ngày xưa phiếm du xuân thủỵ.

Sinh chọn đường ven theo suối đẹp, đi mãi đã mười ngày, tiền lương muốn cạn, ý thơ chừng đầy, chợt đến một miền tiêu điều, dân cư thưa thớt, Sinh chán nản định quay về, nhưng ruột đói lưỡi khô, bèn đi tìm một tửu quán nghỉ chân. Qua ba dặm đồng trơ trọi vẫn chưa thấy bóng một người để hỏi thăm nơị Bỗng nghe phảng phất tiếng trống, tiếng chuông lẫn tiếng reo cườị Dò theo âm thanh vọng lại, lần bước đến nơi, thấy đám hội trước chùa, bèn vào quán nhỏ gần đấy ăn uống. Chủ quán cho biết, đã mấy năm rồi ở đây mới có một ngày hội lớn, vì quan khâm sai triều đình sắp về địa phương nên quan tổng trấn họ Lý bày ra trò vui để cho dân chúng thỏa thuê ít bữạ.

Chợt có tiếng hò hét và mọi người sợ hãi dạt ra, từ xa là chiếc kiệu hoa của tiểu thư Lý Duyên Hương, con quan Tổng Ðốc. Người đẹp vừa kiêu hãnh vừa sắc sảo khiến Sinh ngây ngất, nhìn đến quên ly rượu trong tay rơi xuống vỡ toang.

Người đẹp quay nhìn thấy, nhoẽn miệng cười. Nụ cười lộng lẫy như hé sáng một trời tình. Sinh lảo đảo đứng lên trả tiền rồi theo chiếc kiệu chen vào chùạ. Vào trong thấy Lý tiểu thư thành kính đàm đạo với mấy vị Tăng già rồi lên chánh điện lễ Phật. Sinh đến phòng kế lấy bút và giấy hoa tiên theo phỏng mấy câu: 

Tiên hoa gài mộng, 
vấn vương đền Phật bâng khuâng
Ðông biếc, thoáng cười tiên nữ
Mặt nước hồ in, xao động bốn mùa sóng gió
Bóng đêm hang thẳm, long lanh một vẻ giai nhân. 

Rồi bẻ cành hoa kẹp vàọ.
Khi Lý tiểu thư lễ xong, khoan thai xuống thềm, mọi người sợ hãi bật ra hai bên thì Sinh vội vã đi theọ. Ðến lúc nàng vừa lên kiệu, Sinh ném cành hoa lên chỗ nàng ngồị. Lính hầu thoáng thấy kêu lên:
- Có người ám hại tiểu thư. 

Lập tức mười lưỡi gươm dài vung lên, lính hầu vây lấy Lương Sinh. Những người xem hội thất sắc lùi lại, dồn dập đẩy vào nhau kêu la náo động. Tiểu thư ngồi trên, vén rèm nhìn xuống không nói một lờị. Vẻ mặt hết sức kiêu kỳ. Lương Sinh đã toan mở lời khống chế, nhưng lính xông vào trói chàng. 

Ðám đông có tiếng thì thàọ
- Anh ta chỉ ném một cành hoa thôi đấỵ
- Bấy nhiêu cũng đủ héo cuộc đời rồị
- Qua dinh Tổng trấn không lấy nón xuống đã là bay đầu, nói chi xúc phạm đến tiểu thơ vàng ngọc! 

Về đến nha môn, lính dẫn Lương Sinh nhốt vào trại giam, rồi tâu trình lên Tổng trấn. Lương Sinh nằm rầu rĩ trong bốn bức vách đá, e phải mang nhục phen nàỵ Ðang mơ màng về thế giới bên kia, chợt nghe tiếng người gọi dậy, lập tức được lính dẫn đến công đường. Tổng trấn ngồi giữa, vóc dạng phương phi, hàm én râu hàm, trên tay còn cầm tang vật là mảnh hoa tiên. 

Sinh cúi đầu thi lễ, toan tìm lời kêu oan gỡ tội thì quan ra lệnh mở tróị. Trước sự kinh ngạc của Sinh, quan bước xuống thềm, dắt Sinh vào trong, kéo ghế bảo ngồi, Sinh từ chối hai ba lần không được. Quan nói: 

- Ta thường ước ao gặp được một người tài đức, nay biết người là danh sĩ nên thực hết lòng hâm mộ. Lính hầu sơ xuất phạm điều vô lễ vừa rồi, ta sẽ nghiêm trị. Gác đằng thuận nẽo gió đưa, người hãy cùng ta ở đây hưởng mấy ngày xuân vui câu xướng họa, cho thỏa tình ta khao khát lâu naỵ 

Ðoạn truyền đem rượu ngon thịt béo ra thết đãi nồng hậu. Lương Sinh thích thú uống rượu ngâm thơ suốt ngày Tổng trấn có vẻ đặc biệt kính trọng tài năng của Sinh. Ðộ chỉ hôm sau, quan tổ chức cuộc du xuân, đưa Sinh đi xem cảnh trí trong miền. Nơi nào quan cũng cho thấy kỳ công đại lực của quan tạo lập cho dân: Kia là dòng suối quanh co quan đã khai thông để để dân lấy nước cày cấy, nọ là đồng ruộng bao la trước kia toàn là rừng rậm hoang vu quan đã tốn công khai phá cho dân trồng trọt. 

Ngồi trên kiệu cao, Sinh nhìn theo ngón tay quan trỏ phía xa xa, mơ hồ thấy suối thấy đồng nhiều vẻ khác màu miệng không ngừng tán tụng. Hơi men nồng nàn, lòng Sinh chứa chan nhiệt tình đối với những bậc "Dân chi phụ mẫu" mà xưa nay Sinh thường tỏ ý rẻ khinh. 

Ðến đâu quan cũng xin Sinh lưu bút để cho khắc vào bia đá, cột đồng. Sinh phóng bút thao thao bất tuyệt. Mực thơm bút quý, lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêụ. Trước khi giã từ, Sinh còn lưu lại bài tán tổng kết công đức của quan để khắc vào chốn công đường và bài minh, ký để ghi tạc vào mấy cổ hồng chung tại các tháp đền quy mô trong hạt. Quan ân cần tiễn Sinh ra khỏi nha môn, đưa tặng một cỗ ngựa bạch, mấy nén vàng, nhưng Sinh một mực từ chối từ không nhận để giữ vẹn lòng thanh khiết. 

Giữa mùa xuân ấy Sinh lâm bệnh nặng, nằm liệt suốt một tháng liền, Tuyết Hồng hết sức săn sóc thuốc thang, nhiều đêm không ngủ. Bệnh cũ như muốn tái phát, thần kinh rạo rực không yên, giấc ngủ chập chờn ác mộng. 

Mấy lần chống tay ngồi dậy, nhưng lại bủn rủn nằm xuống, hơi thở nóng ran như lửạ. Một sớm đang nằm, nghe tiếng chim hoàng anh hót ngoài vườn vụt tắt, thấy một tia nắng lọt qua khe cửa chợt tàn. Sinh hốt hoảng tưởng chừng mùa xuân bỏ mình mà đi, bèn gượng ngồi lên xô mạnh cửa sổ. Mấy nụ hoa thắm cười duyên trước thềm, lá xanh tươi màu nhựa mớị Sinh gọi đem nghiên bút và tập hoa tiên. 

Vừa cầm bút lên, Sinh bỗng kinh ngạc. Nghiên mực đỏ tươi sắc máu. Thử chấm bút vào, lăn tròn ngọn bút đưa lên, bỗng thấy nhỏ xuống từng giọt, từng giọt thắm hồng như rỉ chảy từ tim. Khiếp đảm, Sinh ngồi sửng sờ, tâm thần thác loạn. Cố viết đôi chữ lên giấy, nét chữ quánh lại, lợn cợn như vệt huyết khô trên cát. Sinh vội buông bút, tưởng chừng bàn tay cũng thấm máu đầy. Ðưa lên ngang mũi, mùi tanh khủng khiếp. Quệt tay vào áo, đau nhói trong ngườị Sinh nằm vật xuống mê man bất tỉnh. Sau mấy ngày, Sinh tỉnh dậy, lòng lại khao khát cầm bút. Nhưng nhớ hình ảnh vừa qua, tự nhiên đâm ra e ngại. Sinh cố tập trung thần lực, men đến án thư vừa cầm bút lại thấy lãng vãng sắc máu, không sao có đủ can đảm vạch được nét nàọ Sinh ném bút, hất giấy, vô cùng khiếp sợ, tưởng như xôn xao chung quanh vô số hồn oan đòi mạng. Từ đó Sinh gầy rạc hẳn, liệu không sống thoát. 

Người cậu của Sinh từ lâu đã vào trong núi Hoa Dương ở với đạo sĩ họ Trình, một hôm tạt về thăm nhà thấy cháu suy nhược, rất là lo lắng. Sau khi nghe Sinh thuật hết những điều quái dị vừa qua, ông suy nghĩ hồi lâu rồi nói:
- Ta từng bảo cháu ngòi bút không phải không có oan khiên. Lưỡi gươm tuy ác mà trách nhiệm rõ ràng, lỗi lầm tác hại cũng trong giới hạn. Mượn sự huyển hoặc của văn chương mà gây điều thiệt hại cho con người, tội ác của kẻ cầm bút xưa nay kể biết là bao, nhưng chẳng qua vì mờ mịt hư ảo nên không thấy rõ hay không muốn rõ mà thôi. Làm cho thiếu nữ băn khoăn sầu muộn, làm cho thanh niên khinh bạc hoài nghi, gợi cho người ta nghĩ vật dục mà quên nhân ái, kêu cho người ta tiếc tài lợi mà xa đạo nghĩa, hoặc cười trên đạo nghĩa của tha nhân, hát trên bi cảnh của đồng loại, đem sự phù phiếm thay cho thực dụng, lấy việc thiển cận quên điều sâu xa, xuyên tạc chân lý, che lấp bần hàn, ca ngợi quyền lực, bỏ quên con người, văn chương há chẳng đã làm những điều vô đạo. Tội ác văn chương xưa nay nếu đem phân tích biết đâu chẳng dồn thành ngàn dãy Thiên Sơn! Thần tạng của cháu kinh động thất thường, nhưng mà bản chất huyền diệu có thể cảm ứng với cõi vô hình, chắc cháu làm điều tổn đức khá nặng nên máu oan mới đuổi theo như vậy. Hãy xem có lỡ hứng bút đi lệch đường chăng? Soát lại cho mau, soát lại cho mau, chớ để chậm thêm ngày nào! 

Lương Sinh nghe xong bồi hồi tấc dạ, trí tuệ xem như minh mẫn hơn nhiều, cơn bệnh do đó lui được khá xa. Sinh đem mấy tập thi tuyển của mình đọc lại từng câu, dò lại từng chữ, thấy toàn là ý bướm tình hoa, phát triển cảm xúc mà xao lãng trí tuệ, tán tụng thiên nhiên mà bỏ mất cảnh đời, trốn tránh thực tại, từ chối tương lai, nhưng nghĩ kỹ vẫn chưa dò được lối máu từ đâu.

Bỗng sực nhớ đến những lời phóng bút viết cho quan Tổng trấn, không ghi lại trong thi tuyển, tâm não trở nên bàng hoàng. Ðồng thời bao nhiêu gương mặt hốc hác trong ngày hội chùa lại hiện rõ, mấy cánh đồng trơ trọi, những tiếng thì thầm hai bên kiệu hoa, vẻ người nhớn nhác sợ hãi, những đòn dây trói, mấy dãy nhà giam, lần lượt như sống lại trước mắt. Những cảnh ấy thật trái ngược với những bài tán bài mình đã viết. Mồ hôi toát ra như tắm, Sinh đứng lên được, quyết định trở lại chốn cũ để tìm hiểu sự thật. 

Sinh đến chốn cũ vào một buổi chiều nắng vàng thê lương phủ trên cảnh vật tiêu điều xơ xác. Qua khỏi dòng suối cạn, Sinh bước vào một thôn trang vắng vẻ, thưa thớt những mái tranh nghèo, không một bóng người thấp thoáng. Ðến một gò cỏ úa héo chợt thấy một người nông phu ủ rủ trước nấm mộ mới hiu hiu mấy nén hương tàn, Sinh dừng bước, lại gần ngồi một bên, khẽ hỏi:
- Bác khóc thương thân quyến nào vậy ?

Người kia ngước lên không nói, ngắm nhìn lại bụi đường trường bạc thếch trên quần áo của Sinh, dịu đôi mắt xuống:
- Người nằm dưới mồ không phải là bà con quen thuộc của tôị
Sinh nghĩ: "Chẳng lẽ người này cũng là một kẻ thi nhân khóc thương cho kiếp hồng nhan bạc mệnh nào chăng?" 

Chưa kịp dò ý, người kia chợt hỏi, ra vẻ hoài nghi:
- Ông từ đâu mà đến đây ?
- Tôi ở chốn xa, nhân bước đường phiêu lưu ghé tạt qua thôi. Buồn thấy miền này có vẻ tiêu điều hơn các nơi khác. 

Người nông phu bỗng long lanh đôi mắt như không dằn được tấm lòng dồn nén bật lên những tiếng căn hờn:
- Nói cho muôn ngàn khách qua đường cũng chưa hả được dạ này. Ví dù phải chết ngày nay thân này chẳng tiếc, miễn sao bộc bạch cho được sự thật uất hận từ lâu. Ðã bao năm rồi, sống dưới nanh vuốt của tên Tổng trấn họ Lý độc dữ hơn hùm beo, đồng ruộng gầy khô, dân làng đói rách. Ðầu xuân này có khâm sai đi về, cụ thôn trưởng của chúng tôi, mặc dù già yếu cũng quyết vì dân làm bản trần tình, cản đầu ngựa, níu bánh xe mà tỏ bày sự thật. Thế nhưng khâm sai đi khắp mọi nơi, chỗ nào cũng thấy bia đá cột đồng đầy lời hoa mỹ tán dương công đức Tổng trấn của thằng danh sĩ đốn mạt nào đó nên ném bản trần tình, không xét, bảo rằng: "Muôn ngàn lời nói của lũ dân đen vô học đâu bằng mấy vần từ điệu cao xa của kẻ danh nho. Danh sĩ bao giờ cũng biết tự trọng. Tổng trấn đã được hạng ấy tôn xưng, hẳn không phải bất tài". Thế đã thôi đâu, khâm sai đi rồi, Tổng trấn phái sai nha về tróc nã những người đã đầu đơn tố cáo nó. Bao người phải chết vì nỗi cực hình thảm khốc, vợ góa con côi, một trời nước mắt, ruộng đồng từ đây dành để nuôi loài cỏ dại mà thôi! 

Sinh chết điếng cả người, giây lát mới gượng gạo hỏị
- Chẳng hay bác có biết... danh sĩ ấy tên gì không? 

Người nông phu trợn trừng cặp mắt, gào lên:
- Làm gì mà biết! Mà biết làm gì? Những hạng hiếu lợi hiếu danh, trốn trong từ chương để tiếp sức cho kẻ ác mà cứ tưởng mình thanh cao, hạng ấy thì đâu chẳng có! Dân làng đây ai cũng nguyền rủa hắn mà hắn nào có biết đâu! Nghĩ thương cho cụ trưởng tôi mấy lần đứng ra chịu nhận tội để cứu bao người mà bọn chúng chẳng chịu tha, cứ việc tàn sát thẳng tay, lôi đi lớp người này rồi đến lớp người khác, nên khi bị dẫn qua đây cụ tự móc họng cho trào máu ra mà chết để khỏi bị đày đọa. Trước khi nhắm mắt cụ còn gượng nói: "Ðược chết trên cánh đồng đã đẫm mồ hôi ta, thế là quý rồị Chôn ta ở đây cho ta gần gũi với các người". Hơi thở gần tàn cụ nói tiếp: "Tội ác là ở lũ vua quan. Tên danh sĩ kia chỉ là cái cớ để chúng vịn vào mà che lấp sự thật. Ðừng oán hờn tên danh sĩ. Ðáng thương cho nó!". 

Người nông phu dừng lại nghẹn ngào nói tiếp:
-Nhưng bao nhiêu người khổ ở đây, bao kẻ chết nơi kia, nghĩ còn đáng thương xót gấp trăm ngàn lần! 

Ðoạn gục đầu trước mồ khóc thảm thiết. Sinh cũng sụp xuống hòa tiếng khóc theo.

Bóng đêm xóa nhòa, gió lạnh như từ cõi âm thổi về rung động bờ lau bụi cỏ. Sinh có cảm giác như theo cơn gió, oan hồn của người đã khuất hiện về chứng kiến cho những giọt lệ chảy ra từ một tấm lòng hối hận chân thành.

Kết Thúc (END)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhảy, lắc bốc lửa trong khuôn viên khu di tích đền Hùng ngày Giỗ Tổ Hùng...



Không biết Vua tổ Hùng vương sẽ nghĩ thế nào về lớp con cháu ngày nay?? 
Ban tổ chức lễ hội có trách nhiệm gì trong ngày thiêng liêng của dân tộc??


 Phần nhận xét hiển thị trên trang