Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2014

Ảnh vui từ trang mạng Nga


Xách ba lô lên và đi... 25 nước như chị Huyền Chíp ?

Nghỉ chân, làm điếu thuốc !

Khi người giáo huấn khỉ về tiến hóa của người

Khi khỉ giáo huấn về tiến hóa của người

Tắm băng

Gái Nga quá xinh

соңгы
Nhưng nhìn cặp tuyết lê thì... hơi sợ




Người xứ lạnh

Sinh viên Nga thường ngủ khỏa thân
vì y học cho rằng làm thế tốt cho sức khỏe.

Chỉ có người Nga mới làm được như vậy ?


Ảnh photoshop ?


Năm Ngọ - Ngựa khủng của Nga

Dân Nga nướng thịt.

Ai bảo khỉ không biết tư thế mặt đối mặt

корал
Xe của Mafia Nga ?

PUBLISHED by catsmob.com
Cây Noel

ирта34
Có đi có lại mới toại lòng nhau - Đúng là đôi bạn thân

выкл

яңа ел
Chúc mừng năm mới

Giáp Ngọ - 2014

Phần nhận xét hiển thị trên trang

MONG MANH

MONG MANH
Thơ : Thùy Vinh
Nhạc : Minh Thu
Demo : Minh Thu

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Toàn bộ gia đình Jang Song-thaek đã bị xử tử?

(Kienthuc.net.vn) - Theo hãng thông tấn Yonhap, toàn bộ gia đình Jang Song-thaek đã bị xử tử theo mệnh lệnh của nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un. 

“Theo mệnh lệnh của nhà lãnh đạo tối cao, một cuộc xử tử quy mô lớn được thực hiện với tất cả các thành viên trong gia đình Jang Song-thaek, gồm cả trẻ nhỏ”,Yonhap dẫn các nguồn tin.
Những người bị xử tử bao gồm cả em gái của Jang Song-thaek là Jang Kye-sun cùng chồng của bà này - Đại sứ Triều Tiên tại Cuba Jon Yong-jin, cháu trai của Jang Song-thaek là Đại sứ ở Malaysia Jang Yong-chol, một người cháu của Jang, cũng như 2 con trai của ông (khoảng 20 tuổi). Hai vị đại sứ bị triệu về Bình Nhưỡng vào tháng 12/2013.
 Ông Jang Song-thaek tại phiên tòa ở Bình Nhưỡng.
Yonhap cho biết rằng, tất cả các thành viên gia đình Jang Song-thaek bị kết án tử hình vì tội chống chính quyền. Họ bị xử bắn ngay cửa nhà mình trước sự chứng kiến của hàng xóm.
Theo một số nguồn tin, chỉ có một vài người phụ nữ trong gia đình may mắn sống sót, trong số đó có vợ Đại sứ Triều Tiên tại Malaysia. Bà này đã buộc phải ly dị chồng và cùng với gia đình đi đày đến trại trong khu vực xa xôi của Bắc Triều Tiên.
Không rõ thời điểm họ bị hành quyết, nhưng một số nguồn tin cho là việc này được thực hiện ngay sau khi ông Jang Song-thaek bị hành quyết.
Hoàng Lê
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2014

Bản dịch mới cuốn Quân Vương của Machiavelli


Dạo này nhiều bạn viết review sách quá, mình cũng tập tọng viết thử xem sao. Bài này viết xong, gửi cho Tuổi Trẻ Cuối Tuần, may quá đã được đăng số tuần vừa rồi.
Cai trị là dựa vào số đông
Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc bằng quân sự, thừa tướng Lý Tư đã tận sức giúp vua tạo dựng đế chế bằng sự thống nhất về chính trị và tư tưởng. Học thuyết mà Lý Tư ứng dụng trong trị quốc phần lớn dựa vào tư tưởng và trước tác của một người bạn, sau trở thành kẻ đối nghịch là công tử nước Hàn: Hàn Phi.
Hàn Phi và Lý Tư cùng là học trò của Tuân Tử. Hàn Phi bị Lý Tư, người tự nhận là kém tài hơn, gièm pha đến mức bị vua Tần bỏ tù và sau đó chết trong ngục. Trước tác mang tên ông, sau này được nhà Tần áp dụng triệt để trong trị quốc và trở thành kinh điển của pháp gia.
Trong lịch sử Trung Quốc, người mở đường cho Pháp gia là Quản Trọng. Trước Hàn Phi, pháp gia cũng đã có nhiều phái khác biệt về chủ trương và đường lối trị quốc. Phái Thận Đáo đề cao Thế (势) gọi là phái trọng thế. Phái này cho rằng người lãnh đạo chỉ cần dựa vào uy thế (quyền lực) để áp đặt thể chế. Phái Thân Bất Hại đề cao Thuật (術) gọi là phái trọng thuật. Thuật ở đây là phương pháp. Với phương pháp tốt và áp dụng khéo léo, kẻ làm vua sẽ giỏi “thuật cai trị”. Phái cuối cùng là Thương Ưởng, đề cao Pháp (法), gọi là phái trọng pháp. Pháp là phép tắc, pháp luật. Trị nước bằng pháp luật, giống như “rule by law” của phương tây.
Hàn Phi, sống ở thế kỷ III trước Công nguyên. Một mặt ông vẫn đồng ý với quan điểm cai trị dùng đức: “nội thánh ngoại vương – bên ngoài là vua, ở trong là thánh nhân” của nho giáo, tương đồng với quan điểm quân vương – triết gia (philosopher-king) của Plato, Aristotle. Một mặt khác, ông tiến xa hơn khi cho rằng cai trị không thể dùng đức.  Ông cho rằng cai trị phải nhắm vào số đông, không nhắm vào số ít. Ông nói: “Trông cậy dân làm điều tốt thì trong nước không quá mười người, nhưng khiến dân đừng làm bậy thì cả một nước được ổn định. Bậc cai trị dùng số đông, không dùng số ít, cho nên không trọng đức mà trọng pháp”.[1]
Từ đây ông cũng cho rằng vua không cần phải tài cao đức trọng, không cần làm gương cho cả nước soi vào. Để cai trị thì vua cần có thế (uy quyền để áp đặt) và có pháp (để chỉ cho dân điều nên làm và không nên làm, để thưởng phạt công minh) Từ đây, ông tiến xa hơn một bước về thuật. Ông cho rằng vua cũng chẳng cần phải làm, thay vào đó ông vua cần nắm vững thuật trị nước để thông qua nó xây dựng và vận hành bộ máy chính quyền. Vô vi nhi vô bất vi (無為而無不為): vua không làm gì nhưng chẳng cái gì không được làm. “Vô vi” là cái cách để vua dùng (cai trị thiên hạ) còn hữu vi là để bầy tôi được vua dùng vào mục đích đó, giống như Trang Tử viết trong Thiên Đạo vậy.
Dùng và được dùng.
Triết gia Bertrand Russell cho rằng thời kỳ Phục hưng không sản sinh ra một triết gia lý thuyết quan trọng nào, nhưng lại sinh ra một nhân vật đặc sắc trong triết học chính trị. Đó là Niccolò Machiavelli.
Năm 1513, ở xứ Florence nước Ý, Machiavelli viết quyển “Quân vương (Il Principe)” với mục đích ban đầu là “để tự tiến cử mình cho đấng quân vương Lorenzo de Medici”. Trong Quân vương, Machiavelli đề ra hàng loạt sách lược chính trị để bình định nước Ý lúc bấy giờ đang ngập trong nội chiến. Đấng quân vương đã không đoái hoài đến Machiavelli, nhưng điều kì diệu đã đến với tác phẩm: Quân vương đã trở nên bất hủ và trở thành một tác phẩm kinh điển về triết học chính trị, về thuật trị nước.
Triết học chính trị của Machiavelli có cả tính khoa học lẫn chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ yếu dựa trên kiến thức và phân tích thực tiễn của ông: với mỗi một mục tiêu cần tìm ra một phương thức thực hiện, bất chấp mục tiêu đó là thiện hay ác. Triết học chính trị của Machiavelli chính là “thuật trị quốc” mà Hàn Phi đề cập.
Tên tuổi của Machiavelli gắn liền câu châm ngôn thực dụng nổi tiếng “cứu cánh biện minh cho phương tiện” và còn gắn liền với thủ đoạn và sự xấu xa, đến mức tên ông trở thành tính từ trong nhiều ngôn ngữ phương tây, chỉ sự nham hiểm, quỷ quyệt. Từ tâm thế của một trí thức cố gắng xây dựng một học thuyết thực dụng để giúp các đấng quân vương trị quốc, Machiavelli đã đặt mình vào vị thế trung thực của một trí thức dấn thân khi nói về sự không trung thực trong chính trị[2]
Thuật chính trị ở trong Quân vương đã được các nhà quản trị của thế kỷ XX, đưa vào ứng dụng trong các công ty đa quốc gia. Từ đó đã sinh ra một dị bản của Quân vương, về nội dung không khác một chi tiết, ngoại trừ thay các lãnh địa bằng tên các công ty, thay tên vua chúa bằng tên các vị giám đốc. Đó là cuốn “Giám Đốc (The Executive)” của John Paul Harmon. Trong dị bản này, các vấn đề của quản trị công ty được đặt trong tương quan đối xứng gương với các vấn đề trị quốc trong bản gốc Quân vương.
Về bản dịch lần này.
Dịch giả Vũ Thái Hà đã dịch lại đồng thời cả hai cuốn sách Quân vương – Thuật chính trị và Giám Đốc – Thuật quản trị để thể hiện tính đồng nhất và đối xứng gương của nội dung hai tác phẩm. Alpha Books đã in theo cung cách đối xứng gương hai cuốn sách danh tiếng này vào một tập sách để cho phiên bản tiếng Việt của Machiavelli ra đời đúng vào năm thế giới xuất bản kỷ niệm 500 năm ngày ra đời của Quân vương sẽ là một bản sách quý xứng đáng với tầm vóc của nó. Bản dịch hai tác phẩm đối xứng này dày 392 trang, do Alpha Books và NXB Thế giới hợp tác xuất bản và đã phát hành trên toàn quốc từ tháng 12 năm 2013, giá bán 109.000 đồng.
Trân trọng giới thiệu.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hoàng Sa trong những đổi chác của Kissinger


Việc thất thủ Hoàng Sa là hậu quả của những đổi chác giữa Mỹ và Trung Quốc, mà chủ súy chính là cố vấn Henry Kissinger.
Chính sách của Mỹ trước trào Nixon, tức trước Kissinger, hoàn toàn khác. Còn từ “trào Kissinger” trở đi là trái nghịch hoàn toàn, thậm chí cả các đồng minh Đài Loan và Nhật Bản cũng “nếm mùi” ông này.

Nếu biết rằng vào ngày 24-4-1965, tổng thống Mỹ lúc đó là Lyndon Johnson đã ký chỉ thị hành pháp số 11216 (Executive Order 11216) đặt Việt Nam và toàn thể khu vực Hoàng Sa và Trường Sa “trong vùng chiến sự”, thì có thể thấy việc chín năm sau Kissinger và Richard Nixon “buông” Hoàng Sa là một sự bội phản không chỉ với Việt Nam mà cả với các chính quyền Mỹ tiền nhiệm.

Hoàng Sa trong "vùng chiến sự"

Tài liệu giải mật của Bộ Ngoại giao Mỹ (FRUS, 1955-1957 - Volume III, China, Document 186) cho biết hôm chủ nhật 10-6-1956, tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn báo cáo việc Bộ Ngoại giao VNCH báo động với tòa đại sứ Mỹ rằng “Chicom (quân Trung Cộng, cách gọi lúc đó của VNCH và Mỹ cùng đồng minh) đổ bộ lên đảo Robert (đảo Hữu Nhật)”, căn cứ trên báo cáo của trạm khí tượng của VNCH trên đảo Pattle (tức đảo Hoàng Sa) trong quần đảo Paracels (Hoàng Sa).

Trong cuộc họp sau đó, Ngoại trưởng Mỹ Dulles bảo các cộng sự của mình xem xét khả năng viện dẫn hiệp định kết thúc chiến tranh với Nhật Bản, theo đó Hoa Kỳ có quyền hạn và trách nhiệm kế thừa đối với tất cả lãnh thổ Nhật chiếm đóng trước kia. Ông cũng chỉ thị xem xét khả năng đơn phương ra tay hành động chiếu theo tinh thần điều 8 hiệp ước SEATO (Liên phòng Đông Nam Á), theo đó Mỹ có nhiệm vụ phòng thủ khu vực này, một khi máy bay thám thính của hạm đội 7 xác nhận nguồn tin từ phía Sài Gòn, và sau khi đã thăm dò đánh giá tính hiệu quả của biện pháp đề ra.

Ngày hôm sau, thứ hai 11-6-1956, Bộ Ngoại giao Mỹ gửi tiếp bức điện Deptel 4021 cho tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn và tại Đài Loan, cho biết “Các lực lượng khả dụng của Mỹ trong khu vực sẽ đơn phương hành động buộc Trung Cộng rút lui sau khi đã cảnh cáo”, đồng thời yêu cầu “cố đạt đến một thỏa thuận hành động hỗn hợp lực lượng giữa Trung Hoa Dân Quốc và Sài Gòn”.

Trong thời gian đó, hạm đội 7 phái hai tuần dương hạm và một số máy bay thám thính đến khu vực Hoàng Sa thực hiện các cuộc thám thính trên biển, trên không và cả trên bộ ở đảo Hữu Nhật trong hai ngày 12 và 13-6. Trong bức điện sau đó gửi CINCPAC (bộ chỉ huy trung tâm), phó đô đốc Ingersoll, tư lệnh hạm đội 7 kiêm tư lệnh bộ chỉ huy lực lượng Mỹ phòng vệ Đài Loan, loan báo các kết quả thám thính:

“Thay đổi duy nhất ở Hoàng Sa trong mấy tháng qua chỉ là việc Trung Cộng tăng người lên đảo Woody (Phú Lâm)... Hoạt động của họ hầu như chỉ là thu gom phân chim. Không thấy binh sĩ hay vũ khí”. Và ông kết luận: “Trong những điều kiện trên, hiện chưa đến lúc Mỹ phải quét sạch bọn Trung Cộng ra khỏi đảo Phú Lâm. Một nỗ lực chung giữa Đài Loan và (Nam) Việt Nam cũng không tiện...”.

Câu chuyện trên cho thấy vào năm 1956 đó, dưới trào Tổng thống Dwight D. Eisenhower, Mỹ khẩn trương đáp ứng bảo vệ Hoàng Sa, thậm chí còn thoáng có ý định tổ chức cho Đài Loan và Sài Gòn cùng phối hợp đuổi Trung Quốc ra khỏi Hoàng Sa!

Tạm lấy mốc chín năm sau, lập trường của Mỹ về Hoàng Sa vẫn không thay đổi, thậm chí mạnh mẽ hơn qua việc Tổng thống Johnson ký chỉ thị hành pháp số 11216 đặt Việt Nam và toàn thể khu vực Hoàng Sa và Trường Sa “trong vùng chiến sự”, khiến Trung Quốc tức điên lên.

Đại sứ Trung Quốc tại Ba Lan là Wang đã gặp đại sứ Mỹ Cabot tại Ba Lan để phản kháng. Đại sứ Cabot sau đó đã đánh điện báo cáo lại Bộ Ngoại giao: “Wang nói là đã được lệnh phản đối mạnh mẽ chỉ thị hành pháp ngày 24-4 của tổng thống bao gồm đảo Hoàng Sa trong vùng biển chiến sự. Chính phủ Mỹ phải chịu trách nhiệm về mọi hậu quả nghiêm trọng xảy ra từ đây... Tôi đã bác bỏ những khiếu nại của Wang về đảo Hoàng Sa”.

Không chỉ đại sứ họ Wang này mà một đại sứ cùng họ Wang khác thay thế vào tháng 7 sau đó đã đưa ra vô số khiếu nại và đều nhận được cái lắc đầu của đại sứ Cabot. Đơn giản vì Hoàng Sa là của Việt Nam, đang do VNCH quản lý.

Và Kissinger xuất hiện
Chín năm sau, Trung Quốc thôn tính Hoàng Sa vào ngày 19-1-1974 và Nhà Trắng ra thông cáo trong bức điện mang mã số 1974STATE012641_b, đề ngày thứ bảy 19-1-1974: “Chính phủ Hoa Kỳ không đứng về phe nào trong các cuộc tranh chấp xung đột về quần đảo Hoàng Sa, song mạnh mẽ mong muốn giải quyết tranh chấp một cách hòa bình... Chúng tôi không rõ vụ đụng độ này đã nổ ra trong hoàn cảnh nào. Lực lượng quân sự Mỹ không dính dự vào vụ này...”.

Một thái độ hoàn toàn khác với trước kia!

Chẳng qua do “vua đi đêm” Kissinger (cách gọi của báo chí Sài Gòn) đã quân sư cho Tổng thống Nixon, kế vị Tổng thống Johnson từ 20-1-1969, bắt tay với Trung Quốc để đối trọng với Liên Xô lúc đó đang căng thẳng với Trung Quốc, và tìm một lối ra khỏi Việt Nam trong danh dự.

Trong các vụ “đi đêm” đó, Kissinger đã lần lượt “biếu” Trung Quốc những món quà sau để đổi lấy chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 2-1972: ngày 10-6-1971, Nhà Trắng loan báo chấm dứt lệnh cấm vận thương mại Trung Quốc kéo dài 21 năm; ngày 28-7-1971, Chính phủ Mỹ loan báo ngưng việc thu thập tin tức tình báo về Trung Quốc; ngày 2-8-1971, Ngoại trưởng Roger loan báo Mỹ sẽ thôi chống lại việc Trung Quốc gia nhập Liên Hiệp Quốc, song sẽ không bỏ phiếu trục xuất Đài Loan...

Về phần mình, nhật báo Hồng Kỳ cũng hôm 2-8 đó giải thích rằng việc Trung Quốc mở ra với Mỹ là do Trung Quốc phải liên minh với “kẻ thù bậc hai” là Mỹ, để cô lập và tấn kích “kẻ thù bậc nhất” là Liên Xô. Trung Quốc lúc đó rất muốn “ẩu đả” với Liên Xô, thậm chí hôm 21-4 trước đó Nhân Dân Nhật Báo đăng bài xã luận kêu gọi lật đổ chính quyền Xô viết, khiến lãnh đạo Liên Xô Leonid Brezhnev lên án chiến dịch chống Liên Xô này của Trung Quốc.

Song món quà thượng hạng mà Kissinger biếu Bắc Kinh là chuyến bay đến Bắc Kinh hôm 20-10-1971 và lưu lại tại đó. Đến 25-10, ở New York, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc biểu quyết mời Đài Loan ra, Trung Quốc bước vô thay thế. Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc lúc đó là George Bush (bố) than rằng việc Kissinger có mặt tại Bắc Kinh trong thời điểm đó đã ngáng trở các nỗ lực của Mỹ nhằm giữ ghế cho Đài Loan.

Những đổi chác qua lại đó đã đưa Nixon sang Trung Quốc “đi tour bảy ngày” Bắc Kinh, Hàng Châu, Thượng Hải từ 21 đến 28-2-1972, mà đỉnh cao là Thông cáo chung Thượng Hải (Sino-U.S. relations, PBS.org).

Nixon từ Trung Quốc về được một tháng thì Bắc Kinh bắt đầu phản kháng về Hoàng Sa, song lần này phản ứng của Mỹ khác trước.

Bức thư của Chính phủ Mỹ gửi Chính phủ CHNDTQ (được lưu trong FRUS volume XVII, số 219) không ghi ngày tháng, phúc đáp việc Trung Quốc phản kháng việc tàu chiến Mỹ đến gần quần đảo Hoàng Sa: “Phía Mỹ đã tiến hành điều tra toàn diện các sự cố mà phía Trung Quốc đã lưu ý hôm 24-3-1972... Vì lợi ích của quan hệ Mỹ - Trung, phía Mỹ đã ra chỉ thị (cho tàu bè, tàu bay của mình) từ nay giữ khoảng cách tối thiểu 12 hải lý với các đảo Hoàng Sa...”.

Tuy vẫn bảo rằng quyết định này không can dự gì đến các tranh chấp lãnh thổ ở Hoàng Sa, song khi hứa tránh xa 12 hải lý đã là thừa nhận lãnh hải của Trung Quốc ở Hoàng Sa rồi. Bức thư này chẳng qua là một văn bản phản ánh nội dung cuộc trao đổi giữa Hoàng Hoa - đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc - với Kissinger hôm 12-4-1972 ở New York, qua đó Hoàng Hoa yêu cầu Mỹ giữ khoảng cách 12 hải lý ở Hoàng Sa, và Kissinger đã hứa miệng (FRUS, Document 220. Memorandum of Conversation).

Thái độ này của Mỹ năm 1972 khác hẳn trước kia dưới trào Tổng thống Johnson, Kennedy và Eisenhower. Nguyên nhân? Hoàng Sa chỉ là một trong những “vật đổi chác” của Kissinger, thậm chí rất nhỏ! Tỉ như so với Đài Loan mà nay tờ Want China Times 29-11-2013 đã tiết lộ rằng tháng 1-1974, Tưởng Giới Thạch đã phải lần đầu tiên để cho hạm đội Đông Hải đi qua eo biển Đài Loan kể từ 25 năm qua khi Quốc Dân đảng tháo chạy về Đài Loan.

Hạm đội Đông Hải đi qua eo biển này để đổ xuống Hoàng Sa cho nhanh, thay vì đi vòng sau lưng Đài Loan như trước. Biết sao bây giờ, Tưởng Giới Thạch giữ thân mình còn chưa xong, làm sao cứu bồ đồng minh Nguyễn Văn Thiệu được!

Có gì biếu nấy: Senkaku cũng muốn biếu!

Biếu xén Bắc Kinh đã trở thành một thói quen mới của Kissinger. Ngày 31-1-1974, tức 12 ngày sau khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Kissinger (lúc này đã thôn tính luôn ghế ngoại trưởng) họp với các thuộc cấp ở Bộ Ngoại giao.

Biên bản phiên họp đó còn ghi rằng sau khi Hummel, trợ lý ngoại trưởng đặc trách Đông Á, báo cáo tình hình ở Hoàng Sa đã xong xuôi, không còn bất cứ hoạt động quân sự nào nữa và các nước trong khu vực từ Nhật Bản đến Philippines và VNCH đều đang âu lo, đặc biệt VNCH đã đổ bộ 200 binh sĩ lên Trường Sa, thì Kissinger chợt hỏi: “Liệu có thể thúc họ hướng đến đảo Senkaku được không?”.

Trợ lý Hummel ngớ cả người: “Xin ngài thứ lỗi, nghe chưa rõ ạ?”. Kissinger lặp lại: “Liệu chúng ta có thể thúc họ đến Senkaku được không?”. Trợ lý Hummel vẫn chưa hiểu ra: “Thúc ai ạ?”. Kissinger tỉnh bơ trả lời: “Thúc CHNDTH”.

Trợ lý Hummel lúc này tỉnh ra, hỏi vặn: “Ngài có chắc là chúng ta muốn làm điều đó không?”. Kissinger quả quyết: “Thì để dạy dỗ người Nhật”. Không nhất trí, Hummel hỏi vặn lại thẳng thừng: “Tôi cũng hiểu rằng chúng ta cần dạy dỗ người Nhật, song với cái giá đó thì có đáng hay không?”. Đến đây, Kissinger “chém vè”: “Không, không” (Minutes of the Secretary of State ‘s Staff Meeting Washington, January 31, 1974).

Chẳng qua Kissinger lúc đó đang hậm hực Thủ tướng Nhật Kakuei Tanaka vì ông này không chịu nhượng bộ thương mại với Mỹ. Nếu nhớ rằng mới năm 1972, Mỹ đã trao trả lại đảo Senkaku cho Nhật, thì việc Kissinger đòi thúc Trung Quốc “quậy” Nhật ở Senkaku năm 1974 quả là...!

Biếu cả thiên hạ chưa đủ, năm 2005, cố vấn cao cấp Công ty dầu hỏa CNOOC Kissinger còn định biếu cả dầu hỏa Mỹ cho Trung Quốc khi chỉ đường cho công ty này mua lại Công ty dầu hỏa Unocal của Mỹ, song cuối cùng bị Quốc hội Mỹ ngăn trở. Bởi thế Trung Quốc mới thỉnh Kissinger sang Bắc Kinh để mừng thượng thọ 90 tuổi.

Danh Đức
(Tuổi trẻ)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĐIẾU VĂN ĐƯA TIỄN LUẬT GIA LÊ HIẾU ĐẰNG

26 tháng 1 năm 2014


Lê Hiếu Đằng (1944 - 2014)

Vĩnh biệt Anh Lê Hiếu Đằng!


Điếu văn của bạn hữu do BS Huỳnh Tấn Mẫm đọc

tại Lễ Truy điệu Luật gia Lê Hiếu Đằng sáng ngày 26.01.2014


Thưa quý vị, thưa quý bằng hữu,



Thay mặt Ban tang lễ và gia đình Anh Lê Hiếu Đằng, chúng tôi xin chân thành cám ơn quý vị đã đến đây viếng Anh lần cuối mà cũng để từ biệt Anh lần cuối. Chúng ta đã chứng kiến những ngày tháng sau cùng khi Anh vừa chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo, vừa đau đáu một lòng đối với vận mệnh đầy cam go hiện nay của đất nước. Và hôm nay, chúng ta đau buồn biết rằng sẽ không bao giờ còn có thể gặp lại Anh trên thế gian này một lần nào nữa. Anh đã vĩnh viễn từ giã chúng ta để đi về Miền Tĩnh Lặng của riêng Anh và cũng là Miền Anh Linh của những tinh hoa dân tộc.


Anh Lê Hiếu Đằng sinh ngày 06.01 năm 1944, tại Đà Nẵng, Quảng Nam, nguyên quán Thừa Thiên - Huế. Sau khi học xong Tú tài phần 1 ở Đà Nẵng, Anh ra Huế hoàn thành Tú Tài phần 2, chính ở nơi đây, Anh đã tiếp cận phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh xung quanh sự biến 1963, và đã trả giá cho thái độ đầu tiên về chính trị đó bằng sự kiện bị chính quyền Sàigòn giam vào lao Thừa Phủ. 1964, theo gia đình vào Sài gòn, ghi danh học Đại học Luật, rồi từ những hoạt động công khai trong cộng đồng sinh viên, Anh bí mật liên hệ với phong trào cách mạng và trở thành cơ sở của Đảng uỷ sinh viên và Thành đoàn Sài Gòn. Năm 1968, cùng với một số trí thức, nhân sĩ thuộc “lực lượng thứ ba”, Anh ra chiến khu tham gia Liên Minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hoà bình (khu Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định), tổ chức này ra đời để vận động cho cuộc hoà giải dân tộc, chấm dứt chiến tranh và Anh đã bị chế độ cũ kết án tử hình vắng mặt. Năm 1969 Anh được hai ông Huỳnh Tấn Phát và Tôn Thất Dương Kỵ giới thiệu vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi đất nước thống nhất, sau một thời gian đảm nhiệm công tác đào tạo cán bộ tại các trường Đảng ở Sài Gòn đến 1983, Anh được điều động về Mặt Trận với chức danh Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt Trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh, và giữ chức danh này cho đến khi về hưu. Gần đây, vướng phải căn bệnh ngặt nghèo, được gia đình, bạn bè, các y, bác sĩ hết lòng giúp đỡ điều trị nhưng do bệnh tình quá trầm trọng, Anh đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 22.01.2014, lúc 22 giờ, tại Bệnh viện 115, hưởng thọ 70 tuổi.



Qua mấy nét tiểu sử trên đây, chúng ta thấy xuyên suốt cuộc đời Anh, vận mệnh của đất nước là điều không lúc nào rời khỏi sự bận tâm suy nghĩ của Anh. Thái độ đó đã thể hiện rất sớm khi Anh mới chỉ là một học sinh trung học và có lẽ rất sớm như vậy vì đã diễn ra trong hoàn cảnh một đất nước liên tục bị các thế lực bên ngoài xâm lược thống trị, mà vào thời Anh lớn lên là tình thế tổ quốc bị chia đôi sau 1954: do không thống nhất được trong hoà bình, những xung đột tiềm ẩn nội tại đã bùng lên với sự can thiệp trực tiếp của chính quyền Mỹ bấy giờ, cuối cùng phát triển thành một cuộc đối đầu quân sự vô cùng tàn khốc, có nguy cơ đẩy cả dân tộc vào một thảm hoạ huỷ diệt chưa từng có. Sự chọn lựa chính trị của Anh đã phát sinh từ tình thế đó và thường được giải thích như một thức tỉnh mang tính truyền thống của những thanh niên trí thức trước họa ngoại xâm. Nhưng như tất cả chúng ta đều biết: sự chọn lựa của Anh không dừng lại ở tình tự yêu nước tự nhiên đó mà lại được bồi đắp cho mạnh mẽ hơn bằng một niềm tin mới mẻ, hấp dẫn hơn nhiều lần: đó là niềm tin vào một thứ chủ nghĩa cộng sản nào đó mà Anh tin rằng sau này khi nước nhà đã độc lập trong thống nhất, hoà bình, nếu đem ra áp dụng, chúng ta sẽ kiến tạo nên được một xã hội tốt đẹp bội phần. Anh đã gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam cũng vì niềm tin ấy, sống chết với Đảng Cộng sản suốt 45 năm kể từ ngay Anh gia nhập cũng vì niềm tin ấy.



Giữ gìn sự liêm khiết là công việc bình thường, điều quan trọng hơn nhiều lần với Anh chính là thái độ bảo vệ sự trong sáng làm nên những nguyên lý về phẩm chất để thực hiện cho được lý tưởng của mình. Cũng chính vì quan niệm như vậy mà trước những chuệch choạc, bế tắc, sai lầm của Đảng Cộng sản trong việc đem lý tưởng ra thực hiện, Anh đã có những phản ứng rất mạnh mẽ đi đôi với những đề xuất táo bạo để chấn chỉnh. Thái độ nhiều khi khá gay gắt của Anh đều xuất phát từ nỗi ưu tư của Anh về vận mệnh của toàn dân tộc: những sai lầm ấy nếu không được khắc phục một cách triệt để, thì đất nước sẽ suy sụp toàn diện và không thể nào tránh khỏi nguy cơ rơi vào vòng xiềng xích của ngoại bang một lần nữa, dưới một hình thức thâm độc hơn nhiều lần. Giữ gìn cho được những phẩm chất làm nên cái lý tưởng lành mạnh ban đầu trong thời kỳ tranh đấu giải phóng dân tộc hầu như đã trở thành chuẩn mực định hướng cho mọi hành động của Anh. Lý tưởng đó có thể điều chỉnh cho thực tế hơn, mang ra thực hiện bằng những biện pháp thích đáng hơn, nhưng cái mơ ước ban đầu về một xã hội tương lai tất yếu phải tốt đẹp hơn quá khứ đối với Anh vẫn là cái đích đến, không thể quên lãng, nhất là không thể cố tình xoá bỏ bằng những lời nói đãi bôi để che giấu những toan tính chà đạp con người, bán đứng đất nước, đi ngược lại quyền lợi của tổ quốc, của nhân dân.



Cũng chính vì vậy mỗi khi có dịp nhắc lại những tháng ngày gian khổ cũ của mình như một tổng kết về cuộc sống, Anh không hề tỏ ra tiếc nuối với những gì đã làm để phải trách móc bản thân hay “sám hối” với ai khác cả. Những gì diễn ra trong quá khứ đối với Anh là một hành trình thể nghiệm đầy hào sảng, cần phân tích thấu đáo nhiều mặt để tiếp sức cho cuộc chiến đấu hôm nay với những nội dung và biện pháp khác, trong những điều kiện mới của đất nước. Với những ai hiểu Anh thì những gì Anh bộc lộ trong thời gian gần đây cũng chỉ biểu hiện cho những dằn vặt và đau xót về sự suy đồi đến mức thảm hại những giá trị mà những lớp người như Anh đã bỏ tuổi xuân và xương máu để chắt chiu nuôi dưỡng. Một số quyết định đến mức quyết liệt của Anh vào lúc cuối đời sẽ hoàn toàn lý giải được khi chúng ta biết tất cả đều không bắt nguồn từ đâu ngoài sự phẫn nộ trước những thứ làm vẩn đục những nguyên tắc đơn giản nhưng thiêng liêng, tạo nên cái cái lý tưởng cải biến xã hội mà Anh đã tiếp nhận được từ thời trai trẻ trong tranh đấu. Đó là độc lập dân tộc, cải thiện dân sinh, xây dựng cho kỳ được nền dân chủ tiến bộ trong tự do và phẩm giá, xứng đáng với bao khát vọng và hy sinh cao cả của nhân dân yêu quý.



Anh Đằng thân thiết!



Với những việc Anh đã làm, với những phẩm chất mà Anh gửi lại cho những người thân thích, những bạn bè xa gần của Anh, Anh có quyền thanh thản an nghỉ trong Miền Yên tĩnh của riêng Anh với những bài tình ca mà Anh mang theo trong suốt cuộc đời dấn thân đầy lãng mạn của mình. Cuộc từ biệt mang lẽ tử sinh này sẽ để lại cho anh em chúng tôi, những bằng hữu, những người thân của Anh, nhiều kỷ niệm tốt đẹp cùng với nhiều điều thật đáng suy ngẫm về cuộc đấu tranh thay đổi đời sống, những suy ngẫm cũng là những thao thức mà chắc hẳn không một ai trong chúng ta có thể tránh mặt được mỗi khi tưởng nhớ đến Anh. Những ước nguyện chưa thành của Anh nhất định sẽ được thế hệ sau gánh vác và thực hiện!



Đau đớn vĩnh biệt Anh, người Bạn thân thiết, nhà Trí thức dũng cảm, trang Hiền sĩ đáng kính, đáng yêu trong tâm khảm của thế hệ hôm nay!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Tự hoạ tháng chạp


 

 
Tháng chạp cuối năm
Tháng cuối mấy mươi năm
Chiếc gương soi mặt mờ cũ
Tôi tự hoạ thay lời
 
Tự hoạ có thể giống tôi
Có thể không giống tôi
Chiếc gương soi đồng loã
Giấu mặt tôi trong bất cứ ai
 
Tuy nhiên vì vậy
Tự hoạ tôi không miệng môi
Tháng chạp cuối năm. Mấy mươi năm rồi
Nói gì không trễ muộn
 
Tự hoạ tôi phủ đen mái tóc
Lấp kín mấy nghìn đêm thức trắng
Mấy nghìn cơn mộng tàn
Mấy nghìn khốn khổ cùng cực
 
Tự hoạ tôi. Nhớ lời ai nói
Bẩm sinh xiêu lạc tâm hồn
Hắn làm thơ vì vậy
Tự hoạ tôi mắt trũng sầu không nguôi
 
Tự hoạ tôi gửi những ai thù nghịch
Hắn không nói gì. Không nói một lời nào
Tự hoạ tôi gửi người thân yêu
Hắn còn biết nói gì. Trời xanh biếc trên cao
 
Tháng chạp, năm Quý Tỵ - 2014
 NĐ

Phần nhận xét hiển thị trên trang