Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013

Nhìn sang hàng xóm:


Bí quyết làm ăn với thị trường Trung Quốc

Bí quyết làm ăn với thị trường Trung Quốc(Dân trí) – Tiến sỹ Alan Phan, Chủ tịch Quỹ đầu tư VIASA, chuyên gia tư vấn về các thị trường mới nổi cho nhiều tập đoàn đa quốc gia, chia sẻ kinh nghiệm trong việc hợp tác làm ăn với thị trường Trung Quốc.
 Kinh doanh theo… Binh pháp Tôn Tử
Từng nhiều năm kinh doanh, làm ăn với thị trường Trung Quốc, Tiến sỹ – doanh nhân Alan Phan nắm bắt khá rõ về tư duy, chiến lược và văn hoá kinh doanh của người Trung Quốc. Những trải nghiệm của ông trong quá trình đó mang lại nhiều bài học bổ ích cho các doanh nhân Việt muốn tiếp cận thị trường rộng lớn này.
Để làm nổi những đặc trưng trong kinh doanh của người Trung Quốc, TS Alan Phan thường so sánh, đối chiếu với cách kinh doanh của người Mỹ.
Bí quyết làm ăn với thị trường Trung Quốc
TS Alan Phan (áo đen).
Theo TS Alan Phan, người Trung Quốc có tính sỹ diện cao, kinh doanh vì nhiều mục đích, đôi khi không vì lợi nhuận mà vì danh dự, vì gia đình. Trong khi người Mỹ luôn đặt mục tiêu chiếm lĩnh thị trường lên hàng đầu, cạnh trạnh một cách sòng phẳng thì người Trung Quốc lại có lối làm ăn “xổi” hơn, thậm chí dùng nhiều “tiểu xảo” hơn để giành chiến thắng.
Tư duy kinh doanh của người Trung Quốc là một điều rất đáng quan tâm. Người Trung Quốc ngoài kiếm tiền còn muốn giành được sự tôn trọng của mọi người xung quanh. Họ kinh doanh dựa nhiều vào sỹ diện, dù lỗ vẫn làm chứ không chịu mất mặt, không chịu phá sản hay đóng cửa.
Trong chiến lược kinh doanh của mình, người Trung Quốc rất trọng Binh pháp Tôn Tử. Họ học và áp dụng rất chi tiết, cụ thể các chiến thuật trong Binh pháp Tôn Tử vào kinh doanh.
Xã hội Trung Quốc là một xã hội chặt chẽ, mọi người thường quây quần trong làng xã, tập thể của mình. Cho nên, khi một người làm một mặt hàng mới, ngay sau đó, như một phản ứng dây chuyền, hàng trăm người khác sẽ bắt chước, phá sự độc quyền của người đi đầu.
Đây là một lý giải khá đơn giản cho tình trạng làm hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng. Một ví dụ được TS Alan Phan đưa ra là khi ông sản xuất cây viết (bút). Lúc mới làm, ông chỉ có 2 đối thủ cạnh tranh với mình. Vậy mà chỉ 3 năm sau, số đối thủ cạnh tranh đã lên tới con số 250.
Hay như để sản xuất rượu nhái các hãng nổi tiếng, một số người Trung Quốc chỉ cần đi thu mua vỏ chai của những hãng đó, rồi đổ vào trong bất kỳ thứ rượu nào có thể đánh lừa được khách hàng. “Đã có một công ty sản xuất rượu có tiếng phải bỏ ra 4 triệu USD mỗi năm để cho người đi thu hết các vỏ chai lại, chống việc sản xuất rượu giả” – TS Alan Phan nói.
Từ cách sống chặt chẽ này, nhiều công ty gia đình đã hình thành như một điều tất yếu. Làm ăn với những người trong gia đình, dòng tộc, hay thậm chí là người làng xã, họ có cảm giác tin tưởng hơn là với những người xa lạ.
Thành bại tại… “cò”
Nhận định về thị trường Trung Quốc, TS Alan Phan cho rằng, đây là một thị trường rất rộng lớn và phức tạp, phân khúc không đồng đều. Ngay tại các thành phố lớn, dù lượng người giàu đông lên nhanh chóng nhưng người dân nghèo vẫn rất nghèo, đông không kém ở những vùng thôn quê.
Điểm nổi bật trong thị trường Trung Quốc là sự cạnh tranh khốc liệt. “Cái gì có thể kiếm được tiền họ đều làm hết. Điều này dẫn tới việc hàng nghìn người có thể làm giả, làm nhái một mặt hàng.” – TS Alan Phan cho biết.
Cùng với sự cạnh tranh khốc liệt đó, tại thị trường này, việc liên kết giữa các đối thủ để “làm giá” là điều rất phổ biến. Một nhà phân phối nhiều khi khó có thể đưa sản phẩm của mình xâm nhập thị trường vì mỗi địa phương sẽ có 1 “ông quan”. Các doanh nghiệp địa phương được chính quyền bảo vệ và những doanh nghiệp bên ngoài sẽ gặp phải những rào cản vô hình, không thể xâm nhập các thị trường đó.
“Nhất quan, nhì họ” – đó là đúc kết của TS Alan Phan về quan hệ làm ăn tại thị trường Trung Quốc. Theo ông, nếu không có quan hệ với quan chức địa phương, các doanh nhân sẽ gặp phải nhiều rào cản. Tiếp đó, nếu không được người có uy tín giới thiệu, công việc làm ăn tại địa phương cũng sẽ có thể “xuôi chèo mát mái”.
Về “luật chơi” của thị trường Trung Quốc, TS Alan Phan cho rằng nó mờ mờ, ảo ảo, mơ hồ, tuỳ cách diễn giải của từng người, từng địa phương. Điều này khiến cho quyền lực và tiền bạc trở thành yếu tố quyết định thành công của mỗi doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh trên thị trường này.
Và, để có tất cả những điều kiện trên, điều kiện tiên quyết cho mỗi doanh nhân là phải có… “cò”. Đây là người sẽ lo mọi chuyện từ A đến Z. Muốn có quan hệ với các “ông quan” địa phương: nhờ “cò”; muốn “tư vấn” pháp lý, bắt tay với các đối tác khác: đã có “cò”; khi gặp rắc rối, thay vì thuê luật sư thì nên tìm “cò”… “Thành bại đều tại “cò!” – TS Alan Phan nhận xét.
Từ những đúc kết sau mấy chục năm “chinh chiến” tại thị trường Trung Quốc, TS Alan Phan nhận thấy rằng, các doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam muốn xâm nhập thị trường rộng lớn này cần phải có sản phẩm đặc thù để tạo lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường.
“Không nên bắt chước những gì họ đã làm vì nếu bắt chước thì chỉ có nước thua” – TS Alan Phan kết lại.
Tiến sỹ Alan Phan du học Mỹ từ năm 1963. Ông tốt nghiệp bằng cử nhân tại Penn State (USA), MBA tại American Intercontinental (USA), Ph.D tại Sussex (Anh) và DBA tại Southern Cross (Australia). Ông cũng là Giáo sư thỉnh giảng tại các trường Đại học Mỹ (Colorado,Columbia, Cal State) và Trung Quốc (Fudan, TongJi).Tiến sỹ Alan Phan là doanh nhân Việt kiều đầu tiên đưa công ty tư nhân của mình lên sàn chứng khoán Mỹ năm 1987. Ông cũng là người đầu tiên giới thiệu Hệ thống bán cổ phiếu qua mạng tại Trung Quốc năm 1997.
Hiện nay, TS Alan Phan là Chủ tịch Quỹ đầu tư VIASA và là chuyên gia tư vấn về các thị trường mới nổi cho nhiều tập đoàn đa quốc gia.
Ông là tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng xuất bản trong và ngoài nước như: 42 năm làm ăn tại Mỹ và Trung Quốc; Hedge Funds anh China’s stock market; Niêm yết sàn Mỹ; Chiến thuật tìm vốn cho doanh nghiệp nhỏ…

Tiến Nguyên – dantri.com
Theo TS Alan Phan, người Trung Quốc có tính sỹ diện cao, kinh doanh vì nhiều mục đích, đôi khi không vì lợi nhuận mà vì danh dự, vì gia đình. Trong khi người Mỹ luôn đặt mục tiêu chiếm lĩnh thị trường lên hàng đầu, cạnh trạnh một cách sòng phẳng thì người Trung Quốc lại có lối làm ăn “xổi” hơn, thậm chí dùng nhiều “tiểu xảo” hơn để giành chiến thắng.
Tư duy kinh doanh của người Trung Quốc là một điều rất đáng quan tâm. Người Trung Quốc ngoài kiếm tiền còn muốn giành được sự tôn trọng của mọi người xung quanh. Họ kinh doanh dựa nhiều vào sỹ diện, dù lỗ vẫn làm chứ không chịu mất mặt, không chịu phá sản hay đóng cửa.
Trong chiến lược kinh doanh của mình, người Trung Quốc rất trọng Binh pháp Tôn Tử. Họ học và áp dụng rất chi tiết, cụ thể các chiến thuật trong Binh pháp Tôn Tử vào kinh doanh.
Xã hội Trung Quốc là một xã hội chặt chẽ, mọi người thường quây quần trong làng xã, tập thể của mình. Cho nên, khi một người làm một mặt hàng mới, ngay sau đó, như một phản ứng dây chuyền, hàng trăm người khác sẽ bắt chước, phá sự độc quyền của người đi đầu.
Đây là một lý giải khá đơn giản cho tình trạng làm hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng. Một ví dụ được TS Alan Phan đưa ra là khi ông sản xuất cây viết (bút). Lúc mới làm, ông chỉ có 2 đối thủ cạnh tranh với mình. Vậy mà chỉ 3 năm sau, số đối thủ cạnh tranh đã lên tới con số 250.
Hay như để sản xuất rượu nhái các hãng nổi tiếng, một số người Trung Quốc chỉ cần đi thu mua vỏ chai của những hãng đó, rồi đổ vào trong bất kỳ thứ rượu nào có thể đánh lừa được khách hàng. “Đã có một công ty sản xuất rượu có tiếng phải bỏ ra 4 triệu USD mỗi năm để cho người đi thu hết các vỏ chai lại, chống việc sản xuất rượu giả” – TS Alan Phan nói.
Từ cách sống chặt chẽ này, nhiều công ty gia đình đã hình thành như một điều tất yếu. Làm ăn với những người trong gia đình, dòng tộc, hay thậm chí là người làng xã, họ có cảm giác tin tưởng hơn là với những người xa lạ.
Thành bại tại… “cò”
Nhận định về thị trường Trung Quốc, TS Alan Phan cho rằng, đây là một thị trường rất rộng lớn và phức tạp, phân khúc không đồng đều. Ngay tại các thành phố lớn, dù lượng người giàu đông lên nhanh chóng nhưng người dân nghèo vẫn rất nghèo, đông không kém ở những vùng thôn quê.
Điểm nổi bật trong thị trường Trung Quốc là sự cạnh tranh khốc liệt. “Cái gì có thể kiếm được tiền họ đều làm hết. Điều này dẫn tới việc hàng nghìn người có thể làm giả, làm nhái một mặt hàng.” – TS Alan Phan cho biết.
Cùng với sự cạnh tranh khốc liệt đó, tại thị trường này, việc liên kết giữa các đối thủ để “làm giá” là điều rất phổ biến. Một nhà phân phối nhiều khi khó có thể đưa sản phẩm của mình xâm nhập thị trường vì mỗi địa phương sẽ có 1 “ông quan”. Các doanh nghiệp địa phương được chính quyền bảo vệ và những doanh nghiệp bên ngoài sẽ gặp phải những rào cản vô hình, không thể xâm nhập các thị trường đó.
“Nhất quan, nhì họ” – đó là đúc kết của TS Alan Phan về quan hệ làm ăn tại thị trường Trung Quốc. Theo ông, nếu không có quan hệ với quan chức địa phương, các doanh nhân sẽ gặp phải nhiều rào cản. Tiếp đó, nếu không được người có uy tín giới thiệu, công việc làm ăn tại địa phương cũng sẽ có thể “xuôi chèo mát mái”.
Về “luật chơi” của thị trường Trung Quốc, TS Alan Phan cho rằng nó mờ mờ, ảo ảo, mơ hồ, tuỳ cách diễn giải của từng người, từng địa phương. Điều này khiến cho quyền lực và tiền bạc trở thành yếu tố quyết định thành công của mỗi doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh trên thị trường này.
Và, để có tất cả những điều kiện trên, điều kiện tiên quyết cho mỗi doanh nhân là phải có… “cò”. Đây là người sẽ lo mọi chuyện từ A đến Z. Muốn có quan hệ với các “ông quan” địa phương: nhờ “cò”; muốn “tư vấn” pháp lý, bắt tay với các đối tác khác: đã có “cò”; khi gặp rắc rối, thay vì thuê luật sư thì nên tìm “cò”… “Thành bại đều tại “cò!” – TS Alan Phan nhận xét.
Từ những đúc kết sau mấy chục năm “chinh chiến” tại thị trường Trung Quốc, TS Alan Phan nhận thấy rằng, các doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam muốn xâm nhập thị trường rộng lớn này cần phải có sản phẩm đặc thù để tạo lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường.
“Không nên bắt chước những gì họ đã làm vì nếu bắt chước thì chỉ có nước thua” – TS Alan Phan kết lại.
Tiến sỹ Alan Phan du học Mỹ từ năm 1963. Ông tốt nghiệp bằng cử nhân tại Penn State (USA), MBA tại American Intercontinental (USA), Ph.D tại Sussex (Anh) và DBA tại Southern Cross (Australia). Ông cũng là Giáo sư thỉnh giảng tại các trường Đại học Mỹ (Colorado,Columbia, Cal State) và Trung Quốc (Fudan, TongJi).
Tiến sỹ Alan Phan là doanh nhân Việt kiều đầu tiên đưa công ty tư nhân của mình lên sàn chứng khoán Mỹ năm 1987. Ông cũng là người đầu tiên giới thiệu Hệ thống bán cổ phiếu qua mạng tại Trung Quốc năm 1997.
Hiện nay, TS Alan Phan là Chủ tịch Quỹ đầu tư VIASA và là chuyên gia tư vấn về các thị trường mới nổi cho nhiều tập đoàn đa quốc gia.
Ông là tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng xuất bản trong và ngoài nước như: 42 năm làm ăn tại Mỹ và Trung Quốc; Hedge Funds anh China’s stock market; Niêm yết sàn Mỹ; Chiến thuật tìm vốn cho doanh nghiệp nhỏ…
Phần nhận xét hiển thị trên trang

- Muốn Có Tác Phẩm Lớn Việt Nam Nên Vứt Thơ Đi.

Nguyễn Hoàng Đức

Gần một thế kỷ nay, Trung Quốc dường như tuyệt đối vứt thơ đi, đến mức dường như thơ không thể mọc tăm sủi bọt trên văn đàn. Nhưng họ đã được cái gì? Được hai giải Nobel văn chương với Cao Hành Kiện và Mạc Ngôn. Tại sao, người Tầu lại có thể đoạt tuyệt với thơ như vậy? Rõ ràng vì họ nhận ra, thơ vụn vài câu không thể là kiến trúc văn chương, và lao động lao động nghệ thuật. Thơ chỉ là sinh hoạt chữ nghĩa ngẫu hứng bồng bột được chăng hay chớ thôi.
Hội tha thơ cho Trời đọc diễn ra hàng năm ở Văn Miếu- Quốc Tử Giám - Hà Nội
Hội tha thơ cho Trời đọc diễn ra hàng năm ở Văn Miếu- Quốc Tử Giám – Hà Nội
Thơ chính thức là gì? Đó là sự ngâm nga vần vèo truyền khẩu giành cho những người mù chữ cũng như không có sách để đọc. Trong một xã hội ít học thì thơ còn đóng vai trò khoe mình đã thoát bệnh mù chữ. Tại Trung Quốc, người ta khoe mình có chữ ở khắp nơi. Cung vua cũng ghi chi chít chữ ở sau ngai để khoe mình nhiều chữ. Ngoài chợ thì kẻ sĩ hơi tí là nẩy thơ vài câu, không thì làm câu đối hai câu cũng được. Thậm chí luôn luôn sẵn sàng vén tay áo thụng viết một chữ Nhẫn, chữ Tâm để khoe mình biết chữ. Tại sao người ta muốn vậy? Vì người ta muốn xác định mình có chữ có thể làm quan như “học ưu nhi tắc sĩ”. Tại Trung Quốc còn có cả một phong trào thể dục, sáng ra dùng gậy viết chữ xuống mặt đường, đó cũng là cách mặc cảm muốn khoe mình tuy bình dân nhưng đã có chữ. Các bậc cha mẹ hiện đại của Trung Quốc còn có một câu phổ biến “không vào đại học thì đời vứt đi!”
Thơ ngắn vụn vặt vì mới đầu nó chỉ là tức cảnh sinh tình, tùy tiện, đi đâu khoe chữ đấy. Tuy vậy người Tầu rất khinh thơ. Họ cho rằng làm người quân tử thì trước hết phải thông thạo Nho – Y –Lý –Số. Nho là Nho giáo với bậc thầy Khổng Tử. Y là y học với sự thành thạo về nguyên lý cơ thể kết hợp với cơ địa của trời đất. Lý thuộc về nguyên lý vũ trụ càn khôn với bộ Kinh Dịch là chủ đạo. Còn số là phải biết áp dụng các môn Tử vi, Tử bình, phong thổ, kỳ môn độn toán, tướng mạo.
Sau đó mới đến: Cầm-Kỳ-Thi-Họa. Mấy thứ này đều là sinh hoạt, bao gồm: Cầm là chơi đàn, kỳ là chơi cờ, sau mới đến Thi là chơi thơ, rồi đến họa tức vẽ vời. Bốn môn này không nói về bậc quân tử mà có rất nhiều gái thanh lâu mới tuổi đôi mươi đã thông thạo làu làu để còn ứng tác với kẻ sĩ.
Người Hy Lạp thì còn khinh bỉ thơ ra mặt. Triết gia Platon chính thức nói “Hãy mời các nhà thơ đi khỏi quốc gia để nước ta xứng đáng là của những người thông thái”. Còn trong đời sống, nghe kể, người ta xếp các nhà thơ cùng với thợ thủ công ở ngoài thành để những thói xấu của nhà thơ như la cà, ham vui, xạo, háo danh tí tởn không làm hỏng đạo đức của các công dân. Mỗi buổi tối, đàn ông Hy lạp được lĩnh vé xem của quốc gia, trọng đại đi đến nhà hát bi kịch để chìm đắm trong những vở kịch hoành tráng có nhân vật và tình tiết. Ở nơi trọng đại như vậy không bao giờ có chỗ cho thơ lẻ và vụn, mà chỉ có những vần thơ được đọc theo mạch chảy của trường thiên kịch.
Người Việt Nam cũng rất coi thường thơ chỉ trong hai từ “Thơ – Thẩn”. Nghĩa đó là dạng lẩn thẩn dở khôn dở dại. Trong bài viết rât sâu sắc và phong phú mới đây trên blog Trần Mỹ Giống, tác giả Lê Tự trong bài “Thơ… SOS” có tả một cảnh bi hài thế này: trong một cuộc liên hoan ở Thủy điện Sông Đà, có vài chục người Việt lên đua nhau đọc thơ khiến cho các chuyên gia Nga mắt tròn mắt dẹt không hiểu tại sao Việt Nam lại có đông nhà thơ như vậy?! Trời ơi nước Nga là một cường quốc văn học trên thế giới với hàng trăm thi hào và văn hào, vậy mà không thể có nhiều người vui vầy làm thơ như Việt Nam. Điều này đáng mừng hay đáng lo? Chúng ta thấy hiển nhiên sỏi bao giờ cũng nhiều hơn núi. Nhưng cái đáng lo ở đây là, trí tuệ mấy anh tranh tre nứa lá của ta thấp quá, không biết trời cao đất dầy là gì, lúc nào cũng đòi tung tăng đọc thơ, mà lại đọc trong tinh thần ích kỷ, và nhiều phần dốt nát. Người đời vẫn nói “Im lặng là vàng”, khi gặp những người cao hơn thì ta phải biết lắng nghe, đằng này lúc nào cũng đặt cái tôi của mình lên trước, không cần tiếp thu ai cả, chỉ cần được khoe mẽ tí thơ. Mà thơ nào có hay hớm gì đâu.
Qua nhiều năm quan sát kỹ nền thơ Việt, tôi thấy các nhà thơ chẳng mấy khen ai, nghĩa là họ rất đố kỵ. Chẳng biết nghe ai, chỉ cần mình được đọc thơ, rồi vào Hội, rồi leo ghế, rồi ẵm giải. Không phải chỉ có tôi thấy thế, mà ngay nhà văn Nguyễn Huy Thiệp từ lâu đã nói: đó là đám vô học dốt nát, “đám giặc già thơ phú lăng nhăng”.
Nhìn kỹ hơn, tôi thấy, thơ là một đầm lầy bầy nhầy ẩn nấp những ký sinh trùng thơ hãm tài, nhân cách thấp kém. Tôi xin phân tích cụ thể:
1. Hiểu biết thấp: Xưa nay, cả thế giới nói “Đức hạnh là hiểu biết”, hoặc như người Tầu nói “Nhân bất học bất tri lý”, muốn có đức hạnh người ta phải biết cái gì đúng để làm, cái gì sai để tránh. Đằng này trình độ của các nhà thơ nói chung chỉ là sinh hoạt khoe mẽ mình vừa thoát nạn mù chữ (trong thực tế, sau bình dân học vụ, các tiểu nông Việt đã ào ào làm thơ), vì thế trình độ nhân cách của họ rất thấp, chủ yếu là thơ hiếu hỉ, gặp đâu nói đấy.
2. A dua, ăn theo nói leo: Thơ là ăn theo trăm phần trăm. Thứ nhất Cung đã vượt quá Cầu, người nghe thơ thì ít, người đọc thơ thì nhiều. Cụ thể, HNV muốn ra trang thơ thì phải in kèm độn vào trang báo. Ngay cả cái tên Hội Nhà Văn cũng là thương hiệu ăn theo cho các nhà thơ. Rồi rất nhiều nhà thơ muốn xí xộ mình là nhà văn cũng là cách ăn theo. Theo triết học, người ăn theo không có chủ quan tính, không phải chịu trách nhiệm về mình. Một người như thế thì làm sao đáng tin vào nhân cách hay đạo đức được.
3. Đố kỵ, ích kỷ, cấu kết bè nhóm, đánh chặn hiền tài: Sự đố kỵ của các nhà thơ nhìn đâu cũng thấy. Tôi xin đưa ra một minh chứng, ủy viên ban giám khảo kia đưa tập thơ đòi dự giải quốc gia, một ủy viên khác nêu lên, tôi không đồng tình vì như thế là phạm qui, nhưng tất cả các ủy viên khác đều phớt lờ, điều đó chứng tỏ người ta ngang nhiên bè phái đến thế nào! Còn sờ sờ kia cuộc thi thơ của 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có đến 40% đạo văn và phạm qui, có chứng minh sự bỉ ổi ở mức quán quân chưa?
4. Lưu manh càn quấy: Việc mấy nhà thơ kia văng cứt và đếch vào thơ liên tục, không chỉ phản ánh thẩm xú thơ mà còn muốn nói “bố” giang hồ đây, thơ “bố” còn sẵn sàng ném bom bẩn và đếch thì “bố” ngán ai. Thử xem mấy tay giữ con dấu không ăn chia, sẽ nếm cái gì? Và chỉ cần một mệnh lệnh nhỏ, lập tức có một phi đội phê bình gia hợp tác xã lao vào tung hô thơ cứt lên mây xanh, thử hỏi đó có phải là bằng chứng của sự a dua bỉ ổi không?
Thôi, nói về cái kém, cái dở của thơ Việt thì không hết được. Nhưng tôi chắc chắn cái cách nhiều người làm thơ và lạm dụng thơ hiện nay chỉ làm cho văn hóa nước nhà dậm chân thụt lùi. Một điều không cãi được, muốn có nền văn hóa lớn chúng ta phải có tác phẩm lớn. Ai biện hộ và cãi bỏ điều này, chắc chắn là một người vừa nhìn đã thấy bé nhỏ, cho dù đó là người làm thơ Haiku hay đi nữa. Một cái tăm đẹp không bao giờ là một máy bay đẹp cả. Và đa số những người làm thơ, vui thơ, chơi thơ ở Việt Nam nên nghĩ, cho tới bao giờ mình chưa viết được tác phẩm thơ lớn có nhân vật thì mình chỉ là Sinh Hoạt thơ chứ chưa bao giờ là Lao động nghệ thuật thơ cả.
Tất cả mọi lao động ở đời, kể cả lao động nghệ thuật, nó phải cống hiến. Còn mới ngả ngớn, trà dư tửu hậu, đầu thừa đuôi thẹo thời gian làm mấy bài thơ tùy tiện rồi ngâm nga đòi vòi vĩnh những giá trị lớn của nghệ thuật, đó chỉ là sự ăn may dựa trên bất công tem phiếu thôi. Người ta có được gía trị ngang với những gì mình cống hiến. Ta mới làm thơ trong vòng nóng ấm chè, trở mình vài cái trong đêm, hay hít phải mấy bụm sương thu lành lạnh… tất cả những thứ đó không bao giờ là lâu đài nghệ thuật cả. Những chiếc lá cho dù có tụ bạ cấu kết với nhau cũng chỉ là đống lá thôi. Còn một đại ngàn dựng lên, nó phải xuất hiện theo một nguyên lý cắm mốc từ trong lòng đất. Kiến thức phải sâu, lý tưởng phải ngước nhìn các tầng trời, khi đó đại ngàn mới xuất hiện. Còn loanh quanh nhìn ra vườn, vớt mấy con ốc ngồi nhắm rượu nút lá chuối với mấy sợi rau vườn của mẹ, thì chỉ ra mấy bài thơ trên chiếu thôi.
Vì thế để có tác phẩm lớn, tôi đề xuất nên mạnh dạn vứt thơ đi. Vì ở đó có ít tinh hoa quá mà chủ yếu là chổ ẩn nấp của đám ít học hãm tài còi cọc nhân cách. Còn nếu ai là một phần nghìn tinh hoa đích thực thơ, tôi xin có lời tạ lỗi!
                                                NHĐ  13/07/2013


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hoàng Xuân Họa: Giải nhất và nhì cuộc thi thơ trên Facebook

Hoàng Xuân Họa: Giải nhất và nhì cuộc thi thơ trên Facebook:         Võ Hoài Sâm, ôm hoa đứng tứ ba. (Ảnh trên Facebook) Cuộc thi thơ “Lời tỏ tình đầu tiên” trên mạng xã hội Facebook, do “ ông Phạm... Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phê bình kiểm dịch

Trần Đình Sử    
Theo quan điểm của nhà phê bình văn học Pháp Albert Thibaudet (1874-1936) trong sáchSinh lí học phê bình (1922) thì phê bình chuyên nghiệp đối lập với phê bình tự phát. Phê bình tự phát là loại phê bình tự nhiên của người đọc. Đọc xong một cuốn sách hay thì vỗ đùi khen, nếu đọc cuốn sách dở, buột miệng chửi một tiếng, hay khi trà dư tửu hậu, hoặc lúc dạo chơi với bạn bè, bàn bạc mấy câu về cuốn sách nào đó… Đó là phê bình tự phát. Loại phê bình này chủ yếu là phê bằng miệng, bằng động tác, như phẩy tay, dẫu miệng…đều là tự phát cả. Sau này trong các xa lông sang trọng của các bà quý tộc, các bà mệnh phụ sau cuộc chơi bài, đàm đạo mấy cuốn sách vừa xem, đó vẫn là phê bình tự phát. Anh Hoàng trong truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao, khi nghe vợ đọc Tam quốc diễn nghĩa, đến chỗ hay, vỗ đùi đánh đét khen : “Tài thật, Tài thật. Tài đến thế là cùng. Tiên sư anh Tào Tháo!”, “Tiểu thuyết thì nhất anh Tàu”. Đó cũng là phê bình tự phát. Phê bình tự phát có mọi nơi, mọi lúc, đồng hành cùng sinh hoạt văn học của con người. Dù cho phê bình chuyên nghiệp có chết hết đi thì phê bình tự phát vẫn sống. Phê bình tự phát khi thành dư luận mạnh mẽ buộc phê bình chuyên nghiệp phải nhào vô giải thích. Phê bình tự phát thường có ba nhược điểm. Một là thường nói theo, nói leo. Người đã đọc sách nhận xét đã đành, người không đọc cũng nghe rồi nói theo, bàn tán, thực ra là nói mò. Hai là phê bình tự phát dễ biến thành ý kiến nhóm, có thói quen riêng, thiếu cái nhìn toàn bộ, dễ thiên lệch. Ba là dễ chạy theo thời thượng, đồng thời cũng nhanh chóng bị thay thế, thiếu bền vững, hôm nay vừa khen, ngày mai thấy nói khác, lại nói theo, số phận ngắn ngủi. Có một thời, sách xuất bản xong liền có cán bộ đi thu thập ý kiến bạn đọc các giới, kết quả thu được chỉ là các dư luận như thế, rất ít tính khoa học. Tất nhiên phê bình chuyên nghiệp cũng góp phần định hướng cho phê bình tự phát, giúp nó sâu sắc hơn.
Phê bình văn học phát triển đến một lúc nào đó thì nảy sinh ra sự phân công, và thế là xuất hiện các loại phê bình, trong đó có loại phê bình kiểm dịch. Nhà tư tưởng Khai sáng Pháp là Voltaire (1694 – 1778) có lần nói: “Chúng ta nhìn thấy, trong các nước hiện đại, khi người ta ra sức phát triển văn học thì có một số người trở thành nhà phê bình chuyên nghiệp, cũng giống như người ta muốn kiểm tra các loại lợn đem ra thị trường có bệnh hay không, người ta đã thiết lập những người chuyên môn kiểm tra lưỡi lợn. Những người kiểm tra lưỡi lợn trong văn học không phát hiện được một nhà văn nào là lành mạnh cả” (Sách đã dẫn của Thibaudet, Nxb Tam Liên, Thượng Hải, năm 2002, tiếng Trung, tr. 74). Xin chú ý mấy chữ này của Voltaire: phê bình kiểm dịch trong văn học không phát hiện được ai là lành mạnh cả. Nó là nghệ phát hiện bệnh của văn học. Như thế, có thể coi nhà phê bình chuyên nghiệp đầu tiên là người có chức năng giống như nhân viên thú y kiểm dịch ngoài chợ, thấy có bệnh thì kêu lên, để mọi người tránh xa, không mua hàng đó. Cứ theo chức năng ấy thì nhà phê bình chuyên nghiệp kiểm dịch đầu tiên của nhân loại phải kể đến Đức Khổng Tử bên Tàu. Khổng Tử đã lựa hàng vạn bài ca dao, dân ca của các nước trong lãnh thổ Trung Hoa cổ đại, chọn lấy 305 bài, theo tiêu chí “tư vô tà”, tức là tư tưởng không có gì sai trái, lệch lạc, đồi trụy, có thể lưu hành. Còn các bài khác “có tà” đã bị ông vứt bỏ, thất truyền hết. Nhưng Khổng Tử là nhà kiểm dịch lỗi lạc, bởi trong tư tưởng của ông, lấy ngôn chí, tải đạo làm gốc, có sự thống nhất giữa mĩ và thiện, chấp nhận thi ca có thể hứng, quan, quần, oán, văn chất thống nhất với nhau, cho nên 305 bài vẫn bao hàm đủ các tác phẩm xuất sắc, đa dạng. Platon, người Hi Lạp (427 – 327), sống sau Khổng Tử 100 năm (552- 479) cũng là nhà phê bình kiểm dịch. Nhưng khác với Khổng Tử, Platon quá cực đoan, ông coi thi ca (văn học ) đều là ôn dịch, nên ông đuổi tất ra khỏi nước Cộng hòa lí tưởng của ông.
Nhìn theo lịch sử như vậy ta sẽ thấy từ khởi thủy phê bình chuyên nghiệp, phân biệt với phê bình tự phát, trước hết là loại phê bình kiểm dịch mà Voltaire đã nói.  Nhưng phê bình kiểm dịch đời sau ngày một kém. Nó chỉ quan tâm tới sự lành mạnh của văn học theo tiêu chí hình thức, hay tiêu chí đạo đức hay chính trị quốc gia, mà không hề quan tâm đến giá trị nghệ thuật đích thực. Các nhà quản lí quốc gia bao giờ cũng ưu tiên phát triển loại phê bình kiểm dịch này.
Theo Thibaudet, thế kỉ XVII Tể tướng của vua Louis XIII là Richelieu đã đem phê bình kiểm dịch áp đặt cho Viện Hàn lâm Pháp. Bất đắc dĩ Viện Hàn lâm Pháp phải chấp nhận, nhưng cũng chỉ sử dụng có một lần duy nhất rồi thôi. Phê bình kiểm dịch Pháp chỉ đơn giản là đem tác phẩm văn học ra đối chiếu với các quy phạm thể loại, tuy nó thấy tác phẩm nào cũng không hợp chuẩn, nhưng văn học “lệch chuẩn” không bị nó đem ra đốt, văn sĩ không mấy người bị đem đi chôn. Sau thế kỉ XVII phê bình chuyên nghiệp châu Âu chuyển sang phê bình học thuật và hàn lâm, phê bình kiểm dịch tất nhiên vẫn còn, nhưng nói chung không còn trở ngại cho các công trình nghiên cứu học thuật.
Ở Trung Quốc xưa kia phê bình kiểm dịch thực hiện chức năng phát hiện các vụ án văn tự ngục khiến bao nhiêu văn sĩ rơi đầu. Đó là lối đọc văn cắt xén, suy diễn để quy tội phản lại triều định, phản loạn, nhằm khép đối tượng vào tội chết. Vụ án văn tự ngục đầu tiên của Trung Quốc xảy ra vào thời Chiến Quốc, quyền thần nước Tề gian ác, giết vua, sử quan ghi đúng sự thật, bị khép vào tội chết, đem chém đầu. Suốt lịch sử Trung Quốc, đã có hàng chục vạn người chết vì văn tự ngục. Riêng đời Thanh văn tự ngục giết chết 200 người, liên lụy trên ba nghìn người.  Thời phong kiến nước ta cũng thế. Trong các cuộc đấu tranh tư tưởng ở Trung Quốc suốt thời kì Mao Trạch Đông thống trị, đến cách mạng văn hóa, phê bình kiểm dịch thực hiện chức năng chỉ ra đâu là dấu hiệu của tư tưởng phong kiến, đế quốc, tư sản, xét lại, đồi trụy, chống đảng, chỉ ra ai là kẻ thù, đẩy hàng chục vạn người đi lao động cải tạo, bức hại, nhiều người tự tử. Diêu Văn nguyên, một trong lũ bốn tên là nhà phê bình kiểm dịch khét tiếng nhất, gian ác nhất. Chu Dương suốt đời trung thành với Mao, thế mà cuối cùng bị Diêu Văn Nguyên tố cáo chống lại tư tưởng của Mao, phải đi lao động trong chuồng lợn. Ở nước ta, trong thời kì bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, phê bình chuyên nghiệp cũng thực hiện nhiệm vụ kiểm dịch, chỉ ra các biểu hiện tư sản, phản động, đồi trụy, xét lại, bôi đen chế độ… Ở nhiều giai đoạn, loại phê bình kiểm dịch này cũng thịnh hành ở nước ta. Thế cho nên, hàng loạt tác phẩm, ví như Vào đời, Sắp cưới, Mùa hoa dẻ, Sương tan, Phá vây, Chuyện kể năm 2000 ,Miền hoang tưởng, Cây táo ông Lành, Sẹo đất, Vòng trắng, từng bị phê bình chuyên nghiệp phanh phui, lên án, xem đó là những tác phẩm “có vấn đề”, dù sau này nhìn lại hầu như chẳng có vấn đề tư tưởng quan trọng nào cả. Lấy tác phẩm Vào đời (1963) của Hà Minh Tuân làm ví dụ. Người đầu tiên “có công” phát hiện Vào đời “có vấn đề” là Nguyễn Phan Ngọc, người kết luận nặng nề nhất là Hồng Chương, giữa thời gian đó, theo thông tin trên tạp chí “Nghiên cứu văn học”, số 3 – 1963, trong hơn một tháng đã có 43 bài phê bình lớn nhỏ đăng trên hầu hết các báo “Nhân Dân”, “Quân Đội nhân dân”, “Tiền phong”, “Cứu quốc”, “Thống nhất”, “Độc Lập”, “Thủ đô Hà Nội”.., hầu hết đều ghi tên biệt hiệu, không ghi tên thật. Kết quả là Hà Minh Tuân bị cách chức Giám độc nhà xuất bản Văn học, điều chuyển sang Bộ thủy sản, làm chuyên viên cá nước lợ, mãi đến năm 90 ông mới đuợc phục hồi.
Các dẫn chứng nói trên cho thấy, phê bình kiểm dịch có lịch sử lâu đời và có chức năng đảm bảo cho văn học được lành mạnh theo quan điểm nhà nước. Ngày nay ở Trung Quốc phê bình kiểm dịch cũng thịnh hành. Các tác phẩm như Phế đô, Báu vật của đời, Búp bê Thượng Hải,…đều bị cấm, nhưng Báu vật của đời lại được giải Nobel. Điều này cho thấy phê bình kiểm dịch tuy có tính chuyên nghiệp, đúng hơn là tính nghiệp vụ, song chất lượng thực tế có nhiều vấn đề đáng bàn, có những sai sót và nhiều khi gây hậu quả không thể sửa chữa được. Phê bình kiểm dịch thường có mấy đặc điểm chung như sau:
Thứ nhất: Vì văn học là hiện tượng phức tạp, nên phê bình kiểm dịch không thể làm thí nghiệm, khó tìm được những tiêu chí khách quan để kiểm dịch văn học giống như bác sĩ thú y kiểm dịch lưỡi lợn ngoài chợ. Nguyên tắc “phương pháp luận” mà phê bình kiểm dịch thường dựa vào để phát hiện “dịch bệnh” là cắt xén, suy diễn, quy chụp, cốt rút ra cho được cái mục tiêu tư tưởng của mình.
Thứ hai: Phê bình kiểm dịch thường tố lên tác hại nghiêm trọng của ổ dịch, kích động xã hội cảnh giác, gieo rắc niềm lo lắng sợ hãi, gây không khí bất an trong đời sống xã hội.
Thứ ba: Sau khi phát hiện ổ bệnh trong văn học, các nhà phê bình kiểm dịch rất hồ hởi, tự hào về công lao phát hiện luận điệu sai trái, chỉ tên kẻ thù địch trong nội bộ để xử lí. Đặc biệt không mảy may quan tâm số phận nhuwngxnguwowif hữu quan. Hình như, đã là kẻ thù của chế độ thì còn tiếc thương gì nữa?! Đối với họ văn học chỉ có một nghĩa là nghĩa xấu, các nghĩa khác đều bị giản lược.
Nhưng nhìn lại sản phẩm phát hiện của các vụ kiểm dịch om sòm trên văn đàn, ví như những bài báo của các tác giả thuộc nhóm Nhân Văn Giai phẩm, hoặc các bài báo của Trương Tửu, hay tác phẩm Sương tan của nhà văn Hoàng Tiến, tôi cứ băn khuăn tự hỏi, không hiểu họ chống Đảng, đồi trụy ở chỗ nào?
Phê bình kiểm dịch là một tồn tại khách quan. Nó cũng là phê bình chuyên nghiệp, tinh thông nghiệp vụ. Nhà nước rất hậu đãi loại phê bình kiểm dịch này. Các nhà phê bình kiểm dịch đầu đàn thường được trao nhiều giải thưởng cao quý. Nhưng rõ ràng, phê bình kiểm dịch không quan tâm tới tính nghệ thuật của văn học. Cho nên, tôi rất hoài nghi giá trị và ý nghĩa tồn tại của nó với tư cách là phê bình văn học đích thực.
Có thể nó cũng là một loại loại phê bình, nhưng không phải phê bình văn học.
17 – 7 – 2013
Phần nhận xét hiển thị trên trang

TỄU - BLOG: TƯỚNG NGUYỄN TRỌNG VĨNH NÓI RÕ SỰ THẬT VỀ QUAN HỆ ...

TỄU - BLOG: TƯỚNG NGUYỄN TRỌNG VĨNH NÓI RÕ SỰ THẬT VỀ QUAN HỆ ...:   GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC KHÔNG TRUYỀN THỐNG HỮU NGHỊ, CŨNG KHÔNG CÓ TƯƠNG ĐỒNG VỀ Ý THỨC HỆ Nguyễn Trọng Vĩnh Trong chuyế... Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tám sự thật về biển Đông


Ngày 15-7, tại cuộc họp báo ở thủ đô Manila, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Philippines đã chỉ trích tuyên bố của Bộ Ngoại giao Trung Quốc (TQ) hôm 12-7 cho rằng Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario đã nói sai sự thật tại cuộc thảo luận bàn tròn về vấn đề biển Đông tổ chức hôm 9-7 ở Brussels (Bỉ).
Trong thảo luận, Ngoại trưởng Albert del Rosario cho biết Philippines đã tìm mọi giải pháp ngoại giao và chính trị để giải quyết vấn đề tranh chấp biển Đông với TQ nhưng tất cả đều thất bại.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Philippines khẳng định tuyên bố nêu trên của TQ là vô căn cứ và trái ngược với tám sự thật sau đây:

1. Philippines và TQ đã có nhiều cuộc trao đổi về vấn đề tranh chấp biển Đông từ khi hai bên tổ chức tham vấn song phương về vấn đề biển Đông lần thứ nhất năm 1995. Tuy nhiên, qua hơn 17 năm tham vấn, hai bên không đạt được tiến triển nào.

Binh sĩ hải quân hoàng gia Singapore (đứng) trao đổi với các binh sĩ Mỹ đang thăm tàu chiến RSS Intrepid của Singapore ngày 15-7 trong khuôn khổ cuộc tập trận CARAT. Ảnh: BỘ QUỐC PHÒNG SINGAPORE
2. Từ khi tàu chính phủ TQ xâm nhập bãi cạn Scarborough hồi tháng 4-2012, Philippines đã tham gia gần 50 cuộc tham vấn với TQ.

3. Trong các cuộc thảo luận về hàng hải với TQ trong khuôn khổ các hội nghị ASEAN ở Brunei, Philippines đã mời TQ tham gia đàm phán không chính thức về biển Đông. Đầu năm ngoái, Philippines cũng đã đàm phán hai ngày với TQ về biển Đông tại Manila. Các kế hoạch đàm phán tiếp theo bị ngưng trệ vì các vụ xâm nhập của TQ vào vùng biển Philippines, đặc biệt là vụ xâm nhập bãi cạn Scarborough.

4. Ngay từ đầu và xuyên suốt sau đó, Philippines luôn công khai chính sách giải quyết tranh chấp biển Đông theo ba hướng ngoại giao, chính trị và pháp lý. 

5. Trước khi nộp đơn đề nghị tòa án trọng tài quốc tế phân xử, Philippines đã đề xuất TQ cùng Philippines tham gia cơ chế dàn xếp tranh chấp để có thể đạt được giải pháp lâu dài cho vấn đề biển Đông. Đề xuất này được thể hiện qua công hàm ngoại giao gửi TQ ngày 26-4-2012. Tuy nhiên, TQ đã cho rằng đề xuất không có cơ sở và kêu gọi Philippines “kiềm chế bất kỳ hành động nào xâm phạm chủ quyền lãnh thổ TQ”.

6. Trước khi phát công hàm trên, Philippines đã nhiều lần ngỏ lời mời TQ (nói miệng) cùng Philippines đưa vấn đề biển Đông ra phân xử ở Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS). Trong chuyến thăm TQ hồi tháng 7-2011, Ngoại trưởng Albert del Rosario cũng đã đề xuất đưa vấn đề biển Đông ra ITLOS.

7. Ngoại trưởng Albert del Rosario đã thăm Bắc Kinh ba lần và đã mời ngoại trưởng TQ sang Manila tham vấn về biển Đông. Tuy nhiên, đến bây giờ Philippines vẫn đang chờ đợi phản ứng tích cực của TQ. 

8. Trong các cuộc đàm phán giữa hai nước, phía TQ khăng khăng bảo vệ lập trường cứng rắn về chủ quyền ở biển Đông. Trước lập trường cứng nhắc đó của TQ, Philippines không thể tiếp tục đàm phán song phương về biển Đông. Do đó Philippines phải nộp đơn nhờ tòa án trọng tài quốc tế phân xử theo phụ lục VII của Công ước LHQ về Luật Biển.
Ngày 15-7, tại căn cứ hải quân Changi ở Singapore, hải quân Singapore và Mỹ đã khai mạc cuộc tập trận hằng năm mang tên Hợp tác huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu trên biển (CARAT). Theo hãng tin CNA (Singapore), cuộc tập trận CARAT sẽ diễn ra ở biển Đông và kéo dài đến ngày 26-7. Nội dung tập trận nhằm tăng cường năng lực tác chiến trên biển, trong đó có phòng không, chống hạm, chống tàu ngầm.
LÊ LINH/ Phapluattp

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Kính gửi tiết gia NHĐ:


ĐIÊN LÊN, THƠ VÉN VÁY BÂY GIỜ!

Không cứ thơ đâu
có lẽ phải vứt đi nhiều thứ!
từ lâu làm chúng ta bực mình
với bao điều nhảm nhí
làm ta đau tận đáy lòng
ta từng thiệt thòi..
Bởi những gian trá, phỉnh phờ, bất nghĩa, bất công..

Những lý luận gia chưa hẳn đã cần, đã quý?
khi các ngài giả danh chân lý
mượn tấm lòng nhân dân
những kẻ được mệnh danh là “kẻ sĩ”
mà thờ ơ với nước non này
Phò ma
nịnh quỷ
miễn sao kiếm khẳm túi tiền
Lại muốn giáo huấn người bằng miệng lưỡi huyên thiên!

Chưa đến lúc thơ khùng lên
và thơ vén váy!
các ngươi hãy liệu chừng..
Ba hoa và lấp lửng
giả ngây
giả khôn
chế biến lời bịp bợm!

Có ai bắt buộc ai đâu?
thơ cũng như muôn vàn thứ khác
không thể ép người ta nếu người ta không cần!

Thơ biết bây giờ có thể còn nhiều thứ chưa là tốt!
thơ cũng như vậy thôi, có thể chưa hay..
bàn làm chi chuyện “thơ phú” lúc này?
Nếu cần vất đi,
ta còn gì trong ngực?
trong ngôi nhà của ta lạnh lẽo tình người?
thơ vất đi rồi
ta sẽ trắng tay!







Phần nhận xét hiển thị trên trang