Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Ma Chiến Hữu: Chương 17 và 18


Chương 17
- Dự cảm được, tất nhiên là dự cảm được. Những ngày ấy, tình thần tớ lúc nào cũng cảm thấy lo lắng bất an, rất nhiều chuyện đã qua cứ lũ lượt hiện về trong tâm trí, đồng thời lại có những sự kết hợp rất lạ lùng: Thoắt cái hình như là cô gái mồm to Ngưu Lệ Phương dẫn theo con chó nhà tớ đến tìm tớ. Cô ta mặc chiếc quần đỏ với chiếc bụng thè lè, nói: Tiền Anh Hào, bụng tôi đang mang con trai của anh! Tớ bảo: Cô nói bậy! Cô ta cười hi hí rồi dắt con chó đi mất. Tớ gào: Ba Lỗ! Ba Lỗ! Nó quay lại, thả một con cá hố mặn xuống trước mặt tớ. Tớ cầm con cá lên, ngay lập tức nó biến thành một con chim, rồi con chim lại biến thành khẩu súng, khẩu súng nhanh chóng khạc đạn, một đứa bé mắt sâu miệng vẩu trúng đạn ngã xuống. Tớ chạy đến định ôm lấy nó, nó tự nhiên biến mất rồi một cây hoa bàn tay tiên mọc lên, trước tiên là nở hoa, rồi hoa tàn biến thành mấy quả nhỏ hình tròn màu hồng phấn, ăn thử một quả thấy chua cháy lưỡi. Buổi tối, tớ dẫn tiểu đội đi tuần tra, không hiểu làm sao tớ lại vượt qua biên giới, bị bốn người bên phía đối phương chụp lấy, tớ trấn tĩnh tinh thần bật dậy, ba chân bôn tay tả xung hữu đột giữa bọn họ. Tớ chạy đằng trước, họ đuổi theo sau, vừa đuổi vừa gọi: Này, người anh em,, không đánh nhau nữa, đùa với nhau một tí thôi mà! Trình độ Hán ngữ của họ không cao, nói trọ trẹ rất khó nghe. Nghĩ tớ là thằng ngốc à, tớ chẳng ngốc đâu! Đùa à, có mà lừa quỷ! Trong lúc cuống cuồng, tớ chạy vào một khu chợ biên giới, lúc thì nấp giữa một đống gỗ lớn, lúc thì ẩn giữa đống quần áo. Những cô gái bên đối phương và những chàng trai bên ta đang đứng haí bên một con phố trêu đùa nhau. Các cô gái thì cầm những buồng chuối ném qua, các chàng trai thì cầm những đôi giày nhựa ném lại; các cô gái thì mang giày nhựa, các chàng trai thì ăn chuối. Bốn gã đuổi theo tớ vừa trông thấy con gái là quên phắt tớ, vây quanh lấy họ, kéo tóc, sờ mông khiến các cô gái nổi giận, nhìn nhau hỏi ai đang chơi trò quỷ. Thừa cơ hội này tớ bỏ chạy, thuận tay vớ lấy một chai rượu. Túi tớ đầy những hạt hạnh nhân, đậu lạc rang tẩm ngũ vị hương, ai nhét vào tớ không hề biết. Ăn vài hạt thấy thơm ngon vô cùng, không độc, thế này là thế nào? Trở về doanh trại, La Nhi Hổ đang lo lắng, nói tớ cứ nghĩ cậu đã bị họ bắt mất rồi, tớ nói, thiếu chút nữa thôi. Trung đoàn trưởng nói: Cậu làm cái trò gì vậy, mộng du à? Đã có quy ước rồi, chúng ta không cho phép họ sang, tất nhiên chúng ta cũng không được sang bên ấy một cách tùy tiện. Tớ nói: Chỉ là mơ mơ thực thực, vô tình mà bước sang thôi, nhưng họ cũng chẳng dễ gì ăn hiếp được tôi, cả bốn tay nọ cũng bở hơi tai vì tôi - Mũi cậu cũng bị họ làm cho vẹo đi rồi - Trung đoàn trưởng nói với vẻ chế giễu - Một chọi bốn mà - Tớ nói - Lúc này họ đang quậy phá ở chợ, có cần đi đùa với họ một phen không? Trung đoàn trưởng nói: Bỏ đi, cố gắng không làm kinh động người sống. Tiền Anh Hào, cậu phải nhớ điều này, nhất thiết không được gây sự - Tớ cảm thấy phật lòng vì nhìn thấy đôi mắt của trung đoàn trưởng có vẻ không tín nhiệm mình, nói: Rõ, tôi xin chú ý!
Trong lòng tớ rất bực bội vì đã bị bốn tay nọ đuổi chạy như một con thỏ, do vậy quyết tâm đi quậy phá bọn họ. Tớ bí mật gọi thêm hai chiến sĩ thật lanh lẹ là Tống Tiểu Cường và Lý Lâm. Tôi mời họ ăn kẹo đậu lạc và hạt hạnh nhân. Họ vừa ăn vừa nói rất thơm, chính trị viên à, làm gì bây giờ? Tớ bảo hai người: Đi, chúng ta đi bắt những kẻ địch muốn vượt biên. Cả hai đều rất vui. Chúng tớ hành động vào ban ngày nên vô cùng cẩn thận. Chúng tớ xuyên qua rừng cây như những con cá nhàn nhã bơi lội dưới nước. Xa xa đã trông thấy một cây đa thật to, rất nhiều du khách đang sắp hàng chụp ảnh nhưng bốn tay nọ thì chẳng thấy tăm dạng đâu cả. Tớ chán nản định gọi hai cậu ấy ra về, nhưng vừa ngước đầu lên tớ đã trông thấy một ông lão hình dáng khô quắt đang ngồi trước cửa một quán ăn nhỏ gặm một miếng vỏ dưa. Bố, đúng là bố tớ. Một cô gái mặc áo hở cổ hở lưng vung vẩy cặp đùi trần trụi bước đến đưa cho bố tớ một nắm cơm gói trong lá chuối, ông định nhận lấy thì tớ như một luồng gió lạnh tạt qua người cô gái, cô ta cầm gói cơm chạy mất. Bố ơi, bố đến đây làm gì? Mặt bố đầy bụi bặm, quần áo xộc xệch rách rưới, mùi mồ hôi nồng nặc. Nước mắt tớ trào ra, lòng như bị ong đốt. Đang lúc muốn đến gần bố để gặp mặt thì đột nhiên tớ thấy bốn người nọ đang ngồi uống bia trong quán Mộc Miên, mỗi người ôm một chai bia Ngũ Tinh ngồi vây quanh một chiếc bàn bày đầy các món ăn: một đĩa ớt đỏ, một đĩa rau diếp cá, một đĩa giá đậu, một đĩa bạc hà… Tớ huýt sáo, Tông Tiểu Cường và Lý Lâm xông lên chụp lấy họ. Ngay lúc ấy, bà chủ quán đang nở nụ cười trên đôi môi đỏ chót như lông của loài chim tương tư, dang rộng đôi cánh hướng về phía chúng tớ bay tới, từ thân thể bà ta toát nên một luồng khí nóng hổi, nồng nàn, thiêu đốt toàn thân chúng tớ đến độ đau nhức, nước mắt cay xè chảy ràn rụa trên mặt như trúng phải khí độc. Ôm lấy mắt, chúng tớ xiêu xiêu vẹo vẹo chạy về doanh trại. Trên đường, Lý Lâm bị một cô gái đội mũ lưỡi trai chạy xe máy đụng phải, bị thương. Cô gái này mông to vú nở, khuôn mặt tròn vành vạnh như trăng mười sáu - một người đẹp có khuôn mặt ít thấy ở dân tộc phía bên kia biên giới. Toàn thân cô ta sực nức mùi nước hoa, nồng nặc đến độ tớ cảm thấy nghẹt thở. Đằng sau chiếc xe máy thể thao chở một chiếc lồng tre to tướng, trong lồng có khoảng mười con ngỗng. Những chiếc cổ ngỗng dài ngoằng chui ra khỏi lồng lắc lư như những con rắn. Chúng nhìn chúng tớ, đồng loạt há mồm kêu lên - Chuyện quái quỷ gì thế này? Tống Tiểu Cường càu nhàu. Tớ đem tất cả những gì mình có đưa cho Tông Tiểu Cường và Lý Lâm, nói: Chuyện bữa nay đừng để tiểu đoàn trưởng La biết - Họ gật đầu và trở về phần mộ của mình.
Đêm ấy mưa rất lớn. Những ánh chớp màu lam xuyên thấu qua đât đá và bê tông, chiếu sáng những rễ cây tua tủa như râu bạch tuộc chung quanh vách mộ, nước mưa thấm theo những rễ cây nhỏ xuống như những giọt nước mắt khiến chung quanh tớ, đất sình lên nhão nhoét. Tớ dùng một miếng bom thật sắc chặt đứt rễ cây, nhưng chỉ qua một lát là chúng lại mọc ra như cũ. Quả nhiên vùng đất phương nam này là một nơi biểu tượng của sự sinh sôi nẩy nở vô cùng mạnh mẽ.
Không có cách gì ngủ được, tớ đành nằm nghe tiếng sấm rền vang, nghe tiếng mưa rơi trên tàu lá chuối. Trong muôn vàn âm thanh, bỗng nhiên tớ nghĩ đến bố mình. Đêm nay bố trú thân nơi nào, làm sao bố ngủ được?
Đến khoảng nửa đêm, mưa đã dứt cơn nặng hạt. Trong rừng, tiếng nước chảy rất mạnh, thi thoảng những ánh chớp màu lam run rẩy và lười biếng vẫn lóe lên. Qua những kẽ nứt, tớ nhìn thấy những chiếc lá xanh ngát lấp lóa và những con côn trùng đủ màu sắc nấp bên dưới lá trong những ánh chớp nhoáng nhoàng. Lại một tia chớp nữa lóe lên, tớ vô cùng kinh ngạc khi nhìn thấy một bóng người còm nhom, bước thấp bước cao xuất hiện trước phần mộ của mình. Cái âm thanh lộc cộc quen thuộc kể từ khi tớ ra đời vang lên. Bố tớ - người bố có một chiếc chân gỗ của tớ đã đến rồi! Ông đang cầm đèn pin chiếu vào bia mộ của tớ, đọc thầm tên tớ, nước mắt già nua lặng lẽ chảy trên đôi gò má nhăn nheo rồi hòa với nước mưa. Bố tớ như đang nói với chính mình:
- Anh Hào con, bố đã đến đây, bố sẽ đưa con trở về quê hương!
Lấy chiếc túi vải từ trên lưng xuống, bố lôi ra một chiếc búa, một chiếc đục, một chiếc xà beng. Tất cả đều là dụng cụ của những người thợ xẻ đá, ngoài ra còn có cả một chiếc xẻng quân dụng.
Bố đi quanh mộ tớ ba vòng, cuối cùng quyết định đục vào cạnh phía sau của ngôi mộ xi măng. Sự chọn lựa này vô cùng sáng suốt, bởi tớ biết rất rõ rằng đấy là nơi có lớp bê tông mỏng nhất. Bố ngồi xổm, một tay cầm búa một tay cầm đục, miệng thì thầm:
- Anh Hào con, đừng sợ nhé!
Bố đặt chiếc đục lên nắp bê tông, vung búa đục hồi lâu. Tiếng va đập giữa kim loại với nhau tạo thành một thứ âm thanh khô khốc làm chấn động nghĩa trang yên tĩnh, những ánh lửa lóe sáng, một lỗ hổng lớn hơn hạt đậu lạc xuất hiện trên nắp mộ. Những tia chớp trên bầu trời bao vây lấy bố khiến mặt bố như ngày càng xanh thêm. Ông dừng tay, ngước mắt lên nhìn bốn phía, dường như ông sợ mình đang rơi vào vòng vây vô hình của ai đó. Chung quanh vắng vẻ, không gian như một đại dương đen ngòm khi không có những tia sấm chớp, chỉ có tiếng côn trùng rên rỉ, những tiếng chim quái dị vẳng đến từ rừng sâu và đom đóm lập lòe. Trên mặt bố, những giọt mồ hôi trong suốt rịn ra. Ông tiếp tục nện búa, những ánh lửa liên tục lóe lên trên đầu chiếc đục. Những âm thanh đanh sắc như những mũi nhọn vang vọng vào trong tất cả các phần mộ và tất cả vong linh đều tỉnh khỏi cơn mộng. Sư trưởng, chính ủy, tham mưu, trợ lý… tất cả đều đã tề tựu, nét mặt ai nấy cũng đều biểu lộ vẻ nghiêm trang quây thành một vòng tròn quanh bố con tớ. Tớ vô cùng lo lắng, nhưng bố thì dường như không biết chuyện gì đang xảy ra. Nếu ông ngước mắt nhìn lên, có lẽ ông sẽ nhận ra được điều gì đó, nhưng ông không nhìn, cũng chẳng quan tâm đến những gì ngoài công việc của mình. Tất cả tinh thần và sức lực của ông đều tập trung vào đôi cánh tay, vào việc dùng búa nện vào đục. Những vụn xi măng tiếp tục văng tung tóe và lỗ hổng ngày càng to ra.
Sư đoàn trưởng quát to:
- Tiền Anh Hào! Ra đây!
Tớ cẩn thận bước ra khỏi phần mộ, như một cơn gió lạnh, tớ đã đứng trước mặt sư trưởng và hơn một nghìn đồng đội của mình.
- Bố cậu định làm gì thế? - Sư trưởng hỏi.
- Thưa thủ trưởng, thưa các đồng chí! - Tớ nói - Tôi cũng không biết bố tôi định làm gì, nhưng xem ra ông muốn đem hài cốt tôi trở về quê hương.
Sư trưởng nghiêm khắc nói:
- Làm loạn! Nếu tất cả anh em ở đây đều để cho người nhà đến đưa hài cốt về quê hương, đơn vị của chúng ta sẽ bị xóa sổ sao?
- Tôi hoàn toàn không biết chuyện này - Tớ nói - Có lẽ bố tôi quá nhớ thương con… Bố tôi già rồi, tất nhiên cách nghĩ cũng có chỗ chưa thâu đáo…
- Ngăn cản hành vi của ông ấy!
Sư trưởng vừa ra lệnh vừa ra hiệu cho hai vị tham mưu họ Trương và họ Vương. Hai vị này tay cầm thước áp sát hai bên bố tớ, chờ cho ông giơ búa lên là tham mưu Trương đập thước thật mạnh vào cánh tay ông. Cây thước tạo nên một vệt sáng màu xám và kèm theo là một luồng gió lạnh, cánh tay bố tớ run lên và chiếc búa rơi xuống đất. Lòng tớ đau quặn lên. Với bàn tay run run, bố tớ nhặt lấy chiếc búa, run run đưa lên cao, cây thước trên tay của tham mưu Vương lại vung lên, chiếc búa lại rơi xuống đất. Lòng tớ lại quặn lên một cơn đau nữa như bị một con dao vô hình chọc trúng tìm. Bố ơi! Được rồi, đừng gắng nữa! Khi chiếc búa trong tay của bố tớ bị rơi lần thứ ba, đột nhiên ông quỳ xuống, hai tay vươn về trước như muốn ôm lấy một vật gì đó, lầm rầm:
- Anh Hào con ơi! Đừng đánh vào cánh tay bố như thế. Bố lặn lội nghìn dặm để đến được đây không dễ chút nào đâu con ơi!
Rồi ông lại cầm chiếc búa lên, tham mưu Vương lại chuẩn bị vung cây thước lên. Lửa trong lòng tớ đã cháy! Tớ quỳ trước mặt tất cả các chiến hữu của mình, nói:
- Các thủ trưởng, các đồng chí! Hãy nhìn vào thân phận là một người lính già của bố tôi mà chấp nhận tâm nguyện của ông đi, hãy tha cho ông đi. Lê một chân qua bao nhiêu dặm đường để đến đây, có lẽ ông cũng đã chết một nửa rồi… Các anh em, tôi cũng không nỡ rời xa anh em đâu…
Khi tớ ngẩng đầu lên, toàn bộ anh em đã biến mất, chỉ còn lại một mình bố tớ đang mím chặt môi, cắn chặt răng liên tục nện búa xuống chiếc đục. Tớ nuốt nước mắt bước vào huyệt mộ, hồn tớ nhập vào những mảnh xương khô ở trong đó.
Nằm trong huyệt mộ, tớ nghe thấy nhịp thở của bố đã rất gấp, rất nặng, những cú nện búa ngày càng thưa dần. Từ những xóm làng xa xa, những tiếng gà gáy văng vẳng đưa lại. Những đám mây hình vảy cá ở phía đông đã bắt đầu đỏ dần. Trời sắp sáng rồi, bố ơi, đêm nay bố không thể đục thủng được huyệt mộ của con rồi!
Những tia sáng đỏ rực đã xuất hiện trên bầu trời, những làn khói đá giăng giăng trong khu vực nghĩa trang trông như những làn khói tỏa ra từ đầu nòng súng. Không khí ẩm ướt và lạnh thấu xương. Chiếc đục trong tay bố tớ đã xuyên qua lớp xi măng và làm vỡ viên gạch đầu tiên. Một tia sáng chiếu vào khiến huyệt mộ sáng rực lên. Sự hưng phấn khiến toàn thân bố tớ run rẩy, những dụng cụ bằng sắt trên tay rơi xuống bê tông vang lên chát chúa.
Tớ hy vọng bố sẽ tiếp tục đục nắp quan tài để cho nhiều ánh sáng chiếu rọi vào bên trong nhưng ông đã cẩn thận nhặt viên gạch đã bóc ra, đậy lỗ thủng lại rồi khó khăn vịn vào thành mộ đứng dậy. Xương cốt trong thân thể ông kêu lên răng rắc, gắng mãi mà chiếc lưng còng vẫn không thể thẳng lên được, đến khi thẳng lưng lên được thì ông lại ngã soài xuống đất. Miệng ông ngoạm đầy bùn, một dòng máu đặc sánh từ từ rỉ ra trên trán, chiếc chân gỗ rời khỏi đầu gối, những dây buộc bùng nhùng. Chống hai tay xuống đất, bố ngồi dậy, xén quần. Một chiếc đùi gầy guộc với những vết thương chằng chịt và những vệt máu tươi. Ông vơ một nắm cỏ dại để chùi các vết bùn và máu tươi trên đùi. Chiếc chân gỗ đứng yên lặng bên ông như một con chó trung thành, lại vừa như một người lính hộ vệ tận tụy. Tớ nhìn nó một cách kính trọng và sợ sệt. Sau khi rời khỏi thân thể bố, nó biến thành một sinh thể có cuộc sống riêng. Bố tớ ôm lấy chiếc chân, rất thận trọng chà xát những vệt bùn dính trên thân thể nó, trông ông lúc này như một ông già cô độc đang ôm một con chó thân thiết, như một người lính ôm khẩu súng cùng vào sinh ra tử. Cuối cùng, ông gắn nó vào đầu gối, thả ống quần xuống che kín nó rồi run rẩy đứng dậy, nặng nề khoác chiếc túi đựng dụng cụ lên vai, bước thấp bước cao đi về phía khóm cây rừng rậm rịt bên cạnh nghĩa địa.
Suốt cả ngày hôm đó, bố tớ giấu mình trong khóm cây rậm rịt ấy, không hề có một tiếng động. Buổi chiều, một trận mưa lớn ào ào đổ xuống, rửa sạch những bùn đất trên người ông. Tớ kinh hoàng khi mơ hồ nhận ra rằng, cơn mưa này có thể quật ngã bố tớ một cách dễ dàng, lòng tớ quặn đau và nóng như lửa đốt.
Bóng đêm vừa ập xuống là bố tớ đã bò ra đến trước phần mộ của tớ. Ông ho liên tục, những âm thanh yếu ớt và trầm đục thoát ra từ trong lồng ngực già nua khiến tớ không ngăn nổi nước mắt. Tất cả đồng đội đều dùng ánh mắt khâm phục nhìn bố tớ. Ông ngồi đúng chỗ mà ông đã ngồi đêm hôm trước, lật viên gạch đắp hờ trên mộ tớ lên và vất sang một bên và đưa một tấm vải nhung có in hình những vì sao chi chít vào trong huyệt mộ. Những tiếng khò khè từ trong lồng ngực ông phát ra, mùi chua loét từ thân thể ông toát ra bay vào trong huyệt mộ. Ông tiếp tục đục bê tông, và đêm nay, tốc độ đục của ông khá nhanh, đến gần sáng thì đã đục được một lỗ to hơn đầu người.
Ông đưa chiếc đầu với mái tóc trắng vào trong huyệt mộ, một hơi thở già nua phả vào hài cốt tớ, những giọt nước mắt nóng hôi hổi như những giọt nến rơi xuống hài cốt tớ, ngay lập tức đông kết lại. Những cơn ho dữ dội vang lên và giữa những cơn ho là những lời than thở kèm theo tiếng khóc cố nén. Ông đứng dậy, nhưng ngay lập tức cả thân hình ông đổ nhào xuống.
Mặt trời đã lên, bố tớ vẫn nằm im trước mộ. Một đồng đội vốn là nhân viên quân y tránh tránh né né đi vòng quanh thân hình bố tớ, chẳng khác nào một con chó sói nghi ngờ đi vòng quanh thi thể một con hổ, cuối cùng cũng cúi khom người như một chiếc cầu cong vòng, đưa đầu ngón tay sờ vào trán ông, kêu lên một tiếng thảng thốt: Nóng, nóng quá!
Sư đoàn trưởng hỏi tớ:
- Tiền Anh Hào! Cậu đã hối hận chưa?
- Tôi sai rồi! - Tớ trả lời.
- Làm người thì đằng nào cũng phải chết, cậu không phải quá đau khổ. Nếu bác mà chết ở đây, tôi sẽ phá lệ để ông gia nhập vào đơn vị của mình.
Tôi suy nghĩ một lát rồi nói:
- Thưa sư đoàn trưởng, chính ủy, thưa các anh em chiến hữu… Bố tôi đã hơn bảy mươi, tôi không nỡ lòng nào nhìn thấy ông với một chân đứng gác, đi tuần.
- Chúng ta sẽ không cắt cử ông đứng gác hoặc đi tuần đâu - Sư trưởng nói.
- Như thế cũng không được. Cho dù vợ tôi đã bồng con tái giá, nhưng bố tôi vẫn là ông nội của con tôi. Trẻ con không có bố, lẽ nào lại không có luôn cả ông nội? - Tôi phản đối.
Gương mặt bám đầy rêu xanh của sư đoàn trưởng trở nên tư lự giây lâu rồi đưa tay phải lên chém mạnh xuống, nói:
- Các đồng chí, vì ông lão này, chúng ta hãy tận dụng hết khả năng của mình để đánh động đến người sống!
Nghĩa trang đang yên ả bỗng nhiên vang động bởi tiếng khóc của hàng nghìn hồn ma chiến sĩ. Không gian vần vũ, ánh mặt trời run rẩy, cây cối chung quanh cúi đầu ủ rũ. Ở trên cao, vầng thái dương nhạt nhòa như một chiếc đĩa tròn màu xám ngoét.
Sư đoàn trưởng lại tiếp tục vung tay, toàn bộ chiến sĩ nhảy lên cây, bẻ cành, rung cây thật mạnh để cho lá và hoa rơi xuống lả tả. Nhiều anh em lại mở những vòng hoa đã bị héo úa vì mưa nắng trước mộ và tung những cánh hoa bay đi khắp nơi, có người còn leo lên tận nóc ngôi nhà của ban quản lý nghĩa trang mà lay trụ và dây ăng ten ti vi, hét vào trong ống khói nhà bếp, có người dùng đầu húc vào cửa… Toàn cảnh nghĩa trang trở nên náo nhiệt vô cùng.
Người quản lý nghĩa trang quen thuộc mở cửa bước ra ngoài. Ông ta phát hiện ra bố tớ, lập tức thổi còi báo động, mấy nhân viên bảo vệ lập tức xuất hiện. Họ lôi bố tớ dậy, quát lớn:
- Lão già này, ngay cả hài cốt liệt sĩ mà còn dám ăn cắp, thế thì trên đời này còn có gì mà lão chẳng dám làm?
Đầu bố tớ cúi rủ trước ngực, một nhân viên mò mẫm trên thân thể ông tìm ra một giấy chứng nhận chiến sĩ vẻ vang và một giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ đã bị nước mưa thấm ướt. Ngay lập tức, thái độ của họ thay đổi, vẻ kính trọng biểu lộ rõ ràng trên mặt. Họ khiêng bố tớ đi. Trong tiếng hát vang trời của anh em đồng đội, nước mắt tớ ứa ra.
Nửa tháng sau, dưới sự hỗ trợ của một cán bộ địa nhương và một quân nhân đeo đôi gọng kính trắng, bố tớ quay lại nghĩa trang, đến bên mộ tớ. Bốn nhân viên nghĩa trang cầm xẻng, đục và các vật dụng khác đứng bên chờ đợi.
Người lính đeo kính rất cẩn thận lau sạch bia mộ tớ, hạ giọng trao đổi vài câu gì đó với vị cán bộ địa phương. Vị này cao giọng bảo các nhân viên nghĩa trang:
- Bắt đầu đi!
Họ lật nắp quan tài, xúc đất trong huyệt mộ, chặt đứt các rễ cây, còn chém đứt rất nhiều giun đất cổ trắng. Tiếng xẻng xúc đất soàn soạt, tớ cảm thấy toàn thân mình dau đớn dữ dội. Vị cán bộ địa phương vội vàng bảo:
- Nhẹ tay tí, sắp đến rồi!
Những nhân viên nghĩa trang đeo găng tay vào, trước tiên đã đặt đầu tớ vào trong một chiếc túi nhựa màu đen, tiếp theo là nhặt tất cả những mảnh xương của tớ theo thứ tự từ trên xuống dưới bỏ vào túi nhựa, không bỏ sót một mảnh nào. Xong xuôi, họ cẩn thận gói túi nhựa đựng hài cốt tớ trong một tấm vải bố màu xanh lục rất nhiều lớp. Vị cán bộ quân đội đeo kính rất thận trọng bê tớ lên, trịnh trọng nói với bố tớ:
- Bác trai, tuyệt đối phải giữ bí mật nhé!
Bố tớ đỡ lấy tớ, ôm vào lòng, nói:
- Thủ trưởng, tôi lấy danh dự của một cựu quân nhân để đảm bảo rằng, có dùng kìm nhổ hết răng, cũng không có chuyện tôi hé miệng nói chuyện này với ai.
Trên chiếc xe Jeep quân dụng tròng tành, bố ôm chặt lấy tớ trong lòng. Tớ nghe thấy tiếng thở mệt nhọc và tiếng tìm ông đập yếu ớt. Đường đất quá xóc, thân hình bố tớ lâu lâu lại bị hất tung lên, nhiều lần đầu ông chạm vào mui xe bằng vải bố. Vị cán bộ quân đội nhìn bố tớ một cách thương cảm, nói:
- Chỉ còn bốn tháng nữa là một con đường loại một sẽ được hoàn tất.
Tớ trông thấy hai bên đường, những chiếc xe ủi và nện đất màu vàng sậm đang bò một cách chậm chạp, mùi hắc ín nồng nặc đang bao trùm trong không gian rừng núi. Núi xanh cây biếc, trời cao mây trắng, cây bông đang dộ dơm hoa. Chiếc xe Jeep đi qua một con đường vòng thì bị một chiếc xe tải chở đầy những súc gỗ tròn của đất nước bên kia biên giới đang nằm giữa dường chặn mất lối, tay lái xe người nhỏ gầy, lưỡng quyền nhô cao đang đứng sau đít xe đưa tay vẫy rốì rít. Tay lái xe của chúng tớ bực tức văng ra một câu chửi thề nhưng cũng dừng xe lại. Vị cán bộ quân đội đeo kính nhảy ra khỏi xe, dùng một thứ ngôn ngữ lạ lẫm nói chuyện với tay lái xe nọ rồi quay lại nói với lái xe chúng tớ:
- Anh ta muốn mượn chúng ta cái kích, cậu có không. Nếu có thì cho anh ta mượn đi. Xe anh ta không sửa được, chúng ta cũng đành phải nằm lại đây thôi.
Một cách chậm chạp lười nhác, lái xe quay ra phía sau chiếc xe Jeep mở thùng dụng cụ và lôi chiếc kích ra. Người kia luôn mồm nói lời cảm tạ. Té ra mấy câu nói cám ơn đơn giản này anh ta nói thật lưu loát.
Lợi dụng cơ hội này, tớ thoát ra khỏi chiếc túi trong lòng bố, chui ra khỏi xe và đứng trên một tảng đá trắng bên cạnh đường để ngóng về nghĩa trang liệt sĩ. Tớ trông thấy rõ ràng tất cả anh em đang tập trung trên khoảng đất trống và tất cả đều đang dang tay về phía tớ. Như có một lực hấp dẫn cực mạnh nào đó lôi kéo, tớ chẳng nghĩ ngợi gì hết, lao thẳng về phía đồng đội của mình.
Gương mặt sư trưởng như một tảng đá nặng nhưng bằng phẳng, rất nghiêm toang. Tớ nói:
- Anh em ơi! Tôi không về nữa, tôi không nỡ lòng rời bỏ mọi người!
Sư trưởng bước về phía tớ, dùng bàn tay lạnh như băng bịt miệng tớ lại, nói:
- Đồng chí Tiền Anh Hào! Chúng tôi cũng không hề muốn cho cậu đi, bởi vì cậu ra đi là cái đội hình này của chúng ta - Ông đưa tay chỉ đội hình chiến sĩ, nói một cách nặng nhọc - tất nhiên sẽ thiếu đi một góc mà không có cách gì bổ sung.
Chính ủy nói:
- Nhưng việc này đã làm kinh động đến thế giới của người sống, không có cách gì để cứu vãn đâu. Cậu đã biết rồi đấy, chỉ cần cậu rời khỏi hài cốt một ngày một đêm, cậu sẽ hóa thành một làn khói xanh.
Hoa Trung Quang - lúc này đã được điều động lên Phòng tuyên huân sư đoàn chạy ra khỏi hàng đưa cho tớ một tờ báo và một tập thơ chép tay rất công phu, đôi mắt đỏ hoe, nói:
- Chính trị viên, tặng anh để làm kỷ niêm…
Tiếng xe nổ máy vang rền từ xa xa, tớ biết là mình phải đi. Tớ ôm lấy tờ báo và tập thơ, ba bước ngoái đầu nhìn lại một lần, lưu luyến nhìn anh em đồng đội. Chờ cho đến khi hồn tớ nhập vào trong chiếc xe, từ phía sau mới vang lên một khúc ca trầm hùng:
Chiến hữu thân như anh em ruột,
Chiến tranh liên kết thành một khối.
Khi sống cùng kề vai chiến đấu,
Chết rồi mộ huyệt nối tiếp nhau…
… Chúng tôi ngồi yên lặng trên đầu ngọn cây, cùng nghe những lời ca tống biệt từ nơi xa xăm vẳng lại, cảm thấy phương nam xa xôi đang kêu gọi mình…

Chương 18
 àn đêm thật yên tĩnh, sao trời đêm nay dày một cách bất thường, mặt sông mơ mơ hồ hồ phản chiếu ánh sao. Thi thoảng, những ngôi sao băng lóe sáng phóng vụt qua bầu trời, chiếu rọi gương mặt chúng tôi. Chúng tôi ngồi lặng yên, hình như những gì cần nói đều đã nói ra tất cả. Nước sông vẫn tiếp tục dâng cao, trong màn đêm đen kịt và yên lặng, tiếng nước chảy nghe có vẻ rõ ràng hơn, mùi tanh tanh của phù sa bốc lên nồng nồng. Tôi cảm thấy lạnh cóng.
Trên con đê hai bên bờ sông, cứ cách khoảng mười mấy bước chân, người ta đặt một ngọn đèn bão. Chúng đang tỏa những quầng sáng vàng vọt như cố gắng xua đuổi bóng đêm. Bên ngọn đèn đặt gần gốc cây liễu mà chúng tôi đang ẩn nấp có một người đàn ông trung niên và một thằng bé đầu to cổ nhỏ đang ngồi. Ban đầu, chúng tôi không hề chú ý đến họ, đến khi người đàn ông cởi áo tơi và nón lá ra, chúng tôi mới phát hiện đó là Trương Tư Quốc. Cậu ta đang hút thuốc, đốm lửa lóe sáng từ đầu điếu thuốc soi rõ vết sẹo trên mặt cậu ta. Quách Kim Khố nói:
- Tớ quên mất, không nói cho hai cậu biết là Trương Tư Quốc đã cưới vợ. Vợ cậu ta là một người đàn bà góa hơn ba mươi tuổi, đứa trẻ kia là con riêng của cô ta.
- Có vợ vẫn tốt hơn so với sống độc thân - Tôi nói.
- Kỳ thực, trong số chúng ta không ai bì được với Trương Tư Quốc - Tiền Anh Hào nói.
Tôi hỏi Quách Kim Khố:
- Cậu cùng ở một đơn vị với cậu ta, cuối cùng chuyện, này là thế nào?
- Tớ không ở cùng tiểu đoàn với cậu ta. Đầu tiên là nghe nói cậu ta đã hy sinh, sau đó thì lại bảo không hề hy sinh. Thằng quỷ này sống thực lòng quá!
- Cậu nói tỉ mỉ một tí! - Tiền Anh Hào bảo.
- Tớ cũng chỉ nghe người ta nói lại thôi - Quách Kim Khố nói - Cậu ta ở trong tiểu đội phá mìn, cùng tổ với cậu ta còn hai thằng nữa. Sau khi phá xong năm quả mìn định hướng, cả nhóm tiếp cận đến một điểm cao ở phía bên phải trận địa, hai đồng đội của cậu ta vướng mìn hy sinh, cậu ta bị thương. Chẳng kêu lên tiếng nào, cậu ta tiếp tục phá mìn mở đường. Những anh em ở phía sau đều trông thấy rõ ràng cậu ta bò lên trên sườn dốc cao rồi lăn lông lốc xuống. Sau đó thì mọi người nghe tiếng mìn nổ vang rền. Cậu ta lại bị thương và được khiêng đến trạm xá tuyến sau. Lúc ấy ai cũng nghĩ rằng cậu ta dùng thân thể để kích thích cho mìn nổ, mở đường cho thắng lợi. Cuộc chiến vừa kết thúc, người ta ghi công cho cậu ấy, lãnh đạo cơ quan cũng vô cùng kính nể, sai người đến bệnh viện nói chuyện với cậu ta, chuẩn bị tài liệu để báo cáo với quân ủy trung ương phong danh hiệu “anh hùng phá mìn” cho cậu ta. Nhưng cái cậu này, đúng là mèo chết không leo nổi cây, nói với hai chuyên viên cục chính trị rằng: Tôi không hề phá mìn, ở chỗ đó chẳng có quả mìn nào cả, trời lại đang mưa, khi bị thương vào chân tôi đã bò lên sườn đồi, chiếc chân bị thương không có sức nên bị trượt xuống, lúc ấy có hai tiếng nổ vang lên. Tôi là chuyên gia phá mìn, việc gì phải lấy thân mình để kích nổ mìn, làm như thế không phải là tự tìm cái chết sao? Tất cả tài liệu đều bảo tôi phá được năm quả mìn là không đúng, thực ra tôi chỉ phá có một quả, còn bốn quả kia là do Lưu Hòa và Trịnh Hồng Kỳ phá. Họ đều đã chết, anh chàng cao lớn Lưu Hòa đã che hết miểng của quả mìn nên tôi mới không chết. Các ông hãy ghi công cho họ, tôi còn sống được là đã hưởng nhiều diễm phúc lắm rồi, không cần công trạng gì đâu… - Quách Kim Khố nói - Tất cả là như vậy, cái thằng ngốc ấy đã vứt cái danh hiệu anh hùng đã nằm gọn trong tay mình…
Chúng tôi cùng chăm chú nhìn vào gương mặt Trương Tư Quốc. Từ lâu lắm rồi, nó không còn là gương mặt mập mạp của anh chàng đánh xe ngựa cho phòng hậu cần của trung tâm dự bị Trương Tư Quốc nữa. Ngày ấy, cậu ta đánh xe ngựa đến các nông trường để vận chuyển thực phẩm, gương mặt dương dương tự đắc nói, học được nghề đánh xe ngựa sau này về quê nhất định sẽ có chỗ dùng.
Khi chúng tôi đạng mê muội vì cô dẫn chương trình Ngưu Lệ Phương thì cậu ta đang mê muội con ngựa đực lông vàng. Có một lần ở chuồng ngựa, tôi đã gặp phải cậu ta đang chải lông cho con ngựa. Cậu ta nói, Triệu Kim, cậu có biết không, ngựa tốt rất hiểu tính người. Ngựa hay khác nào người quân tử, bò dê chẳng nhận nổi mẹ mình. Con ngựa này đã từng cứu mạng tớ. Cậu ta kể rằng, có một lần cậu ta ngủ gục bị rơi xuống đất, nằm dưới vành bánh xe, con ngựa này đã cắn quần áo lôi cậu ta ra, nếu không có nó, e rằng cậu ta đã bị bánh xe nghiến nát. Chuyện của cậu ta kể, tôi nghe có vẻ quen lắm vì đã có nhiều người kể chuyện tương tự như thế về ngựa cho nên bán tín bán nghi, cậu ta lại rất thật thà hỏi tôi: Triệu Kim, tớ nghĩ là khi tớ phục viên, tớ sẽ dùng số tiền phụ cấp phục viên để mua con ngựa này về, cậu nghĩ xem đơn vị liệu có đồng ý không? Tôi coi cậu ta chẳng ra gì, cho rằng cậu ta chẳng có chút hùng tâm tráng chí nào nên nói: Nếu nó là một con ngựa cái thì quá tốt! Cậu ta sững sò giây lâu rồi buồn rầu nói: Tớ nói chuyện với cậu một cách nghiêm túc, sao cậu lại châm chọc tớ như thế?
Đốm lửa đầu điếu thuốc trên miệng cậu ta lập lòe, những con côn trùng màu trắng cứ đâm đầu vào chiếc đèn bão và lăn ra chết nằm rải rác chung quanh chiếc đèn. Thằng bé đầu to cất giọng hết sức ngang tàng:
- Anh bạn, hãy kể cho tôi nghe câu chuyện gì đi!
Trương Tư Quốc bạt tai thằng bé, nói:
- Nhóc con, mày không được gọi tao là bạn, tao là bố mày!
Thằng bé có vẻ không bằng lòng, cười nhạt, hai chiếc răng nanh nhọn hoắc, nói:
- Anh bạn, bố! Tôi không quen gọi bố, nhưng dù sao thì mẹ tôi cũng đã bảo tôi gọi anh bằng bố.
- Mẹ mày đã bảo gọi tao bằng bố, có nghĩa tao là bố mày - Cậu ta nói - Tao có thể gọi mày là anh bạn, nhưng mày không thể gọi tao như thế. Mày coi chừng kẻo rơi xuống nước. Chúng ta cần phải bảo vệ mẹ mày, mẹ mày chính là vợ tao, chúng ta còn phải bảo vệ mùa màng cho tất cả mọi người.
- Cái cậu này, đúng là đồ đuôi ngựa không thể vểnh lên nổi - Quách Kim Khố nói:
- Có một lần, vừa trông thấy cậu ta là tớ cất tiếng chửi: Người ta thì không có thành tích gì còn cố nặn ra để lừa thiên hạ, còn cậu đã phá mìn lại còn bày đặt khiêm tốn, đúng là đồ trứng thối còn bày đặt chỉnh lý địa cầu. Kể từ đó, cậu ta cứ trông thấy tớ là đã tránh từ xa, trông như một thằng ăn trộm vặt.
- Thế từ đó đến giờ, cậu ta chẳng bao giờ tìm đến cục chính sách nữa à? - Tôi hỏi.
- Hình như là chẳng bao giờ - Quách Kim Khố nói.
- Thế thì cậu nên giúp cậu ta, đi hỏi thử xem - Tôi bảo.
- Làm sao mà tớ quan tâm nổi - Quách Kim Khố nói - Vả lại, ngay cả việc của mình mà cậu ta chẳng hề quan tâm, người khác lo lắng thì được cái tích sự gì?
Tiền Anh Hào nói:
- Mỗi người đều có một chí hướng, không nên miễn cưỡng. Nếu có cho cậu ta đi làm công nhân, chắc gì cậu ta đã thoải mái?
Tôi cảm thấy mình không còn gì để nói nữa, Quách Kim Khố và Tiền Anh Hào cũng chìm trong yên lặng. Một con cá thật to sáng lấp lóa tung mình lên khỏi mặt nước và rơi xuống, nước bắn lên đến tận mặt tôi. Tôi cảm thấy nước sông rất ấm.
Thằng bé đầu to đột nhiên hoảng sợ, hạ giọng:
- Anh bạn, bố! Hình như trên ngọn cây có người!
Trương Tư Quốc đứng dậy, cầm chiếc đèn đưa lên cao. Ánh sáng vàng vọt của chiếc đèn chiếu sáng khuôn mặt đã có rât nhiều nếp nhăn của cậu ta.
Cậu ta đặt chiếc đèn xuống, giáng cho thằng bé một bạt tai và miệng như lầm bầm một câu gì đó…

Cao Mật - Bắc Kinh - Thạch Gia Trang
Tháng 5-1992

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ma Chiến Hữu: Chương 15 và 16


Chương 15
- Tiền Anh Hào, Triệu Kim! Không ngờ tớ lại gặp hai cậu trên ngọn cây này. Tớ và Triệu Kim may sao còn gặp được nhau một lần, lúc ấy chúng tớ còn lao đao lắm, nhưng đem cánh cửa của văn phòng thôn đội làm bia, Ha! Ha! Ha! Vui lắm. Về nhà còn tiêu diệt được cả ba mục tiêu, bà xã ôm cái bụng bự chạy thẳng về ủy ban thôn, xoắn lấy tay trợ lý dân chính, nói cho dù có bị chặt đầu để cho máu văng cũng quyết không sống chung với tay cường đạo Quách Kim Khố nữa. Trợ lý dân chính bảo, trời cao làm mưa, dưới đất nước chảy, vợ chồng cãi nhau chớ có đem oán cừu khắc cốt ghi tâm, bụng lại to rồi còn bày đặt tính chuyện ly hôn! Tôi giúp anh chị hòa giải là được chứ gì? Vợ tớ nói, nếu anh không đồng ý cho tôi ly hôn, tôi sẽ “sát thân thành nhân” ngay trước mặt anh. Trợ lý dân chánh bảo, nếu chị đã quyết tâm ly hôn, tôi yêu cầu chị sau này đừng hối. Vợ tớ khẳng định, cho dù đầu có rơi, máu có chảy đi chăng nữa, chừng nào chưa ly hôn được với Quách Kim Khố còn chưa chịu thôi. Trợ lý dân chính nói, huyện đã có công văn chỉ đạo rằng, toàn bộ những chiến sĩ đã lập được chiến công ở chiến trường, khi về phục viên thì được bố trí công ăn việc làm. Chị mà ly hôn với anh ấy, anh ấy sẽ chẳng phải lo nghĩ gì, cũng chẳng tốn chút công sức nào mà tìm được một cô gái khuê các khác đâu. Vợ tớ vừa nghe xong câu này, lập tức nói, không ly hôn nữa, không ly hôn nữa, chẳng qua là tôi nói vài câu cho đỡ tức mà thôi.
Quách Kim Khố còn nói, tớ đoan chắc là trên thế giới này không có việc gì hoàn toàn phá, cũng chẳng có việc gì hoàn toàn xây, nếu không như vậy thì sau khi tớ tiêu diệt ba mục tiêu tại nhà, vận may đã không đến gõ cửa nhà tớ, tất nhiên vận đen cũng phải sợ tình thần dũng cảm chiến đấu của bộ đội phục viên, đúng không các cậu?
Vẻ mặt của cậu ta đầy vẻ dương dương tự đắc, cái miệng cười như một đỏa hoa cúc. Không chờ chúng tôi trả lời, cái gương mặt đang dương dương tự đắc ấy bỗng nhiên trở thành như một bông hoa tàn úa bị gió lạnh thổi qua làm những cánh hoa lả tả rơi xuống sông. Ráng chiều xán lạn chiếu rọi gương mặt Quách Kim Khố, cậu ta vừa đau khổ, vừa bị kích động, nói: Tiền Anh Hào, ngày ấy ở trong thôn, bố cậu với một chiếc chân gỗ đang đứng trước mặt tớ. Ông hỏi:
- Quách Kim Khố! Cháu còn nhận ra ta không?
Nhìn chiếc chân gỗ, nhìn chiếc lưng còng, nhìn những nếp nhăn của ông, lỗ mũi tớ cay cay, nói:
- Bác Tiền! Cháu chào bác…
- Cháu đến nhà ta đi! - Ông nói - Có chút việc ta muốn bàn với cháu.
Rồi khập khiễng bước thấp bước cao, ông đi bên cạnh tớ, chiếc chân gỗ nện cồm cộp xuống đường. Trông thấy chiếc giày Giải phóng rách nát dưới bàn chân ông, tớ thoáng nhớ đến cậu, lòng tớ đau xót vô cùng.
Trong nhà chỉ có mỗi một mình bố cậu. Ông bảo tớ ngồi rồi rót nước mời. Tớ rất nóng ruột, nói:
- Bác Tiền, bác đừng bận rộn vì những chuyện nhỏ. Quách Kim Khố cháu thật đáng chết, mấy năm nay không ghé đến thăm bác, cháu thật có lỗi với vong linh Tiền Anh Hào…
Tiền Anh Hào bạn ơi! Cậu ngồi trên tường lạnh lùng nhìn tớ. Trên bức tường loang lổ nước thấm có ảnh của cậu, của tớ, của Triệu Kim, của Ngụy Đại Bảo, của Trương Tư Quốc… Tớ còn mặt mũi nào mà để bố cậu rót nước mời.
Tớ nói, bác à, bác dừng bận tâm, cháu không khát đâu, đừng pha nước, bác cứ ngồi xuống. Bố cậu luồn tay xuống dưới chiếu lấy ra nửa bao thuốc lá đã bị đè cho dúm dó, nói lần trước có một bạn đồng ngũ nào đó của các cháu ghé thăm bỏ lại, trí nhớ của ta quá kém nên quên mất tên của cậu ấy, nhưng ta không nỡ hút những điếu thuốc này, cháu hút di. Thuốc lá đã mất mùi, tớ hút mà cổ họng khô chát, mắt mũi cay xè, tớ hỏi, bác có chuyện gì muốn nói với cháu?
Bố cậu nói:
- Kim Khố à, nghe nói cậu đã làm cán bộ địa phương, bác đây rất phân khởi. Có một chuyện này bác đã định đến ủy ban thôn, nhưng may quá hôm nay lại được gặp cháu. Cháu Kim Khố à, bác đây cũng đã từng là người lính, không tin quỷ thần. Nói ra điều này cháu chớ có cười bác. Cách đây mấy ngày bác có nằm mơ thấy Tiền Anh Hào nói với bác rằng: Bố ơi, con ở nơi này không quen vì khí hậu quá ẩm ướt, trong nhà thì đầy rẫy giun đất - Nó từ nhỏ vốn đã sợ giun - Bố ơi, bố đến đây đem hài cốt con về quê chôn ở bờ bắc con sông, bên cạnh phần mộ mẹ con… Tỉnh dậy, bác thấy toàn thân mình ướt đầm mồ hôi, nước mắt chảy ướt gối. Trong lòng bác bỗng nghĩ, người ta nói “người chết cũng giống như ngọn đèn đã tắt”, chắc chẳng có linh ứng gì đâu, bèn nằm xuống ngủ tiếp.
Vừa nhắm mắt đã thấy Anh Hào đứng bên cạnh, nói: Bố ơi! Con biết tuổi bố đã cao, chân lại không lành lặn, đến tận đây để tìm hài cốt con chẳng dễ dàng gì. Nhưng con bố quả thật không thể nằm ở lại đây được nữa… Bác mở mắt, lại đầy mình mồ hôi. Anh trăng chiếu sáng rực ngoài cửa sổ, chuột trong bếp đang gặm củi khô, tất cả đều vừa rất thực lại vừa rất hư… Than lên một tiếng, bác nằm xuống đã thấy Anh Hào hai dòng nước mắt rưng rưng đứng ở đầu giường, vẫn van xin bác đưa nó về quê…
Bố cậu nói tiếp:
- Cháu Kim Khố à, cháu và Anh Hào là bạn của nhau, vừa là chiến hữu, lại đã từng đánh nhau ở biên giới phía nam, quen đường quen sá. Bác định nhờ cháu đi về đó một phen, đưa nắm xương của Anh Hào về đây, chi phí cho công việc bác lo toan chu tất…
- Bác ơi! - Tớ nói - Theo lý mà nói, những điều bác vừa yêu cầu cháu, cho dù có trèo lên núi lao xuống biển lửa cháu cũng chẳng dám từ nan, nhưng việc này không hề đơn giản. Bác thử nghĩ xem, nơi mai táng Tiền Anh Hào là nghĩa trang liệt sĩ, ở đó có người quản lý, ai cho phép chúng ta đào mồ hốt cốt. Chỉ e rằng cháu chưa kịp đào đã có người tới bắt trói lại và gắn cho cái tội là phần tử phá hoại. Lại nữa, ở đấy có rất nhiều liệt sĩ, bố mẹ nào mà chẳng muốn đưa hài cốt con minh về quê hương, người ta cho phép mình, e là loạn cả lên chăng?
Bố cậu gật đầu, nói:
- Cháu nói rất có lý, bác đây có lẽ đã hồ đồ mất rồi… Thôi dừng nói chuyện này nữa, cháu còn việc công, cháu hãy về đi…
- Bác à, Anh Hào hy sinh rồi, cháu sẽ là con bác. Từ nay về sau có chuyện gì, bác cứ đến trụ sở thôn tìm cháu - Tớ nói.
Sau đó tớ nghe nói bố cậu một mình đi Vân Nam. Anh Hào, Quách Kim Khố tớ còn có đáng được xem là người không. Lý Lập Cang ở huyện Bình Độ trong vòng mười năm đã vì các chiến sĩ hy sinh mà ủng hộ hơn hai nghìn đồng, trong cuộc sống riêng lại cực kỳ cần kiệm, ngay cả chiếc đồng hồ đeo tay cũng chẳng dám sắm. Tinh thần ấy ai dám sánh! Đâu phải như tớ, bác nhà ký thác một chuyện đầy ý nghĩa như vậy mà tớ lại mượn miệng người ta để thoái thác, kỳ thực là tớ sợ phải tốn tiền.
- Kim Khố! Cậu đừng nói nữa - Tôi xấu hổ nói - Anh Hào hy sinh đã mười mấy năm, tớ cũng chưa hề gửi cho bác nhà lấy một đồng. Trong khi ấy tớ lại là một quan chức quân đội nữa chứ!
- Cả hai cậu đều mắc bệnh thần kinh cả rồi à? - Tiền Anh Hào nói - Gửi tiền cho bố tớ là bạn tốt, không gửi là không phải bạn tốt hay sao? Không cho phép hai cậu nói đến chuyện này nữa!
Ráng chiều đỏ như máu chiếu trên mặt sông. Một đoàn người mặc áo tơi, nón lá rộng vành, xách đèn bão, xà beng, xẻng, bao gai kéo đến tụ tập trên mặt đê. Một cán bộ thôn quần xén đến bẹn cao giọng nói:
- Bà con toàn thôn nghe đây, nhất định phải đề cao cảnh giác. Ban chỉ huy phòng chống lụt bão huyện vừa gọi điện đến báo rằng, đêm nay nước lũ sẽ tiếp tục dâng cao ở vùng này.

Chương 16
 im Khố! Đừng tự làm khổ mình nữa! - Tiền Anh Hào vỗ vai Quách Kim Khố, nói - Cậu không sai gì cả, cậu mà đi tìm hài cốt tớ cậu mới sai. Tớ cũng chẳng báo mộng gì cho bố tớ cả, hoàn toàn là do ông vì quá nhớ thương tớ mà tưởng tượng ra thôi. Bây giờ ông đã đem tớ về đây, khiến tớ phải rời xa tập thể, tớ cảm thấy buồn chán vô cùng.
- Trở về đây cũng tốt quá đi chứ, bám vào miếng đất quê hương, bên cạnh bố mẹ, ngày đêm nghe tiếng rì rào của dòng sông, ngửi thấy mùi vị bốn mùa… - Tôi nói.
- Tất cả đều không thay thế được cái tập thể đã cùng chiến đấu và sống chết với mình - Tiền Anh Hào nói - Bây giờ ngày nào tớ cũng sống trong những hồi ức về những ngày sục sôi của quá khứ…
Những tâm sự sâu kín trong lòng biểu hiện rõ trên gương mặt Tiền Anh Hào. Một thế giới của thơ, của họa xuất hiện từ lời nói của cậu ta. Môi Tiền Anh Hào không hề động đậy nhưng lời của cậu ta thì cuồn cuộn chảy vào lòng chúng tôi…
… Mỗi đêm khuya trăng sao đầy trời, khi hai con cú mèo lại kêu vang, đập cánh bay loạn để tìm chuột đồng, tất cả chiến sĩ đều rời khỏi phần mộ của mình, tụ tập ở khoảnh đất trông trong khuôn viên nghĩa trang. Tham mưu trực ban hô to khẩu lệnh điều chỉnh đội ngũ, đầu tiên là một đám đen lộn xộn, thoắt cái đã sắp thành một hình vuông. Mệnh lệnh hô vang: Ngồi xuống! Tất cả thành một hình vuông đều tăm tắp màu lam. Khó mà phân biệt được đâu là cán bộ, đâu là chiến sĩ. Mấy nghìn con mắt đang nhấp nháy, từng đàn đom đóm vây quanh chúng tớ, những túi đom đóm treo trên cành cây cũng tỏa sáng rực rỡ, ánh sáng vây quanh ánh sáng nên càng thêm sáng. Sư đoàn trưởng nói: Tham mưu Lý, bắt một bài hát đi, bài nào hùng tráng một tí để làm không khí nóng lên! Trực ban tham mưu Lý vốn là chuyên viên văn hóa sư đoàn, thân thể cao lớn như một cây cao, giọng ca rất khỏe, hát mà nghe như hô khẩu hiệu. Ông ta bắt đầu lĩnh xướng: Bảo đánh là đánh, bảo xung phong là xung phong, luyện cho tinh ngọn lê trong cây súng, luyện cho tinh cách ném lựu đạn… Giọng ca của Tiền Anh Hào vang lên trên ngọn cây, môi không hề mấp máy, nhưng tiếng hát đích xác là đang vang vọng trong không gian: Nhắm thật chuẩn mà ném, ném đi sao cho thật xa. Giơ ngọn lê lên nhắm thẳng mục tiêu… Tiếng hát của chúng tôi đã hòa với tiếng hát của Tiền Anh Hào vang lên trên sông: Tranh thủ thời gian, tranh thủ luyện. Trui rèn bản lĩnh cho cuộc chiến. Không đánh gục phái phản động không là hảo hán. Đánh cho chúng phải giương mắt mà nhìn… Chính ủy đứng dậy, nói:
- Các đồng chí! Hôm nay toàn sư đoàn ta tập hợp là để quán triệt những chỉ thị của cấp trên. Trong thời gian gần đây chung quanh vấn đề mở cửa biên giới, nhân dân hai nước nối lại tình hữu nghị truyền thống, có một số người cảm thấy trong lòng có chút uất ức, có người còn bình luận không mấy tốt về vấn đề này, nào là “máu của chúng ta đổ một cách vô ích”, nào là “hy sinh của chúng ta chẳng có chút giá trị gì”… Các đồng chí! Những suy nghĩ này vô cùng nguy hiểm. Các đồng chí! Chúng ta là quân nhân, thiên chức của chúng ta là phục tùng mệnh lệnh, cấp trên bảo chúng ta đánh tới đâu, chúng ta phải xông lên tới đó. Tình hình thế giới không ngừng thay đổi quan hệ giữa các nước với nhau cũng không ngừng thay đổi. Ngày ấy, chúng ta và họ dùng súng đạn để nói chuyện với nhau, qua đó mà mới có được hòa bình hôm nay. Nhân dân không có oán thù gì với nhau, chiến tranh và hòa bình đều là biểu hiện của tình hình chính trị. Chúng ta hy sinh là vinh quang, quá khứ của chúng ta là vinh quang, lúc này cũng vinh quang, tương lai cũng vẫn cứ vinh quang. Bất kỳ một sự hoài nghi nào về sự vinh quang của chúng ta đều là sai lầm, những sai lầm cực kỳ nghiêm trọng!
Yên lặng bao trùm toàn đoàn, tiếng kêu của hai con cú mèo đập vào vách núi. Hoa Trung Quang, người có tình cảm yếu mềm nhất cúi đầu lặng lẽ khóc.
Tiếng khóc rất dễ lây lan, nhiều chiến sĩ cũng bật lên khóc nức nở. Tiếng khóc to dần, phát triển thành từng đợt cao trào. Có những tiếng khóc rất nhọn sắc như cố ý ngẩng cao cổ lên để phát ra tiếng khóc quái dị. Sư trưởng quát lớn:
- Trò quái quỷ gì thế? Là quân nhân, sống là sắt, chết là gang! Tham mưu Lý, lĩnh xướng mau lên, cổ vũ thí thế của anh em chiến sĩ!
Tham mưu Lý dụi mắt đứng dậy, hát to:
- Chúng ta là những chiến binh, xuất thân từ mọi tầng lớp nhân dân…
Vì đang khóc nên giọng của anh em chiến sĩ đều lạc điệu, sư đoàn trưởng dùng giọng hát hùng tráng và rất khỏe của mình điều chỉnh lại nhip điệu bài hát. Bài ca chấm dứt, chính ủy nói:
- Các đồng chí! Từ những bó hoa tươi trước mộ, từ trong những tác phẩm văn học, từ những đôi mắt đắm đuối nhìn nhau của những người trai trẻ đang yêu, thậm chí từ trên đôi vành tai của những con trâu đang thong thả gặm cỏ một cách yên lành trên biên giới, có thể ngay cả trong những loài trái cây…, chúng ta đều cảm nhận được rằng, nhân dân không hề quên chúng ta. Chúng ta phải là những cây đinh đóng tại nơi này để báo đáp ân tình của nhân dân. Tết sắp đến rồi, để chế ngự tình cảm nhớ quê, các đơn vị cần phải tiến hành tập dượt những tiết mục văn nghệ để cho những lời ca tiếng cười luôn luôn làm bạn với chúng ta trong những ngày xuân…
Lúc ấy tớ chạnh nghĩ: Nếu có Triệu Kim ở đây thì hay biết mấy!
- Cái thằng này, sao lại mong cho tớ chết? - Tôi quát to. Tôi bỗng nhiên dễ dàng nhận ra rằng môi tôi không hề động đậy nhưng tiếng nói của tôi lại đi vào trong tâm não của hai người bạn đang ở trên đầu ngọn cây.
Quách Kim Khố nói:
- Đây lại là một chuyện vô cùng mới. Người chết mà lại có thể tổ chức liên hoan mừng xuân mới!
- Lẽ nào tổ chức một buổi liên hoan mừng xuân mà lại làm cho cậu kinh dị đến như thế? Thế giới này vừa là của người sống, vừa là của người chết. Những người đã chết có phương thức riêng của mình để chiếm hữu thế giới. Chúng tớ ca hát, khiêu vũ, kể chuyện, diễn kịch trong buổi liên hoan; chúng tớ diễn tập, tuần tra, mai phục… Khi người thân nhớ về chúng tớ, chúng tớ sẽ ngừng công việc để báo đáp nỗi nhớ của người thân.
- Nói thế thì, khi bố cậu đưa cậu trở về, cậu không thực sự tự nguyện? - Lời Quách Kim Khố đi vào trang tâm não chúng tôi.
- Nói thế nào nhỉ, bản thân tớ rất mâu thuẫn, lúc ấy đã mâu thuẫn, bây giờ cũng tiếp tục mâu thuẫn. Xa cách bố mẹ đã đau khổ, từ bỏ tập thể cũng đau khổ không kém. Bố tớ lê một chân đến tận biên giới phía nam xa xôi, dường đi chịu không biết bao nhiêu là khổ ải, đúng là quá khổ cho ông.
- Khi bố cậu dự định đi biên giới phía nam, cậu đã dự cảm được không? - Tôi hỏi.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ma Chiến Hữu: Chương 13 và 14


Chương 13
Người đang leo lên bờ đê kia quả thật là Quách Khố. Tóc cậu ta rất dài nhưng được chải có thể xem là gọn gàng, mặc chiếc quần bằng sợi tổng hợp xắn lên thật cao, chân đi vớ và một đôi giày mùa hè, trước để lộ ngón chân, sau để lộ gót chân. Với một chiếc áo sơ mi trắng, một chiếc cà vạt làu đỏ thắt hờ cùng chiếc bút máy giắt trên túi ngực, trông cậu ta rõ ràng là một cán bộ cấp thị trấn.
Cậu ta chon một chỗ ngồi ở phía đông cây liễu và bắt đẩu móc mồi vào lưỡi câu, mồi câu là một con sâu đậu còn đang sống, bị móc vào lưỡi câu mà vẫn còn giãy giụa. Sau khi thả lưỡi câu xuống sông, cậu ta bật lửa châm thuốc rồi, lấy từ trong bụng ra một tấm nylon đỏ trải xuống mặt đê và ngồi lên.
- Tiền Anh Hào, chúng ta gọi thằng này lên cây nhé! - Tôi nói.
Tiền Anh Hào do dự trong giây lát:
- Được thôi, cậu gọi đi! 
- Quách Kim Khố! Quách Kim Khố! - Tôi cao giọng gọi to.
Quách Kim Khố chẳng có phản ứng gì.
- Cậu ta đang bị ba ba làm cho mê muội rồi, cậu hãy xem tớ đây.
Nói xong, Tiền Anh Hào lấy con ba ba đang bị treo trên cành cây xuống, dùng một sợi dây giày khác trói chặt nó vào chai rượu Mao Đài đã đóng nút thật chặt, tiếp theo cậu ta dùng sợi dây quai ba lô nối tiếp vào chiếc dây giày buộc chân con ba ba rồi thòng con ba ba cùng với chai rượu Mao Đài xuống sông, ngay trước mặt Quách Kim Khố. Con ba ba quẫy đạp thật mạnh, nhưng bị chai rượu nặng hơn làm cho lật ngửa ra, bốn chân chổng lên trời. Nó giãy giụa, cố gắng lật úp bụng lại, cái nhãn cao quý của chai rượu nổi lên rực rỡ trên mặt nước nhờ nhờ đục. Một chai Mao Đài, một con ba ba kết hợp lại, trở thành một lễ vật vô cùng hậu hĩnh, đôi mắt Quách Kim Khố dột nhiên sáng rực lên.
Cậu ta vứt điếu thuốc hút dở xuống nước, xắn quần, cởi giày, dò dẫm từng bước tiến dần về phía con ba ba. Rất nhẹ nhàng, Tiền Anh Hào di động chiếc dây quai ba lô, đảm bảo một khoảng cách nhất định giữa Quách Kim Khố và con ba ba để dẫn cậu ta đi dần về phía gốc cây.
Nước ngập đến đùi, rồi từ từ ngập đến bụng và nhanh chóng ngập đến ngực Quách Kim Khố. Hình như cậu ta bị trượt chân, loạng choạng và cả thân hình cậu ta chìm xuống nước. Cậu ta quẫy đạp thật mạnh để đứng dậy, hoảng sợ thối lui về sau mấy bước. Động tác của cậu ta vô cùng vụng về trong nước. Lùi đến chỗ nông, cậu ta ngoái đầu nhìn con ba ba và chai rượu đang lật qua lật lại, do dự giây lát rồi quyết định tiếp tục dò dẫm đi về phía chúng.
Ngồi trên tán cây, tôi nhịn không được nên cười phá lên. Cậu ta đến đây để câu ba ba, không ngờ lại sinh chuyện ngược lại lúc này ba ba đang câu cậu ta.
Lần này, cậu ta rất cẩn thận, nước ngập đến cổ nhưng thân thể cậu ta vẫn rất ổn định. Tiền Anh Hào thả sợi dây quai ba lô chùng xuống để cho con ba ba và chai rượu trôi đến chỗ ranh giới giữa nước nông và nước sâu, Quách Kim Khố có thể vươn tay là chụp được. Rất cẩn thận, cậu ta ngắm nghía mục tiêu và vươn tay, hướng về trước chụp xuống… Nước sông trùm lên thân thể cậu ta…
… Như kéo một con chó chết, tôi và Tiền Anh Hào lôi cái thân hình cao lớn của Quách Kim Khố lên trên ngọn cây. Cậu ta đã bị sặc nước, ho lên dữ dội. Tôi vung tay đâm mạnh mấy cú vào lưng cậu ta, một luồng nước đùng đục từ miệng cậu ta trào ra ngoài. Cậu ta đưa tay dụi những vệt bùn đọng trên mí mắt, lúc này tôi mới cao giọng gọi:
- Quách Kim Khố! Quách Kim Khố!
Tiếng gọi của tôi vang vọng trong mênh mông của dòng sông, làm vỡ òa không gian hoàng hôn. Cậu ta mở mắt nhìn bốn phía từ trên ngọn cây. Tiếng gọi tên cậu ta dần dần tản mát trong những ngọn sóng trùng trùng điệp diệp, mặt cậu ta biểu hiện rõ nét hoang mang và sợ hãi tột độ. Giống như ngày nào cậu ta chộp lấy cổ tôi trong chợ phiên, tôi vươn tay chụp lấy cổ cậu ta từ phía sau và hét lên:
- Chạy đâu cho thoát!
Quách Kim Khố kinh hoàng quay phắt người lại rồi định thần, chửi:
- Mẹ kiếp, hóa ra là cậu đang làm trò quỷ quái!
Vừa nói, cậu ta vừa giơ tay giáng một cái tát vào mặt tôi, đau đến nỗi tôi muốn đứt thở. Cậu ta chụp lấy vai tôi, vừa đấm vừa hỏi rất nhiệt tình:
- Cậu trở về khi nào, trèo lên đây làm gì?
Tôi chỉ về phía sau lưng cậu ta, nói:
- Cậu hãy xem ai đây cái đã!
Quách Kim Khố quay đầu nhìn về phía sau, há hốc mồm đứng ngây như phỗng rồi reo lên:
- Tiền Anh Hào! Bạn tốt của tôi! Té ra cậu vẫn còn sống!
Bước về trước mấy bước, giơ hai tay ôm lấy eo lưng Tiền Anh Hào quay hai vòng rồi buông xuống, nước mắt lưng tròng, tay đấm hai chân đá liên tục như muốn xé nát thân thể Tiền Anh Hào ra mới thỏa.
- Tớ cứ nghĩ là cậu chết rồi, ai ngờ cậu vẫn sống một cách đàng hoàng - Cậu ta đột nhiên ngừng nói, đôi mắt lộ vẻ hồ nghi nhìn khuôn mặt nham nhở và xanh lét cũng như bộ quân phục rách rưới như tờ giấy bồi của Tiền Anh Hào, mặt cậu ta đột nhiên vàng như nghệ, hình như có một nỗi sợ hãi dâng lên, nhưng ngay lập tức bình tĩnh lại, nói:
- Tớ biết cậu là ma, là ma tớ cũng không sợ. Chúng ta có là ma thì cũng phải là ma anh hùng.
- Thằng quỷ này - Tiền Anh Hào nói - Cái tính khí như gấu đực của cậu vẫn không thay đổi được tí nào. Nếu tớ còn sống thì sau trận đấm đá vừa rồi của cậu, không chết mới là lạ.
Cả ba đứng trên ngọn cây cười vang thoải mái. Hoàng hôn, những đụn mây phía tây đỏ rực rỡ với bao nhiêu hình thù kỳ dị nào hoa mẫu đơn, nào ngựa phi chó chạy, biến đổi vô thường. Lửa rực cháy trên nửa bầu trời, chiếu xuống dòng sông biến nó thành dòng sông lửa, mặt chúng tôi cũng như được nhuộm trong lửa, hừng hực sức sống.
Quách Kim Khố dùng chân đạp mạnh lên mấy cành cây, ngọn cây lay động dữ dội, hàng trăm cành bị chìm trong nước bật lên khỏi mặt nước rồi hạ xuống, kèm theo là vô số những hạt nước bắn tung tóe, đẹp vô cùng. Cậu ta hỏi:
- Hai cậu làm trò quái quỷ gì trên ngọn cây này?
- Bọn tớ chẳng làm trò quái quỷ gì cả, bọn tớ đang câu cá - Tôi trả lời.
- Ha ha ha! Đúng là biết chọn lựa địa điểm câu cá kỳ diệu - Quách Kim Khố nói - Các cậu câu cá, còn tớ thì câu ba ba.
- Bọn tớ cũng câu ba ba, câu được một con thật to rồi đấy! - Tiền Anh Hào nhấc con ba ba bị cột chặt vào chai rượu lên huơ hươ trước mặt, cười một cách tính quái - Cậu bị ba ba câu thì có!
Quách Kim Khố bỗng tỉnh ngộ, cười nói:
- Té ra là hai cậu làm trò quỷ!
Ba chúng tôi trở thành ba góc của một tam giác đều, ngồi trên đầu ngọn cây. Tôi nói:
- Nghe nói cậu làm ăn khá lắm?
- Sao lại gọi là làm ăn? - Quách Kim Khố không bằng lòng - Cái bát sắt của tớ hiện có là từ trong rừng đạn mưa tên mà có, là chính sách của nhà nước, có hiểu không?
- Hiểu, hiểu rồi! - Tôi nói.
- Nhưng có kẻ không hiểu - Cậu ta tức giận nói - Có kẻ còn cho là tớ gặp may.
- Nhưng rõ ràng số phận cậu đâu đến nỗi tồi - Tôi nói.
- Thế số phận ai tồi? - Cậu ta điên tiết - Cậu nói đi, số phận ai tồi?
- Số phận Tiền Anh Hào tốt hơn so với cậu không? - Tôi hỏi.
- Lôi tớ vào làm gì? - Tiền Anh Hào xua tay - Đừng kéo tớ vào chuyện của các cậu.
Quách Kim Khố nhìn Tiền Anh Hào đang buồn bã ngồi hút thuốc, trong lòng cảm thấy bất nhẫn, gãi gáy nói:
- Nếu so với cậu, tớ không có tư cách để huyên thuyên về mình. Nếu cậu còn sống, cậu thừa tư cách để làm tư lệnh sư đoàn.
Tiền Anh Hào cười nói:
- Cứ nói đi! Nói dóc không hề phạm pháp, cũng không phải nộp thuế, cứ nói đi tư lệnh trưởng Quách!
Quách Kim Khố có điều gì đó rất khó nói ra, đưa đẩy:
- Tiền Anh Hào, có một chuyện tớ không phải với cậu…
- Dẹp đi! Cậu có chuyện gì mà không phải với tớ - Tiền Anh Hào nói - Triệu sư trưởng! Cậu nói đi, liệu Quách Kim Khố có điều gì không phải với tớ không?

Chương 14
 úc này tôi mới nhận ra giá trị lớn lao của cây liêu cổ thụ mọc ven con đê này đối với chúng tôi. Mười lăm năm trước, toong một ngày cuối đông đầu xuân, cùng lúc nhận giấy báo nhập ngũ có tôi, Tiền Anh Hào, Quách Kim Khố, Ngụy Đại Bảo, Trương Tư Quốc cùng tề tựu dưới gốc cây liễu này. Ngày ấy, chúng tôi tề tựu dưới gốc cây này một cách ngẫu nhiên, còn bữa nay, chúng tôi tề tựu trên ngọn cây này phải chăng là an bài của Tiền Anh Hào?
Ngày ấy, sau khi nhận giấy báo nhập ngũ, chúng tôi đã đến quán của Nhiếp Câm mua hai cân thịt chó, đến cửa hàng cung tiêu mua hai chai rượu trắng đến bên bờ đê phía mặt trời mọc ngồi uống cùng nhau. Cuối đông, đi dã ngoại uống rượu là đề xuất của Tiền Anh Hào, cậu ta bảo những anh hùng thời cổ ít khi uống rượu trong nhà. Cậu ta là lãnh tụ của chúng tôi, nói câu nào triết lý câu ấy. Nước dưới sông đã hoàn toàn đóng băng, ánh mặt trời chiếu rọi, cả dòng sông như một con rồng đang uốn lượn. Trời lặng câm không một cơn gió nào, cỏ lau bên sông đứng im lìm ngắm nhìn anh em chúng tôi uống rượu với thịt chó. Không có đũa thì dùng tay bốc, không có cốc thì ghé mồm vào chai mà nốc. Lúc ấy, cây liễu này chỉ to bằng chiếc thùng gánh nước, tán lá tất nhiên cũng không thể tỏa rộng như bây giờ. Thịt đã hết, rượu không còn, người cũng đã say, mặt trời lúc thì xanh lúc thì lam vẫn chạy trên cao. Bỗng nhiên có một đàn nhạn rất to đáp xuống mặt băng, tất cả chúng tôi đều đứng ngây người nhìn đàn nhạn. Tôi nói, phải chi có một cây súng thì quá tốt… Sau đó thì có súng, khi vừa vác súng hành quân vừa hát vang “Nhắm thật chuẩn bắn cho thật trúng, Mỗi viên đạn tiêu diệt một quân thù”, lúc nào tôi cũng nghĩ đến bầy nhạn, nghĩ đến ước mơ có được cây súng và cứ mỗi viên đạn là bắn gục một con, lông vũ bay lên, máu văng đỏ sông và thân hình nặng nề của chúng từ trên không trung rơi xuống… Tiền Anh Hào bảo: Bắt nhạn thì cần gì súng? - Không có súng thì làm sao bắn nhạn? Ngụy Đại Bảo phản bác. Tiền Anh Hào bảo: Chỉ cần chúng ta có thể bí mật tiếp cận bầy nhạn với khoảng cách mười mét và tấn công bất ngờ, chúng ta có thể chộp được chân con nhạn vừa cất cánh bay lên một cách khó khăn, các cậu có tin không? - Chúng tớ không tin! Cậu ta bảo: Đi theo tớ, các cậu cứ theo tớ lê về phía trước. Hiểu thế nào là “lê về phía trước” không? Không biết cũng đừng quá lo, theo tớ mà làm, toàn thân phải ép chặt xuống đất, dùng hai cùi tay chống đất dẩy về phía trước, chân di chuyển theo cùi tay. Đúng rồi! Cứ như thế! Theo sau tớ! Túm được mấy con nhạn bự này về nhờ bố tớ hầm cho chúng mình thì tuyệt. Đừng lo, chậm thôi, chớ làm kinh động bọn chúng - Cỏ hoang che khuất thân thể chúng tôi, lá cỏ cọ vào quần áo u lên sột soạt. Dưới cỏ, bùn cũng đã đóng thành băng, nhưng do thịt chó và rượu trắng trong bụng đang tỏa nhiệt nên chúng tôi chẳng thấy lạnh tí nào. Dần dần, chúng tôi đã bò đến vùng băng trắng đến nhức mắt, cả đàn nhạn đang đứng yên như những chiến sĩ đang chăm chú nghe huấn thị của lãnh đạo, tất nhiên tôi phải khẳng định lại rằng, bọn nhạn không phải là những chiến sĩ. Khi luyện tập nằm lê về phía trước như những con báo biển ở trên bờ cát Bột Hải, lúc nào tôi cũng nghĩ đến lần lê bắt nhạn này, lúc nào cũng nhớ, vĩnh viễn không quên. Trong cái chớp mắt khi Tiền Anh Hào bị đạn pháo bắn trúng, máu thịt bay lên trời, một cảm giác cực kỳ đáng sợ thoáng hiện trong đầu óc tôi: Máu thịt và quần áo của Tiền Anh Hào văng tứ tung trong núi rừng hoang vắng ở phương nam xa xôi chính là lông vũ và máu thịt của con nhạn tại bờ sông ở quê nhà. Đương nhiên cảm giác này chỉ thoáng qua rất nhanh, ngay lập tức biến mất. Cậu ta chết, tôi như bị muôn ngàn mũi tên xuyên thấu vào tim mình. Cái chết của thằng bạn chí cốt đã khiến tôi phẫn nộ, tôi căm thù cái kẻ đã bắn chết bạn tôi. Tôi lê về phía trước trên bãi cát sỏi bằng phẳng, mềm và bỏng rát, cát sỏi bỏng rát làm bỏng bụng tôi, thậm chí còn làm bỏng cái chỗ mẫn cảm nhất. Cát bỏng thiêu đốt, toàn thân tôi túa mồ hôi, mồ hôi thấm vào hốc mắt. Tôi mi ngắn mày thưa, không thể mở được mắt nữa rồi - Triệu Kim! Hạ thấp mông xuống! Cậu là đà điểu à? Tiểu đội trưởng gào lên, đồng thời dùng một chiếc gậy nhỏ đập xuống mông tôi. Tôi hạ thấp mông xuống, lê về phía trước, cát sỏi qua cổ áo, chân nặng, súng nặng - Lê nhanh lên! Báo biển lê còn nhanh hơn so với cậu! Không đúng yếu lĩnh, đứng dậy! Tôi vịn vào súng, đứng dậy, trước mắt là những tia nắng màu đen từ mặt trời phát xa, cảnh vật chao đảo. Cả bãi cát trên biển đều nhấp nháy, mỗi hạt cát là một vật phát quang, đang phát ra một luồng sáng. Tôi cảm thấy ruột gan mình đang nhào lộn, đầu nhức tai ong. Gió biển mằn mặn tanh tanh thổi vào càng làm ruột gan tôi như muốn trào cả ra ngoài. Sóng biển trùng trùng điệp điệp, nước biển một màu xanh đen, chỉ có những bọt sóng là có chút ánh sáng màu lam, màu lam làm mắt tôi thêm bỏng rát - Cậu đúng là đồ đần độn - Tiểu đội trưởng nói - Tiền Anh Hào, ra khỏi hàng! - Rõ! Cậu ta xách súng chạy ra - Lê về phía trước! Như một chiếc gậy thẳng băng, Tiền Anh Hào đổ người về phía trước, trong cái nháy mắt khi chuẩn bị tiếp đất mới vươn một tay ra, chông xuống đất. Cách tiếp đất này vừa mạnh mẽ vừa đẹp vô cùng. Cậu ta lê với tư thế rất đẹp, tốc độ rất nhanh, chẳng khác gì một con rắn mối màu xanh lục đang bò trên bãi cát - Theo tớ, đừng gây tiếng động! Vượt qua bãi cỏ khô, chúng tôi tiếp cận dần dần với bầy nhạn đang đứng trên băng. Băng đẹp lắm, đủ các màu sắc lấp lánh, lông vũ tình khiết của bầy nhạn được nhuộm dưới ánh mặt trời lại trở nên lung linh huyền ảo, không thực. Cái nắng gay gắt của tháng hai và những ngày gay gắt nóng ấy lại xuất hiện. Tôi, phó tiểu đội trưởng Triệu Kim đang ở vị trí sau cùng của tiểu đội đang lê đến địa điểm ẩn nấp. Đất đỏ ẩm ướt, đá nhọn chích bụng người. Tôi nhìn thấy dáng bò vụng về của La Nhi Hổ và dáng bò rất nhanh nhẹn của Tiền Anh Hào. Nếu không vì tập thể tiểu đội này, một mình cậu ta đã tập kết ở địa điểm ẩn nấp từ lâu rồi. Những tình tiết hấp dẫn của lần bắt nhạn tiếp tục hiện ra trước mắt tôi. Triệu Kim! Hãy xem động tác của Tiền Anh Hào! Tiểu đội trưởng ra lệnh cho tôi - Rõ, thưa tiểu đội trưởng! Thiếu chút nữa thì cậu ta đã lê luôn ra ngoài biển, cái thân hình mềm mại đang vận động giữa bãi cát màu vàng với nước biển màu xanh đen như một con cá sấu hung dữ. Tôi nghĩ là cậu ta sẽ biến vào đại dương bao la vào thế giới băng tuyết vĩnh hằng trên sông. Xung phong! Cậu ta, vọt dậy, hét lên, lao về phía bầy nhạn. Chúng tôi cũng đồng loạt bật lên, đồng loạt bổ nhào xuống băng. Chỗ tiếp giáp giữa dòng nước và bờ đất, mặt trời đã làm tan băng, một lớp bùn đặc sệt hình thành, tất cả chúng tôi đều ngã nhào ở chỗ này và với những cái mông dính đầy bùn, chúng tôi trượt dài trên băng, trượt trong tư thế ngồi. Rượu đã làm đầu óc chúng tôi mê muội. Như một con chó săn, đúng hơn là giống hệt con chó đen Ba Lỗ của mình, Tiền Anh Hào nhào về phía bầy nhạn. Chúng tôi đều đang mặc quần áo đen. Đàn nhạn kêu lên hoảng loạn, chạy trên băng để lấy đà bay lên, Băng làm giảm thiểu lực ma sát của đôi chân khiến chúng không thể nhanh chóng thoát khỏi lực hấp dẫn của quả đất. Chúng hoảng loạn đập cánh, chạy, trượt, những chiếc bóng lấp lóa… Cuối cùng thì chúng cũng cất được cánh lên khỏi mặt băng, cổ vươn dài ra, chân cũng duỗi thẳng. Dưới những đôi cánh đang đập loạn xạ, gió lạnh rào rào. Một con nhạn vụng về đã bị Tiền Anh Hào túm chặt, còn tất cả đã từ từ bay lên cao, đội hình không phải hình chữ “bát”, cũng chẳng phải hình chữ “nhất” mà là loạn xị bát nháo bay về phía mặt trời. Trên mặt băng, lông vũ của chúng bay phất phơ trong những luồng gió nhẹ. Tiền Anh Hào! Quay lại! Cậu ta xách súng đứng trước đội hình, bộ quân phục màu xanh lục đã bị mồ hôi thấm ướt biến thành màu đen, gương mặt đen cháy dính đầy cát vàng. Khí thế cậu ta đang hừng hực. Với thằng bạn đồng hương có thiên bẩm về những kỹ thuật quân sự này, tôi vừa khâm phục vừa đố kỵ. Cậu ta đang ngoác mồm cười với tôi, dưới vành chiếc mũ ngụy trang, gương mặt cậu ta sao mà tự tin, tự tin hơn cả lúc bắt nhạn, tôi càng tin rằng thượng đế đã phái cậu ta xuống trần gian để làm lính, để đánh nhau. Chúng tôi hoan hô vang trời và kéo nhau chạy trên băng, vừa ngắm nghía con nhạn trong tay Tiền Anh Hào. Nó đang giận dữ, đang kinh sợ, đang đau khổ giãy giụa, đồng thời kêu lên vô cùng bi thảm. Chúng tôi vây lấy Tiền Anh Hào ngay dưới gốc liễu, tranh thủ vuốt ve bộ lông mềm như lụa của con nhạn. Nó vẫn kêu lên những tiếng kêu sợ hãi, đôi mắt đen đầy nước mắt. Nhạn là loài vật linh biết khóc - Triệu Kim! Có thấy Tiền Anh Hào thực hiện động tác như thế nào không? Tôi cúi đầu - Thế mới gọi là lê về phía trước chứ - Tiểu đội trưởng nói - Còn động tác của cậu thì gọi là gì nhỉ? Bò cũng không đúng, trườn cũng không xong - Đầu tôi cúi thấp hơn tí nữa - Con nhạn này dễ nặng đến ba ký lô! Cả bọn vừa sờ nắn con nhạn, vừa bàn tán - Về thôi, Tiền Anh Hào! Nhờ bố cậu hầm, tối nay chúng ta lại uống rượu tiếp! Tiền Anh Hào tay không bắt nhạn, thật là đáng nể! - Có gì mà đáng nể, chẳng qua là gặp phải con nhạn ngu ngốc thôi! Nước mắt con nhạn rưng rưng. Tiền Anh Hào có vẻ suy nghĩ điều gì lung lắm, cuối cùng nói: Nhạn biết khóc, thôi thì thả nó ra vậy! Ngụy Đại Bảo nói: Đừng có mà lương thiện lắm thế! Quách Kim Khố vội vàng: Đừng thả, đừng thả. Chẳng dễ gì mà bắt được đâu! Tiền Anh Hào nói: Nó là do tớ bắt được, tớ muốn thả nó! Nói rồi thả tay, con nhạn xiêu vẹo chạy trên triền đê, Ngụy Đại Bảo và Quách Kim Khố đuổi theo. Con nhạn tung cánh, như một mũi tên lao thẳng về phía mặt trời, để lại mấy tiếng kêu rộn rã. Ngụy Đại Bảo chửi: Mẹ kiếp thằng họ Tiền ngu ngốc! Quách Kim Khố gầm lên: Biết là sẽ thả, việc gì phải bắt? Hại tớ phải bị một mông bùn! Trương Tư Quốc thì điềm đạm: Thả là tốt! Nhân lành gặt quả tốt, A Di Đà Phật! Trương Tư Quốc mập tròn vo, trông rất giống một tiểu Di Lặc Phật. Nghe đâu rằng mẹ cậu ấy rất sùng Phật, chúng tôi cũng không hiểu hư thực ra sao. Ngụy Đại Bảo nói: Trương Tư Quốc à, cậu đi làm hòa thượng đi, làm lính thế nào được. Làm lính không chỉ giết nhạn mà còn giết cả người nữa! Trương Tư Quốc lành tính, chẳng thèm phản bác, chỉ cười - Tiền Anh Hào nói: Triệu Kim à, tớ chẳng cố ý làm cậu bẽ mặt đâu. Tiểu đội trưởng chỉ quá lời thôi. Tôi nhăn nhó: Tiền Anh Hào, tớ ở trong quân đội e rằng chẳng làm nên trò trống gì. Trời sinh tớ ra không phải để làm lính như cậu đâu! Con nhạn đã bay mất dạng, Tiền Anh Hào nói: Chúng ta khắc tên mình vào cây liễu đi, mười năm sau quay lại xem ra sao. Nói xong cậu ta móc trong túi quần ra một con dao nhíp, gọt sạch lớp vỏ xù xì của cây liễu, sau đó khắc lên cây: “Tư lệnh Tiền Anh Hào”. Quách Kim Khố nói: Mẹ kiếp, tham vọng sao mà khiếp thế, giống Lâm Bưu quá. Đưa dao cho tớ, tớ làm gì nhi thôi làm lữ đoàn trưởng vậy. Xoẹt xoẹt xoẹt! Trên thân cây hiện rõ mấy chữ “Lữ đoàn trưởng Quách Kim Khố”. Sau đó là mấy dòng “Sư đoàn trưởng Triệu Kim”, “Trung đoàn trưởng Ngụy Đại Bảo”. Trương Tư Quốc gãi đầu: Tớ chẳng mong làm gì to tát, chỉ muốn trở thành đảng viên, quay về tìm một công việc. Nhưng nếu tìm không được việc thì làm một chân chi ủy viên ở thôn cũng xong. Chúng tôi đều cười cợt cậu ta thiếu nhiệt huyết, thiếu tráng chí. Ngụy Đại Bảo nói: Thế thì cậu hãy khắc đi: “Chi ủy thôn Trương Tư Quốc”. Sáu chữ đại tự xuất hiện trên thân cây…
Quách Kim Khố nói:
- Khi quả pháo làm banh xác Tư lệnh Tiền Anh Hào, tớ không hề nghĩ đến mấy chữ trên thân cây liễu này.
Không hẹn mà chúng tôi cùng lúc tuột xuống khỏi ngọn cây. Trong cành lá rậm rịt, trong nước lụt nhờ nhờ, chúng tôi tìm tên của Tư lệnh Tiền Anh Hào, Lữ đoàn trưởng Quách Kim Khố, Sư đoàn trưởng Triệu Kim, Trưng đoàn trưởng Ngụy Đại Bảo và Chi ủy thôn Trương Tư Quốc… Những giấc mộng huy hoàng ngày xưa cũ có lẽ đã được ươm mầm từ trong vòng tuổi của cây, từ trong những thớ cây. Chúng tôi vuốt ve những vết hằn đã mọc đầy rêu xanh trên thân cây, than thở không nguôi. Sáu con mắt bi thương không hẹn mà ngước lên nhìn nhau, đầy nước…

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ma Chiến Hữu: Chương 11 và 12


Chương 11
Tiền Anh Hào đi thật sâu vào vòm cành lá lấy ra hai chiếc cần câu thuộc loại cao cấp có thể thu ngắn hoặc kéo dài ra. Tôi sờ nắn cái vòng quay dây câu mạ bạc của nó, kinh ngạc hỏi:
- Cậu lấy ở đâu ra thứ dụng cụ cao cấp này?
Cậu ta cười một cách bí mật, nói:
- Điều này thì cậu đừng quan tâm, nhưng chắc chắn là tớ không thể đến cửa hàng để ăn trộm đâu.
- Cậu không nói rõ, tớ chẳng thèm câu đâu - Tôi cáu.
- Thằng quỷ này đúng là khó giấu được điều gì, cái gì cũng muốn biết cho đến tận đầu tận đũa - Tiền Anh Hào ca cẩm.
- Nếu không như thế thì làm sao nâng cao được tri thức! - Tôi nói.
- Tri thức cái khỉ mốc! - Cậu ta cười nói. - Nói cho cậu hay, hai chiếc cần câu này, một là của phó thị trưởng Ngô, hai là của huyện trưởng Mã. Hai người này chủ nhật nào cũng dẫn theo rất nhiều thuộc hạ đánh xe con đến đây, ngay dưới gốc cây này để câu cá. Họ làm huyên náo cái không gian cần yên tĩnh của tớ, tức quá, tớ bèn thi triển một chút pháp thuật, họ chạy tóe khói - Cậu ta cười một cách xảo quyệt - Hai chiếc cần câu này trở thành chiến lợi phẩm, nhưng từ đó đến giờ tớ chưa dùng chúng lần nào.
- Thằng quỷ này! Đã làm ma rồi mà còn chưa chịu an phận!
- Cái này gọi là “giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”! - Cậu ta đắc ý cười vang lên.
Sau khi chuẩn bị xong cần câu, chúng tôi mới phát hiện là chưa có mồi câu.
Tôi nói:
- Đào giun đi!
- Cá trên sông này biến thành quỷ cả rồi, chúng không ăn giun đâu - Tiền Anh Hào nói.
- Thế dùng mồi gì?
Tiền Anh Hào lôi lên một cành liễu bị ngập chìm trong nước và ngắt lấy hai chiếc lá bị sâu cuốn lại, mở ra và nhặt hai con sâu nho nhỏ ra, móc vào lưỡi câu của tôi và của cậu ta. Chúng tôi thả lưỡi câu xuống dòng sông, chăm chú nhìn hai chiếc phao nhựa đang nổi phập phù trên mặt nước. Tôi đưa cho cậu ta một điếu thuốc, cũng đốt cho mình một điếu. Từ hai lỗ mũi của Tiền Anh Hào, hai luồng khói tỏa ra nhưng trông có vẻ rất yếu ớt, bởi tôi đã nhận ra từ tai, tóc, cổ và cằm của cậu ta đều đang bị bao phủ bởi một màu xanh bạc nhược, do vậy mà khói thuốc trở nên càng bạc nhược hơn.
Tôi chăm chú nhìn chiếc phao và thoáng nhìn thấy chiếc lưỡi câu từ độ sâu khoảng nửa mét đang lay động với con sâu màu trắng. Chỗ này không phải là đáy sông, lúc dòng sông đang là mùa khô, nó chính là bãi sông, lúc ấy trên bề mặt nó mọc đầy những loại rau dại màu đỏ, màu tía. Tất cả bây giờ đều chìm trong nước và đều đang nghiêng ngả theo dòng nước lúc thì ngả về nam, lúc thì ngả về bắc, lúc thì xuôi về đông lúc thì xuôi về tây tùy theo những dòng chảy ngầm dưới lòng sông những vật phù du dần dần tích tụ, đọng lại trên cành lá. Vượt qua những đám rau dại rậm rịt bị chìm trong nước ấy, xa hơn tí nữa là lòng sông với ba tầng lưu lượng rõ rệt: một tầng chảy, một tầng nước xoáy và một tầng ngưng đọng, nhưng tất cả đều tải nặng phù sa. Dưới mắt chúng tôi, trên dòng sông lúc này có những sinh vật phù du màu phấn hồng nhỏ nhoi đang bám vào những cành rau dại rậm rịt mà uốn éo thân mình theo làn nước chảy nhẹ, tuyệt nhiên không hề có bóng dáng con cá nào. Không có lươn trắng, không có cá chép, không có ba ba…, tất cả đều không có. Những con cá lớn nhỏ tranh nhau đớp những vụn xương gà mà chúng tôi vứt xuống dòng sông, lúc này đã đi đâu? Tôi ngước mắt, trong lòng đầy những nghi hoặc nhìn Tiền Anh Hào. Từ trên đầu, trên cổ cậu ta, mười mấy làn khói như những con rắn màu xanh bay lên. Việc này làm cho tôi khiếp sợ, nhưng tôi không lấy đó làm kỳ lạ. Đương nhiên không thể dùng những điều hợp với lý lẽ thường tình của con người mà lý giải những điều kỳ lạ ở Tiền Anh Hào. Cậu ta phun ra những làn khói kỳ lạ ấy từ những vị trí nào chẳng qua là điều thứ yếu, còn trên sông lúc này tại sao không có bóng dáng con cá nào mới là điều trọng yếu, bởi trước mắt chúng tôi là cần có cá để mà câu. Cá đi đằng nào nhỉ?
Bằng kỹ thuật điêu luyện vốn có, Tiền Anh Hào dùng miệng xé nát phần còn lại của điếu thuốc rồi phun xuống sông. Đầu lọc và giấy quấn thuốc thì nổi trên mặt nước, còn những sợi thuốc có chất nicotine thì chìm xuống, nằm trên đầu những cọng rau dại. Cá đâu? Chúng đi đằng nào hết cả rồi?
Tiền Anh Hào ho lên nấy tiếng khùng khục rồi nhổ một búng đờm xuống dòng sông. Đờm vốn vón thành bãi nhưng với kỹ thuật của cậu ta, như một quả đạn nổ tung thành hàng trăm mảnh và liên kết lại thành một vòng thật tròn. Đột nhiên cậu ta hạ giọng, nói:
- Xem kìa, mau lên, bọn chúng đến rồi kìa!
Mắt tôi nhìn theo hướng chỉ của đầu ngón tay đầy những nốt đỏ sần sùi của Tiền Anh Hào, vượt qua làn nước nông với đầy cỏ dại để nhìn ra giữa sông, chỗ dòng nước xoáy rất sâu. Nước ở chỗ ấy quay tít như một chiếc bánh xe khổng lồ, nước chung quanh cuốn vòng theo chiếc bánh xe ấy. Hai cụm màu xanh biếc từ trong vòng xoáy ấy tách ra. Một đàn toàn những con lươn lớn nhỏ do một con lươn to bằng cánh tay đầy đặn của một thiếu phụ dẫn đầu đang rất cẩn thận bơi về phía chúng tôi như một đám mây lấp lánh ngân quang dưới mặt nước. Vượt khỏi vòng xoáy, trong lòng chiếc giường mênh mông là mặt nước sông, chúng bơi chen chúc bên nhau với vận tốc rất nhanh. Nhìn chúng bơi, tôi liên tưởng đến một đàn bồ câu đang tung cánh liệng vòng trên bầu trời. Đàn lươn bơi lúc nhanh lúc chậm, lúc tiến lúc thoái nhưng tất cả đều đồng loạt với những động tác cực kỳ sinh động. Lươn mà bơi đạt đến trình độ này ư! Tôi cảm thán trong lòng. Không có cách gì cản trở được đường bơi của bọn chúng, đôi mắt tôi cứ dõi theo đến khi cảm thấy mỏi và nhòe đi. Thôi, không nhìn đàn lươn nữa vậy. Tôi chuyển điểm nhìn về một mục tiêu khác. Điều kỳ diệu đang diễn ra dưới mắt tôi. Len giữa những lùm hòe đang chìm trong nước chung quanh dưới tán lá của cây liễu mà chúng tôi đang trú là hàng trăm con cá với hàng chục chủng loại, có cá chép, có cá nheo, cá trắm, cá chình… đủ màu đủ sắc, lớn nhỏ khác nhau. Còn có cả một chú ba ba màu xanh sẫm vụng về vùi một nửa thân mình dưới lớp phù sa mỏng, giương đôi mắt ngây ngây độn độn nhìn chúng tôi. Những con cá đang bơi lội cực kỳ nhàn nhã giữa những lùm hòe xanh, hàng trăm con mắt đều mở thao láo như đang chờ đợi một điều gì đó. Bỗng nhiên tôi ý thức được một điều: Bọn cá đang bao vây chúng tôi! Một cảm giác sợ hãi chưa bao giờ có choáng ngợp tâm trí tôi. Trong những cánh rừng rậm nhiệt đới năm nào, chúng tôi bao vây những đơn vị của đối phương thì giờ đây, ngay tại quê hương mình, những đàn cá đang bao vây chúng tôi trên tán lá bên bờ sông! Đàn lươn vẫn đang biểu diễn những động tác bơi khiến người ta hoa mắt, đàn cá tạp vẫn lượn lờ chờ đợi giữa những lùm cây um tùm. Màu sắc của chúng với khung cảnh chung quanh sao mà hài hòa thống nhất, hình như tất cả đều mặc một loại quần áo có màu sắc lừa được mắt người. A! Màu này rất giống với màu quần áo của những đơn vị lính đặc công với những hoạt động xuât quỷ nhập thần.
Truyền thuyết kể rằng, không chỉ cá mập ngoài biển khơi mà cả những loài cá vốn rất hiền từ sống ở các dòng sông cũng đều có thể ăn thịt người. Lâu nay tôi nghĩ, truyền thuyết vẫn cứ là truyền thuyết, toàn những lời bạ đâu nói đó, gặp đâu nghe đó. Nhưng hôm nay, truyền thuyết sẽ rất nhanh chóng biến thành hiện thực thôi.
Tôi tín chắc chắn là Tiền Anh Hào đã phát hiện ra cá đang bao vây chúng tôi ở phía bên dưới. Tôi nghĩ, đầu óc cậu ta thông minh, là một thiên tài về những kỹ thuật quân sự, thuở nhỏ đã có những kinh nghiêm về tính tình và thói quen của cá; sau khi trở về quê hương lại ngồi trên lùm cây này ngày ngày quan sát, nhất định sẽ có những cách giải quyết đối với những âm miíu của cá; có cậu ta bên cạnh lúc này, tôi có thể yên lòng. Ngay lúc ấy, tôi cảm thấy ngón tay lạnh lẽo của cậu ta chọt chọt vào hông tôi, cùng lúc đó, cái miệng đang tỏa ra một mùi hôi của sự rữa nát ghé sát vào lỗ tai tôi thì thầm:
- Cậu chú ý xem con lươn trắng to nhất kia!
Âm thanh của cậu ta vừa thoát ra, mùi rữa nát chưa kịp tán phát vào không gian thì đàn lươn đang bơi rất nhanh ở bên dưới đột ngột dừng lại, tụ tập dưới tán lá của cây liễu cách một khoảng không xa, quẫy mạnh khiến mặt sông nổi lên không biết bao nhiêu là đợt sóng và cuối cùng hàng trăm chiếc đầu của chúng đồng loạt chụm vào một hướng kết thành hình một chiếc bảo tháp, bọn to xác ở những tầng dưới, bọn nhỏ hơn thì ở những tầng trên, vừa đẹp vừa đáng sợ. Tốc độ kết thành hình bảo tháp của chúng rất nhanh, tất cả lớn bé dường như được huấn luyện một cách rất công phu. Đương nhiên bọn lươn này không phải là binh sĩ, bọn chúng giống với một dàn diễn viên xiếc được huấn luyện một cách có bài bản hơn. Con lươn trên đỉnh tháp chỉ bằng chiếc bút chì, chắc là do một nguyên cớ nào đó mà nó lại có màu đen, ba phần giống lươn, bảy phần giống một con rắn nhỏ kiêu ngạo. Không còn nghi ngờ gì giữa, con vật bé nhỏ này chính là vưu vật của gia tộc lươn còn cao quý hơn cả đứa con trai của một dòng họ mười đời độc đinh. Nhìn chiếc bảo tháp của đàn lươn, tôi càng cảm thương cho sự nhỏ bé đến độ thê thảm của con người. Trong giới động vật vẫn còn có bao nhiêu điều thần kỳ mà con người chưa hề thấy thậm chí chưa hề nghe qua, e rằng chúng vẫn cứ là những bí mật vĩnh viễn đối với chúng ta.
Con lươn lớn nhất đàn cứ lượn lờ một cách ngạo mạn trong quá trình đàn lươn xây bảo tháp như một vị chỉ huy khí phách hiên ngang và đầy quyền uy lặng lẽ quan sát những kẻ dưới quyền làm việc. Sau khi chiếc bảo tháp được kết xong, nó ngừng bơi, vẩy chiếc đuôi nhỏ để cho thân hình đứng thẳng dậy, mồm mở to ra…
- Tai của cá! - Tiền Anh Hào lại dùng ngón tay chọt vào tôi, nói nhỏ.
Con lươn già há mồm, rồi như một lão già đang cong người vì ho, nó dùng sức uốn cong thân thể lại, hai màng mỏng hình cánh bướm màu trắng từ từ vươn ra khỏi chiếc mồm đang há. Những chiếc đầu lươn kết lại thành bảo tháp đang lay động rất đều đặn khiến mắt tôi hoa lên. Cứ như thế, thời gian khoảng hút xong nửa điếu thuốc, từ hai màng mỏng ở mồm con lươn bỗng phát ra hai âm thanh nhỏ nhưng khô khốc, ngay lập tức chúng bị vỡ tan. Những mảnh vụn của hai chiếc màng nhẹ nhàng trôi đi theo dòng nước, và cũng ngay lúc ấy, đàn lươn kết thành chiếc bảo tháp cũng tản dần ra, con lươn nhỏ trên đỉnh tháp điên cuồng lao theo đớp những mảnh vụn của chiếc màng như thể thông qua phương thức này mà truyền thừa y bát của tổ tông.
Con lươn già vừa nhả hai chiếc màng mỏng lúc này đã lật bụng lên trên và nằm trên lớp phù sa dưới đáy dòng sông, cả đàn lươn đang bơi chung quanh như một vòng sáng màu bạc - một vòng tròn của lươn - vây lấy con lươn vừa chết và con lươn nhỏ trên đỉnh tháp lúc nãy vào giữa. Con lươn nhỏ tham lam nuốt lấy nuốt để những mảnh vụn của chiếc màng, sau đó thì bắt đầu dùng mồm mổ vào bụng con lươn chết.Rõ ràng đây là một ám hiệu, bởi nó chỉ mổ có vài lần rồi bơi tránh ra chỗ khác để cho cả đàn lươn lao tới. Xác con lươn bị xô đẩy, cấu xé cứ nhồi lên lặn xuống, lăn qua trở lại, phù sa màu vàng cuộn lên dưới đáy sông. Trong khi tranh ăn, đàn lươn kêu lên rin rít, tiếng kêu vọt lên khỏi mặt nước và tản mát trong làn không khí đùng đục trên sông và chỉ trong chớp mắt, con lươn to bằng bắp tay chỉ còn lại một bộ xương trắng hếu. Sau khi thanh toán xong thịt của thủ lĩnh, đàn lươn lại sắp thành đội ngũ chỉnh tề tiền hô hậu ủng đưa con lươn nhỏ lao đi. Cũng lúc đó, người đàn ông mặc đồ thiếu sinh quân rơi từ trên cầu đá xuống sông lúc nãy lại xuât hiện và đang men theo đáy sông trôi dần đến khoảnh sông mênh mông trước mặt cây liễu. Mặt anh ta hướng lên trên, chiếc quần quân phục vén lên cao đến tận háng để lộ đôi chân đầy lông lá đen sì. Giày anh ta đã bị tuột mất, hai bàn chân bị ngâm trong nước đến trắng bệch cứ như muốn nổi lên trên mặt nước, trông rất thô thiển lại vừa tức cười. Chiếc áo quân phục cùng màu với những loài thực vật dưới đáy sông lúc thì cuộn lại, lúc thì mở ra. Khi chiếc áo cuộn lại, tôi nhìn thấy trên bụng anh ta có một vết sẹo tròn tròn, rõ ràng là do bị đạn bắn, chẳng khác nào vết sẹo trên bụng tôi. Số tôi cũng khá may mắn, chỉ trúng đạn của súng tiểu liên mà không phải đạn đại liên hay đạn cao xạ. Ruột tôi đổ ra ngoài cả thước, tôi nhét vào rồi dùng tay bịt lại, nhưng như một con lươn trơn nhẫy, chúng cứ trào ra ngoài theo các kẽ tay, lại nhét vào và cố bò lên đỉnh núi. Tôi nghĩ mình sắp chết trong mơ mơ hồ hồ, tôi trông thấy Tiền Anh Hào, La Nhi Hổ đang đứng trước mặt vẫy gọi tôi rối rít. Tôi nghĩ mình sẽ đến với họ, nhưng lúc ấy cậu y tá đã cõng tôi chạy. Mạng tôi lớn nên không chết. Mặt anh ta trắng nhợt, mấy cọng rong rêu màu xanh dính trên mái tóc bờm xờm. Anh ta đang trôi đến trước cây liễu, đôi mắt mở trừng trừng. Trong làn nước nhờ nhờ, tôi nhìn anh ta mà có cảm giác đang nhìn chính mình trong một tấm gương.
Đàn cá nhiều loại và nhiều màu sắc đang len lỏi giữa những lùm hòe đột nhiên như nổi cơn điên, há mồm thật to và đồng loạt lao vào anh ta. Một con cá thật to giương đôi mắt đỏ ngầu với hàm răng sắc như răng chó đớp một miếng đã cắn sứt mũi anh ta. Tôi cảm thấy cánh mũi mình đau nhói. Tất cả đều trở nên mơ hồ trước mắt tôi, kể cả đàn cá với những đôi mắt đỏ, kể cả làn nước bị đàn cá quậy phù sa làm cho đục ngầu lên.
- Triệu Kim, Triệu Kim! Tiếng Tiền Anh Hào văng vẳng bên tai - Cậu say rồi à?
Tôi sờ cánh mũi vẫn còn đau nhức của mình, nói:
- Tớ không say! Nửa chai Mao Đài làm sao quật ngã được tớ. Tớ đã từng uống hết một chai rượu trắng Địa Lôi, nồng độ cao hơn rượu Mao Đài nhiều, nhưng tớ có say đâu.
Tiền Anh Hào cười tinh quái:
- Không say là tốt rồi. Đừng quên là chúng ta đang câu cá.
Tôi ngắm nhìn chiếc cần câu sáng loáng và chiếc phao trên mặt nước. Nó đang đứng yên, chứng tỏ chẳng có con cá nào cắn câu. Hơi nước trên mặt sông trở nên đậm đặc hơn, con chim hải âu vẫn bay là là trên mặt nước, liệng qua liệng lại không hề biết mệt mỏi. Lâu lắm rồi mà vẫn không thấy tăm dạng con cá nào, cho dù là một con cá nhỏ như lá lúa.
- Con sông này chắc chắn là không có cá rồi - Tôi nói.
- Yên tâm đi, có nước là có cá. Trong muôn ngàn tấm lưới trên sông, tấm nào cũng có cá - Cậu ta nói với giọng tin tưởng.
- Thế tại sao lâu lắm rồi mà cá lại không cắn câu?
- Kìa! Không phải là đã cắn câu rồi đấy à?
Tôi từ từ nhấc chiếc cần câu lên, sợi dây câu căng như dây đàn chậm chậm rời khỏi mặt nước. Một con ba ba bằng bàn tay treo ở đầu dây câu đang quẫy đạp bốn chiếc chân nhỏ trong không trung trông thật tức cười.
- Câu cá mà lại được ba ba, cát hung thế nào? - Tôi hỏi.
Tiền Anh Hào gỡ con ba ba ra khỏi lưỡi câu, rút một sợi dây từ đôi giày Giải phóng của cậu ta buộc vào một chân con ba ba rồi treo lên cành cây, nói:
- Đại cát đại lợi! Đại cát đại lợi! Cậu có biết con vật này bán được bao nhiêu tiền không?
- Nghe nói là rất đắt, nói chung là người bình thường không thể ăn nổi thịt ba ba.
- Quách Kim Khố bảo rằng, một con ba ba to bằng miệng bát phải đến ba trăm đồng đấy.
- Thằng này mấy ngày nay ngày nào cũng đến đây, sáng sớm hôm nay còn cắp theo cả một chiếc cần câu, bắt một con nhái làm mồi để câu một con ba ba cho vợ chữa bệnh.
- Có câu được không?
- Được cái cục cứt! Câu ba ba không phải là nghề của cậu ta. Mồi để câu ba ba phải là loại nhái yến lưng xanh bụng đỏ. Cậu ta không biết điều này, nhái bén làm sao câu được ba ba, ba ba câu cậu ta thì có!
- Nhái yến như thế nào, tớ chưa hề trông thấy.
- Tớ cũng chưa thấy bao giờ - Tiền Anh Hào nói - Bố tớ nói là loại này sông ở trong những hốc cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi, tớ nghĩ chắc nó là một loại nhái sống trên cây. Tìm được nhái yến thì không còn lo là câu không được ba ba nữa.
- Chúng ta đâu có nhái yến nhưng vẫn câu được ba ba đấy thôi?
- Một là do chúng ta may mắn, - Cậu ta cười. - Hai là con ba ba này quá xui xẻo.
- Quách Kim Khố vẫn cứ như xưa chứ?
- Không! Bắt đầu từ năm ngoái đã thay đổi nhiều rôi, áo mũ bảnh chọe lắm - Đưa tay chỉ một người đang đi trên con đường lầy lội dẫn đến trụ sở thôn, cậu ta nói tiếp - Cậu xem, cậu ta đã đến rồi đó. 

Chương 12
 ó là một phiên chợ trước ngày tết năm bảy mươi tám. Khoảng chín giờ ba mươi sáng, tôi đang ở trong chợ để mua dầu thơm. Có một người chộp lấy cổ tôi từ phía sau và hét lên:
- Chạy đâu cho thoát!
Tôi giật mình quay đầu lại, thì ra đó là Quách Kim Khố. Cậu ta đang mặc bộ quân phục cũ rích, một chiếc mũ lính cũng bạc thếch. Lúc ấy, quân phục của bộ đội đã thay đổi, ngay cả huy hiệu trên mũ cũng đã đổi, nhưng cậu ta vẫn cứ gắn một ngôi sao năm cánh đỏ chói trên mũ, phù hiệu trên cổ áo màu đỏ được viền bằng chỉ trắng. Cậu ta lúc ấy với Tiền Anh Hào trước mặt tôi bây giờ ăn mặc hoàn toàn giống nhau. Hai người, một đã hy sinh, một đã phục viên nhưng vẫn cứ sống trong những hồi ức về thời gian tại ngũ.
Những ngón tay cậu ta vẫn cứ siết chặt cổ tôi với một sức mạnh kinh người, khó lòng giãy giụa mà thoát ra được. Tôi nói: Quách Kim Khố cậu làm trò quái quỷ gì thế, cứ buông tay ra cái đã, người ta nhìn thấy thì chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì đâu.
Người trong chợ đều biết tôi và Quách Kim Khố, cười bảo tay bộ đội tạp nham Quách Kim Khố đã bắt được bộ đội chính quy Triệu Kim. Cậu ta buông tay, trừng mắt nói:
- Ai nói? Ai dám nói Quách Kim Khố tôi đây là bộ đội tạp nham. Tôi đây “một vì sao rực sáng trên đầu, cờ hồng cách mạng giắt trên vai”, ai bảo tôi là bộ đội tạp nham?
Tôi đưa tay nắn nắn cổ, nói:
- Thằng quỷ, được rồi, đừng làm loạn ở đây nữa. Nói cho tớ biết, bây giờ cậu làm gì?
- Không được! - Quách Kim Khố gân cổ lên. - Cậu phải nói cho rõ ràng, ai là bộ đội tạp nham?
- Tớ là bộ đội tạp nham, - Tôi cười nói. - Tớ là bộ đội tạp nham, được chưa?
- Như thế mới được chứ - Cậu ta thở ra, nói - Tớ đang tạm thời làm việc tại đội vũ trang thôn, chuyện lau chùi súng ống, đó là sở trường của tớ mà. - Cậu ta tự trào, nói tiếp - Cậu đã làm quan, có tiền rồi, trưa nay mời tớ uống rượu, nếu không tớ chọc dao vào người cậu cho máu phun ra!
- Thì chuyện uống rượu thôi mà, - Tôi nói. - Cậu bảo, chúng ta đi đâu bây giờ?
- Hoàn cảnh gia đình cậu khó khăn, tớ biết - Cậu ta ủ rũ - Nhưng hoàn cảnh gia đình tớ còn khó khăn hơn cậu nhiều cậu không hề biết. Cậu bây giờ oai lắm rồi, quên hết anh em bạn bè nghèo khổ rồi, trở về mà không hề đến nhà tớ. Quý nhân không dạp chân lên đất hèn, đúng không? Đột nhiên cậu ta bị kích động tâm tình, hoa chân múa tay, nói - Uống rượu xong cậu phải đến nhà tớ xem qua. Đây là mệnh lệnh! Quân lệnh như sơn! Cậu hiểu không?
- Rõ! Tớ hiểu rồi! - Tôi nhìn chung quanh, phát hiện nhiều ánh mắt hiếu kỳ đang nhìn chúng tôi, hạ giọng nói - Cậu đi trước dẫn đường, đừng đứng đây mà hoa chân múa tay nữa!
- Sắp đến tết rồi, cán bộ thôn đều đã đi thăm hỏi những bậc lão thành cách mạng cả rồi - Với một chân đi cà nhắc, cậu ta dẫn tôi đi về phía trụ sở ủy ban thôn, nói - Trụ sở vắng tanh vắng ngắt, đi thăm hỏi cái quái quỷ gì, chẳng qua là lợi dụng để đi uống rượu thôi.
Cậu ta móc chìa khóa từ trong túi quần ra, mở cổng rồi chìa tay có vẻ điệu nghệ, nói:
- Xin mời!
Tôi nhìn một lượt những căn phòng làm việc ở đây, nói:
- Điều kiện làm việc cũng khá đây chứ!
- Khá cái con khỉ! Chuyện ở địa phương toàn là vụn vặt, thôn đội trưởng ngày uống ba lần, xỉn đến độ ba ngày chưa tỉnh. Tớ xem đây như nhà của mình, mời ngồi, mời uống trà! Ồ! Không có trà. Nước đái? Có! Trong các vỏ chai bia của thôn đội trưởng toàn nước đái, ngay cả lão cũng không phân biệt được, có lúc uống cả nước đái mà vẫn tưởng là bia, lại còn bảo mùi vị rất thơm, rất tươi, lại nhiều bọt. Ha ha ha! Đúng là trong thịt xương và tinh hoàn của lão không có chất muối, đúng là đồ trứng thối. Ngồi, ngồi đi!
Nói xong, Quách Kim Khố vớ lấy chiếc ống nghe diện thoại cổ lỗ sĩ, quay số roèn roẹt rồi hét vào trong máy:
- Tổng đài à? Tôi ở thôn đội đây, cậu nối máy cho tôi đến quán ăn Lương Quản Sở. Quán Lương Quản Sở đó à? Là tôi, Quách Kim Khố, chuyên gia bảo quản vũ khí ở thôn đội. Trưa nay, đúng mười một giờ ba lăm, hãy chuẩn bị cho tôi các món ăn sau: Gan lợn một đĩa, thịt lợn ba chỉ một đĩa, tim lợn một đĩa, tai lợn một đĩa, rau cần xào thịt bò một đĩa, cá rán một con, một bát canh đậu phụ, một bát sủi cảo. Tất cả đều cho ít dầu, nhiều tỏi. Lại thêm hai lít rượu Địa Lôi. Ghi chép cho cẩn thận kẻo quên. Hôm nay không ghi nợ, ăn uống xong thanh toán luôn. Có biết anh ta là ai không? Là chiến hữu. Chúng tôi đã kề vai thích cánh chiến đấu bên nhau trong rừng súng mưa đạn đấy! Cậu phải cẩn thận đấy, chọn loại thịt cá nào tươi nhất, chớ thêm nước vào rượu đấy. Dám đùa cợt với Giải phóng quân là không xong đâu! Tôi mà cáu lên là quán cậu bị san phẳng thành bình địa đấy! Được rồi, bảo bọn thuộc hạ làm nhanh lên, tác phong của quân nhân là khoái đao trảm gai góc, không cho phép kì kèo mè nheo!
- Quách Kim Khố ơi là Quách Kim Khố! - Tôi kêu lên nửa đùa nửa thật - Bữa nay cậu làm thịt tớ rồi! Chừng đó thức ăn đủ cho cả tiểu đội. Cái chức tiểu đoàn trưởng tí tẹo này của tớ còn phải nuôi cả nhà bố mẹ vợ con tớ nữa đấy.
- Tớ lo! - Cậu ta nói với vẻ khinh miệt - Trông cái bản mặt của cậu kìa! Chúng ta cùng nhập ngũ, cùng chiến đấu, cậu lại trở thành quan chức, còn tớ thì chẳng có gì ráo. Cậu lẽ nào không mời tớ được một bữa rượu? Đúng là tiền càng nhiều thì tàng keo kiệt!
- Ruột của tớ đã lòi cả ra ngoài, suýt mất mạng, được cái chức quan nhỏ tẹo này cũng đâu có dễ! - Tôi cảm thấy bực mình.
- Tai tớ bị đạn pháo làm cho điếc rồi, cả ngày chỉ nghe thấy tiếng ong ong. Miệng tớ cũng bị lửa đạn thiêu cho cháy sém - Cậu ta chỉ vào cái miệng đầy những vết hoa văn màu trắng, nói - Nhưng cái gì chờ tớ nào? Phục viên! Đ. mẹ nhân gian sao mà bất công!
- Cậu nói tai cậu bị điếc hay bị gì cũng xong, cậu nghe được hay nghe không được cũng không ai biết được - Tôi nói - Có điều cái miệng cậu khi chưa ngập ngũ đã như vậy, sao lại nói là bị lửa đạn đốt kia chứ? Sao lại có chuyện hay ho đến như thế? Lửa chỉ chuyên đốt miệng cậu mà không đốt chỗ khác sao? Thảo nào cậu có biệt danh là “Hoa Miệng”, không chỉ miệng đầy hoa mà còn biết khua môi múa mép!
Mặt Quách Kim Khố đỏ rần lên, nổi giận quát:
- Miệng tớ chính là do lửa đạn đốt, không đốt thì là nướng!
Thấy cậu ta nổi xung, tôi đấu dịu:
- Được rồi, thằng quỷ! Đừng la lối nữa, miệng cậu là do lửa đốt, được chưa? Nói một cách đường hoàng xem nào, mấy năm nay cậu sống thế nào? Đám chiến hữu trở về cùng một lúc với cậu ra sao?
Mặt Quách Kim Khố đột nhiên biểu lộ nét buồn man mác, mười mấy nếp nhăn hai bên khóe miệng càng trắng hơn. Cậu ta nói với giọng buồn buồn:
- Chuyện của Ngụy Đại Bảo đại khái cậu cũng đã biết, đánh nhau với hàng xóm, lỡ tay đập một gậy sắt làm chết vợ người ta. Vì đã từng tham gia chiến tranh nên hình phạt giành cho cậu ta được giảm nhẹ nhưng vẫn chịu hai mươi năm tù. Cậu ta vừa bước chân vào nhà giam thì cô vợ nối gót chồng rời khỏi nhà ôm con tái giá, tung cánh đến tận Hắc Long Giang. Trương Tư Quốc thì vẫn là “lính phòng không”, mấy ngày trước có đến tìm tớ mượn tiền, bảo rằng muốn tích góp chút vốn để làm ăn buôn bán gì đó. Tớ nghèo rớt mồng tơi, làm gì có tiền để cho cậu ta mượn?
- Thằng này chịu thiệt thòi một cách quá đỗi thành thực - Tôi cảm thán.
Giọng Quách Kim Khố đầy sự bất bình:
- Đốt đèn lồng lên cũng không thể tìm được thằng nào ngốc nghếch như nó nữa đâu. Nghe người trong đơn vị của nó nói rằng, lúc ấy họ đã chỉnh lý xong tài liệu, chuẩn bị báo cáo lên cấp trên để công nhận danh hiệu anh hùng cho nó, nó lại bảo nó không hề có ý định dùng thân mình để kích nổ những quả bộc phá ấy đâu. Cậu nói đi, trong thiên hạ có loại người nào ngu như nó không? Bỏ qua chuyện đó đi, nó trở về quê với một thân hình đầy thương tích, mặt cũng đã bị phá nát, nằm chết gí trong làng, ngay cả cái chức chi ủy viên cũng không đến tay nó.
- Cậu nên giúp nó, lên huyện tìm cơ quan dân chính nào đó, - Tôi nói.
- Tớ hả? Quách Kim Khố chỉ vào mũi mình, nói - Với cái mặt này mà tớ còn giúp được nó sao? Tớ lo cho mình chưa xong, cầu ông cầu bà mãi, cán bộ thôn mới chiếu cố cho làm cái công việc sai vặt này, mỗi ngày đến đây canh cổng, mỗi tháng lau súng một lần, cuối tháng nhận chín mươi đồng. Khi thôn đội trưởng đi uống rượu, tớ cũng đi theo để tăng thêm chút mỡ - Cậu ta cảm thán - Tính đi tính lại, chỉ có cậu là tốt số nhất.
- Hãy nghĩ đến Tiền Anh Hào, - Tôi nói. - Hãy nhớ rằng cậu ta là một người rất phong độ, chết ở đấy, ngay cả xác cũng ỉchông về được quê hương. Chúng ta được sống, cũng nên lấy thế làm đủ rồi.
- Cậu nói cũng đúng, - Quách Kim Khố nói. - Luận về nhân phẩm, luận về tài năng, cho dù có mười Quách Kim Khố tớ cũng theo không kịp một Tiền Anh Hào, thế mà tớ còn được phong huy chương chiến công hạng ba, còn tìm được một công việc lau súng canh cửa, lại còn có cả một mụ vợ…
Ngoài cửa có tiếng chuông xe đạp.
- Thằng bé đưa thức ăn đến đấy! - Quách Kim Khố đứng bật dậy, mở cửa.
Một thằng bé khoảng mười lăm mười sáu tuổi cưỡi một chiếc xe đạp màu đen, một tay giữ tay lái, một tay xách một chiếc hộp gỗ hình vuông. Chiếc xe vừa trờ tới cửa, nó đã nhẹ nhàng nhảy xuống, liến thoắng:
- Chú Hoa Miệng! Thức ăn mà chú yêu cầu đã có rồi đây!
Vừa nói, nó vừa xách chiếc hộp đi vào nhà. Quách Kim Khố chụp lấy vành tai nó, giận dữ chửi:
- Mẹ con nhà mày đúng là đồ trứng thối, ngay cả một con thỏ chưa ráo máu đầu như mày mà cũng gọi ông là Hoa Miệng sao? Ông đây nhảy vào lửa bỏng nước sôi, bị lửa đốt bị thương miệng, về đây để cho chúng mày đùa cợt sao? Bữa nay ông không tha cho mày đâu. Gọi bố! Gọi ông nội! Gọi tổ tông!
Cậu ta nghiến răng nghiến lợi véo mạnh tai thằng bé. Những ngón tay thô và cứng cứ vặn qua vặn lại, kéo lên kéo xuống, trông cậu ta lúc này giống như một con quỷ đang nổi giận. Thằng bé đau kêu lên oai oái, hộp gỗ trong tay rơi xuống đất, bên trong có tiếng loảng xoảng của chén đĩa. Nó vừa khóc vừa kêu:
- Chú, bác, bố, ông nội, lão tổ tông ơi… Cháu không dám nữa đâu…
Tôi vội vàng nói:
- Quách Kim Khố! Cậu có thôi đi không. Việc gì mà phải động chân động tay với một thằng bé?
Tôi bước lên kéo tay cậu ta. Cậu ta còn nắm tai nó giúi xuống đất, giúi đến khi đầu thằng bé chạm xuống nền gạch vuông mới có vẻ hả giận, buông tay. Thằng bé ôm lấy hai vành tai đỏ nhừ, khóc nức nở.
- Mau soạn thức ăn lên bàn cho tao! - Cậu ta gầm lên.
Thằng bé chẳng dám phản kháng, nhanh chóng cúi người mở chiếc hộp, đặt bốn đĩa thức ăn lạnh, hai chai rượu và hai chiếc đũa lên bàn làm việc. Hai vành tai của nó như được bôi một lớp dầu, từ đỏ chuyển sang tím tái, trông thật thương tâm.
- Mày tưởng lão Quách này là Phật à? Lão đây chẳng hiên thế đâu! Hôm nay chỉ là cho mày nếm thử sự lợi hại của một chiến sĩ cách mạng thôi.
Thằng bé sợ đến nỗi không nói được lấy một lời, xách chiếc hộp không phóng vù ra khỏi cửa. Quách Kim Khố nhìn theo bóng nó, gào to:
- Còn các món nóng nữa, mau mau đưa đến đây!
Thằng bé nhảy lên xe, đạp mạnh, quay đầu lại vừa khóc vừa chửi:
- Lão Hoa Miệng Quách Kim Khố kia! Tao ỉa vào mười tám đời tổ tông nhà lão!
Quách Kim Khố lao ra cửa, nhặt một cây súng gỗ dùng để huấn luyện động tác đâm lê lên đuổi theo. Thằng bé đạp xe như tên bắn, mất hút. Tôi chạy theo kéo cậu ta lại, bảo:
- Thôi đi cậu, quay vào uống rượu thôi!
Cậu ta hất mạnh một cánh tay lên khiến tôi loạng choạng tránh sang một bên, gào to:
- Không! Tớ phải giết nó! Mục tiêu ngay phía trước - Giết! Vừa gào, cậu ta vừa cầm ngang cây súng gỗ, nhắm thẳng vào một gốc cây ngô đồng trong sân lao tới và đâm mạnh - Giết! Chạy đi đằng nào rồi? Giết! Giết! Giết! Những mảng vỏ cây ngô đồng rơi xuống lả tả, những dòng nhựa cây màu lục như những dòng nước mắt từ từ lăn theo thân cây.
- Kim Khố! Được rồi, được rồi! Tôi dùng lời lẽ cực kỳ dịu dàng khuyên nhủ - Giải phóng quân yêu và bảo vệ cây cỏ, chúng ta vào nhà uống rượu thôi - Lôi lôi đẩy đẩy, khó khăn lắm tôi mới đưa được cậu ta về phòng làm việc. Giật cây súng gỗ ném vào góc tường, ấn cậu ta ngồi xuống ghế xong, tôi mở nút chai rượu và đổ đầy hai cốc, nói:
- Người anh em, uống di!
Cậu ta vẫn ngồi bất động, mắt trừng trừng nhìn vào vách tường, hai giọt nước mắt to tướng từ từ lăn ra khỏi hốc mắt cậu ta. Giọng cậu ta khàn đục:
- Tớ không uống đâu! Tớ chẳng còn mặt mũi nào mà uống nữa. Triệu Kim, bữa nay tớ sai rồi. Tớ không nên lợi dụng chiếc đòn trên vai cậu, nói thực lòng tớ biết cậu làm ra tiền cũng chẳng dễ dàng gì, gia đình cậu sống rất khó khăn tớ cũng biết. Thôi, mang rượu về nhà mời bố cậu uống đi.
Tôi cố ý làm ra vẻ thoải mái, cười nói:
- Quách Kim Khố! Đây mới chính là cậu coi thường tớ, xem tớ chẳng ra gì phải không? Anh em ta khó khăn lắm mới gặp nhau, bữa nay uống cho đã. Cậu mà nói nhăng nói cuội nữa thì không xứng đáng đã từng là một người lính đâu nhé.
- Tớ là người lính à? - Cậu ta trừng mắt nhìn tôi, hỏi.
- Đương nhiên cậu là người lính, trên mũ cậu có ngôi sao năm cánh, cầu vai đỏ hai bên ve áo. Cậu không phải là lính thì là cái gì? - Tôi khẳng định - Trong bảng vàng của quốc gia có ghi tên cậu, có ngày nào đó người ta sẽ dùng cậu, cậu có muốn trốn cũng chạy không thoát đâu!
- Tớ là lính sao? Tại sao tớ lại phải chạy trốn? “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, tớ làm sao mà phải chạy trốn cơ chứ? Nói thực lòng, tớ đã từng mong có cơ hội hy sinh cho đất nước, hy sinh sao cho oanh oanh liệt liệt, khắp nơi lập bia biểu dương, quan trọng hơn cả là mẹ tớ có cái ăn mà chẳng phải lo nghĩ gì đến chuyện đói, thế mới không uổng là sinh ra cho đời một đứa con ttai. Bây giờ thì bộ dạng tớ như thế này có ra thể thống gì đâu, trắng tay hoàn tay trắng. Triệu Kim à sống không bằng chết - Cậu ta chụp lấy cốc rượu, cụng thật mạnh vào cốc của tôi, nói - Các anh em! Vì an ninh tổ quốc, vì hạnh phúc nhân dân, thề quét sạch bọn xâm lược! Cạn chén!
Chỉ một ngụm, cốc rượu trong tay chúng tôi đã cạn veo. Lại rót, lại cụng rồi lại cạn chén.
- Là lính thì không nhất thiết phải dùng đũa, - Cậu ta vứt hai đôi đũa xuống gầm bàn, tuyên bố thật hùng hồn. - Dùng tay!
Cậu ta bốc tai lợn, tim lợn, gan lợn, thịt lợn nhét vào mồm, cằm bạnh ra. Cách ăn của cậu ta như gió cuôn mây tràn, thoắt cái bốn đĩa thịt đã hết veo.
Thức ăn nóng vẫn chưa mang đến.
Cậu ta lại quay số điện thoại.
Tôi nói đã no, không cần nữa đâu.
Cậu ta bảo, hôm nay không cần cậu trả tiền, tất cả để tớ lo.
Cậu ta lôi ra một xấp nhân dân tệ ném lên mặt bàn, mắt long lên sòng sọc, hỏi: Đây là cái gì, đã đủ chưa? Lại mở chiếc đồng hồ hiệu Thượng Hải ở cổ tay ra, ném tiếp lên xấp tiền, gào lên: Đây là cái gì, có thể đổi được thức ăn khồng?
Tôi giúp cậu ta đeo đồng hồ vào cổ tay, lại cầm xấp tiền nhét vào túi cậu ta. Tôi nói:
- Kim Khố à, chúng ta là những người sống thực tế, thực sự cầu thị, không cần nhiều thức ăn nóng như thế, chỉ một cân sủi cảo nữa là dủ. Chỉ e rằng thằng bé ấy có bị đánh chết cũng chẳng dám quay lại đây nữa đâu.
- Nó dám không mang đến à? Nó mà dám không mang đến, tớ sẽ làm cho cái quán ăn của nó tan hoang luôn - Quách Kim Khố gằn giọng.
- Được rồi, tớ biết cậu lợi hại rồi, cậu gọi điện thoại đi vậy.
Cậu ta quay số, nói no rồi, không cần ăn nữa, chỉ cần uống rượu.
Chai rượu thứ hai được mở ra, đổ ồng ộc vào cốc. Lại mười mấy ly rượu nữa trôi vào cổ họng chúng tôi. Mặt của Quách Kim Khố vàng ệch, chẳng khác gì đất sét.
Tôi bảo, Kim Khố à, đừng uống nữa, nhiều rồi, say rượu khó chịu lắm.
Cậu ta hỏi, ai say? Cậu bảo tớ say rồi à? Đi, chúng ta ra ngoài kia luyện tập một tí.
Tổi nói, thằng quỷ này, tớ không luyện tập được nữa rồi, nói về kỹ thuật quân sự thì chỉ có Tiền Anh Hào mới có thể so sánh với cậu, còn tớ thì không dám.
Cậu ta xiêu xiêu vẹo vẹo đi vào trong, lấy trên giá súng xuống khẩu tiểu liên 79, gắn chiếc lưỡi lê sáng loáng vào, nói với tôi rằng, đây là súng thật lưỡi lê thật, tớ với cậu đọ sức một phen, thế nào?
Tôi nói, ông anh ơi, tha cho tớ một lần này đi.
Quách Kim Khố làm một động tác đưa súng lên vai cơ bản trong quân ngũ: Đầu tiên là dùng tay phải cầm lấy báng súng đưa lên trước ngực, miệng súng đặt ngang với cúc áo thứ nhất, cự ly giữa súng và thân mình là hai lăm phân, tay trái cũng cầm chặt vào báng súng. Bước thứ hai là tay phải hạ xuống nắm chắc thân súng, dùng sức cả hai tay đặt súng lên vai phải, tay trái đưa về vị trí đứng nghiêm ban đầu.
Động tác đưa súng lên vai của cậu ta rất chính xác, nhanh nhẹn, rất đẹp mắt. Bàn tay to tướng của cậu ta đập vào báng súng rất mạnh nên phát ra tiếng chan chát.
- Thế nào? - Cậu ta nheo mắt nhìn tôi, hỏi - Có tư thế eủa một quân nhân chính quy không?
- Có, quá có là đằng khác - Tôi trả lời một cách thành thực.
Sắc mặt Quách Kim Khố bỗng nhiên đỏ rực lên, giống như ráng chiều đang nhuộm hồng bầu trời trắng đục. Cậu ta đưa súng xuống khỏi vai, đứng nghiêm ưỡn ngực như đang đứng trong đội ngũ. Đôi mắt vốn trắng đã thất thần của cậu ta lúc này lại rực lên một thứ ánh sáng diệu kỳ, nói:
- Ngày biểu diễn động tác đâm lê, sư doàn trưởng đứng trước mặt tớ, có cả trung đoàn trưởng. Tiểu đoàn trưởng cao giọng hô khẩu lệnh: Quách Kim Khố! Tớ dõng dạc đáp: Có! Rời khỏi hàng! Rõ! Tớ cầm súng, chạy mấy bước rời khỏi hàng - Cậu ta cầm súng chạy mấy bước trong căn phòng làm việc của thôn đội, dừng lại rất đột ngột, đứng nghiêm - Tiểu đoàn trưởng hô tiếp khẩu lệnh: Mục tiêu phía trước, hình nhân bằng cỏ khô là kẻ địch, liên tục tấn công! Bắt đầu! Tay phải cậu ta cầm lấy súng đâm mạnh về phía trước, tay trái chụp lấy báng súng, đồng thời tay phải lui về sau kèm chụp lấy chuôi súng, chân trước khuỳnh, chân sau duỗi thẳng, hai nách khép, hai mắt nhìn thẳng, hai môi xanh rờn. Một tiếng hét: Giết! Toàn thân cậu ta chồm lên phía trước, đâm thẳng lưỡi lê vào tâm cửa bằng gỗ tùng của văn phòng thôn đội. Gỗ tùng rất chắc nên lưỡi lê bị dính chặt lại, không rút ra được. Cậu ta đá mạnh vào cánh cửa, nhổ được lưỡi lê ra, lùi lại, nhào tới. Tiếng hô giết giết rợn người vang trong phòng làm việc, nó hoàn toàn đã biến thành một thao trường. Chỉ trong chốc lát, trên cánh cửa đã xuất hiện mười mấy lỗ tròn. Nhiều khi cậu ta dùng sức quá mạnh để rút lưỡi lê ra nên không giữ được thăng bằng, ngã ngồi trên đất. Người cậu ta thấm đẫm mồ hôi, miệng thở dốc, nói: Tớ liên tục đâm đến một trăm nhát khiến tấm bia nát nhừ - Vừa nói vừa cởi áo lau mồ hôi trên mặt, cậu ta nói tiếp - Ngày ấy đâm một trăm nhát, sắc mặt của tớ vẫn không đổi, tim vẫn chưa đập mạnh, ngay cả một giọt mồ hôi trên mặt cũng không hề có. Sư trưởng mang găng tay trắng muốt, giày đen đánh xi láng bóng được trung đoàn trưởng bảo vệ bước đến: Tên gì? Sư trưởng hỏi tớ - Cậu ta bò dậy, quên mất khẩu súng, hai chân đứng khép theo hình chữ V, ngực ưỡn quá mức về phía trước, làm như đang có sư đoàn trưởng trước mặt: Báo cáo sư đoàn trưởng, tên tôi là Quách Kim Khố! - Bao nhiêu tuổi? Sư trưởng hỏi - Báo cáo, tôi hai mốt tuổi, cầm tinh con dê! - Đúng hơn cậu là một con hổ nhỏ - Sư trưởng vỗ vai tớ, khen - Vâng, thưa sư đoàn trưởng, tôi là một con hổ nhỏ - sư trưởng vẫy tay, tiểu đoàn trưởng chạy bổ đến, đứng nghiêm, đưa tay chào, nói: Mời sư đoàn trưởng chỉ thị. Sư trưởng nói: Tốt quá, tốt quá! Kiểu huấn luyện đâm chém lê này quá tốt, lúc thái bình đổ nhiều mồ hôi, lúc xung trận ít đổ máu. Tiếp tục luyện tập nhé! Tiểu đoàn trưởng hô to khẩu lệnh: Các tiểu đội quay về vị trí cũ, tiếp tục luyện tập. Lại luyện tập, lại tiếp tục “giết!”, “giết”… Thân thể Quách Kim Khố lắc lư muốn đổ quỵ, tôi phải vội vàng đỡ cậu ta ngồi xuống.
Gương mặt đỏ hồng lúc nãy đã biến mất, đôi mắt lại trở nên đờ đẫn như mắt cá chết, Quách Kim Khố quờ tay tìm chai rượu. Tôi ngăn lại, bảo:
- Kim Khố à, thôi đừng uống nữa!
- Không! Không!… Cậu ta nói bằng một giọng đứt quãng, phều phào - Chúng ta… là chiến hữu… khó gặp nhau… bữa nay nống say… say mới nghỉ…
- Nhưng cậu đã say rồi!
- Đánh rắm! Đồ chuột nhắt mới say - Cậu ta chụp lấy chai rượu, đưa miệng chai lên cái miệng loang lổ những hoa văn vằn vện, dốc ừng ực cho đến khi đáy chai vổng ngược lên trời, rồi với đôi mắt đỏ rần, hét lên - Phát hiện có lô cốt ngầm trước mặt… Thủ pháo!… - Rồi giang tay ném mạnh cái vỏ chai vào tường.
- Thằng quỷ, Triệu Kim… - Đầu cậu ta ngoẹo trên bàn, mắt nhắm nghiền, chiếc mũ lính trật ra sau gáy, lầm bầm - Quân ngũ sao mà hay, bảo đánh là đánh, bảo luyện là luyện, nào súng, nào lưỡi lê, nào lựu đạn… Các người lấy tư cách gì mà đuổi tôi về. Tôi làm lính chưa thỏa chí, các người đã ép tôi phục viên. Làm lính quá tốt, nào xem phim, nào chơi bóng rổ, nào bơi sông. Chủ nhật giặt giũ… Cô dẫn chương trình mồm to với bó hoa to tướng trong lòng đẹp như tiên giáng trần. Gọi nhau tắt đèn: Tắt đèn đi ngủ! Gọi nhau ăn cơm: Cơm gạo trắng thơm, canh rau cải trắng. Tập hợp khẩn cấp, gọi nhau thức giấc: Dậy đi, dậy đi, dậy mau lên! Một phút mặc xong quần áo, hai phút rời khỏi doanh trại, ba phút toàn tiểu đoàn tập hợp hoàn tất. Tiểu đoàn trưởng hô: Nghiêm! Nghỉ, nhìn bên phải, thẳng! Nhìn đằng trước! Đằng sau quay! Chạy sang trái! Rầm rập rầm rập rầm rập… Hàng trăm con người bước chạy như một. Một hai ba, một hai ba. Tiểu đoàn trưởng đứng bên ngoài hô: Một - hai - ba - bốn! Chúng tôi đồng thanh hô vang: Một - hai - ba - bốn! Hô thật to để cho những gì vẩn đục trong lòng bay hết ra ngoài. Tiếng hô khẩu hiệu xé nát bình minh của huyện Hoàng. Rầm rập rầm rập rầm rập chạy qua đại viện họ Đinh, chạy qua đại lộ trung tâm, vượt qua từng cây ngô đồng gốc Pháp, chạy qua xưởng sản xuất linh kiện cơ khí, qua cục thuế vụ huyện Hoàng, trụ sở huyện ủy, bưu điện, rạp chiếu phim, nhà hát kịch Lữ với diễn viên chính Củng Lệ Na trong vở kịch “Lý Nhị tẩu cải giá”. Nhờ ánh sáng đèn đường, tôi vọt lên trước hàng muốn tìm thằng bạn để cho nó đôi giày mới và tâm sự đôi câu, nào có ngờ đâu nó đã tình nguyện báo danh chi viện cho tiền tuyến. Đúng là thằng muốn chết! Đây là bách hóa đại lầu, là hợp tác xã cung tiêu huyện Hoàng, đẹp nhất vẫn là cô gái bán thuốc lá thơm. Rầm rập rầm rập rầm rập… Qua không biết bao nhiêu là nhà của bà con, chạy thẳng đến đại lộ Yên Duy do bọn quỷ Nhật Bản xây dựng. Bên trái là biển xanh ngút ngàn, bên phải là dãy núi trọc trơ vơ. Hai bên đường, cây bạch dương xé toạc bầu trời. Không có xe cộ trên đường, tháng chạp lạnh lẽo, chỉ có một màn sương trắng dày. sầm sập sầm sập sầm sập… càng chạy càng nóng, ngẩng mặt đón mặt trời, thế là đã chạy năm cây số. Tiểu đoàn trưởng hạ lệnh: Tiếp tục chạy - Loạn xị bát nháo một hồi, quay lại địa điểm bên bờ biển - Dừng lại tiểu - Lại là lệnh của tiểu đoàn trưởng. Hàng trăm chàng trai hướng mặt về phía mặt trời và tuôn tất cả bầu nước tiểu chịu đựng qua một đêm xuống bờ kè chắn sóng trông như một trận mưa to từ trên trời rơi xuống… Làm lính sao mà vui, nhưng các người lại không cần tôi nữa rồi… Bàn tay nắm lại thành quyền câu ta đấm liên tục xuống mặt bàn rồi khóc lên tấm tức những giọt nước mắt đục ngầu rơi xuống mặt bàn - Triệu Kim! Cậu hãy dùng tình cảm nói với lãnh đạo cho tớ trở lại quân đội làm lính gác, nuôi lợn, nâu cơm… làm cái gì cũng được Tớ làm lính chưa thỏa chí mà… Bị những hồi ức của anh ta làm cho cảm động, tôi khuyên:
- Kim Khố à, đừng có hồ đồ nữa. Từ xưa đã có câu “Doanh trại thì bằng sắt, còn lính như nước chảy”. Có ai cả đời làm lính đâu. Vả lại, cậu về đây nhưng đâu đã hoàn toàn thoát ly lực lượng vũ trang. Toàn thôn có mười mấy khẩu súng đều do cậu quản lý cả đó thôi, cậu muốn lau khẩu nào thì tùy ý cậu đấy thôi.
- Khẩu nào tớ cũng chẳng muốn lau - Cậu ta mở đôi mắt đỏ ngầu, chỉ vào cây súng đang nằm dưới đất gào to - Mẹ kiếp! Thế mà cũng gọi là súng à? Là chiến lợi phẩm thu được của bọn quỷ Nhật trong thời kỳ kháng chiến, giống như một bà mẹ đã đẻ mười đứa con không bằng, nòng rộng hoác, đạn rời khỏi nòng là bay xiên xiên vẹo vẹo, các bộ phận thì rệu rã hết. Bộ đội chính quy được thưởng huy chương chiến công hạng ba như tớ, loại vũ khí mới nào mà tớ chưa hề thấy? Kiểu đánh nào mà tớ chưa gặp? Bây giờ lại trở thành kẻ giữ kho cho các khẩu súng như những bà già này…
Tôi nói, Kim Khố à, tớ muốn về nhà rồi, cậu cũng về nhà nghỉ thôi, có được không?
- Tớ sẽ đi với cậu! - Cậu ta lảo đảo đứng dậy - Cậu đã đồng ý là sẽ về thăm nhà tớ kia mà.
- Tớ không đến nhà cậu nữa đâu!
- Cậu làm cho tớ thành bộ dạng như thế này mà không đưa tớ về, hay là cậu muốn tớ rơi xuống cầu mà chết nước? Nếu tớ chết, cậu có nuôi nổi mẹ tớ không? Vợ tớ đang có bầu, cậu có đến chăm sóc không?
Tôi nói, thằng quỷ này đúng là một tên vô lại, được rồi, tớ sẽ đưa cậu về nhà.
Trên đường đi, Quách Kim Khố cứ lải nhải:
- Thằng quỷ à, vợ tớ chẳng coi tớ ra gì, ngày nào cũng tìm cách gây sự với tớ, cậu đường đường là thượng úy quân giải phóng mà đưa tớ về nhà, như thế là làm vinh quang cho tớ, giúp tớ có thêm chí khí, đồng thời cũng hạ bệ uy phong của vợ tớ. Tớ như cáo mượn oai hùm để trấn áp vợ, hy vọng có thể cải thiện hình ảnh của tớ trước mắt vợ. Tớ không say, tớ chỉ say tình người chứ không hề say rượu.
Nhà cậu ta cách trụ sở ủy ban thôn chỉ khoảng hơn cây số, chỉ một chốc là đến. Ba gian nhà lè tè, quả thực là quá sức tồi tàn. Đẩy cánh cổng để ngăn gà khỏi chạy ra đường, cậu ta nói:
- Đến Quách phủ rồi đấy!
Vợ Quách Kim Khố đang cho lợn ăn, thoạt nhìn tôi đã có cảm giác rất quen.
Nhớ ra rồi! Khi Quách Kim Khố còn tại ngũ, cô ta thường đến thăm, đến tiểu đoàn là tìm mọi cách nán lại không muốn về, một bữa ăn đến bảy chiếc bánh bao, phiền phức đến độ trưởng nhà ăn và nhân viên nhà ăn phải có ý kiến. Chuyện thường xuyên đến ăn cơm không nói làm gì, mỗi lần đến cô ta còn mang theo mười mấy chiếc chổi bó bằng cây điều tử để rao bán; giọng nói thì vô cùng kỳ quái, nửa như hát, nửa như hô khẩu lệnh khiến rất nhiều trẻ con là người nhà của các quan chức quân đội tò mò đến xem. Vệ binh đuổi về, cô ta tuyên bố mình là vợ chưa cưới của chiến sĩ Quách Kim Khố ở tiểu đoàn ba khiến cậu ta xấu hổ đến độ không dám gặp mặt.
Quách Kim Khố nói:
- Mẹ nó à, chiến hữu của tôi là thượng úy Triệu Kim đến thăm, mau đun nước pha trà đi!
Cô ta nhấp nháy đôi mắt, chửi:
- Coi cái bộ mặt say đến nhừ tử nhà ông kìa!
- Mau đun nước pha trà! - Quách Kim Khố ra lệnh.
- Cỏ không có một cọng, trà không có một cánh, vậy đốt bằng lông… bố ông, pha bằng lông… mẹ ông à? - Người đàn bà nói như súng liên thanh với những lời cực kỳ ngoa ngoắt. Nói xong, cô ta lận từ trong lưng quần ra một củ cải, cắn một đoạn to rồi nhai rau ráu.
Tôi bảo, được rồi, Quách Kim Khố, tớ về đây. Mặt cậu ta tái xanh, chửi vang lên:
- Cả đời của tao đã chịu bao nhiêu điều xúi quẩy với con mụ thôi tha nhà mày, bữa nay cả hai thanh toán cho sòng phẳng đây. Tao sẽ giết mày!
Người đàn bà ưỡn cái bụng thè lè ra, hào hùng tuyên bố:
- Đến đây, đến đây! Nhằm vào đây mà đánh. Đánh cho văng cái đồ chết dẫm. này ra ngoài để mai mốt bà đây tái giá khỏi phải lôi theo.
Quách Kim Khố đấm ngực kêu khóc:
- Bố ơi mẹ ơi, ông trời ơi! Sao lại bắt tôi gặp phải cái đồ mẫu dạ xoa này?
- Quách Kim Khố à, sắp đến tết rồi, đừng làm náo loạn nữa! - Tôi bảo.
- Tết à? - Đôi mắt cậu ta đỏ sòng sọc - Chẳng tết tiếc gì hết! - Cậu ta vớ lấy chiếc cối giã tỏi cạnh cửa ra vào, lao vào nhà. Tôi chạy theo lôi cậu ta lại. Cậu ta cao giọng ra lệnh:
- Tiểu đội phó tiểu đội năm Quách Kim Khố!
- Có!
- Mục tiêu trước mặt, ném bộc phá!
- Rõ!
Cậu ta giang tay thẳng cánh ném mạnh chiếc cối bằng đá vào chiếc gương treo ở bức tường trước mặt.
Xoảng! Những miếng kính vỡ vụn loảng xoảng rơi xuống, người đàn bà đứng ở cửa khóc rống lên. Cậu ta lại nhặt chiếc cối lên, đứng giữa nhà, hô to - Tiểu đội phó tiểu đội năm Quách Kim Khố!
- Có!
- Trước mặt phát hiện mục tiêu mới dùng bộc phá tiêu diệt!
- Rõ!
Cậu ta ném chiếc cối vào cái nồi đang bắc trên bếp. Chiếc nồi vỡ tan, còn chiếc cối thì rơi vào giữa đống tro tàn làm tưng lên một làn bụi đục. Cậu ta tiếp tục nhặt chiếc cối giữa đống tro lên, tiện tay đập mạnh vào lu nước, hét lên - Bộc phá nổ rồi!
Chiếc lu nước vỡ toác, nước đổ xòa ra đầy nhà, không còn chỗ đặt chân nữa.
Tất cả những động tác vừa rồi của cậu ta cực kỳ mạnh mẽ và điêu luyện, dường như tất cả đều đã được luyện tập có hoạch kỹ càng từ trước, chờ cho đến khi tôi ra tay ngăn cản những hành vi phá hoại thì cậu ta càng có cơ hội để phát tiết. Ba quả bộc phá đều trúng đích, tiêu diệt hoàn toàn mục tiêu, nếu tiếp tục nữa e rằng chỉ còn mục tiêu duy nhất là phóng hỏa thiêu rụi căn nhà. Người đàn bà thấy thế của mình đã yếu, đành phải ôm chiếc bụng thè lè vừa chạy vừa khóc.
Quách Kim Khố ngồi chồm hổm dưới đất, hai tay ôm đầu. Tôi nói:
- Cậu đúng là đồ lỗ mãng, từ nay về sau làm sao mà sống đây?
Cậu ta gỡ huy hiệu trên mũ và quân hàm trên vai ra, bình tình nói:
- Cậu về đi, cố gắng làm cho tốt, thay mặt toàn thể anh em bộ đội thôn ta giành lấy vinh quang. Đừng bao giờ rời khỏi quân đội nhé!


Phần nhận xét hiển thị trên trang